Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Hai, 4 tháng 9, 2017

Hồi Ký của trùm tình báo Cộng sản Đông Đức

"...Đặc biệt, ngoài giá trị  văn sử - Người Không Chân Dung đã và sẽ mang lại những sự thật sinh động chứa đựng nhiều ứng xử thông tuệ và biến thái phũ phàng của lịch sử để độc giả Việt nhận diện sâu sắc sự chuyển hóa đau đớn và tất yếu của chế độ  Công an trị của Cộng sản Đông Đức..."


(Tùy bút nhân đọc Hồi ký Người Không Chân Dung*  của Tướng Markus Wolf –VIPEN 2015)
nguoikhongchandung_markuswolf01
Bìa sách "Người Không Chân Dung“ của Họa sĩ Thai Gottsmann
Rốt cuộc ấn bản tiếng Việt cuốn Người Không Chân Dung của Tướng Markus Wolf  đã được VIPEN xuất bản nhân dịp hai nước CHLB Đức và CHXHCN Việt Nam kỷ niệm 40 năm (1975-2015) thiết lập quan hệ ngoại giao.
Cuốn sách cũng ra mắt nhân dịp người Đức kỷ niệm 25 năm thống nhất nước Đức (1990-2015) và nước CHXHCN Việt Nam vừa trải qua lễ kỷ niệm 40 năm thống nhất Bắc Nam (1975-2015) và lễ kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 70 (1945-2015). Dù VIPEN tình cờ hay cố ý để “nhân dịp” thì trước hết độc giả Việt ngữ rất muốn biết vị Tướng này là ai?
1. Markus Wolf là ai?
Makus Wolf tuổi Nhâm Tuất. Ông sinh ngày 19 tháng 01 năm 1923 mất ngày 09 tháng 11 năm 2006. Vị Đại tướng trùm tình báo của cộng sản Đông Đức lại sinh ra ở Tây Đức - tại Hechingen, một thành phố nhỏ ở Würtenberg. Ông là con trai cả của nhà văn, nhà bi kịch Friedrich Wolf, một người Do Thái ngưỡng mộ chủ nghĩa Mark – là một nhà văn Đức tầm cỡ tới mức: nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (23/12/1888 – 23/12/1988) - người ta đã đặt tên Friedrich Wolf  cho một con đường gần sông Rhine ở phía Nam thành phố Bonn.
Mẹ ông, tên là Else. Bà “là người điềm đạm và hiền hậu nhưng không thiếu can đảm cho dù phải chịu đựng những lục soát thô bạo của Quốc xã trong nhà hoặc của công an mật vụ Stalin.“( Người Không Chân Dung-Chương 2- Thoát khỏi ác bóng Hittler- NGT dịch)
Cả hai đều là các thành viên cốt cán của Đảng cộng sản Đức. Từ khi Đức quốc xã lên ngôi gia đình Wolf lọt vào danh sách bị truy nã. Bố ông, chạy trốn sang Pháp. Sau đó, 1934 cả hai vợ chồng cùng hai cậu con trai Markus Wolf và Konrad Wolf chạy sang Moskau và xin tỵ nạn chính trị tại đó. Để rồi suốt mười năm sau (1934-1944), hai anh em ông được giáo dục và uốn nắn theo khuôn mẫu giáo dục của Đảng cộng sản Nga.
Khác với em trai Konrad Wolf, không trở thành người lính trong hàng ngũ Hồng quân để trở về Đức vào năm 1944, Markus Wolf theo học Đại học hàng không tại Moskau từ năm 1940. Mùa hè năm 1942, ông được cử đi học ở Trường đặc biệt của Quốc tế Cộng sản ở Ufa như là bước chuẩn bị cho hoạt động điệp báo. Năm 1945, chàng Markus Wolf 22 tuổi được Đảng cộng sản Đức biệt phái về thành phố Berlin hoang tàn đổ nát để xây dựng và điều hành một Đài phát thanh.
Nhờ vốn tiếng Nga, chàng giao lưu thân mật với hầu hết các cấp lãnh đạo quân đội Xô Viết trong vùng chiếm đóng của Liên Xô và những người Đức lưu vong nhờ sống sót mà sau này được đưa lên hàng thủ lĩnh. Năm 1949, nước CHDC Đức ra đời. Tháng 08 năm 1951, Cục tình báo chính trị Đông Đức được thành lập bởi quyết định của Bộ chính trị BCHTW Đảng XHTN Đức. Ngày 16 tháng 08 năm 1951, Cơ quan Tình báo đối ngoại của CHDC Đức được lập ra ẩn dưới danh xưng là Viện Nghiên cứu Kinh tế. Những khởi sự đầy tài năng của Markus Wolf lập tức được các lãnh đạo phát hiện. Họ lập tức gửi chàng sang Moskau vài năm liền để hoạt động như  là một nhà ngoại giao của CHDC Đức. Sau đó, tháng 12 năm 1952, năm bản mệnh chàng mang số Một, Markus Wolf được trao quyền lãnh đạo Cục Tình báo Hải ngoại của CHDC Đức. Lúc đó, chàng mới suýt soát 30 tuổi. Chàng tuổi Nhâm Tuất. Quả là Nhâm biến vi Vương. Ngày tháng năm sinh của chàng (19/01/1923) có tới ba số 1. Hai số 9. Một số 2. Một con số 3. Cho nên cả đời chàng thường xuyên là kẻ đứng đầu, hay đạt tới hoàn hảo, đôi khi cô đơn cùng cực vì cũng đa tình. May mà sự thông thái tiềm tàng luôn bừng sáng ở những bước ngoặt cho nên chàng đã thành danh, đạt nghiệp trong thời đại tàn bạo mà vẫn bảo toàn sinh mệnh. Chỉ có điều chàng không ngờ CHDC Đức đã chỉ tồn tại và phát triển tới năm thứ 40.  
Ngay trong Lời mở đầu, Markus Wolf đã khẳng định: “Trong vòng ba mươi tư năm tôi đã giữ chức vụ giám đốc cơ quan tình báo hải ngoại của Bộ công an của nước CHDC Đức. Ngay cả những kẻ thù gay gắt nhất của tôi cũng công nhận đây có lẽ là cơ quan năng lực nhất và hiệu dụng nhất lục địa Châu Âu”.
2. Markus Wolf – một bậc thầy lớn của tình báo thời Chiến tranh Lạnh
markus_wolf05
Markus Wolf  & phu nhân Andrea ( trái) 27 tháng 5 năm 1997
– Photo. rnd
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cũng đã thừa nhận: “Dưới thời Markus Wolf, Cơ quan tình báo đối ngoại Đông Đức trở thành một trong những tổ chức hiệu quả nhất trên thế giới.
Năm 1986, Đại tướng Markus Wolf nghỉ hưu. Nhân sự trong bộ máy công an của Đông Đức được báo chí, chính khách và quan tòa coi là kẻ thù của nhân dân. Ngày 15 tháng 1 năm 1990 Bộ nội vụ Đông Đức bị dân chúng tấn công và phanh phui một số tài liệu cho thấy cảnh sát chính quyền Đông Đức  đã theo dõi từng người dân Đông Đức như thế nào làm cho dân chúng càng thêm phẫn nộ. Sau khi bức tường Berlin và chủ nhân của nó là chế độ Đông Đức sụp đổ, ông chạy sang Nga”.
Sự thật là “sáu ngày trước ngày 03 tháng 10 năm 1990, ông Wolf và bà Andrea, người vợ nhỏ hơn ông 13 tuổi, đào thoát khỏi Đông Berlin, trốn qua biên giới Áo, và một vài  tuần sau tìm đường tẩu thoát – dù sao thì ông Wolf cũng biết khá rõ kỹ thuật này – sang Hungaria, rồi sang Ukraine và đến Nga.“( Theo Graig R. Whitney-Lời Tựa cho Người Không Chân Dung-xuất bản tại Hoa Kỳ 1997).Bởi ông biết rất rõ mình sẽ bị đi tù vì nước Đức thống nhất sẽ đòi ông trả những món nợ thời cuộc. Người ta đoan chắc: lúc 12 giờ đêm ngày nước Đức thống nhất, ông đã nhấc điện thoại gọi tới bạn bè của ông ở KGB để bàn tính kế hoạch xin tỵ nạn chính trị tại Moskau. Tuy nhiên, chỉ hơn một tháng sau, ông phải trở lại Đức khi cay đắng nhận ra rằng nước Nga đã không còn muốn chứa chấp ông. Lúc đó trong mắt Gorbachev, người đang đặt cược tương lai của nước Nga vào mối giao hảo với Helmut Kohl và CHLB Đức thì dù M.Wolf có là bạn thiết của KGB thì ông cũng chỉ còn là “biểu tượng của một quá khứ không đáng tin cậy”. Với bản lĩnh một vị tướng tình báo, ông ra đầu thú tại biên giới Áo và bị bắt tức thì. Nhờ sự can thiệp của bè bạn và các cộng tác viên cũ tại Đông Berlin, sau đó ông được tại ngoại để hậu tra.
Thực ra ông đã có thể không bị bắt nếu chấp nhận hợp tác với CIA . Nguyên do: “Năm 1990, CIA chỉ biết là có một người đang bán những bí mật sâu kín nhất của họ và đã gây thiệt hại chí mạng. CIA lúc đó nghĩ rằng ông Wolf có thể giúp họ tìm ra tên phản bội.
