Bài viết này nhận được sự đóng góp của nhiều người. Nếu công trình
của tôi hoàn thành (và thành thật xin lỗi nếu không phải như vậy) thì
tôi xin đặc biệt cám ơn John Aldrich, Mike Barnett, Lea Brilmayer, David
Campbell, Jim Caporaso, Simon Dalby, David Dessler, Bud Duvall, Jean
E;shtain, Karyn Ertel, Lloyd Etheridge, Ernst Haas, Martin Hollis, Naeem
Inayatullah, Stewart Johnson, Frank Klink, Steve Krasner, Friedrich
Kratochwil, David Lumsdaine, M. J. Peterson, Spike Peterson, Thomas
Risse-Kappen, John Ruggie, Bruce Russet, Jim Scott, Rogers Smith, David
Sylvan, Jan Thomson, Mark Warren, and Jutta Weldes. Bài viết này cũng sử
dụng nguồn đóng góp từ các cuộc hội thảo và thuyết trình tại American
University, University of Chicago, University of Massachusetts tại
Amherst, Syracuse University, University of Washington tại Seattle,
University of California tại Los Angeles, và Yale University.
[1] Xem thêm Joseph Grieco, “Anarchy and the Limits of Cooperation: A
Realist Critique of the Newest Liberal Instutitionnalism”, International Organization 42 (Summer 1988), pp. 485-507; Joseph Nye, “Neorealism and Neoliberalism”, World Politics 40 (1/1988), pp. 235-51; Robert Keohane, “Neoliberal Institutionnalism: A Perspective on World Politics”, International Institutions and State Power (Boulder,
Colo.: Westview Press, 1989), pp. 1-20; John Mearsheimer, “Back to the
Future: Instability in Europe After the Cold War”, International Security 13 (Summer
1990), pp. 5-56, bên cạnh nhiều ấn phẩm quan trọng khác có liên quan
của Mearsheimer; và Emerson Niou và Peter Ordeshook, “Realism Versus
Neoliberalism: A Formulation”, American Journal of Political Science 35(5/1991), pp. 481-511.
[2] Xem Robert Keohane, “International Institutions: Two Approaches”,
International Studies Quarterly 32 (12/1988), pp. 379-96.
[3]
Mô hình hành vi và duy lý về con người và các tổ chức đều kế thừa từ
chủ nghĩa cá nhân duy vật của Hobbes, Locke và Bentham. Về mối quan hệ
giữa hai mô hình này, xem thêm Jonathan Turner,
A Theory of Social Interaction (Stanford,
Calif.: Stanford University Press, 1988), pp. 24-31; và George Homans,
“Rational Choice Theory and Behavorial Psychology”, trong Craig Calhoun
et al., ed.,
Structures of Power and Constraint (Cambridge: Cambridge University Press, 1991), pp. 77-89.
[4]
Về quan niệm của phái tân hiện thực về quá trình học hỏi, xem Philip
Tetlock, “Learning in U.S. and Soviet Foreign Policy”, trong George
Breslauer và Philip Tetlock, eds.,
Learning in U.S. and Soviet Foreign Policy (Boulder, Colo.: Westview Press, 1991), pp. 24-27; Joseph Nye, “Nuclear Learning and U.S.-Soviet Security Regimes”,
International Organization 41 (Summer 1987), pp. 371-402; và Ernst Haas,
When Knowledge Is Power (Berkeley: University of California Press, 1990), pp. 17-49.
[5] Xem Stephen Krasner, “Regimes and the Limits of Realism: Regimes as Autonomous Variables”, trong Stephen Krasner, ed.,
International Regimes (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1983), pp. 355-368.
[6] Xem Nye, “Nuclear Learning and U.S.-Soviet Security Regimes”; Robert Jervis, “Realism, Game Theory, and Cooperation”,
World Politics 40 (4/1988), pp. 340-344; và Robert Keohane, “International Liberalism Reconsidered”, trong John Dunn, ed.,
The Economic Limits to Modern Politisc (Cambridge: Cambridge University Press, 1990), p. 183.
