Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Nhà đẹp đón xuân sang

Tiết xuân đang giăng đầy trên phố, nhẹ nhàng gõ cửa từng nhà. Hãy đong đầy khắp không gian sống của bạn sự lãng mạn, tươi trẻ cho năm mới chỉ với một vài thay đổi nho nhỏ.
Khoác áo mới cho đồ cũ
Đồ dùng trong nhà dường như đã trở nên cũ kỹ, không còn vẻ tươi bóng. Hãy khoác lên mình chúng những chiếc áo mới, khiến căn phòng của bạn dường như bừng sáng hơn.
 
Chiếc ghế sofa đã dùng được một thời gian, hãy bọc cho chúng lớp áo mới, hay chỉ cần điểm tô thêm một vài chiếc gối tựa có sắc màu tươi tắn. Chắc chắn sự thay đổi nho nhỏ này sẽ mang đến cho bạn một cảm giác thật khác lạ.
 
Với phòng ngủ, dường như bộ chăn ga gối đã quá ư nhàm chán. Hãy đặt thêm trên giường bạn một chiếc chăn ấm áp mang lại hơi ấm cho bạn và gia đình trong tiết trời ngày càng se lạnh khi những cơn gió mùa đông bắc đang ùa về. Màu sắc tươi tắn cho bộ chăn ga gối như hồng, cam, tím... hay màu sắc nhẹ nhàng với sự pha trộn của sắc màu, những bông hoa tinh nghịch sẽ làm bừng sáng căn phòng ngủ, mang lại cảm giác tươi mới cho chốn riêng tư rất quan trọng này.
Thêm sắc màu cho không gian phòng khách
Việc trang trí phòng khách luôn được đặt lên hàng đầu trong thiết kế nội thất bởi đó là "bộ mặt" của ngôi nhà. Do đó, việc làm mới phòng khách luôn khiến chủ nhà bối rối và tốn rất nhiều thời gian. Tuy nhiên, chỉ cần một vài sự thay đổi nho nhỏ về màu sắc cũng sẽ khiến căn phòng thêm ấn tượng. Nếu như căn phòng vốn được sơn bằng những gam màu dịu nhẹ như trắng, vàng kem, xanh nhạt... bạn có thể làm mới lạ bằng những mảng tường màu cam, xanh lá, một bộ ghế sofa màu đỏ để căn phòng của bạn thêm ấm áp, sinh động. Việc sử dụng màu sắc với những điểm nhấn táo bạo, những đường nét và góc cạnh sắc sảo sẽ tạo nên một phong cách hiện đại đầy quyến rũ.
Một bức tường được điểm tô những bông hoa tươi tắn sắc màu cũng sẽ khiến căn phòng của bạn như tràn đầy âm hưởng của mùa xuân - mùa của hạnh phúc và sự sinh sôi.
Hay chỉ với một vài chi tiết nhỏ làm điểm nhấn cũng sẽ khiến căn phòng thêm bừng sáng, rực rỡ...
Làm duyên cho phòng bếp
Bạn có thể làm duyên cho phòng bếp của mình bằng những bức tranh ấm cúng, hoặc chỉ cần một vài chi tiết rất nhỏ như các dây tỏi, hành, ớt khô hay các vòng được kết từ lá thơm khô cũng góp phần tạo nên nét duyên dáng và sự ấm áp cho gian bếp.
Bạn cũng có thể trang trí thêm cây xanh cho gian bếp của mình bằng những chậu hoa xinh xắn. Xếp một dãy lọ thuỷ tinh trong suốt, nhiều hình dáng để đựng các loại hoa quả nhiều màu cũng sẽ mang tới sự trong trẻo và ấn tượng cho gian bếp của gia đình.
Thêm vào đó bạn cũng có thể bố trí đèn chiếu chuyên biệt trong tủ kính đựng chén bát. Ánh đèn sẽ tôn thên vẻ đẹp và sự sang trọng của những bộ chén bát bằng sành sứ, pha lê hay thuỷ tinh, mang đến không gian ấm cúng cho từng bữa ăn của gia đình.
Sân vườn lãng mạn
Sân vườn không chỉ là "lá phổi nhỏ" giúp điều hoà không khí trong lành cho ngôi nhà mà còn là không gian lãng mạn, giúp bạn có được không gian thư giãn thoải mái bên gia đình.
Năm mới sang sẽ mang theo không khí thoải mái, dễ chịu hơn. Thật là thú vị khi được ngồi trong sân vườn nhà mình nghỉ ngơi thư giãn, hoặc tiếp bạn bè. Khi đó những bộ bàn ghế ngoài trời là không thể thiếu được. Vậy thì tại sao bạn không đặt thêm bộ bàn ghế nhỏ nơi góc vườn nhỉ? Ngoài ra, bạn có thể treo thêm những chậu hoa nhỏ trên hàng rào, giúp sân vườn của gia đình thật duyên dáng và nổi bật.
KTS. Vũ Đình Nam
Theo rada.vn
.

Ngôi nhà như thế nào gây hao tài?

Ngôi nhà bạn đang ở nếu gần các tòa nhà cao tầng, cầu vượt, khách sạn… sẽ dễ mang đến áp lực và ảnh hưởng đến khí lưu thông trong nhà. Về lâu dài, theo phong thủy nếu cứ sống trong ngôi nhà này, sức khỏe gia chủ sẽ kém dần, làm ăn gặp nhiều trở ngại.
Cách hóa giải trước mắt, bạn nên làm một hòn non bộ nhỏ trong nhà hay trang trí một hòn đá cẩm thạch nhỏ ngay trong phòng khách.

Sống dưới tầng hầm
Rất nhiều ngôi nhà hiện nay đều thiết kế thêm vài phòng dưới tầng hầm, sâu trong lòng đất để tận dụng diện tích, nhưng ít ai ngờ điều này rất kị với phong thủy, dễ khiến kinh tế trong nhà đi xuống mà tình cảm vợ chồng cũng trục trặc.

Cách hóa giải trước mắt, khi thiết kế những căn phòng dưới lòng đất như thế này, bằng mọi cách bạn tạo điều kiện cho ánh nắng mặt trời được rọi vào.

Đối diện cửa với nhà khác
Có rất nhiều khu chung cư mới hiện nay thiết kế cửa các nhà đối diện nhau, điều này cũng rất cấm kị, ảnh hưởng đến các mối quan hệ chung và mang cả sự may mắn của bạn ra đi.

Việc cần làm là bạn nên treo một cái rèm hay mành nơi cửa phòng của mình để ngăn chặn tạm thời tình trạng đối diện với nhau.

Cửa chính đối diện với cửa sổ
Có nhiều nhà gặp phải trường hợp này, mở cửa chính ra là đã nhìn thấy các cánh cửa sổ hay cửa phòng khác, điều này gây nhiều bất lợi cho gia chủ: Ảnh hưởng cả sức khỏe, hôn nhân, sự nghiệp…

Cửa nhà bếp và nhà tắm đối diện nhau
Cách thiết kế này cũng khiến tài lộc trong nhà bị hao tổn nặng. Hãy mua một cái rèm có hình hoa đào để ngăn điều này.
Theo BlogPhongthuy

Nghe chuyên gia phong thủy bàn về... số điện thoại

heo KTS Cương, với hầu hết người sử dụng điện thoại, 4 con số cuối cùng được xem là con số quan trọng, bởi bộ não của con người chỉ nhớ được 4 - 5 con số cuối cùng trong cả dãy số điện thoại. Con số này cũng có sự tương tác đến người dùng ở một mức độ nhất định.
"Sở hữu số điện thoại đẹp mang lại cho bạn một đẳng cấp khác biệt. Khi bạn cho một đối tác xa lạ số điện thoại của bạn, họ sẽ thán phục và uy tín của bạn sẽ tăng hẳn lên. Đối với bạn bè, họ sẽ ngạc nhiên thích thú biết bao khi nghe bạn đọc số điện thoại. Khi gặp những người bạn khác, họ sẽ khoe rằng họ có một anh (cô) bạn, có số điện thoại đẹp cực kỳ!...".
Trên đây chỉ là một trong số hàng trăm lời quảng cáo, rao vặt của các trang kinh doanh sim số ở Việt Nam. Chính những quan niệm về "đẳng cấp" khi sở hữu những sim số khủng đã khiến cho thị trường này rất phát triển, những số điện thoại vô tri cũng được đẩy lên với giá.... không tưởng.

Dư luận từng choáng váng khi chủ nhân số điện thoại 098xxx8686 rao bán với giá 3 tỷ đồng, lại được phen "toát mồ hôi" khi số điện thoại đầu "016" phát giá 3,8 tỷ. Theo như lời truyền tai của dân chơi sim số, số điện thoại này đã được một đại gia tầm cỡ sở hữu không lâu sau khi rao bán trên một website.

soDT.jpg
Một bảng giá số đẹp niêm yết tại đại lý sim thẻ.
Ngoài những số điện thoại thuộc hàng "đại gia", nhiều người cũng không ngại chi dăm bảy chục triệu cho số điện thoại được xếp vào hàng số đẹp. Tuy nhiên, theo KTS Phạm Cương, giám đốc khối phong thủy Công ty Nhà Xuân, không phải ai bỏ tiền triệu ra mua sim số đều phân biệt được đâu là số đẹp, số xấu, hoặc biết rằng số điện thoại ấy có phù hợp với mình không.
"Ứng dụng theo quan niệm phong thủy, nhiều sim số bạc triệu cũng có thể cực xấu. Nhiều người không hiểu biết có thể "bị lừa" như chơi", KTS Cương cho hay.
Số điện thoại cát hung
KTS Phạm Cương lý giải, theo khoa học phong thủy với quy luật về âm dương ngũ hành, con người được chia thành 5 loại vật chất: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Các con số cũng được chia thành ngũ hành và cũng có sự tương tác với người sử dụng chúng, từ đó mang lại sự cát hung cho người sử dụng. Cụ thể, số thuộc hành kim là 6 và 7; hành mộc có 3 – 4; Hành thổ: 2 – 5 – 8, hành hỏa: 9; hành thủy: 1.

Chẳng hạn, người có mệnh mộc theo phong thủy tốt và tương sinh là hành thủy, lúc này con số 1 mang hành thủy, thủy sinh mộc sẽ tốt cho người sử dụng. Tương tự, người có mệnh kim tương sinh hành thổ nên tìm số mang hành thổ, mệnh thổ tương sinh hỏa nên tìm số mang hành hỏa, hỏa tương sinh mộc nên tìm số mang hành mộc, mộc tương sinh thủy nên tìm số mang hành thủy. Cứ theo quy luật đó ta để tìm số may mắn cho bản thân.

phongthuy_nguhanh.jpg
Nhiều người ứng dụng ngũ hành để chọn sim số phù hợp.
Thêm vào đó, phong thủy có các quan niệm như hình nào khí ấy tức hình dáng bên ngoài tương tác với sự vật, sự việc hay tượng hình, tượng thanh cũng có tác động đến chủ sở hữu điện thoại.
Ví dụ, số điện thoại có đuôi 68 hay 86 mà nhiều người hiện nay ưa chuộng có xuất phát từ âm Hán Việt khi đọc lên như hai từ “lộc phát”. Tuy nhiên sự quan niệm này cũng chỉ mang yếu tố tương đối. Nếu phát âm theo đúng nghĩa Tiếng Việt là "lục - bát" lại không mang ý nghĩa tài lộc, không chứa nhiều giá trị.

Hoặc số điện thoại có đuôi "78" cũng được coi số xấu bởi nếu nương theo vần nhiều người có thể hiểu là "thất bát". Có nghĩa là đem lại vận rủi trong việc kinh doanh làm ăn của chủ nhân.

Ngoài ra, nhiều người cũng tránh dùng số điện thoại có đuôi 49, 53… bởi xuất phát từ quan niệm hạn tuổi của đời người như: "49 chưa qua 53 đã tới"… Tuy nhiên, theo chuyên gia, đây được xem là ứng dụng khiên cưỡng vào đời sống, bởi bản thân số điện thoại này không thể mang lại vận hạn như đời con người.

Tránh chọn số toàn chẵn hoặc toàn lẻ
Theo KTS Cương, với hầu hết người sử dụng điện thoại, 4 con số cuối cùng được xem là con số quan trọng, bởi bộ não của con người chỉ nhớ được 4 – 5 con số cuối cùng trong cả dãy số điện thoại. Con số này cũng có sự tương tác đến người dùng ở một mức độ nhất định.

Theo Kinh dịch nếu 4 con số cuối tạo thành tổ hợp mang ý nghĩa tốt sẽ giúp công việc giao dịch điện thoại tốt hơn. Điều này lý giải tại sao những con số mang đuôi tứ quý hoặc số lặp thường được coi là đẹp. Chẳng hạn: 8686, 9999, 7777, 6666, 8888, 9090....

Ngoài ra, bản thân con số đều mang năng lượng, sự cộng hưởng của các con số nhất là vần luật và nhịp điệu trong dãy số sẽ giúp nguời ta nhớ lâu, từ đó năng lượng của dãy số này cũng mạnh hơn các dãy số thiếu quy luật, hoặc không hàm chứa một quy luật nhất định.

KTS Cương cũng khuyên, trong một dãy số điện thoại không nên tất cả là số chẵn hoặc số lẻ bởi theo phong thủy mọi vật đều phải đủ cả âm cả dương mới sinh sôi này nở, cổ nhân có câu “cô dương bất sinh, độc âm bất trưởng” chính là ý này.

Bên cạnh đó, tùy vào giới tính nên chọn các số thiên về âm hoặc dương nhiều hơn. Số lẻ như 1 – 3 – 5 – 7 - 9 là số dương phù hợp với nam giới, số chẵn 2 – 4 – 6 - 8 là số lẻ phù hợp với nữ giới.

Chọn màu điện thoại theo phong thủy
Màu sắc và hình khối điện thoại cũng được phân chia theo ngũ hành. Cụ thể, màu đỏ tượng của hành hỏa, màu nâu và vàng mang hành thổ, màu trắng là tượng hành kim, màu đen và xanh nước mang hành thủy, còn màu xanh lá cây và màu xanh rêu chính là tượng của hành mộc.
Nghe chuyên gia phong thủy bàn về... số điện thoại

dienthoai_phongthuy.jpg
Màu sắc của điện thoại cũng ứng với quan niệm phong thủy.
Tuy nhiên, KTS Cương cũng khẳng định, mọi quan niệm, phân tích chỉ mang tính chất tương đối. "Không nên quá quan trọng, chạy theo xu hướng thị nâng cao tầm giá trị của nó mà bỏ cả số tiền lớn một cách không cần thiết".
Theo Bưu Điện Việt Nam