Ngày 22 tháng 05, Gardner A.Hathaway, gần đây đã về hưu rời  chức phụ tá giám đốc phán gián, đến căn nhà an dưỡng của ông Wolf… Hathaway đưa ra một đề nghị rất đặc biệt: xin ông giúp chúng tôi và chúng tôi sẽ đưa ông ra khỏi nước Đức để sang Hoa Kỳ trước khi họ đến bắt ông vào tháng Mười. Đưa tôi sang Hoa Kỳ trước đã và chúng ta sẽ nói chuyện tại đó, ông Wolf đáp lời đề nghị; nhưng ông Hathaway nhấn mạnh: Không có thỏa thuận hợp tác thì không có vé máy bay. Ông Wolf nhìn nhận rằng lời mời rất hấp dẫn mặc dù ông chỉ ước định những gì mà CIA muốn ông giúp đỡ. CIA đã có một danh sách ghi vào phim của tất cả những nhân viên của ông. Ông biết chắc chắn như vậy; vì danh sách này đã được bí mật thu thập do các tay chiêu hồi hoặc tham lợi thuộc thành phần viên chức HVA cung cấp (CIA sau này xác nhận là họ có những thông tin này nhưng vào năm 1999 họ từ chối trao lại danh sách này cho chính quyền Đức khi chính quyền Đức yêu cầu). Nhưng có lẽ CIA muốn biết thêm tin tức nằm ngoài danh sách này. Có lẽ họ cũng muốn học hỏi ông Wolf về những phương thức hành động của Xô Viết với mục đích huy động nhân viên phản gián tại Langley (Trụ sở tình báo CIA tại Hoa Kỳ) để truy tìm những nhân viên của Moskau“
Khi ông quyết định không tiết lộ những gì ông biết có nghĩa là ông đã gây bực tức cho Washington và ông từ chối việc đào thoát sang Mỹ. Đương nhiên, như vậy thì Markus Wolf  không thể thoát khỏi sự truy đuổi ráo riết của Bonn khi mà Gorbachev đã lạnh nhạt với ông.
Ông  điềm nhiên đối diện nhiều lần với Pháp đình CHLB Đức trong tư thế điêu linh của kẻ thua cuộc suốt từ mùa Xuân năm 1993 đến tháng Năm 1997. Ông và các luật sư của ông luôn luôn kháng án và thành công từng bước. Cuối cùng Markus Wolf  được tự do sống một đời sống thường dân. Nhưng tự do của ông khiến các kẻ thù cũ của ông tại Đức phải nghiến răng vì họ quyết tâm muốn ông phải khai báo“ (Tư liệu đã dẫn Graig R.Whitney).
Có thể nói, trong những bước đường cùng, Markus Wolf vẫn luôn ứng xử một cách chủ động để tự vệ và thoát hiểm để tiếp tục sống như ông muốn. Ví dụ, ngày 12 tháng Ba năm 1996,  Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Berlin đã tố cáo Markus Wolf về tội phạm liên quan đến những hành động khủng bố - (một tội danh mà ngay cả chính quyền Tây Đức cũng không dám cáo buộc) để  yêu cầu Sở Di Trú và Quốc Tịch Hoa kỳ không cấp cho ông giấy phép đặc biệt để ông vào Mỹ. Lập tức, một tuần lễ sau (19/03/1996),  Markus  Wolf đã yêu cầu Bill Clinton can thiệp trong một lá thư bằng tiếng Anh gửi trực tiếp cho Tổng thống Mỹ. Tuy nhiên, lá thư này cũng không giúp gì cho Markus Wolf.  Một năm sau (1997) cuốnNgười không chân dung đã được xuất bản tại Hoa Kỳ. Kết thúc lời mở đầu của cuốn sách Markus Wolf khẳng định: bất cứ lịch sử nào có danh xưng là lịch sử không thể chỉ do kẻ thắng trận viết ra”.
Graig R.Whitney, một chuyên gia người Mỹ - tác giả  Lời Tựa cho ấn bản tiếng Anh của cuốn sách đã nhận định: “Mặc dù sống trong sự điêu tàn của một thất bại chính trị lớn hơn, ông Wolf vẫn tỏ ra hãnh diện một cách ngoan cố về những thành tích nghề nghiệp của ông …Những điều không nói ra trong sách sẽ làm thất vọng những độc giả mong muốn tìm thấy lời khai thú trong đó. Nhưng những lời khai thú trong nghề điệp báo thường là táng mạng; và ông Wolf là một con người cũng muốn thụ hưởng cuộc đời. Đọc ông Wolf để có một thoáng nhìn khâm phục, chỉ một thoáng thôi, để đi sâu vào tâm não đầy sức thu hút của một trong những bậc thầy điệp báo lớn của thời đại chúng ta, một người mang dấu ấn của cuộc Hỏa diệt Do thái do Đức quốc xã phát động và sau đó là của cuộc phân tranh ý thức thức hệ thời chiến tranh lạnh…“ ( Lời Tựa- Graig R.Whitney -Nguyễn Gia Thưởng dịch)
3. Một nhân cách trí thức kiệt xuất.
markus_wolf06
Markus Wolf ( 1989)
Ngoài lời vào sách của dịch giả Nguyễn Gia Thưởng, lời mở đầu của Markus Wolf và Lời tựa của Graig R.Whitney nội dung cuốn sách do VIPEN xuất bản bao gồm trọn vẹn 17 Chương:
1. Cuộc đấu giá  2. Thoát khỏi ác bóng Hitler  3. Học trò của Stalin
4. Công hòa dân chủ Đức lớn mạnh và tôi lớn theo 5. Vừa học vừa làm
6. Khruschchev mở mắt cho chúng tôi  7. Giải pháp bê tông  8. Làm gián điệp vì tình
9. Hình bóng của Thủ tướng 10. Nọc độc của sự phản bội 11. Tình báo và phản gián
12. “Những biện pháp tích cực” 13. Phong trào khủng bố và  nước CHDC Đức
14. Trong lòng địch 15. Cu Ba 16. Chấm dứt trật tự cũ   17. Lời kết
Không chỉ tựa vào các cột mốc thời gian sự hồi tưởng của tác giả khởi sự từ chiều sâu những chủ đề. Cách cấu trúc Hồi ký  bộc lộ rõ lối tư duy mạch lạc, sâu sắc của một vị tướng tình báo chiến lược. Dù sao đi nữa, chính quyền Stalin đã cứu gia đình ông thoát khỏi sự hủy diệt của Đức quốc xã cho nên ngay từ khi còn trẻ ông nhận trách nhiệm và quyền lực mà Cộng sản Đông Đức giao phó một cách say mê và tận tụy. Tuy vậy, trong chương 6, ông đã tâm sự “Chúng tôi cảm nhận ngôn ngữ tố cáo Stalin của Khrushchev có vẻ mơ hồ và thiên kiến. Nhưng vào lúc đó, chẳng khác gì chúng tôi bị một nhát búa trên đầu. Khi tôi đọc xong bản diễn văn trên báo chí phương Tây (của Khrushchev) phản ứng đầu tiên của tôi là đem bức chân dung của Stalin treo trên tường xuống và đá nó vào một góc. Tôi không thể nói rằng những gì tôi vừa đọc gây chấn động cực kỳ nơi bản thân - vì tôi biết quá nhiều qua những kinh nghiệm cá nhân của tôi trong cuộc sống ở Liên Xô. Nhưng từ đó xuất phát nỗi đau khi tôi nhìn xuống vực thẳm hiển hiện những tội ác của ông.“ (Người không chân Dung-Chương 6 – Khrushchev mở mắt cho chúng tôi – Nguyễn Gia Thưởng dịch).
Theo như Hồi ký Mùa thu 1989 của Egon Krenz, khi Markus Wolf còn tại nhiệm, Honecker xếp ông vào diện người tài, 75 lăm tuổi mới được nghỉ hưu. Cho nên, dù đệ đơn từ năm 1986 lúc mới 63 nhưng mãi tới 1987, 64 tuổi Markus Wolf mới được  Bộ chính trị CHDC Đức chính thức đồng ý cho ông từ nhiệm với lý do cá nhân và gia đình. Thực tình là ông có tham vọng hoàn tất những cuốn sách. Cũng theo Egon Krenz, ngày 26/06/1989, Wolf đề nghị Honecker cho phép ông được trả lời phỏng vấn trên các phương tiện truyền thông của CHDC Đức và phương Tây. Do lúc bấy giờ Honecker đang nghỉ phép nên Egon Krenz hứa với Wolf sẽ xin Honecker phê chuẩn. Nhân dịp đó, Egon Krenz đã đề nghị Wolf:“Tiện dịp anh ở đây, tôi muốn nghe anh nhận định tình hình CHDC Đức hiện tại ra sao?”. ”Thực ra tôi không được chuẩn bị“- Wolf trả lời. “Mischa, anh đi giới thiệu sách nhiều nơi, có quan hệ với nhiều người. Hãy cho tôi biết anh có ấn tượng gì. Tôi rất muốn biết. Wolf bắt đầu kể: “Tôi lo lắng khi nghe những tin tức tiêu cực về Liên bang Xô viết trên các phương tiện truyền thông của ta. Tự chúng ta làm hỏng hình ảnh Chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không tận dụng cho mình làn sóng cảm tình do Gorbachev tạo ra. Một điều tệ hại lớn trong phong trào cộng sản quốc tế là chủ nghĩa chủ quan. Trung ương Đảng cần phải quyết định chứ không phải bộ máy quan liêu của nó. Quan trọng là phải đưa ra được nhiều lựa chọn. Vai trò của các Đảng liên minh và Công đoàn ở ta cần phải được đề cao. Trong những vấn đề về chính sách văn hóa, Đảng không được phép là người điều hành trong khủng hoảng. Phải nghiên cứu chính xác việc công dân rời bỏ CHDC Đức. Chúng ta phải hiểu rõ tại sao mọi người từ bỏ chúng ta”. (Mùa Thu 1989-Herbst 1989-Edition ost -2014- trang 105 –Thế Dũng dịch). Egon Krenz đồng ý và chia xẻ với các nhận xét của Wolf.  Tuy vậy, lúc đó ông đã không nói ra một điều hệ trọng (mà ông vừa tuyên bố ở Moskau mấy hôm trước) với Egon Krenz. Mãi đến năm 1991,  trong cuốn“Nhiệm vụ tự trao” , Wolf thuật lại, ở Moskau ông đã nói thẳng thừng với các đồng nghiệp KGB của mình là ông không trông mong gì được nữa vào các vị  lãnh đạo SED.(Herbst 1989- Egon Krenz –Edition 2014 -Tr.106- TD dịch).