[7]
Chủ nghĩa duy lý quan tâm nhiều hơn đến vấn đề hình thành các ưu tiên
[của các quốc gia], mặc dù làm như vậy là vượt quá những gì mà tôi cho
là đặc điểm của chủ nghĩa duy lý. Xem thêm John Elster, “Sour Grapes:
Utilitarianism and the Genesis of Wars”, trong Amartya Sen và Bernard
Williams, eds.,
Utilitarianism and Beyond (Cambridge: Cambridge
University Press, 1982), pp. 219-238; và Michael Cohen và Robert
Axelrod, “Coping with Complexity: The Adaptive Value of Changing
Utility”,
American Economic Review 74 (3/1984), pp. 753-775.
[8] Freidrich Kratochwil và John Ruggie, “International Organization: A State of the Art on an Art of the State”,
International Organization 40 (Autumn 1986), pp. 753-775.
[9] Keohane, “International Institutions”.
[10] Xem Nicolas Onuf,
World of Our Making (Columbia: University of South Carolina Press, 1989).
[11]
Về thuyết hiện đại, xem Keohane, “International Institutions”; và
Robert Keohane, “International Relations Theory : Contributions of a
Feminist Standpoint”,
Millennium 18 (Summer 1989), pp. 245-253.
Về thuyết hậu hiện đại, xem R. B. J. Walker, “History and Structure in
the Theory of International Relations”,
Millennium 18 (Summer
1989), pp. 163-83; và Richard Ashley và R. B. J. Walker, “Reading
Dissidence/Writing the Discipline: Crisis and the Question of
Sovereignty in International Studies”,
International Studies Quarterly 34 (9/1990),
pp. 367-416. Xem thêm đánh giá sắc sảo về cuộc tranh luận này của Yosef
Lapid, “The Third Debate: On the Prospects of International Theory in a
Post-Positivist Era”,
International Studies Quarterly 33 (9/1989), pp. 235-254.
[12]
Do dựa trên các cách tiếp cận trên mà tôi có thể được xếp vào hàng ngũ
những nhà kiến tạo hiện đại, tuy rằng tôi cũng dựa vào các công trình
quan trọng của các nhà hậu hiện đại, đặc biệt là Richard Ashley và Ron
Walker. Về điểm này xem thêm bài viết gần đây của tôi, “The
Agent-Structure Problem in International Relations Theory”,
International Organization 41 (Summer
1987), pp. 335-370; và Ian Shapiro và Alexander Wendt, “The Difference
That Realism Makes: Social Science and the Politics of Consent”, sẽ xuất
bản trong ấn phẩm
Politics and Society. Trong số các học giả
kiến tạo hiện đại, tôi đặc biệt cảm ơn các nghiên cứu của Emanuel Adler,
Friedrich Kratochwil và John Ruggie, cũng như bài viết chưa được xuất
bản của Naeem Inayatullah và David Levine có tựa đề “Politics and
Economics in Contemporary International Relations Theory”, Syracuse
University, Syracuse, N.Y., 1990.
[13] Xem Viktor Gecas, “Rekindling the Sociological Imagination in Social Psychology”,
Journal for the Theory of Social Behavior 19 (3/1989), pp. 97-115.
[14] Kenneth Waltz,
Man, the State, and War (New York: Columbia University Press, 1959), p. 232.
[16]Ibid., p. 232. Điểm này đã được chỉ ra bởi Hidemi Suganami trong “Bringing Order to the Causes of War Debates”,
Millennium 19 (Spring 1990), p. 32, fn. 11.
[17]Kenneth Waltz,
Theory of International Politics (Boston: Addison-Wesley, 1979).
[18] Tuy nhiên quan điểm tân hiện thực này không phải là không có vấn đề. Xem David Lumsdaine,
Ideals and Interests: The Foreign Aid Regime,
1949-1989 (Princeton, N.J.: Princeton University Press, sắp xuất bản).
[19]
Vì các quốc gia – đơn vị của hệ thống chính trị quốc tế, là tương tự
nhau về chức năng (bảo đảo an ninh cho chính mình) và biện pháp thực
hiện (ví dụ dùng quyền lực), khác với đơn vị của chính trị nội địa có
chức năng nhiệm vụ khác nhau được quy định cụ thể trong Hiến pháp – ND.