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

Karl Marx dẫn đầu cuộc nổi dậy chống lại chủ nghĩa tư bản (Phần 2) -

marx_engels2
Nguồn: Mark Skousen (2007). “Karl Marx Leads a Revolt Against Capitalism”, in M. Skousen, The Big Three in Economics: Adam Smith, Karl Marx, And John Maynard Keynes (New York: M.E.Sharpe), pp. 64-104 (Ch. 3).
Biên dịch: Bùi Thu Thảo | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Marx trong đời thường: Một thất bại buồn thảm
Engels đã phải chờ cho tới thế kỷ 20 trước khi những tác động của Marx có ảnh hưởng. Năm 1883, nó mới chỉ là sự hoang tưởng tự đại. Tại thời điểm ông qua đời, Marx gần như là một người bị lãng quên. Chỉ có chưa đến hai mươi người tới dự đám tang của ông. Ông đã không nhận được sự tiếc thương từ những người công nhân thợ mỏ ở Siberia, như Engels từng nói, chỉ một số ít người còn nhớ Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, chứ chưa nói gì đến Tư bản. John Stuart Mill còn chưa từng nghe nói về ông. Vào lúc cuối đời, có thể Marx đã nhớ lại với sự đồng tình những lời trong Kinh thánh, “Vì di chúc chỉ có hiệu lực khi người ta chết đi, nên nó chẳng có hiệu lực gì khi người ấy còn sống” (Heb. 9: 17).
Số phận gia đình ông thật đáng buồn khi nghĩ tới. Nó là một cơn ác mộng. Trước khi qua đời Marx chỉ có hai người con gái và một người con trai ngoài giá thú. Năm 1898, Eleanor Marx con gái của ông, được biết đến với tên Tussy và là một nhà cách mạng có tư chất mạnh mẽ giống cha, đã tự vẫn sau khi biết tin Freddy là con trai ngoài giá thú của cha bà, và người chồng, nhà cách mạng người Ireland đầy hoài nghi của bà, đã có một người vợ nữa. Năm 1911, người con gái còn sống của Marx, Laura, một diễn giả hùng hồn với nhan sắc nổi bật cũng đã tự sát cùng chồng là một nhà xã hội người Pháp. Tóm lại, có rất ít tin vui trong những năm cuối đời của Marx và Jenny Marx cũng như con cháu của họ. Engels, còn được gọi là “Tướng quân” (General), đã chết vì ung thư vào năm 1895.
Mô hình của Marx về sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản
Giờ hãy cùng nhìn lại những đóng góp của Marx đối với kinh tế học và xác định rõ những gì là tác động lâu dài và những gì đã bị loại bỏ.
Trong tác phẩm Tư bản, xuất bản năm 1867, Karl Marx đã cố gắng giới thiệu một mô hình thay thế mô hình kinh tế học cổ điển của Adam Smith. Hệ thống này đã thông qua những định luật “khoa học” bất biến để chứng minh rằng chế độ tư bản chủ nghĩa có những lỗ hổng chết người, chỉ làm lợi cho những nhà tư bản và doanh nghiệp lớn, rằng nó bóc lột công nhân, lao động bị hạ cấp chỉ như một thứ hàng hóa có giá cả mà không có linh hồn, và rằng nó luôn có xu hướng khủng hoảng khiến cho chủ nghĩa tư bản chắc hẳn sẽ tự diệt vong. Theo nhiều cách, mô hình của chủ nghĩa Marx đã hợp lý hóa niềm tin của nhà tạo lập ra nó rằng chế độ tư bản chủ nghĩa phải bị lật đổ và thay thế bởi chủ nghĩa cộng sản.
Thuyết giá trị lao động
Marx đã phát hiện ra rằng hệ thống của Ricardo phù hợp hoàn toàn với mô hình bóc lột của ông. Bằng nhiều cách, David Ricardo chính là người dẫn dắt Marx trong kinh tế học. Như đã đề cập trong Chương 2, Ricardo tập trung vào sản lượng và phương thức phân phối nó giữa các giai cấp chính – địa chủ, công nhân và tư sản. Ricardo và người nối nghiệp của ông, John Stuart Mill, đã nỗ lực phân tích nền kinh tế theo giai cấp hơn là theo hoạt động của các cá nhân.
Say và trường phái tự do kinh tế (Chương 2) đã chú trọng vào lợi ích chủ quan của các cá nhân, nhưng Marx đã chối bỏ Say và đi theo Ricardo bằng cách tập trung vào việc sản xuất của một thứ “hàng hóa” đồng nhất và cách phân phối thu nhập từ sản xuất này cho các giai cấp.
Trong hệ thống giai cấp của Ricardo, lao động đóng vai trò then chốt trong việc xác định giá trị. Đầu tiên là Ricardo và sau đó là Marx đã cho rằng lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị. Giá trị của một “hàng hóa” phải tương ứng với số giờ lao động bình quân được sử dụng để làm ra hàng hóa đó.
Học thuyết giá trị thặng dư
Nếu lao động đúng là yếu tố quyết định giá trị duy nhất thì lợi nhuận và lợi tức nằm ở đâu? Marx đã gọi lợi nhuận và lợi tức là “giá trị thặng dư”. Đó chỉ là một bước logic ngắn gọn để đi đến kết luận rằng do đó các nhà tư sản và địa chủ là những kẻ bóc lột lao động. Nếu mọi giá trị thật sự là sản phẩm của lao động thì mọi lợi nhuận mà các nhà tư bản thu được và lợi tức các địa chủ có được phải là “giá trị thặng dư”, được bòn rút bất chính từ thu nhập chân chính của giai cấp lao động.
Marx đã phát triển một công thức toán học cho học thuyết giá trị thặng dư của mình. Tỷ lệ lợi  nhuận (p) hay tỷ lệ bóc lột bằng giá trị thặng dư (s) chia cho giá trị sản phẩm cuối cùng (r). Do vậy:
p = s/r
Ví dụ, giả sử nhà sản xuất quần áo thuê công nhân sản xuất váy. Nhà tư sản bán những bộ váy với giá 100USD mỗi sản phẩm, nhưng lao động chỉ có giá 70USD cho mỗi bộ váy. Do đó, tỷ lệ lợi nhuận hay tỷ lệ bóc lột sẽ là:
p = 30/100 = 0,3, hay 30%
Marx đã chia giá trị sản phẩm cuối cùng thành hai dạng tư bản là tư bản bất biến (C) và tư bản khả biến (V). Tư bản bất biến đại diện cho nhà máy và thiết bị. Tư bản khả biến là chi phí nhân công. Do vậy, phương trình tỷ lệ lợi nhuận được viết thành:
p = s/[v +c]
Marx cho rằng lợi nhuận và sự bóc lột được tăng lên bằng cách kéo dài ngày làm việc của công nhân, và bằng cách thuê phụ nữ và trẻ em với mức lương thấp hơn đàn ông. Hơn thế, Marx còn cho rằng, máy móc và công nghệ tiên tiến mang lại lợi ích cho nhà tư sản chứ không phải công nhân. Ví dụ, máy móc cho phép nhà tư sản thuê phụ nữ và trẻ em để vận hành. Kết quả chỉ có thể là bóc lột nhiều hơn.
Những người chỉ trích đáp trả rằng tư bản là năng suất và xứng đáng với một khoản lợi nhuận hợp lý, nhưng Marx đã phản biện lại rằng tư bản chỉ là lao động “bị đóng băng” và do đó tiền lương phải chiếm toàn bộ tiền thu được từ sản xuất. Các nhà kinh tế học cổ điển đã không có phản hồi nào đối với Marx, ít nhất là vào thời điểm ban đầu. Và vậy nên Marx đã thắng lợi bằng cách sử dụng những lập luận không thể chối cãi để “chứng minh” rằng chủ nghĩa tư bản đã gây ra sự “đấu tranh giai cấp”  khổng lồ giữa công nhân, tư sản và địa chủ – và các nhà tư sản và địa chủ có một lợi thế không công bằng. Murray Rothbard nhận xét, “Khi thế kỷ 19 đã trôi qua nửa chặng đường, khiếm khuyết của kinh tế học Ricardo đã trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Kinh tế học đã đi đến sự diệt vong của chính nó” (Rothbard 1980, 237). Mãi cho đến nghiên cứu của Philip Wicksteed, một tu sĩ người Anh, và Eugen von Bohm-Bawerk, một nhà kinh tế có tầm ảnh hưởng tại Áo, Marx mới thực sự được trả lời, với sự tập trung vào vấn đề chấp nhận rủi ro và lợi ích tiên phong mà các nhà tư sản mang lại. Nhưng chủ đề này phải chờ tới Chương 4.
Lợi nhuận giảm dần và sự tích lũy tư bản
Marx có một quan điểm bảo thủ về máy móc và công nghệ. Sự tích lũy tư bản không ngừng tăng lên nhằm đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và làm cho chi phí nhân công giảm. Marx từng phát biểu trong Tư bản rằng, “Tích lũy, tích lũy! Đó là Moses và các nhà tiên tri!… Vì vậy, tiết kiệm, tiết kiệm, cụ thể là tái biến đổi phần lớn nhất có thể của giá trị thặng dư, hay sản phẩm thặng dư thành tư bản!” (1976 [1867], 742).
Nhưng điều này đã dẫn tới rắc rối, một cuộc khủng hoảng trong chủ nghĩa tư bản, tất cả là do “quy luật lợi suất giảm dần.” Bởi theo công thức về lợi suất của Marx, s/[v + c], chúng ta có thể thấy rằng tăng thêm máy móc sẽ làm tăng c và do vậy làm giảm lợi nhuận. Các công ty lớn trở nên tập trung hơn bởi các doạnh nghiệp lớn hơn sản xuất rẻ hơn, điều “luôn luôn dẫn tới sự phá sản của nhiều nhà tư bản nhỏ.” Trong khi đó, tất cả công nhân trở nên cực khổ hơn, ngày càng có ít tiền hơn để mua hàng hóa tiêu dùng. Ngày càng nhiều công nhân bị đuổi việc, gia tăng thất nghiệp trong một “đội quân dự bị công nghiệp” vốn chỉ kiếm được một mức lương vừa đủ sống.
Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản
Chi phí hạ, lợi nhuận giảm, sức mạnh độc quyền, tiêu dùng dưới mức, thất nghiệp hàng loạt của giai cấp vô sản – tất cả những điều kiện này dẫn tới “những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hơn và trên phạm vi rộng hơn” và sự suy thoái của của chế độ tư bản chủ nghĩa (Marx và Engels 1964 [1848], 13). Và tất cả những điều này bắt nguồn từ thuyết giá trị về lao động!
Marx đã chối bỏ định luật về thị trường của Say, thứ bị ông gán cái tên là “tiếng bập bẹ trẻ con… lời bốc phét… trò bịp bợm” (Buchholz 1999, 133). Không hề có sự ổn định trong chủ nghĩa tư bản, không có xu hướng hướng tới trạng thái cân bằng và toàn dụng lao động. Marx đã nhấn mạnh bản chất của cả sự bùng nổ và sụp đổ của chế độ tư bản chủ nghĩa, và rằng sự cáo chung sau cùng của nó là điều tất yếu.
Chủ nghĩa đế quốc của chủ nghĩa tư bản tiền tệ
Marx bị ấn tượng mạnh mẽ bởi năng lực của các nhà tư bản trong việc tích lũy vốn và tạo ra các thị trường mới, cả ở trong và ngoài nước. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã mô tả hiện tượng này trong một trích đoạn nổi tiếng: “Giai cấp tư sản, trong suốt thời kỳ thống trị hiếm hoi một trăm năm của mình, đã tạo ra lực lượng sản xuất đồ sộ và khổng lồ hơn tất cả các thời kỳ trước gộp lại.” Các nhà tư bản luôn bị gắn với sự hỗn độn “bởi sự xâm chiếm các thị trường mới, và bởi sự bóc lột ngày càng triệt để các thị trường đã có” (Marx và Engels 1964 [1848], 12-13).
Sau đó các nhà Marxist luôn mô tả chủ nghĩa tư bản và các công ty lớn là những “tên đế quốc” cố hữu, bóc lột công nhân nước ngoài và khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên của nước họ. Học thuyết về chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân được phát triển chủ yếu bởi J.A. Hobson và V.I. Lenin. Rất nhiều trong số những thái độ chống Mỹ và bài ngoại của các nước đang phát triển trong suốt thế kỉ 20 có nguồn gốc từ chủ nghĩa Marx, và kết quả của quan điểm chống tư bản này đã và đang tàn phá, dẫn tới sự tăng trưởng chậm và thậm chí là âm tại rất nhiều khu vực của châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Vậy chủ nghĩa tư bản tiến về đâu? Marx bị ảnh hưởng sâu sắc bởi George Wilhelm Hegel trong việc phát triển tiến trình quyết định luận kinh tế của mình. Chính đề cơ bản của Hegel là “Mâu thuẫn (về bản chất) là gốc rễ của mọi sự vận động và sự sống.” Hegel đã mô tả mâu thuẫn này theo phép biện chứng, các lực lượng chống đối nhau cuối cùng sẽ tạo ra một lực lượng mới. Một “chính đề” được hình thành sẽ tạo ra một “phản đề” phát triển theo hướng ngược lại, đến lượt nó rốt cuộc sẽ tạo ra một “hợp đề” mới. Hợp đề này sau đó trở thành một “chính đề” và quá trình lại lặp lại theo sự tiến bộ của văn minh.
Biểu đồ trong Hình 3.1 phản ánh phép biện chứng trên của Hegel. Marx đã áp dụng phép biện chứng của Hegel vào quan điểm quyết định luận về lịch sử của mình. Do vậy, tiến trình lịch sử có thể được mô tả bằng cách sử dụng khái niệm của Hegel – từ chế độ chiếm hữu nô lệ tới chủ nghĩa tư bản rồi đến chủ nghĩa cộng sản.
Theo thuyết này, nô lệ được xem như phương tiện sản xuất chính hay một chính đề trong suốt thời kì Hy – La. Chế độ phong kiến đã trở thành phản đề chính của nó trong thời Trung Cổ. Hợp đề đã trở thành chủ nghĩa tư bản, điều trở thành chính đề mới sau thời đại Khai sáng. Nhưng chủ nghĩa tư bản đã phải đối mặt với phản đề của chính nó – mối đe dọa tăng lên từ chủ nghĩa xã hội. Sau cùng, cuộc đấu tranh này sẽ dẫn tới hệ thống sản xuất tối hậu, chủ nghĩa cộng sản. Với cách lập luận này, Marx luôn là một người lạc quan. Ông tin chắc rằng mọi quá trình lịch sử đều hướng tới các hình thái xã hội cao hơn, đỉnh cao là chủ nghĩa cộng sản.
Hình 3.1 Phép biện chứng của Hegel được sử dụng để mô tả tiến trình lịch sử
(vui lòng download file để xem hình)
Giải pháp của Marx: Chủ nghĩa xã hội cách mạng
Nhưng trong khi chủ nghĩa cộng sản được cho là điều tất yếu thì Marx lại thấy rằng cách mạng là cần thiết để đạt được nó. Đầu tiên và trên hết, Marx là người đề xuất dùng bạo lực (“mạnh mẽ”) để lật đổ chính quyền và thiết lập chủ nghĩa xã hội cách mạng. Ông thích thú với bạo lực. Marx đã thôi thúc cách mạng diễn ra trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản năm 1848, Quốc tế thứ nhất năm 1860 và tại Công xã Paris năm 1871. Dù nhà cách mạng Đức đã không tiết lộ cụ thể kế hoạch của ông nhưng Tuyên ngôn của Đảng cộng sản mang một cương lĩnh gồm mười điều sau (Marx và Engels 1964 [1848], 40):
  1. Xóa bỏ sở hữu (tư nhân) đối với đất đai và đưa toàn bộ đất đai phục vụ cho mục đích công.
  2. Thuế thu nhập theo mức hoặc lũy tiến bậc cao.
  3. Xóa bỏ mọi quyền thừa kế.
  4. Tịch thu tài sản của toàn bộ người di dân và phiến loạn.
  5. Tập trung tín dụng trong tay nhà nước bằng một ngân hàng quốc gia với vốn nhà nước và độc quyền duy nhất.
  6. Tập trung các phương thức truyền thông và vận tải trong tay nhà nước.
  7. Mở rộng các nhà máy và công cụ sản xuất thuộc sở hữu nhà nước; khai hoang đất trống và cải tạo đất nói chung phù hợp với kế hoạch chung.
  8. Nghĩa vụ lao động ngang nhau đối với tất cả mọi người. Thành lập các đội quân ngành, đặc biệt là trong nông nghiệp.
  9. Kết hợp nông nghiệp với các ngành sản xuất; từng bước xóa bỏ sự phân hóa giữa thành thị và nông thôn bằng sự phân bổ dân số đồng đều hơn trên cả nước.
  10. Giáo dục miễn phí cho toàn bộ trẻ em tại các trường công. Xóa bỏ việc sử dụng lao động trẻ em trong các nhà máy hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất công nghiệp, v.v…
Thật khó mà tưởng tượng việc thúc đẩy một vài trong số các biện pháp trên mà không cần đến bạo lực. Nhưng chưa dừng lại ở đó. Marx cũng tán thành “nền chuyên chính vô sản” độc tài. Ông ủng hộ việc xóa bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân, dựa trên học thuyết của ông cho rằng sở hữu tư nhân là căn nguyên của xung đột, đấu tranh giai cấp và là một hình thái nô lệ (1964 [1848], 27). Ông đồng tình với Proudhon cho rằng “sở hữu là trộm cắp.” Không có sở hữu tư nhân sẽ không cần tới trao đổi, không có mua bán, và do đó Marx và Engels tán thành việc triệt tiêu tiền tệ (30). Sản xuất và tiêu dùng sẽ tiếp diễn và thậm chí là phát triển thịnh vượng thông qua kế hoạch tập trung mà không cần trao đổi hay tiền tệ.
Marx và Engels cũng yêu cầu xóa bỏ gia đình truyền thống trong một nỗ lực nhằm “ngăn chặn hiện tượng cha mẹ bóc lột con cái” và “hình thành một cộng đồng phụ nữ.” Những người sáng lập chủ nghĩa cộng sản ủng hộ một chương trình giáo dục giới trẻ vốn sẽ “phá hủy những mối quan hệ tôn kính nhất” và “thay thế giáo dục gia đình bởi giáo dục xã hội” (33 – 35).
Vậy còn tôn giáo thì sao? Marx cho rằng “tôn giáo là thứ thuốc phiện của con người.” “Chủ nghĩa cộng sản thủ tiêu những chân lý bất diệt, nó thủ tiêu mọi tôn giáo và đạo lý thay vì cấu thành chúng theo một nền tảng mới; do vậy, nó đi ngược lại toàn bộ kinh nghiệm lịch sử trước đây” (38).
Marx đã đoán trước rằng chủ nghĩa xã hội cách mạng sẽ lần đầu tiên cho phép con người có sự biểu đạt đầy đủ về sự tồn tại và hạnh phúc. Mục tiêu “vạn vật giàu có” mà Adam Smith theo đuổi cuối cùng sẽ đạt được dưới chế độ chủ nghĩa cộng sản đích thực. Trong tâm can, Marx là một con người theo đuổi hòa bình, thịnh vượng phổ quát. Thiên đường có để đạt được trên cõi trần. Rốt cuộc nền chuyên chính vô sản sẽ được thay thế bởi một xã hội không giai cấp, không nhà nước. Con người của chủ nghĩa Marx sẽ là một con người mới!
Lời tiên tri của Marx không thành hiện thực
Nhưng tất cả điều này đã không xảy ra. Lời tiên tri của Marx đã bị sai lệch, dù không phải là ngay lập tức. Đến tận năm 1937, Wassily Leontief, một người Nga lưu vong mà sau này đã đạt giải Nobel cho phân tích đầu vào – đầu ra (input – output analysis), đã tuyên bố rằng ghi chép của Marx là “ấn tượng” và “chính xác” (Leontief 1938, 5, 8). Nhưng lời ngợi ca của Leontief đã quá vội vàng. Kể từ đó, như Leszek Kolakowski, cựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Ba Lan đã tuyên bố, “Tất cả những lời tiên tri quan trọng của Marx hóa ra đều sai lầm” (Denby 1996, 339). Một số vấn đề cần xem xét lại:
  1. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, tỷ lệ lợi nhuận không hề giảm, ngay cả khi ngày càng nhiều vốn được tích lũy qua hàng thế kỷ.
  2. Giai cấp lao động không hề rơi vào cảnh ngày càng bần cùng. Mức lương về căn bản đã tăng hơn mức đủ sống. Mức sống trung bình của công nhân tăng dần tại các nước công nghiệp. Tầng lớp trung lưu không hề biến mất mà còn tăng lên. Như Paul Samuelson kết luận, “Sự bần cùng hóa của giai cấp lao động… chỉ đơn giản là chẳng bao giờ diễn ra. Là một nhà triên tri, Marx đã vô cùng không may mắn và hệ thống của ông cũng chẳng đem lại kết quả gì” (1967, 622).
  3. Có rất ít bằng chứng về sự tập trung công nghiệp tăng lên trong các xã hội tư bản tiên tiến, đặc biệt là khi có sự cạnh tranh toàn cầu.
  4. Các xã hội xã hội chủ nghĩa không tưởng không hề nảy nở, và cũng không có cuộc cách mạng vô sản tất yếu nào xảy ra.
  5. Bất chấp các chu kỳ kinh doanh và thậm chí đôi khi xảy ra các cuộc suy thoái lớn, chủ nghĩa tư bản dường như vẫn phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết.
Cập nhật: Những nhà Marxist là những nhà tiên tri dự báo ngày tận thế thời hiện đại
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Marx và Engels đã cảnh báo, “Chỉ cần đề cập là đã đủ rằng các cuộc khủng hoảng thương nghiệp diễn ra theo chu kỳ đã thử thách sự tồn tại của toàn bộ xã hội tư sản, mỗi lần một đe dọa hơn” (1964 [1848], 11 – 12).
Theo chân người lãnh đạo của mình, các nhà Marxist hiện đại tiếp tục dự đoán sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản, để rồi bị bác bỏ, cứ lặp đi lặp lại như vậy. Năm 1976, vào giữa cuộc khủng hoảng năng lượng và sự suy thoái do lạm phát, nhà xã hội Michael Harrington đã xuất bản cuốn sách với tựa đề Buổi hoàng hôn của chủ nghĩa tư bản (The Twilight of Capitalism) để dành tặng Karl Marx. Ông đã dự đoán rằng cuộc khủng hoảng vào những năm 1970 sẽ là cái kết của chủ nghĩa tư bản.
Cũng trong năm đó, nhà Marxist Ernest Mandel đã viết lời tựa cho tác phẩm Tư bản, tuyên bố hùng hồn rằng “Chủ nghĩa tư bản sẽ chẳng thể tồn tại qua nửa thế kỷ nữa với các cuộc khủng hoảng (quân sự, chính trị, xã hội, tiền tệ, văn hóa) diễn ra không ngừng suốt từ năm 1914” (Mandel 1976 [1867], 86).
Paul M. Sweezy, giáo sư Marxist tại đại học Harvard, là một người bi quan lâu năm. Từ những năm 1930, ông đã dự đoán rằng chủ nghĩa tư bản đang suy yếu, và rằng chủ nghĩa xã hội, vốn giúp nâng mức sống lên cao hơn, sẽ tiến lên nhanh chóng (Sweezy 1942, 362). Ông là đồng tác giả của một cuốn sách với tiêu đề Cái kết của sự phồn vinh (The End of Prosperity) in năm 1977.
Tuy nhiên, sang thế kỷ mới, chủ nghĩa tư bản thậm chí còn năng động hơn bao giờ hết. Các nhà Marxist hiện đại, luôn là những người bi quan, một lần nữa lại bị chứng tỏ là đã sai lầm.
Trường hợp kì lạ của Nikolai Kondratieff
Một nhà kinh tế nổi tiếng người Nga đã phủ nhận dự đoán của các nhà Marxist về cái kết tất yếu của chủ nghĩa tư bản là Nikolai Kondratieff (1892 – 1938). Năm 1926, ông đã gửi một bài luận văn tới Viện Kinh tế có uy tín ở Moscow, đưa ra trường hợp về một chu kỳ kinh doanh 50 – 60 năm. Dựa trên các xu hướng về giá và sản lượng từ những năm 1780, Kondratieff đã mô tả các chu kỳ “sóng dài” 2,5 lên xuống của sự thịnh vượng và suy thoái. Kondratieff không tìm ra bằng chứng về sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản mà thay vào đó lại là một sự hồi phục mạnh mẽ tiếp sau suy thoái.
Năm 1928, Kondratieff đã bị cách chức khỏi vị trí đứng đầu Viện Điều kiện Kinh doanh của Moscow và chính đề của ông đã bị phản bác trong cuốn Bách khoa toàn thư Liên Xô chính thức (Solomou 1987, 60). Ông nhanh chóng bị bắt giữ vì bị cáo buộc là lãnh đạo của Đảng Nông dân Lao động vốn thực tế không hề tồn tại và bị trục xuất tới Siberia vào năm 1930. Ngày 17 tháng 10 năm 1938, trong suốt giai đoạn thanh trừng diện rộng dưới thời Stalin, ông bị xét xử lần thứ hai và bị kết án tù mười năm và không được quyền thư từ liên lạc với thế giới bên ngoài; tuy nhiên, Kondratieff đã bị xử bắn vào đúng ngày phán quyết được ban hành. Vào thời điểm bị giết, ông mới 46 tuổi.[1]
Những phê phán đối với Marx
Tại sao Marx lại sai lầm tệ hại sau khi thiết lập thứ ông gọi là định luật “khoa học” của kinh tế học?
Trước tiên, thuyết giá trị về lao động của ông có những khiếm khuyết. Khi bác bỏ quy luật về thị trường của Say, ông cũng đã phủ nhận thuyết giá trị có căn cứ của Say. Say đã nói đúng rằng giá trị của hàng hóa và dịch vụ rốt cuộc sẽ được xác định bằng lợi ích. Nếu các cá nhân không có nhu cầu hoặc không cần tới một sản phẩm thì không cần biết có bao nhiêu lao động và nỗ lực được đặt vào đó, sản phẩm đó vẫn là không có giá trị.
Nhà sử học Jacques Barzum cho rằng “Ngọc trai không phải có giá trị vì con người lặn tìm nó mà con người lặn tìm ngọc trai vì nó có giá trị” (Barzum 1958, 152). Và Philip Wicksteed, người viết bài phê bình khoa học đầu tiên về thuyết giá trị của Marx vào năm 1884, đã nhận định “Một cái áo choàng không đáng giá 8 lần so với một cái mũ bởi thời gian làm ra nó lâu gấp 8 lần… Mà mọi người sẵn sàng dành 8 lần thời gian để làm ra một chiếc áo choàng bởi vì nó đáng giá 8 lần cái mũ” (Wicksteed 1933, vii).[2]
Và còn tất cả những thứ đáng giá vốn liên tục tăng giá trị ngay cả khi chúng yêu cầu rất ít hoặc không cần tới lao động, ví dụ như nghệ thuật và đất đai thì sao? Marx đã nhận ra đây là những ngoại lệ trong học thuyết của mình nhưng vẫn coi chúng không quan trọng đối với vấn đề căn bản về sức lao động.
Vấn đề chuyển đổi
Marx cũng đã phải đối mặt với một vấn đề lưỡng nan được xem là “vấn đề chuyển đổi”, vấn đề về tỷ suất lợi nhuận và giá trị. Một xung đột nổi lên dưới hệ thống của Marx do có một số ngành cần nhiều nhân công và các ngành khác lại cần nhiều vốn. (Trong ngôn ngữ Marxist, chúng có kết cấu hữu cơ về tư bản cao hơn.) Trong tập 1 của tác phẩm Tư bản, Marx đã khẳng định rằng giá biến động hoàn toàn theo thời gian lao động, do đó kết luận rằng các ngành cần nhiều vốn sẽ ít có khả năng sinh lời hơn là các ngành cần nhiều lao động. Nhưng chứng cớ dường như lại chỉ ra khả năng sinh lời tương đương nhau ở tất cả các ngành trong dài hạn, do vốn và các khoản đầu tư có thể di chuyển từ các ngành có khả năng sinh lời thấp tới các ngành có khả năng sinh lời cao hơn. Marx không bao giờ có thể giải quyết được vấn đề hóc búa này, điều mà Rothbard gọi là “lỗ hổng rõ ràng nhất trong mô hình của Marx” (Rothbard 1995b, 413).
Marx đã vật lộn với vấn đề chuyển đổi này trong suốt cuộc đời của ông, hứa hẹn một câu trả lời trong các tập sắp tới của Tư bản. Trong lời giới thiệu về tập 2 của Tư bản, Engels đã trao giải thưởng cho một cuộc thi viết luận về cách giải quyết vấn đề lưỡng nan của Marx. Trong chín năm sau đó, một số lớn các nhà kinh tế học đã cố gẳng giải quyết nó, nhưng lúc xuất bản tập 3 của Tư bản, Engels đã thông báo rằng không có ai chiến thắng[3] (Rothbard 1995b, 413). Eugen Bohm-Bawerk đã công kích kịch liệt sai lầm này trong kinh tế học này của Marx; như lời của Paul Samuelson thì, “rõ ràng Bohm-Bawerk hoàn toàn đúng khi khẳng định rằng tập 3 của Tư bản không bao giờ có khả năng thực hiện được lời hứa giải quyết được các mâu thuẫn hư cấu” (Samuelson 1967, 620).
Vai trò thiết yếu của các nhà tư bản và các nhà doanh nghiệp
Thứ hai, Marx mắc sai lầm khi đánh giá thấp kiến thức và công việc của các nhà tư bản và nhà doanh nghiệp. Như chúng ta sẽ xem xét trong chương tới, Bohm-Bawerk, Alfred Marshall và các nhà kinh tế học vĩ đại khác đã nhận ra đóng góp khổng lồ của các nhà tư bản và nhà doanh nghiệp trong vấn đề chấp nhận rủi ro và cung cấp vốn (sự tiết kiệm) cần thiết và kỹ năng quản lý cần có để vận hành một doanh nghiệp có khả năng sinh lời.