Từ tháng Năm năm 1990, Markus Wolf đã không bán danh dự để có thể có một chuyến sang Hoa Kỳ trong sự bảo đảm của CIA khi CIA yêu cầu ông ra tay giúp họ. Năm 1996, hy vọng nhập cảnh vào Mỹ theo con đường công chính nhân việc xuất bản cuốn sách của ông cũng tiêu tan. Vừa đối diện với Tòa án CHLB Đức, ông vừa điềm nhiên tiếp tục sống và làm việc như một người cầm bút để hoàn thành những cuốn sách của đời mình. Cho đến khi ông qua đời vào ngày 09 tháng 11 năm Binh Tuất (2006) số tác phẩm mà ông để lại cũng như số tác phẩm người khác viết về ông đã khẳng định Markus Wolf là một nhà văn giàu tri thức chính khách. Trong lời dẫn nhập nhân dịp tái bản Cỗ Xe Tam Mã (Die Troika –xuất bản lần đầu 1989 tại Aufbau-Verlag và tái bản tại Rororo Verlag năm 1991) ông đã  chân thành bộc lộ: “rõ ràng chủ nghĩa xã hội đã thất bại trên đất Đức, tôi đã nhìn điều đó với sự tuyệt vọng. Và luôn đau đớn tự hỏi mình trong khi làm việc với bản thảo của cuốn sách về một lối thoát có thể tìm cho tôi và gia đình một vị trí trong nước Đức thống nhất.
Tôi đã viết trong những bức thư gửi tới Tổng thổng CHLB Đức Richard von Weizsäcker, tới Willy Brandt và ông Hans-Dietrich Genscher rằng không gì có thể dứt thâm tâm tôi ra khỏi nước Đức. Đó là xứ sở của cha mẹ tôi. Tại đây họ đã tìm thấy cuộc sống hiệu quả sau những năm tháng lưu vong dằng dặc, mộ của họ, mộ của em trai tôi đang nằm ở Berlin. Với tôi nước Đức là nơi mọi nỗ lực, mọi nghị lực, tình yêu và mọi hoạt động của tôi đã diễn ra một cách tích cực trong sáng suốt và trong sai lạc. Cho nên, lưu vong lần thứ hai với tôi là một sự vô ơn.(Geleitwort zur Taschenbuchausgabe –Februar/Oktober 1990- TD dịch).
Lời lẽ của vị tướng tình báo trong Chương Lời Kết của cuốn Hồi ký cho ta thấy bản lĩnh tự thanh lọc của ông: “Kể từ những biến cố quan trọng năm 1989, tôi đã tự hỏi nhiều lần tại sao nước CHDC Đức đã thất bại một cách thảm não và ngoạn mục như vậy. Tôi đã tự hỏi là tôi đã chờ đợi quá lâu để lớn tiếng nói lên những gì tôi thực sự suy nghĩ và cảm nhận. Không phải vì thiếu can đảm mà vì tính chất vô bổ của những lời phản đối trong suốt quá trình lịch sử của nước CHDC Đức đã khiến cho tôi phải tĩnh lặng. Đã quá nhiều lần tôi chứng kiến những lần phản kháng mãnh liệt chỉ đi đến việc gia tăng đàn áp và tước bỏ quyền tư duy độc lập hơn nữa. Tôi tin rằng những cuộc thương thuyết kiên trì và bình lặng cuối cùng sẽ hiệu quả hơn trong một nước mà mọi thảo luận công khai sẽ bị bóp nghẹt vì giới lãnh đạo xem ra quá kích động và bất an để hành xử một cách tế nhị.
…Thực tế phũ phàng của nước CHDC Đức liên quan nhiều đến những lạm dụng quyền hành hơn là chế độ dân chủ và xã hội chủ nghĩa và chính vì vậy Đông Đức cuối cùng đã chết ngộp.Tôi thành thật thú nhận là chế độ của chúng tôi thua kém xa phần lớn các nền dân chủ đa nguyên của Phương Tây, kể cả sự tiện lợi về hệ thống an sinh xã hội của chúng tôi.(Chương17. Lời Kết- Nguyễn Gia Thưởng dịch).
Ngoàì hồi ký Người Không Chân Dung (The Man Without a Face - bản tiếng Anh in ở Mỹ năm 1997, và bản tiếng Đức in ở Econ & List Müchen 1998), bạn đọc có thể tìm đọc những cuốn sách nổi tiếng của Markus Wolf như: Cỗ xe tam mã (hay là một truyện không thể quay phim – Aufbau Verlag 1989), Nhiệm vụ được giao (In eigenem Auftrag - Schneekluth, München 1991),Những bí mật của Bếp Nga (Geheimnisse dẻ rusischen Küche - Rotbuch, Hamburg 1995); Nghệ thuật của sự xắp đặt (Tư liệu, đối thoại và phỏng vấn – Die Kunst der  Verstellung: Dokumente, Gespräche, Interviews – Schwarzkopf und Schwarzkopf, Berlin 1998); Bạn bè không chết (Freunde sterben nicht (Das Neue Berlin 2002). Ngoài ra, dù không còn tại nhiệm (từ năm 1987) nhưng từ khi ông được Honecker phép trả lời phỏng vấn báo chí Đông Đức, Tây Đức cũng như báo chí phương Tây (tháng 06 năm 1989), đã xuất hiện khá nhiều cuốn sách viết về ông và thời ông sống do kết quả của những cuộc giao lưu ấy. Đặc biệt, sau năm ông qua đời (09/11/2006), cuốn Markus Wolf. Đối thoại cuối cùng (Markus Wolf. Letzte Gespräche) của tác giả Hans – Dieter Schütt xuất bản tại Berlin năm 2007 đã chuyển tới người đọc những tâm sự của ông trước khi ông nhắm mắt xuôi tay. Rõ ràng,người không chân dung không muốn mang theo quá nhiều điều bí mật sang thế giới bên kia.
Không chỉ là một bậc thầy lớn của tình báo thời chiến tranh lạnh, trong tư thế nhà văn, Markus Wolf còn là một trí thức kiệt xuất.
4. Phong trào khủng bố và nước CHDC Đức.
Trong Chương 13 mang chủ đề: Phong trào khủng bố và nước CHDC Đức, Markus Wolf đã tự biện hộ cho mình và cho cơ quan tình báo hải ngoại của ông (HVA) một cách thấu đáo: “…Bởi vì tôi là giám đốc của cơ quan  tình báo của Bộ, cho nên không ai lấy làm ngạc nhiên là tôi phải biết tất cả về những mối liên hệ của chính quyền của tôi với nhóm khủng bố. Trên thực tế, tôi biết Đông Đức có mối liên hệ với các tổ chức mà phương Tây cho rằng họ là khủng bố. Nhưng, như tôi giải thích sau đây: tôi không được biết những chi tiết công tác quan trọng. Trách nhiệm hàng đầu của tôi là tình báo, là thu thập tin tức, nhất là tin mật. Đó là điệp báo chứ không phải là khủng bố. Cá nhân tôi chưa hề can dự trong việc lập kế hoạch hoặc thực hiện những hành động khủng bố.
…Những giải thích trên không phải là để tìm cách bào chữa cho những gì đã xảy ra và tôi muốn mọi người thấy rõ mục đích của tôi không phải là để chạy tội. Thực tế là nước CHDC Đức và các cơ quan tình báo hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho những tổ chức mà chúng tôi xem là chính đáng, và một vài tổ chức đi vào con đường khủng bố giết hại thường dân trong chính sách của họ. Nước này cũng bảo vệ những kẻ khủng bố trốn chạy sự truy đuổi của CHLB Đức. Tôi không tham gia vào việc này. Những người khác đều nhúng tay. Họ làm việc của họ, tôi làm việc của tôi. Có lẽ may mắn cho tôi là Mielke, Bộ trưởng Bộ công an, không muốn cho tôi biết; bởi vì điều này sẽ làm tôi sao nhãng không tập trung công tác thu thập những bí mật ở hải ngoại.
