Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

Đọc “Mao: Câu chuyện không được biết”

maobook_edited
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Từ giữa năm 2005, cuốn tiểu sử này đã làm sôi nổi dư luận các nước nói tiếng Anh (xin đừng lầm với quyển “Mao: A life” của Philip Short, xuất bản năm 2001, vừa được dịch ra tiếng Pháp). Hai tác giả là vợ chồng: bà Jung Chang, sinh trưởng ở Trung Quốc, từng là một Hồng Vệ  Binh trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hoá, đã viết cuốn tự truyện về gia đình bà (“Hoang Nga” (Wild Swans) xuất bản năm 1991) được nhiều người khen, và ông Jon Halliday, sử gia người Anh, nguyên chủ biên tạp chí thiên tả New Left Review.
“Mao: Câu chuyện không được biết” quả là một công trình đồ sộ.  Đóng góp rất lớn của hai tác giả là những thông tin mà họ khai thác từ văn khố của Nga và các nước Đông Âu cho đến gần đây còn là bí mật, và từ phỏng vấn hầu hết những người (hiện còn sống) đã tiếp xúc hoặc liên lạc thư tín với Mao (từ các chính khách, kí giả, nhà văn, cho đến người giặt đồ lót cho Mao), dù ít hay nhiều.  Sách đầy ắp những giai thoại “hấp dẫn”, cầm lên đọc thì khó lòng đặt xuống.
***
Nhìn qua con mắt của Chang và Halliday, có thể nói Mao là một quái vật khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, hơn cả Hitler, Stalin, Tần Thủy Hoàng, hay bất cứ ai khác.  Đó là một người hèn nhát, lười biếng, quỷ quyệt, độc ác, ích kỉ, tham quyền, cơ hội, vô lương tâm, vô nhân đạo.  Ông ta là một người thực dụng, không lý tưởng, chỉ theo đuổi quyền hành cho bản thân.  Chưa hết: Mao ham gái tơ, thích ăn uống, và ở dơ.*

Về mặt chính trị, Mao không hề là một lãnh tụ nông dân, một người Mác xít thực tâm, hay một chiến lược gia có tài.  Tất cả những sai lầm, thất bại ở Trung Quốc đều là lỗi của Mao, và nếu Trung Quốc có thành công nào thì hẳn đó không là nhờ Mao.  Mọi “chiến thắng” quân sự của Mao là do may mắn, hoặc nhờ can thiệp của Liên Xô, của Nhật, của Mỹ, và do sự triệt hạ không nương tay của Mao đối với kình địch của ông.  Đảng Cộng sản Trung Quốc chẳng phải do Mao sáng lập, nhưng là con đẻ của Liên Xô: từ việc chu cấp tiền bạc, sắp đặt tổ chức, đến bổ nhiệm nhân sự.  Thực vậy, Mao trở nên lãnh tụ đảng này cũng là do sự chọn lựa của Stalin, mà Stalin chọn Mao chỉ vì Mao giỏi nịnh bợ.
Chang và Halliday cho rằng, phong trào Trăm Hoa Đua Nở đã đi quá trớn, hủy hoại thanh danh, sự nghiệp, thậm chí tính mạng của bao nhiêu người, không phải vì sự vụng tính của Mao (như nhiều học giả đã phân tích), nhưng là cái bẫy mà Mao đã thâm độc giăng ra để loại trừ những thành phần chống đối.
Tương tự, “Bước Đại Nhảy Vọt” (mà theo Chang và Halliday đã gây 38 triệu tử vong, một con số mà hầu hết sử gia khác đều cho là quá cao) không phải là một thí nghiệm công nghiệp hoá kiểu Mác, rồi thất bại vì quản lí tồi tệ, như nhiều người vẫn tưởng. Hai tác giả này quyết chắc (dù rất ít bằng cớ) rằng đó là mưu đồ của Mao ngay từ đầu: sung công thực phẩm của nông dân Trung Quốc để, một phần, đổi lấy vũ khí của Đông Âu, và phần khác, viện trợ cho các nước Á Phi để củng cố hậu thuẫn chính trị quốc tế.  Cuối cùng, cuộc Cách Mạng Văn Hoá (mà Chang và Halliday gọi là cuộc “đại thanh trừng”) đơn giản chỉ để trả thù, không ăn nhập gì đến kế hoạch “trẻ hoá” đảng Cộng Sản Trung Quốc, như nhiều người vẫn tưởng.
Dù phải thán phục Chang và Halliday đã bỏ nhiều thời giờ (hơn mười năm) và công sức cho tác phẩm đồ sộ này (mà chắc chắn mọi khảo cứu về Mao từ rày về sau phải lấy làm khởi điểm), người đọc khó tránh vài thất vọng.
Thứ nhất là về mặt sử dụng tư liệu và nhân chứng.  Tuy hai tác giả viện dẫn hàng ngàn tài liệu, song phần lớn các tài liệu này không được cho nguồn chính xác để những học giả khác có thể kiểm chứng hoặc khai thác thêm. Cũng thế, có thể là Chang và Halliday đã phỏng vấn hàng trăm nhân chứng (danh sách có trong phụ lục) chưa ai khác phỏng vấn (nhất là những người ở Trung Quốc), nhưng không cho biết những người này hiện ở đâu, làm sao tác giả đã tìm ra và kiểm chứng họ. Khi hai tác giả dựa vào tài liệu Trung Quốc và Nga (hai quốc gia mà họ biết rất rõ và thành thạo ngôn ngữ) để kể lại một vụ việc thì họ rất đáng tin, nhưng khi họ dùng tư liệu các nước khác thì độ khả tín có kém hơn nhiều.
Những cuộc “đàm thoại bí mật” giữa nhiều nhân vật chủ chốt, dù dựa trên các tài liệu toà án quý hiếm mà hai tác giả có công khám phá, vẫn phải tồn nghi.  Chang và Halliday bảo là đã “nói chuyện” với nhiều người, song, sau khi sách được xuất bản, một số người này cho biết chỉ nói qua loa vài câu với Chang và Halliday, không có gì đáng gọi là chứng từ như là ấn tượng được gieo trong sách.
Điều nữa: làm sao hai tác giả biết Mao nghĩ gì (nhất là ngay trước lúc Mao chết)? Vài “phát giác” về liên hệ Việt-Trung (nhất là thời kỳ 1950-60) mà Chang và Halliday kể cũng khá thú vị.  Tuy nhiên, vì những vụ việc này cũng đã có trong một số sách báo trước đây, người đọc không khỏi phân vân: Hai tác giả này dùng cùng nguồn, hay thậm chí chỉ căn cứ vào các sách báo kia, hoặc dựa vào tư liệu, nhân chứng nào khác?  Thiếu dẫn chứng rõ ràng, “Mao” của Chang và Halliday không có ích nhiều là vì thế.  Đàng khác, một số sự kiện đã khá quen thuộc thì ở đây được diễn giải một cách mới, nhưng tác giả không cho biết căn cứ vào đâu mà họ bác bỏ các diễn giải khác. (Đáng nghi ngờ hơn, lập luận của Chang và Halliday thường rập khuôn lập luận của phe cực hữu ở Mỹ, Đài Loan, và của thành phần chống đối ở Trung Quốc.)
Thứ hai, để chứng tỏ sự xấu xa vô hạn của Mao, Chang và Halliday bật qua một cực đoan khác: thần tượng hóa đối thủ của Mao (như Lưu Thiếu Kỳ) một cách ngây thơ, phi lý.  Dưới mắt hai tác giả, hầu như không một kình địch nào của Mao (trong lẫn ngoài đảng) biết phản trắc, tráo trở.  Tội lớn nhất của họ là nhu nhược và bất tài!  “Mao” còn bị tì bởi nhiều mâu thuẫn. Chẳng hạn như Chang và Halliday cho rằng Mao là người dốt nát, lười đọc (cái tủ sách đồ sộ xung quanh giường ngủ của Mao chỉ để làm cảnh, họ khẳng định), nhưng khi muốn chứng minh rằng Mao nào có gian khổ gì trong cuộc Trường Chinh, Chang và Halliday lại cho biết Mao nằm trên cáng đọc sách suốt thời gian ấy.
Thứ ba, hai tác giả kể lại đời Mao hầu như biệt lập với bối cảnh lịch sử và xã hội Trung Quốc, trước và trong khi Mao cầm quyền.  Trước Chang và Halliday, mọi tác giả khác đều nhìn nhận rằng Mao (như Tần Thuỷ Hoàng ngày xưa) dù là “quái vật” đến đâu, cũng đã đem lại cho Trung Quốc vài thay đổi có ích (chẳng hạn như cải cách ruộng đất). Hai tác giả này tuyệt đối không nhìn nhận cái có thể ấy, lắm khi với một giải thích khá khôi hài. Chẳng hạn như, thay vì cho rằng ít ra Mao cũng có công giải phóng phụ nữ và chấm dứt nạn tảo hôn (như đánh giá của đa số sử gia), Chang và Halliday kết tội Mao đã làm mất “sự dịu dàng của phụ nữ”. Họ mô tả sự tàn bạo của Mao nhưng không phân tích, tìm hiểu lí do của sự tàn bạo ấy.  Bởi vậy, hình ảnh Mao trong sách này quá “phẳng”, quá trắng đen, từ lúc sinh đến khi chết, thiếu hẳn chiều sâu và cái phức tạp thật sự của một con người, dù quỷ quái đến đâu, và những thay đổi phải có trong cuộc đời của người ấy.
Ai đã sẵn định kiến (xấu) về Mao sẽ rất tâm đắc với “Mao” của Chang và Halliday. Song quyển này không phải là một công trình có tính học thuật cao. Trong sự hăng say (dù có là chính đáng) đập phá thần tượng Mao, hai tác giả đã lờ đi mọi bằng chứng không ăn khớp với chủ đích của họ khi viết cuốn sách này.
Đây là bài điểm cuốn sách của Jung Chang và Jon Halliday (2005), “Mao: The Unknown Story,” New York: Knopf, 832 trang, 35 USD.
Nguồn: Viet-studies
—————–
*Mao suốt đời không đánh răng, ít khi tắm (chỉ triệu tập mỹ nữ lấy khăn ướt lau mình).  Lâm Bưu cũng thế.  Có lẽ “bầu không khí” trong các buổi họp của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc rất ngột ngạt!

