Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Nguyên nhân chính trị của sự trì trệ kinh tế toàn cầu hiện nay

Joseph E. Stiglitz
Năm 2014, nền kinh tế thế giới vẫn mắc kẹt trong vết lún xuất hiện từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Bất chấp những hành động có vẻ mạnh tay của chính phủ các nước Châu Âu và Hoa Kỳ, cả hai nền kinh tế này vẫn phải gánh chịu những cuộc suy thoái sâu sắc và kéo dài. Có một sự chênh lệch quá lớn giữa tình trạng hiện tại và sự thịnh vượng mà các nền kinh tế này rất có thể đã đạt được nếu cuộc khủng hoảng không diễn ra. Tại Châu Âu, sự chênh lệch này còn tăng dần qua từng tháng.
Những nước đang phát triển thì xoay sở tốt hơn, nhưng ngay cả ở đó tình hình cũng nhuốm màu ảm đạm. Những nền kinh tế thành công nhất – mà tăng trưởng vốn dựa vào xuất khẩu – vẫn tiếp tục phát triển sau cuộc khủng hoảng tài chính, ngay cả khi các thị trường xuất khẩu của họ đều chật vật. Nhưng đến 2014, thành tích của những nước này cũng đã bắt đầu chững lại đáng kể.
Năm 1992, chiến dịch tranh cử tổng thống thành công của Bill Clinton chỉ dựa trên một câu khẩu hiệu đơn giản: “Đó chính là kinh tế, đồ ngốc!” (It’s the economy, stupid). Nhìn từ quan điểm hiện tại, tình hình ngày đó không đến nỗi tệ, bởi thu nhập của một hộ gia đình điển hình ở Mỹ ngày nay còn thấp hơn. Nhưng chúng ta có thể lấy cảm hứng từ nỗ lực của Clinton ngày ấy. Căn bệnh đang dày vò nền kinh tế toàn cầu có thể được phản ánh rõ nhất trong hai câu đơn giản: “Đó là chuyện chính trị, đồ ngốc!” và “Cầu, cầu và cầu”.
Sự đình trệ diễn ra gần như trên toàn cầu trong năm 2014 là do con người tạo nên. Đó là kết quả của việc chính trị và chính sách ở một số nền kinh tế chủ chốt đã kìm hãm nguồn cầu. Thiếu vắng lượng cầu sẽ dẫn đến hạn chế về đầu tư và việc làm. Đơn giản vậy thôi.
Điều này được thể hiện rõ nhất ở khu vực đồng tiền chung Châu Âu (Eurozone), nơi các quốc gia đã chính thức áp dụng chính sách thắt lưng buộc bụng, cắt giảm mạnh chi tiêu của chính phủ, từ đó dẫn đến sự giảm sút trong chi tiêu cá nhân. Sự trì trệ trong cấu trúc khu vực đồng euro hiện nay có một  phần nguyên nhân do những điều chỉnh để đối phó với cú sốc từ cuộc khủng hoảng. Khi sự liên kết trong hệ thống các ngân hàng lỏng lẻo, đương nhiên dòng tiền sẽ chảy ra khỏi những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, làm suy yếu hệ thống tài chính và kìm hãm việc cho vay và đầu tư.
Tại Nhật Bản, một trong ba “mũi tên” của chương trình phục hồi kinh tế được Thủ tướng Shinzo Abe khởi xướng đã bị thực hiện sai hướng. Việc tăng thuế tiêu dùng vào tháng tư (2014), kéo theo sự tụt giảm của GDP càng minh chứng cho tính đúng đắn của lý thuyết kinh tế học Keynes[1] – cứ như thể từ trước tới giờ vẫn chưa có đủ bằng chứng (cho người ta rút kinh nghiệm) vậy.
Hoa Kỳ đã áp dụng chính sách thắt lưng buộc bụng ở mức thấp nhất, và thu được những thành quả kinh tế tích cực nhất. Nhưng ngay cả ở Mỹ, hiện tại số người làm trong lĩnh vực công đã giảm khoảng 650.000 người so với trước khủng hoảng – thông thường con số này phải cao hơn thêm hai triệu người (so với số lượng hiện tại). Hệ quả là nước Mỹ cũng phải chịu khó khăn khi tăng trưởng yếu dẫn tới tiền lương nhìn chung bị trì trệ.
Sự chững lại của kinh tế Trung Quốc phản ánh tốc độ tăng trưởng suy giảm tại các quốc gia mới nổi và đang phát triển. Trung Quốc hiện là nền kinh tế lớn nhất thế giới (nếu xét theo sức mua tương đương – PPP), và nước này vốn là nguồn động lực chính cho tăng trưởng toàn cầu. Nhưng thành công phi thường của Trung Quốc đã làm phát sinh nhiều vấn đề cho chính nước này và cần được giải quyết càng sớm càng tốt.
Sự chuyển đổi của nền kinh tế Trung Quốc từ chú trọng về lượng sang chất được hoan nghênh: đó gần như là một điều thiết yếu. Mặc dù cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Chủ tịch Tập Cận Bình có làm chậm lại hơn nữa tốc độ tăng trưởng kinh tế do tình trạng tê liệt (vì sợ bị điều tra tham nhũng – NBT) sẽ kìm hãm lĩnh vực đầu tư công, nhưng ông Tập chẳng có lý do gì để nới lỏng chiến dịch này. Trái lại, những vấn đề đang làm xói mòn sự tín nhiệm đối với chính phủ – như các vấn đề về môi trường ngày càng lan rộng, bất bình đẳng ở mức cao và trên đà gia tăng, và tình trạng gian lận trong khu vực tư nhân – tất cả đều cần được giải quyết với sự quyết liệt như nhau.
Nói một cách ngắn gọn, thế giới không nên kỳ vọng Trung Quốc sẽ giúp thúc đẩy tổng cầu trên toàn cầu vào năm 2015. Thậm chí chúng ta nên chuẩn bị để giải quyết sự tụt giảm lượng cầu thậm chí còn lớn hơn.
Trong khi đó, có thể thấy sự trừng phạt của phương Tây đã làm suy giảm tốc độ tăng trưởng của Nga, đồng thời cũng gây tác động ngược trở lại một Châu Âu vốn đã suy yếu. (Đây không phải là một ý kiến phản đối lệnh trừng phạt: Thế giới cần phải có lời đáp lại động thái xâm lược Ukraina của Nga, và các giám đốc điều hành ở phương Tây ủng hộ quan điểm ngược lại chỉ để bảo vệ những khoản đầu tư của mình đã thể hiện một sự thiếu nguyên tắc đáng ngại.)
Trong sáu năm qua, phương Tây đã tin rằng chính sách tiền tệ có thể giải quyết mọi vấn đề. Cuộc khủng hoảng đã dẫn tới một khoản thâm hụt ngân sách khổng lồ và những khoản nợ chồng chất, và người ta cho rằng nhu cầu giảm nợ đồng nghĩa với việc xếp chính sách tài khóa sang một bên.
Vấn đề là mức lãi suất thấp sẽ không mang lại cho các doanh nghiệp động lực để đầu tư khi không có lượng cầu cho sản phẩm của họ. Mức lãi suất thấp cũng chẳng khiến cá nhân muốn vay tiền để tiêu dùng khi họ lo lắng cho tương lai của mình (mà đúng là họ nên lo lắng). Điều mà chính sách tiền tệ có thể làm là tạo ra các bong bóng tài sản. Nó cũng có thể làm tăng giá trái phiếu chính phủ ở Châu Âu, từ đó chặn trước nguy cơ nổ ra một cuộc khủng hoảng nợ quốc gia. Tuy vậy cần phải hiểu rằng khả năng việc nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ giúp phục hồi sự thịnh vượng toàn cầu là số 0.
Điều này đưa chúng ta quay lại vấn đề về chính trị và chính sách. Nguồn cầu hiện là thứ thế giới cần nhất. Khu vực tư nhân sẽ chẳng tạo thêm lượng cầu – dù có sự hỗ trợ hào phóng từ phía những người điều hành chính sách tiền tệ. Nhưng chính sách tài khóa thì có thể. Chúng ta có rất nhiều lựa chọn đầu tư công đảm bảo mang lại kết quả cao – cao hơn nhiều so với chi phí vốn thực – và giúp tăng cường cân đối bảng tài chính của các quốc gia tiến hành các khoản đầu tư này.
Vấn đề lớn nhất thế giới phải đối mặt trong năm 2015 không phải là kinh tế. Chúng ta biết cách để chữa khỏi căn bệnh hiện tại. Vấn đề nằm ở sự ngu xuẩn trong chính trị của chúng ta.
Biên tập: Phạm Hồng Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Nguồn: Joseph E. Stiglitz, “The politics of Economic Stupidity”, Project Syndicate, 20/1/2015
Nghiencuuquocte.net
Joseph E. Stiglitz từng nhận giải Nobel về kinh tế học và là Giáo sư giảng dạy tại Đại học Columbia. Ông từng là Chủ tịch Hội đồng tư vấn về kinh tế dưới thời Tổng thống Bill Clinton, là cựu Phó Chủ tịch và kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới. Cuốn sách mới nhất của ông, với đồng tác giả là Bruce Greenwalk, có tựa đề “Tạo dựng một Xã hội Học tập: một cách tiếp cận mới về Tăng trưởng, Phát triển, và Tiến bộ xã hội” (Creating a Learning Society: A New Approach to Growth, Development, and Social Progress.)

Chủ nghĩa kiến tạo (Constructivism)

900-world-map-poster
Tác giả: Phạm Thủy Tiên
Hầu như sự phát triển của các lý thuyết quan hệ quốc tế đều được nảy sinh từ các phản ứng với chất xúc tác là các sự kiện lịch sử: sự nổi lên của chủ nghĩa tự do sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, của chủ nghĩa hiện thực sau các khủng hoảng trong thời kỳ hưu chiến và sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, và của chủ nghĩa kiến tạo (constructivism) sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.
Việc Chiến tranh Lạnh chấm dứt đã làm xói mòn những luận giải của cả chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa hiện thực. Cả hai đều đã không thể tiên đoán cũng như nhận thức đầy đủ về sự biến chuyển mang tính hệ thống đang tái định hình trật tự thế giới cũng như sự chấm dứt của Chiến tranh Lạnh. Tình hình đó tạo điều kiện cho sự nổi lên của một trường phái mới: chủ nghĩa kiến tạo.
Các nhà hiện thực chủ nghĩa cho rằng các quốc gia theo đuổi quyền lực, và do bản chất của hệ thống thế giới là “vô chính phủ” nên các quốc gia buộc phải thực thi chiến lược “tự cứu”, cạnh tranh quyền lực với các quốc gia khác để đảm bảo an ninh cho mình, và vì vậy không tồn tại khả năng hợp tác quốc tế bền vững. Trong khi đó, chủ nghĩa tự do đề cao lợi ích của hợp tác quốc tế, vốn có thể giúp các quốc gia thu được lợi ích tuyệt đối từ mối quan hệ với các quốc gia khác. Mặc dù khác nhau về quan điểm nhưng cả hai trường phái chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do đều là những lí thuyết của chủ nghĩa duy lý.
Ba thế giới quan của Wendt
Alexander Wendt, người được coi là đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa kiến tạo, xác định ba nền văn hóa của chính trị thế giới. Lấy ý tưởng từ các triết gia cổ điễn, Wendt gọi thế giới mà các nước đối đầu với nhau, thiếu vắng niềm tin và luôn có xu hướng sử dụng sức mạnh là thế giới của Hobbes (dựa trên tư tưởng của triết gia Thomas Hobbes). Trong hình dung về một trật tự mà các quốc gia có thể cạnh tranh, đối đầu, nhưng cũng có thể hợp tác và kết minh tùy theo mục đích, lợi ích và tình thế, được Wendt gọi là thế giới của Locke (dựa trên tư tưởng của nhà triết học người Anh John Locke). Cuối cùng thế giới các nước sống với nhau trong tình huynh đệ, tin tưởng, hòa bình được gọi là thế giới của Kant (dựa trên tư tưởng của Immanuel Kant, triết gia người Đức).
Trong khi đó, chủ nghĩa kiến tạo lại cho rằng bản sắc, các chuẩn tắc, niềm tin và các giá trị cũng mang tính cấu trúc và tạo nên ảnh hưởng mạnh mẽ lên các hoạt động chính trị – xã hội. Chủ nghĩa kiến tạo nhấn mạnh rằng tầm quan trọng của những cấu trúc chuẩn tắc tương đương nếu không nói là vượt trội hơn so với cấu trúc vật chất. Theo các nhà kiến tạo, mỗi quốc gia có một bản sắc quốc gia, hay cách quốc gia đó nhận thức về bản thân mình, và bản sắc quốc gia này giúp định hình các mục tiêu mà quốc gia đó theo đuổi, như an ninh, chính sách đối ngoại hay phát triển triển kinh tế. Tuy nhiên cách thức mà các quốc gia hiện thực hóa các mục tiêu này như thế nào lại phụ thuộc vào bản sắc xã hội, hay là cách các quốc gia nhận thức về bản thân mình trong mối quan hệ với các quốc gia khác trong xã hội quốc tế. Các quốc gia sẽ xác định lợi ích quốc gia của mình dựa trên cơ sở là những bản sắc này.
Các nhà kiến tạo thừa nhận rằng tình trạng vô chính phủ là điều kiện đặc trưng của hệ thống quốc tế, nhưng cho rằng, tự thân tình trạng vô chính phủ đó không tồn tại mặc nhiên bên ngoài ý thức của các quốc gia. Ví dụ, tình trạng vô chính phủ giữa những quốc gia hữu hảo khác với tình trạng vô chính phủ giữa những quốc gia đối địch. Vì vậy điều quan trọng chính là những cấu trúc xã hội khác nhau tồn tại trong tình trạng vô chính phủ đó. Các quốc gia có thể có nhiều bản sắc xã hội khác nhau, và các bản sắc xã hội này có thể mang tính hợp tác hoặc xung đột, và lợi ích của quốc gia cũng biến đổi tùy thuộc vào bản sắc xã hội mà quốc gia xác định tương ứng. Nói cách khác, các quốc gia xác định lợi ích của mình bằng cách diễn giải bối cảnh xã hội mà họ tham gia. Vì vậy, các nhà kiến tạo cho rằng bối cảnh Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô là một cấu trúc xã hội mà trong đó hai siêu cường coi nhau như kẻ thù, đồng thời xác định lợi ích quốc gia của mình theo hướng đối kháng nhau. Một khi hai quốc gia này không còn coi nhau là kẻ thù nữa thì Chiến tranh Lạnh tự động kết thúc.
Tương tự như vậy, Canada và Cuba đều tồn tại bên sườn nước Mỹ nhưng các yếu tố cân bằng quân sự giản đơn đều không giải thích được tại sao Canada là đồng minh thân cận của Mỹ còn Cuba lại là kẻ thù không đội trời chung. Ý niệm về bản sắc và cấu trúc về bạn – thù đã làm mối cân bằng quyền lực giữa Canada và Mỹ hay giữa Mỹ và Cuba mang những ý nghĩa khác nhau.
Có thể thấy, chủ nghĩa kiến tạo tương phản với chủ nghĩa duy lý trong hai vấn đề quan trọng. Thứ nhất, thay vì coi lợi ích được quyết định bởi các yếu tố tác động từ bên ngoài, tạo nên thứ tự ưu tiên cho các tương tác xã hội như các nhà duy lý, các nhà kiến tạo cho rằng những lợi ích đó tự phát sinh trong mỗi chủ thể trong quá trình tương tác, xuất phát từ các đặc tính có được thông qua quá trình học hỏi và các tiến trình giao tiếp khác, đồng thời phản ánh kinh nghiệm và vai trò quyền lực của chủ thể đó. Thứ hai, là trong khi các nhà duy lý xem xét xã hội như một không gian – trong đó các chủ thể tính toán để theo đuổi lợi ích của mình, thì các nhà kiến tạo lại xem xã hội như một môi trường có thể tác động lên các chủ thể chính trị; đồng thời là phạm vi định hình nên các chủ thể trong chính xã hội đó. Họ nhấn mạnh đến yếu tố “luôn chịu sự tác động của các tác nhân xã hội”,  trong từng hành động của các chủ thể.
Việc vận dụng Chủ nghĩa kiến tạo với tư cách là một lý thuyết quan hệ quốc tế có một số hạn chế nhất định. Ví dụ, chủ nghĩa kiến tạo không xác định bất kỳ một cấu trúc xã hội đặc biệt nào chi phối hành vi của các quốc gia. Thay vào đó, chủ nghĩa kiến tạo cho rằng các nhà nghiên cứu phải kiểm tra, phân tích và thấu hiểu từng mối quan hệ xã hội cụ thể, sau đó mới có thể dự đoán hành vi của quốc gia trong cấu trúc đó. Khi những dự đoán này được chứng minh là sai thì chủ nghĩa kiến tạo lại cho rằng đó là bởi cấu trúc xã hội chi phối đó đã bị hiểu sai hoặc đã thay đổi. Điều này dẫn tới những nghi ngờ về giá trị của chủ nghĩa kiến tạo trong việc giải thích hay dự đoán các hiện tượng trong quan hệ quốc tế.
Tuy nhiên, sau sự kiện 11/9, chủ nghĩa kiến tạo đã được vận dụng để lý giải một số vấn đề quan trọng, ví dụ như bản chất của quyền lực. Theo các nhà kiến tạo, quyền lực còn được cấu thành từ những nhân tố phi vật chất, trong đó đáng kể nhất là tính chính nghĩa, và tính chính nghĩa này lần lượt chịu tác động của những chuẩn tắc đã được xác lập bởi các tư tưởng hay hoạt động thực tiễn đúng đắn. Cuộc tranh luận tại Hội đồng Bảo an xung quanh việc Mỹ xâm lược Iraq năm 2003 đã làm rõ mối liên hệ phức tạp giữa những chuẩn tắc của các thể chế và các cách thức hành động trên thực tế, giữa những hành động chính trị phù hợp với luật pháp quốc tế và các hành động đơn phương bất hợp pháp. Mỹ đã huy động những nguồn lực vật chất để xóa bỏ chế độ của Saddam Hussein mà không có sự đồng ý của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, vì vậy Mỹ đã phải rất vất vả đối mặt với cáo buộc hành động phi nghĩa và không chính đáng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng chiếm đóng và tái xây dựng Iraq của Mỹ. Sự kiện này đã thúc đẩy các nhà kiến tạo làm rõ khía cạnh xã hội của quyền lực, hay nghiên cứu hệ thống luật quốc tế, vốn là một phạm trù có liên quan mật thiết đến khía cạnh chính trị của các chuẩn tắc, tính chính đáng và quyền lực.
Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