[1] Việc Kondratieff bị hành hạ bởi chính quyền Liên Xô không có nghĩa rằng lý thuyết của ông về việc chủ nghĩa tư bản tự động trải qua chu kỳ 50 – 60 năm là đúng. Niềm tin vào thứ gọi là chu kỳ sóng dài Kondratieff vẫn tồn tại trong một số nhà kinh tế, nhà sử học và nhà phân tích tài chính, những người thường dự đoán một cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế khác. Tuy nhiên, giờ đã gần 80 năm kể từ cuộc suy thoái toàn cầu cuối cùng. Như Victor Zarnowitz kết luận mới đây, “Có nhiều ý kiến không tán thành về sự tồn tại thực sự của một vài sóng dài thậm chí cả ở những người ủng hộ khái niệm này, và càng nhiều quan điểm bất đồng về thời điểm của sóng và các giai đoạn của chúng” (Zarnowitz 1992, 238).
[2] Chính bài báo này, xuất hiện trên tờ nguyệt san Ngày nay (Today) của các nhà xã hội chủ nghĩa vào tháng 10 năm 1884, đã thuyết phục George Bernard Shaw và Sidney Webb rằng thuyết giá trị về lao động là không thể trụ vững được và do vậy sẽ kéo toàn bộ lâu đài của chủ nghĩa Marx xuống đống đổ nát (Lichtheim 1970, 192 – 93).
[3] Bản tóm tắt đầy đủ về cuộc tranh luận về sự chuyển đổi giữa các nhà Marxist có thể được tìm thấy trong tài liệu của Howard và King (1989, 21 – 59).

Karl Marx dẫn đầu cuộc nổi dậy chống lại chủ nghĩa tư bản (Phần 1)