Bài diễn văn bí mật của Khrushchyov và sự cáo chung của Chủ nghĩa cộng sản


Trong lịch sử, có những sự kiện ban đầu tưởng như không quan trọng, hoặc ý nghĩa của chúng đã bị che dấu, nhưng hóa ra lại gây chấn động thế giới. Cái gọi là “Bài diễn văn bí mật” của Nikita Khrushchyov tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô diễn ra cách đây 50 năm [1956] là một sự kiện như thế. Tôi tin, nó chỉ đứng sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và Cuộc chiến của Hitler bắt đầu năm 1939 trong danh sách những thời khắc quan trọng nhất của thế kỷ 20.
Khi đó, phong trào Chủ nghĩa cộng sản có vẻ đang thống trị lịch sử, không chỉ riêng ở Liên Xô. Giữa những năm 1950, Chủ nghĩa cộng sản đang trên đà tấn công châu Âu, cũng như bành trướng sang các nước thuộc Thế giới thứ ba. Chủ nghĩa tư bản dường như ngắc ngoải. Mọi khiếm khuyết của Chủ nghĩa cộng sản được coi chỉ là nhất thời, như những ổ gà trên con đường dẫn đến xã hội được sinh ra sau đó. Một phần ba nhân loại coi Liên Xô là người anh cả dẫn dắt thế giới tiến đến Chủ nghĩa xã hội trên toàn cầu.
Đại hội XX đã đặt dấu chấm hết cho điều đó. Nó là khoảnh khắc của sự thật, một sự thanh tẩy từ bên trong sự tàn bạo của Chủ nghĩa Stalin. Bài diễn văn của Khrushchyov lấy cảm hứng từ những hoài nghi và phản ảnh nảy sinh trong chính Phong trào cộng sản trên toàn thế giới.
Những động cơ của Khrushchyov khi ông đứng lên bục phát biểu buổi sáng [thực ra là ngay sau nửa đêm] hôm 25 tháng 2 năm 1956, theo ông, là hoàn toàn đạo đức. Sau khi bị hạ bệ, cô lập trong dacha [nhà nghỉ dưỡng ở vùng quê] của mình, ông viết, “Hai bàn tay tôi vấy máu. Tôi đã làm mọi thứ mà những người khác cũng làm. Nhưng nếu hôm nay tôi phải bước lên bục để tố cáo Stalin lần nữa, tôi vẫn sẽ làm. Rồi một ngày tất cả sẽ phải chấm dứt.”
Tất nhiên, Khrushchyov có liên quan mật thiết tới các cuộc đàn áp của Stalin, nhưng ông cũng không biết đến nửa những gì đang diễn ra. Toàn bộ hệ thống chính phủ Stalin được xây dựng trên sự bí mật tuyệt đối, trong đó chỉ duy có mình Tổng Bí thư biết được mọi chuyện. Nền tảng sức mạnh của Stalin không phải khủng bố, mà là độc quyền thông tin. Chính Khrushchyov còn choáng váng khi phát hiện ra trong những năm 1930 và 1940, khoảng 70% số Đảng viên đã bị thủ tiêu.
Ban đầu, Khrushchyov không có ý định giữ bí mật bài tố cáo Stalin của mình. 5 ngày sau Đại hội, bài phát biểu của ông đã được gửi tới tất cả lãnh đạo các nước cộng sản và được đọc trong các buổi họp chi bộ địa phương trên khắp Liên Xô. Nhưng người ta không biết thảo luận ra sao về nó. Và với lí do chính đáng, dù một phần sự thật đã hé lộ, vấn đề trong quá trình phi Stalin hóa là người ta không biết phải làm gì tiếp theo.
Sau Đại hội, việc lý tưởng cộng sản là sai lầm và thối nát tận mạng đã rõ. Nhưng không có hệ tư tưởng khác thay thế, và cơn khủng hoảng – sự mục ruỗng chậm chạp trở nên rõ ràng trong gian đoạn trì trệ dưới thời Leonid Brezhnev – bắt đầu với bài phát biểu của Khrushchyov đã kéo dài suốt 30 năm, cho đến khi Mikhail Gorbachyov lên nhận trách nhiệm cải cách.
Những hoài nghi sau Đại hội có thể đã chớm xuất hiện, nhưng chúng vẫn gieo rắc những bất ổn thật sự. Trong cuộc biểu tình đầu tiên làm rung chuyển thế giới cộng sản năm 1956, rất nhiều người ở Gruzia đã yêu cầu sa thải Khrushchyov và khôi phục những ký ức về Stalin. Cuộc nổi dậy ở Ba Lan và hỗn loạn hơn là Cách mạng Hungary 1956 đã đấu tranh cho điều ngược lại. Người Ba Lan yêu cầu một chế độ cộng sản có nhân tính, còn người Hungary, sau khi Imre Nagy tìm cách cải tổ chủ nghĩa cộng sản, cuối cùng chối bỏ nó hoàn toàn.
Tất cả những cuộc biểu tình này đã bị đàn áp dã man, kết quả là nhiều người cộng sản Tây Âu đã rời bỏ Đảng sau khi vỡ mộng. Khrushchyov cũng làm bùng lên mối hận thù giữa Mao Trạch Đông của Trung Quốc và Liên Xô, cho phép Mao soán lấy vương miện của người lãnh đạo cách mạng thế giới.
Lo lắng trước những cuộc biểu tình, Khrushchyov đã cố gắng xoa dịu chiến dịch chống Stalin. Các tù nhân trong Gulag [Trại cải tạo lao động của Liên Xô] tiếp tục được thả, nhưng diễn ra trong im lặng. Những người sống sót sau cuộc thanh trừng được phục hồi Đảng tịch, họ được nhận công việc mới, nhưng bị cấm bàn luận về những nỗi kinh hoàng mà họ từng phải chịu đựng.
Sự câm lặng đó kéo dài cho đến năm 1961, khi Khrushchyov tiết lộ thêm những tội ác dưới thời Stalin. Chúng được thông báo và bàn luận công khai trên truyền hình và đài phát thanh. Thi thể Stalin bị đưa khỏi Quảng trường Đỏ, những đài tưởng niệm Stalin bị đập phá, các thành phố khôi phục tên truyền thống của họ. Stalingrad đổi lại thành Volgograd.
Ý tưởng về Gulag đi vào văn học với tác phẩm Một ngày trong đời của Ivan Denisovich của Alexander Solzhenitsyn. Chiến dịch chống Stalin thứ hai này kéo dài trong 2 năm, gần như không đủ để thay đổi tinh thần đất nước.
Đại hội XX đã đập tan Phong trào cộng sản thế giới, hàn gắn những rạn nứt là điều không thể. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng lòng tin, bởi mối đe dọa lớn nhất đối với Chủ nghĩa cộng sản không phải là Chủ nghĩa đế quốc hay bất đồng ý thức hệ, mà là sự tỉnh ngộ và nghèo nàn trí tuệ của chính nó.
Vậy nên dù ngày nay nước Nga thường đổ lỗi cho Gorbachyov hay Boris Yeltsin vì sự sụp đổ của Liên Xô, làm như thế là vừa vô ích vừa vô dụng. Chế độ cộng sản đã chết từ trước, có thể đem nước Nga thoát khỏi đống đổ nát một cách nguyên vẹn là công lớn của Yeltsin. Dù tương lai nước Nga là không chắc chắn, lịch sử của nó đang trở nên rõ ràng hơn, một phần bởi chúng ta biết Đại hội XX đã khởi đầu giai đoạn đem lại dấu chấm hết cho chế độ chuyên quyền của Liên Xô. ♦
Roy Medvedev, sử gia và nhân vật bất đồng chính kiến (với chính quyền Stalin), là tác giả của nhiều cuốn sách, trong đó có Stalin: Let History Judge (Stalin: Hãy để lịch sử phán xét), và Khrushchev: The Years in Power (Khrushchyov: Những năm nắm quyền) (viết cùng Zhores Medvedev).
Nguồn: Roy Medvedev. “Khrushchev’s Secret Speech and End of Communism,” Project Syndicate, Feb. 20, 2006.
Nguyễn Huy Hoàng dịch.
https://hoanghannom.wordpress.com/2015/02/18/khrushchev/

Noam Chomsky: giáo dục và trí thức

Đọc Nhận diện quyền lực, tôi có cảm giác như được gặp ở Chomsky hai con người trong một vậy: một người quen và một người khai sáng, đặc biệt là khi ông thảo luận về những vấn đề giáo dục và trí thức trong xã hội hiện đại.
Noam Chomsky, cái tên này tôi nghe thấy lần đầu tiên cách đây chín năm, khi thực hiện bộ phim chân dung về nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo tại thành phố Hồ Chí Minh, qua lời phát biểu của tiến sỹ Hoàng Dũng. Khi đó, để nhấn mạnh về những đóng góp to lớn của Cao Xuân Hạo trong lĩnh vực ngôn ngữ học cấu trúc, ông Hoàng Dũng có nói về một phản biện khoa học đầy ý nghĩa nào đấy mà Cao Xuân Hạo nhắm vào Chomsky. Tôi nghe thế và cũng chỉ biết đến thế (vì thật ra tôi là kẻ ngoại đạo với ngôn ngữ học). Thế nhưng gần đây, sau khi đọc xong cuốn Nhận diện quyền lực của Noam Chomsky (Hoàng Văn Vân dịch, Đinh Hoàng Thắng hiệu đính, NXB Tri Thức, 2012), tôi mới được biết ông là một nhà ngôn ngữ học hàng đầu thế giới ở thế kỷ XX, đồng thời là một trí thức cánh tả Mỹ đầy tinh thần dấn thân và đã thực sự dấn thân bằng các hoạt động xã hội.
Giáo dục, theo một cách hiểu phổ biến (và theo nghĩa tích cực) là tất cả những hoạt động mà xã hội có thể làm để biến một con người tự nhiên thành một con người văn hóa, và đến một ngưỡng văn hóa nào đấy, anh ta được coi là một trí thức. Trong xã hội hiện đại, giáo dục phát huy công năng của nó một cách hiệu quả nhất là ở môi trường nhà trường, từ cấp tiểu học đến cấp đại học và sau đại học. Quốc gia nào có một triết lý giáo dục đúng, một chiến lược giáo dục đúng và một hệ thống các hoạt động giáo dục đúng, quốc gia ấy sẽ sản sinh những thế hệ trí thức ưu tú, và đó sẽ là nguồn nhân lực quý giá cho sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của cả một dân tộc. Về đại thể là như vậy. Thế nhưng, qua sự quan sát, trải nghiệm và đánh giá của Chomsky về giáo dục và trí thức, điều gì đã và đang diễn ra ở nước Mỹ, một siêu cường kinh tế, mà một trong những lý do khiến nó trở thành siêu cường kinh tế là vì đó là quốc gia có những trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới như Harvard, Yale, Princeton, Columbia v.v…? Phải nói rằng đó là cái nhìn khá bi quan: “Các trường đại học không tạo ra đủ kinh phí để tự nuôi mình từ tiền học phí: chúng là những thể chế ký sinh cần phải được hỗ trợ từ bên ngoài, và điều đó khiến chúng phụ thuộc vào các cựu sinh viên giàu có, vào sự hợp tác, và vào chính phủ, các nhóm người có những lợi ích cơ bản giống nhau. Đấy, chừng nào các trường đại học còn phục vụ cho những lợi ích đó, thì chúng còn được tài trợ. Nếu chúng không phục vụ cho những lợi ích đó, chúng bắt đầu gặp vấn đề” (Sđd, tr. 337, 338). Với một môi trường đại học bị điều kiện hóa như vậy, người theo học sẽ được dạy những gì? Một sự mô tả đầy tính giễu cợt của Chomsky: “Dạy những cái hào nhoáng của xã hội: các bạn nên mặc kiểu quần áo nào, uống rượu porto như thế nào cho đúng kiểu, có một cuộc nói chuyện lịch sự như thế nào mà không cần phải nói về những chủ đề nghiêm chỉnh, nhưng tất nhiên lại phải thể hiện rằng các bạn có thể nói về những chủ đề nghiêm chỉnh nếu các bạn thiếu tế nhị khi thực sự nói chuyện, tất cả những thứ mà một người trí thức được cho là phải biết cư xử” (Sđd, tr. 345). Dĩ nhiên, tỉnh táo và khách quan, chúng ta biết rằng sự đào tạo tại các trường đại học tinh tuyển ở Mỹ không hoàn toàn là khôi hài như thế, nhưng Chomsky cũng không phải không có lý khi thể hiện sự giễu cợt của mình. Ông từng xác tín: “Trách nhiệm của trí thức là phải nói lên sự thật, vạch trần sự dối trá” (tôi chắc rằng đây cũng là xác tín của tất cả những trí thức tử tế trên toàn thế giới). Thế nhưng, người trí thức Mỹ, sản phẩm đào tạo của các trường đại học danh tiếng tại Mỹ (một cách mặc định) liệu có thể làm, có muốn làm và có được làm như vậy hay không? Đó là một câu hỏi thực sự quan trọng. Câu trả lời là “Không”. Nếu là “Có”, thì anh ta buộc phải trả giá: hoặc bị vô hiệu hóa (bị phải “ngồi chơi xơi nước” theo cách nói của dân gian Việt Nam), bị từ chối được truyền bá tìm hiểu và nhận thức của mình về những sự thật đang diễn ra trong đời sống chính trị – xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng và các phương tiện xuất bản “chính luồng”, thậm chí còn nhiều điều tồi tệ hơn nữa đã và đang xảy ra. Vì sao như vậy? Vì, với một nhãn quan minh triết, một sự thâm nhập các kho dữ liệu (chính thống và không chính thống) không thể kỹ càng hơn, và một tinh thần phê phán triệt để của người trí thức dấn thân chân chính, Chomsky đã nhận ra bản chất và động cơ trong chính sách nội trị và đối ngoại của giới chóp bu Mỹ (ít nhất kể từ sau thời kỳ Đại thế chiến thứ II đến nay): chủ nghĩa nước lớn, sự bị điều khiển gần như tuyệt đối bởi các tập đoàn kinh tế và các công ty xuyên quốc gia, mục tiêu lợi nhuận tối đa của những người giàu trên cơ sở sự bần cùng hóa những người nghèo, những người da đen, những người nhập cư gốc châu Á và Latinh. Chính bởi thế, trong Nhận diện quyền lực, Chomsky đã vạch trần sự cắt xén, sự bưng bít, thậm chí cả sự xuyên tạc sự thật trên các tờ báo (được coi là có uy tín) của báo chí Mỹ, như Washington Post, New York Times hoặc Wall Street Journal… và các công trình nghiên cứu chính trị – xã hội của nhiều học giả Mỹ, “những người bán mình ngay cả khi họ nghĩ họ đang làm một việc rất đúng”. Ông lý giải: “Các thể chế quyền lực rõ ràng không muốn bị điều tra. Tại sao họ lại như vậy nhỉ? Họ không muốn công chúng biết họ hoạt động như thế nào, có thể những người ở bên trong những thể chế đó hiểu được chúng hoạt động như thế nào, nhưng họ không muốn bất kỳ người nào khác biết, bởi vì điều đó sẽ đe dọa và ngầm phá hoại quyền lực của họ” (Sđd, tr. 350). Từ tất cả những điều này, Chomsky đã đặt lại vấn đề quan niệm về người trí thức trong đời sống xã hội, một quan niệm rất đáng để tham khảo khi mà đất nước chúng ta đang nỗ lực xây dựng một nền kinh tế tri thức, trong đó người trí thức đóng vai trò đầu tàu. Trí thức là gì? Là những người hoạt động trong các lĩnh vực tinh thần, là giới “cổ cồn trắng”, làm những công việc không dính đến lao động chân tay? Không hề! Đôi khi, thực tế là thường khi, đó chỉ là những công chức văn hóa, những nhân viên văn phòng, những cá nhân người ăn lương để thao tác với đủ loại giấy tờ công văn sổ sách thừa thãi và vô bổ. Họ bị thao túng bởi những quyền lực hữu hình và vô hình. Họ không sản sinh các ý tưởng, hoặc nếu có, thì cũng chỉ là những ý tưởng lặt vặt, chẳng hề giúp cho người ta có một cái nhìn đúng hơn, hoặc một cái nhìn khác đi nào đấy, dù nhỏ thôi, về thế giới và về cách mà thế giới đang vận hành. Tôi nói đã gặp Chomsky như “một người quen” chính là ở điểm này: từ trải nghiệm của cá nhân mình, tôi đã gặp không ít nhà báo (được mặc định là trí thức) mà chẳng hề làm báo một cách đúng nghĩa, không ít nhà nghiên cứu (được mặc định là trí thức) mà cả đời chỉ nói đi nói lại những điều “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” trong các đề tài nghiên cứu được nhận kinh phí từ ngân sách công. Trong khi đó, như Chomsky đã nhiều lần nêu ví dụ, không ít người hoạt động trong các lĩnh vực lao động chân tay (những người không được xã hội mặc định là trí thức, đương nhiên), để làm tốt công việc của mình, họ đã phải học và phải bỏ ra một lượng chất xám thậm chí còn nhiều hơn loại người kể trên, và nó có ích đối với xã hội. Tỷ như những người thợ sửa chữa xe hơi: họ biết chiếc xe bị hỏng ở đâu và biết cách làm thế nào để nó vận hành trơn tru trở lại; họ phải học, thậm chí phải đọc sách để làm điều đó, đọc những cuốn sách mà có khi một nhà ngôn ngữ học khét tiếng thế giới đến như Chomsky cũng chẳng hiểu gì. Vậy ai mới thực sự là trí thức ở đây?
Câu chuyện giáo dục cũng vậy. Hình như cả thế giới này, Việt Nam cũng không hề là ngoại lệ, đều đang lớn tiếng than phiền về tình trạng đạo đức suy thoái, tỷ lệ tội phạm gia tăng, ma túy được sử dụng phổ biến trong giới trẻ, hiện tượng bạo lực và giết người lan rộng v.v và v.v… Tất cả những điều nhức nhối ấy đều được/bị đổ lỗi cho giáo dục không đầy đủ. Không sai. Nhưng xin hãy đặt câu hỏi: tại sao những điều nhức nhối ấy phần nhiều xảy ra ở những nơi mà ta quen gọi là vùng sâu vùng xa, những vùng trũng về văn hóa và ít sinh lợi về kinh tế? Chomsky cũng liên tục đặt những câu hỏi tương tự như vậy: ở Mỹ, tại sao điều đó lại chỉ xảy ra ở những khu vực của người nghèo, những khu nhà ổ chuột, những khu của người da đen và người nhập cư gốc châu Á, Latinh hoặc Đông Âu? Phải chăng đó là những loại công dân “ngu lâu, đần dai, khó đào tạo”, những “ngoan dân cố hữu từ trong trứng”, học mãi mà không thèm thuộc bài? Hay phải chăng đang tồn tại một thứ chính sách giáo dục chỉ chú ý đến chuyện giáo dục cho con em của những người có tài khoản lớn trong ngân hàng và bỏ qua đám dân đang phải vật lộn từng ngày để kiếm cái cho dạ dày được co bóp? Trong chuyện này, báo chí truyền thông có “cái tội” của nó. Chomsky cho chúng ta một ví dụ tuyệt hay: tờ New York Times đăng một bài viết nói về vấn đề “các gen tồi” đang lên ngôi ở nước Mỹ, và một phần của chứng cứ là điểm số các bài kiểm tra trí thông minh (IQ) đang giảm dần đều trong những năm gần đây, trẻ em học hành không tốt bằng ngày trước. Họ giải thích rằng: “Lý do là những người da đen, những người tiến hóa từ châu Phi, tiến hóa trong một môi trường khắc nghiệt, vì vậy mà họ tiến hóa theo cách mà những người mẹ da đen không nuôi dưỡng con cái họ – và đồng thời họ sinh sản nhiều, tất cả họ đều đẻ như gà. Hậu quả là nguồn gen ở Mỹ bị ô nhiễm, và hiện nay nó bắt đầu thể hiện trong điểm số của những bài kiểm tra được chuẩn hóa” (Sđd, tr. 518, 519). Chẳng tin vào một thứ lý thuyết tiên nghiệm (và có vẻ hơi… bất lương) như thế, Chomsky nhận định: “Một người bình thường cũng có thể nghĩ rằng vấn đề đó có thể liên quan đến các chính sách xã hội đã đẩy 40% trẻ em ở thành phố New York xuống dưới chuẩn nghèo đói, nhưng vấn đề đó không bao giờ xuất hiện trên tờ New York Times” (tr. 518). Vì sao vậy? Vì những nhà báo ở đó (lại một lần nữa được mặc định là những người trí thức) không muốn, hoặc không được phép, cho nó xuất hiện. Người trả tiền là người có quyền chọn nhạc, vậy thôi!
Trong Nhận diện quyền lực, ngoài những vấn đề giáo dục và trí thức, Chomsky còn đề cập nhiều vấn đề khác, của toàn thế giới và của chính nước Mỹ, trên tinh thần phê phán quyết liệt của một trí thức cánh tả sâu sắc. (Trí thức cánh tả, theo ông quan niệm: là những người đang đấu tranh cho hòa bình, công lý, tự do, quyền con người, thay đổi xã hội và loại bỏ các cơ cấu quyền lực, trong đời sống cá nhân hoặc trong các thể chế nô dịch con người). Tôi nhận diện con người khai minh của ông chính là ở điểm này. Và còn thêm một vài “thu hoạch” khác nữa mà người viết bài xin được chia sẻ. Thứ nhất, đó là sự ủng hộ cho niềm xác tín của một người bạn vong niên của tôi: thế giới này ngày càng trở nên xa lạ với con người, càng cố hiểu, ta càng không hiểu nổi nó. (Lấy ngay Chomsky làm ví dụ: phê phán tất cả các thể chế quyền lực hiện hành, song dường như ông cũng không trả lời được câu hỏi liệu có thể có cái gì đó tốt đẹp hơn sẽ thay thế chúng? Điểm dừng của ông chăng?) Thứ hai, Alexis de Tocqueville (trong cuốn Nền dân trị Mỹ) đã sai khi cho rằng từ giữa thế kỷ XIX thế giới đã không còn khả năng sản sinh những nhân cách vĩ đại được nữa: vì sự xuất hiện của một nhà khoa học, một trí thức “quái kiệt” như Noam Chomsky ở thế kỷ XX đã quá đủ cho một lời phản biện. Thứ ba, thế giới này, nói như R. Tagore, mãi mãi sẽ chỉ là một “thiên đường xộc xệch”, nhưng hãy cố gắng làm cho nó bớt xộc xệch đi, và đó chính là thiên chức của những thế hệ người trí thức chân chính.
Hoài Nam