[20] Waltz,
Theory of International Politics, pp. 79-101.
[21] Stephen Walt,
The Origins of Alliances (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1987).
[22] Ví dụ xem thêm Herbert Blumer, “The Methodological Position of Symbolic Interactionnism”, trong cuốn
Symbolic Interactionism: Perspective and Methode (Englewood
Cliffs, N.J.: Prentice-Hall, 1969), p. 2. Qua bài viết này tôi cho rằng
có thể suy luận tương tự từ cá nhân đến quốc gia. Có hai dẫn chứng
chứng minh cho sự suy luận này. Một cách hình ảnh, phép suy luận tương
tự được sử dụng rộng rãi trên thực tiễn của các lý thuyết quan hệ quốc
tế, và vì bài viết này cũng có thể xếp vào hạng mục nghiên cứu chuyên
ngành chính trị quốc tế nên suy diễn của tôi có thể chấp nhận được. Về
bản chất, quốc gia là tập hợp nhiều cá nhân đóng vai trò các “cá thể”
tương tác với nhau, có lợi ích riêng, nỗi sợ hãi riêng, v.v… Tuy nhiên
một học thuyết đầy đủ về sự hình thành bản sắc và lợi ích quốc gia vẫn
cần tiếp cận từ góc độ tâm lý học xã hội của nhóm và tổ chức, do đó đề
xuất của tôi chỉ mang tính chất gợi mở.
[23]Cụm từ “phân bổ nhận thức” là của Barry Barnes, nêu trong cuối
Nature of Power (Cambridge: Polity Press, 1988); xem thêm Peter Berger và Thomas Luckmann,
The Social Construction of Reality (New
York: Anchor Books, 1966). Mối quan tâm hiện nay của các học giả quan
hệ quốc tế đối với “bản sắc cộng đồng” cùng với tác động nhân quả của
nhận thức về thế giới [đối với thực tiễn] chỉ ra bởi các nhà khoa học,
chuyên gia và nhà hoạch định chính sách là khía cạnh quan trọng trong
vai trò của tri thức đối với chính trị thế giới; xem Peter Haas, “Do
Regimes Matter? Epistemic Communities and Mediterranean Pollution
Control”,
International Organization 43 (Summer 1989), pp. 377-404; và Ernst Haas,
When Knowledge is Power.
Cách tiếp cận kiến tạo của tôi cũng đóng góp nhận định nhấn mạnh rằng
nhận thức cũng “kiến tạo” nên các cấu trúc và chủ thể của đời sống xã
hội.
[24]
Để hiểu nhận thức tập thể tạo thành bản sắc như thế nào, xem Peter
Berger, “Identity as a Problem in the Sociology of Knowledge”,
European Journal of Sociology,
vol. 7, no. 1, 1966, pp. 32-40. Xem thêm David Morgan và Michael
Schwalbe, “Mind and Self in Society: Linking Social Structure and Social
Cognition”,
Social Psychology Quarterly 53 (6/1990), pp. 148-164. Quan điểm của tôi cũng dựa trên nhiều công trình về học thuyết tương tác: George Herbert Mead,
Mind, Self, and Society (Chicago: University of Chicago Press, 1934); Berger và Luckmann,
The Social Construction of Reality; Sheldon Stryker,
Symbolic Interactionnism: A Social Structural Version (Menlo Park, Calif.: Benjamin/Cummings, 1980(; R. S. Perinbanayagam,
Signifying Acts: Structure and Meaning of Everyday Life (Carbondale: Southern Illinois University Press, 1985); John Hewitt,
Sefl and Society: A Symbolic Interactionnist Social Psychology (Boston: Allyn & Bacon, 1988); và Turner,
A Theory of Social Interaction.
Tuy còn nhiều điểm khác biệt, nhiều quan điểm tương đồng cũng được đưa
ra bởi các học giả cấu trúc như Bhaskar và Giddens. Xem Roy Bhaskar,
The Possibility of Naturalism (Atlantic Highlands, N.J.: Humanities Press, 1979); và Anthony Giddens,
Central Problems in Social Theory (Berkeley: University of California Press, 1979).
[25] Berger, “Identity as a Problem in the Sociology of Knowledge”, p. 111.