Có quá nhiều trách nhiệm cần được chia sẻ và rất nhiều hối tiếc cần phải bầy tỏ. Tôi phải nhấn mạnh tất cả những sai trái chúng tôi đã làm không thể bào chữa được với những gì phương Tây đã làm dưới chính ngọn cờ của họ trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản, đã khiến cho Việt Nam và một vài nước Trung Mỹ và Châu Phi phải điêu tàn sau khi cuộc chiến địa lý chính trị đã kết thúc. Đây là phương cách cuộc chiến đã diễn ra trên một vài chiến tuyến. Tôi không tiếp tay cho kẻ khủng bố theo đường hướng này; nhưng chúng tôi chắc chắn đã huấn luyện và đào tạo những con người theo những phương pháp mà sau này họ đã lạm dụng…
Thử hỏi chúng tôi có ý thức được những gì chúng tôi cung cấp có thể được dùng theo những đường hướng mà chúng tôi không đồng ý? Lẽ cố nhiên, nhưng tôi không tin rằng Honecker và ngay cả Mielke tìm cách chế tài những hành vi khủng bố hoặc vũ lực đối với dân thường. Với tư cách giám đốc của một cơ quan tình báo hải ngoại, tôi chấp nhận trách nhiệm về những lạm dụng này – nhưng không phải là nhận tội. Đây là một phân biệt về đạo đức mà tôi hy vọng độc giả chấp nhận để chấm dứt những thái quá của thời buổi đó…
…Tội ác thuộc phạm vi xét xử của luật pháp, trách nhiệm thuộc phạm vi của lương tâm. Nếu chiếu theo pháp luật, chỉ cần nói tất cả những hồ sơ lưu trữ được đội ngũ cần mẫn của những Ủy viên Công tố của CHLB Đức xem xét-họ đã không đưa ra được chứng cứ nào, chưa nói đến tang chứng về sự đồng lõa của tôi trong những hành động bạo lực. Tôi cũng đệ ba đơn kiện những tờ báo nói rằng tôi biết CHDC Đức chứa chấp những kẻ khủng bố Tây Đức khi Bộ công an làm việc này; tôi không hề biết. Hơn thế nữa, tôi bị Bộ ngoại giao Hoa Kỳ từ chối không cấp chiếu khán nhập cảnh viện cớ là tôi đã có lần thương thảo với bọn khủng bố. Tôi không thấy họ trưng bày chứng cớ để hỗ trợ cho những lời kết án này. (Cũng nên chú ý là CIA không hề thắc mắc khi họ mời tôi sang Hoa Kỳ năm 1990; mặc dù Bộ ngoại giao hầu như không biết chuyện này.)
Như câu chuyện của tôi sẽ làm sáng tỏ, các bộ trong cùng một chính quyền, ngay cả những ngành có liên lạc mật thiết với nhau như Cục đối ngoại và Cục tình báo hải ngoại, không nhất thiết cục này phải biết cục kia làm gì”.( Người Không Chân Dung-Chương 13-Nguyễn Gia Thưởng dịch)
Trong suốt thời gian lãnh đạo cơ quan tình báo hải ngoại dưới sự giám sát của Mielke, người đứng đầu bộ máy Công an mật vụ của CHDC Đức, Markus Wolf luôn luôn phải nỗ lực một cách quyết liệt trong cuộc đấu trí với các đối thủ. Tuy nhiên ông và Mielke luôn là hai đối cực. “Do bị ám ảnh bởi mối đe dọa bị khuynh đảo ngay trong nội bộ, Bộ trưởng Mielke đã biến CHDC Đức thành một quốc gia Công an trị hữu hiệu và tàn bạo nhất Đông Âu. Khi chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ, Mielke đã trở thành một đối tượng mà mọi người kinh tởm. Cả ông Wolf cũng không có chút cảm tình nào với y. Ông mô tả Mielke là một tên bạo chúa, một cấp lãnh đạo mà ông luôn luôn phải đối đầu vật lộn trong những thủ tục hành chính để bảo vệ tính cách độc lập và tự trị của ngành điệp báo của ông.“( Trích Lời Tựa của Graig R. Whitney-do Nguyễn Gia Thưởng dịch).
Dù đã thừa nhận Markus Wolf là một bậc thầy tình báo chiến lược nhưng có vẻ như người Đức đương đại ít khi còn nhắc đến ông. Một phần có lẽ vì người ta cho rằng ông đã mồ yên mả đẹp; mặt khác có lẽ cũng vì dù ông đã là một kẻ chiến bại tài giỏi và thông tuệ thì chân dung bi tráng của ông cũng đã là dĩ vãng. Nhưng với người Việt thì mặc dù đã từng là người thân quen nhưng dường như ông vẫn là một chân dung lạ; cho nên việc đọc kỹ Hồi ký của Markus Wolf vẫn rất bổ ích dù họ đang là người có quyền lực đàn áp hay họ đang là kẻ bị theo dõi - khủng bố. Chắc chắn, hồi ký của ông sẽ giúp bạn đọc Việt Nam hiểu rõ thêm lịch sử phát triển của phong trào khủng bố tại nhà nước Công an trị - CHDC Đức đã bắt nguồn từ thời kỳ chiến tranh lạnh như thế nào với Phái Hồng quân (Red Army Faction) và Tổng cục XXII.
Hiểu được Phong trào khủng bố và nước CHDC Đức - người Việt sẽ dễ nhận ra bộ mặt đa dạng gớm guốc của chủ nghĩa khủng bố toàn cầu hiện đại. Và sau những thao tác siêu kết nối của tư duy thời @ họ sẽ tự cắt nghĩa được bản chất của các bạo lực được tàng hình trong những kịch bản dùng côn đồ lưu manh để đàn áp và khủng bố người bất đồng chính kiến trong các chế độ độc tài - độc đảng - độc công an.
5. Dù ông đã đem theo một ít bí mật xuống mồ.
markus_wolf07
Mộ của Konrad & Markus Wolf tại
nghĩa trang trung tâm 
Friedrichsfelde ở Berlin
Trong Lời Tựa, Graig R.Whitney, người từng ở phía bên kia chiến tuyến của Markus Wolf, luôn tỏ ra thán phục ông khi viết: "Không như các đồng nghiệp Stasi của ông, ông Wolf không bao giờ dùng hoạt động tình báo để làm giàu cho cá nhân mình. Bản thân ông Wolf có một sức quyến rũ mạnh, ông cao 1 thước 83, người gọn ghẽ, đầu tóc mầu xám, một khuôn mặt cởi mở, và thon dài, đôi mắt nâu sâu sắc, bàn tay với ngón dài thon và thanh nhã của người trí thức. Giọng nói Đức của ông lịch lãm hùng hồn. Ông nói chuyện về Goethe và Bertolt Brecht hoặc về Tolstoi, Mayakovski cùng một vẻ lưu loát”.
Graig R.Whitney cho rằng đọc Hồi ký của Markus Wolf là để đi sâu vào tâm não đầy sức thu hút của một trong những bậc thầy điệp báo lớn của thời đại chúng ta.
Dịch giả Nguyễn Gia Thưởng, (nguyên là một cán bộ tình báo của Chế độ Việt Nam Cộng hòa, trước năm 1975 đã từng làm việc tại Phủ Đặc ủy trung ương Tình báo tại số 03 – bến Bạch Đằng) đã nhận định: “Đọc Hồi ký của Markus Wolf để hiểu sự thành công của ông là do sức ủng hộ mãnh liệt của những thành phần trí thức thời đó ủng hộ chủ nghĩa Mác–Lê, đồng thời cũng để hiểu sự bất lực của một cơ quan tình báo tài giỏi vào bậc nhất thế giới trước sự tàn lụi của một chế độ hoang tưởng. Bao nhiêu hy sinh để cuối cùng chẳng thể giúp cho nước CHDC Đức tồn tại. Tất cả chỉ vì hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đã hư hỏng từ trong nội tạng, dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn khối xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô viết và khối Đông Âu“ .
Với tôi, Hồi ký của ông cho đến bây giờ không những là chân dung lớn của một nhà tình báo bậc thầy, một trí thức kiệt xuất mà còn là một nguồn sử liệu quý báu. Đặc biệt, ngoài giá trị  văn sử - Người Không Chân Dung đã và sẽ mang lại những sự thật sinh động chứa đựng nhiều ứng xử thông tuệ và biến thái phũ phàng của lịch sử để độc giả Việt nhận diện sâu sắc sự chuyển hóa đau đớn và tất yếu của chế độ  Công an trị của Cộng sản Đông Đức.
“…Tôi biết nước CHDC Đức đã làm rất nhiều điều sai trái; trong đó có việc đàn áp chiếm một số lượng khủng khiếp. Tôi biết tôi có một phần trách nhiệm về việc này. Tôi là một bộ phận của chế độ, và nếu người ta tấn công tôi (như họ thường làm) như thể tôi là lãnh tụ quốc gia, như thể tôi có quyền kiểm soát tuyệt đối trên hết mọi sự việc xảy ra tại nước CHDC Đức, trong trường hợp này đây là một điều mà tôi sẽ phải gánh chịu...Điều quan trọng là có can đảm tranh đấu cho ý kiến của mình nếu cần, ngay cả khi đối đầu với đàn áp. Tôi đã học được bài học là cá nhân mình phải biết tôn trọng lối suy nghĩ của người khác và không bao giờ ép buộc người khác vào khuôn khổ. Nhưng trong phần lớn đời tôi và sự nghiệp của tôi, tôi đã lựa chọn kiên nhẫn chờ đợi thay đổi...”  Markus Wolf đã cay đắng chiêm nghiệm về mình trong ChươngLời kết như vậy.
Ngâm khúc đau thương cùng các khuôn mặt luật sư bị côn đồ hành hung, nghe  tiếng thét đả đảo của dân oan ba miền trên nước Việt, tôi đã ứa lệ và cũng cay đắng thừa nhận: VIPEN cùng bạn đọc Việt ngữ vô cùng cảm tạ Markus Wolf  dù ông đã đem theo một  ít bí mật xuống mồ thì ông vẫn đã để lại quá nhiều bài học cho người Việt đương đại, dù  Cộng sản hay không Cộng sản.
Thế Dũng
Berlin 10 tháng 12 năm 2015 –
Kỷ niệm lần thứ 67 ngày Quốc tế Nhân quyền

*Sách  mới  của VIPEN:
 NGƯỜI  KHÔNG  CHÂN  DUNG - Hồi ký của Tướng Markus Wolf - Trùm Tình báo Cộng sản Đông Đức
Dịch giả: Nguyễn Gia Thưởng  dịch từ nguyên tác tiếng Anh:THE MAN WITHOUT A FACE
(This translation published by arangement with Crown Publishers, an imprint of the Crown publishing Group, a division of Penguin Random House LLC) Do VIPEN Edition xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giữa Crown Publishers, tên chính thức của Crown Publishing Group, một chi nhánh của Penguin Random House LLC & Buchverlag VIPEN (www.vipen.de) năm  2015
ISBN: 978-3-945257-11-1   
Thiết kế Bìa: Họa sĩ Thai Gottsmann Sách dầy: 648 trang   khổ: 21 cm x 14cm Bìa 4 mầu
Giá bán: tại Đức & Châu Âu: 21,90 Euro. Phát hành tại Đức và Châu Âu trong quý IV năm 2015.