Sự trỗi dậy của chủ nghĩa bài Do Thái ở châu Âu

flag_2987636b
Nguồn: Shlomo Ben-Ami, “In Defence of the Jews, Again”, Project Syndicate, 2/2/2015.
Biên dịch: Vũ Trọng Toàn | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Bất chấp ấn tượng được tạo ra bởi những cuộc mít-tinh thống nhất đông đảo trên khắp nước Pháp, cuộc tấn công gần đây đối với tạp chí châm biếm Charlie Hebdo không có nghĩa là tự do ngôn luận đang bị đe dọa nghiêm trọng ở Tây Âu. Điều này cũng không biểu thị rằng chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan bằng cách nào đó sắp nhấn chìm hoặc biến đổi xã hội phương Tây. Mối đe dọa thực sự mà cuộc tấn công làm nổi bật lại là một vấn đề ít được công khai: sự hồi sinh của nạn phân biệt đối xử và bạo lực đối với người Do Thái ở châu Âu.
Charlie Hebdo – vết tích cuối cùng của trào lưu tranh biếm họa tục tĩu và có phần độc ác (savage) đối với các nhân vật chính trị và tôn giáo ở Pháp vào thế kỷ 19 – có thể là một biểu tượng hoàn hảo của sự tự do ngôn luận. Những người châu Âu đã nổi dậy để bảo vệ những nguyên tắc cơ bản, và sự tự do ngôn luận dù có ương ngạnh đến mấy vẫn có một chỗ đứng ở bất kỳ một nền dân chủ nào.
Tương tự, “Eurabia” (Ả-rập hóa châu Âu – NBT), lời tiên tri của Bat Ye’or về tương lai Hồi giáo hóa đối với Phương Tây, không phải là một vấn đề đáng bận tâm. Không đảng Hồi giáo nào nắm giữ ghế ở trong các nghị viện châu Âu, rất ít các nhân vật lãnh đạo Hồi giáo nổi bật tại các trung tâm quyền lực chính về tôn giáo và chính trị ở châu Âu; và trên thực tế các tổ chức của liên minh Châu Âu cũng cơ bản vắng bóng người Arab và người Hồi giáo.
Các nỗ lực của những người cực đoan để tuyển mộ và truyền giáo đối với những tín đồ Hồi giáo trẻ ở Châu Âu không phản ánh sự phát triển vững chắc của chủ nghĩa Hồi giáo – hoặc thậm chí là sự ảnh hưởng của Hồi giáo ở châu Âu. Đúng hơn là, chúng phản ánh sự mong muốn vô cùng tận của những người cực đoan trong việc tạo ảnh hưởng lên một khu vực nơi mà đa số những người Hồi giáo khao khát được hòa đồng, hơn là thách thức những trật tự đã được thiết lập.
Đối tượng thực sự bị đe dọa ở châu Âu là cộng đồng người Do Thái của nó. Trong năm 2006, một người Do Thái ở Pháp là Ilan Halimi đã bị bắt cóc và tra tấn dã man trong một hầm chứa suốt 3 tuần, dẫn đến cái chết của anh ta. Năm 2012, 3 học sinh và một giáo sĩ Do Thái bị bắn hạ ở Toulouse. Và tháng tư gần đây, một cặp đôi Do Thái ở một quận Paris đã bị cướp bởi vì những kẻ tấn công cho rằng “người Do Thái chắc chắn phải có tiền” (mặc dù điều này chẳng giải thích được tại sao sau đó chúng hiếp dâm người phụ nữ). Một tháng sau đó, một phần tử jihad Hồi giáo ở Pháp tấn công một bảo tàng Do Thái ở Brussels, khiến 3 người chết và 1 người bị thương nặng. Một vài tháng sau đó, một đám đông tấn công một giáo đường Do Thái ở Paris.
Không có sự kiện nào nêu trên tạo ra bất cứ một cái gì đó có chút tương đồng với sự giận dữ của công chúng trong những tuần gần đây. Nếu vụ giết 4 người Do Thái ở một siêu thị bán đồ ăn kiêng cho người Do Thái (kosher) ở Paris – vốn được tiến hành bởi một tên đồng đảng với những kẻ đã tấn công Charlie Hebdo trước khi chúng bị bắt – diễn ra trong những bối cảnh khác, thì ta có thể đoán rằng điều này sẽ không thổi bùng lên một phong trào rộng lớn để bảo vệ những giá trị của Cộng hòa Pháp như vậy.
Một vài người có thể lập luận rằng làn sóng bạo lực bài Do Thái ở châu Âu được khuấy lên chủ yếu bởi những người Palestine. Nhưng, theo một cuộc khảo sát năm 2012, nhiều người châu Âu tin rằng những cuộc bạo lực bài Do Thái được tiếp sức bởi thái độ bài xích Do Thái đã tồn tại từ lâu đời, hơn là cảm xúc bài Do Thái nhất thời.
Người Hồi giáo cực đoan truyền bá lòng căm thù đối với người Do Thái từ trước khi chủ nghĩa phục quốc Do Thái ra đời rất lâu, và nó sẽ tiếp tục như vậy kể cả sau khi một nhà nước Palestine ra đời. Căn cứ vào đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu sự phổ biến ngày càng tăng của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan làm khuấy lên bạo lực đối với người Do Thái bằng cách thu hút sự chú ý của những người Hồi giáo trẻ tuổi đang tuyệt vọng ở châu Âu và các nơi khác.
Nhưng vấn đề còn nằm sâu hơn nữa, tạo cho người Do Thái cảm giác mạnh mẽ rằng họ sẽ không có tương lai ở châu Âu. Một cuộc khảo sát của YouGov gần đây chỉ ra rằng một phần lớn dân số Pháp và Anh chia sẻ quan điểm bài xích Do Thái. Một cuộc khảo sát khác, được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu về Định kiến ở Đại học Warsaw, chỉ ra rằng trong năm 2013, 63% người Ba Lan tin rằng người Do Thái âm mưu kiểm soát hệ thống ngân hàng và truyền thông của thế giới.
Điều này gây nên những tác động nghiêm trọng không chỉ đối với người Do Thái, mà đối với toàn bộ châu Âu. Như Hannah Arendt chỉ ra 6 thập niên trước đây, sự nổi lên của phong trào bài Do Thái thúc đẩy châu Âu rơi vào tay chế độ độc tài. Với việc những nhà cực đoan cánh hữu và các phong trào dân túy giành được ủng hộ ở nhiều nước châu Âu, hệ thống chính trị châu Âu – cùng các giá trị nền tảng của nó – đang ở bên bờ vực nguy hiểm.
Thủ tướng Pháp Manuel Valls đã nhận ra được mối đe dọa này. Trong một bài phát biểu gần đây ở Quốc hội trong đó khơi gợi lại sự phê phán của Emile Zola đối với sự “ngu muội mù quáng” của lòng căm thù Do Thái 120 năm trước đây, ông đã hỏi: “Làm sao mà chúng ta có thể chấp nhận được tiếng hét “Người Do thái chết đi!” có thể được nghe thấy ở đâu đó trên những con phố nước Pháp? Làm sao mà chúng ta có thể chấp nhận được việc người Pháp lại bị giết bởi vì họ là Do Thái?” Sau đó, ông cảnh báo rằng sự phục hồi của chủ nghĩa bài Do Thái ở Pháp – ví dụ như trong sự phản đối việc đưa nạn tàn sát người Do Thái (Holocaust) vào trong các chương trình học ở Pháp – biểu thị một sự khủng hoảng của nền dân chủ.
Nhưng Valls vẫn là chính trị gia châu Âu duy nhất nhấn mạnh về sự nguy hiểm đó với một cảm giác cấp bách mà vấn đề đó xứng đáng nhận được. Đã đến lúc những đồng nghiệp của ông ta phải đứng lên (phản đối tư tưởng bài Do Thái – NBT), và làm như vậy không có nghĩa là loại trừ những chính sách cứng rắn nhằm ảnh hưởng lên chính sách của Israel đối với Palestine.
Cùng lúc đó, sẽ là ảo tưởng nguy hiểm nếu truy tìm giải pháp cho một vấn đề đã ăn sâu trong lịch sử châu Âu – và trong cả lịch sử của Hồi giáo – bằng cách đổ lỗi lên cuộc xung đột Israel – Palestine hoặc lên những người Hồi giáo trẻ tuổi bị cô lập. Những người châu Âu phải có một cái nhìn nghiêm khắc về chính họ nếu họ muốn tránh rơi trở lại nanh vuốt của sự sợ hãi, căm thù và nền chính trị đầy kinh sợ.
Shlomo Ben-Ami, cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Israel, hiện đang là Phó Chủ tịch của Trung tâm Hòa bình quốc tế Toledo. Ông là tác giả của cuốn “Scars of War, Wound of Peace: The Israeli-Arab Tragedy”.