Nguồn: Mark Skousen (2007). “Karl Marx Leads a Revolt Against Capitalism”, in M. Skousen, The Big Three in Economics: Adam Smith, Karl Marx, And John Maynard Keynes (New York: M.E.Sharpe), pp. 64-104 (Ch. 3).
Biên dịch: Bùi Thu Thảo | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Jenny! Nếu linh hồn của chúng ta có thể hòa quyện cùng nhau, thì anh có thể bất chấp mà đấm thẳng vào bộ mặt của thế gian, rồi sải bước qua đống đổ nát như một đấng tạo hóa!
Karl Marx nói với hôn thê của mình (Wilson 1940)
Karl Marx sở hữu tố chất thiên tài đầy ma lực để biến đổi thế giới hiện đại.
Saul K. Padover (1978)
Nếu nghiên cứu của Adam Smith là khởi thủy của kinh tế học hiện đại thì Karl Marx là nơi kết thúc của nó. Nếu triết gia người Scotland là nhà sáng lập vĩ đại của tự do kinh tế, thì nhà cách mạng Đức là người hủy diệt vĩ đại của nó. Nhà Marxist John E. Roemer cũng thừa nhận như vậy. Theo ông, “sự khác biệt căn bản” giữa Smith và Marx được miêu tả như sau: “Smith cho rằng mưu cầu tư lợi của cá nhân sẽ đưa đến kết quả lợi ích cho tất cả, trong khi đó Marx lại lý luận rằng mưu cầu tư lợi sẽ dẫn tới tình trạng vô chính phủ, khủng hoảng và sự tự tan rã của chế độ tư hữu. Smith đã chứng tỏ rằng có một bàn tay vô hình dẫn dắt các cá nhân và tác nhân tư lợi có những hành động giúp đưa đến sự tối ưu xã hội dù họ không quan tâm tới kết quả này; đối với những người theo chủ nghĩa Marx thì sự ví von tương tự là bàn tay sắt của sự cạnh tranh sẽ nghiền nát những người lao động và khiến họ trở nên khốn đốn hơn so với trong một chế độ khả dĩ khác, cụ thể là một chế độ dựa trên sở hữu xã hội hoặc công cộng (Roemer 1988, 2-3).
Bất chấp tất cả những nỗi kinh hoàng được thực hiện nhân danh Marx, trong hơn một thế kỷ, triết gia người Đức đã truyền nguồn cảm hứng to lớn cho những người lao động và trí thức bị tước đi quyền công dân của chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Malthus và Ricardo có thể đã gieo mầm cho những mối bất đồng nhưng chính Marx (1818 – 83) đã đập tan những xiềng xích của chủ nghĩa tư bản và xé tan những cơ sở của hệ thống tự do tự nhiên của Adam Smith. Hệ thống thương mại không còn được xem là “vô hại” (Montesquieu), “cùng có lợi” (Smith) hay “hài hòa tự nhiên” (Say và Bastiat). Giờ đây, theo Marx, nó được khắc họa là một thứ xa lạ, mang tính bóc lột và tự hủy diệt. Theo ý kiến của Marx, sự giải phóng xảy ra khi mọi người rời khỏi mô hình của Adam Smith.
Dấu ấn của ông đối với thế giới là không thể xóa nhòa và là minh chứng của một trí tuệ xuất chúng. Marx là một thiên tài, điều đó không có gì phải bàn cãi – ông có học vị tiến sĩ về triết học Hy Lạp; nói được tiếng Pháp, Đức và Anh thành thạo; am hiểu sâu rộng về khoa học, văn học, nghệ thuật, toán học và triết học; và đã viết nên một cuốn sách kinh điển vốn tạo ra một mẫu hình mới đầy sức mạnh về tư duy kinh tế. Và cũng đừng bận tâm rằng ông không thể cân bằng sổ séc hoặc giữ được một việc làm. Một nhà viết tiểu sử không theo chủ nghĩa Marx đã gọi ông là “một con người tài năng phi thường, uyên bác và xuất chúng” (Padover 1978: xvi). Martin Bronfenbrenner thì cho rằng Marx là “nhà khoa học xã hội vĩ đại nhất mọi thời đại” (1967: 624).[1]
Marx và Chủ nghĩa cộng sản
Tuy nhiên, cũng giống như Cain trong Kinh thánh, Marx bị nguyền rủa là vết nhơ của lịch sử. Tên tuổi của ông sẽ mãi mãi bị gắn liền với mặt trái của chủ nghĩa cộng sản. Có một bóng ma luôn đeo đuổi Karl Marx – lịch sử về Lenin, Stalin, Mao và Pol Pot và hàng triệu người chết và bị đầy đọa bởi “đế quốc xấu xa”, như theo cách gọi của Ronald Reagan. Các nhà biện minh cho rằng Marx không thể chịu trách nhiệm về sự tàn bạo của những người đi theo chủ nghĩa cộng sản của ông và thậm chí còn cho rằng Marx chắc sẽ là một trong những người đầu tiên bị hành quyết và gửi tới các trại lao động. Có thể như vậy. Có một điều là trong suốt sự nghiệp của mình, ông luôn phản đối kịch liệt việc kiểm duyệt báo chí, xuất bản. Nhưng nếu không có Marx, liệu có sự trấn áp và cách mạng bạo lực này không? Phải chăng Marx đã không ủng hộ sự “cai trị bằng khủng bố” đối với giai cấp tư sản? Như một nhà phê bình cục đoan từng nói: “Nhân danh sự tiến bộ của con người, Marx đã gây ra sự chết chóc, bất hạnh, suy đồi và tuyệt vọng nhiều hơn bất cứ một ai từng sống” (Downs 1983, 299).
Marx gây ra sự cuồng tín của thanh niên
Trong các trường phái tư tưởng, không có nhà kinh tế hay triết gia nào mang lại niềm say mê và cơn sốt sùng đạo như Marx. Hơn hết thảy, Marx là một người nhìn xa trông rộng và là một thần tượng cách mạng chứ không chỉ là một nhà kinh tế. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (The Communist Manisfesto) ra đời hơn 150 năm trước, ta không thể không cảm thấy nội lực đầy say mê, ngòi bút sắc sảo và sự giản dị đến lạ lùng trong những ngôn từ của Marx và Engels (1968 [1848]).
Những môn đồ trẻ tuổi trờ thành những tín đồ thật sự và thường mất nhiều năm để họ không còn say mê với chủ nghĩa Marx. Điều này đã xảy ra với Robert Heilbroner, Mark Blaug, Whittaker Chambers và David Horowitz. Tôi thậm chí đã thấy điều này trong những sinh viên của tôi tại Đại học Rollins, một thập kỉ sau khi chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô sụp đổ và chủ nghĩa Marx bị coi như đã tàn lụi. Trong khóa học “Tìm hiểu các nhà kinh tế vĩ đại” mà tôi giảng dạy, tôi đã yêu cầu các sinh viên đọc một cuốn sách được viết bởi một nhà kinh tế. Một sinh viên đã chọn Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Sau khi đọc nó, cậu ấy đã tới chỗ tôi và thốt lên đầy xúc động khi chỉ vào bản copy được đánh dấu chi tiết của mình, “Thật không thể tin được! Em phải làm một bài tường thuật về cuốn sách này!” Thật là kì lạ. Trong giờ giảng của mình, tôi cố hết sức để phản biện lại học thuyết của Marx song điều này không còn ý nghĩa nữa. Cậu ấy đã bị thay đổi chính kiến.
Tôi có thể dễ dàng nhận ra cách một nhà cách mạng trẻ tuổi có thể bị lay động bởi những dòng bút chiến không thể nào quên trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản:
Một bóng ma đang đeo đuổi châu Âu – bóng ma của Chủ nghĩa cộng sản…. Lịch sử của mọi xã hội tồn tại từ trước tới nay là lịch sử của các cuộc đấu tranh giai cấp…. Giai cấp tư sản đã thẳng tay phá tan các mối quan hệ phong kiến đa dạng, ràng buộc con người vào “các bậc bề trên tự nhiên” của mình và không để lại mối quan hệ giữa người với người nào khác ngoài sự tư lợi trần trụi hay lối “tiền mặt trao tay” đầy vô cảm…. Được che đậy bởi tấm màn tôn giáo và chính trị, nó đã thay thế sự bóc lột tàn bạo, trắng trợn, vô liêm sỉ và trần trụi… Hãy để các giai cấp cầm quyền phải run sợ trước cuộc cách mạng cộng sản. Những người vô sản không có gì để mất ngoài những xiềng xích mà họ phải chịu đựng. Họ có phần thưởng là cả thế giới này để giành lấy. VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC, ĐOÀN KẾT LẠI! (1964 [1848]).
Một thời gian lâu sau khi chủ nghĩa Marx tồn tại ở New York, Marshall Berman kể lại cái cách mà ông, một người trẻ tuổi, bắt gặp một cuốn sách khác của Marx, Các bản thảo kinh tế và triết học năm 1844 (Economic and Philosophical Manuscripts of 1844). Cuốn sách này cũng đã mang đến một niềm nhiệt huyết cuồng nhiệt. “Đột nhiên tôi vã mồ hôi, ướt đẫm, cởi bỏ quần áo và tuôn trào nước mắt, chợt cảm thấy nóng lạnh từng đợt” (Berman 1999, 7) – không phải do những ngôi sao trong tạp chí Playboy hay lần đầu giao dịch cổ phiếu giá rẻ, mà là do tác phẩm của Marx.
Về nhiều phương diện, chủ nghĩa Marx đã gần như trở thành một thứ tôn giáo, với các khẩu hiệu, biểu tượng, ngọn cờ đỏ, thánh ca, tư cách thành viên của đảng, các vị tông đồ, những người tử vì đạo, kinh thánh và chân lý cuối cùng. “Marx có sự tự tin của một nhà tiên tri đã từng nói chuyện với Chúa…. Ông là một nhà thơ, nhà tiên tri, nhà luân lý học nói chuyện như một nhà triết gia và nhà kinh tế học; học thuyết của ông không được kiểm chứng một cách thực tế nhưng lại được tiếp nhận như là chân lý đạo đức. Marx đã dẫn đường cho những Người Được Chúa Chọn thoát ra khỏi ách nô lệ để đến với Jerusalem Mới… Trở thành một người theo chủ nghĩa Marx hoặc một người Cộng sản giống như việc chìm dắm trong tình yêu, một thứ xúc cảm thiết yếu” (Wesson 1976, 29–30, 158). Một cuốn cẩm nang của tuổi trẻ đã được xuất bản vào năm 1935 với tiêu đề Những giáo huấn của Marx cho nam nữ thanh niên (Teachings of Marx for Girls and Boys) được viết bởi mục sư Tin lành William Montgomery Brown, được làm nổi bật trên trang bìa với hình ảnh những “môn đồ xuất sắc nhất” của Marx là Lenin và Stalin.
Những đóng góp của Marx đối với kinh tế học
Ít có nhà kinh tế học nào đã thâm nhập vào các ngành học khác như Marx đã từng làm. Marx vừa là một triết gia, một nhà sử học, vừa là nhà khoa học chính trị, nhà xã hội học và nhà phê bình văn học. Ông viết nhiều và viết gần như không ngừng nghỉ về mọi lĩnh vực. Thậm chí ngày nay, bộ tài liệu sưu tập tất cả các công trình của Marx và đồng sự của ông – Friedrich Engels vẫn chưa được hoàn thành. Các bình luận về Marx và các chủ đề liên quan khổng lồ đến mức phải gộp thành các tuyển tập. (Trên Internet, trang Amazon.com đã liệt kê hơn 4000 đề mục về Marx và chủ nghĩa cộng sản, chỉ xếp thứ hai sau Chúa Jesus và Thiên chúa giáo.) Do đó, chương này về Marx của chúng tôi buộc phải tập trung chủ yếu vào những đóng góp của ông đối với lĩnh vực kinh tế. Ngay cả vậy, Marx với tư cách một nhà kinh tế học cũng không phải là một đề tài đơn giản.
Marx chính là nhà kinh tế học lớn đầu tiên thiết lập ra trường phái tư tưởng của riêng mình, với một phương pháp luận riêng và thứ ngôn ngữ đặc thù. Khi tạo dựng nên trường phải tư tưởng của chính mình trong tác phẩm kinh điển, Tư bản (1976 [1867]), ông đã đối chiếu cơ chế của mình với cơ chế tự do kinh tế – cơ chế được tán thành bởi Adam Smith, J.-B. Say, David Ricardo và nhiều người khác. Marx đã gọi tự do kinh tế với cái tên “trường phái cổ điển”. Khi phát triển cách tiếp cận kinh tế học theo chủ nghĩa Marx, ông đã tạo ra những thuật ngữ của riêng mình: giá trị thặng dư, tái sản xuất, tư sản và vô sản, chủ nghĩa duy vật lịch sử, nền kinh tế tầm thường, chủ nghĩa tư bản độc quyền, vv…. Ông đã sáng tạo ra thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản.”[2] Từ thời của Marx, kinh tế học không còn giống như trước. Ngày nay, không có mô hình kinh tế nào được chấp nhận rộng khắp như các mô hình trong vật lý và toán học – chỉ có những trường phái kinh tế học đối lập nhau.
Học vấn thuở ban đầu: Các mâu thuẫn tồn tại trong Marx
Triết gia người Đức là ai? Ai đã mang lại niềm đam mê, sự sùng đạo, một mô hình kinh tế mới đầy sức mạnh có thể thách thức mô hình cổ điểm của Adam Smith?
Karl Heinrich Marx sinh ngày mùng 5 tháng 5 năm 1818 trong một ngôi nhà tuyệt đẹp ở Trier thuộc tỉnh Rhine thuộc Phổ. Trier là thành phố lâu đời nhất tại Đức. Từ khi chào đời cho đến lúc lìa trần, con người Marx luôn chứa đựng đầy những mâu thuẫn. Ông công kích những người tiểu tư sản, nhưng lại lớn lên trong một gia đình thuộc giai cấp tư sản. Ông đã sống nhiều năm của cuộc đời thành niên trong cảnh khốn cùng tuyệt vọng dù ông có dòng dõi tương đối khá giả. Ông tán dương các tiến bộ về vật chất và công nghệ của chủ nghĩa tư bản, song lại chỉ trích xã hội tư bản. Ông đồng cảm sâu sắc với những người công nhân, nhưng lại chưa từng có một công việc ổn định hay từng tới thăm một nhà máy nào trong suốt cuộc đời thành niên của mình. Mẹ ông từng phàn nàn rằng, “Giá mà Karl làm ra được tiền, thay vì chỉ viết về nó!” (Padover 1978, 344).
Marx ném những lời chỉ trích bài Do Thái vào những người chống đối ông, dù ông mang dòng máu Do Thái từ cả hai phía gia đình. Trong một bài tiểu luận công bố năm 1843, “Về vấn đề Do Thái”, Marx đã thể hiện thái độ bài Do Thái rất phổ biến tại châu Âu thời điểm đó. Ngôn ngữ của ông không hề khoan nhượng: “Sự sùng bái cá nhân của người Do Thái là gì? Lừa đảo. Đức Chúa trời của anh ta là gì? Tiền!… Tiền là vị thần đố kị của Isarel mà trước mặt vị thần đó không vị thần nào khác có thể tồn tại. Tiền làm thoái hóa mọi vị thần của nhân loại – và biến họ thành các loại hàng hóa… Những gì chứa đựng một cách trừu tượng trong tín ngưỡng Do Thái – đó là sự khinh miệt đối với các học thuyết, nghệ thuật và lịch sử” (Padover 1978, 169). Sự phỉ báng mang tính phân biệt chủng tộc của Marx không bao giờ dịu lại. Ông không bao giờ rút lại những lời phỉ báng năm 1843 của mình về người Do Thái. “Ngược lại”, nhà tiểu sử Saul Padover viết, “ông đã nuôi dưỡng sự thù địch đối với họ suốt đời… Những lá thư của ông chứa đầy những bình phẩm, châm biếm, và những biệt danh cay nghiệt bài trừ người Do Thái: “cái mũi Do Thái của Levy” (Levy’s Jewish nose), “kẻ cho vay nặng lãi” (usurers), “thằng nhóc Do Thái” (Jew-boy), “kẻ Do Thái mọi rợ” (nigger-Jew), vv…. Nguyên nhân có thể được lý giải bởi quan niệm Selbsthass (sự tự căm thù bản thân) trong tiếng Đức, việc Marx căm ghét người Do Thái giống như một căn bệnh xấu xa mà thời gian hay kinh nghiệm đều không thể xóa bỏ khỏi tâm hồn của ông” (Padover 1978, 171).
Tuy nhiên, những nhà Marxist lỗi lạc đã phủ nhận tư tưởng bài trừ Do Thái của Marx. Cuốn Từ điển về tư tưởng Marx (A Dictionary of Marxian Thought) khẳng định, “Mặc dù chúng ta biết rằng Marx không phản đối việc sử dụng những từ thô tục xúc phạm một số người Do Thái nhưng không có một căn cứ nào để coi ông là một người bài Do Thái” (Bottomore 1991, 275). Gareth Stedman Jones viết rằng, “Cáo buộc Marx là người theo chủ nghĩa bài Do Thái…là không thể hiểu được trừ khi đặt nó trong bối cảnh lòng căm thù của ông đối với mọi dạng chủ nghĩa đặc thù về quốc gia và dân tộc” (Blumenberg 1998 [1962], x).
Marx đã trải qua nhiều mâu thuẫn trong suốt cuộc đời của mình. Ông yêu thương những đứa con, nhưng lại chứng kiến chúng chết yểu bởi sự suy dinh dưỡng và bệnh tật hoặc tự tử. Marx chống lại những con quỷ của sự bóc lột trong hệ thống tư bản, nhưng theo một nhà tiểu sử thì ông đã “bóc lột tất cả những người xung quanh mình – vợ ông, các con ông, người giúp việc nhà của ông và những người bạn của ông – với một sự nhẫn tâm và ngày càng khủng khiếp hơn vì nó là cố ý và có tính toán” (Payne 1968, 12). Paul Samuelson nói thêm rằng, “Marx là một người cha và người chồng hiền lành; nhưng ông cũng rất dễ nổi nóng, cục cằn, lỗ mãng” (Samuelson 1967b, 616). Tóm lại, Marx công kích những mâu thuẫn bên trong chủ nghĩa tư bản, nhưng chính ông cũng luôn bị vây quanh bởi những mâu thuẫn trong chính con người mình.
Niềm tin vào Thiên Chúa của Marx
Sự trớ trêu đáng ngạc nhiên nhất là Karl Marx – người được xem là một trong những kẻ thù lớn nhất của tôn giáo – lại được nuôi dưỡng bởi một người theo đạo Thiên Chúa dù nhiều tổ tiên của ông là những chức sắc Do Thái giáo.
Cha của ông, Heinrich Marx, đã vượt qua những chướng ngại tưởng chừng như vô vọng để trở thành một luật sư Do Thái khá giả. Khi ông phải đối mặt với một đạo luật mới của Phổ vào năm 1816 cấm những người Do Thái hành nghề luật sư, ông đã chuyển từ đạo Do Thái sang đạo Cơ Đốc dòng Luther. Mẹ ông, Henrietta Pressborch, là con gái của một chức sắc Do Thái giáo, nhưng bà cũng đã nhận thấy các giá trị xã hội trong việc chuyển sang đạo Thiên Chúa.
Karl, người con trai sống sót lớn nhất trong gia đình có chín người con, đã được rửa tội để trở thành một con chiên và đã viết một vài bài luận về cuộc sống của người theo đạo Thiên Chúa khi đang trong trường trung học. Khi là học sinh năm cuối trong trường trung học, Karl đã viết một bài luận với tiêu đề “Liên hiệp những người theo đạo Thiên Chúa” nói về sự cách ly, một nỗi sợ bị Chúa chối bỏ. Ông bị mê hoặc bởi những câu chuyện về một thiên đường hòa bình trong Sáng thế ký (Genesis – sách mở đầu của Kinh thánh – NHĐ) và sự tận thế kinh hoàng trong sách Khải huyền (Revelation – sách cuối cùng của Kinh Tân Ước – NHĐ) của Thánh John. Sau đó, những quyển sách đầu và cuối trong Kinh Thánh này đã giúp hình thành những học thuyết của Marx về sự cách ly, đấu tranh giai cấp, sự lật đổ xã hội tư sản mang tính cách mạng và sự huy hoàng của một kỉ nguyên hòa bình và hưng thịnh không giai cấp, không nhà nước. Tầm nhìn của ông về thắng lợi của những người vô sản đến từ những bài học thuở ban đầu về lòng tin vào Chúa cứu thế. Đầu tiên và trước hết Marx là một người cộng sản của thiên niên kỷ (millennial communist – trong Kinh thánh “thiên niên kỷ” đề cập tới thời kỳ nghìn năm hòa bình, thịnh trị khi Chúa và các môn đồ của ông cai trị thế gian – NHĐ).
Nhiều giáo điều của Marx không phải do ông nghĩ ra. Chúng đến từ Kinh Thánh nhưng đã được ông pha chế và biến đổi cho phù hợp với mục đích của mình. Như nhà viết tiểu sử Robert Payne từng viết, “khi ông ấy (Marx) quay lưng lại Thiên Chúa giáo, ông đã mang vào những ý tưởng của mình về công bằng xã hội một niềm đau đáu về sự chuộc lỗi và nỗi sợ hãi bị cách ly (như trong Kinh Thánh)” (1968, 42).
Marx trở thành một nhà cấp tiến trong trường đại học
Đức tin của Marx đã bị thách thức gần như ngay lập tức khi bước chân vào Đại học Bonn, nơi ông, giống như bao sinh viên năm đầu khác, tốn nhiều thời gian vào việc uống rượu và nhậu nhẹt hơn là học tập. Ông chất đống hóa đơn, tham gia vào một nhóm cách mạng bí mật, và bị thương trong một cuộc đấu tay đôi. Sau đó ông bị bắt giữ vì mang súng lục và bị giam vì tội gây rối trật tự.
Cha ông hy vọng rằng có thể sửa đổi người con trai cả của mình bằng cách chuyển ông sang trường Đại học Berlin danh tiếng, nơi Marx trải qua năm năm tiếp theo. Nhưng lối sống vô kỉ luật của ông vẫn tiếp diễn. Ông đọc ngấu nghiến rất nhiều sách và sống một cuộc đời khác người. Ông cho mình là một nhà thơ, biên dịch những vở kịch Hy Lạp và ghi đầy trong sổ những vở bi kịch tối tăm và thi ca lãng mạn. Ông tham gia câu lạc bộ của các tiến sĩ (Doktorklub), một nhóm nhỏ các nhà cấp tiến trẻ tuổi theo thuyết Hegel.
Các bạn học mô tả ông là người có trí tuệ khác thường và ngoan cố bảo thủ, đôi mắt đen đầy kích động nhìn chằm chằm thách thức. Ông nổi bật với bộ râu đen và mái tóc dày, chất giọng chói tai, tính khí mạnh mẽ. Ông có nước da sẫm màu khác thường đến mức gia đình và bạn bè gọi ông là “Mohr” hay “Moor” (người gốc Ả-rập Bắc Phi – NHĐ). Trong suốt những năm đại học, ông được mô tả rất sinh động qua một bài thơ ngắn (Payne 1968, 81; Padover 1978, 116).
Ai đang xông vào, mạnh mẽ và hoang dại –
Anh chàng ngăm đen từ Trier đang nổi khùng phải không?
Không bước không nhảy, mà là vồ lấy con mồi
Trong cơn thịnh nộ dữ dội, như đang nhảy ra chồm lấy
Những khoảng trời rộng lớn và kéo chúng xuống đất
Vươn cách tay rộng lên ôm lấy khoảng trời kia.
Nắm tay ma quỷ siết chặt, anh gầm lên vô tận
Như thể hàng vạn quỷ dữ đang túm tóc mình.[3]
Ảnh hưởng của các triết gia cấp tiến Đức
Hai triết gia cấp tiến ảnh hưởng mạnh mẽ tới Marx trong suốt những năm tháng đại học và sau này là: G.W.F. Hegel (1770-1831) và người đồng nghiệp Ludwig Feuerbach (1804-72). Từ Hegel, Marx đã nâng tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của “chủ nghĩa duy vật biện chứng” – rằng mọi sự tiến bộ đều đạt được thông qua xung đột. Từ Bản chất của Thiên Chúa giáo (The Essence of Christianity) (1841) của Feuerbach, Marx đã hợp lý hóa quan điểm cho rằng tôn giáo là hoang đường và chối bỏ Thiên Chúa giáo. Chúa không tạo ra con người; chính con người đã tạo ra Chúa! Engels đã mô tả tác động giải phóng mà cuốn sách của Feuerbach đã tạo ra: “Chỉ trong một chốc lát…nó đã đưa chủ nghĩa duy vật lên ngôi… Lời nguyền đã bị phá bỏ… Khí thế lan tỏa khắp trời: Tất cả chúng ta là những người theo tư tưởng Feuerbach vào lúc này” (Padover 1978, 136).
Cha mẹ của Marx đã phát ốm khi đứa con tiêu hoang của họ muốn trở thành một nhà văn và nhà phê bình thay vì một luật sư. Những bức thư của ông đã cho thấy những cuộc trò chuyện gay gắt giữa ông và cha mẹ mình. Cha của ông, Heinrich, là một người theo chủ nghĩa tự do kinh điển và là một nhà biện hộ cho nền văn hóa tư sản, vì vậy người ta có thể mường tượng ra ông đã thất vọng về con trai mình đến thế nào. Những bức thư của ông đã chỉ trích Karl là “một đứa mọi rợ nhếch nhác, một kẻ chống đối xã hội, thằng con khốn nạn, một người anh vô tâm, một người tình ích kỉ, đứa học sinh vô trách nhiệm và một kẻ lãng phí thiếu suy nghĩ”, tất cả những lời buộc tội xác đáng đó đã ám ảnh Marx trong suốt cuộc sống trưởng thành. Heinrich Marx đã mắng nhiếc, “Chúa giúp chúng con! Sự hỗn loạn, học đòi mê muội mọi ngành khoa học, những suy nghĩ u mê trong ánh đèn dầu tăm tối; sự bất quy tắc trong chiếc áo choàng và mái tóc rối của một học giả (Padover 1978, 106–07). Trong một lá thư khác, ông cáo buộc Karl bị ám ảnh bởi một “linh hồn của quỷ” đã “làm cho trái tim con trở nên xa lạ với những cảm xúc tốt đẹp” (Berman 1999, 25). Tuy nhiên, lá thư này không phải là lần duy nhất mà Karl bị cha chỉ trích về những hành động bất trị.
Những vần thơ quỷ quái của Marx
Một trong những khía cạnh ác mộng nhất về cuộc đời của Marx là niềm đam mê của ông đối với tác phẩm Faust của Goethe, câu chuyện về một người đàn ông trẻ tuổi đấu tranh giữa cái thiện và cái ác của chính mình và kí giao kèo với quỷ Satan. Faust đã đánh đổi linh hồn của mình (cho quỷ Mephistopheles) để có một cuộc sống mơ ước và khả năng điều khiển thế giới thông qua đám đông lao động được tổ chức. Tác phẩm Faust của Goethe là một cuốn kinh thánh suốt đời đối với Marx. Ông nằm lòng mọi lời nói của Mephistopheles và có thể thuật lại những đoạn dài cho những đứa con của mình. (Ông đồng thời cũng yêu thích Shakespeare, người có những câu nói mà ông thường xuyên trích dẫn.)
Khi còn là một sinh viên tại trường Đại học Berlin năm 1837, Marx đã viết nên những vần thơ lãng mạn dành tặng vị hôn thê của mình, Jenny von Westphalen. Một trong những bài thơ này, “Người nghệ sĩ”, đã được đăng trên tạp chí văn học Đức, Athenaeum năm 1841 (tái bản trong Pane 1971, 59). Nó miêu tả một nghệ sĩ vĩ cầm khơi gợi lên sức mạnh của bóng tối. Người nghệ sĩ, trong hình tượng Lucifer (quỷ Satan) hoặc Mephistopheles, đã tuyên bố táo bạo:
Nhìn đây, ta sẽ đâm thanh kiếm nhuốm máu đen
Chuẩn xác vào tâm hồn ngươi.
Chúa chẳng biết và cũng chẳng tán dương nghệ thuật.
Địa ngục bốc hơi và lấp đầy trí não.
Cho tới khi ta phát điên và trái tim hoàn toàn thay đổi.
Nhìn thanh kiếm này – Hoàng tử Bóng đêm đã bán nó cho ta.
Vì ta người gõ nhịp và ra tín hiệu.
Càng liều lĩnh hơn, ta nhảy vũ điệu tử thần.[4]
Marx sáng tác một bi kịch Hy Lạp
Giao kèo với quỷ là chủ đề chính trong Oulanem, một vở kịch thơ mà Marx viết năm 1839. Ông chỉ hoàn thành được màn đầu tiên, nhưng nó hé lộ một số nhân vật lập dị và bạo lực. Tên nhân vật chính, Oulanem, là phép đảo chữ của từ Manuelo, nghĩa là Immanuel hoặc Thiên Chúa (Payne 1971, 57-97). Trong một đoạn độc thoại kiểu Hamlet, Oulanem đã tự hỏi liệu mình có phải phá hủy thế giới hay không.
Sự ám ảnh của Marx đối với hành vi tự hủy hoại là phổ biến trong suốt cuộc đời ông. Ông thậm chí còn viết và xuất bản nguyên một cuốn sách về vấn đề tự sát khi đang sống lưu vong ở Bỉ năm 1835. Ông cũng dịch tác phẩm của Jacques Peuchet miêu tả chi tiết câu chuyện của bốn vụ tự sát, trong đó ba vụ là của ba phụ nữ trẻ. Trọng tâm của cuốn sách là nhằm vào hệ thống công nghiệp vốn khuyến khích hành vi tự tử (Plaut and Anderson 1999).
Marx kết hôn và chuyển tới Paris
Marx rốt cuộc đã rời khỏi Berlin với lý do ban giám hiệu trường đại học được tiếp quản bởi những người theo phái chống Hegel. Lo sợ rằng luận án tiến sĩ về triết học Hy Lạp của mình có thể bị từ chối, ông đã nộp nó lên trường Đại học Jena, nơi đã chấp nhận nó mà không cần yêu cầu Marx dự học. Năm 1842, ông đã làm việc trong một thời gian ngắn với vai trò biên tập viên của một tờ báo Đức, đồng thời mạnh mẽ bảo vệ tự do ngôn luận. Ông đã thôi việc khi những nhà kiểm duyệt khiến ông không thể tiếp tục.
Năm 1843, Marx kết hôn với người yêu thời niên thiếu và cũng là hàng xóm của mình, Jenny von Westphalen, bất chấp sự phản đối của cả hai gia đình. Jenny, hơn Marx bốn tuổi, là con gái của Nam tước Johann Ludwig von Westphalen, một quý tộc giàu có đại diện cho chính quyền Phổ trong hội đồng thành phố. Sau khi nhà quý tộc qua đời, gia đình Marx sống nhờ vào sự hào phóng của phu nhân nam tước. Jenny đã hết lòng tận tình đối với Marx và lý tưởng cách mạng của ông. Trong phần còn lại của cuộc đời, họ không bao giờ bị chia lìa dù lúc đói nghèo, bệnh tật hay thất bại. Tình yêu của họ sâu đậm và vững vàng, dù không phải không có rắc rối và phiền muộn. Họ gửi cho nhau vô số bức thư tình. Họ có cùng nhau 6 người con, dù chỉ có 2 cô con gái là sống sót.
Chưa đầy một năm sau, Karl và vợ mới cưới chuyển tới Paris, nơi ông đã làm biên tập viên cho một tờ nguyệt san tiếng Đức. Karl và Jenny Marx yêu Paris và văn hóa Pháp. Tại đây Marx ít quan tâm tới việc giao lưu với Bastiat và trường phái tự do kinh tế Pháp – sau này ông đã gọi Bastiat là người biện hộ “thiển cận” nhất của “nền kinh tế tầm thường” (Padover 1978, 369). Tuy nhiên ông lại là một trong những thành viên theo phong trào chủ nghĩa xã hội cấp tiến của Pháp cùng với Pierre Proudhon và Louis Blanc. Ông đắm mình vào đại dương sách và thường ba, bốn ngày liền không ngủ (Padover 1978, 189). Trực tiếp chứng kiến cảnh đấu tranh giai cấp, ông đã viết về sự chia tách (giai cấp) và những khổ đau mà người lao động phải chịu đựng dưới chủ nghĩa tư bản theo một cách đầy sức thuyết phục trong Các bản thảo kinh tế và triết học năm 1844, một cuốn tài liệu sưu tập các bài báo không được công bố cho đến năm 1932.