3 Mục tiêu ngoại giao quân sự của Trung Quốc

U138P200T1D332909F8DT20100809073737
Nguồn: Shannon Tiezzi, “3 goals of China’s military diplomacy”, The Diplomat, 30/01/2015.
Biên dịch: Trần Quốc Nam | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Trung Quốc tìm cách hoàn thành ba việc trong chính sách ngoại giao quân sự: răn đe, lập chương trình nghị sự và tái trấn an.
Hôm thứ Năm, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (đồng thời là Chủ tịch UB Quân ủy Trung ương) nói rằng Trung Quốc sẽ quan tâm hơn tới ngoại giao quân sự như là một phần của tổng thể chiến lược đối ngoại. Ông Tập đã phát biểu tại một cuộc họp với các cơ quan quân đội và các quan chức quân sự khác liên quan đến công tác ngoại giao. Cán bộ tham dự bao gồm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Phạm Trường Long (Fan Changlong), một Phó Chủ tịch quân ủy khác kiêm Tư lệnh không quân Trung Quốc Hứa Kỳ Lượng (Xu Qiliang), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Thường Vạn Toàn; Tổng tham mưu trưởng Phòng Phong Huy (Fang Fenghui) và Tư lệnh hải quân Ngô Thắng Lợi (Wu Shengli).
Ông Tập hô hào các quan chức quân đội tham gia “khởi đầu một giai đoạn mới của chính sách ngoại giao quân sự”. Ông Tập lưu ý ĐCSTQ luôn coi ngoại giao quân sự là một công cụ quan trọng để thúc đẩy các mục tiêu ngoại giao tổng thể của Trung Quốc, bảo vệ an ninh quốc gia và xúc tiến việc xây dựng quân đội của Trung Quốc. Ngày nay, ngoại giao quân sự phải nổi trội hơn trong chiến lược ngoại giao và an ninh quốc gia của Trung Quốc, ông Tập nói.
Sự nhấn mạnh của Trung Quốc về ngoại giao quân sự được chứng minh vào năm ngoái khi Trung Quốc gia tăng trao đổi quân sự, các cuộc thăm viếng, và diễn tập chung. Một phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng đã tóm lược chính sách ngoại giao quân sự của Trung Quốc trong năm 2014 trong buổi họp báo cuối cùng trong năm. Theo phát ngôn viên Dương Vũ Quân (Yang Yujun), Trung Quốc tham gia 31 cuộc tập trận song phương hoặc đa phương. Đáng chú ý, ông Dương nói, trọng tâm của các cuộc diễn tập “mở rộng từ an ninh phi truyền thống đến an ninh truyền thống”. Các cuộc diễn tập trong năm 2014 “sát với thực tế chiến trường” hơn so với trước kia, ông Dương nói thêm.
Năm ngoái, Trung Quốc cũng hết sức tích cực trong việc gửi các sỹ quan quân đội ra nước ngoài hay đón tiếp đối tác nước ngoài. Như The Diplomat đưa tin, trong khoảng thời gian hai tuần trong tháng Bảy năm 2014, các quan chức quân đội Trung Quốc tổ chức cuộc họp với các quan chức Mỹ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, và Indonesia. Trung Quốc đã có một khởi đầu tích cực trong việc tiến hành các chuyến viếng thăm quân sự qua lại (năm nay) khi một đội tàu hải quân Trung Quốc đang thực hiện chuyến đi thăm châu Âu.
Cuối cùng, năm 2014 là năm bội thu về mặt can dự quân sự của Trung Quốc vào nhiều sứ mệnh nhân đạo hơn, từ cuộc chiến chống Ebola đến nỗ lực truy tìm dấu vết chuyến bay 370 của Malaysia Airlines. Trung Quốc cũng phái tiểu đoàn đầu tiên tham gia nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.
Trung Quốc hy vọng đạt điều gì qua việc ngày càng nhấn mạnh ngoại giao quân sự? Như Robert Farley nhận xét trong một bài trước đây trên The Diplomat, có một số lợi ích khả dĩ: thu thập tin tình báo về các tổ chức quân sự nước ngoài; tạo quan hệ cá nhân với nhân viên quân sự nước khác và phô trương sức mạnh quân sự của Trung Quốc.
Các thảo luận về chính sách ngoại giao quân sự của Trung Quốc có đề cập đến cả yếu tố răn đe. Khi ủng hộ một chính sách ngoại giao quân sự hiệu quả hơn, ông Tập cũng kêu gọi các quan chức “có sự đóng góp mới, lớn hơn hướng tới thực hiện Giấc mơ Trung Hoa và giấc mơ có một quân đội mạnh”. Khi mô tả kết quả của hơn 30 cuộc tham gia diễn tập quân sự chung, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Dương Vũ Quân nói các cuộc tập trận “đã nâng cao sự tin tưởng lẫn nhau, hợp tác sâu sắc và cải thiện các kỹ năng. Đồng thời, quân đội Trung Quốc có được cơ hội để thể hiện hình ảnh tốt đẹp của chúng ta trên trường quốc tế.”
Có lẽ đối với Trung Quốc điều quan trọng hơn là biểu thị quân đội nước mình có xu thế trở thành một đội quân dẫn đầu – không chỉ về công nghệ mà còn về ý thức hệ. Nói cách khác, ngoại giao quân sự của Trung Quốc là hệ quả tự nhiên của ước muốn đang tăng lên của Bắc Kinh về việc đóng vai trò lãnh đạo trên vũ đài thế giới, kể cả trong các thảo luận về quân sự. Một mẫu tin trên đài CCTV nhấn mạnh rằng ngoại giao quân sự của Trung Quốc đang đóng một vai trò tích cực hơn trong việc định hình các cuộc thảo luận hơn là phản ứng thụ động trước các chỉ trích như từng thấy trước kia.
Đối với chính sách ngoại giao quân sự của Trung Quốc, kiểu thiết lập chương trình nghị sự này là một mục tiêu quan trọng ngang với biểu thị thuần túy về khả năng. Đó là lý do vì sao Trung Quốc cố gắng đề cao Diễn đàn Hương Sơn (Xiangshan Forum) sánh với Diễn đàn thường niên Shangri-La như là một nền tảng hàng đầu cho viêc thảo luận các vấn đề an ninh khu vực – và đó là lý do vì sao Tân Hoa Xã đưa một Diễn đàn Hương Sơn mới, được cải tiến vào danh sách 10 “đột phá” trong ngoại giao quân sự trong năm 2014. Ngoại giao quân sự lớn mạnh hơn là một bộ phận chủ chốt trong tầm nhìn mới của Tập Cận Bình về một “chính sách ngoại giao đại cường mang đặc sắc Trung Quốc”.
Còn một mục tiêu khác đối với ngoại giao quân sự của Trung Quốc, đó là kết hợp việc phô trương quân sự với lập chương trình nghị sự – hóa giải luận điểm “mối đe dọa Trung Quốc” và tái trấn an về các tham vọng và chính sách của giới quân sự Trung Quốc. Có vẻ dường như trái với logic thông thường khi Trung Quốc muốn sử dụng ngoại giao quân sự để làm tiêu tan nỗi sợ này. Rốt cuộc, chuyến thăm một cảng Sri Lanka của một tàu ngầm Trung Quốc đã tạo ra một làn sóng bàn luận về tham vọng quân sự của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương – một sự bất an, ít ra là từ nhìn nhận của các nhà quan sát Ấn Độ.
Song Trung Quốc hy vọng cuối cùng thì bằng cách mở rộng các tiếp xúc quân sự ra bên ngoài, họ có thể thuyết phục được các lân bang (và các đối thủ tiềm tàng) rằng họ thành thật khi nói về một “sự trỗi dậy hòa bình”. Chính sách ngoại giao quân sự của Trung Quốc không chỉ nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, mà còn gửi ra ngoài các “phái viên hòa bình”, như Tân Hoa Xã tuyên bố trong một bài hồi tháng 12/2014. “Năm nay, vùng ngoại vi Trung Quốc rõ ràng chẳng bình yên. Chính sách ngoại giao quân sự của Trung Quốc đã có các nổ lực lớn hơn trong việc sử dụng các phương pháp hòa bình để khẳng định vị thế và hóa giải các cuộc khủng hoảng” bài báo giải thích. Nói cách khác, Trung Quốc muốn sử dụng ngoại giao quân sự để giải quyết các cuộc khủng hoảng mà không cậy đến vũ lực. Cuộc đàm phán với Mỹ về các “quy tắc ứng xử” và đàm phán với Nhật Bản trong việc thiết lập một cơ chế tham vấn hàng hải chứng thực cho mong muốn này. Trung Quốc cũng hy vọng rằng, bằng cách đơn giản là các kết nối với quân đội các nước, họ có thể thuyết phục thế giới rằng quân đội của họ không phải là một ông ba bị gây khiếp hãi. Các sứ mệnh nhân đạo đặc biệt hữu dụng trên khía cạnh này.
Trong ba mục tiêu chính mà Trung Quốc áp dụng cho chính sách ngoại giao quân sự – răn đe, lập chương trình nghị sự và tái trấn an – thì mục tiêu cuối cùng đã tỏ ra ít thành công nhất cho đến nay. Sự hiện diện về quân sự của Trung Quốc tại các vùng đất xa xôi có xu hướng thổi bùng các phân tích tiêu cực hơn về tham vọng quân sự của Trung Quốc hơn là thuyết phục thế giới về mục đích hòa bình của nước này. Nhưng khi các chuyến thăm (quân sự) như thế trở thành điều bình thường hơn là điều mới mẻ (và do vậy tỏ ra có khả năng gây đe dọa hơn), thì chúng ta có thể thấy Trung Quốc sẽ bắt đầu thu lợi từ sự hợp tác của các quốc gia khác.
Shannon Tiezzi là cây viết bình luận của tạp chí The Diplomat.