Brzezinski nói về Hoa Kỳ và tình hình thế giới

zbigniew-brzezinski
Nguồn: Zbigniew Brzezinski, “America’s Global Balancing Act”, Project Syndicate, 21/01/2015.
Biên dịch: Lương Khánh Ninh | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Với việc Nga xâm lược Ukraine và sáp nhập Crimea, biên giới giữa Iraq và Syria bị phá vỡ và Trung Quốc ngày càng hành động xác quyết hơn trên Biển Đông và Biển Hoa Đông, kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh có vẻ như đã kết thúc trong năm 2014. Liệu điều này có đúng?
Kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh không thực sự là một “kỷ nguyên”, nó giống với một giai đoạn chuyển tiếp từng bước từ trật tự hai cực thời Chiến tranh Lạnh sang một trật tự quốc tế phức tạp hơn mà bản chất là vẫn tiếp tục xoay quanh hai siêu cường thế giới. Nói ngắn gọn, trục cốt lõi của trật tự thế giới mới ngày càng xoay quanh Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sự ganh đua giữa Mỹ và Trung Quốc xoay quanh hai thực tế quan trọng, khiến nó tách biệt với sự ganh đua thời Chiến tranh Lạnh: không bên nào mang nặng tư tưởng ý thức hệ trong phương hướng hành động, và cả hai bên đều nhận thấy họ cần phải chung sống hòa thuận với nhau.
Cái được cho là chính sách “xoay trục sang châu Á” của Mỹ đã ít được chú ý hơn so với cuộc khủng hoảng tại Ukraine và Trung Đông trong năm 2014. Sự không chắc chắn trong cam kết của Mỹ ở châu Á đã khiến căng thẳng giữa Trung Quốc và các đồng minh châu Á của Mỹ bị đẩy lên đến mức độ nào?
Tôi không đồng tình với các tiền đề của câu hỏi trên. Tôi thực sự nghĩ Mỹ đã tuyên bố rõ ràng rằng lợi ích của cả Mỹ và Trung Quốc cùng nằm ở việc tránh những tình huống mà trong đó hai nước sẽ bị đẩy vào một cuộc đụng độ. Những cuộc đối thoại bước đầu diễn ra gần đây giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng như giữa Trung Quốc và Nhật Bản phát ra tín hiệu cho thấy Trung Quốc cũng nhận ra việc làm gia tăng sự oán hận đã có từ xưa không nằm trong lợi ích của nước này. Vấn đề nghiêm trọng hơn của chính sách “xoay trục sang châu Á” là cách thể hiện bằng ngôn từ của chính sách này, nó ám chỉ một lập trường quân sự được thiết kế để “ngăn chặn” hoặc “cô lập” Trung Quốc. Người Trung Quốc đã nhận thấy một cách rõ ràng hơn rằng chúng ta không chủ ý cố gắng để cô lập họ nhưng chúng ta có lợi ích trong việc tránh các cuộc đụng độ ở miền Viễn Đông, vốn là điều có thể dẫn đến những tác động lan tỏa rộng lớn hơn.
Tập Cận Bình đã sử dụng cuộc chiến chống tham nhũng để tập trung nhiều quyền lực vào ông ta hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Đặng Tiểu Bình 30 năm trước. Ông đánh giá như thế nào về những tiến triển trong nhiệm kỳ Chủ tịch nước của ông Tập?
Quyền lực ở Trung Quốc là một điều không được định nghĩa một cách chính thức và những giới hạn của nó được xác định bởi thực tế chính trị hơn là bởi sự dàn xếp mang tính thể chế. Điều đó khiến ta rất khó để đánh giá liệu quyền lực của Tập Cận Bình có lớn hơn bất kỳ lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Đặng Tiểu Bình hay không. Có điều chắc chắn là ông ta có tính cách chuyên quyền và rõ ràng là tích cực trên trường quốc tế hơn một số người tiền nhiệm. Ông ta cũng rất quyết đoán trong việc tấn công tình trạng tham nhũng ngày càng gia tăng – nguồn gốc quan trọng của những bất ổn trong nước – thậm chí lên đến cả những cấp cao nhất của chính quyền. Về khía cạnh này, ta có thể lập luận rằng quyền lực của Tập bao trùm hơn quyền lực của những người tiền nhiệm, nhưng công bằng mà nói ta cũng phải lưu ý rằng loại hình tham nhũng mà những người tiền nhiệm của ông ta phải đối mặt lại không nghiêm trọng và phổ biến như những năm gần đây.
Đồng thời, việc báo chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày một nhấn mạnh tuyên bố rằng lực lượng vũ trang của Trung Quốc phải được coi là để phục vụ Đảng, không đơn thuần chỉ phục vụ dân tộc, dường như cho thấy nỗi lo ngại rằng quân đội đang xây dựng quan điểm riêng của họ về những vấn đề đối nội của Trung Quốc, bên cạnh việc thể hiện trách nhiệm đối với an ninh quốc gia ngày một quyết đoán hơn. Khá dễ hiểu khi giới tinh hoa trong Đảng không thấy an tâm về điều đó.
Liệu chế độ của Tổng thống Nga Vladimir Putin có thể chống chọi được giá năng lượng ở mức thấp cũng như các lệnh trừng phạt của phương Tây trong một giai đoạn kéo dài không? Ông nhận thấy những nguy cơ nào sẽ xuất hiện nếu như nền kinh tế Nga tiếp tục suy thoái và Putin ngày càng không thể tưởng thưởng cho những người ủng hộ chính trị cho ông ta?
Dĩ nhiên có tồn tại một nguy cơ rằng đến một lúc nào đó Putin có thể sẽ làm liều và tạo ra một cuộc khủng hoảng toàn cầu thực sự khủng khiếp và có lẽ sẽ làm bùng nổ một hình thái chiến tranh đối đầu trực diện Đông-Tây mới. Nhưng để nói được điều này ta cũng phải giả định rằng đến một mức độ nào đó Putin sẽ tự mất cân bằng và chuyển hình thái chiến tranh du kích vốn luôn sẵn khả năng rút lui sang chiến tranh một mất một còn với phương Tây. Kết cục của điều này sẽ không thể dự đoán trước, nhưng sẽ có thể rất thảm khốc cho đời sống của người dân Nga trong bất kỳ trường hợp nào. Nếu như nền kinh tế Nga tiếp tục suy thoái và nếu phương Tây thành công trong việc răn đe Putin khỏi việc tiếp tục sử dụng vũ lực, ta vẫn có thể hình dung ra một vài giải pháp phù hợp có thể được các bên nỗ lực đạt được (một trong số đó đã được tôi công khai khuyến nghị thông qua việc phát biểu về mô hình Phần Lan hóa). Tuy nhiên đổi lại điều này còn phụ thuộc vào mức độ cứng rắn của phương Tây trong việc ủng hộ những nỗ lực nhằm ổn định đất nước của Ukraine.
Sau khi lính Mỹ rút khỏi Afghanistan và Iraq, nhiều nơi trên thế giới nhìn nhận nước Mỹ đang trong giai đoạn “rút lui”, giống như giai đoạn hậu Chiến tranh Việt Nam vậy. Có phải nước Mỹ đang theo đuổi một hình thái nào đó của chủ nghĩa biệt lập mới hay không? Hay liệu sự dịch chuyển hướng nội dễ nhận thấy này của Mỹ sẽ qua nhanh giống như sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc?
Tôi không tin rằng nước Mỹ đang trong giai đoạn “rút lui”. Vấn đề thật sự ở đây là sự tái phân bổ quyền lực trên thế giới đã dẫn đến một tình thế mà trong đó nước Mỹ không còn là chủ thể bá quyền độc tôn nữa. Hoa Kỳ cần phải thừa nhận sự thật rằng thế giới ngày nay phức tạp hơn rất nhiều. Sự phổ biến xung đột trên khắp khu vực Trung Đông hiện diễn ra ngày một nhanh chóng do sự trỗi dậy của chủ nghĩa bè phái tôn giáo hơn là bởi chủ nghĩa can thiệp của Mỹ. Trong hoàn cảnh đầy biến động này, (nước Mỹ) phải chú ý nhiều hơn tới lợi ích quốc gia của những nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Ả-rập Xê-út, Ai Cập, và Israel. Tương tự, lợi ích quốc gia của bất kỳ nước nào trong số này cũng không được phép trở thành toàn bộ lợi ích của Mỹ.
Điều gì có thể khiến thế giới phải sửng sốt trong năm 2015?
Có lẽ đó là sự xuất hiện trở lại từng bước của một tầng lớp trung lưu tự do và quyết đoán hơn về mặt chính trị ở Nga. Tầng lớp trung lưu ấy đã bắt đầu đóng vai trò quan trọng hơn trong việc định hình chính sách đối nội và đối ngoại của Nga dưới thời Dmitri Medvedev. Với sự trở lại quyền lực của Putin cùng với chủ nghĩa phiêu lưu gần đây của ông ta, tầng lớp này bị đẩy ra lề bởi chủ nghĩa sô-vanh dân tộc được chủ ý khơi dậy và kích động mạnh mẽ. Tuy nhiên, giương cao ngọn cờ sô-vanh có lẽ không phải là giải pháp tối ưu để đối phó với những vấn đề quốc tế, đặc biệt nếu như phương Tây khôn ngoan và thống nhất. Một cách tự nhiên, tầng lớp trung lưu Nga mong muốn được sống trong một xã hội giống như của các nước Tây Âu. Một nước Nga dần bắt đầu xích lại gần phương Tây cũng sẽ là một nước Nga dừng việc gây gián đoạn hệ thống quốc tế.
Zbigniew Brzezinski là cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ và là Giáo sư Chính sách Đối ngoại Mỹ tại Đại học Johns Hopkins.

EM BÉ TRÊN ĐẠI LỘ KINH HOÀNG NĂM XƯA.











Vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, một em bé 4 tháng tuổi nằm trên xác mẹ trên Đại Lộ Kinh Hoàng; em đang trườn người trên bụng mẹ tìm vú để bú nhưng mẹ đã chết từ bao giờ. Một người lính Quân Cụ chạy ngang, bồng em bé bỏ vào chiếc nón lá rồi chạy qua cầu Mỹ Chánh, trao lại cho một Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đang hành quân.
Bao năm trôi qua, em bé mồ côi mẹ nay trở thành Trung Tá trong Quân Lực Hoa Kỳ còn người Thiếu úy TQLC sang Hoa Kỳ theo diện HO nay đang định cư tại tiểu bang New Mexico. Hai người vừa gặp nhau sau 41 năm bặt vô âm tín. Ngày Thứ Ba 2 tháng 4, 2013 vừa qua, nhân dịp sang California dự lễ cưới, người Thiếu Úy TQLC này đã kể cho phóng viên Viễn Đông câu chuyện cảm động và ly kỳ ngay tại khách sạn nơi ông đang tạm cư ngụ.