(Còn tiếp phần hai)

[1] Tôi nghĩ nhà xã hội học người Đức Max Weber xứng đáng nhận được sự tôn vình này. Xem thêm Skousen (2001), chương 10.
[2] Frank H. Knight và các nhà kinh tế học thiên hướng thị trường khác thích dùng thuật ngữ “tự do kinh doanh” hơn là “chủ nghĩa tư bản” khi mô tả nền kinh tế thị trường. XemKnight (1982 [1947], 448).
[3] Nguyên văn:
Who comes rushing in, impetuous and wild—
Dark fellow from Trier, in fury raging?
Nor walks nor skips, but leaps upon his prey
In tearing rage, as one who leaps to grasp
Broad spaces in the sky and drags them down to earth,
Stretching his arms wide open to the heavens.
His evil fist is clenched, he roars interminably
As though ten thousand devils had him by the hair.
[4] Nguyên văn:
Look now, my blood-dark sword shall stab
Unerringly within thy soul.
God neither knows nor honors art.
The hellish vapors rise and fill the brain.
Til I go mad and my heart is utterly changed.
See this sword—the Prince of Darkness sold it to me.
For me he beats the time and gives the signs.
Ever more boldly I play the dance of death.

Tổng thống Putin bị... "bắt bài"


(Quan hệ quốc tế) - Ba “chiêu” của Tổng thống Nga Putin là thái độ cứng rắn, tài nguyên dầu khí và chủ nghĩa dân tộc đang bị đánh giá thấp.


Kể từ khi lên lãnh đạo nước Nga vào năm 2000 đến nay, Tổng thống Putin đã trở thành một trong những nhân vật quyền lực nhất thế giới. Các tạp chí uy tín hàng đầu liên tục bầu chọn ông là nhân vật của năm, trong khi tỷ lệ ủng hộ của người dân trong nước không ngừng gia tăng.
Tổng thống Nga Vladimir Putin
Tổng thống Nga Vladimir Putin
Chưa vội đề cập tới tài năng, bản lĩnh và phẩm chất lãnh đạo của Putin, hiện giới phân tích đang đặt ra những câu hỏi đằng sau sự “thăng tiến” vượt bậc của ông trong những năm qua. Theo đó, ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng ngoài yếu tố may mắn, Putin đã biết sử dụng nghệ thuật của một nhà lãnh đạo phù hợp với điều kiện của nước Nga, trong đó nổi bật là việc thể hiện thái độ cứng rắn, tài nguyên dầu khí và chủ nghĩa dân tộc.
Trở thành “anh hùng”
Ngày 18/3/2014, Crimea được sáp nhập vào Nga. Ngày 20/3/2014, số liệu thăm dò dư luận của Trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội toàn Nga cho thấy tỷ lệ ủng hộ của Putin đã tăng thêm 15,1%, đạt 75,7%, cao nhất trong 5 năm qua.
Trên 60% số người được hỏi cho rằng hành động đáng được công nhận nhất trong thời gian gần đây của Putin là biện pháp xử lý đối với vấn đề Ukraine. Trong mắt của rất nhiều người Nga, Putin không chỉ là nhà lãnh đạo cứng rắn, mà còn là anh hùng dân tộc. Người ta bắt đầu mơ về thời hoàng kim của nước Nga.
Những binh sĩ được cho là đặc nhiệm Nga tại Crimea
Những binh sĩ được cho là đặc nhiệm Nga tại Crimea
Sau khi tiếp nhận Crimea, Tổng thống Putin đã chứng minh sự khác nhau về thực lực kinh tế giữa Nga và Ukraine bằng cách tăng tiền lương hưu của khu vực Crimea lên gấp hai lần.
Kể từ khi lên cầm quyền năm 2000 đến nay, được lợi từ giá dầu tăng cao, đến năm 2008, tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm của kinh tế Nga đạt 7%, trở thành một trong 5 nước BRICS nhận được sự quan tâm của toàn thế giới.
Dự trữ ngoại hối của Nga không ngừng tăng lên, năm 2006 đã vượt lên đứng thứ 3 thế giới. Tính đến ngày 1/1/2014, tổng mức dự trữ ngoại hối của Nga là 509,595 tỷ USD, tuy có phần giảm bớt so với năm 2013, nhưng so với mức thấp nhất là 10,7 tỷ USD của năm 1999, quả thực đã sung túc hơn rất nhiều.
Già néo đứt dây
Theo giới phân tích Tổng thống Nga một mặt cứng rắn đối với Mỹ và châu Âu, xây dựng mình thành nhà lãnh đạo đối kháng với phương Tây, một mặt lợi dụng lợi nhuận từ tài nguyên dầu khí để nâng cao phúc lợi xã hội, giành lấy sự ủng hộ của dân chúng, xây dựng hình tượng nhà bảo vệ dân tộc Nga.
Thế nhưng, những khó khăn của kinh tế Nga hiện nay đang làm bộc lộ những điểm yếu từ chính các “chiêu” mà Putin sử dụng.
Máy bay ném bom Tu-95 của Nga tăng tần suất “tuần tra”
Máy bay ném bom Tu-95 của Nga tăng tần suất “tuần tra”
Thứ nhất, thái độ cứng rắng đối với phương Tây không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả. Trên cơ sở kinh tế đang phục hồi, Putin ngày càng cứng rắn đối với phương Tây, điều này đã có phần được thể hiện nhiều năm trước, rõ ràng nhất là cuộc xung đột với Gruzia.
Tháng 8/2008, nhân dịp diễn ra thế vận hội Bắc Kinh, Gruzia bất ngờ phát động tấn công nhằm vào Nam Ossetia, không ngờ bị Nga nhanh chóng phát động phản công. Quân đội Gruzia tổn thất nặng nề. Nga được đánh giá là giành chiến thắng hoàn toàn, tỷ lệ ủng hộ quốc tế của Putin tăng lên.
Đối với cuộc khủng hoảng Ukraine, biểu hiện của Nga rất giống trong xung đột với Gruzia. Moskva một mặt tỏ ra cứng rắn, một mặt phản ứng nhanh chóng, đặc biệt là hành động bất ngờ sáp nhập Crimea.
Tuy nhiên, ngay từ thời điểm đó, giới phân tích đã chỉ ra điểm yếu chết người của nước Nga và Putin. Nhà bình luận nổi tiếng người Mỹ Thomas L.Friedman cho rằng không cần phải dùng vũ lực để đối kháng với Nga. Chỉ cần bị trừng phạt kinh tế, Nga chắc chắn sẽ không thể trụ nổi.
Dù có những hoài nghi ban đầu về hiệu quả thực sự của các đòn trừng phạt này, song tình hình hiện nay cho thấy chúng đang phát huy tác dụng và khiến cho Nga khốn đốn.
Hết thời dầu khí?
Những dự đoán về khó khăn của Nga được đưa ra trên cơ sở phân tích triển vọng năng lượng. Theo đó, việc sử dụng năng lượng hóa thạch sẽ ngày càng bị hạn chế. Thay vào đó là cuộc cách mạng năng lượng mới, cách mạng dầu khí đá phiến. Sự tiến bộ của công nghệ sản xuất, giá cả của năng lượng tái sinh sẽ không ngừng giảm xuống, xu thế năng lượng tái sinh sạch hơn, hiệu quả cao hơn thay thế dầu mỏ đã rất rõ ràng.
Có nhiều lý do khác nhau, song giới phân tích có chung nhận định rằng đợt lao dốc của giá dầu lần này một phần là do các nước sản xuất dầu mỏ như Saudi Arabia muốn cạnh tranh giá dầu đá phiến của các doanh nghiệp Mỹ. Thông qua việc đánh tụt giá dầu sẽ gây khó khăn, dẫn đến việc đánh bật họ ra khỏi thị trường năng lượng.
Giá dầu giảm đang “phủ bóng đen” lên kinh tế Nga
Giá dầu giảm đang “phủ bóng đen” lên kinh tế Nga
Giá dầu nhiều khả năng sẽ không thể duy trì ở mức thấp như hiện nay trong thời gian dài. Tuy nhiên, chỉ cần có vậy, Nga đã bộc lộ điểm yếu nội tại của mình. Xuất khẩu của Nga có khoảng 70% là dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, và chiếm tới 50% toàn bộ thu nhập tài chính của Nga. Việc đặt hiện tại và tương lai của Nga vào nhiên liệu hóa thạch được coi là sự thách thức của Putin đối với cuộc cách mạng năng lượng.
Trò chơi mạo hiểm
Ngày 18/12/2014, kết quả của một cuộc thăm dò dư luận do Hãng thông tấn Associated Press (AP) và Trung tâm nghiên cứu các vấn đề dư luận NORC cùng công bố cho thấy khoảng 80% người Nga vẫn ủng hộ Putin.
Bất chấp những khó khăn về kinh tế, Tổng thống Putin vẫn khẳng định ngân sách của Bộ Quốc phòng Nga sẽ tăng vào năm 2015, đạt 50 tỷ USD. Do tài chính Nga dựa vào thu nhập dầu mỏ, và giá dầu lại đang giảm thấp, Chính phủ Nga rất có thể sẽ phải giảm bớt chi tiêu dành cho phúc lợi xã hội như giáo dục, nhà ở, y tế… Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của dân chúng đối với tương lai và sự tín nhiệm của dân chúng đối với Putin.
Có ý kiến cho rằng bài đối phó với khó khăn kinh tế của Putin là khơi dậy chủ nghĩa dân tộc Nga theo mô hình thời đại Sa Hoàng. Khi đó, người dân Nga sẽ chuyển sự chú ý từ tình hình kinh tế không ngừng xấu đi sang những mục tiêu cao hơn.
Tuy vậy, đây có thể sẽ là trò chơi nguy hiểm bởi khi người dân qua cơn phấn khích, họ sẽ trở lại với những vấn đề sát sườn “cơm ăn áo mặc”. Hậu quả khi đó sẽ ra sao nếu tình hình không được cải thiện.
Đời sống của người dân Nga không khỏi ảnh hưởng khi kinh tế suy yếu
Đời sống của người dân Nga không khỏi ảnh hưởng khi kinh tế suy yếu
Trong năm qua, giá dầu giảm gần 50%, đồng ruble cũng sụt giảm 50%. Bị phương Tây bồi thêm bằng các đòn trừng phạt, lượng lớn nguồn vốn của Nga chảy ra nước ngoài.
Theo đánh giá của Ngân hàng trung ương Nga, lượng vốn chảy ra nước ngoài của Nga trong năm 2014 có thể lên đến 134 tỷ USD, còn số liệu do Ngân hàng thế giới đưa ra là 150 tỷ USD.
Do lượng lớn nguồn vốn chảy ra nước ngoài, khiến cho nhu cầu đầu tư và tiêu thụ của Nga giảm xuống, nên Ngân hàng trung ương Nga dự báo tỷ lệ tăng trưởng GDP của Nga trong năm 2014 chỉ đạt 0,6 %. Số liệu này trong năm 2013 vẫn là 1,6%. Và nếu giá dầu vẫn thấp như hiện nay, một số tổ chức quốc tế dự đoán GDP của Nga trong 2015 có thể sẽ giảm thêm 5%.
Nợ nước ngoài của các doanh nghiệp của Nga là 502 tỷ USD, tương đương 1/4 GDP, trong đó khoảng 130 tỷ USD nợ nước ngoài phải trả vào năm 2015. Nếu buộc phải cứu trợ những doanh nghiệp này, thì Nga sẽ dùng hết lượng dự trữ ngoại hối, khó có thể đối phó được với những rủi ro trong tương lai. Nhưng nếu không cứu trợ những doanh nghiệp này, thì việc các doanh nghiệp không thể trả nợ theo đúng kỳ hạn là điều không thể tránh khỏi, một số doanh nghiệp có thể bị phá sản.
Nước Nga đang gặp khó khăn, và Putin cũng vậy. Phải chăng phương Tây đang “ra tay quá mức” như lời của chính Tổng thống Putin trong bài phát biểu nhân sự kiện tiếp nhận Crimea?
Đông Triều

Tình trạng vô chính phủ là những gì các quốc gia tạo nên: Quá trình kiến tạo xã hội của chính trị cường quyền -


Nguồn: Alexander Wendt (1992). “Anarchy is what States Make of it: The Social Construction of Power Politics”, International Organization, Vol. 46, No. 2 (Spring), pp. 391-425.