Đạo quân thứ năm của Putin tại Châu Âu

Putin-Merkel-Hollande
Nguồn: Yuriy Gorodnichenko, Gérard Roland & Edward Walker; “Putin’s European Fifth Column”, Project Syndicate, 15/02/2015.
Biên dịch:  Nguyễn Thị Kim Phụng | Hiệu đính: Lê Xuân Hùng
Nếu thế giới đã học được điều gì đó từ sự căng thẳng trong những tháng gần đây giữa Nga và phương Tây, thì đó là không bao giờ được đánh giá thấp tham vọng chiến lược và kỹ năng của Tổng thống Nga Vladimir Putin. Phương Tây nên xem xét những lời đề nghị gần đây của Putin với một số nước trong Liên minh châu Âu theo hướng như vậy.
Cho dù Putin có thực sự tin rằng cuộc nổi dậy chống Nga năm ngoái ở Ukraine là hệ quả trực tiếp từ sự can thiệp của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu hay không, thì một điều không thể nghi ngờ là ông ta nhận thức được rằng những lý tưởng thân châu Âu – và khả năng trở thành thành viên EU của Ukraine – đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cuộc đấu tranh ở Ukraine và hạn chế những hành động của ông.
Mong muốn gia nhập cộng đồng các quốc gia dân chủ châu Âu của người dân là nguyên nhân chính đằng sau sự sụp đổ của chế độ độc tài cánh hữu ở Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong những năm 1970. Nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự tan rã của chế độ cộng sản ở Trung và Đông Âu sau sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ. Và nó chắc chắn cũng góp phần vào việc lật đổ Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych – một đồng minh quan trọng của Putin – vào năm 2014. Trên thực tế, sự tồn tại của một mô hình châu Âu vẫn đang tiếp tục dẫn dắt và khuyến khích những người theo đuổi mô hình quản trị minh bạch và dân chủ ở nhiều quốc gia hậu cộng sản.
Chắc chắn rằng Putin sẽ được hưởng lợi từ sự sụp đổ của EU. Sức hấp dẫn của châu Âu như là một mô hình quản trị dân chủ sẽ bị suy yếu rất nhiều. Các thành viên nhiều tham vọng của EU sẽ hướng đến nơi khác. Thật vậy, một số thành viên hiện tại của EU, như Hungary, nơi mà Chủ nghĩa Hoài nghi châu Âu và tâm lý phi tự do đã được phổ biến rộng rãi, có thể sẽ bị cám dỗ đi theo con đường cai trị chuyên chế như của Putin. Và các nước trong khu vực sẽ phải chịu nhiều áp lực từ phía Nga hơn cũng như những cám dỗ từ sự bảo trợ của nước này.
Putin biết điều này, đó là lý do tại sao Điện Kremlin đã tiếp cận với các đảng và các nhóm Hoài nghi châu Âu từ cả hai thái cực của phổ chính trị (tức cánh tả lẫn cánh hữu -NBT). Trong một số trường hợp, Nga có thể đã hỗ trợ tài chính cho các nhóm này. Ví dụ như vào tháng 11 vừa qua, Marine Le Pen, lãnh đạo đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia Pháp, thừa nhận rằng đảng của bà đã nhận được một khoản vay 9 triệu euro (11 triệu USD) từ một ngân hàng nhà nước Nga.
Trong khi đó, những nhà tài phiệt người Nga đã mua nhiều tờ báo châu Âu, bao gồm The Independent, The Evening Standard, và France-Soir. Tờ báo Pháp Libération gần đây đã nhấn mạnh mức độ thân Putin trong giới hàn lâm, các viện chính sách (cả cánh tả và cánh hữu), truyền thông, và mạng lưới kinh doanh cùa nước Pháp. Và tập đoàn năng lượng quốc doanh Gazprom đã bị nghi ngờ tiếp tay cho các hoạt động chống khai thác dầu từ đá phiến [fracking] tại Lít-va và Romania.
Những nỗ lực của Putin dường như rất hiệu quả. Bất chấp những căng thẳng đang diễn ra giữa Nga và phương Tây – hoặc có lẽ chính vì chúng – Putin nhận được sự ủng hộ đáng kể từ một số trí thức và chính trị gia châu Âu. Lời mô tả của Điện Kremlin về cuộc nổi dậy ở Ukraine như thể một cuộc đảo chính của chủ nghĩa phát-xít, và việc Nga sáp nhập Crimea cũng như hỗ trợ cho các phần tử ly Ukraine là hành động phòng thủ, đã được tái hiện thông qua một mạng lưới dày đặc các phương tiện truyền thông thân Nga và những người ủng hộ Putin – bao gồm: Giáo sư Đại học Princeton Stephen F. Cohen, Tổng thống Cộng hòa Séc Miloš Zeman, Thủ tướng Hungary Viktor Orbán, chính trị gia cánh tả Đức Matthias Platzeck, và chính trị gia cánh hữu Hà Lan Geert Wilders.
Lối diễn giải của Putin có thể gợi nhớ về công tác tuyên truyền của Liên Xô. Nhưng điều đó đã không ngăn cản việc nó được đón nhận bởi nhiều người tại thời điểm mà dự án (hội nhập) châu Âu đã phải chịu sức ép rất lớn từ cuộc khủng hoảng kinh tế của châu lục này.
Một trận chiến của các giá trị đang dần hiện rõ. Với một bên là EU, đại diện cho dân chủ, tự do, pháp quyền, và hợp tác quốc tế được thể chế hóa; bên còn lại là Putin, đại diện cho chủ nghĩa chuyên chế, sự thiếu khoan dung, và chủ trương sử dụng vũ lực và đe dọa làm công cụ cho chính sách đối ngoại.
Thật không may, các thể chế của châu Âu không hành động đủ để phản công lại đòn chia để trị nhằm chống châu Âu của Moscow. Điều đó đặc biệt đúng ở Berlin, nơi mà chính phủ Đức tiếp tục đẩy mạnh chính sách thắt lưng buộc bụng trong khu vực đồng tiền chung châu Âu, khi phải đối mặt với tăng trưởng kinh tế yếu kém và thất nghiệp lan rộng.
Nếu Putin đã quyết tâm tiêu diệt EU thì cách tiếp cận như vậy chính là cách tốt nhất. Châu Âu đang tuyệt vọng chờ đợi tăng trưởng, và để đạt được điều đó đòi hỏi sự lãnh đạo bạo dạn từ thành viên quan trọng nhất của EU là Đức, cũng như từ lãnh đạo quan trọng nhất của nước này là Thủ tướng Angela Merkel. Công chúng Đức phải hiểu được điều gì đang bị đe dọa – và tại sao tiếp tục con đường hiện tại có thể sẽ dẫn đến việc trao EU vào tay Putin.
Yuriy Gorodnichenko là Giáo sư Kinh tế tại Đại học California tại Berkeley.
Gérard Roland là Giáo sư Kinh tế và Khoa học Chính trị tại Đại học Californi tại Berkeley.
Edward Walker là Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học California tại Berkeley, và là Giám đốc Điều hành Chương trình của Berkeley về nghiên cứu Liên Xô và Hậu Liên Xô.

Tại sao nền kinh tế Nga sẽ không sụp đổ?


Nguồn: Charles Wyplosz, “Why Russia’s Economy Will Not Collapse,” Project Syndicate, 27/01/2015.
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Cơn sụt giá chóng vánh của đồng rúp bất chấp nỗ lực tăng mạnh lãi suất đến dường như tuyệt vọng giữa đêm khuya[1] của Ngân hàng Trung ương Nga (CBR) hồi tháng trước đã làm dấy lên nỗi ám ảnh về cuộc khủng hoảng kinh tế Nga năm 1998. Quả thật, phương Tây đã tìm cách làm sống lại bóng ma đó trong cuộc đối đầu đang tiếp diễn với Tổng thống Nga Vladimir Putin. Nhưng dù nền kinh tế Nga chắc chắc đang gặp rắc rối, khả năng nó sụp đổ hoàn toàn lại rất thấp.
Dầu mỏ và khí đốt chiếm hơn 60% kim ngạch xuất khẩu của Nga; phần còn lại là các hàng hóa cơ bản khác. Do đó, sự sụt giảm giá dầu thế giới gần đây rõ ràng là một cú sốc đủ lớn – khi kết hợp với tác động của các biện pháp trừng phạt ngày càng khắt khe của phương Tây – để châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng đáng kể.
Tệ hơn, giá cả hàng hóa cơ bản được dự đoán là sẽ tiếp tục giữ ở mức thấp một thời gian. Trong trường hợp đó, tổn thất về mặt thu nhập sẽ không chỉ đơn giản là thách thức tạm thời.
Nhưng nền kinh tế Nga không phải là không có lối thoát – ít nhất là vào lúc này. Tình hình hiện nay rất khác so với tình hình năm 1998, khi đó Nga vừa bị thâm hụt tài khoản vãng lai , vừa bị thâm hụt ngân sách. Nga cần vay nợ và nó đã vay rất nhiều ngoại tệ. Tức là khi đồng rúp mất giá, các khoản nợ của Nga tăng lên. Cuối cùng, vỡ nợ là không thể tránh khỏi. Ngược lại, trong những năm gần đây, Nga đạt được thặng dư ngân sách khá lớn, và nợ công ở mức dưới 20% GDP. Đúng là thu nhập từ dầu mỏ và khí đốt, vốn chiếm phần lớn thu ngân sách của chính phủ, đã giảm đi một nửa nếu tính bằng đồng đô la. Nhưng đồng rúp cũng rớt giá với mức phần trăm tương tự, tức là thu nhập của chính phủ tính bằng đồng rúp không có nhiều thay đổi.
Tương tự, cán cân tài khoản vãng lai của Nga chủ yếu ở mức thặng dư trong những năm gần đây. Tổng nợ công và nợ tư ngoài nước ở mức dưới 40% GDP, đa phần tính bằng đồng rúp. Sự sụt giảm doanh thu xuất khẩu đang thay đổi tình hình nhanh chóng, nhưng xuất phát điểm của Nga khá thuận lợi. Việc lo sợ (bây giờ) sẽ là quá sớm.
Giá đồng rúp rơi tự do chủ yếu là do luồng vốn chảy ra. Giới đầu sỏ chính trị nổi tiếng của Nga đã cất giữ hầu hết tài sản của họ ở nước ngoài, nhưng giữ lại khoản tiết kiệm đáng kể trong nước. Khi tình hình kinh tế và chính trị suy giảm, nhiều khả năng họ sẽ rút thêm tiền ra. Các khoản tiết kiệm nhỏ cũng có đủ mọi lý do để chuyển sang ngoại tệ.
Điều này đặt CBR vào vị trí đầy thách thức. Đồng rúp mất giá chắc chắn làm tăng lạm phát, vốn đang ở khoảng 11%, cao hơn nhiều so với mục tiêu 5% của CBR. Trong bối cảnh đó, việc tăng mạnh lãi suất là hết sức hợp lý, và các quan chức có thể hi vọng điều đó sẽ ngăn nguồn vốn chảy ra ngoài – bất chấp rủi ro rằng nếu quyết định tăng lãi suất bị hiểu nhầm là nhằm bảo vệ đồng rúp (khỏi bị sụp đổ), có thể nó sẽ có tác dụng ngược.
Vấn đề là lãi suất cao sẽ có khả năng khiến cơn suy thoái kinh tế của Nga thêm trầm trọng, dễ biến CBR trở thành kẻ giơ đầu chịu báng. Dù ngân hàng trung ương không phải là kẻ gây ra những rắc rối của Nga – như đồng rúp rớt giá, suy thoái kinh tế, lạm phát bùng nổ – và chuyện lấy lãi suất để ngăn chặn luồng vốn chảy ra luôn thất bại, nhưng những chính trị gia đang nguy khốn vẫn có thể đổ lỗi cho CBR.
Mối đe dọa đối với Pitun là rõ ràng. Ông có nguy cơ chịu chung số phận như người tiền nhiệm Boris Yeltsin, cũng giữ chức tổng thống trong giai đoạn giá dầu thấp bất thường. Đến giờ Putin vẫn may mắn khi lên nắm quyền lúc giá dầu mới bắt đầu tăng. Hầu hết người dân Nga đều cho việc mức sống tăng trong hai thập niên sau suốt nhiều năm suy thoái là công lao của ông.
Việc Putin quyết định không thực hiện những cải cách vốn có thể tạo nên một ngành xuất khẩu phi dầu lửa vững mạnh nhưng không được lòng dân có thể gây hại cho nền kinh tế về lâu về dài, nhưng nó cho phép ông duy trì sự ủng hộ rộng rãi của công chúng. Vận may kinh tế của ông cùng việc sẵn lòng đứng lên đối đầu phương Tây đã tạo nên một ấn tượng sai lầm ở nước Nga rằng nước này, một lần nữa, lại là cường quốc thế giới.
Nhiều người ở Mỹ và châu Âu tin rằng siết chặt áp lực kinh tế sẽ hạ gục được Putin. Đây là một canh bạc vô cùng nguy hiểm. Khi mức sống Nga suy giảm, chiến lược khả thi duy nhất của Putin để có thể tiếp tục nắm quyền sẽ là một vị thế quốc tế hiếu chiến. Nói cho cùng, các cuộc phiêu lưu quân sự ở nước ngoài là hấp dẫn nhất khi mặt trận trong nước đang gặp rắc rối.
Nói thế không có nghĩa là phương Tây nên cúi đầu và từ bỏ những nguyên tắc của mình. Nhưng thực sự đã đến lúc tìm một giải pháp ngoại giao không phụ thuộc vào giả định rằng nền kinh tế Nga sẽ sụp đổ.
Charles Wyplosz là Giáo sư Kinh tế Quốc tế và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Tiền tệ và Ngân hàng tại Viện sau Đại học về Nghiên cứu Quốc tế (Graduate Institute of International Studies), Geneva.