Bạn đọc tại Đức có thể chuyển tiền vào tài khoản của:
Buchverlag VIPEN Dipl.-Phil. Vũ Thế Dũng - Konto-Nr.: 6603222106
IBAN:DE 10 1005 0000 6603 2221 06  BIC: BELADEBEXXX-Ust.Id.Nr: DE 184461724
Sau đó thông báo địa chỉ cá nhân cho Chủ tài khoản qua: +49(0)171 8316874 hoặc qua các Email: the.dung@vipen.de  
Email: peter.knost@berlin.de
Hoặc liên lạc với Thông Luận qua
Email : info@ethongluan.org
sách sẽ tới tận tay bạn qua đường bưu điện.

Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017

Ai là nhà Khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại ?


image
Các nhà khoa học mơ tưởng đi tới Sao Hỏa, là việc hết sức khó khăn. Nhưng Thích Ca chỉ một niệm là có thể đến bất cứ đâu trong Tam giới (Tam giới còn rộng lớn hơn vũ trụ vì bao gồm cả Sắc giới và Vô Sắc giới, trong khi vũ trụ chỉ là một phần nhỏ của Dục giới, phần thấy được của Dục giới mà thôi). Vì vậy Thích Ca còn có biệt danh là Như Lai. Ý nghĩa của Như Lai là “Tùng vô sở khứ, diệc vô sở lai cố danh Như Lai” (chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu gọi là Như Lai - Kinh Kim Cang ) Đó là chánh biến tri (hiện hữu khắp không gian thời gian, biết chính xác khắp mọi nơi)
Nhiều người không ngần ngại bầu chọn nhà khoa học Đức gốc Do Thái, Albert Einstein là nhà khoa học vĩ đại nhất thế kỷ 20, đồng thời là nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại, vì ông đã nêu ra thuyết tương đối đặc biệt (the special theory of relativity) vào năm 1905 và thuyết tương đối tổng quát (the general theory of relativity) vào năm 1916, làm đảo lộn nhận thức của loài người về khoa học, về những cái tưởng chừng như cố định vĩnh cửu không bao giờ thay đổi như không gian và thời gian, khối lượng vật chất v.v…
Riêng tôi, có thể bầu chọn Einstein là nhà khoa học vĩ đại nhất thế kỷ 20, nhưng không vội bầu chọn ông là nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại, vì có một nhân vật lịch sử xứng đáng hơn cho danh hiệu đó, người đó chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Siddhārtha Gautama) người sáng lập ra Phật giáo, sinh ra tại Ca Tì La Vệ (zh. 迦毘羅衛, sa. Kapilavastu  thuộc nước Nepal ngày nay.
Nhiều người sẽ ngạc nhiên, vì Đức Phật đâu có phải là nhà khoa học, ngoài ra Phật giáo cũng không có kiến lập chân lý, vậy thì lấy gì để so sánh, đối chiếu với các lý thuyết của Einstein ? Thật vậy, trước lúc nhập diệt, Phật đã phủ nhận toàn bộ lời giảng dạy của mình, nói rằng : “Trong suốt 49 năm qua, ta chưa hề nói một chữ nào” . Như vậy đem Đức Phật so sánh với Einstein thì thật là lố bịch. Tuy nhiên trong thế giới vô minh, tương đối, Phật đã giảng rất nhiều bộ kinh, nay tôi lấy những kinh điển có ý nghĩa như chiếc bè tạm bợ đó, để thử đối chiếu một lần cho minh bạch về mặt khoa học của hai nhân vật lịch sử vĩ đại đó của nhân loại, tôi nghĩ rằng bạn đọc có thể rút ra được nhiều điều thú vị, bổ ích cho sự hiểu biết của mình về thế giới.
1.     Hiểu thế nào về thế giới ? 
Với Thuyết tương đối đặc biệt, Einstein nêu ra rằng không gian, thời gian, khối lượng vật chất không bất biến như trong lý thuyết của Newton. Ông khám phá rằng thời gian là chiều kích thứ tư không thể tách rời của không gian, do đó không gian và thời gian nên được gọi chung là thời- không (Space-time) là một thực thể liên tục (continuum) không gián đoạn. Ông còn khám phá rằng ánh sáng là vận tốc cao nhất của vật chất trong chân không và vận dụng nó trong công thức giản dị nhưng nổi tiếng nhất thế giới, nêu ra tính chất tương đương giữa vật chất và năng lượng :
E=MC2  (E là năng lượng, M là khối lượng vật chất, C là vận tốc ánh sáng)
Thuyết tương đối được cho là một lý thuyết cao siêu có rất ít người hiểu được, nhưng với thuyết tương đối Einstein vẫn chưa thực sự hiểu rõ bản chất của thời-không, của khối lượng vật chất. Vì vậy khi gặp phải hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) ông không hiểu được. Einstein sinh thời đã không hiểu được, không biết tại sao một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai hoặc nhiều vị trí khác nhau, và khi hạt ở vị trí này bị tác động thì lập tức hạt ở các vị trí kia cũng bị tác động y hệt, tức thời, bất kể khoảng cách là bao xa, ông gọi đó là tác động ma quái từ xa (spooky action at a distance). Nếu cho rằng tín hiệu được truyền đi, thì vận tốc phải gấp hàng triệu lần tốc độ ánh sáng, điều đó trái với định đề của chính Einstein nêu ra rằng ánh sáng là tốc độ cao nhất của thế giới vật chất, không có vật gì truyền đi nhanh hơn ánh sáng, ánh sáng truyền trong chân không là một hằng số bằng (qui tròn) 300.000km/giây, không có vận tốc đầu, bởi vì ánh sáng không có khối lượng nên cũng không có quán tính (nói nôm na là nó không có trớn). Gần đây, có người khám phá ra rằng hạt neutrino có vận tốc nhanh hơn ánh sáng (306.000 km/giây) Khám phá này nếu được công nhận, thì chỉ ra rằng Einstein có chút sai sót, nhưng cũng chưa đi đủ xa để làm thay đổi nhận thức, chỉ gợi mở ý tưởng rằng con người có thể đi ngược thời gian để thấy lại quá khứ (nếu đi với vận tốc của hạt neutrino 306.000km/giây, trong khi ánh sáng đi với vận tốc 299.792,5 km/giây, như vậy có thể bắt kịp ánh sáng và thấy lại quá khứ)
Vậy Thích Ca có hiểu hiện tượng rối lượng tử không ? Thời Đức Phật chưa ai biết có hiện tượng này, nhưng qua những lời giảng của kinh điển, chúng ta có thể khẳng định Thích Ca biết và có đáp án rõ ràng cho hiện tượng này. Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật nhiều lần phóng hào quang hiển thị cho tứ chúng (tăng, ni, nam nữ cư sĩ) tham dự, thấy vô lượng vô biên thế giới (biểu thị không gian) từ quá khứ cho tới vị lai (biểu thị thời gian) và hằng hà sa chúng sinh không thể đếm hết của mười phương thế giới (biểu thị số lượng). Phật có đầy đủ thần thông (lục thông). A-tì-đạt-ma-câu-xá luận zh. 阿毗達磨俱舍論, sa. abhidharmakośa-śāstra, thường được gọi tắt là Câu-xá luận) có kể rõ lục thông là :
Lục thông, 六通 , tiếng Phạn ṣaḍ abhijñāḥ: Sáu phép thần thông, biểu hiện năng lực tâm thức bát nhã của chư Phật và Bồ tát.
  1. Thân như ý thông, Phạn (sa) ṛiddhi viṣaga-jñānaṃ, còn gọi là Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ý muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên biển, chui vào trong núi… tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ý muốn, không hề chướng ngại.
  2. Thiên nhãn thông, sa. divyaṃ-cakṣuḥ-jñānaṃ: nhìn thấy tất cả mọi hình sắc ở gần hay ở xa trong cả thế gian, nhìn thấy mọi hình tướng khổ vui của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
  3. Thiên nhĩ thông, sa.  divyaṃ-śrotraṃ-jñānaṃ: nghe và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
  4. Tha tâm thông, sa.  paracitta-jñānaṃ: biết hết tất cả mọi ý nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục đạo.
  5. Túc mệnh thông, sa.  purvanivasānusmṛiti-jñānaṃ, còn gọi là Túc mệnh minh: biết được kiếp trước của chính bản thân mình và của chúng sinh trong lục đạo, từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn vạn đời trước đều biết rõ, nhớ rõ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên gì, làm gì…
  6. Lậu tận thông , sa.  āsravakṣaya-jñānaṃ: lậu tức là kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi. Lậu tận thông là dứt trừ toàn bộ kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi, không còn sinh tử luân hồi trong ba cõi, được giải thoát hoàn toàn.