Cuộc tranh luận giữa trường phái hiện thực và trường phái tự do lại nổi lên như là trục chính của các lý thuyết quan hệ quốc tế.[1] Vốn chủ yếu tập trung vào các lý thuyết về bản chất con người từ lần tranh luận trước, lần tranh luận này quan tâm nhiều hơn đến vấn đề các quốc gia bị ảnh hưởng như thế nào bởi “cấu trúc” (tình trạng vô chính phủ và phân bổ quyền lực), “tiến trình” (tác động qua lại [giữa các quốc gia] và sự học hỏi [hành vi nào là thích hợp trong hệ thống quan hệ quốc tế vô chính phủ như vậy]) và các thể chế (institutions). Liệu có phải chính sự thiếu vắng một quyền lực chính trị siêu nhà nước đã buộc các quốc gia phải thi hành chính sách chính trị cường quyền? Liệu các thiết chế (regimes) quốc tế có giải quyết được tình trạng này, và với điều kiện nào? Trong tình trạng vô chính phủ cái gì là cho trước và bất biến, còn cái gì có thể thay đổi được?
Cuộc thảo luận giữa phái “tân hiện thực” với phái “tân tự do” đặt nền móng trên “chủ nghĩa duy lý”.[2] Giống như mọi lý thuyết xã hội khác, thuyết duy lý định hướng chúng ta đặt một số câu hỏi thuộc loại này mà không đặt những câu thuộc loại khác, xem bản sắc và lợi ích của các tác nhân là cho trước và tập trung vào tìm hiểu hành vi của các tác nhân dẫn đến kết quả như thế nào. Theo cách này, chủ nghĩa duy lý đưa ra một khái niệm căn bản mang tính hành vi cho cả “tiến trình” và “cấu trúc” trong quan hệ quốc tế: chúng chỉ thay đổi hành vi [của các quốc gia] mà không tác động đến bản sắc và lợi ích.[3]
Bên cạnh định hướng nghiên cứu này, các nhà tân hiện thực và tân tự do đều chia sẻ các giả định tương tự nhau về các tác nhân: quốc gia là tác nhân chủ yếu của hệ thống, và các quốc gia xác định an ninh theo các lợi ích riêng của mình. Tân hiện thực và tân tự do có thể bất đồng về động cơ trong hành động của các quốc gia (lợi ích tuyệt đối theo phái tự do và lợi ích tương đối theo phái hiện thực), tuy nhiên cả hai phái đều lấy các quốc gia hành động một cách vị kỷ là điểm xuất phát trong học thuyết của mình.
Điểm này có tầm quan trọng đặc biệt đối với các nhà tân hiện thực do họ cho rằng tình trạng vô chính phủ là bản chất của hệ thống “tự cứu” (self-help), trong đó không tồn tại chính quyền siêu nhà nước và nền an ninh tập thể. Tình trạng vô chính phủ và hệ quả tất yếu là nguyên tắc tự cứu chính là hai khái niệm rất quan trọng đối với thuyết tân hiện thực, qua đó các nhà tân hiện thực có thể chỉ ra và chứng minh chính bản chất cạnh tranh [trong hành vi của quốc gia] dẫn đến tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh và các vấn đề gặp phải khi hành động tập thể. Tự cứu không được coi là một “thể chế”, do đó đóng vai trò giải thích các tiến trình trong quan hệ quốc tế, tạo khuôn khổ cho sự tác động qua lại giữa các tác nhân [là các quốc gia] và đến lượt mình không hề bị ảnh hưởng bởi những tác động qua lại này. Vì rằng quốc gia nào không tuân theo nguyên tắc tự cứu sẽ bị “trục xuất” khỏi hệ thống, điều duy nhất các quốc gia có thể làm là học hỏi và thích ứng hành vi của mình theo nguyên tắc này; ngoài ra việc tái xác định bản sắc và lợi ích riêng là không thể [hoặc không cần thiết].[4] Vấn đề bản sắc và lợi ích hình thành như thế nào do đó không quan trọng đối với nghiên cứu quan hệ quốc tế. Chủ đề chính của thuyết duy lý (coi tiến trình quan hệ quốc tế chỉ là các tác động qua lại giữa các thực thể thống nhất – tác nhân), đã quy định phạm vi nghiên cứu của lý thuyết hệ thống trong chính trị quốc tế.
Chấp nhận cách lập luận trên, các nhà tân tự do qua đó thừa nhận luận điểm của phái tân hiện thực về ảnh hưởng quan trọng của cấu trúc vô chính phủ lên quan hệ quốc tế, tuy nhiên họ lại đưa ra quan điểm cho rằng tiến trình vẫn có thể thúc đẩy hành vi hợp tác, thậm chí ngay cả trong hệ thống tự cứu. Một vài học giả tự do vẫn tin rằng trên thực tế tình trạng vô chính phủ tạo ra các quốc gia hành động vị kỷ. Những học giả “tự do yếu” này hoàn toàn thừa nhận ảnh hưởng quyết định của vô chính phủ và chấp nhận quan điểm duy lý về những hạn chế của các thể chế quốc tế do tình trạng vô chính phủ áp đặt. Những nhà nghiên cứu như vậy thật ra thuộc phái hiện thực hơn là tự do (chúng ta có thể gọi họ là các nhà “hiện thực yếu”), chỉ khi nào các tổ chức quốc tế có thể thay đổi được quyền lực và lợi ích thì họ mới vượt ra khỏi các giới hạn của chủ nghĩa hiện thực.[5]
Tất nhiên các nhà tự do muốn nhiều hơn thế. Khi Joseph Nye đề cập đến “tiến trình học hỏi phức tạp”, Robert Jervis nói về “khái niệm về bản sắc và lợi ích đang thay đổi” hay Robert Keohane về quan niệm “xã hội” về lợi ích, họ đang nói về vai trò quan trọng của sự biến đổi bản sắc và lợi ích trong các nghiên cứu của phe tự do và một sự nhận thức dường như mạnh mẽ hơn nhiều về [vai trò của] tiến trình và thể chế trong chính trị quốc tế.[6] Các nhà “tự do mạnh” có lẽ sẽ thấy rắc rối với ưu thế của cấu trúc so với tiến trình, vì rằng sự thay đổi của bản sắc và lợi ích qua tiến trình chính là sự thay đổi của cấu trúc. Chủ nghĩa duy lý không hỗ trợ kiểu lập luận như vậy,[7] đó cũng là lý do vì sao trong bài viết quan trọng của mình, Friedrich Kratochwil và John Ruggie lập luận rằng đặc tính bản thể luận mang tính cá nhân của lý thuyết thể chế mâu thuẫn với nhận thức luận liên chủ thể vốn cần thiết để lý thuyết này đạt được các mục tiêu tự nó đề ra.[8] Các thiết chế không thể tự thay đổi bản sắc và lợi ích nếu chúng là những tiên đề cho trước. Vì sự ràng buộc mang tính duy lý này, tuy các nghiên cứu về quá trình học hỏi phức tạp trong chính sách đối ngoại ngày càng tăng cả về lượng lẫn về chất, các nhà tân tự do vẫn thiếu một lý thuyết hệ thống chỉ ra các thay đổi này [bản sắc và lợi ích] thay đổi như thế nào và do đó vẫn phải áp dụng các luận điểm hiện thực về cấu trúc trong khi phát triển các luận điểm riêng của họ về tiến trình.
Mỉa mai thay các học thuyết xã hội nghiên cứu bản sắc và lợi ích có tồn tại. Keohane gọi chúng là “thuyết phản xạ” (reflectivist);[9] vì tôi muốn nhấn mạnh sự tập trung của thuyết này vào quá trình kiến tạo xã hội của bản sắc và lướt qua các vấn đề gặp phải về hình ảnh phản chiếu [của bản sắc bản thân lên nhận thức của người khác] nên tôi sẽ gọi chúng là “thuyết kiến tạo”.[10] Tuy có nhiều khác biệt quan trọng, thuyết nhận thức (coginitivist), hậu cấu trúc (poststructuralist), thuyết nữ quyền và nữ quyền hậu hiện đại (standpoint and postmodern fiminist), thuyết chuẩn tắc (rule theorist) và thuyết cấu tạo (structurationist) đều chia sẻ mối quan tâm đến vấn đề xã hội mà thuyết duy lý bỏ qua – vấn đề kiến tạo bản sắc và lợi ích. Tuy nhiên đóng góp tiềm năng của thuyết kiến tạo cho chủ nghĩa tự do đã bị che phủ bởi cuộc tranh luận về nhận thức luận gần đây giữa thuyết hiện đại (modernism) với hậu hiện đại (post-modernism), trong đó những người theo thuyết hiện đại chỉ trích bên kia vì không có một chương trình nghiên cứu chuẩn mực, ngược lại những người theo thuyết hậu hiện đại lại vui sướng vì thoát ra khỏi cái bóng của thuyết hiện đại.[11] Cuộc tranh luận này cũng gây chia rẽ trong nội bộ các nhà nghiên cứu theo thuyết kiến tạo. Về bản chất quan hệ quốc tế, cả các nhà kiến tạo hiện đại lẫn hậu hiện đại đều quan tâm đến quá trình các tri thức có được qua thực tiễn định hình nên các chủ thể như thế nào, điều này cũng rất gần với sự quan tâm của phái tự do đối với quá trình các thể chế thay đổi lợi ích [của các chủ thể quan hệ quốc tế]. Họ đều chia sẻ khái niệm thực tiễn, đa chủ thể về tiến trình trong đó bản sắc và lợi ích mang tính nội sinh hình thành cùng với sự tác động qua lại giữa các tác nhân, trái ngược hoàn toàn với cách tiếp cận hành vi của chủ nghĩa duy lý theo đó bản sắc và lợi ích có tính ngoại sinh, cho trước.
Tham vọng của bài viết này là làm cầu nối cho 2 trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế này (có thể cho cả cuộc tranh luận giữa thuyết hiện thực với thuyết tự do và cuộc tranh luận giữa thuyết duy lý với thuyết phản xạ), bằng cách phát triển luận điểm của thuyết kiến tạo, vốn được rút ra từ lý thuyết cấu tạo và biểu tượng xã hội học và dựa trên luận điểm của thuyết tự do cho rằng các thể chế quốc tế có thể biến đổi bản sắc và lợi ích của các quốc gia.[12] Trái với khía cạnh “kinh tế” vốn chiếm ưu thế chủ đạo trong dòng các học thuyết hệ thống quan hệ quốc tế, luận điểm này quan tâm đến các khía cạnh xã hội học và tâm lý học của lý thuyết hệ thống, trong đó bản sắc và lợi ích đóng vai trò là các biến số phụ thuộc.[13] Vấn đề một “thuyết tự do cộng đồng” (communitarian liberalism) có phải vẫn thuộc trường phái tự do hay không không quan trọng với tôi. Điều quan trọng là những gì thuyết kiến tạo có thể đóng góp cho luận điểm của phái tự do về quá trình hình thành nên lợi ích và bản sắc và bản thân thuyết kiến tạo cũng có thể dung nạp các quan điểm tự do về quá trình học hỏi và nhận thức [của các quốc gia] vốn bị xem nhẹ bởi các trường phái khác.
Nhằm đạt được mục đích trên, tôi sẽ phản bác lại luận điểm của phái tân hiện thực vốn cho rằng nguyên tắc tự cứu được quy định bởi đặc tính vô chính phủ và áp đặt lên các tiến trình trong cấu trúc. Điều không may là các nhà kiến tạo chưa xử lý một cách thỏa đáng ảnh hưởng quyết định của tình trạng vô chính phủ, trên thực tế quan điểm hiện thực về vô chính phủ giải thích cho việc họ xem nhẹ khả năng biến đổi bản sắc và lợi ích quốc gia của các thể chế quốc tế và qua đó xây dựng các lý thuyết hệ thống mang tính duy lý; quan điểm “quyết định luận của vô chính phủ” này có thể bị phản bác nếu tiến trình và các thể chế không bị phụ thuộc vào cấu trúc. Tôi cho rằng vô chính phủ không nhất thiết phải dẫn đến nguyên tắc tự cứu và chính trị cường quyền, và nếu như hiện nay chúng ta ở trong một hệ thống tự cứu như vậy là do tác động của tiến trình chứ không phải bởi cấu trúc. Ngoài các tiến trình không tồn tại một “lô gic” của tình trạng vô chính phủ nào “sản sinh” ra và “ưu tiên” một hệ thống các bản sắc và lợi ích này hơn là các bản sắc và lợi ích khác; nếu không có các tiến trình cấu trúc không có ảnh hưởng nhân quả lên hệ thống. Do đó nguyên tắc tự cứu và chính trị cường quyền thật ra là các thể chế của hệ thống, không phải đặc trưng của tình trạng vô chính phủ. Vô chính phủ là điều các quốc gia tự tạo ra.
Trong các phần tiếp theo của bài viết, tôi sẽ phân tích các luận điểm và giả định của phái tân hiện thực, phát triển luận điểm chỉ ra hệ thống tự cứu và chính trị cường quyền được kiến tạo xã hội trong điều kiện vô chính phủ như thế nào, sau đó chỉ ra ba cách bản sắc và lợi ích biến đổi trong môi trường như vậy: qua các thiết chế trong nước, qua quá trình phát triển quan hệ hợp tác, và bởi quyết tâm biến bản sắc vị kỷ thành bản sắc tập thể.
Vô chính phủ và chính trị cường quyền
Các nhà hiện thực cổ điển như Thomas Hobbes, Reinhold Niebuhr và Hans Morgenthau cho rằng tính vị kỷ và chính trị cường quyền thuộc về bản chất con người, trong khi đó các nhà hiện thực cấu trúc và tân hiện thực lại nhấn mạnh đặc tính vô chính phủ. Sự khác biệt ở đây bắt nguồn từ cách giải thích khác nhau đối với ảnh hưởng nhân quả của vô chính phủ. Nghiên cứu của Kenneth Waltz rất quan trọng với cả hai cách tiếp cận. Trong cuốn Con người, Nhà nước và Chiến tranh [Man, the State, and War], Waltz định nghĩa vô chính phủ là “điều kiện cần” của chiến tranh, lập luận rằng “chiến tranh xảy ra vì không có gì ngăn chặn chúng.”[14] Chính bản chất con người hay nền chính trị nội địa của nước gây chiến là “điều kiện đủ” gây xung đột kéo theo sự tham gia của các nước khác.[15] Ở điểm này Waltz không hoàn toàn nhất quán, ông đi từ luận điểm “trong môi trường vô chính phủ luôn có khả năng chiến tranh” sang luận điểm tiêu cực hơn “chiến tranh có thể nổ ra bất cứ lúc nào”[16] mà không hề giải thích thỏa đáng. Mặc dù kết luận của Waltz nhấn mạnh tầm quan trọng của cấp độ phân tích thứ ba – cấu trúc quan hệ quốc tế, nguyên nhân dẫn đến hệ thống vô chính phủ lại nằm ở cấp độ thứ nhất và thứ hai – bản chất con người và chính trị nội địa của từng quốc gia. Sang tác phẩm Lý thuyết về Chính trị Quốc tế [Theory of International Politics], Waltz cho rằng cấp độ thứ nhất và thứ hai nêu trên mang tính tối giản hóa, và rằng lô gic vô chính phủ dẫn đến nguyên tắc tự cứu và chính trị cường quyền là đặc trưng của nền chính trị quốc tế.[17]
Thật không may là dù chúng ta có hiểu như thế nào về các lý thuyết chính trị quốc tế ở cấp độ thứ nhất và thứ hai của Waltz, vẫn có thể diễn giải là chúng cho rằng tiến trình quan hệ quốc tế quy định các đặc trưng của tình trạng vô chính phủ. Một cách bị động, chỉ khi các yếu tố con người hay chính trị nội địa khiến A tấn công B thì B mới phải tự vệ. Vô chính phủ có thể dẫn đến sự cạnh tranh quyền lực giữa các nước mà cũng có thể không, và chúng ta có thể tranh luận về thời điểm hình thành nên các cấu trúc bản sắc và lợi ích riêng biệt. Dẫu vậy, theo thuyết tân hiện thực, vai trò thay đổi các đặc điểm vô chính phủ của tiến trình bị giảm xuống rõ rệt: nguyên tắc tự cứu và cạnh tranh quyền lực đơn giản là được xác định trước từ bên ngoài bởi cấu trúc của hệ thống các quốc gia.
Tôi sẽ không tranh luận về quan điểm tân hiện thực mô tả thế giới như một hệ thống các quốc gia hành động theo nguyên tắc tự cứu và cạnh tranh quyền lực;[18] tôi chỉ phản bác cách giải thích của phái này. Tôi sẽ phát triển lập luận của mình qua ba bước. Đầu tiên, tôi bác bỏ các khái niệm tự cứu và vô chính phủ bằng cách chỉ ra rằng tự cứu không phải là đặc tính cấu thành của vô chính phủ. Tiếp theo, tôi sẽ chứng minh tự cứu và cạnh tranh quyền lực có thể được tạo ra như thế nào bởi tiến trình tác động qua lại giữa các quốc gia trong một môi trường mà tình trạng vô chính phủ chỉ đóng vai trò bị động. Trong hai bước đầu tiên, tôi tạm bỏ qua các nhân tố thứ nhất và thứ hai của bản sắc quốc gia [bản chất con người và nền chính trị nội địa], không phải bởi vì chúng không quan trọng (thật ra chúng rất quan trọng) mà bởi vì giống Waltz, tôi muốn làm rõ “lô gic” của vô chính phủ. Cuối cùng, tôi quay trở lại với hai nhân tố này bằng cách xem xét tác động của chúng lên sự hình thành bản sắc trong nhiều loại hình vô chính phủ khác nhau.
Vô chính phủ, tự cứu và nhận thức liên chủ thể