Hiến pháp tạm thời của Thái Lan: Tiến đến một nền dân chủ phản bầu cử

Thailand Coup Leader-3
Tác giả: Puangthong Pawakapan | Biên dịch: Vũ Trọng Toàn
Vào ngày 22/7/2014, hai tháng sau cuộc đảo chính quân sự, quân đội Thái Lan ban hành một bản Hiến pháp tạm thời được ký bởi nhà vua Bhumibol Adulyadej. Với quyền lực tối thượng được đặt trong tay tướng Prayuth Chan-Ocha, người đứng đầu Hội đồng Hòa bình và Trật tự quốc gia (NCPO), lời mở đầu của bản hiến pháp tạm thời hứa hẹn sẽ nhổ tận rễ nạn tham nhũng, mang đến “cải cách” và sau đó là “nền dân chủ thực sự” cho xã hội Thái Lan.
Bản hiến pháp tạm thời có thể được đánh giá là chống lại các nhà chính trị dân túy và nền chính trị dựa trên bầu cử, những thứ vốn từng gây ra cuộc đảo chính quân sự năm 2006. Dù cuộc đảo chính năm đó không thể mãi mãi loại trừ phe cánh của Thaksin ra khỏi nền chính trị Thái, Hội đồng Hòa bình và Trật tự Quốc gia hứa hẹn với phần lớn những người ủng hộ của họ thuộc tầng lớp trung lưu thành thị rằng họ sẽ chấm dứt nền chính trị tham nhũng ở Thái Lan dưới mọi hình thức. Tuy nhiên, với việc tập trung rất hẹp vào tình trạng tham nhũng của các chính trị gia, câu hỏi còn bị bỏ ngỏ là liệu hiến pháp tạm thời có thể mang lại một nền dân chủ thực sự, sự ổn định và “hạnh phúc” cho một xã hội Thái Lan bị chia rẽ hay không.
Sự tập trung quyền lực
Bản hiến pháp tạm thời có tất cả 48 điều, nhưng có thể nói chỉ có 46 điều trong số đó có hiệu lực. Trong khi Điều 3 tuyên bố rằng quyền lực tối cao thuộc về người dân Thái Lan và Điều 4 thừa nhận các quyền con người, sự tự do, và sự bình đẳng của người dân trên cơ sở chính quyền dân chủ của Thái Lan và các nghĩa vụ quốc tế, thì các điều khác của hiến pháp đã vô hiệu hóa nội dung của 2 điều trên.
Ví dụ như Điều 44 trao cho thủ lĩnh chính quyền quân sự, tướng Prayuth, quyền lực tối thượng trong việc ban hành luật lệ và thực hiện bất cứ thứ gì mà Hội đồng thấy cần thiết bất chấp các quy tắc lập pháp, hành pháp và tư pháp, “vì lợi ích của cải cách trong mọi lĩnh vực và tăng cường sự thống nhất và đồng thuận của công chúng, hoặc để ngăn cản, chấm dứt và trấn áp mọi hành động làm xói mòn hòa bình và trật tự của công chúng hoặc an ninh quốc gia, nền quân chủ, nền kinh tế hoặc nền hành chính quốc gia, bất kể hành động đó phát sinh trong hoặc ngoài vương quốc”.
Bản hiến pháp bảo đảm rằng những mệnh lệnh của tướng Prayuth là hoàn toàn “hợp pháp, hợp hiến và mang tính quyết định”, vì vậy làm cho các cơ chế kiểm soát quyền lực trở nên không cần thiết. Vì bản hiến pháp không quy định về việc liệu Hội đồng Hòa bình và Trật tự Quốc gia có giải thể sau khi bản hiến pháp chính thức được ban hành (theo thông tin là vào cuối năm 2015) hay không, quyền lực rộng khắp của người đứng đầu hội đồng có thể sẽ tiếp tục được bảo đảm trong bản hiến pháp mới theo cách này hay cách khác.
Kể từ cuộc đảo chính vào ngày 22 tháng 5, Hội đồng Hòa bình và Trật tự Quốc gia đã được hưởng quyền lực rộng rãi, điều này đã dẫn tới tới sự xâm phạm về quyền con người. Tới cuối tháng 7, Hội đồng đã triệu tập 565 cá nhân và bắt giữ 233 người.[1] Họ bao gồm những nhà bảo vệ nhân quyền, các học giả, những người hoạt động xã hội, nhà báo, sinh viên, nhà văn và người biểu tình.
Trong khi đó, Hội đồng cấm công chúng tụ tập, thi hành chế độ kiểm duyệt nghiêm ngặt đối với các cá nhân, các nhóm và phương tiện thông tin đại chúng, ban hành các mệnh lệnh mang tính đàn áp, hủy bỏ hộ chiếu của những người từ chối trình diện Hội đồng và những người đã bay ra nước ngoài. Những ai bị buộc tội sẽ bị xét xử ở tòa án binh. Bản hiến pháp tạm thời cũng tuyên bố việc sử dụng quyền lực của Hội đồng Hòa bình và Trật tự Quốc gia là trong khuôn khổ của pháp luật, đồng thời nêu ra rằng những hành động của những người phản đối đảo chính là bất hợp pháp.
Khi tướng Prayuth tuyên bố thiết quân luật 2 ngày trước cuộc đảo chính, ông ta khẳng định rằng ông sẽ chịu trách nhiệm giải trình đối với các hành động của quân đội. Nhưng trách nhiệm giải trình này lại thể hiện dưới dạng một cuộc ân xá cho tất cả lãnh đạo của cuộc đảo chính vì đã tiếm quyền chính phủ được bầu chính thức của bà Yingluck vào ngày 22 tháng 5 (xem Điều 48).
Tất nhiên, thật mỉa mai là một dự thảo luật ân xá trước đây để xóa tội cho Thaksin lại làm những người tham gia phong trào chống Thaksin giận dữ vì (được cho là) vi phạm pháp quyền và coi nhẹ nguyên tắc trách nhiệm giải trình, gây ra những cuộc biểu tình kéo dài. Sau khi lật đổ Thủ tướng Yingluck và xóa bỏ ảnh hưởng trực tiếp của Thaksin khỏi chính trường Thái Lan, phong trào chống Thaksin hiện nay đã không áp dụng những chuẩn mực tương tự như thế đối với việc ân xá cho các thành viên Hội đồng.
Tiến đến một nền dân chủ phản bầu cử
Bản hiến pháp tạm thời cũng báo hiệu sự kháng cự lại các chính trị gia và nền chính trị dựa trên bầu cử. Nó quy định thành viên nội các được hình thành sau đảo chính (Điều 20), thành viên của Nghị viện Lập pháp quốc gia (Điều 8) và các thành viên của Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp (Điều 33) không được là thành viên của của các đảng phái chính trị trong 3 năm trước ngày được bổ nhiệm. Trong khi đó, nó chuyển quyền lực chính trị sang cho các thành viên Hội đồng Hòa bình và Trật tự Quốc gia, các sĩ quan quân sự và quan chức chính phủ. Thái Lan được cho rằng đã quay trở lại nền chính thể quan liêu, nơi mà quân đội, các quan chức và nhóm lợi ích của doanh nghiệp giành quyền điều khiển đối với những người đại diện dân cử.[2]
Quan điểm tiêu cực đối với các chính trị gia và nền chính trị bầu cử là không bất ngờ vì nó đã hiện hữu trong quảng đại tầng lớp trung lưu đô thị. Sự bất tín nhiệm đối với các chính trị gia đã lớn lên dần dần từ đầu những năm 1980 khi chính trị dân chủ và chính phủ dân cử bắt đầu bám rễ vào hệ thống chính trị. Khi tướng Prem Tinnasulanond, đương kim chủ tịch của hội đồng cơ mật hoàng gia, mất chức thủ tướng sau cuộc bầu cử năm 1988, vai trò của quân đội Thái Lan và các công chức dân sự trong nền chính trị dần dần giảm sút. Tướng Chatichai Choonhavan sau đó trở thành thành nghị sĩ dân cử đầu tiên nắm giữ chức thủ tướng kể từ năm 1976.
Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ 2,5 năm của ông, chính phủ Chatichai thường bị nhạo báng bởi truyền thông như là một nội các tham nhũng cao. Kết quả là khi chính phủ của ông bị lật đổ trong cuộc đảo chính quân sự năm 1991, công chúng Thái hầu như không phản đối sự nắm quyền của quân đội. Chính phủ dân cử sau năm 1992 đã kết thúc trước khi hết nhiệm kỳ bởi vì những vụ tham nhũng đình đám. Trên thực tế, Thaksin là nghị sĩ dân cử duy nhất phục vụ hết nhiệm kỳ của mình trong vai trò thủ tướng kể từ khi Thái Lan chuyển từ chế độ quân chủ chuyên chế sang quân chủ lập hiến vào năm 1932.
Các quan chức tham nhũng và việc mua phiếu tràn lan, đặc biệt là ở các vùng nông thôn miền bắc và đông bắc Thái Lan, được nhìn nhận là hậu quả của nền chính trị tiền bạc nói chung mặc dù những lời kêu gọi xây dựng nền chính trị “trong sạch” bởi các nhân vật có ảnh hưởng trong công chúng và các nhóm dân sự đã có ảnh hưởng lớn trong nền dân chủ có sự tham gia của người dân kể từ những năm 1980.[3]
Những cuộc can thiệp của quân đội vì thế được xem là một phương pháp hữu hiệu để chấm dứt chính phủ tham nhũng. Trong khi đó, các cơ quan tư pháp và các cơ quan độc lập,[4] những cơ quan có trách nhiệm hoạt động như một cơ chế kiểm soát quyền lực đối với mọi cơ quan nhà nước, đã được sử dụng về mặt chính trị để chống lại các chính phủ dân cử kể từ cuối những năm 1990.
Các lực lượng chính trị – xã hội: Sự chia rẽ nông thôn – thành thị
Thắng lợi bầu cử liên tiếp của các đảng phái thân Thaksin và sự thất bại của Đảng Dân chủ được chống lưng bởi quân đội đã dẫn tới nhận thức của giới thượng lưu thành thị rằng nền chính trị bầu cử là một cánh cửa giúp các chính trị gia tham nhũng điều khiển đất nước. Tuy nhiên, sự ủng hộ rộng rãi mà các đảng phái thân Thaksin nhận được từ các cử tri nông thôn không cho phép những người chỉ trích Thaksin loại bỏ sự ảnh hưởng của cựu thủ tướng khỏi chính trường Thái Lan.
Theo những người chỉ trích này, “trâu đỏ”, từ miệt thị dành cho những người áo đỏ ủng hộ Thaksin, không nên được trao những quyền tương đương với tầng lớp trung lưu có giáo dục. Kết quả là, nguyên tắc một người một phiếu không nên được áp dụng. Những ý tưởng như vậy được ủng hộ mạnh mẽ bởi phong trào chống Thaksin bắt đầu sau khi dự thảo luật ân xá (cho Thaksin) được thông qua vào tháng 11 năm 2013.
Các chính trị gia, các học giả và những nhân vật có danh tiếng công khai lăng mạ những cử tri nông thôn tại các diễn đàn của Ủy ban Cải cách Dân chủ Nhân dân (PDRC) được lãnh đạo bởi thủ lĩnh Đảng Dân chủ Suthep Thugsuban, Mạng lưới Sinh viên và Nhân dân vì Cải cách của Thái Lan (NPRST),  đảng Liên minh Nhân dân vì Dân chủ (PAD – còn được gọi là Phong trào Nhân dân Lật đổ sự Thống trị của Thaksin) và các nhóm Phật giáo. Họ nhắc lại địa vị thấp kém của những người nghèo thiếu giáo dục và những cử tri nông thôn cũng như hệ lụy nguy hiểm của nguyên tắc một người một phiếu. Những lời buộc tội như vậy là lý do để họ phá hoại tiến trình bầu cử được lên kế hoạch vào ngày 2/2/2014.
Ý tưởng rằng các cử tri nông thôn, những người chiếm số đông trong tầng lớp dân chúng ủng hộ Thaksin, không đủ phẩm chất để bỏ phiếu bắt nguồn từ quan niệm rằng những người nghèo ở nông thôn sẽ bán các lá phiếu của họ để đổi lấy các lợi ích cá nhân ngắn hạn hoặc các khoản tiền nhỏ. Các thành viên của tầng lớp trung lưu thành thị được giáo dục cao có xu hướng đổ lỗi cho sự thiếu giáo dục của cử tri nông thôn và sự thiếu hiểu biết đúng đắn về dân chủ như là một phần lý do dẫn đến sự thất bại của nền dân chủ Thái Lan. Rất nhiều trí thức và các nhóm dân sự tranh cãi không dứt rằng tổ chức các cuộc bầu cử không có nghĩa là phải trung thành với các nguyên tắc dân chủ, và vì vậy cố gắng làm xói mòn sự hợp pháp của nền chính trị bầu cử và nguyên tắc một người một phiếu.
Nghiên cứu gần đây khẳng định rằng việc mua phiếu không còn là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến kết quả bầu cử. Hành vi của cử tri nghèo và cử tri nông thôn ngày càng bị tác động bởi các dự án phát triển cộng đồng,[5] nhưng họ vẫn tiếp tục bị nhìn nhận là dễ dàng bị mua chuộc bởi các chính sách dân túy. Quan điểm về việc “mua phiếu” trở thành luận điệu đơn giản thái quá nhưng là một vũ khí chính trị dễ gây kích động chống lại những cử tri nông thôn. Thêm vào đó, tầng lớp trung lưu thành thị tin tưởng rằng các chính sách dân túy sẽ gây ra thiệt hại về lâu dài cho nền kinh tế Thái Lan. Tuy nhiên, họ cứng lưỡi không thể lý giải cách các dự án hàng triệu baht phục vụ lợi ích của cư dân thành thị và các nhà tư bản công nghiệp đã góp phần vào sự phát triển bất bình đẳng và tình trạng lạm dụng tiền nộp thuế như thế nào.