Nhờ có thần thông, nên mặc dù không có máy móc thiết bị gì cả, Phật nhìn thấu suốt cả Tam giới từ những vi trần cực kỳ nhỏ như photon, neutrino, các hạt cơ bản hạ nguyên tử (subatomic particles) như quark, electron đến các thiên thể vũ trụ thuộc tam thiên đại thiên thế giới, Phật biết chúng chỉ là hạt ảo không có thật và gọi chung là “hoa đốm trong hư không”. Kinh Pháp Hoa có nói rõ trong mười phương thế giới có vô số Phật Thích Ca đang đồng thời thuyết pháp. Điều đó chứng tỏ Phật biết hiện tượng rối lượng tử, tức hiện tượng một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau. Phật còn biết chính vì không gian, thời gian, số lượng là không có thật, các đại lượng đó chỉ hiện hũu trong tâm thức, nên một photon tại vị trí này bị tác động thì lập tức photon ở vị trí kia bị tác động y hệt, không mất chút thời gian nào vì không có việc truyền tín hiệu qua không gian. Einstein nói “tác động ma quái từ xa” vì chưa hiểu thời-không và số lượng là không có thật. Có điều gì chứng tỏ Phật biết thời-không và số lượng không có thật ? Số lượng là số đếm của vạn vật, của hình tướng vật chất. Không một hình tướng nào là có thật, vật chất là không có thực thể, điều này Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh nói rất rõ :
(Này Xá Lợi Phất, các pháp đều là không có thật, không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm. Vì trong cái không, không có vật chất; không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt tai mũi lưỡi thân ý; không có sắc thanh hương vị xúc pháp; không có cảnh giới của cái thấy, cho đến không có cảnh giới của ý thức. Không có vô minh, cũng không có hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có hết già chết. Không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo, không có Trí, cũng không có Đắc. Vì không có Sở Đắc, Bồ Tát dựa vào Trí Bát Nhã, Tâm không dính mắc, vì không dính mắc, không có sợ hãi, xa rời điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn).  
2.     Lý thuyết Trường Thống Nhất   
Einstein dành 30 năm cuối của cuộc đời mình để nghiên cứu về một lý thuyết có thể giải thích được tất cả (Theory Of Everything- TOE) mà ông gọi tên là Lý thuyết Trường Thống Nhất (Theory of Unified Field), ông muốn thống nhất thuyết tương đối và cơ học lượng tử nhưng cuối cùng thất bại, ông qua đời năm 1955 mà không giải quyết được vấn đề. Thích Ca mặc dù sống trước thời đại của Einstein đến hơn 2500 năm, nhưng đã tiên đoán thất bại của Einstein và những người cùng chí hướng với ông, rằng không thể có TOE. Đức Phật đã cho một ví dụ bằng câu chuyện người mù sờ voi, ghi trong  Niết Bàn Kinh 涅 槃 经
“有王告大臣,汝牵一象来示盲者时,众盲各以手触。大王唤众盲问之:“汝见象类何物?触其牙者言:象形如萝菔根;触其耳者言如 萁;触其脚者言如臼;触其脊者言如床;触其腹者言如瓮;触其尾者言如绳。……王喻如来正偏知,臣喻方等涅槃经,又象喻佛性,盲者喻一切众生无明也。”
(Có một vị vua nói với đại thần, ngươi hãy dẫn một con voi đến cho bọn mù xem. Những người mù dùng tay để sờ. Vị đại vương kêu bọn mù lại hỏi : “Các ngươi thấy voi giống như vật gì ? Người sờ cái ngà nói : voi giống như cái củ cải. Người sờ lỗ tai nói giống nhánh lá ki. Người sờ chân voi nói giống như cái cối.  Người sờ lưng voi nói giống như cái giường. Người sờ bụng voi nói giống như cái lu. Người sờ đuôi voi nói giống như sợi dây thừng… Vua tượng trưng cái biết toàn thể của Như Lai (chánh biến tri 正偏知 ) Đại thần tượng trưng Kinh Phương Đẳng Niết Bàn. Con voi tượng trưng cho Phật tính. Những người mù tượng trưng cho tất cả chúng sinh vô minh.)
               
La bạc căn 萝菔根 (củ cải)         Ki  萁 (lá ki)                       Cữu  臼 (cái cối)
Người mù không thể biết được cái toàn thể, mà chỉ biết được phần mớ nào đó thôi. Người mù là ai ? Là nhà chính trị, nhà triết học, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, văn nghệ sĩ và cả bàn dân thiên hạ. Nói chung là tất cả chúng sinh, với cái biết của bộ não, họ không bao giờ có thể đạt tới cái biết toàn thể.
Đức Phật kể câu chuyện người mù sờ voi để biểu thị ý tưởng rằng trí óc duy lý của con người là hữu hạn, nó không thể biết được cái toàn thể vì cái hiểu biết của nó dựa trên cơ sở vô minh. Triết học và khoa học của loài người xây dựng trên nền tảng vô minh, không biết rằng bản chất của thế giới là không, không có nghĩa lý gì cả, nếu đi đến hiểu biết tận cùng thì sẽ gặp phải mâu thuẫn, phi logic, lý thuyết trở nên phi lý không thể hiểu được, không thể chấp nhận được. Điều này đã được nhà toán học Kurt Gödel phát biểu và chứng minh thành “Định lý bất toàn” công bố năm 1931. Định lý này được phát biểu thành 2 phần :
Định lý 1 : Nếu một lý thuyết dựa trên một hệ tiên đề phi mâu thuẫn thì trong lý thuyết ấy luôn luôn tồn tại những mệnh đề không thể chứng minh cũng không thể bác bỏ.
Định lý 2 : Không tồn tại bất cứ một quy trình suy diễn nào cho phép chứng minh tính phi mâu thuẫn của một hệ tiên đề.   
Ý nghĩa triết học của Định lý Bất Toàn (Theorem of Incompleteness) là luôn luôn có mâu thuẫn trong bất cứ hệ thống lý thuyết duy lý nào, Vật chất thì không có thực thể; cái Không không có gì cả, không có nghĩa lý gì, thì lại có thể tạo ra vũ trụ vạn vật; quark, electron chỉ là những hạt ảo không có thật, nhưng lại có thể tạo ra thế giới thiên hình vạn trạng, trong đó có con người thông minh, biết tư duy trừu tượng, biết sáng tạo ra đủ thứ vật dụng máy móc thiết bị, nhưng không thể biết được cái toàn thể. Các cặp phạm trù mâu thuẫn đều chỉ là một nhưng lại không phải là một.
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh cũng nói rõ “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”
Lý trí của chúng ta biết nhà cửa, xe cộ, thân ngũ uẩn của mình chỉ là huyễn ảo không có thật, nhưng hàng ngày ta vẫn phải ăn uống, mặc, ở, vẫn phải cần tới nhà cửa, xe cộ. Không thể có lý thuyết nào thống nhất được các mâu thuẫn đó cả, trí óc là bất lực. Einstein bó tay. Nhưng Thích Ca thì không, bộ não không thể giải quyết được vấn đề, nhưng không dùng bộ não thì lại giải quyết được, kết quả không thể tưởng tượng nổi. Sinh Tử là qui luật tự nhiên, ai cũng nghĩ thế, không ai thoát được, nhưng Thích Ca thân chứng được là không có Sinh Tử và thoát khỏi Luân Hồi. Thích Ca không đi tìm TOE vì biết TOE cũng ảo tưởng như hư không vô sở hữu, nhưng vì muốn cứu khổ cho chúng sinh nên Thích Ca bày ra phương tiện gọi là Tứ Đế trong đó nói Khổ, Tập, Diệt, Đạo để từ từ dẫn dắt chúng sinh mê muội đi dần tới giác ngộ. Một phương tiện khác là Thập Nhị Nhân Duyên để giải rõ nguồn gốc của vạn pháp, của chúng sinh. Các thuyết lý đó và rất nhiều kinh điển khác đều chỉ là phương tiện tạm thời. Đến Bát Nhã Tâm Kinh thì Thích Ca nói rõ, thật ra không có gì cả, tất cả chỉ là tâm thức biến hiện, giống như toàn bộ hình ảnh, âm thanh, chữ viết, video trên màn hình đều là ảo, nhưng chúng ta thấy là rất thật, dù sao cũng còn biết đó là ảo. Đến cuộc sống đời thường thì tính chất ảo hóa cao cấp hơn gấp bội, vì ngoài thấy, nghe, chúng ta còn sờ mó được, ngửi nếm được, có sự tiêu hóa, tăng trưởng, chuyển đổi hình thái, khiến cho chúng sinh không còn biết đó là ảo nữa, chỉ có bậc giác ngộ, kiến tánh thành Phật mới ngộ ra tất cả chỉ là ảo hóa, là nằm mơ giữa ban ngày. Không gian, thời gian, số lượng, người, vật đều không có thật. Chính vì vậy trong câu chuyện người mù sờ voi, Phật nói thẳng thừng bọn người mù là thí dụ cho tất cả chúng sinh vô minh (không loại trừ các nhà khoa học chuyên dùng trí óc để phân tích, tổng hợp, nhưng không bao giờ biết được hết cái toàn thể).
Các nhà khoa học mơ tưởng đi tới Sao Hỏa, là việc hết sức khó khăn. Nhưng Thích Ca chỉ một niệm là có thể đến bất cứ đâu trong Tam giới (Tam giới còn rộng lớn hơn vũ trụ vì bao gồm cả  Sắc giới và Vô Sắc giới, trong khi vũ trụ chỉ là một phần nhỏ của Dục giới, phần thấy được của Dục giới mà thôi). Vì vậy Thích Ca còn có biệt danh là Như Lai. Ý nghĩa của Như Lai là “Tùng vô sở khứ, diệc vô sở lai cố danh Như Lai” (chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu gọi là Như Lai - Kinh Kim Cang ) Đó là chánh biến tri (hiện hữu khắp không gian thời gian, biết chính xác khắp mọi nơi)
Đi mà không đi vì pháp thân của Thích Ca có mặt khắp không gian thời gian, hay nói cách khác Tam giới không có thật nên đi với không đi cũng chẳng khác nhau. Đây không phải là nói suông mà hiện nay chúng ta có thể thực hiện một phần, Chẳng hạn khi đưa một bài viết lên mạng thì nó vốn là một vật ảo, có mặt ở khắp thế giới, bất cứ chỗ nào, bất cứ giờ nào, nếu hội đủ nhân duyên thì có thể thấy nó. Bây giờ việc gặp gỡ với bạn bè, người thân, dù họ ở bất cứ phương trời nào trên thế giới là rất dễ dàng, vì tiếng nói, hình ảnh của ta là những vật ảo, có thể xuất hiện đồng thời bất cứ nơi đâu trên quả địa cầu nhờ những công cụ như Skype hoặc Yahoo Messenger hay Windows Live. Thân ngũ uẩn của ta cũng là một vật ảo nhưng ở một trình độ cao cấp hơn, chỉ có những người có thần thông hay công năng đặc dị mới thực hiện được thân như ý thông.