Waltz định nghĩa cấu trúc chính trị theo ba khía cạnh: nguyên tắc tổ chức (trong trường hợp này là vô chính phủ), nguyên tắc phân biệt các đơn vị (không tồn tại trong chính trị quốc tế)[19] và sự phân bổ nguồn lực.[20] Bản thân cách định nghĩa này cho chúng ta biết rất ít về hành vi của các quốc gia, nó không dự đoán được liệu hai quốc gia sẽ là bạn hay thù, có công nhận chủ quyền của nhau hay không, có mối quan hệ nhà nước hay không, và liệu chúng muốn bảo vệ nguyên trạng trật tự hiện hành hay muốn thay đổi, v.v… Các nhân tố này, vốn có bản chất liên chủ thể [hình thành do tương tác qua lại giữa các chủ thể], đều tác động lên lợi ích an ninh quốc gia và do đó lên đặc điểm mối quan hệ giữa các quốc gia trong môi trường vô chính phủ. Trong một công trình tái xem xét các kết luận của Waltz, Stephen Walt cũng ngụ ý như trên khi lập luận rằng “cân bằng đe dọa”, hơn là cân bằng quyền lực, quy định hành động của quốc gia, vì rằng các mối đe dọa cũng được kiến tạo qua quá trình xã hội.[21] Nhìn chung, do không nêu ra các giả định về cấu trúc bản sắc và lợi ích trong hệ thống, định nghĩa hệ thống của Waltz không thể tiên đoán được nội dung cũng như động lực của vô chính phủ. Mô hình tự cứu mang tính liên chủ thể và đóng vai trò giải thích cho cấu trúc quan hệ quốc tế, theo Waltz. Câu hỏi đặt ra là liệu tự cứu là một đặc điểm hợp lô gic hay chỉ là ngẫu nhiên của cấu trúc vô chính phủ. Trong phần tiếp theo tôi sẽ trình bày khái niệm “cấu trúc bản sắc và lợi ích” và chứng minh rằng không cái nào là kết quả lô gic của trật tự vô chính phủ.
Một nguyên tắc cơ bản của học thuyết kiến tạo xã hội là con người tác động lên khách thể (bao gồm người và vật) dựa trên ý nghĩa mà khách thể có đối với họ (chủ thể).[22] Các quốc gia ứng xử với kẻ thù khác với bạn bè, vì kẻ thù thì đầy tính đe dọa còn bạn bè thì không. Vô chính phủ và phân bổ quyền lực không đủ để chỉ chúng ta rõ đâu là bạn đâu là thù. Sức mạnh quân sự Hoa Kỳ có ý nghĩa đối với Canada khác so với Cuba, dù rằng vị thế trong “hệ thống” của hai nước này là tương tự nhau, cũng như tên lửa của Anh mang ý nghĩa với Mỹ khác so với tên lửa Liên Xô. Phân bổ quyền lực luôn có ảnh hưởng lên toan tính của một quốc gia, tuy nhiên đến mức độ nào thì lại phụ thuộc vào nhận thức và sự mong đợi của nước đó đối với khách thể, nói cách khác tính toán của quốc gia còn phụ thuộc vào “phân bổ nhận thức” vốn quy định nhận thức về bản thân và về đối phương.[23] Nếu xã hội “quên mất” trường đại học là gì, ngay lập tức quyền lực và giá trị thực tiễn của nghề giáo sư và sinh viên không còn tồn tại; nếu Hoa Kỳ và Liên Xô quyết định không đối đầu nhau nữa, ngay lập tức “Chiến tranh lạnh kết thúc”. Chính nhận thức tập thể đã tạo nên cấu trúc tổ chức hoạt động của chúng ta.
Chủ thể cần một bản sắc – tương đối ổn định, có nhận thức rõ ràng về vai trò và trông đợi vào bản thân, khi tham gia vào một tri thức tập thể như vậy.[24] Bản sắc tự thân đã mang tính tương tác: “Bản sắc, với một phần thích đáng gắn kết với thực tiễn tâm lý, luôn luôn nằm trong khuôn khổ một thế giới được kiến tạo xã hội riêng biệt”, Peter Berger nhận định.[25] Mỗi cá nhân có nhiều bản sắc gắn với nhiều vai trò xã hội khác nhau như anh, con, giáo viên, và công dân. Tương tự, quốc gia cũng có thể có nhiều bản sắc như “quốc gia có chủ quyền”, “lãnh đạo của thế giới tự do”, “đế quốc”, v.v…[26] Bản thân mỗi một bản sắc là một định nghĩa xã hội của chủ thể dựa trên nhận thức của chủ thể về bản thân và người khác và tạo nên cấu trúc của đời sống xã hội.
Bản sắc là nền tảng của lợi ích. Chủ thể không có một danh sách các lợi ích định sẵn để áp dụng trong nhiều tình huống xã hội khác nhau; thay vào đó họ xác định lợi ích của mình song song với tiến trình xác định tình huống.[27] Như Nelson Foote đã chỉ ra: “Động lực [của hành động]… liên quan đến mức độ mà chủ thể, với vai trò một cá nhân trong tiến trình xã hội, xác định hành động cụ thể nào phù hợp với hoàn cảnh gặp phải và các điều kiện để tiến hành hành động đó cũng như hiệu ứng mà nó mang lại, sau đó các bộ phận của chủ thể giải phóng mức năng lượng cần thiết để thực hiện hành động đó”.[28] Thỉnh thoảng chúng ta gặp phải tình huống hoàn toàn mới lạ, vì chưa từng có kinh nghiệm với vấn đề đó nên chúng ta buộc phải tự “xây dựng” nhận thức về trường hợp này bằng phương pháp suy diễn từ các tình huống có vẻ tương tự trong quá khứ hoặc sáng tạo mới hoàn toàn. Thường thì chúng đều có nhiều đặc tính thông thường mà nhờ đó ta có thể xây dựng được tri thức về vấn đề mới thông qua các chức năng xã hội đã được xác định trước. Khi chúng ta nói rằng giáo viên có “lợi ích” trong việc dạy học và nghiên cứu, chúng ta đang nói tới chức năng của “bản sắc giáo viên”, trong trường hợp này một vài kiểu mẫu hành động được cho là phù hợp với một vài tình huống cụ thể [ở đây là hành động “dạy học”, “nghiên cứu” trong tình huống anh đóng vai trò “giáo viên”]. Điều này không có nghĩa là chắc chắn anh ta [giáo viên] sẽ hành động đúng như vậy (thêm nữa kỳ vọng và năng lực không chắc chắn dẫn tới kết quả mong đợi), nhưng nếu không làm như vậy anh ta sẽ không còn là giáo viên. Việc thiếu vắng một chức năng rõ ràng khiến việc xác định tình huống và lợi ích trở nên khó khăn hơn, do đó có thể xuất hiện sự lẫn lộn bản sắc. Điều này có vẻ đang xảy ra cho Hoa Kỳ và Liên Xô: nếu không có sự thù địch và đe dọa lẫn nhau trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh như một phần của bản sắc riêng mỗi nước, hai nước này có vẻ sẽ không chắc chắn “lợi ích quốc gia” của mình là gì.
Thể chế là một tập hợp hoặc cấu trúc tương đối ổn định của các bản sắc và lợi ích. Một cấu trúc như vậy sẽ có các quy chuẩn và nguyên tắc cấu tạo riêng, ngoài ra còn hiện diện các động lực thúc đẩy của chủ thể nảy sinh trong quá trình tham gia và xây dựng nên nhận thức tập thể. Về bản chất, thể chế là một thực thể nhận thức không thể tách rời khỏi thế giới quan của chủ thể trong thực thể đó.[29] Điều này không có nghĩa là thể chế không có thực hay khách quan, hay chúng không là gì khác ngoài ý tưởng. Với tư cách là nhận thức tập thể, chúng tồn tại “bên trong và ở trên mỗi cá nhân, các cá nhân này là biểu hiện của chúng tại một thời điểm”.[30] Như vậy, thể chế ít hay nhiều đều là một thực tại xã hội có tính ràng buộc mà mỗi cá nhân phải đối diện, nhưng ngược lại chúng cũng mang chức năng mà các chủ thể thống nhất “gán cho” chúng. Bản sắc và nhận thức tập thể không tồn tại độc lập mà “cấu thành lẫn nhau”.[31] Như vậy, thể chế hóa là quá trình tiếp thu bản sắc và lợi ích diễn ra bên trong chứ không phải bên ngoài chủ thể và chỉ tác động đến hành vi của chủ thể; xã hội hóa là một quá trình nhận thức chứ không chỉ là hành vi. Tiếp cận dưới góc độ này, thể chế vừa mang tính hợp tác vừa có thể gây xung đột, chính điểm này bị các học giả về thiết chế quốc tế bỏ qua khi cho rằng các thể chế đồng nghĩa với sự hợp tác. Tất nhiên tồn tại nhiều điểm khác nhau quan trọng giữa hợp tác và xung đột, tuy nhiên mọi mối quan hệ ổn định giữa ta-đối phương, thậm chí khi đối phương ở đây là “kẻ thù”, đều có đặc điểm liên chủ thể.
Tự cứu là một thể chế, một trong nhiều cấu trúc bản sắc và lợi ích có thể có trong môi trường vô chính phủ. Quá trình hình thành bản sắc trong điều kiện vô chính phủ được đánh dấu đầu tiên và trước hết bởi mối bận tâm về an ninh bản thân. Khái niệm an ninh do đó là khác biệt ở mỗi cá thể theo cách thức và mức độ mà cá thể đó tự nhận thức “cái tôi” trong mối liên hệ với “người khác”,[32] và tôi cho rằng chính sự đa dạng nhận thức [về an ninh] này tạo nên ý nghĩa của vô chính phủ và phân bổ quyền lực. Tôi sẽ làm rõ điểm này bằng cách mô tả một dải liên tục các hệ thống an ninh.[33]
Ở một đầu là hệ thống an ninh “cạnh tranh”, trong đó quốc gia nhận thức một cách tiêu cực đối với an ninh của quốc gia khác, theo đó lợi ích của bản thân chính là thiệt hại của người khác. Sự nhận thức tiêu cực trong môi trường vô chính phủ tạo nên hệ thống các quốc gia theo mô hình của chủ nghĩa hiện thực: các chủ thể hành động tự cứu và diễn giải ý đồ của chủ thể khác qua khả năng của chủ thể đó, các chủ thể bận tâm tới lợi ích và thiệt hại tương đối. Ở mức cực đoan nhất – cuộc chiến tất cả chống lại tất cả theo mô hình Hobbes – hành động tập thể gần như là bất khả thi vì mỗi chủ thể đều lo sợ sẽ bị bỏ lại phía sau.
Ở giữa là hệ thống an ninh “vị kỷ”, trong đó quốc gia không quan tâm đến mối tương quan giữa an ninh của chính mình và an ninh của quốc gia khác. Đây là hệ thống theo trường phái “tân tự do”: quốc gia hành động vị kỷ vì an ninh nhưng chỉ quan tâm tới lợi ích tuyệt đối hơn là lợi ích tương đối. Vị trí của quốc gia trong phân bổ quyền lực ít quan trọng hơn, do đó hành động tập thể có tính khả thi hơn (tuy nhiên vẫn bấp bênh vì xét cho cùng các quốc gia vẫn hành động “vị kỷ”).
Hai hệ thống trên đều có nguyên tắc “tự cứu” trong điều kiện vô chính phủ, theo nghĩa các quốc gia đều không nhận thức một cách tích cực về mối liên hệ giữa an ninh bản thân với an ninh nước khác mà trái lại cho rằng an ninh là phạm trù thuộc trách nhiệm của mỗi nước. Với sự thiếu vắng nhận thức tích cực về nguyên tắc xây dựng thể chế an ninh như trên, chính trị cường quyền trong một hệ thống như vậy sẽ chỉ là cố gắng điều khiển người khác vì lợi ích của bản thân.
Hoàn toàn tương phản là hệ thống an ninh “hợp tác”, trong đó nhận thức an ninh của mỗi chủ thể mang tính tích cực hơn, theo đó an ninh của mỗi người là trách nhiệm của mọi người. Ở đây không tồn tại nguyên tắc tự cứu nữa, vì rằng lợi ích được xác định một cách tập thể, lợi ích quốc gia cũng chính là lợi ích quốc tế.[34] Dĩ nhiên, trên thực tế, mức độ xác định bản sắc so với cộng đồng của mỗi quốc gia là khác nhau, đi từ dạng hạn chế của “phối hợp” đến dạng cao nhất của thỏa thuận “an ninh tập thể”.[35] Tùy theo mức độ phát triển ý thức tập thể mà các thực tiễn an ninh có thể đạt đến mức độ vị tha [vì người khác] hay thậm chí vị xã hội [vì tập thể]. Điều này làm cho hành động tập thể ít phụ thuộc vào sự tồn tại mối đe dọa chung hơn và do đó ít bấp bênh hơn.[36] Thêm nữa, hệ thống này hạn chế các cố gắng đạt mục đích riêng, còn gọi là “chính trị cường quyền” bằng các chuẩn mực chung thay vì bằng sức mạnh tương đối.[37]
Theo quan điểm trên, xu hướng của các học giả quan hệ quốc tế xem quyền lực và các thể chế là hai yếu tố giải thích chính sách đối ngoại trái ngược nhau là hoàn toàn sai lầm, vì vô chính phủ và phân bổ quyền lực chỉ có ý nghĩa với hành vi của quốc gia theo cách các nhận thức và kỳ vọng định hình nên bản sắc và lợi ích. Tự cứu là một kiểu thể chế cấu tạo nên tình trạng vô chính phủ nhưng không phải là thể chế duy nhất. Ba nhân tố định nghĩa cấu trúc của Waltz[38] xem ra vẫn chưa đủ, ta cần thêm vào một nhân tố thứ tư: quá trình cấu tạo liên chủ thể của cấu trúc bản sắc và lợi ích trong hệ thống.
Quan điểm này gợi mở cho chúng ta rất nhiều trong việc nhận thức về quốc gia trong trạng thái tự nhiên, trước cả khi bắt đầu tương tác với quốc gia khác. Trong tình trạng như vậy quốc gia chưa hề có khái niệm về bản thân, về người khác cũng như về lợi ích an ninh, cho nên giả định của Waltz rằng trong tình trạng vô chính phủ “hệ thống chính trị quốc tế, giống như thị trường, được hình thành bởi sự vận động của các đơn vị vị kỷ”[39] đi quá xa. Chúng ta cũng sẽ đi quá xa nếu tiếp tục giả định rằng, vẫn trong tình trạng vô chính phủ các quốc gia sẽ phải đối diện với “tình huống săn nai” (stag hunt) hay là ”tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh” (security dilemma).[40] Các giả định trên lại giả định rằng các quốc gia đã có một quá trình tương tác qua đó hình thành nên bản sắc và lợi ích vị kỷ; thế nhưng [trong tình trạng tự nhiên] chưa qua tương tác với nhau, các nước chưa hề có một trải nghiệm nào để từ đó xây dựng nên các khái niệm về bản thân và người khác. Giả định như trên vì vậy đồng nghĩa với việc gán cho một quốc gia trong trạng thái tự nhiên các đặc tính chỉ có được thông qua các tiến trình xã hội.[41] Tự cứu là một thể chế, không phải là thành phần cấu tạo của vô chính phủ.
Vậy cái gì mới là thành phần cấu tạo trạng thái tự nhiên trước khi có tương tác [giữa các chủ thể]? Khi loại bỏ các thuộc tính của “cái tôi” vốn dẫn tới sự tương tác với chủ thể khác như là sự đương nhiên, chúng ta sẽ thấy nổi lên hai thành phần cơ bản. Đầu tiên là “chất nền” của chủ thể, bao gồm các đặc tính nội sinh cố hữu. Đối với con người, “chất nền” này chính là cơ thể; còn đối với quốc gia thì đó là bộ máy tổ chức quản lý điều hành đất nước. Thật vậy, tôi cho rằng nền móng tạo nên quốc gia – đơn vị của hệ thống quốc tế – được tạo thành bởi xã hội nội địa trước khi quốc gia tham gia vào tiến trình tương tác với xã hội quốc tế,[42] mặc dù quá trình hình thành quốc gia này không bảo đảm lãnh thổ hay chủ quyền quốc gia ổn định, vốn là hai khái niệm được thỏa hiệp trên bình diện quốc tế (sẽ được phân tích kỹ hơn dưới đây). Thành phần cơ bản thứ hai là ý muốn bảo vệ “chất nền” này để tồn tại. Tuy nhiên ý muốn này không bao hàm “sự vị kỷ”, vì rằng chủ thể chưa có tương tác với chủ thể khác để có thể nảy sinh lòng ích kỷ vì bản thân; nhận thức của chủ thể đối với ý nghĩa và điều kiện của sinh tồn từ đây sẽ phụ thuộc vào quá trình phát triển nhận thức về bản thân.
Tất cả những điều trên có vẻ vẫn “huyền bí”, tuy nhiên chính từ chúng mà nổi lên một câu hỏi quan trọng: bản sắc và lợi ích trong chính sách đối ngoại của một nước là ngoại sinh hay nội sinh từ trong hệ thống các quốc gia? Đối với thuyết cấu trúc cá thể hoặc ít mang tính xã hội học vốn đề cao chủ nghĩa duy lý, bản sắc và lợi ích này là ngoại sinh cho trước [tồn tại độc lập với hệ thống], trong khi đối với thuyết cấu trúc xã hội học thì lại là nội sinh. Có vẻ Waltz cũng đồng ý với quan điểm thứ hai và chỉ ra hai cách cấu trúc quy định hành vi của quốc gia, đó là qua cạnh tranh và xã hội hóa.[43] Nội dung trong lập luận của Waltz lại giả định trước về sự tồn tại hệ thống tự cứu, tuy nhiên tự cứu không phải là đặc điểm cấu thành của vô chính phủ. Như James Morrow đã chỉ ra, cấu trúc quốc tế của Waltz chỉ quy định hành vi của quốc gia chứ không xác định bản sắc và lợi ích của chúng.[44] Đó là lý do vì sao ta có thể xếp Waltz vừa trong số những người theo “thuyết cá thể” vừa là người theo “thuyết cấu trúc”.[45] Waltz theo thuyết cá thể vì bàn về sự định hình mang tính hệ thống của bản sắc và lợi ích, theo thuyết cấu trúc khi đề cập đến sự quy định hành vi các cá thể bởi hệ thống.