Người Thiếu Úy TQLC tên là Trần Khắc Báo. Vào thời điểm 1972 ông còn độc thân và phục vụ tại Đại Đội Vận Tải Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, được biệt phái sang Phòng 4 của Sư Đoàn làm sĩ quan phụ trách chuyển vận. Vào sáng 1 tháng 5 năm 1972, Thiếu Úy Báo được lệnh cấp trên, cùng một số đồng đội mở cuộc hành quân để giúp di chuyển Tiểu Đoàn 7 TQLC ra khỏi vùng vừa bị thất thủ thuộc tỉnh Quảng Trị vì một số đông quân nhân bị thất lạc không tìm thấy vị chỉ huy của họ. Ngoài ra, ông cũng xin lệnh giúp di tản các Quân, Dân, Cán Chính khác đang tìm đường chạy về phía nam sông Mỹ Chánh là nơi quân đội VNCH còn đang trấn giữ; ông được cấp trên chấp thuận.
Nguyễn Quang Duy's photo. 
 Khi đơn vị ông đến cầu Mỹ Chánh (Quảng Trị) thì nơi đây là phòng tuyến cuối cùng của VNCH để ngăn chặn quân Bắc Việt tràn xuống phía Nam. Ông đã chỉ huy 20 quân xa GMC thực hiện cấp tốc cuộc di tản suốt ngày. Đến khoảng 4 hay 5 giờ chiều ông Trần Khắc Báo nhìn thấy thấp thoáng bên kia cầu còn một người đang ôm chiếc nón lá thất thểu đi qua với dáng điệu hết sức mỏi mệt. Ông định chạy qua giúp người này nhưng vị Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 TQLC đang trách nhiệm trấn giữ tại đó la lớn: “Trần Khắc Báo. Cây cầu tao đã gài mìn, có thể nổ và sẵn sàng phá hủy khi thấy chiến xa Việt Cộng xuất hiện, đừng chạy qua, mày sẽ bị bỏ lại bên đó không về lại được đâu nghe!”.
Ông cố nài nỉ: “Đại Bàng chờ em một chút, cho em cứu người cuối cùng này.”
Và ông chạy đến đưa người này qua cầu. Thấy người này đi không nổi, thất tha thất thểu mà tay còn cố ôm vòng chiếc nón lá, Thiếu Úy Báo nói đùa: “Đi không nổi mà còn mang theo vàng bạc châu báu gì nữa đây cha nội?”
Người ôm vòng chiếc nón lá nói: “Em là lính Quân Cụ thuộc Tiểu Khu Quảng Trị, trên đường chạy về đây em thấy cảnh tượng hết sức thương tâm này, mẹ nó đã chết từ bao giờ không biết và nó đang trườn mình trên bụng mẹ nó tìm vú để bú, em cầm lòng không được nên bế nó bỏ vào chiếc nón lá mang đến đây trao cho Thiếu Úy, xin ông ráng cứu nó vì em kiệt sức rồi, không thể đi xa được nữa và cũng không có cách gì giúp em bé này.”
Nói xong anh ta trao chiếc nón lá có em bé cho thiếu úy Báo.
Ngừng một chút, ông Báo nói với chúng tôi: “Mình là người lính VNCH, mình đã được huấn luyện và thuộc nằm lòng tinh thần ‘Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm’ nên lúc đó tôi nghĩ trách nhiệm của mình là lo cho dân nên tôi nhận đứa bé và nói với người lính Quân Cụ: ‘Thôi được rồi, để tôi lo cho nó, còn anh, anh cũng lo cho sức khỏe của anh, lên GMC đi để chúng tôi đưa anh về vùng an toàn.’”
Sau đó, người sĩ quan TQLC ôm em bé leo lên chiếc xe Jeep chạy về Phong Điền, cách đó khoảng 20 cây số. Trên đường đi, ông Báo cảm thấy rất bối rối vì em bé khóc không thành tiếng vì đói, khát mà ông thì còn là một thanh niên trẻ (lúc đó mới 24 tuổi) chưa có kinh nghiệm gì nên ông hỏi người tài xế, bây giờ phải làm sao?
Người tài xế tên Tài trả lời: “Ông thầy cho nó bú đi! Ông thầy không có sữa thì lấy bi đông nước chấm đầu ngón tay vào nước để vào miệng nó cho nó bú.”
Ông Báo làm theo lời chỉ và em bé nín khóc rồi nằm im cho đến khi ông đưa em vào Phòng Xã Hội của Lữ Đoàn TQLC. Tại đây, gặp Thiếu tá Nhiều, Trưởng Phòng 4 TQLC, ông trao em bé cho Thiếu tá Nhiều và nói: “Thiếu tá, tôi có lượm một em bé ngoài mặt trận, xin giao cho Thiếu tá.”
Ông này nhìn ông Báo cười và nói: “Mày đi đánh giặc mà còn con rơi con rớt tùm lum!”. Ông Báo thanh minh: “Không! Tôi lượm nó ngoài mặt trận; nó đang nằm trên xác mẹ nó.”
Thiếu tá Nhiều bảo: “Thôi, đem em bé giao cho Phòng Xã Hội để họ làm thủ tục lo cho nó.” Sau đó, ông Báo đưa em bé cho một nữ quân nhân phụ trách xã hội. Cô này nói với ông: “Thiếu úy giao thì Thiếu úy phải có trách nhiệm, vì em bé này ở ngoài mặt trận thì Thiếu úy phải cho nó cái tên và tên họ Thiếu úy nữa để sau này nó biết cội nguồn của nó mà tìm.”

Lúc đó, ông còn độc thân nhưng trong thâm tâm ông vốn nghĩ rằng sau này khi ông cưới vợ, nếu có con gái ông sẽ đặt tên là Bích, nếu con trai ông sẽ đặt tên là Bảo, nên sau khi nghe người nữ quân nhân nói, ông Báo đặt ngay cho em bé cái tên là Trần Thị Ngọc Bích.
Sau đó ông trở về đơn vị và cuộc chiến ngày càng trở nên khốc liệt cho tới tháng 3/1975, đơn vị ông bị thất thủ cùng Lữ Đoàn 2 TQLC ở Huế và ông Báo bị bắt làm tù binh. Mãi đến năm 1981 ông được thả về. Tháng 9/1994 ông được sang định cư tại thành phố Albuqueque, tiểu bang New Mexico…

EM BÉ MỒ CÔI GẶP MAY MẮN
 Nguyễn Quang Duy's photo.
Em bé Trần Thị Ngọc Bích được Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC đem đến Cô Nhi Viện Thánh Tâm Đà Nẵng giao cho các Dì Phước chăm sóc. Số hồ sơ của em là 899.
Một hôm có ông Trung Sĩ Hoa Kỳ thuộc binh chủng Không Quân phục vụ tại phi trường Đà Nẵng tên là James Mitchell vô Cô Nhi Viện xin nhận một trong các em tại đây làm con nuôi. Em Trần Thị Ngọc Bích may mắn lọt vào mắt xanh của ông James Mitchell và trở thành thành viên của gia đình này từ đó đến nay.

Sau khi rời khỏi binh chủng Không Quân, ông James Mitchell trở về Hoa Kỳ vào cuối năm 1972. Ông quyết định mang theo đứa con nuôi Trần Thị Ngọc Bích, lúc đó em mới được 6 tháng.
Hai ông bà Mitchell đặt tên Mỹ cho em là Kimberly Mitchell. Em ở tại trang trại của gia đình tại Solon Springs, tiểu bang Wisconsin. Kimberly Mitchell lớn lên tại đây và được bố mẹ nuôi rất thương yêu, coi như con ruột. Em được đi học, tham gia thể thao và vào hội thanh niên. Lớn lên em vừa đi học vừa phụ giúp cha mẹ nuôi bò và làm phó mát. Cái tên Trần Thị Ngọc Bích đã bị quên lãng từ đó, và Kimberly Mitchell cho biết, mỗi khi nghe ai nói gì về Việt Nam, cô thường tự hỏi, Việt Nam là đâu nhỉ?

Khi đã có trí khôn, Kimberly Mitchell nhận thấy mình không phải người Mỹ như bố mẹ, không phải con lai, không phải người Tàu. Cô không biết mình là người nước nào và cứ mang cái thắc mắc đó mãi mà không ai có thể trả lời cho cô.
Một hôm, Kimberly Mitchell đánh bạo hỏi bố: “Con muốn biết con là người gì, nguồn gốc con ở đâu? Tại sao con lại là con bố mẹ?”
Bố nuôi James giải thích cho cô: “Con là người Việt Nam, bố mẹ xin con từ trong viện mồ côi ở Đà Nẵng, Việt Nam. Nếu con muốn tìm nguồn cội của con, con có thể về Đà Nẵng, may ra tìm được tông tích của gia đình con.”

Ngay từ khi Kimberly còn học lớp ba, bố nuôi em đã muốn sau này cho Kimberly gia nhập Không Quân nhân khi cô được chọn tham dự hội thảo về nghệ thuật lãnh đạo dành cho những học sinh xuất sắc. Nhưng rồi định mệnh xui khiến, cô lại theo Hải Quân. Trong thời gian theo học, Kimberly Mitchell phải bỏ học một năm vì bố nuôi qua đời năm 1991 trong một tai nạn tại trang trại của gia đình. Sau đó cô trở lại trường và tiếp tục học. Năm 1996 cô tốt nghiệp Cơ Khí Hàng Hải và phục vụ trong Hải Quân Hoa Kỳ và hiện nay mang cấp bậc Trung Tá, Phó Giám Đốc Văn Phòng Trợ Giúp Quân Nhân và Thân Nhân tại Ngũ Giác Đài.
Năm 2011, Kimberly Mitchell trở về cố hương với tư cách một nữ Trung Tá Hải Quân, Quân Lực Hoa Kỳ, mong gặp lại người thân. Đến Viện Nuôi Trẻ Mồ Côi Thánh Tâm ở Đà Nẵng, cô may mắn gặp được Sơ Mary, người tiếp nhận cô năm 1972 từ một nữ quân nhân Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC. Giây phút thật cảm động, nhưng Kimberly chỉ được Sơ Mary cho biết:
“Lúc người ta mang con tới đây, con mới có 4 tháng và họ đặt tên con là Trần Thị Ngọc Bích. Họ nói mẹ con đã chết trên Đại Lộ Kinh Hoàng, con được một người lính VNCH cứu đem đến đây giao cho Cô Nhi Viện rồi đi mất, vì lúc đó chiến tranh tàn khốc lắm.”
Kimberly không biết gì hơn và cô quay trở lại Mỹ. Sau khi đã biết mình là người Việt Nam, thỉnh thoảng cô viết trên website về câu chuyện của mình.

GẶP LẠI CỐ NHÂN
Ông Trần Khắc Báo đưa cho chúng tôi xem một số hình ảnh, một số báo tiếng Việt và mấy tờ báo tiếng Anh đăng hình cuộc gặp gỡ giữa gia đình ông và cô Trần Thị Ngọc Bích, và nói:
“Sau khi ra tù Việt Cộng, tôi cũng cố tìm hiểu xem em bé Trần Thị Ngọc Bích nay ra sao, kể cả người lính Quân Cụ năm xưa, nhưng tất cả đều bặt vô âm tín. Một hôm tình cờ tôi đọc được một bài viết của tác giả Trúc Giang trên tờ Việt Báo Hải Ngoại số 66 phát hành tại New Jersey, tác giả kể lại câu chuyện đi Mỹ của một em bé trong cô nhi viện Đà Nẵng mang tên Trần Thị Ngọc Bích. Đọc xong tôi rất xúc động pha lẫn vui mừng, vì có thể 80, 90% cô Ngọc Bích đó là do mình cứu và đặt tên cho cô.”
Sau đó, ông nhờ người bạn tên là Đào Thị Lệ làm việc trong New York Life, có chồng người Mỹ và có em cũng ở trong Hải Quân Hoa Kỳ, liên lạc tìm kiếm Mitchell. Và chính cô Đào Thị Lệ là người đầu tiên trực tiếp nói chuyện với Trần Thị Ngọc Bích đang làm việc tại Ngũ Giác Đài.
Theo ông nghĩ, có thể cô Mitchell bán tín bán nghi, không biết chuyện này có đúng không hay là chuyện “thấy người sang bắt quàng làm họ” như ông cha mình thường nói. Nhưng sau khi nói chuyện với ông Trần Khắc Báo, Mitchell quyết định tổ chức một cuộc hội ngộ trước các cơ quan truyền thông. Cô xin phép đơn vị và mời được 7 đài truyền hình cùng một số phóng viên báo chí từ Washington, D.C cũng như nhiều nơi về tham dự.