[26]
Tuy không dùng chính xác những khái niệm này, quan điểm của các học giả
chính sách đối ngoại về vai trò của quốc gia có thể áp dụng cho luận
điểm về bản sắc. Xem Kal Holsti, “National Role Conceptions in the Study
of Foreign Policy”,
International Studies Quarterly 14 (9/1970), pp. 233-309; và Stephen Walker, ed.,
Role Theory and Foreign Policy Analysis (Durham,
N.C.: Duke University Press, 1987). Xem thêm Stephen Walker, “Symbolic
Interactionnism and International Politics: Role Theory’s Contribution
to International Organization”, trong C. Shih và Martha Cottam, eds.,
Contending Dramas: A Cognitive Approach to Post-War International Organization Processes (New York: Praeger, sắp xuất bản).
[27] Về luận điểm này xem thêm Barry Hindess,
Political Choice and Social Structure (Aldershot, U.K.: Edward Elgar, 1989), pp. 2-3. “Xác định tình huống” là khái niệm trọng tâm của lý thuyết tương tác.
[28] Nelson Foote, “Identification as the Basic for a Theory of Motivation”,
American Sociological Review 16
(2/1951), p. 15. Kiểu quan điểm về lợi ích như thế này cũng bị chỉ
trích vì quá “nặng tính xã hội”; xem Dennis Wrong, “The Oversocialized
Conception of Man in Modern Sociology”,
American Sociological Review 26 (4/1961), pp. 183-193. Để có cái nhìn trung lập hơn, xem Turner,
A Theory of Social Interaction,
pp. 23-69; và Viktor Gecas, “The Self-Concept as a Basic for a Theory
of Motivation”, trong Judith Howard và Peter Callero, eds.,
The Self-Society Dynamic (Cambridge: Cambridge University Press, 1991), pp. 171-187.
[29]
Theo lối nói của những học giả “tân Durkheim”, thiết chế là “biểu tượng
xã hội”. Xem Serge Moscovici, “The Phenomenon of Social
Representations”, trong Rob Farr và Serge Moscovici, eds.,
Social Representations (Cambridge: Cambridge University Press, 1984), pp. 3-69. Xem thêm Barnes,
The Nature of Power.
Lưu ý rằng trường phái này nhấn mạnh bản thân sự nhận thức xã hội, khác
với các học giả hiện nay quan niệm rằng “ý tưởng” trong chính trị thế
giới là sự thỏa hiệp giữa các cá nhân và can thiệp vào quá trình từ phân
bổ quyền lực đến kết quả. Để biết thêm về dạng thuyết nhận thức gần với
quan điểm của tôi nhất, xem Emanuel Adler, “Cognitive Evolution: A
Dynamic Approach for the Study of International Relations and Their
Progress”, trong Emanuel Adler và Beverly Crawford, eds.,
Progress in Postwar International Relations (New York: Columbia University Press, 1991), pp. 43-88.
[30] Berger và Luckmann,
The Social Construction of Reality, p. 58.
[31] Xem Giddens,
Central Problem in Social Theory;
và Alexander Wendt và Raymond Duvall, “Institutions and International
Order”, trong Ernst-Otto Czempiel và James Rosenau, eds.,
Global Changes and Theoretical Challenges (Lexington, Mass.: Lexington Books, 1989), pp. 51-74.
[32]
Lý thuyết lựa chọn có thể dùng cụm từ khác, “ích lợi phụ thuộc lẫn
nhau”. Để tìm hiểu thêm về các học thuyết lựa chọn, xem thêm Harold
Hochman và Shmuel Nitzan, “Concepts of Extended Preference”,
Journal of Economic Behavior and Organization 6 (6/1985),
pp. 161-176. Thông thường các nghiên cứu theo thuyết lựa chọn không gắn
vấn đề hành vi với vấn đề bản sắc, nhưng có một ngoại lệ là bài viết
của Amartya Sen, “Goals, Commitment, and Identity”,
Journal of Law, Economics, and Organization 1 (Fall 1985), pp. 341-355; và Robert Higgs, “Identity and Cooperation: A Comment on Sen’s Alternative Program”,
Journal of Law, Economics, and Organization 3 (Spring 1987), pp. 140-142.