Bài viết này nhận được sự đóng góp của nhiều người. Nếu công trình của tôi hoàn thành (và thành thật xin lỗi nếu không phải như vậy) thì tôi xin đặc biệt cám ơn John Aldrich, Mike Barnett, Lea Brilmayer, David Campbell, Jim Caporaso, Simon Dalby, David Dessler, Bud Duvall, Jean E;shtain, Karyn Ertel, Lloyd Etheridge, Ernst Haas, Martin Hollis, Naeem Inayatullah, Stewart Johnson, Frank Klink, Steve Krasner, Friedrich Kratochwil, David Lumsdaine, M. J. Peterson, Spike Peterson, Thomas Risse-Kappen, John Ruggie, Bruce Russet, Jim Scott, Rogers Smith, David Sylvan, Jan Thomson, Mark Warren, and Jutta Weldes. Bài viết này cũng sử dụng nguồn đóng góp từ các cuộc hội thảo và thuyết trình tại American University, University of Chicago, University of Massachusetts tại Amherst, Syracuse University, University of Washington tại Seattle, University of California tại Los Angeles, và Yale University.
[1] Xem thêm Joseph Grieco, “Anarchy and the Limits of Cooperation: A Realist Critique of the Newest Liberal Instutitionnalism”, International Organization 42 (Summer 1988), pp. 485-507; Joseph Nye, “Neorealism and Neoliberalism”, World Politics 40 (1/1988), pp. 235-51; Robert Keohane, “Neoliberal Institutionnalism: A Perspective on World Politics”, International Institutions and State Power (Boulder, Colo.: Westview Press, 1989), pp. 1-20; John Mearsheimer, “Back to the Future: Instability in Europe After the Cold War”, International Security 13 (Summer 1990), pp. 5-56, bên cạnh nhiều ấn phẩm quan trọng khác có liên quan của Mearsheimer; và Emerson Niou và Peter Ordeshook, “Realism Versus Neoliberalism: A Formulation”, American Journal of Political Science 35(5/1991), pp. 481-511.
[2] Xem Robert Keohane, “International Institutions: Two Approaches”, International Studies Quarterly 32 (12/1988), pp. 379-96.
[3] Mô hình hành vi và duy lý về con người và các tổ chức đều kế thừa từ chủ nghĩa cá nhân duy vật của Hobbes, Locke và Bentham. Về mối quan hệ giữa hai mô hình này, xem thêm Jonathan Turner, A Theory of Social Interaction (Stanford, Calif.: Stanford University Press, 1988), pp. 24-31; và George Homans, “Rational Choice Theory and Behavorial Psychology”, trong Craig Calhoun et al., ed., Structures of Power and Constraint (Cambridge: Cambridge University Press, 1991), pp. 77-89.
[4] Về quan niệm của phái tân hiện thực về quá trình học hỏi, xem Philip Tetlock, “Learning in U.S. and Soviet Foreign Policy”, trong George Breslauer và Philip Tetlock, eds., Learning in U.S. and Soviet Foreign Policy (Boulder, Colo.: Westview Press, 1991), pp. 24-27; Joseph Nye, “Nuclear Learning and U.S.-Soviet Security Regimes”, International Organization 41 (Summer 1987), pp. 371-402; và Ernst Haas, When Knowledge Is Power (Berkeley: University of California Press, 1990), pp. 17-49.
[5] Xem Stephen Krasner, “Regimes and the Limits of Realism: Regimes as Autonomous Variables”, trong Stephen Krasner, ed., International Regimes (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1983), pp. 355-368.
[6] Xem Nye, “Nuclear Learning and U.S.-Soviet Security Regimes”; Robert Jervis, “Realism, Game Theory, and Cooperation”, World Politics 40 (4/1988), pp. 340-344; và Robert Keohane, “International Liberalism Reconsidered”, trong John Dunn, ed., The Economic Limits to Modern Politisc (Cambridge: Cambridge University Press, 1990), p. 183.
[7] Chủ nghĩa duy lý quan tâm nhiều hơn đến vấn đề hình thành các ưu tiên [của các quốc gia], mặc dù làm như vậy là vượt quá những gì mà tôi cho là đặc điểm của chủ nghĩa duy lý. Xem thêm John Elster, “Sour Grapes: Utilitarianism and the Genesis of Wars”, trong Amartya Sen và Bernard Williams, eds., Utilitarianism and Beyond (Cambridge: Cambridge University Press, 1982), pp. 219-238; và Michael Cohen và Robert Axelrod, “Coping with Complexity: The Adaptive Value of Changing Utility”, American Economic Review 74 (3/1984), pp. 753-775.
[8] Freidrich Kratochwil và John Ruggie, “International Organization: A State of the Art on an Art of the State”, International Organization 40 (Autumn 1986), pp. 753-775.
[9] Keohane, “International Institutions”.
[10] Xem Nicolas Onuf, World of Our Making (Columbia: University of South Carolina Press, 1989).
[11] Về thuyết hiện đại, xem Keohane, “International Institutions”; và Robert Keohane, “International Relations Theory : Contributions of a Feminist Standpoint”, Millennium 18 (Summer 1989), pp. 245-253. Về thuyết hậu hiện đại, xem R. B. J. Walker, “History and Structure in the Theory of International Relations”, Millennium 18 (Summer 1989), pp. 163-83; và Richard Ashley và R. B. J. Walker, “Reading Dissidence/Writing the Discipline: Crisis and the Question of Sovereignty in International Studies”, International Studies Quarterly 34 (9/1990), pp. 367-416. Xem thêm đánh giá sắc sảo về cuộc tranh luận này của Yosef Lapid, “The Third Debate: On the Prospects of International Theory in a Post-Positivist Era”, International Studies Quarterly 33 (9/1989), pp. 235-254.
[12] Do dựa trên các cách tiếp cận trên mà tôi có thể được xếp vào hàng ngũ những nhà kiến tạo hiện đại, tuy rằng tôi cũng dựa vào các công trình quan trọng của các nhà hậu hiện đại, đặc biệt là Richard Ashley và Ron Walker. Về điểm này xem thêm bài viết gần đây của tôi, “The Agent-Structure Problem in International Relations Theory”, International Organization 41 (Summer 1987), pp. 335-370; và Ian Shapiro và Alexander Wendt, “The Difference That Realism Makes: Social Science and the Politics of Consent”, sẽ xuất bản trong ấn phẩm Politics and Society. Trong số các học giả kiến tạo hiện đại, tôi đặc biệt cảm ơn các nghiên cứu của Emanuel Adler, Friedrich Kratochwil và John Ruggie, cũng như bài viết chưa được xuất bản của Naeem Inayatullah và David Levine có tựa đề “Politics and Economics in Contemporary International Relations Theory”, Syracuse University, Syracuse, N.Y., 1990.
[13] Xem Viktor Gecas, “Rekindling the Sociological Imagination in Social Psychology”, Journal for the Theory of Social Behavior 19 (3/1989), pp. 97-115.
[14] Kenneth Waltz, Man, the State, and War (New York: Columbia University Press, 1959), p. 232.
[15] Ibid., pp. 169-170.
[16]Ibid., p. 232. Điểm này đã được chỉ ra bởi Hidemi Suganami trong “Bringing Order to the Causes of War Debates”, Millennium 19 (Spring 1990), p. 32, fn. 11.
[17]Kenneth Waltz, Theory of International Politics (Boston: Addison-Wesley, 1979).
[18] Tuy nhiên quan điểm tân hiện thực này không phải là không có vấn đề. Xem David Lumsdaine, Ideals and Interests: The Foreign Aid Regime, 1949-1989 (Princeton, N.J.: Princeton University Press, sắp xuất bản).
[19] Vì các quốc gia – đơn vị của hệ thống chính trị quốc tế, là tương tự nhau về chức năng (bảo đảo an ninh cho chính mình) và biện pháp thực hiện (ví dụ dùng quyền lực), khác với đơn vị của chính trị nội địa có chức năng nhiệm vụ khác nhau được quy định cụ thể trong Hiến pháp – ND.
[20] Waltz, Theory of International Politics, pp. 79-101.
[21] Stephen Walt, The Origins of Alliances (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1987).
[22] Ví dụ xem thêm Herbert Blumer, “The Methodological Position of Symbolic Interactionnism”, trong cuốn Symbolic Interactionism: Perspective and Methode (Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall, 1969), p. 2. Qua bài viết này tôi cho rằng có thể suy luận tương tự từ cá nhân đến quốc gia. Có hai dẫn chứng chứng minh cho sự suy luận này. Một cách hình ảnh, phép suy luận tương tự được sử dụng rộng rãi trên thực tiễn của các lý thuyết quan hệ quốc tế, và vì bài viết này cũng có thể xếp vào hạng mục nghiên cứu chuyên ngành chính trị quốc tế nên suy diễn của tôi có thể chấp nhận được. Về bản chất, quốc gia là tập hợp nhiều cá nhân đóng vai trò các “cá thể” tương tác với nhau, có lợi ích riêng, nỗi sợ hãi riêng, v.v… Tuy nhiên một học thuyết đầy đủ về sự hình thành bản sắc và lợi ích quốc gia vẫn cần tiếp cận từ góc độ tâm lý học xã hội của nhóm và tổ chức, do đó đề xuất của tôi chỉ mang tính chất gợi mở.
[23]Cụm từ “phân bổ nhận thức” là của Barry Barnes, nêu trong cuối Nature of Power (Cambridge: Polity Press, 1988); xem thêm Peter Berger và Thomas Luckmann, The Social Construction of Reality (New York: Anchor Books, 1966). Mối quan tâm hiện nay của các học giả quan hệ quốc tế đối với “bản sắc cộng đồng” cùng với tác động nhân quả của nhận thức về thế giới [đối với thực tiễn] chỉ ra bởi các nhà khoa học, chuyên gia và nhà hoạch định chính sách là khía cạnh quan trọng trong vai trò của tri thức đối với chính trị thế giới; xem Peter Haas, “Do Regimes Matter? Epistemic Communities and Mediterranean Pollution Control”, International Organization 43 (Summer 1989), pp. 377-404; và Ernst Haas, When Knowledge is Power. Cách tiếp cận kiến tạo của tôi cũng đóng góp nhận định nhấn mạnh rằng nhận thức cũng “kiến tạo” nên các cấu trúc và chủ thể của đời sống xã hội.
[24] Để hiểu nhận thức tập thể tạo thành bản sắc như thế nào, xem Peter Berger, “Identity as a Problem in the Sociology of Knowledge”, European Journal of Sociology, vol. 7, no. 1, 1966, pp. 32-40. Xem thêm David Morgan và Michael Schwalbe, “Mind and Self in Society: Linking Social Structure and Social Cognition”, Social Psychology Quarterly 53 (6/1990), pp. 148-164. Quan điểm của tôi cũng dựa trên nhiều công trình về học thuyết tương tác: George Herbert Mead, Mind, Self, and Society (Chicago: University of Chicago Press, 1934); Berger và Luckmann, The Social Construction of Reality; Sheldon Stryker, Symbolic Interactionnism: A Social Structural Version (Menlo Park, Calif.: Benjamin/Cummings, 1980(; R. S. Perinbanayagam, Signifying Acts: Structure and Meaning of Everyday Life (Carbondale: Southern Illinois University Press, 1985); John Hewitt, Sefl and Society: A Symbolic Interactionnist Social Psychology (Boston: Allyn & Bacon, 1988); và Turner, A Theory of Social Interaction. Tuy còn nhiều điểm khác biệt, nhiều quan điểm tương đồng cũng được đưa ra bởi các học giả cấu trúc như Bhaskar và Giddens. Xem Roy Bhaskar, The Possibility of Naturalism (Atlantic Highlands, N.J.: Humanities Press, 1979); và Anthony Giddens, Central Problems in Social Theory (Berkeley: University of California Press, 1979).
[25] Berger, “Identity as a Problem in the Sociology of Knowledge”, p. 111.
[26] Tuy không dùng chính xác những khái niệm này, quan điểm của các học giả chính sách đối ngoại về vai trò của quốc gia có thể áp dụng cho luận điểm về bản sắc. Xem Kal Holsti, “National Role Conceptions in the Study of Foreign Policy”, International Studies Quarterly 14 (9/1970), pp. 233-309; và Stephen Walker, ed., Role Theory and Foreign Policy Analysis (Durham, N.C.: Duke University Press, 1987). Xem thêm Stephen Walker, “Symbolic Interactionnism and International Politics: Role Theory’s Contribution to International Organization”, trong C. Shih và Martha Cottam, eds., Contending Dramas: A Cognitive Approach to Post-War International Organization Processes (New York: Praeger, sắp xuất bản).
[27] Về luận điểm này xem thêm Barry Hindess, Political Choice and Social Structure (Aldershot, U.K.: Edward Elgar, 1989), pp. 2-3. “Xác định tình huống” là khái niệm trọng tâm của lý thuyết tương tác.
[28] Nelson Foote, “Identification as the Basic for a Theory of Motivation”, American Sociological Review 16 (2/1951), p. 15. Kiểu quan điểm về lợi ích như thế này cũng bị chỉ trích vì quá “nặng tính xã hội”; xem Dennis Wrong, “The Oversocialized Conception of Man in Modern Sociology”, American Sociological Review 26 (4/1961), pp. 183-193. Để có cái nhìn trung lập hơn, xem Turner, A Theory of Social Interaction, pp. 23-69; và Viktor Gecas, “The Self-Concept as a Basic for a Theory of Motivation”, trong Judith Howard và Peter Callero, eds., The Self-Society Dynamic (Cambridge: Cambridge University Press, 1991), pp. 171-187.
[29] Theo lối nói của những học giả “tân Durkheim”, thiết chế là “biểu tượng xã hội”. Xem Serge Moscovici, “The Phenomenon of Social Representations”, trong Rob Farr và Serge Moscovici, eds., Social Representations (Cambridge: Cambridge University Press, 1984), pp. 3-69. Xem thêm Barnes, The Nature of Power. Lưu ý rằng trường phái này nhấn mạnh bản thân sự nhận thức xã hội, khác với các học giả hiện nay quan niệm rằng “ý tưởng” trong chính trị thế giới là sự thỏa hiệp giữa các cá nhân và can thiệp vào quá trình từ phân bổ quyền lực đến kết quả. Để biết thêm về dạng thuyết nhận thức gần với quan điểm của tôi nhất, xem Emanuel Adler, “Cognitive Evolution: A Dynamic Approach for the Study of International Relations and Their Progress”, trong Emanuel Adler và Beverly Crawford, eds., Progress in Postwar International Relations (New York: Columbia University Press, 1991), pp. 43-88.
[30] Berger và Luckmann, The Social Construction of Reality, p. 58.
[31] Xem Giddens, Central Problem in Social Theory; và Alexander Wendt và Raymond Duvall, “Institutions and International Order”, trong Ernst-Otto Czempiel và James Rosenau, eds., Global Changes and Theoretical Challenges (Lexington, Mass.: Lexington Books, 1989), pp. 51-74.
[32] Lý thuyết lựa chọn có thể dùng cụm từ khác, “ích lợi phụ thuộc lẫn nhau”. Để tìm hiểu thêm về các học thuyết lựa chọn, xem thêm Harold Hochman và Shmuel Nitzan, “Concepts of Extended Preference”, Journal of Economic Behavior and Organization 6 (6/1985), pp. 161-176. Thông thường các nghiên cứu theo thuyết lựa chọn không gắn vấn đề hành vi với vấn đề bản sắc, nhưng có một ngoại lệ là bài viết của Amartya Sen, “Goals, Commitment, and Identity”, Journal of Law, Economics, and Organization 1 (Fall 1985), pp. 341-355; và Robert Higgs, “Identity and Cooperation: A Comment on Sen’s Alternative Program”, Journal of Law, Economics, and Organization 3 (Spring 1987), pp. 140-142.
[33] Hệ thống an ninh cũng có thể thay đổi theo yếu tố chuyên biệt hóa chức năng và mối quan hệ thứ bậc giữa chủ và khách, theo đó chủ giữ vai trò “bá quyền” trong khu vực ảnh hưởng của mình bằng cách xác định các lợi ích an ninh của khách. Tôi sẽ không đi sâu phân tích khía cạnh trên trong bài viết này vì đã làm trong một bài viết khác, xem thêm Alexander Wendt, “The States System and Global Militarization”, luận văn tiến sỹ, University of Minnesota, Minneapolis, 1989; và Alexander Wendt và Michael Barnett, “The International System and Third World Militarization”, chưa được xuất bản, 1991.
[34] Điều này dẫn tới sự “quốc tế hóa quốc gia”. Để tìm hiểu thêm, xem Raymond Duvall và Alexander Wendt, “The International Capital Regime and the Internationalization of the States”, chưa xuất bản, 1987. Xem thêm R. B. J. Walker, “Sovereignty, Identity, Community: Reflection on the Horizon of Contemporary Political Practice”, trong R. B. J. Walker và Saul Mendlovitz, eds., Contending Sovereignties (Boulder, Colo.: Lynne Rienner, 1990), pp. 159-185.
[35] Về dải quang phổ các thỏa thuận hợp tác an ninh, xem Charles Kupchan và Clifford Kupchan, “Concerts, Collective Security, and the Future of Power”, International Security 16 (Summer 1991), pp. 114-161; và Richard Smoke, “A Theory of Mutual Security”, trong Richard Smoke và Andrei Kortunov, eds., Mutual Security (New York: St. Martin’s Press, 1991), pp. 59-111. Bài viết sau đây cũng có thể hữu ích: Christopher Jencks, “Varieties of Altruism”, trong Jan Mansbridge, ed., Beyond Self-Interest (Chicago: University of Chicago Press, 1990), pp. 53-67.
[36] Về vai trò của bản sắc tập thể trong việc giảm thiểu các khó khăn cho hành động tập thể, xem Bruce Fireman và William Gamson, “Utilitarian Logic in the Resource Mobilization Perspective”, trong Mayer Zald và John McCarthy, eds., The Dynamics of Social Movements (Cambridge, Mass.: Winthrop, 1979), pp. 8-44; Robyn Dawes et al., “Cooperation for the Benefits of Us-Not Me, or My Conscience”, trong Mansbridge, Beyond Self-Interest, pp. 97-110; và Craig Calhoun, “The Problem of Identity in Collective Action”, trong Joan Huber, ed., Macro-Micro Linkages in Sociology (Beverly Hills, Calif.: Sage, 1991), pp. 51-75.
[37] Xem Thomas Risse-Kappen, “Are Democratic Alliances Special?”, chưa xuất bản, Yale University, New Haven, Conn., 1991. Các luận điểm này cũng phù hợp với thuyết nữ quyền. Để tìm hiểu khái niệm của thuyết nữ quyền về bản chất tương tác của cái tôi, xem Paula England và Barbara Stanek Kilbourne, “Feminist Critiques of the Separative Model of Self: Implication for Rational Choice Theory”, Rationnality and Society 2 (4/1990), pp. 156-171. Về quan điểm của thuyết nữa quyền về quyền lực, xem Ann Ticknerr, “Hans Morgenthau’s Principles of Political Realism: A Feminist Reformulation”, Millennium 17 (Winter 1988), pp. 429-440; và Thomas Wartenberg, “The Concept of Power in Feminist Theory”, Praxis International 18 (10/1988), pp. 301-316.
[38] Đó là: nguyên tắc sắp xếp các đơn vị, chuyên biệt hóa chức năng của các đơn vị và phân bổ quyền lực giữa các đơn vị – ND.
[39] Waltz, Theory of International Politics, p. 91.
[40] Xem Waltz, Man, the State, and War; và Robert Jervis, “Cooperation Under the Security Dilemma”, World Politics 30 (1/1978), pp. 167-214.
[41]Ở đây luận điểm của tôi cũng tương tự như phê phán của Rousseau đối với Hobbes. Để tìm hiểu thêm về quan điểm hiện thực của Rousseau, xem Michael Williams, “Rousseau, Realism, and Realpolitik”, Millenium 18 (Summer 1989), pp. 188-204. Williams cho rằng đối với Rousseau “tình huống săn nai”không hề là khởi điểm căn bản của trạng thái tự nhiên mà thể hiện sự tha hóa của con người. Ở trang 190, Williams trích dẫn mô tả của Rousseau về con người trong trạng thái tự nhiên: “Con người chỉ biết có mình; con người không nhận thức cuộc sống của mình với người khác hoặc đối lập với người khác; con người không ghét mà cũng không yêu bất kỳ điều gì mà chỉ tự giới hạn ở những bản năng sinh học; con người không là ai cả, con người chỉ là con vật”. Để tìm hiểu một phê phán khác về tình trạng tự nhiên của Hobbes tương tự như quan niệm kiến tạo của tôi về vô chính phủ, xem Charles Landesman, “Reflection on Hobbes: Anarchy and Human Nature”, trong Peter Caws, ed., The Causes of Quarrel (Boston: Beacon, 1989), pp. 139-148.
[42]Trên thực tiễn, giả định như vậy vẫn có vấn đề, đơn cử như quá trình phi thực dân hóa và sự hỗ trợ các nước thuộc Thế giới thứ ba của cộng đồng quốc tế chỉ ra rằng thậm chí hình thức tổ chức quốc gia sơ khai nhất cũng được hình thành bởi cộng đồng các quốc gia. Xem Robert Jackson và Carl Rosberg, “Why Africa’s Weak States Persist: The Empirical and the Juridical in Statehood”, World Politics 35 (10/1982), pp. 1-24.
[43] Waltz, Theory of International Politics, pp. 74-77.
[44] Xem James Morrow, “Social Choice and System Structure in World Politics”, World Politics 41 (10/1988), p. 89. Cách tiếp cận hành vi đối với xã hội hóa của Waltz tương phản với cách tiếp cận nhận thức được Ikenberry và các học giả nhà Kupchan nêu ra trong các bài viết: G. John Ikenberry và Charles Kupchan, “Socialization and Hegemonic Power”, International Organizations 44 (Summer 1989), pp. 283-316; và Kupchan và Kupchan, “Concerts, Collective Security, and the Future of Europe”. Cách tiếp cận của họ cũng gần giống với tôi, tuy nhiên họ quan niệm xã hội hóa như một chiến thuật nhắm vào giới tinh hoa một nước để thay đổi hệ giá trị của nước đó, thay vì xem xã hội hóa như một đặc điểm phổ quát của quá trình tương tác xã hội trong đó mọi bản sắc và lợi ích được sản sinh và nhào nặn.
[45] Về thuyết cá thể, xem Richard Ashley, “The Poverty of Neorealism”, International Organizations 38 (Spring 1984), pp. 225-286; Wendt, “The Agence-Structure Problem in International Relations Theory”; và David Dessler, “What’s at Stake in the Agent-Structure Debate?”, International Organizations 43 (Summer 1989), pp. 441-474. Về thuyết cấu trúc, xem R. B. J. Walker, “Realism, Change, and International Political Theory”, International Studies Quarterly 31 (3/1987), pp. 65-86; và Martin Hollis  và Steven Smith, Explaining and Understanding International Relations (Oxford: Clarendon Press, 1989). Thuyết hành vi thuộc phái tân hiện thực cũng giải thích làm cách nào mà các nhà tân hiện thực dung hợp được cách tiếp cận cấu trúc của họ với cách tiếp cận cá thể của thuyết lựa chọn duy lý. Về đặc tính cấu trúc-hành vi của phái tân hiện thực, xem thêm Spiro Latsis, “Situational Determinism in Economics”, British Journal for the Philosophy of Science 23 (8/1972), pp. 207-245.