Cuộc hội ngộ, theo ông Báo cho biết, hoàn toàn do cô Kimberly Mitchell quyết định, địa điểm là trụ sở Hội Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Mexico vào Thứ Sáu, ngày 29.8.2012. Cô đến phi trường vào tối Thứ Năm 28.8, gia đình ông Báo ngỏ ý ra phi trường đón nhưng cô cho cô Đào Thị Lệ biết là cô không muốn gia đình đón ở phi trường cũng như đưa vào khách sạn. Cô muốn dành giây phút thật cảm động và ý nghĩa này trước mặt mọi người, đặc biệt là trước mặt các cơ quan truyền thông, và cô muốn ông Báo mặc bộ quân phục TQLC như khi ông tiếp nhận cô đưa đến Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC cách nay 41 năm.
GIÂY PHÚT XÚC ĐỘNG
Gia đình ông Trần Khắc Báo gồm vợ và con gái cùng có mặt. Khi ông Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia hỏi cô Kimberly Mitchell: “Cô đến đây tìm ai?”. Cô trả lời: “Tôi muốn tìm ông Trần Khắc Báo.”
Vị Chủ Tịch quay sang ông Báo đang mặc quân phục và giới thiệu: “Đây là ông Trần Khắc Báo.”
Lập tức, Kimberly Mitchell Trần Thị Ngọc Bích tiến lại ôm lấy ông Báo và cả hai cùng khóc nức nở.
Giây phút xúc động qua đi, cô Kimberly hỏi ông Trần Ngọc Báo: “Ông là người đã cứu mạng tôi, tôi mới có ngày hôm nay; tôi xin cám ơn ông, và bây giờ ông muốn gì ở tôi?”
Ông Trần Khắc Báo nói: “Thực sự bây giờ tôi chỉ muốn cô nói với tôi một lời bằng tiếng Việt, cô hãy kêu tôi là “Tía”. Vì tất cả các con tôi đều gọi tôi bằng Tía, tôi xem cô cũng như con tôi, tôi chỉ mong điều đó.” Và Kimberly Mitchell đã gọi “Tía”. Ông nói với chúng tôi: “Bấy giờ tôi thực sự mãn nguyện.”

Trả lời các câu hỏi của chúng tôi, ông Trần Khắc Báo cho biết, cô Kimberly chưa lập gia đình và cô có hứa sẽ thường xuyên liên lạc với gia đình ông. Ông có nhắc cô Kimberly điều này, rằng cô không phải là đứa trẻ bị bỏ rơi. Cô đã được những người lính VNCH có tinh thần trách nhiệm cứu sống trên bụng mẹ cô đã chết, và chính ông đã đặt tên cho cô là Trần Thị Ngọc Bích. Ông cũng mong rằng sau này, cô có thể trở lại Quảng Trị, may ra có thể tìm ra tung tích cha cô hoặc người thân của mình. Ông Trần Khắc Báo cũng cho biết, ông mất liên lạc với người lính Quân Cụ từ lúc hai người giao nhận đứa bé đến nay.
Trong cuộc hội ngộ, trả lời câu hỏi của các phóng viên Hoa Kỳ, nữ Trung Tá Kimberly Mitchell cho biết, cô có hai cái may. Cái may thứ nhất là cô được tìm thấy và mang tới trại mồ côi. Cái may thứ hai là được ông bà James Mitchell bước vào trại mồ côi và nói với các Sơ rằng, ông muốn nhận em bé này làm con nuôi.”
Câu chuyện sau 41 năm kết thúc tốt đẹp, cô Trần Thị Ngọc Bích đúng là viên ngọc quý trên Đại Lộ Kinh Hoàng như ý nguyện của người đã cứu mạng em, vì chính cô đã làm vẻ vang cho dân tộc Việt khi cố gắng học hành để trở nên người lãnh đạo xuất sắc trong Quân Lực Hoa Kỳ, một quân lực hùng mạnh vào bậc nhất thế giới.
Người quân nhân binh chủng Quân Cụ và người sĩ quan TQLC Trần Khắc Báo đã thể hiện tinh thần của một quân nhân Quân Lực VNCH, luôn đặt Tổ Quốc – Danh Dự và Trách Nhiệm trên hết.
THANH PHONG
Nguồn: THỜI BÁO (The Vietnamese Newspape)
Dương Bá Đương 


Nguyễn Quang Duy's photo. 
Hình: Em bé ngày xưa, nay là Trung Tá Kimberly M. Mitchell.

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016

Viết tâm thư nhờ vả chính quyền chỉ cổ vũ cho chế độ toàn trị?

coitroi_xahoidansu“…Khôi phục xã hội dân sự đòi hỏi chúng ta “Phải Nói Không” với việc trốn tránh trách nhiệm cá nhân của chúng ta và chờ đợi chính phủ làm cho chúng ta những việc chúng ta có thể và phải tự làm cho mình…”
 
 
“Thuế khóa”, Oliver Wendell Holmes, Jr. nói, “là cái chúng ta phải trả để có xã hội văn minh”. Nhưng, như người đồng nghiệp trên trang mạng Freeman của tôi, Mark Skousen, giải thích trong chuyên khảo xuất sắc của mình, nhan đề “Thuyết phục hay ép buộc”: nói chính xác hơn là thuế khóa thực ra là cái giá mà chúng ta phải trả cho tình trạng thiếu văn minh. Nếu mọi người đều biết tự chăm sóc cho mình, chăm sóc gia đình mình và chăm sóc những người thiếu thốn xung quanh mình một cách tốt hơn, thì kết quả là chính phủ sẽ co lại và xã hội sẽ mạnh mẽ hơn.

Skousen đã đúng khi ông tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn gần đây với Viện Acton về Công trình nghiên về cứu tôn giáo và tự do: “Mỗi lần chúng ta thông qua một bộ luật hay một quy định mới, mỗi lần chúng ta tăng thuế, mỗi lần chúng ta đi chiến đấu là chúng ta thừa nhận rằng các cá nhân đã thất bại trong việc tự cai quản lấy mình. Khi chúng ta thuyết phục được mọi người làm điều đúng thì chúng ta có thể tuyên bố rằng mình đã chiến thắng. Nhưng khi chúng ta ép buộc người ta phải làm điều đúng thì chúng ta đã thất bại”. Chiến thắng của thuyết phục trước bạo lực, mọi người giúp đỡ lẫn nhau, vì họ muốn như thế chứ không phải vì chính phủ bảo rằng họ phải làm như thế, là dấu hiệu của dân tộc văn minh, dấu hiệu của xã hội dân sự.
coitroi_xahoidansu
Vì tất cả mọi người đều quan tâm đến việc thúc đẩy và làm giàu cho nền văn hóa của chúng ta, đây là nhận xét rất quan trọng, có tác động sâu rộng. Tiến bộ về văn hóa không thể được định nghĩa như là giành giật ngày càng nhiều những thứ mà người khác kiếm được và dùng bộ máy quan liêu của chính phủ để chi tiêu cho những thứ gọi là “tốt”. Tiến bộ về văn hóa chỉ thực sự xảy ra khi các cá nhân giải quyết các vấn đề mà không cần đến các chính trị gia hoặc cảnh sát cũng như các quan chức họ mà họ đang thuê.

Sự trẻ trung của xã hội dân sự Hoa Kỳ

Khi Alexis de Tocqueville đã đến thăm nước Mỹ trẻ trung và sôi nổi hồi những năm 1830, ông nói rằng sự sống động của xã hội dân sự là một trong những tài sản lớn nhất của đất nước này. Ông đã ngạc nhiên khi thấy người Mỹ liên tục lập ra “những hiệp hội” nhằm thúc đẩy nghệ thuật, xây dựng thư viện và bệnh viện, và giải quyết tất cả các nhu cầu của xã hội. Khi cần làm một điều tốt nào đó, tổ tiên của chúng ta ít khi chờ đợi các chính trị gia và các quan chức, những người xa cách họ cả về không gian lẫn tinh thần. “Trong các điều luật cai trị bản chất của con người”, Tocqueville viết trong tác phẩm Nền Dân Trị Mỹ, “chẳng điều luật nào chính xác hơn và rõ ràng hơn những điều luật khác. Nếu con người phải tiếp tục là người văn minh, hoặc trở thành văn minh hơn thì nghệ thuật kết hợp người ta với nhau phải phát triển và hoàn thiện”.
tothide_nguyennhuquynh
Nữ sinh Tô Thị Đệ (trái) và Nguyễn Như Quỳnh viết tâm thư gửi lên đến cả các chức danh đứng đầu nhà nước để kiến nghị được học tập ngành Công An. Ảnh: NVCC / VnExpress
Hiện nay, càng rõ ràng hơn, chính quyền các cấp đã ngốn tới 41% thu nhập cá nhân, làm cho nhiều người Mỹ không nghĩ, không hành động và bầu cử theo cách mà tổ tiên của họ đã làm trong thời của Tocqueville. Làm sao chúng ta có thể phục hồi và củng cố thái độ và các thiết chế từng là nền tảng của xã hội dân sự Mỹ?

Chắc chắn, chúng ta không bao giờ có thể làm được như vậy nếu cứ mù quáng bám vào các chương trình của chính phủ, tức là những chương trình loại bỏ sáng kiến tư nhân hoặc bằng cách bài bác động cơ của những người nghi ngờ một cách chính đáng những chương trình đó của chính phủ. Chúng ta không thể khôi phục được xã hội dân sự, nếu chúng ta không có niềm tin vào chính mình và tin rằng chính phủ nắm độc quyền về lòng từ bi. Chúng ta sẽ không bao giờ làm được điều đó nếu chúng ta đánh thuế đến 41% thu nhập của người dân và sau đó – giống như những đứa trẻ chưa bao giờ biết cộng trừ nhân chia – lại phàn nàn rằng người ta không thể đủ khả năng đáp ứng một số nhu cầu nhất định.

Xã hội dân sự là lời giải cho những vấn đề xã hội mà không cần đến chính phủ

Chúng ta chỉ có thể thúc đẩy xã hội dân sự khi người dân suy nghĩ nghiêm túc về việc thay các chương trình của chính phủ bằng sáng kiến cá nhân, khi những cuộc thảo luận vượt qua được những lập luận trẻ con như: “Nếu bạn muốn cắt những khoản trợ cấp của chính phủ cho chương trình cung cấp thức ăn cho người già thì bạn phải ủng hộ hiện tượng người già chết đói”. Xã hội dân sự sẽ đơm hoa kết trái khi chúng ta hiểu rằng “thuê” người môi giới được trả lương cao của chính phủ không phải là cách tốt nhất để “làm điều thiện”, mà lại thường xuyên phá vỡ mối liên kết giữa những người thiếu thốn và những người chu đáo, muốn giúp đỡ. Chúng ta sẽ tạo được tiến bộ khi công nhận rằng những biện pháp chữa trị của chính phủ là từ-thiện-sai-lầm hay rũ bỏ trách nhiệm, không làm được việc gì tốt hết, mặc dù nó làm cho những người ủng hộ những chương trì như thế tự mãn, hài lòng.

Khôi phục xã hội dân sự không phải là việc dễ. Những thói quen xấu và tư duy theo kiểu mì ăn liền tồn tại dai dẳng lắm. Thật khó đưa được thông điệp của xã hội dân sự qua bộ lọc của các phương tiện truyền thông lớn mà không làm cho nó sai lạc đi. Ví dụ rõ nhất là bài xã luận trong số ra gần đây trên một tờ báo lớn ở bang Michigan. Trong khi đưa ra luận cứ nhằm chống lại những khoản cắt giảm được nêu ra trong ngân sách của nhà nước, ban biên tập đã đánh đồng quá trình khôi phục xã hội dân sự với việc buộc đời sống con người phụ thuộc “vào sự hào phóng của người trả giá cao nhất trên thương trường”. Thật là xấu hổ khi thấy nhiều tờ báo thường xuyên than thở về sự hời hợt của các chiến dịch chính trị, nhưng khi nói tới những đề xuất nghiêm túc nhằm đưa chính phủ lớn ra khỏi đời sống của chúng ta thì lại sử dụng những khẩu hiệu chán ngắt.

Ban biên tập này không cho ai ăn, không cung cấp quần áo hay nhà ở cho bất cứ người nghèo nào. Có lẽ họ cũng chẳng làm gì nhằm an ủi những người bị ảnh hưởng. Họ cũng không thay mặt gia đình gặp khó khăn, đứng ra khuyến khích bất kì hành động tự nguyện nào. Nhưng, họ có thể đã ru số độc giả say sưa ngủ vì tự mãn. Nói cho cùng, chính phủ quan tâm đến các sự vật, sự kiện, đấy là điều ban biên tập muốn nói, và đúng là phải như thế.

Trong khi đó, những người cầm bút chín chắn hơn nhận thấy rằng ở trong nước đang có những xu hướng đáng khích lệ. Một bài báo đáng chú ý, ra ngày 29 tháng 1 năm 1996, trên tờ U.S. News & World Report cổ động cho “sự phục hồi đời sống dân sự”. Trong số những ví dụ mà bài báo này trích dẫn, có thị trấn Frankford, bang Pennsylvania. Frankford đã trở thành cộng đồng bị đánh thuế cao, tỏ ra chán nản, và trở thành cộng đồng phụ thuộc vào chính phủ, đang rất cần câu trả lời gấp. Một tia lửa của xã hội dân sự đã được thắp lên và hiện nay người dân đang tự giải quyết những vấn đề của họ. “Khi vụ tuyết rơi kỷ lục, dày 30 inches đổ xuống thành phố… người dân Frankford không tụ tập và phàn nàn về sự bất lực của những người lao công. Họ thuê máy ủi tuyết và chia sẻ chi phí”, bài báo viết.