[33]
Hệ thống an ninh cũng có thể thay đổi theo yếu tố chuyên biệt hóa chức
năng và mối quan hệ thứ bậc giữa chủ và khách, theo đó chủ giữ vai trò
“bá quyền” trong khu vực ảnh hưởng của mình bằng cách xác định các lợi
ích an ninh của khách. Tôi sẽ không đi sâu phân tích khía cạnh trên
trong bài viết này vì đã làm trong một bài viết khác, xem thêm Alexander
Wendt, “The States System and Global Militarization”, luận văn tiến sỹ,
University of Minnesota, Minneapolis, 1989; và Alexander Wendt và
Michael Barnett, “The International System and Third World
Militarization”, chưa được xuất bản, 1991.
[34]
Điều này dẫn tới sự “quốc tế hóa quốc gia”. Để tìm hiểu thêm, xem
Raymond Duvall và Alexander Wendt, “The International Capital Regime and
the Internationalization of the States”, chưa xuất bản, 1987. Xem thêm
R. B. J. Walker, “Sovereignty, Identity, Community: Reflection on the
Horizon of Contemporary Political Practice”, trong R. B. J. Walker và
Saul Mendlovitz, eds.,
Contending Sovereignties (Boulder, Colo.: Lynne Rienner, 1990), pp. 159-185.
[35]
Về dải quang phổ các thỏa thuận hợp tác an ninh, xem Charles Kupchan và
Clifford Kupchan, “Concerts, Collective Security, and the Future of
Power”,
International Security 16 (Summer 1991), pp. 114-161; và Richard Smoke, “A Theory of Mutual Security”, trong Richard Smoke và Andrei Kortunov, eds.,
Mutual Security (New
York: St. Martin’s Press, 1991), pp. 59-111. Bài viết sau đây cũng có
thể hữu ích: Christopher Jencks, “Varieties of Altruism”, trong Jan
Mansbridge, ed.,
Beyond Self-Interest (Chicago: University of Chicago Press, 1990), pp. 53-67.
[36]
Về vai trò của bản sắc tập thể trong việc giảm thiểu các khó khăn cho
hành động tập thể, xem Bruce Fireman và William Gamson, “Utilitarian
Logic in the Resource Mobilization Perspective”, trong Mayer Zald và
John McCarthy, eds.,
The Dynamics of Social Movements (Cambridge,
Mass.: Winthrop, 1979), pp. 8-44; Robyn Dawes et al., “Cooperation for
the Benefits of Us-Not Me, or My Conscience”, trong Mansbridge,
Beyond Self-Interest, pp. 97-110; và Craig Calhoun, “The Problem of Identity in Collective Action”, trong Joan Huber, ed.,
Macro-Micro Linkages in Sociology (Beverly Hills, Calif.: Sage, 1991), pp. 51-75.
[37]
Xem Thomas Risse-Kappen, “Are Democratic Alliances Special?”, chưa xuất
bản, Yale University, New Haven, Conn., 1991. Các luận điểm này cũng
phù hợp với thuyết nữ quyền. Để tìm hiểu khái niệm của thuyết nữ quyền
về bản chất tương tác của cái tôi, xem Paula England và Barbara Stanek
Kilbourne, “Feminist Critiques of the Separative Model of Self:
Implication for Rational Choice Theory”,
Rationnality and Society 2 (4/1990),
pp. 156-171. Về quan điểm của thuyết nữa quyền về quyền lực, xem Ann
Ticknerr, “Hans Morgenthau’s Principles of Political Realism: A Feminist
Reformulation”,
Millennium 17 (Winter 1988), pp. 429-440; và Thomas Wartenberg, “The Concept of Power in Feminist Theory”,
Praxis International 18 (10/1988), pp. 301-316.
[38] Đó là: nguyên tắc sắp xếp các đơn vị, chuyên biệt hóa chức năng của các đơn vị và phân bổ quyền lực giữa các đơn vị – ND.
[39] Waltz,
Theory of International Politics, p. 91.
[40] Xem Waltz,
Man, the State, and War; và Robert Jervis, “Cooperation Under the Security Dilemma”,
World Politics 30 (1/1978), pp. 167-214.