Đối với đa số những người dân thành thị đó, một hệ thống chính trị đáng ngưỡng mộ không cần thiết phải giống với nền dân chủ kiểu phương Tây với sự tôn trọng tự do và bình đẳng của mọi công dân, nhưng nó phải trong sạch, không bị lũng đoạn bởi các chính trị gia tham nhũng, và vì vậy, nên được cai trị bởi những người có tư cách đạo đức.[6]
Kết quả là ác cảm đối với Thaksin và các chính trị gia tham nhũng, thành kiến với nền chính trị bầu cử và các chính sách phát triển nông thôn được thể hiện rõ ràng tại Điều 35 của Hiến pháp tạm thời. Điều này chỉ ra phạm vi của hiến pháp mới mà Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp phải đưa vào:
  • Một cơ chế hiệu quả để chống, kiểm tra và loại trừ tham nhũng trong các lĩnh vực công và tư, bao gồm một cơ chế nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi duy nhất vì lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng;
  • Một cơ chế hiệu quả để ngăn chặn một cách nghiêm ngặt bất cứ ai không được nắm giữ bất cứ vị trí chính trị nào nếu người đó bị một phán quyết hoặc mệnh lệnh pháp lý cho rằng đã phạm phải một hành vi tham nhũng bất kỳ hoặc đã làm xói mòn sự đáng tin cậy hoặc sự công bằng của một cuộc bầu cử.
  • Một cơ chế hữu hiệu giúp tạo điều kiện cho các quan chức nhà nước, đặc biệt là những ai nắm giữ các vị trí chính trị, và các đảng phái chính trị để thực hiện trách nhiệm hoặc các hoạt động của họ một cách độc lập và không bị tác động bất hợp pháp bởi bất cứ người hoặc nhóm người nào;
  • Một cơ chế hữu hiệu để tăng cường pháp quyền và nâng cao đạo đức, phẩm hạnh và quản trị tốt ở mọi lĩnh vực và mọi cấp độ;
  • Một cơ chế hữu hiệu để tái cơ cấu và lèo lái nền kinh tế và hệ thống xã hội vì mục tiêu tăng tưởng toàn diện và bền vững, đồng thời ngăn chặn bất cứ chính quyền dân túy nào có thể phá hoại nền kinh tế quốc gia và đời sống công chúng về lâu dài;
  • Một cơ chế hữu hiệu để chi tiêu có trách nhiệm ngân sách nhà nước, phục vụ cho lợi ích công cộng và phù hợp với tình trạng tài chính của quốc gia, cũng như một cơ chế hiệu quả để kiểm toán và minh bạch hóa việc chi tiêu ngân sách nhà nước.
Sự bất tín nhiệm của Hội đồng Hòa bình và Trật tự Quốc gia đối với nền chính trị bầu cử là rõ ràng. Vào ngày 3/7, Hội đồng “hướng dẫn” cho cấp dưới của họ phải đưa vào bản hiến pháp chính thức các phương pháp ngăn chặn các chính sách dân túy có thể gây nguy hại đến nền kinh tế Thái Lan.[7] Vào 15/7/2014, Hội đồng ban hành một sắc lệnh trì hoãn các cuộc bầu cử hành chính ở cấp địa phương trên toàn quốc, bao gồm các Tổ chức hành chính cấp tỉnh, Tổ chức hành chính cấp xã và hội đồng cấp quận của Bangkok. Thay vào đó, các thành viên hiện tại của các cơ quan này sẽ được thay thế bởi các quan chức do chính phủ chỉ định khi nhiệm kỳ của họ kết thúc.[8]
Hệ thống chính quyền hành chính địa phương được thiết lập thông qua Hiến pháp năm 1997 và Luật Phân quyền năm 1999. Từ năm 2001, ngân sách dành cho các cơ quan hành chính địa phương tăng lên nhanh chóng. Đến năm 2014, các cơ quan này được phân phối 622 tỷ Baht và chiếm 27,37% ngân sách của của chính quyền trung ương.[9]
Hơn nữa, vào ngày 29/7/2014, Hội đồng chấm dứt một số dự án tăng quyền cho địa phương được bắt đầu bởi chính phủ Yingluck bởi chúng được cho là mang tính dân túy. Các dự án này bao gồm Quỹ phát triển cộng đồng hoặc Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp địa phương và Quỹ phát triển đô thị vùng miền. Hội đồng cũng chuyển đổi Quỹ phát triển phụ nữ sang chịu sự quản lý của Bộ Nội vụ và Hội nông dân sang chịu sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và Hợp tác. Cả hai chương trình này sẽ tiếp tục được đánh giá xem chúng có nên được chấm dứt hoàn toàn hay không.[10]
Mặc dù một số nghiên cứu khẳng định sự tiến bộ của dịch vụ địa phương và chất lượng sống cũng như nhận thức của người dân trong việc giao thiệp với các cơ quan địa phương, nhưng các phương tiện thông tin đại chúng, các học giả chống dân chủ và các cơ quan chống tham nhũng lại tập trung chủ yếu vào tình trạng tham những lan tràn và gia đình trị trong các cơ quan hành chính địa phương và các dự án cộng đồng. Hội đồng Hòa bình và Trật tư Quốc gia không quy định rõ thời gian trì hoãn các cuộc bầu cử hành chính địa phương là bao nhiêu. Tuy nhiên, sẽ không bất ngờ nếu chúng bị bãi bỏ hoặc bị thay thế bởi chế độ bổ nhiệm dưới hiến pháp mới.
Mặc dù bản Hiến pháp của Hội đồng là tạm thời, nhưng các mục tiêu của nó chắc chắn sẽ được kế thừa trong bản Hiến pháp chính thức. Quyền lực của Hội đồng chắc chắn sẽ chi phối công việc của Nghị viện Lập pháp Quốc gia (NLA). Rốt cuộc, các Điều 6 và 30 cho phép Hội đồng bổ nhiệm tất cả thành viên của NLA và Hội đồng Cải cách Quốc gia (NRC); và cả Hội đồng cùng NLA và NRC sẽ bổ nhiệm Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp. Điều này cho thấy nhiều khả năng mục tiêu của hiến pháp tạm thời sẽ áp đảo trong bản Hiến pháp mới.[11]
Trong số 200 thành viên của NLA có 105 tướng lĩnh quân đội đã về hưu hoặc tại ngũ, 9 quan chức cảnh sát, những quan chức dân sự hàng đầu, các nghị sĩ bảo hoàng cũ, các nhân viên của các tổ chức phi chính phủ (NGO)[12] và các hiệu trưởng và học giả tại các đại học theo xu hướng bảo hoàng. Động thái của Hội đồng để kiểm soát các chính trị gia và nền chính trị bầu cử bằng cách tăng cường quyền lực cho quân đội và những công chức cấp cao được dựa trên quan điểm rằng những công chức cấp cao đó là trong sạch và trung thực. Nhưng trên thực tế, nạn tham nhũng là một hiện tượng phổ biến và lan rộng khắp bộ máy quan liêu nhà nước.
Hơn nữa, Hội đồng phải thuyết phục cử tri Thái Lan rằng các lực lượng vũ trang và bộ máy công chức nhà nước sở hữu tầm nhìn và năng lực cần thiết để điều hành đất nước cũng như một nền kinh tế toàn cầu hóa. Ví dụ như các “chương trình hạnh phúc” của Hội đồng Hòa bình và Trật tự Quốc gia. Một vài ngày sau cuộc đảo chính, Hội đồng ban hành 2 sắc lệnh để giải quyết tình trạng lao động ít kỹ năng nhập cư trái phép. Hai sắc lệnh khiến khoảng 40.000 lao động Campuchia chạy trốn khỏi đất nước và nhiều người trong số đó bị ép buộc hồi hương bởi quân đội.
Tổ chức Nhân quyền và Phát triển Campuchia đã ra một tuyên bố lên án cách đối xử đó sau khi họ được nhân chứng thông báo rằng có tới 9 lao động Campuchia bị giết trong quá trình trục xuất và có sự đánh đập từ phía các lực lượng vũ trang Thái Lan.[13] Sau đó Hội đồng đã phủ nhận cáo buộc này. Sự đối xử tồi tệ đối với các lao động nước ngoài nảy sinh một phần từ quan điểm hẹp hòi của quân đội coi họ là một mối đe dọa quốc gia chứ không phải là một sự đóng góp quan trọng đối với các ngành công nghiệp cần nhiều lao động.
Một ví dụ khác là sắc lệnh của Hội đồng yêu cầu Bộ Giáo dục phải quảng bá chủ nghĩa yêu nước và lợi ích quốc gia, tình yêu đối với quốc vương, lòng tự hào về lịch sử dân tộc Thái và tổ tiên cũng như vun đắp trong dân chung sự biết ơn đối với quốc gia.[14] Trên thực tế, đây đã là một phần trọng yếu trong nền giáo dục Thái Lan kể từ khi nhà nước Thái Lan bắt đầu cung cấp giáo dục phổ cập. Điều này không chỉ sản sinh ra các thế hệ học sinh Thái Lan đánh mất hứng thú đối với giáo dục mà còn làm suy giảm khả năng của sinh viên trong việc trở thành những người có suy nghĩ sáng tạo và biết phản biện. Tuy nhiên, đối với những người bảo thủ của Thái Lan, con đường hiệu quả nhất dẫn tới một xã hội hạnh phúc và hòa bình là nhồi nhét cho giới trẻ những niềm tin tương tự nhau và khiến họ coi những quan điểm, nhu cầu, và giá trị đa dạng như là những thứ xấu xa và có hại cho xã hội.
Kết luận: Hạnh phúc cho ai?
Mặc dù chính quyền quân sự khẳng định sẽ hành động độc lập nhưng nó lại được cho là có thành kiến đối với phe áo đỏ vì phần lớn những người bị triệu tập, giam giữ và buộc tội là những người gắn liền với hoặc có thiên hướng ủng hộ phe áo đỏ. Ngay cả khi hệ thống bầu cử mà hội đồng quân sự mong muốn thiết lập thực sự tăng cường cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực như đã hứa, nó cũng sẽ chắc chắn làm giảm sức nặng lá phiếu của các cử tri. Nó không tạo cơ hội cho những cử tri đa số ở nông thôn có được tiếng nói cuối cùng trong việc quyết định ai sẽ điều hành quốc gia.
Kể từ cuộc đảo chính 2006, các tiêu chuẩn kép được nhận thấy từ hệ thống tư pháp và các tổ chức độc lập chống lại các đảng phái thân Thaksin đã gây ra sự giận dữ trong các cử tri ủng hộ dân chủ. Đã có những lời kêu gọi mạnh mẽ hơn yêu cầu cần phải có các cải cách thực sự đối với các tổ chức này nhằm khiến chúng có trách nhiệm hơn với người dân. Tuy nhiên, các tổ chức này có thể sẽ không bao giờ được cải cách một khi chúng còn là công cụ của giới tinh hoa thủ cựu để chống lại phong trào dân chủ. Hạnh phúc mà chính quyền quân sự đang tạo ra sẽ dành cho một số người chứ chắc chắn không phải dành cho tất cả.
Puangthong Pawakapan là Phó Giáo sư tại Bộ môn Quan hệ quốc tế, Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Chulalongkorn. Bà hiện là Nghiên cứu viên khách mời cao cấp tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Singapore.
————-
[1] “Số liệu thống kê về những người được triệu tập, bắt giữ và phóng thích tính đến tháng 7/2014” Ilaw <http:ilaw.or.th/node/319>
[2] Fred W.Riggs, Thailand: the Modernization of a Bureaucratic Polity, Honolulu: East-west Center Press, 1966
[3] Thongchai Winichakul, “Toppling Democracy”,, Jounal of Contemporary Asia, 38:1, 11-37
[4] Hệ thống tư pháp và các tổ chức độc lập ở Thái Lan bao gồm Tòa án Hiến pháp, Tóa án  hành chính,Tòa hình sự đối với những người nắm giữ chức vụ, Ủy ban bầu cử, Văn phòng thanh tra, Ủy ban chống tham nhũng quốc gia, Ủy ban quyền con người quốc gia và Ủy ban kiểm toán quốc gia.
[5] Ví dụ, Andrew Walker, Thailand’s Political Peasants: Power in the Modern Rural Economy, Wisconsin Madison: University of Wisconsin Press, 2012, Charles Keyes, Finding their Voices: Northeastern Villagers and the Thai state, Chiangmai: Silkworm Book 2014;
[6] Thongchai Winichakul, sđd, 26
[7] “NCPO eyes populist policy ban” Bangkok Post. 4/7/2012 <http://www.bangkokpost.com/news/ politics/418810/ncpo-eyes-populist-policy-ban>
[8] “Military Leader Further Centralise Power by Suspending Local Elections”, Khaosod English, 17/7/2014
[9] Department of Local Administration. <http://www.ppb.moi.go.th/midev02/upload/9.%20Policy%20-%206%20Sep%202013.pdf>
[10] “NCPO suspends SML fund and two populist schemes”, ASTV Manager Online. 29/7/2014 , <http://www.manager.co.th/Politics/ViewNews.aspx?NewsID=9570000085985>
[11] Bản hiến pháp tạm thời quy định rằng thành viên của NLA và NRC sẽ lần lượt không vượt quá 220 và 250 người.
[12] Ở Thái lan, quan điểm của các NGOs chủ yếu là chống chính trị và toàn cầu hóa. Họ đã luôn chủ động quảng bá quan điểm bảo hoàng về nền kinh tế tự cung, tự cấp.
[13] “Rights Groups Slam Thai Junta Deportation of Cambodian Workers” Radio Free Asia, 13/6/2014 http://www.rfa.org/english/news/cambodia/workers-06132014145627.html>
[14] “Fall into Line Youngster” Bangkok Post, 20/7/2014, <http://www.bangkokpost.com/print/421370/>
Bản gốc tiếng Anh: ISEAS Perspective