Có lẽ nếu Tocqueville đến thăm thị trấn nhỏ này của bang Pennsylvania trong ngày hôm nay, ông sẽ có ý niệm lờ mờ về sự vĩ đại của nước Mỹ trong những năm 1830. Ông sẽ có ấn tượng về tinh thần cộng đồng và thậm chí có thể đề nghị người Mỹ trên khắp cả nước nên lưu ý đến trường hợp này. Các công dân, Tocqueville có thể nhận xét, không ngồi yên và than thở về hoàn cảnh của mình và viết báo nói về những biện pháp mà các chính trị gia dùng để cứu vớt họ. “Khi bạn không còn oán giận chính phủ vì họ không làm việc gì đó cho mình thì bạn sẽ tự làm”, một người dân ở đó nói.

Tất cả chúng ta đều có thể học hỏi được nhiều hơn từ những thị trấn như Frankford chứ không phải là từ những người nghĩ rằng từ thiện có nghĩa là tiêu tiền của người khác hoặc đơn giản là giảng giải về nhu cầu của xã hội trên bàn phím máy tính điện tử. Khôi phục xã hội dân sự đòi hỏi chúng ta “Phải Nói Không” với việc trốn tránh trách nhiệm cá nhân của chúng ta và chờ đợi chính phủ làm cho chúng ta những việc chúng ta có thể và phải tự làm cho mình – cả trong cuộc sống của cá nhân, trong gia đình lẫn trong cộng đồng địa phương của chúng ta. Nó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ một cách sáng tạo về việc khuyến khích sáng kiến tư nhân, và sau đó là làm.
Lawrence W.Reed

Bài học từ 20 startup thất bại trong năm 2015

Startup Châu Á đã có một năm khá sôi động khi các quỹ đầu tư mạo hiểm đổ nguồn vốn lớn chưa từng có vào Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc. Tuy nhiên, nguồn tài trợ tài chính mạnh mẽ lại không đồng nghĩa với thành công trong tương lai. Bằng chứng là năm qua đã có nhiều startup phải đóng cửa.

Bài học từ 20 startup thất bại trong năm 2015
Dưới đây là 20 startup sau khi “ra đi” đã để lại những bài học quý.
Tại Trung Quốc
1. Melotic
Melotic là ứng dụng trao đổi tài sản dựa trên Bitcoin – đồng tiền kỹ thuật số. Công ty có trụ sở tại Hong Kong. Vào tháng 10/2014, ở vòng tài trợ Hạt giống, công ty nhận được đầu tư trị giá 1,18 triệu USD từ những nhà đầu tư (NĐT) uy tín, kể cả 500 Startups.
Thế nhưng, chừng đó không đủ giúp Melotic xây dựng được sản phẩm hoàn thiện như họ mong muốn. Đến 5/2015, Melotic đã phải loan báo họ không đủ kinh nghiệm phát triển sản phẩm và tuyên bố đóng cửa.
2. eXiche
Đã có đến 7 dịch vụ rửa xe theo mô hình Online-to-Offline đã phải đóng cửa tại Trung Quốc trong năm qua. Guagua Xiche từng cho thấy mình nổi bật như một người chiến thắng trong cuộc đua đầy cạnh tranh này. Startup này đã bước đến vòng series A, với giá trị 20 triệu USD vào tháng 3/2015. Thế nhưng, đến 10/2015, Guagua Xiche buộc chấm dứt mọi hoạt động.
Vấn đề của Guagua Xiche là đã “đốt tiền” vào việc cung cấp quá nhiều các chương trình khuyến mãi, giảm giá đối với một dịch vụ đã quá rẻ như rửa xe. "Đó là một cách phát triển không bền vững", Tech in Asia bình luận.
Tại Ấn Độ
3. DoneByNone
Mặc dù thương mại điện tử (TMĐT) Ấn Độ đã có một năm “xuôi chèo mát mái” nhưng một số startup lĩnh vực này đã không thể tồn tại. DoneByNone – thương hiệu bán hàng thời trang nữ trực tuyến của công ty Gurgaon là ví dụ điển hình.
Theo báo cáo, khách hàng đã không hài lòng với công ty từ cuối năm 2014. Sau một thời gian, một nhà đồng sáng lập cũng đã rời bỏ công ty. Đến đầu năm 2015, website đóng cửa.
4. Lumos
Đây là startup trong lĩnh vực "nhà thông minh" (smart home), được thành lập bởi những người vừa mới ra trường, lần đầu làm kinh doanh. Startup trong lĩnh vực xây dựng phần cứng khó khăn hơn nhiều so với họ nghĩ. “Chúng tôi đã đánh giá thấp việc tạo ra một sản phẩm mà thị trường đã có. Đồng thời, chúng tôi lại đánh giá quá cao nhu cầu và công dụng của các sản phẩm của chúng tôi”, nhà sáng lập đã viết trong một bài blog dài, kể về nguyên nhân thất bại của Lumos.
Những nhà sáng lập này cũng đã công bố nhiều tài liệu về sự sụp đổ của mình như là tài liệu đáng giá, kinh nghiệm quý cho những người muốn khởi nghiệp trong lĩnh vực phần cứng.
5. TalentPad
Dù được tăng tiền đầu tư tại vòng tài trợ Hạt giống vào tháng 10/2014 và chiêu mộ được nhiều người tài trong quá trình xây dựng công ty, thế nhưng TalentPad vẫn không thể tránh khỏi cái kết buồn chỉ 1 năm sau đó.
Công ty cung cấp một chợ tuyển dụng trực tuyến độc đáo, nơi mà những nhà sử dụng lao động sẽ phải cạnh tranh với nhau để chiêu mộ được nhân tài. Thế nhưng, lý do thất bại là họ đã không thể mở rộng được thị trường.
6. Dazo
Đây là ứng dụng gọi thức ăn và giao hàng đầu tiên tại Ấn Độ. Công ty đã thu hút được rất nhiều NĐT tại vòng Hạt giống, trong đó có cả những nhà điều hành tại Amazon và Google.
Tuy nhiên, ngành giao thức ăn ở Ấn Độ đã có một năm rất khó khăn. Một số công ty đã rất nỗ lực để thu hút NĐT và trở nên lớn hơn. Thế nhưng, Dazo đã không làm được và làm dài thêm danh sách những công ty ngành này phải đóng cửa trong năm qua.
Inc42 đã phân tích về sự sụp đổ ngành giao thực phẩm tại Ấn như sau:
“Các startup ngành này tăng trưởng nhanh chóng cũng chỉ ra một thực tế là những công ty tài trợ có xu hướng đốt tiền để có được thật nhiều khách hàng mà không cần tạo ra một sản phẩm khác biệt”.
7. Valyoo Tech
Công ty vận hành các trang web TMĐT bán hàng cao cấp như: túi xách, đá quý, đồng hồ, mắt kính và kính áp tròng. Ngay từ đầu năm 2014, công ty đã phải rà soát lại doanh số của tất cả các trang web, kết quả là LensKart – trang bán mắt kính có kết quả tốt. Và đó cũng là trang web duy nhất còn lại của Valyoo Tech, trong khi những trang khác đã đóng cửa vì hầu như không có người mua hàng.
Tại Indonesia
8. Kleora
Kleora là ứng dụng chợ trực tuyến trên di động (Mobile marketplace) đã đóng cửa dù nhà sáng lập tuyên bố: “Chúng tôi chưa chết hẳn”. Nguyên nhân thất bại là do các mặt hàng hạn chế và các tính năng của nền tảng yếu kém, cần một sự thay đổi lớn. Công ty đã xây dựng một thương hiệu mới là Prelo, tập trung bán hàng hiệu đã qua sử dụng.
9. Beauty Treats
Beauty Treats xây dựng startup bán sản phẩm chăm sóc sắc đẹp tương tự như Lolabox. Công ty cố gắng tạo ra sự khác biệt khi cung cấp dịch vụ eStore – bán hàng trực tuyến vào 2013 và không thành công. Cho đến năm 2014, công ty đã thực sự thất bại. Nhà đồng sáng lập Romeo Reijman đã chuyển hướng sang phát triển dịch vụ cầm đồ trực tuyến mang tên Pinjam.
10. Abraresto / Abratable
Abratable và Abraresto là trang web đặt chỗ và đánh giá nhà hàng tại Indonesia và Singapore. Nguyên nhân thất bại của startup là đã có một số quyết định mạo hiểm, kể cả việc nhận đầu tư theo hình thức nợ thay vì nhận đầu tư mạo hiểm. Và điều này khiến công ty lâm vào tình trạng thiếu kinh phí để duy trì sự tồn tại.
11. Alikolo
Alikolo là trang web TMĐT được sáng lập bởi Danny Taniwan – một người lần đầu làm kinh doanh. Ông đã thừa nhận mình thiếu kinh nghiệm trong việc điều hành công ty. Thậm chí, Danny đã có những sai lầm chết người khi để các nhà đầu tư thiên thần – những người còn ít kinh nghiệm về lĩnh vực này hơn ông - sở hữu một phần lớn cổ phần trong công ty.
12. Valadoo
Đây là một website cung cấp các gói tour du lịch tại Indonesia và đã đóng cửa vào tháng 5/2015. Người sáng lập nói, công ty thất bại vì quá tập trung vào tăng trưởng mà bỏ qua các yếu tố phát triển sản phẩm bền vững.
Sau đó, công ty đã sáp nhập với một công ty khác, khiến các yếu tố kỹ thuật trở nên phức tạp hơn, ngăn cản những nỗ lực trở lại của Valadoo. Những vấp ngã này khiến startup không thể gọi vốn cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
13. Paraplou
Startup khá nổi bật trong lĩnh vực TMĐT Indonesia đã đóng cửa vào tháng 10/2015. Công ty loan báo lý do đóng cửa là do quá non nớt trên thị trường, điều kiện tài chính không chắc chắn và khó khăn khi gọi vốn. Trang web này từng được quản lý bởi hai cựu giám đốc của Rocket Internet – những người đã làm việc tại Lazada Indonesia.
14. Kirim
Vào cuối năm 2015, Kirim lặng lẽ đóng cửa sau khi hoạt động trong lĩnh vực giao hàng trong 7 năm. Startup này đã không công bố lý do nhưng Tech in Asia nhận định, việc phát triển mạnh mẽ dịch vụ giao hàng theo yêu cầu của Go-Jek và GrabBike chính là nguyên nhân dẫn đến “cái chết” của Kirim.
Tại Israel
15. Everything.me
Đây là một ứng dụng bổ sung tính năng cho điện thoại Android. Mặc dù có trong tay 35 triệu USD và 15 triệu lượt tải ứng dụng, công ty vẫn quyết định đóng cửa. Nhóm startup cho biết họ không tìm được mô hình kinh doanh phù hợp cho những ứng dụng miễn phí của mình.
Tại Singapore
16. KotaGames
Trang web chơi game Kota Games đã đóng cửa vào tháng 3/2015, sau khi ra mắt từ 2008. TMG – Công ty mẹ của Kota Games cho biết họ đã không thể tìm được mô hình kinh doanh phù hợp để thích ứng với sự gia tăng mạnh mẽ của smartphone chơi game, dẫn đến khách hàng không còn quan tâm đến những trò chơi trên nền tảng web.
17. Lamido
Lamido là một phần của Rocket Internet – vốn phát triển rất mạnh mẽ tại Đông Nam Á. Startup này có trụ sở chính tại Singapore, một thị trường TMĐT phát triển mạnh mẽ. Thế nhưng, công ty đã không cạnh tranh lại những doanh nghiệp tại địa phương.
CEO Maximilian Bittner của Lazada Group cho biết: “Lamido giải thể nhưng thực chất là sáp nhập vào Lazada. Ông cũng cho biết, việc sáp nhập này là một quá trình tự nhiên để tận dụng được những thế mạnh của cả hai và mở rộng thị trường".
18. Superdeals
Công ty viễn thông quốc gia SingTel của Singapore đóng cửa trang web cung cấp các gói giảm giá hàng ngày SuperDeals. Điều này có lẽ không phải bất ngờ lớn bởi vì các mô hình bán các phiếu giảm giá đã trở nên quá dư thừa trên toàn cầu. Groupon – một mô hình trong lĩnh vực này đã từng tăng trưởng bùng nổ trong vài năm trước cũng đã trở nên rất ảm đạm gần đây.
19. Molome
Người châu Á rất thích chụp ảnh và đăng lên mạng xã hội. Molome là ứng dụng làm cho hình ảnh vui nhộn hơn bằng cách thêm các loại nhãn dán và văn bản vào hình ảnh. Người sáng lập công ty tuyên bố vào năm 2014, ứng dụng có 40.000 người dùng hoạt động hàng ngày, tải lên hơn 15.000 bức ảnh mỗi ngày.
Nhưng tất cả những điều đó chưa đủ để cạnh tranh với các đối thủ chia sẻ ảnh Instagram và Snapchat. Giữa tháng 10/2015, những người sáng lập đã quyết định đóng cửa ứng dụng và viết một lời tạm biệt cho người dùng:
“Thật buồn khi thông báo với bạn rằng Molo quyết định "ngủ đông" bắt đầu từ mùa đông này. Nền tảng chia sẻ ảnh không rẻ và không có tài trợ, chúng tôi không thể tiếp tục cuộc hành trình”.
Tại Việt Nam
20. Beyeu
Trang web TMĐT Beyeu cung cấp sản phẩm dành cho mẹ và bé. Cái chết của Beyeu khiến những startup trong lĩnh vực này hoang mang và khá bi quan. Công ty được hỗ trợ bởi Project Lana, một công ty internet tại Việt Nam và là cộng đồng trực tuyến lớn dành phụ nữ.
Lời nhắn của Beyeu khi mới đóng cửa Nguyên nhân thất bại được nhận định là do sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực TMĐT.
Nhóm startup cũng đã để lại một lời thông báo trên trang web, sau khi công ty đóng cửa: "TMĐT đòi hỏi rất nhiều tiền. Nhiều công ty sẽ quyết định ngừng đốt tiền. Chúc may mắn với những người vẫn đang cố gắng".
Theo TĂNG KHÁNH
DNSG

Intel đã nuôi "con quái vật" Amazon khôn lớn và có thể sẽ phải trả giá vì điều đó

Amazon Web Services, Microsoft Azure, ... những người khổng lồ đại diện cho dịch vụ điện toán đám mây, nhưng họ, cũng như ngành điện toán đám mây sẽ khó có thể thành công như hiện nay nếu không có sự hỗ trợ từ phía Intel. Nhưng liệu Intel còn có thể thu lợi từ sự thành công này trong bao lâu nữa ?