3.     Làm sao xây dựng hòa bình và hạnh phúc cho thế giới ?  
Hầu hết chúng ta đều mong mỏi thế giới hòa bình, ấm no và hạnh phúc nhưng không có cách nào thực hiện được. Thế giới luôn luôn bất ổn, thiên tai dồn dập, bạo lực khắp nơi. Các cường quốc luôn luôn ỷ mạnh hiếp yếu, muốn tạo lập trật tự thế giới theo ý riêng của mình. Áp bức, bất công, tham nhũng, cưỡng bức luôn luôn xuất hiện, chỉ khác là có nơi nhiều nơi ít mà thôi. Tại sao có tình hình như thế ?
Trước hết nói về thiên tai. Khoa học với khả năng có hạn không thể nào khắc phục được thiên tai. Động đất, sóng thần, cuồng phong, mưa bão, núi lửa. Tất cả các thiên tai đó đều vượt quá khả năng của khoa học. Phật pháp nói : “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Liệu con người có thể rút ra một vài nhận thức và hành xử tốt hơn trong cuộc đời dựa vào Phật giáo ? Thế giới là do tâm tạo, tâm thức con người với những tập quán xấu như hung bạo, hiếu chiến, giết chóc tất nhiên là có ảnh hưởng tới hòa bình thế giới, ai cũng thấy. Nhưng ít ai hiểu rằng thiên tai cũng là do tâm tạo. Không có cái gì tự nhiên có. Thế giới vật chất, thái dương hệ, mặt trời, hành tinh đều là cấu trúc ảo, vì vậy mới xảy ra khủng hoảng Vật lý học mà các nhà khoa học hàng đầu thế giới đã cảm thấy, khi môn cơ học lượng tử phát triển, rằng vật chất không có thực thể, như Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel Vật lý 1922), Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính), Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963), Heisenberg, (1901-1976 nhà vật lý lý thuyết người Đức, người phát minh ra nguyên lý bất định), Stephen Hawking (nhà vật lý người Anh,  mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge), Thomas Samuel Kuhn (1922-1996, nhà vật lý Mỹ, tác giả sách Cấu Trúc Các Cuộc Cách mạng Khoa học- Structure of Scientific Revolutions)…, Phật giáo gọi cấu trúc ảo của vật chất là vô thủy vô minh, Thiền gọi là thoại đầu. Tâm là lực tổng hợp của 4 lực cơ bản của thế giới vật chất : Lực hấp dẫn (force de gravité, gravitation) là lực hút giữa vật chất với nhau, có tác dụng ở mặt vĩ mô. Lực điện từ (force électromagnétique, electromagnetism) tạo ra từ trường, trong đó điện tích cùng dấu thì đẩy nhau, khác dấu thì hút nhau. Lực tương tác mạnh (force interactive forte, the strong interaction) là lực liên kết các hạt quark tạo ra hạt proton và hạt neutron, tạo ra sự vững bền của hạt nhân nguyên tử và giữ cho electron chuyển động theo quỹ đạo nhất định. Lực tương tác yếu (force interactive faible, the weak interaction) tạo ra hiện tượng phóng xạ của các nguyên tố nặng (như uranium) tức là giải phóng một số proton và neutron khiến nguyên tử dần dần bị phân rã. Lực điện từ và lực tương tác yếu, từ năm 1983 khi khám phá hạt tương tác boson W và boson Z thì có thể gom thành một lực chung gọi là lực tương tác điện yếu (interaction of weak electromagnetic fields). Vì vật chất là cấu trúc ảo nên Tâm lực có thể tác động để làm thay đổi. Các bậc giác ngộ có thần thông, có thể làm được điều đó. Chẳng hạn Huệ Năng, Hám Sơn, Đơn Điền đã làm thay đổi cấu trúc cơ thể của mình khiến nó trở nên bất hoại mà không cần có sự can thiệp từ bên ngoài, không cần ướp xác gì cả. Ngay cả những người chưa giác ngộ nhưng tâm lực đủ mạnh như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý cũng làm được những việc thần kỳ như đi xuyên qua tường, di chuyển cố thể vật chất như viên thuốc đi xuyên qua vỏ chai, tiền giấy đi xuyên qua vách bê tông kho bạc của ngân hàng…Khi Phật giáo nói “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” chúng ta phải hiểu rằng Tâm chính là lực tổng hợp của 4 lực cơ bản của vật chất, Tâm là nguồn năng lượng vô hạn. Thích Ca đã phát biểu điều đó từ rất lâu mà Einstein và nhiều nhà khoa học hiện nay vẫn chưa hiểu.
Vũ trụ cũng chỉ là cấu trúc ảo, là nằm mơ giữa ban ngày, vũ trụ là một trường thông tin mà tâm thức có thể tác động, với dữ liệu khổng lồ vô hạn lấy từ a-lại-da thức. Loài người có cùng một cộng nghiệp nên họ cùng thấy một vũ trụ giống nhau. Các loài khác với cộng nghiệp khác, chúng thấy vũ trụ không giống như loài người thấy. Khi tâm lực đủ mạnh thì có khả năng vận dụng, tức có lục thông, có thể dời núi lấp biển hay tạo ra cả một thế giới khác, chẳng hạn Đức Phật A Di Đà đã tạo ra thế giới tây phương cực lạc để tiếp dẫn những người tha thiết muốn đến đó, nơi đó đất đai bằng phẳng, không có núi cao vực sâu, cư dân hóa sanh chứ không phải thai sanh, cũng không phải cực nhọc suốt ngày lo kiếm ăn như ở trần gian. Chúng ta có thể cho rằng đó là một thế giới ảo tưởng không có thật. Đúng thế, nhưng nên biết rằng nó cũng bình đẳng như trần gian, nghĩa là cõi thế gian cũng là ảo tưởng tương tự như vậy và có nhiều ác trược hơn như thiên tai, bệnh tật, chiến tranh mà thế giới kia không có. Thiên tai là sự báo động rằng nghiệp xấu, nghiệp ác đang hiện hành, là quả báo của bất thiện nghiệp trong quá khứ. Tại sao có luật nhân quả ? Luật nhân quả trong nghiệp chướng cũng giống như lực quán tính trong vật lý học, điều đó là hoàn toàn tương đồng. Khi ta tạo một lực thì xuất hiện một phản lực có cường độ tương đương nhưng có chiều nghịch lại. Đó chính là nguyên lý của động cơ phản lực. Trong thế giới vô hình, nghiệp lực cũng tác động theo đúng nguyên lý của lực quán tính trong thế giới hữu hình. Khi ta tạo một nghiệp ác hoặc nghiệp thiện lên người khác hoặc vật khác thì xuất hiện một phản nghiệp tác động lại chính mình mà ta gọi là luật nhân quả. Có một nguyên lý bao trùm vũ trụ vạn vật, đó là nguyên lý đối xứng. Khi có hạt electron thì cũng có hạt positron đối xứng với nó, khi có vật chất thấy được thì cũng có vật chất tối không thấy được. Nguyên lý đối xứng tạo ra cặp phạm trù mâu thuẫn trong bất cứ lĩnh vực nào của thế giới dù là hữu hình hay vô hình.
Thiên tai có nguồn gốc rất sâu xa, không phải thô thiển như các nhà khoa học giải thích. Nên khi thấy hai ông tăng cãi nhau về lá phướn bị gió động hay tự lay động, Huệ Năng bảo : “Không phải gió động, cũng không phải phướn động, mà do tâm các ông động” Lời nói đó có ý nghĩa rất sâu xa.
Một cá nhân khó có thể đủ sức làm thay đổi cộng nghiệp của cả một cộng đồng hàng trăm triệu người, nhưng hiểu rõ thì không còn than trời trách đất hay than thân trách phận mà có thể bình tâm an nhiên thọ nghiệp, biết nghiệp cũng chỉ là giả tạm, lòng không còn sợ hãi, như vậy cũng đủ bình an.
Giải quyết được thiên tai thì cũng sẽ giải quyết được tất cả mọi họa hoạn theo cùng một cách thế như vậy. Thích Ca dạy rằng hòa bình và hạnh phúc là do ở mình, là tâm trạng, tâm thái chứ không phải do người khác hay vật khác quyết định, do đó Phật giáo dạy nhẫn nhục và thường không tán thành các biện pháp bạo lực. Ta thấy trong lịch sử khi Phật giáo bị người Hồi giáo tàn phá, giết hại, càn quét khỏi quê hương Ấn Độ, người Phật giáo cũng không trả thù, không cần trả thù, bởi vì gieo gió sẽ gặt bão, luật nhân quả sẽ biểu hiện, chỉ sợ người Hồi giáo không tránh khỏi quả báo.