Yếu tố lớn nhất thay đổi cục diện an ninh Châu Á – Thái Bình Dương: Trung Quốc xoay trục ra biển

Tác giả: Alexander L. Vuving | Biên dịch: Lê Hoàng Giang
image
Yếu tố then chốt đang thay đổi cục diện trò chơi của các quốc gia khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là gì? Dựa theo những quan điểm có ảnh hưởng nhất trên các phương tiện truyền thông thì câu trả lời có vẻ là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy bề ngoài hiển nhiên là vậy, song đây lại là câu trả lời sai. Dù sự trỗi dậy của Trung Quốc đang gây ra những thay đổi lớn nhất về lượng trong cục diện an ninh Châu Á – Thái Bình Dương, việc Trung Quốc chuyển hướng ra biển mới là bước phát triển có tầm quan trọng nhất về chất.
Trung Quốc đã vươn lên đứng đầu châu Á nhiều lần trong quá khứ, nhưng việc nước này chuyển hướng chiến lược sang phía biển trong thời gian gần đây thì chưa từng có tiền lệ. Nếu quả thực tương lai là do quá khứ định đoạt, thì sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ không thực sự ảnh hưởng đến ưu thế tuyệt đối về hải quân của Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương, và sự tranh giành bá quyền giữa Mỹ và Trung Quốc có thể sẽ không xảy ra. Quan điểm này chính là cốt lõi của chiến lược “cân bằng ngoài khơi” (offshore balancing – đứng từ xa giữ cân bằng quyền lực trong một khu vực mà không can thiệp trực tiếp vào khu vực đó) đang thịnh hành tại nước Mỹ ngày nay và được nhiều người cho là chiến lược lớn mà Tổng thống Barack Obama đang theo đuổi.
Cứ theo như quan điểm này thì vì Trung Quốc là cường quốc lục địa nên sự trỗi dậy của nước này sẽ khiến nó trở thành một con voi khổng lồ. Trong khi đó, nước Mỹ,  với tư cách một cường quốc biển, lại giống như một con cá voi lớn. Dù cả hai đều rất mạnh, nhưng mỗi bên chỉ mạnh trong lãnh địa riêng của mình, và không bên nào có đủ khả năng vật chất hay ý chí chính trị để định đoạt tình hình trong lãnh địa của bên kia. Từ đây suy ra, nếu Washington chấp nhận ưu thế của Bắc Kinh trên lục địa châu Á, thì Mỹ có thể tránh được một cuộc xung đột không cần thiết với Trung Quốc trong khi vẫn duy trì vai trò chi phối của mình ở khu vực hải dương của châu Á.
Một người ủng hộ mạnh mẽ quan điểm này là cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Zbigniew Brzezinski. Brzezinski cũng là người cổ võ cho khái niệm về một nhóm G-2 gồm Mỹ và Trung Quốc.  Có tin cho rằng ông đã mang ý tưởng này sang đề xuất với Trung Quốc trong tư cách phái viên không chính thức của Obama chỉ vài ngày trước khi Obama nhậm chức tổng thống. Trong cuốn sách Tầm nhìn Chiến lược: Nước Mỹ và Cuộc Khủng hoảng Quyền lực Toàn cầu (Strategic Vision: America and the Crisis of Global Power), Brzezinski cho rằng cuộc tranh giành quyền lực tối cao ở châu Á sẽ không diễn ra giữa con cá voi Mỹ và con voi Trung Quốc, mà giữa hai con voi châu Á với nhau là Trung Quốc và Ấn Độ. Do cường quốc biển có những hạn chế cố hữu trong một cuộc tranh đua trên đất liền như vậy, ông ta khuyên nước Mỹ nên đứng bên ngoài và không liên kết chiến lược với Ấn Độ để tránh bị lôi kéo vào một cam kết quan trọng trên đất liền. Cách tiếp cận giữ khoảng cách như vậy sẽ khiến Mỹ trở thành tác nhân cân bằng ngoài khơi theo đúng nghĩa, có thể tuỳ cơ mà ủng hộ nước này chống lại nước kia, hoặc “toạ sơn quan hổ đấu” từ xa đứng nhìn Trung Quốc và Ấn Độ đấu nhau đến mệt nhừ trong khi Washington đứng ngoài và tiết kiệm sức mạnh của mình.
Chiến lược khôn khéo như vậy quả là hấp dẫn trong thời đại mà sự kiệm sức được ưu tiên, và nếu để trực giác quyết định thì đây sẽ là lựa chọn số một của một nước Mỹ đã mệt mỏi với những cuộc can thiệp ở hải ngoại. Thế nhưng, ý tưởng cốt lõi của chiến lược này lại dựa trên một cách hiểu sai lầm về các xu hướng địa chính trị trong thế kỷ vừa qua. Quá trình công nghiệp hóa và toàn cầu hóa đã chuyển “trái tim” kinh tế châu Á từ đất liền sang vùng biển. Cùng với xu hướng này, Trung Quốc không còn là một đế chế tự cung tự cấp của ngày trước nữa; nền kinh tế của Trung Quốc ngày nay đang lệ thuộc vào các tuyến đường buôn bán trên các biển Đông Á. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Trung Quốc ngày càng tin tưởng rằng để đoạt ngôi vị bá chủ châu Á thì trước hết phải làm chủ được vùng biển của khu vực này. Hiểu được điều này, ta sẽ lý giải được vì sao Trung Quốc gần đây đã có những động thái như tăng cường tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Nhật Bản và thiết lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông, cưỡng đoạt bãi cạn Scarborough từ Philippines, đơn phương hạ đặt một giàn khoan dầu trị giá 1 tỷ USD tại vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, xây dựng những căn cứ quân sự lớn trên những nơi vốn là đảo chìm thuộc quần đảo Trường Sa và thường xuyên quấy nhiễu các tàu hải quân Mỹ hoạt động trên biển Đông.
Truyền thống chiến lược lớn của Trung Quốc là hướng vào lục địa. Ngoại trừ một vài lần dưới thời nhà Nguyên và nhà Minh, nói chung đế chế Trung Hoa vẫn chấp nhận để các thế lực khác chiếm ưu thế trên những vùng biển ngoài khơi Trung Quốc. Sự cùng tồn tại của bá quyền Trung Quốc trên đất liền và vai trò thống trị của ngoại bang trên biển là kết quả của 3 điều kiện chủ yếu, và cả ba đều không còn tồn tại trong thời đại ngày nay.
Trước thời kỳ công nghiệp hóa, Trung Quốc dễ bị tấn công nhất ở phía Bắc và phía Tây, nơi họ phải đối mặt với những đội quân của người du mục Trung Á là những đội quân cơ động nhất và giỏi đánh thọc sâu nhất của thời bấy giờ. Những đội quân cưỡi ngựa, bắn cung này có thể lao tới, xuyên qua và chinh phục toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc. Những hiểm họa từ những đội quân du mục này lớn hơn hẳn những nguy hiểm từ dân đi biển ở phía Đông và phía Nam, những người cùng lắm chỉ có thể cướp phá các thành phố hay làng mạc dọc theo bờ biển Trung Quốc.
Nhưng kể từ thế kỷ 19, điểm yếu về quân sự của Trung Quốc đã chuyển sang vùng bờ biển. Những đội quân cưỡi ngựa, bắn cung của ngày nay là các tàu sân bay, tàu khu trục, và tàu ngầm được trang bị máy bay siêu âm, máy bay tàng hình, máy bay không người lái và tên lửa hành trình. Trong mắt các nhà hoạch định chiến lược của Trung Quốc ngày nay, việc kiểm soát biển Hoàng Hải, biển Hoa Đông và biển Đông đã trở nên tối quan trọng đối với nền quốc phòng và an ninh của Trung Quốc.
Những vùng biển này cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế đối với Trung Quốc. Trước thời kỳ công nghiệp hóa, Trung Quốc là một nền kinh tế hoàn toàn tự cung tự cấp và không phải dựa vào ngoại thương để phát triển. Nhưng tất cả đã là quá khứ. Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong thời gian gần đây chủ yếu là nhờ hội nhập kinh tế với thế giới bên ngoài. Từ khi phát động “cải cách và mở cửa” vào năm 1979, tỉ lệ phụ thuộc vào ngoại thương của Trung Quốc, tính theo tỉ lệ ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc nội, đã tăng từ 10% lên tới hơn 70%. Bên cạnh sự phụ thuộc này, kể từ năm 1998, Trung Quốc đã là một nước nhập siêu về năng lượng. Ngân hàng Thế giới báo cáo rằng năng lượng nhập khẩu của Trung Quốc đã chiếm tới 11% tổng năng lượng nước này sử dụng trong năm 2011. Những số liệu thống kê này cho thấy nền kinh tế Trung Quốc cơ bản sẽ sụp đổ nếu bị cắt đứt các liên kết thương mại với thế giới bên ngoài. Điều khiến cho biển còn quan trọng hơn nữa đối với Trung Quốc là việc phần lớn ngoại thương và năng lượng nhập khẩu của Trung Quốc đều phải vận chuyển qua biển Hoa Đông, biển Đông và eo biển Malacca.
Không chỉ có một mình Trung Quốc phải phụ thuộc vào các tuyến đường giao lưu trên các vùng biển này. Thực ra, các biển Đông Á này là huyết mạch của cả châu Á. Hơn một nửa thương mại hàng hóa của khu vực, khoảng một nửa ngoại thương của Trung Quốc, Ấn Độ và Australia, khoảng 80% lượng dầu và khí đốt nhập khẩu của Trung Quốc, 60% nguồn cung năng lượng của Nhật Bản, và 2/3 nguồn cung năng lượng của Hàn Quốc phải đi qua các vùng biển này. Tầmquan trọng về kinh tế và quân sự của các vùng biển Đông Á đảm bảo rằng không một quốc gia nào ở châu Á ngày nay có thể đạt được uy thế tuyệt đối trong khu vực trước khi trở thành kẻ mạnh nhất về hải quân trên vùng biển Tây Thái Bình Dương.
Có 3 lý do để Trung Quốc trong quá khứ vẫn để cho các nước khác thống lĩnh các vùng biển ngoài khơi của họ. Đôi lúc là do Trung Quốc còn quá yếu không thể thách thức được các cường quốc biển. Nhưng nói chung, những vùng biển này không hề có ý nghĩa quan trọng với Trung Quốc cả về quân sự lẫn kinh tế. Hơn nữa, các thế lực thống trị vùng biển đều chủ động tạo lập quan hệ chư hầu và triều cống với Trung Quốc.
Không một điều kiện nào trong số này là hiện thực của ngày hôm nay và ngày mai. Theo dự đoán, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào cuối thập kỷ này. Trong khi đó, ngân sách quân sự của Trung Quốc còn tăng trưởng nhanh hơn cả nền kinh tế. Các biển bao quanh Trung Quốc đã trở nên thiết yếu cho sự phát triển và phòng vệ của nước này. Và Hoa Kỳ, cường quốc thống trị trên biển châu Á, sẽ không dễ gì chấp nhận đứng dưới trong một trật tự thế giới do Trung Quốc đứng đầu.
Nhờ có toàn cầu hóa và những công nghệ vũ khí mới, biển cả và đất liền nay đã cùng nằm trong một địa thế chiến lược đơn nhất tại châu Á. Uy thế hải quân đã trở thành điều kiện tiên quyết của sự thống lĩnh khu vực. Về phần Trung Quốc, sự gia tăng phát đạt của nước này sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng tiếp cận với biển hơn là việc sở hữu thị trường trên đất liền. Nhận thức rõ được những điều này, các nhà lãnh đạo Trung Quốc, bao gồm cả cựu Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Chủ tịch đương nhiệm Tập Cận Bình, đã quyết định rằng Trung Quốc cần trở thành “cường quốc biển ở cấp độ toàn cầu”.
600 năm trước, Trung Quốc đã phái một hạm đội khổng lồ dưới sự chỉ huy của viên thái giám người Hồi là Trịnh Hòa đi vào biển Đông và Ấn Độ Dương để áp đặtkiểm soát lên luồng thương mại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và mở rộng hệ thống chư hầu cho đế chế. Dù rất thành công, các cuộc viễn chinh này chỉ diễn ra trong khoảng thời gian chưa đến 3 thập kỷ và đã được chứng tỏ là không hề nằm trong quy luật của lịch sử Trung Quốc. Cuối cùng thì Trung Quốc vẫn là một đế chế nông nghiệp, và nhiệm vụ chính của các chuyến đi của Trịnh Hòa chỉ là để phô trương trước những người ngoại bang trong vùng lòng chảo Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Ngày nay, Trung Quốc quay ra hướng biển do sự cần thiết khách quan hơn là vì ý đồ chủ quan muốn phô trương thế lực. Do vậy, sự thay đổi này sâu rễ bền gốc hơn rất nhiều so với các chuyến du hành từ 6 thế kỷ trước. So với những chuyến đi của Trịnh Hòa, sự chuyển hướng nhìn sang phía biển của Trung Quốc hiện giờ sẽ hứa hẹn có nhiều bạo lực hơn và cũng có nhiều ý nghĩa lịch sử hơn. Sự gia tăng quyền lực của Trung Quốc bản thân nó không nhất thiết sẽ gây nên mối đe dọa cho sự thống trị của Mỹ trên các vùng biển châu Á cũng như vai trò của Mỹ trong khu vực. Nhưng việc gã khổng lồ châu Á này xoay trục ra biển có thể sẽ đặt dấu chấm hết cho uy lực hải quân tuyệt đối của Mỹ trên vùng biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà hệ quả là làm suy yếu trật tự toàn cầu do Mỹ đứng đầu.
Tiến sĩ Alexander L. Vuving là Phó Giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á – Thái Bình Dương tại Honolulu, Hoa Kỳ. Quan điểm trong bài viết này là của riêng ông và không thể hiện quan điểm của nơi ông làm việc.