Intel đã nuôi "con quái vật" Amazon khôn lớn và có thể sẽ phải trả giá vì điều đó

Chip xử lý của Intel hiện đang chiếm 95% thị trường máy chủ, cung cấp sức mạnh cho các trung tâm dữ liệu lớn nhất thế giới. Trong đó bao gồm phần lớn các trung tâm điện toán đám mây, như Amazon Web Services và Microsoft Azure, những công ty sử dụng các con chip được tùy biến cao của Intel.
Được hỗ trợ bởi những con chíp hiệu năng cao của Intel, AWS hiện đang thu được 7 tỷ USD mỗi năm, trong khi đó, theo Ngân hàng Deutsch Bank, ước tính doanh thu của Azure vào khoảng 1,4 tỷ USD.
Với việc thị trường điện toán đám mây đang phát triển mạnh mẽ, liệu bộ phận Data Center của Intel, phụ trách việc sản xuất chip cho server và đã mang lại doanh thu 4,1 tỷ USD trong riêng quý trước, có thể thu được nhiều tiền hơn nữa không?
Từ chỗ chỉ chiếm xấp xỉ 20% doanh thu năm 2014 của bộ phận Data Center, năm 2015 mảng khách hàng là các dịch vụ đám mây đã chiếm hơn 20% doanh thu của cả bộ phận
Theo các nhà phân tích, câu trả lời là không. Sự gia tăng thị phần của các nhà cung cấp dịch vụ đám mây đã mang lại cho họ ưu thế về quyền thương lượng lớn hơn cả Intel, và thậm chí có thể buộc Intel phải giảm giá nhiều hơn.
Nguyên nhân rất đơn giản: nếu có ngày càng nhiều các công ty đóng cửa trung tâm dữ liệu của riêng họ, để thuê máy chủ và bộ nhớ lưu trữ tại các trung tâm dịch vụ đám mây, tập khách hàng của Intel sẽ chỉ còn tập trung vào số ít các công ty lớn, như AWS và Azure, giúp họ có nhiều quyền lực hơn khi đàm phán.
Trên thực tế, theo Deutsch Bank, tập đoàn GE dự định đóng cửa 30 trong tổng số 34 trung tâm dữ liệu của họ cho đến 2020, trong khi Capital One đã sẵn sàng để đóng cửa 5 trong số 8 trung tâm dữ liệu của mình để chuyển công việc của bộ phận IT sang cho AWS. Azure dù vẫn còn đang tụt lại phía sau, nhưng theo Gartner dự đoán, nền tảng này đang phát triển nhanh hơn AWS tại một số khu vực.
“Nếu một số công ty cung cấp điện toán đám mây lớn trở nên lớn hơn, họ sẽ có ảnh hưởng lớn hơn khi thương lượng với Intel” Patrick Moorhead, nhà phân tích tại Moor Insights & Strategy, nói với tờ Business Insider: “Nói cách khác, Intel đã tích cực trợ giúp để tạo ra một con quái vật.”
Phụ thuộc vào cách bạn định nghĩa “đám mây”
Intel đang cố gắng giảm sự phụ thuộc của mình vào doanh thu của mảng chip cho máy tính cá nhân khi thị trường PC tiếp tục suy giảm, và giờ Data Center Group trở thành bộ phận tăng trưởng nhanh và nhiều lợi nhuận nhất của Intel.
Hiện các dịch vụ đám mây vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với quy mô toàn thị trường mảng trung tâm dữ liệu, và có lẽ dịch vụ này sẽ phải mất nhiều năm nữa để trở thành một giải pháp cho các doanh nghiệp lớn trong thực tế. Nhưng các nhà cung cấp dịch vụ đám mây cũng đang đại diện cho bộ phận tăng trưởng doanh thu nhanh nhất của nhóm Data Center.
Theo Deutsch Bank, doanh số hàng năm từ việc cung cấp chíp CPU của Intel cho các dịch vụ đám mây đã tăng 50% từ năm 2009 đến nay. Điều này có nghĩa là phần doanh thu tăng lên của bộ phận này sẽ đến từ số khách hàng ít hơn.
“Đó sẽ là rủi ro cho Intel khi khách hàng của họ có quyền lực thị trường lớn khi thương lượng. Intel đang tìm kiếm một hệ sinh thái đa dạng hơn.” Nhà phân tích về điện toán đám mây của Gartner, Lydia Leong cho biết.
Tuy nhiên, người đứng đầu bộ phận Data Center của Intel, Diane Bryant lại không đồng ý với nhận định này. Bà cho rằng doanh số của bộ phận không chỉ đến từ các nhà cung cấp dịch vụ đám mây lớn, mà còn một hàng dài các trung tâm dữ liệu riêng của các công ty khác.
“Top 10 các nhà cung cấp dịch vụ đám mây tiếp tục tăng trưởng rất tốt, nhưng 200 công ty tiếp theo đang tăng trưởng với tốc độ gấp đôi so với top 10.” Bà Bryant cho biết.
Trên tất cả, bà Bryant cho rằng công nghệ của Intel vượt xa so với các đối thủ cạnh tranh khác, và các khách hàng sẽ tiếp tục sử dụng chip của Intel trong một thời gian dài nữa. Ví dụ như AWS, vừa mới tháng trước họ vừa mới thông báo rằng họ sẽ sử dụng E7, bộ vi xử lý Xeon tiên tiến nhất của Intel cho đám mây của mình.
“Khi bạn làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ đám mây, họ sẽ muốn được sử dụng các công nghệ tốt nhất một cách nhanh nhất có thể. Họ luôn tìm kiếm các giải pháp riêng để tùy chỉnh sản phẩm.”
Đối thủ cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của Intel có thể sẽ không kéo dài quá lâu khi các đối thủ như ARM đang bắt đầu ký kết hợp đồng với các khách hàng lớn.
Jim McGregor, nhà phân tích của hãng nghiên cứu TIRIAS Research, chỉ ra rằng các công ty như PayPal đã chấp nhận chíp nền tảng ARM trong các trung tâm dữ liệu của mình và việc đó đang cho các kết quả tích cực. “Về cơ bản PayPal nói rằng: Chúng tôi hợp tác với ARM vì chúng tôi cần một giải pháp chỉnh sửa rất đặc thù, và họ sẽ làm bất cứ điều gì chúng tôi muốn.” McGregor cho biết.
Hơn hết, các báo cáo gần đây còn cho biết các công ty như Amazon và Google có thể tiến tới việc sử dụng “cây nhà lá vườn” trong tương lai, tiến gần hơn đến việc trở thành nhà sản xuất chip xử lý. Ví dụ như Amazon, đã chi ra 350 triệu USD để thâu tóm công ty thiết kế chip có tên Annapurna Labs vào đầu năm nay.
Bà Bryant hiểu rõ rằng sự cạnh tranh đang tăng lên, nhưng bà vẫn tin tưởng rằng việc kinh doanh của bộ phận Data Center đang ở vị trí tốt. Trung bình tăng trưởng hàng năm của bộ phận này là 15%, và Intel đang tiếp tục đầu tư vào công nghệ, khi bỏ ra 16,7 tỷ USD để thâu tóm Altera trong năm nay.
“Khi bạn nắm 97% thị phần, bạn sẽ luôn phải tìm xem sự cạnh tranh có thể đến từ đâu.” Bà Bryant cho biết. “Chừng nào tôi còn đưa cho các nhà cung cấp dịch vụ đám mây những công nghệ tốt nhất, tôi tin rằng họ sẽ tiếp tục dựa vào những khoản đầu tư của chúng tôi.”
Theo Nguyễn Hải
Trí Thức Trẻ/GenK

Intel sống sao khi thị trường PC sụt giảm?

Intel báo cáo lợi nhuận đạt 3,11 tỷ USD trong Q3, giảm 7% so với cùng kỳ năm ngoái.


Intel sống sao khi thị trường PC sụt giảm?
CEO Brian Krzanich của Intel.

Thị trường PC đang có dấu hiệu chững lại và sụt giảm so với những năm trước đây, nguyên nhân chính là do sự trỗi dậy của các thiết bị di động. Và đây là một tin không vui đối với Intel, hãng sản xuất và kinh doanh chip xử lý máy tính.
Mặc dù Intel đã kịp thời ra mắt dòng chip xử lý Skylake mới nhằm hỗ trợ tối đa hệ điều hành Windows 10, nhưng có vẻ như nó không thể ngăn cản sự sụt giảm của thị trường PC trên toàn thế giới.
Mới đây nhất, gã khổng lồ sản xuất chip xử lý này đã thông báo kết quả kinh doanh của Q3/2015. Trong đó, lợi nhuận đạt 3,11 tỷ USD, giảm 7% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên tổng doanh thu không thay đổi nhiều ở mức 14,47 tỷ USD.
Đáng buồn nhất là bộ phận chip máy tính có doanh số giảm 15% và doanh thu giảm 7%, đạt mức 8,5 tỷ USD. Mặc dù mảng kinh doanh Internet of Things tăng trưởng 10% nhưng cũng chỉ đạt doanh thu 581 triệu USD và chiếm một phần rất nhỏ trong tổng doanh thu của Intel.
Nhà phân tích Mark Hung của Gartner cho biết: “Windows 10 và Skylake sẽ không thể giúp công ty tăng trưởng doanh thu. Chúng chỉ là những công nghệ hỗ trợ cho sản phẩm”.
Theo ông Hung, thị trường cần phải có những sản phẩm, những thiết bị, những nền tảng mới giống như chiếc Surface Book của Microsoft hay chiếc máy ảnh Real Sense của Intel thì mới có thể vực dậy thị trường.
Và dường như Intel cũng tự ý thức được điều này. Giám đốc điều hành của Intel, ông Brian Krzanich phát biểu trong cuộc họp hôm thứ 3 vừa qua: “Tôi tin rằng chúng ta đang có rất nhiều lợi thế. Chúng ta có hệ điều hành Windows 10 hoàn toàn mới, có chip xử lý thế hệ thứ 6 Skylake cùng với những sản phẩm mới như Real Sense. Do đó tôi nghĩ rằng đây là thời điểm rất lạc quan”.
CEO Krzanich chỉ ra rằng có cả trăm thiết bị mới được xây dựng trên nền tảng Windows 10 và chip Skylake sắp ra mắt vào cuối năm nay. Có thể nó sẽ mất một thời gian cho đến khi chúng ta thấy được kết quả của sự tăng trưởng doanh số thị trường máy tính.
Nhà phân tích Patrick Moorhead của Moor Insights and Strategy nhận định: “Tôi thực sự thấy lạc quan đối với doanh số của thị trường PC trong Q4 sắp tới. Nhiều thiết bị mỏng, nhẹ dựa trên nền tảng Skylake và Windows 10 sẽ đủ sức hấp dẫn người tiêu dùng. Đặc biệt là khi có hơn 400.000 triệu máy tính khắp thế giới đã trên 4 tuổi, họ sẽ có nhu cầu mua những sản phẩm mới”.
Bên cạnh đó, Intel cũng có thể bù đắp sự sụt giảm trong doanh số chip xử lý máy tính bằng các lĩnh vực kinh doanh khác. Đó chính là các trung tâm dữ liệu và nền tảng IoT doanh nghiệp.
Tuy nhiên có một thực tế là mảng kinh doanh chip xử lý máy tính cá nhân trị giá 35 tỷ USD chiếm tới 65% tổng doanh thu của Intel. Do đó, chắc chắn sự sụt giảm của thị trường PC sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới tổng doanh thu của Intel.
Gã khổng lồ chip xử lý Intel sẽ còn khá nhiều việc phải làm nếu như muốn mảng kinh doanh cốt lõi của mình mang về lợi nhuận khủng trong các quý tiếp theo. Chuyển hướng kinh doanh sang những lĩnh vực mới nhiều triển vọng hơn cũng có thể là một biện pháp giúp các công ty công nghệ tiếp tục tồn tại, khi mà thị trường thế giới luôn biến động.
Theo Trí Thức Trẻ/GenK