[41]Ở
đây luận điểm của tôi cũng tương tự như phê phán của Rousseau đối với
Hobbes. Để tìm hiểu thêm về quan điểm hiện thực của Rousseau, xem
Michael Williams, “Rousseau, Realism, and Realpolitik”,
Millenium 18 (Summer
1989), pp. 188-204. Williams cho rằng đối với Rousseau “tình huống săn
nai”không hề là khởi điểm căn bản của trạng thái tự nhiên mà thể hiện sự
tha hóa của con người. Ở trang 190, Williams trích dẫn mô tả của
Rousseau về con người trong trạng thái tự nhiên: “Con người chỉ biết có
mình; con người không nhận thức cuộc sống của mình với người khác hoặc
đối lập với người khác; con người không ghét mà cũng không yêu bất kỳ
điều gì mà chỉ tự giới hạn ở những bản năng sinh học; con người không là
ai cả, con người chỉ là con vật”. Để tìm hiểu một phê phán khác về tình
trạng tự nhiên của Hobbes tương tự như quan niệm kiến tạo của tôi về vô
chính phủ, xem Charles Landesman, “Reflection on Hobbes: Anarchy and
Human Nature”, trong Peter Caws, ed.,
The Causes of Quarrel (Boston: Beacon, 1989), pp. 139-148.
[42]Trên
thực tiễn, giả định như vậy vẫn có vấn đề, đơn cử như quá trình phi
thực dân hóa và sự hỗ trợ các nước thuộc Thế giới thứ ba của cộng đồng
quốc tế chỉ ra rằng thậm chí hình thức tổ chức quốc gia sơ khai nhất
cũng được hình thành bởi cộng đồng các quốc gia. Xem Robert Jackson và
Carl Rosberg, “Why Africa’s Weak States Persist: The Empirical and the
Juridical in Statehood”,
World Politics 35 (10/1982), pp. 1-24.
[43] Waltz,
Theory of International Politics, pp. 74-77.
[44] Xem James Morrow, “Social Choice and System Structure in World Politics”,
World Politics 41 (10/1988),
p. 89. Cách tiếp cận hành vi đối với xã hội hóa của Waltz tương phản
với cách tiếp cận nhận thức được Ikenberry và các học giả nhà Kupchan
nêu ra trong các bài viết: G. John Ikenberry và Charles Kupchan,
“Socialization and Hegemonic Power”,
International Organizations 44 (Summer
1989), pp. 283-316; và Kupchan và Kupchan, “Concerts, Collective
Security, and the Future of Europe”. Cách tiếp cận của họ cũng gần giống
với tôi, tuy nhiên họ quan niệm xã hội hóa như một chiến thuật nhắm vào
giới tinh hoa một nước để thay đổi hệ giá trị của nước đó, thay vì xem
xã hội hóa như một đặc điểm phổ quát của quá trình tương tác xã hội
trong đó mọi bản sắc và lợi ích được sản sinh và nhào nặn.
[45] Về thuyết cá thể, xem Richard Ashley, “The Poverty of Neorealism”,
International Organizations 38
(Spring 1984), pp. 225-286; Wendt, “The Agence-Structure Problem in
International Relations Theory”; và David Dessler, “What’s at Stake in
the Agent-Structure Debate?”,
International Organizations 43 (Summer 1989), pp. 441-474. Về thuyết cấu trúc, xem R. B. J. Walker, “Realism, Change, and International Political Theory”,
International Studies Quarterly 31 (3/1987), pp. 65-86; và Martin Hollis và Steven Smith,
Explaining and Understanding International Relations (Oxford:
Clarendon Press, 1989). Thuyết hành vi thuộc phái tân hiện thực cũng
giải thích làm cách nào mà các nhà tân hiện thực dung hợp được cách tiếp
cận cấu trúc của họ với cách tiếp cận cá thể của thuyết lựa chọn duy
lý. Về đặc tính cấu trúc-hành vi của phái tân hiện thực, xem thêm Spiro
Latsis, “Situational Determinism in Economics”,
British Journal for the Philosophy of Science 23 (8/1972), pp. 207-245.