Chính sách xoay trục sang Đông Á của Mỹ: Về phương diện hải quân



Nguồn: Christian Le Mière (2012). “America’s Pivot to East Asia: The Naval Dimension”, Survival: Global Politics and Strategy, Vol. 54, No. 3, pp. 81-94.
Biên dịch & Hiệu đính: Vương Tuấn Hưng
Công bố của Tổng thống Mỹ Barack Obama và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta vào đầu tháng 1 năm 2012 về việc điều chỉnh chiến lược quốc phòng đã khẳng định rằng Mỹ đang hướng sự chú ý tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương khi mà các cam kết tiến hành chiến tranh ở Trung Đông và Trung Á lắng xuống. Trong một cuộc họp báo tại Lầu Năm Góc vào ngày 5 tháng 1, Tổng thống Obama, Bộ trưởng Quốc phòng Panetta và Tổng tham mưu trưởng Liên quân Martin Dempsey đã đề cập đến văn bản hướng dẫn chiến lược mới “Duy trì vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ: Những ưu tiên trong chiến lược quốc phòng thế kỷ 21”. Là sản phẩm của một quá trình rà soát lại những ưu tiên quốc phòng của Mỹ “trong thời điểm quá độ”, văn bản này cho biết Mỹ sẽ “cần phải tái cân bằng sang khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”.1 Chính sách xoay trục về châu Á cũng đã được Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đề cập tới trong một bài trên tạp chí Foreign Policy vào tháng 11 năm 2011, trong đó bà nhấn mạnh rằng “Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ trong thập niên tới sẽ là thực hiện một khoản đầu tư gia tăng đáng kể trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế, chiến lược,… vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương”.2
Tuy tài liệu “Duy trì vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ” không đề cập chi tiết về việc chuyển trọng tâm sang châu Á, một vài chi tiết trong số đó đã dần được nhận thấy một cách rõ ràng, đặc biệt là đối với lực lượng Hải quân và Thủy quân lục chiến. Sau công bố của Bộ trưởng Quốc phòng lúc đó là Robert Gates tại đối thoại Shangri-La ở Singapore vào hồi tháng 6 năm 2011,3 trong một bài viết trên tạp chí Proceedings vào tháng 12 cùng năm, đô đốc Jonathan Greenart, Tư lệnh Hải quân mới của Mỹ, cho biết Hải quân Mỹ sẽ “triển khai một số tàu chiến gần bờ mới nhất đến cơ sở Hải quân của Singapore”. Ông Greenart cũng đưa ra khả năng là cho đến năm 2025 Mỹ sẽ lần lượt điều động máy bay chống ngầm P-8A Poseidon hoặc “các khí cụ bay giám sát hàng hải không người lái phạm vi rộng” có thể được triển khai đến Philippines hoặc Thái Lan để “giúp những quốc gia này giám sát vùng biển”.4
Đây không phải là chi tiết đầu tiên được công bố trong chính sách phòng thủ của Mỹ ở châu Á. Vào tháng 11, Tổng thống Obama tuyên bố đã đạt được thỏa thuận với Australia cho phép đến 2.500 lính thủy đánh bộ đồn trú luân phiên 6 tháng một lần ở khu vực Lãnh thổ Phía Bắc nước này.5 200 lính thủy đánh bộ đầu tiên đã đến đây vào đầu tháng 4, cùng lúc 2 nước vẫn đang bàn luận về việc tăng thêm số tàu chiến của Hải quân Mỹ quá cảnh các căn cứ của Australia, đặc biệt là căn cứ HMAS Stirling.
Những cam kết chưa được triển khai cũng đã bắt đầu lộ diện và được ủng hộ trong năm qua. Cũng trong tháng 11, Ngoại trưởng Hillary Clinton, bằng việc ký “Tuyên bố Manila” với Ngoại trưởng Philippine Albert del Rosaria nhằm kỷ niệm 60 năm Hiệp ước phòng thủ chung 1951, đã một lần nữa tái khẳng định liên minh giữa Mỹ và Philippines. Sau khi ký tuyên bố trong một buổi lễ mang tính biểu tượng cao trên khoang tàu khu trục USS Fitzgerald ở Vịnh Manila, bà Hillary nói: “Chúng ta đang đảm bảo rằng năng lực phòng thủ chung và cơ sở vật chất thông tin liên lạc có thể hoạt động hiệu quả để răn đe những động thái khiêu khích”.6 Sau sự kiện này, Hải quân Philippine đã được Washington tặng một tàu chủ lực mới, tên là BRP Gregorio del Pilar, vốn là một tàu lớp Hamilton của lực lượng Tuần duyên Mỹ. Dự kiến Philippine sẽ có thêm một tàu chiến thứ 2 vào tháng 5. Trong khi đó, Mỹ và Việt Nam đã bắt đầu các hoạt động tăng cường quan hệ giữa hai quân đội thông qua các chương trình huấn luyện phi tác chiến trong tháng 7 năm 2011.
Tuy loạt công bố và sự kiện vừa rồi có thể gây ấn tượng rằng Mỹ đang tăng cường cam kết và sức mạnh quân sự ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhưng thực chất những diễn biến này bắt nguồn từ nỗ lực của Mỹ trong cả một thập niên qua nhằm phân tán bớt một phần lớn lực lượng đồn trú lâu dài ở Nhật Bản và Hàn Quốc. Từ đó có thể thấy rằng Mỹ đang ra sức thực hiện một chiến lược kép ở châu Á thông qua việc củng cố những cam kết quân sự khác nhau, đồng thời tránh chọc giận Trung Quốc bằng những động thái triển khai quân được coi như hiếu chiến ở gần biên giới. Mục tiêu của Washington là duy trì sự hiện diện phô trương ở châu Á – Thái Bình Dương để vừa răn đe vừa xoa dịu Trung Quốc, tránh những cuộc đối đầu trực diện.
Cùng thời điểm này, Trung Quốc, do có lực lượng hải quân yếu thế hơn so với Hải quân Mỹ, đã áp dụng một dạng chiến lược khá tương đồng với khái niệm “hạm đội hiện hữu” (“fleet-in-being”) được Bá tước thứ nhất xứ Torrington, Đô đốc Arthur Herbert của Hải quân Anh đưa ra vào thế kỷ 17. Cụ thể hơn, Torrington đã sử dụng sự có mặt một hạm đội của liên quân Anh-Hà Lan dù không có khả năng chiến thắng nhưng có thể gây thiệt hại đáng kể để răn đe không cho quân Pháp tấn công.[1] Cũng giống như vậy, trong khi cố gắng che giấu những điểm yếu của mình, Trung Quốc đang muốn cho Mỹ thấy rằng họ có khả năng đáp trả bất cứ động thái gây gổ nào mà Mỹ có thể đưa ra.
Hai chiến lược của Mỹ và Trung Quốc đã tạo nên một mẫu hình đặc biệt về hành vi hải quân mang tính căng thẳng, phô trương, khi mà cả hai quốc gia đang phô diễn ý định và khả năng răn đe sự gây hấn của đối phương, nhưng đồng thời cũng cố gắng tránh đụng độ trực tiếp. Lo ngại về phía Trung Quốc là việc sử dụng chiến lược như vậy sẽ khiến Mỹ coi Trung Quốc như mối đe dọa an ninh chủ chốt và do đó sẽ tập hợp thêm lực lượng để đề phòng. Còn về phía Mỹ, việc phân tán lực lượng ra nhiều địa điểm để đối phó với chiến lược của Trung Quốc sẽ làm giảm khả năng của các lực lượng Mỹ trong việc tiến hành những trận đánh mang  tính quyết định. Ngoài ra, cách tiếp cận của Mỹ tạo ra một không gian chiến lược “dễ thở” cho Trung Quốc ở khu vực cận ngoại vi, do đó có thể khiến Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân đội Giải phóng Nhân dân trở nên khinh địch, dẫn đến những tính toán sai lầm.
Chiến lược “hạm đội hiện hữu” của Trung Quốc
“Hạm đội hiện hữu” là một khái niệm thường dùng để chỉ chiến thuật được sử dụng bởi một lực lượng hải quân yếu thế hơn nhằm răn đe không cho đối phương tấn công hoặc làm suy yếu lực lượng địch qua những đợt tấn công nhỏ lẻ và liên tục thẳng vào lực lượng hải quân địch hoặc vào các con đường giao thông trên biển. Bắt nguồn từ nỗ lực của Đô đốc Torrington nhằm tránh một cuộc quyết chiến với một hạm đội mạnh hơn nhiều của Pháp vào năm 1690 (trận chiến mà cuối cùng ông cũng không thể tránh khỏi, dẫn đến thất bại của quân Anh-Hà Lan tại Beachy Head), mục đích ban đầu của “hạm đội hiện hữu” là nhằm duy trì một sự hiện diện hải quân có thể quan sát được để hư trương thanh thế, khiến đối phương lo sợ phải chịu thiệt hại nặng nề khi đối đầu trực diện, từ đó làm đối phương mất đi nhuệ khí tấn công. Như vậy, “hạm đội hiện hữu” sử dụng trong chiến thuật truyền thống này không thể tấn công do yếu thế hơn, nhưng cũng sẽ không rút khỏi vị trí chiến lược của mình mà ngược lại, giữ vững vị trí đó để ngăn chặn những cuộc tấn công vào chính nó hay vào lãnh thổ chủ quyền (mà nó đang phòng thủ).
Kể từ sau sự kiện Torrington, thuật ngữ “hạm đội hiện hữu” đã được dùng để chỉ những hành động của một hạm đội yếu thế nhằm làm suy yếu đối thủ mạnh hơn mà không phải thông qua các trận đánh quyết định, thay vào đó là những đợt tấn công hạn chế hoặc làm gián đoạn nguồn tiếp tế, hay thậm chí là chỉ bằng chính sự có mặt của nó. Theo Geoffrey Till, chiến thuật này thường có 4 mục tiêu: đạt được một mức độ kiểm soát nhất định trên biển theo đường vòng bằng cách tránh những trận đánh quyết định; đạt được lợi ích chiến lược… bằng những hành động có ích (chẳng hạn như đánh vào thương mại hay bờ biển của đối phương) mà không kỳ vọng vào việc đánh bại lực lượng chủ lực của địch; bằng cách liên tục quấy rối và tránh né, ngăn không cho đối phương hưởng lợi thế của lực lượng vượt trội; và cuối cùng là đảm bảo cho hạm đội yếu thế của mình sống sót đến cùng.7
Có nhiều ví dụ trên thực tế minh họa cho chiến lược “hạm đội hiện hữu”, có thể kể đến cuộc chiến ở Peloponnesse, “hạm đội bất khả chiến bại” Armada của Tây Ban Nha hay chiến tranh Nga-Nhật, nhưng có lẽ dẫn chứng tiêu biểu nhất phải là Thuyết Rủi ro (Risikogedanke) được đưa ra bởi Đô đốc hải quân Đức Alfred von Tirpitz trong một bản ghi nhớ bí mật vào tháng 6 năm 1897.8 Đô đốc Tirpitz cho rằng nước Đức không nên đụng độ với tất cả các mối đe dọa về hải quân, mà thay vào đó chỉ tập trung vào một đối thủ chính (tuy ông không nhắc đến tên của đối thủ này, nhưng có thể hiểu rằng đó chính là Hải quân Hoàng gia Anh). Do đó ông đề xuất sử dụng một hạm đội có kích thước và sức mạnh vừa đủ để gây thiệt hại đáng kể cho Đại Hạm đội của Hải quân Hoàng gia Anh, qua đó làm suy yếu vị thế chiến lược và đe dọa sự thống trị của hạm đội này trong bối cảnh Đức còn phải đối đầu với các quốc gia khác như Pháp và Nga. Nhìn chung hạm đội này của Đức vẫn yếu thế hơn, nhưng vẫn sẽ khiến hạm đội Anh mất đi ý chí tấn công. Sau đó hàng loạt đạo luật hải quân đã được ban hành, trong đó đáng kể nhất là Đạo luật liên quan đến hạm đội Đức ngày 14 tháng 6 năm 1900, theo đó số tàu chiến trong hạm đội phải tăng gấp đôi thành 38 tàu. Với kích cỡ như vậy, hạm đội này sẽ tạo ra một lượng rủi ro đủ lớn để Hải quân Anh cảm thấy mối nguy hiểm từ những hiểm họa tiềm tàng khác, dẫn đến không còn muốn chạm trán với Đức.
Cũng như vậy, được đặt theo tên của Đô đốc Tirpitz, một tàu chiến lớp Bismarck đã được hạ thủy vào năm 1941, tạo nên một ví dụ hoàn hảo cho chiến lược “hạm đội hiện hữu” áp dụng trong thời chiến, cụ thể là vào Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Chỉ dùng sự hiện diện của mình, cùng với sự bao bọc tuyệt vời của những vùng vịnh hẹp ở Na Uy, tàu Tirpitz cùng đoàn hộ tống đã trở thành một mối đe dọa giao thông hàng hải cho Liên Xô, buộc Hạm đội chủ lực của Hải quân Hoàng gia Anh “Home Fleet” phải có mặt và bị cầm chân ở khu vực này. Theo thư của Thủ tướng Anh Winston Churchill gửi cho Thứ trưởng thứ nhất Hải quân Dudley Pound vào tháng 8 năm 1941, con tàu này “tạo ra một nỗi sợ mơ hồ, đe dọa tất cả các điểm cùng một lúc. Nó thoắt ẩn thoắt hiện gây phản ứng trực tiếp và nhiễu loạn cho đối phương.”9
Chiến thuật cố tình tránh những trận chiến quyết định này có thể coi như hoàn toàn trái ngược với học thuyết của Alfred Thayer Mahan vốn đôi khi được Hải quân Mỹ áp dụng rộng rãi: tập trung vào trận đánh của hạm đội chủ lực. Tuy nhiên, Chính Mahan cũng hiểu được lợi ích của chiến lược “hạm đội hiện hữu” trong trường hợp một lực lượng yếu thế phải đối mặt với kẻ địch mạnh hơn:
Mục tiêu của bên yếu hơn là phải giữ được vùng biển càng nhiều càng tốt; không được tách rời lực lượng tàu chiến, mà phải tập trung lại; phải sử dụng tính lưu động, ít xuất hiện để tạo ra tin đồn tăng lên theo cấp số nhân, từ đó tạo ra đe dọa ở nhiều hướng, khiến cho đối phương phải phân tán lực lượng, tóm lại là phải khiến đối phương, theo như Daveluy gọi, phải “di dời binh lực” một cách không thuận lợi.10
Những hoạt động hiện tại của Hải quân Trung Quốc rất giống với các yếu tố của chiến lược “hạm đội hiện hữu”, đặc biệt là Thuyết Rủi ro của Tirpitz. Đây là một phần trong chiến lược “phong tỏa biển” (tạm dịch từ “sea-denial”), đối nghịch với chiến lược “kiểm soát biển” (“sea-control”). Hạm đội được sử dụng không nhắm đến quyền kiểm soát vùng biển mà nhìn chung để cho đối thủ mạnh hơn kiểm soát, nhưng đồng thời cũng ngăn không cho đối phương ngự trị các vùng biển trong một số thời điểm nhất định bằng cách sử dụng sự hiện diện và mối đe dọa đến từ hạm đội này.
Khả năng phong tỏa và chống xâm nhập được ca ngợi rất cao của Trung Quốc, bao gồm một hạm đội tàu ngầm lớn, tên lửa đạn đạo chống tàu và những chiến hạm lưu động được trang bị tên lửa chống tàu, là công cụ chính để Trung Quốc theo đuổi chiến lược “hạm đội hiện hữu”. Đây là nền tảng để họ cho Mỹ thấy rằng bất cứ nhóm đặc nhiệm hải quân nào được cử đi đối đầu với Trung Quốc đều sẽ phải chịu thiệt hại khôn lường. Thay vì thống trị vùng biển hay triển khai sức mạnh vượt ra ngoài biên giới, trong vài chục năm gần đây Trung Quốc đã áp dụng chiến lược phát triển công nghệ tàng hình và tốc độ để trở nên khó theo dõi và đối phó. Những công nghệ như tên lửa đạn đạo chống tàu (thường được gọi là “sát thủ tàu sân bay”) được dùng để răn đe không cho Hải quân Mỹ điều động những chiến hạm cỡ lớn, tức là nhắm vào chính những lợi thế của Mỹ mà Hải quân Trung Quốc không có. Những cuộc tập trận thường xuyên và những ngày đặc biệt như kỷ niệm 60 năm ngày thành lập hạm đội vào tháng 4 năm 2009 là dịp để Trung Quốc có thể phô diễn những sức mạnh trên. Những cuộc tập trận này tuân theo đúng gợi ý của Julian Corbett rằng chiến thuật “hạm đội hiện hữu” đòi hỏi “hạm đội phải hiện hữu một cách tích cực, không đơn thuần chỉ là tồn tại mà phải hoạt động và đầy sức sống”.11
Chắc chắn chiến lược của Trung Quốc có thể còn tiến hóa cùng sự phát triển lớn hơn trong khả năng triển khai sức mạnh của nước này. Hiện tại Trung Quốc đã có sẵn một chương trình phát triển tàu sân bay, 3 tàu tấn công lưỡng cư loại 071 và một hạm đội ngày càng được mở rộng gồm những chiến hạm mạnh và hiện đại. Mặc dù vậy, trong tương lai Hải quân Trung Quốc vẫn là bên yếu thế hơn trên chiến trường Thái Bình Dương, do vậy họ vẫn sẽ áp dụng chính sách răn đe qua các hành động phô diễn sức mạnh có thể gây cho bất kỳ đối phương nào các thiệt hại không nhỏ.
Chiến lược “hạm đội phân tán” của Mỹ
Trớ trêu thay, một vài khía cạnh trong chiến lược hải quân hiện tại của Mỹ ở Đông Á lại khá giống với chiến lược “hạm đội hiện hữu” của Trung Quốc. Tuy đang ở vị thế đứng đầu khu vực, nhưng lực lượng hải quân và lính thủy đánh bộ Mỹ cũng đang tránh đụng độ trực tiếp và cùng lúc đó có những hành động răn đe các động thái gây hấn của Trung Quốc. Tóm lại, Mỹ, lực lượng hải quân với ưu thế vượt trội, đang cố tình giữ khoảng cách để tránh xung đột và cũng để phòng bị tốt hơn trước những loạt tên lửa của đối thủ, nhưng đồng thời duy trì đủ lực lượng tấn công để tạo áp lực và răn đe. Chiến lược này có thể được gọi là “fleet-in-dispersal”, hay “hạm đội phân tán”.
Bằng chứng cho thấy Mỹ đang áp dụng chiến lược này nằm ở những thông báo gần đây về việc hướng lại sự chú ý về phía châu Á và ở những thay đổi lực lượng trên thực tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong vòng 10 năm trở lại đây. Đã có rất nhiều ý kiến được đưa ra xoay quanh những thông báo gần đây về sự gia tăng hiện diện của quân đội Mỹ trong khu vực. Do Mỹ đang duy trì hiệp ước phòng thủ với 5 nước châu Á-Thái Bình Dương, sẽ là khôn khéo về mặt ngoại giao nếu Mỹ đề cao việc triển khai quân diễn ra gần đây như là nhằm duy trì cam kết giữ gìn ổn định và tự do hàng hải qua các vùng biển chung của khu vực. Sự bảo đảm này có thể nói là ngày càng cần thiết trong hoàn cảnh quan hệ của các bên tranh chấp ở Biển Đông gần đây đã trở nên xấu đi, xung đột ngoại giao xảy ra đều đặn ở vùng biển Hoa Đông, quan điểm ngoại giao của Bắc Kinh trong 2 năm gần đây được coi là trở nên cứng rắn hơn, và cuối cùng là mối đe dọa nhận thấy được ở tiềm lực hải quân gia tăng của Trung Quốc (kết hợp với mối lo tiềm ẩn về chủ nghĩa sô vanh Trung Quốc). Tại Hội nghị thượng đỉnh An ninh châu Á IISS, hay còn gọi là Đối thoại Shangri-La, diễn ra vào tháng 6 năm 2011, một trong những chủ đề chính là mong muốn một tín hiệu rõ ràng trong việc Mỹ kéo dài các cam kết của mình.12
Khó khăn đối với Bộ quốc phòng và Bộ Ngoại giao Mỹ, đặc biệt là Bộ chỉ huy Thái Bình Dương, chính là phải đưa ra được lời đảm bảo cho các nước châu Á mà vẫn tránh được cơn thịnh nộ của Trung Quốc, vốn đang lo ngại sự bao vây của Mỹ và các nước đồng minh, đồng thời tin rằng các đối thủ đang theo đuổi chính sách siết chặt Trung Quốc trong “chuỗi đảo thứ nhất” (kéo dài từ Nhật Bản đến Đài Loan, Philippines và Biển Đông).
Do vậy, có thể nói việc điều quân của Mỹ sẽ có 2 tác động chính. Tác động thứ nhất có thể thấy ở việc triển khai tàu chiến gần bờ đến Singapore trong thời gian gần đây, cho thấy rõ ý định hỗ trợ đồng minh và đảm bảo tự do lưu thông hàng hải trong khu vực. Đảo quốc này không chỉ là đồng minh chủ chốt của Mỹ ở Đông Nam Á mà còn là một trung tâm hàng hải quốc tế, nằm trên một trong những tuyến đường giao thông trên biển tấp nập nhất thế giới. Năm 2003, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã chính thức thừa nhận rằng quốc gia này phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhiên liệu lưu thông qua eo biển này (90% sản phẩm năng lượng vận chuyển bằng đường biển đi qua eo biển hẹp này), lần đầu tiên nêu ra tình thế mà người Trung Quốc gọi là “thế lưỡng nan Malacca”.13 Trong bối cảnh đó, việc Mỹ triển khai thêm sức mạnh ở Singapore có thể ẩn chứa một mối đe dọa cho Trung Quốc.14 Nếu chiến sự nổ ra giữa hai nước thì lực lượng Mỹ đã được bố trí sẵn để kiểm soát toàn bộ lưu thông qua eo biển này và siết chặt Trung Quốc bằng một cuộc phong tỏa. Cũng như cách Trung Quốc sử dụng chiến lược “hạm đội hiện hữu” để vô hiệu hóa sức mạnh của Hải quân Mỹ, việc Mỹ điều quân đến Singapore cũng nhắm vào điểm yếu chiến lược của Trung Quốc – sự phụ thuộc của họ vào eo biển Malacca.
……