Giáo lý của Phật giáo tự nó đã có sức đóng góp cho hòa bình và hạnh phúc của nhân loại, trong khi khoa học tuy đem lại nhiều ích lợi, tiện nghi vật chất, cơm ăn, áo mặc, cái đó không thể phủ nhận, nhưng đồng thời cũng đem lại nhiều đau thương chết chóc như chất độc hóa học, chất độc màu da cam, các loại vũ khí hủy diệt như bom nguyên tử, hay vũ khí thông thường như mìn, bom đạn,  hàng ngày giết hại không ít người. Einstein ân hận không nguôi vì ông đã lỡ kí tên trong bức thư gởi Tổng thống Mỹ Roosvelt đề nghị chế tạo bom nguyên tử để chống phát xít, mặc dù sau đó ông không có tham gia chương trình, và khi biết quả bom đã được chế tạo, ông đã gởi bức thư thứ hai cho Tổng thống Truman, mới lên thay Roosvelt vì ông này qua đời, đề nghị không sử dụng bom nguyên tử, nhưng đã quá muộn, hai quả bom nguyên tử đã rơi xuống Hiroshima và Nagasaki gây thảm họa cho dân Nhật.
Tóm lại, chỉ xét riêng về phương diện thuần túy khoa học, chưa cần xét tới sự nghiệp đối với nhân loại, Einstein cũng không sánh kịp Thích Ca. Einstein chỉ hiểu thế giới trên nền tảng vô minh cục bộ, còn Thích Ca ngộ Tâm bất nhị chính là vũ trụ vạn vật. Thích Ca thoát khỏi sinh tử luân hồi, xứng danh Như Lai, vô lượng quang, vô lượng thọ (khắp không gian thời gian) vô thủy vô chung. Trong khi Einstein loay hoay không giải quyết được lý thuyết trường thống nhất. Vì vậy nên tôi chọn Thích Ca là nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại.
Truyền Bình

NHỮNG HÌNH PHẠT “KINH HOÀNG” của CHÍNH PHỦ ĐỨC QUỐC ĐỐI VỚI CSVN QUA VỤ BẮT CÓC TRỊNH XUÂN THANH…


Theo bản tin của Thông Tấn Xã Đức, ngày 28/8/2017, bất ngờ chính phủ Đức Quốc đưa ra một thông báo trừng phạt thẳng tay cộng sản Việt Nam vì vụ án gián điệp bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.
Bản thông cáo trừng phạt này sẽ làm CSVN khốn đốn về mọi phương diện, có thể làm cho nền kinh tế của CSVN hoàn toàn sụp đổ, và bao gồm những nét chính, đại ý như sau:
 1.-Lên án CSVN bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, vi phạm luật pháp quốc tế và công ước thế giới.
 2.- Cắt đứt quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, y tế, và du lịch với Hà Nội.
3.- Xóa bỏ thỏa ước về lệnh dẫn độ.
 4.-Cắt tòan bộ các viện trợ kinh tế thương mại (có thể ám chỉ cả số tiền viện trợ của Đức cho CSVN trong 2 năm lên đến $215 trịêu USD).
5.-Thông báo cho Liên Hiệp Châu Âu EU gạt CSVN ra khỏi các thỏa hiệp xuyên Đại Tây Dương. (Có thể làm cho CSVN bị thiệt hại đến $38 tỷ USD). 6.-Hủy bỏ thuế quan tối huệ quốc 4% dành cho CSVN.
 7.-Cấm bán các vũ khí, chiến cụ, chiến lược và chiến thuật quốc phòng cho CSVN. (trước kia Đức vẫn bán cho VN chiến xa và máy diesel dùng cho tiềm thủy đĩnh của Nga cung cấp cho CSVN.)
 8.-Cấm CSVN buôn bán xuất cảng hàng hóa qua Đức và các nước Châu Âu (điều khỏan này có thể làm cho CSVN bị thiệt hại đến $48 tỷ USD một năm).


Vụ Án Trịnh Xuân Thanh – Trừng Phạt Thẳng Tay
Cũng nên nhắc lại vấn đề nghiêm trọng của sự kiện lãnh đạo cộng sản Việt Nam đưa Đăc Công qua Đức Quốc BẮT CÓC TRỊNH XUÂN THANH, để lại một hệ luy mà Việt cộng không thể lường trước được. Nhưng rất nhiều câu hỏi được đặt ra: “tại sao lãnh đạo Việt cộng phải quyết bắt cho bằng được Trịnh Xuân Thanh bất chấp mọi hậu quả?”…
Theo nhiều tài liệu được nhận định bởi những nhà phân tích chính trị cộng sản Việt Nam. Lãnh đạo Việt cộng đã lập kế họach tinh vi và sử dụng miếng mồi là một cô gái 25 tuổi được xem như người tình cũ của Trịnh Xuân Thanh để ông ra khỏi khách sạn nơi cư ngụ và đến gặp cô tại công viên, và các đặc vụ của CSVN dùng vũ lực bắt đem đi. Kế hoạch dù đã được tính tóan tinh vi nhưng đã để lộ một sơ hở – đó là thuê chiếc xe tại Czech có máy định vị chống ăn trộm (anti-theft). Nhờ máy định vị này mà cảnh sát Đức đã phanh lần ra manh mối, sau khi bắt cóc nhóm người này đã đưa Trịnh Xuân Thanh đến tòa đại sứ của CSVN tại Berlin trước khi vượt biên giới qua Czech để chở Trịnh Xuân Thanh về Hà Nội trên một chuyến bay đặc biệt dành cho bệnh nhân. Cô gái tình nhân kia khi về Hà Nội đã được đưa đến bệnh viện Việt-Đức chữa trị vì bị thương tích gẫy tay trong lúc các đặc vụ xô đẩy Trịnh Xuân Thanh lên xe, trong lúc Trịnh Xuân Thanh được bí mật chuyển đến một địa điểm không ai biết, và không có tin tức gì thêm về người bị bắt cóc này kể từ đó. Các cơ quan truyền thông báo chí nhà nước CSVN lập tức đồng lọat đưa tin Trịnh Xuân Thanh về đầu thú nhằm đánh lạc hướng dư luận trong nước.
 Về phía Đức, Bà Thủ Tướng Angela Merkel ngay sau đó lên án nghiêm khắc hành động bắt cóc này của CSVN đã vi phạm luật pháp quốc tế và luật của nước Đức, và yêu cầu phía CSVN dẫn giải Trịnh Xuân Thanh trở lại Đức. Lý do: Trịnh Xuân Thanh đã được nước Đức chấp thuận cho tỵ nạn, giấy tờ đang tiến hành, và hành động bắt cóc này đã vi phạm chủ quyền của Đức và không thể chấp nhận được.  Viện Công Tố Liên bang Đức được trao cho nhiệm vụ thiết lập hồ sơ và theo dõi vụ án gián điệp này, và cảnh sát mật vụ Đức, được xem như hàng đầu thế giới, cũng nhập cuộc lùng bắt câu lưu các nghi phạm. Cảnh sát thuộc Cộng Hòa Czech cũng hoạt động và tiếp tay với cảnh sát Đức. Một nguồn tin cho biết thời gian vừa qua, Thủ Tướng Cộng Sản Nguyễn Xuân phúc khi qua gặp Thủ Tướng Angela Merkel đã yêu cầu Đức cho dẫn độ Trịnh Xuân Thanh về VN vì tham nhũng làm thất thóat $150 triệu USD, nhưng bà Thủ Tướng Đức đã từ chối dù hai nước có thỏa ước về dẫn độ.
Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh đã trở thành vụ án, bề ngoài theo phía CSVN, vì tham nhũng và làm thất thoát tiền của nhà nước, nhưng bề trong là chính trị, là thanh trừng nội bộ, vì Trịnh Xuân Thanh đã tiết lộ quá nhiều bí mật về các cấp lãnh đạo tại Hà Nội, về các chỉ đạo của đảng CS. Trịnh Xuân Thanh còn viết hồi ký về chuyện bố của ông là Trịnh Xuân Giới đã được đảng CS giao cho nhiệm vụ móc nối và mua chuộc ông NCK về nước theo nghị quyết 36. Ông Giới đã liên lạc được với người anh là Trịnh Xuân Ngạn và con ông Ngạn là một khoa học gia người Việt nổi tiếng tại Pháp để móc nới với ông NCK. Theo chỉ thị, Hà Nội rất cần NCK về nước để đánh bóng chế độ và thu hút thêm kiều hối từ hải ngoại gửi về. Số tiền hàng năm lên đến $11 tỷ USD gửi về VN và đầu tư, và nhiều hơn nữa,  mà CSVN rất cần để cho chế độ của họ không bị sụp đổ; và Trịnh Xuân Giới đã thành công trong nhiệm vụ móc nối này.
Phía CSVN đã giữ thái độ im lặng trước lời yêu cầu chính thức từ chính phủ Đức là giao trả lại Trịnh Xuân Thanh cho Đức, và thời hạn mà bà Thủ Tướng Angela Merkel đề ra cho CSVN thi hành yêu cầu này đã trôi qua trong lặng lẽ. Một nguồn tin cho rằng có thể CSVN nghĩ họ đã thắng khi qua mặt được cảnh sát Đức và Czech, khi bắt đem được Trịnh Xuân Thanh về Hà Nội; nếu họ ép cung Trịnh Xuân Thanh nhận tội và nhận tự nguyện về VN đầu thú thì họ sẽ giải độc được mọi chuyện. Nhưng tới nay vẫn chưa hé lộ một chút tin gì về Trịnh Xuân Thanh ở VN kể từ một tháng nay, cũng chưa thấy giao trả họ Trịnh này về lại Đức. CSVN có lẽ đã nhận định về nước Đức quá thấp, về một quốc gia đã từng chịu bao nhiêu đau khổ dưới chế độ cộng sản của khối Đông Âu, mà con người tiêu biểu chính là bà Thủ Tướng Angela Merkel.
(source from TTH/PGD) – CHRIS PHAN… thực hiện