[1] Robert D. Kaplan đưa ra một cách giải thích khác về khái niệm “fleet-in-being”. Xem bài “Yếu tố địa lý của quyền lực của Trung Quốc” (http://nghiencuuquocte.org/wp-content/uploads/2013/06/nghiencuuquocte-net-24-yeu-to-dia-ly-cua-quyen-luc-tq1.pdf) , trang 16 (chú thích của người biên tập).
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2013/08/29/us-pivot-east-asia-naval-dimension/#sthash.PbiN5yPm.dpuf

Hạn chế quyền phủ quyết của Hội đồng Bảo an LHQ

christians-in-pakistan-un-security-council
Nguồn: Gareth Evans, “Limiting the Security Council Veto“, Project Syndicate, 04/02/2015.
Biên dịch: Vũ Trọng Toàn | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Vào năm 2001, Pháp đã đưa ra một kiến nghị rằng 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (Nhóm P5) nên tự nguyện hạn chế sử dụng quyền phủ quyết của họ khi giải quyết vấn đề các tội ác tàn bạo quy mô lớn.[1] Và giờ đây, khi sắp sửa kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Liên Hợp Quốc, chính quyền của tổng thống Pháp Francois Hollande lại tiếp tục tích cực theo đuổi ý tưởng trên. Liệu những nỗ lực này có hiệu quả?
Phản ứng đầu tiên có thể tiên đoán được là các nước P5 sẽ bác bỏ khả năng này. Như Thủ tướng thời chiến của Australia Ben Chifley đã từng có lời nhận xét nổi tiếng “Vấn đề đối với những thỏa thuận của các quý ông là không có đủ người đáng mặt quý ông”.
Thực sự khó có thể tin rằng Nga và Trung Quốc sẽ sẵn lòng chấp nhận đề xuất này. Ví dụ, Nga đã thực hiện quyền quyền phủ hơn 100 lần kể từ năm 1946, 4 lần không vui vẻ gần đây nhất từ 2011 là để ngăn cản các nghị quyết nhằm ngăn chặn sự tàn sát ở Syria.
Tương tự như vậy, Mỹ cũng sẽ không thể hiện nhiều sự nhiệt tình, họ đã sử dụng quyền phủ quyết 80 lần (thường xuyên nhất trong những năm gần đây là về các vấn đề có liên quan đến Israel), mặc dù họ thường có một lập trường cứng rắn đối với tội diệt chủng và các trường hợp liên quan. Chỉ có vương quốc Anh (giống như Pháp, sử dụng phủ quyết lần cuối vào năm 1989) là có chút động thái ủng hộ sáng kiến của Pháp.
Quyền phủ quyết là cái giá mà Trung Quốc, Pháp, Vương quốc Anh, Nga, và Mỹ đặt ra để tham gia vào Liên Hợp Quốc. Không ai có thể tin rằng một sự sửa đổi Hiến chương chính thức để bãi bỏ hoặc hạn chế quyền này có thể trở thành hiện thực.
Nhưng áp lực quốc tế lên nhóm P5 đã tăng lên trong 15 năm qua – và đặc biệt là kể từ khi Đại Hội Đồng đồng lòng chấp nhận nguyên tắc “trách nhiệm bảo vệ” (R2P) trong năm 2005. Những người ủng hộ quan điểm của Pháp muốn các nước này phải hứa từ bỏ phủ quyết khi đa số các nước ủng hộ các hành động được đề xuất để giảm nhẹ mức độ nguy hiểm của một tội ác tàn bạo. Sự chán ghét đối với hành động ngăn cản các nghị quyết về Syria đã trở lên căng thẳng và theo thống kê gần đây, 68 quốc gia đã thể hiện sự ủng hộ rõ ràng đối với đề xuất của Pháp trong nhiều diễn đàn của Liên Hợp Quốc.
Luận cứ đạo đức rằng quyền phủ quyết không nên được sử dụng trong các trường hợp tội ác tàn bạo có sức thuyết phục lớn. Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật nhân quyền, nhân đạo quốc tế, các nước P5 có nghĩa vụ không được làm xói mòn tính hiệu quả của Liên Hợp Quốc và các thể chế pháp lý đó. Luận cứ chính trị phản đối sự phủ quyết trong các trường hợp tội ác tàn bạo – rằng nó hủy hoại uy tín và tính chính đáng của Hội đồng Bảo an, cơ quan mà cơ cấu tổ chức của nó vốn đã được xem là không phản ánh đúng thực tế địa chính trị của thế kỷ 21- cũng tạo ra sức ép lớn đối với P5.
Nhưng liệu có thể tạo ra một đề xuất hạn chế quyền phủ quyết mà cả 5 nước P5 đều đồng ý hay không? Trong tháng 1, tại một hội nghị mà tôi tham gia ở Paris, nơi hội tụ các nhà làm chính sách của Pháp và các chuyên gia quốc tế, vấn đề trở nên rõ ràng rằng một dự thảo thỏa thuận có thể đáp ứng phần lớn, nếu không phải là tất cả, các mục tiêu. Nhưng nó cần phải có ít nhất 3 yếu tố cơ bản.
Thứ nhất, thỏa thuận sẽ phải định nghĩa các trường hợp liên quan (không được dùng quyền phủ quyết) một cách rõ ràng – không được quá rộng cũng như quá hẹp – và xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ Trách nhiệm Bảo vệ đã được thiết lập vững chắc. Định nghĩa có thể là một cái gì đó giống như “các trường hợp mà dân chúng đang phải chịu đựng, hoặc đang có nguy cơ, bị diệt chủng, các tội ác chống lại loài người, hoặc các tội ác chiến tranh nghiêm trọng”.
Thứ hai, thỏa thuận cần phải bao hàm cả cơ chế để xác định khi nào thì những trường hợp trên xảy ra. Cơ chế này phải nhanh chóng, bảo đảm đánh giá khách quan, và lý tưởng nhât là tạo ra một mối quan ngại mạnh từ phần lớn cộng đồng quốc tế.
Một cách để đáp ứng các nhu cầu trên là phải có một “ngòi nổ kép”. Yêu cầu thứ nhất là một sự chứng nhận, tống đạt đến Hội đồng Bảo an thông qua Đại Hội Đồng và Văn phòng Tư vấn đặc biệt về Ngăn chặn tội diệt chủng và Trách nhiệm Bảo vệ (cơ quan có nguồn lực, nhân lực và uy tín cần thiết), rằng trường hợp được xem xét đáp ứng định nghĩa đã được thông qua. Yêu cầu thứ hai là một đòi hỏi hạn chế quyền phủ quyết được đưa ra bởi ít nhất 50 quốc gia thành viên, bao gồm ít nhất 5 thành viên từ mỗi khu địa lý được công nhận.
Yếu tố thứ ba, không hấp dẫn về mặt đạo đức nhưng có thể cần thiết về mặt chính trị để đạt được sự ủng hộ của Mỹ và các nước khác, là một quy định cho phép bất cứ thành viên P5 nào được phủ quyết khi họ khẳng định rằng “lợi ích quốc gia sống còn” của họ đang bị đe dọa. Điều an ủi ở đây là việc cố gắng dựa vào điều khoản miễn trừ như vậy trong phần lớn các trường hợp tội ác tàn bạo sẽ không thuyết phục. Liệu Nga và Trung Quốc có thể sử dụng nó để phủ quyết các nghị quyết của Hội đồng Bảo an về Myanmar và Zimbabwe trong lần lượt các năm 2007 và 2008 hay không? Và bất chấp mối quan hệ chính trị và quân sự khăng khít với chính quyền Bashar al-Assad ở Syria, liệu Nga họ có thể khẳng định rằng một nghị quyết nào đó sẽ làm phương hại lợi ích sống còn của họ hay không?
Rất nhiều loại phản bác có thể sẽ xuất hiện, ít nhất là luận cứ rằng sự phủ quyết được đưa ra không nhằm bảo vệ lợi ích của P5, mà là để bảo vệ sự nhất trí giữa những cường quốc lớn (điều đã rõ ràng vắng bóng trong tổ chức tiền thân đoản mệnh của Liên Hợp Quốc là Hội Quốc Liên) trong mọi hành động được thực hiện nhằm mục đích duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Chúng ta sẽ được nghe nói rằng thật không hợp lý khi yêu cầu một thành viên P5 từ bỏ quyền phủ quyết khi họ thực sự tin rằng nghị quyết đang được đề xuất sẽ mang lại nhiều thiệt hại hơn là điều tốt đẹp.
Một phản ứng khác là hầu như không thể tìm được một lý do thực sự thuyết phục nào để có thể phủ quyết trong một trường hợp tội ác tàn bạo. Một phản ứng nữa là bất kỳ một nghị quyết nào của Hội đồng Bảo an cũng đòi hỏi ít nhất 9 phiếu ủng hộ (trong một Hội đồng có 15 thành viên). Nếu như có bất kỳ sự quan ngại nào về giá trị của nghị quyết thì yêu cầu đó sẽ là một ngưỡng rất cao.
Mục đích của việc hạn chế quyền phủ quyết ít nhất là nhằm tăng cái giá phải trả về mặt chính trị đối với những ai muốn ngăn chặn các hành động được thiết kế nhằm bảo đảm trong tương lai sẽ không có còn có những Campuchia, Rwanda, Srebrenica, hoặc Syria. Đề xuất của Pháp, mặc dù vẫn còn thay đổi, đã tạo ra sự phản ứng đồng thuận trên bình diện quốc tế. Các nước P5 còn lại không thể phớt lờ điều đó mãi được.
Gareth Evans, cựu Bộ trưởng ngoại giao của Australia (1988-1996) và Chủ tịch của Nhóm khủng hoảng quốc tế (2000-2009), hiện đang là Hiệu trưởng trường Đại học Quốc gia Australia. Ông cũng là đồng chủ tịch của Trung tâm quốc tế về Trách nhiệm Bảo vệ đặt ở New York và Trung tâm Chống phổ biến vũ khí hạt nhân và Giải trừ quân bị đặt tại Canberra.
————-
[1] Tội diệt chủng, tội ác chiến tranh, tội ác chống loài người và tội xâm lược – ND