Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

Lạm bàn về trí thức và nguỵ trí thức _ BsNgoc

“...Người trí thức chân chính không chỉ có tầm mà còn có tâm. Họ đau đáu lo chuyện quốc gia đại sự dù họ không có quyền...”
 
Mấy tuần nay muốn góp một tiếng nói chung quanh đề tài gọi là “trí thức”, nhưng cái viêm khớp đánh bại mọi ý định. Ngày nào mình điều trị cho người khác, nay đến lúc mình thành bệnh nhân của đồng nghiệp. Trở thành bệnh nhân cũng có cái hay, vì mình có dịp đọc, chiêm nghiệm cuộc đời, suy nghiệm những tín hiệu trong đời sống.

Phát ngôn viên của Đảng?

Tín hiệu bắt đầu từ phát biểu của Ngô Bảo Châu, một đứa con cưng của chế độ hiện nay. NBC định nghĩa trí thức như sau: “… trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.”

Thế là một cơn bão tsunami ập đến. Phản đối và bênh vực. Phản đối nhiều hơn bênh vực. Có những người từng thần tượng và ủng hộ NBC mà nay cũng quay 180 độ. Họ phản đối định nghĩa phiến diện của NBC. Người ta thất vọng với quan điểm của NBC, người mà người ta kỳ vọng quá nhiều. Từ kỳ vọng quá nhiều, họ quay sang khinh bỉ NBC vì anh ta đi “hai hàng”. Người bênh NBC vì … thích. Thích tài năng của NBC. Khi thương trái ấu cũng tròn. Nên người ta sẵn sàng lăn xả vào bảo vệ thần tượng của mình, bất kể thần tượng đó nói năng nhảm nhí ra sao. Âu cũng là tâm tính trẻ con.

Riêng tôi ngạc nhiên với cách hiểu về trí thức của NBC. Tôi ngạc nhiên vì một người đọc sách nhiều, trầm tỉnh và sâu sắc như thế mà có cách hiểu về trí thức trái ngược lại với những gì cộng đồng học thuật công nhận. Tôi không hiểu khái niệm trí thức “không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội” của anh ta đến từ đâu. Chắc chắn anh ta không đủ khả năng học thuật để “nặn” ra một khái niệm ngược đời như thế.

Nhưng tuần qua, tôi đã có câu trả lời. Cách hiểu về trí thức của NBC xuất phát từ Đảng CSVN. Nghị quyết số 27-NQ/TW của Đảng (6/8/2008) định nghĩa trí thức như sau: trí thức là “những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội.” Chú ý những chữ “lao động trí óc”, “học vấn cao”, “sản phẩm tinh thần và vật chất”. Đó cũng chính là những chữ hay ý mà NBC phát biểu. Đảng không nói đến vai trò phản biện của trí thức, nhưng NBC nói thẳng hơn, trực tiếp hơn rằng phản biện chẳng có liên quan gì đến trí thức.

Kể ra cũng ngạc nhiên hay đáng mừng khi Đảng đã có thay đổi nhận thức về trí thức. Ngày xưa Đảng kêu gọi “trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ“. Cái khẩu hiệu ghê rợn và mang mùi máu đó không còn nữa. Thay vào đó là những câu văn êm tai và mùi vị ngọt ngào hơn.

Nghị quyết của Đảng ít người được đọc. Nhưng nay nhờ NBC mà chúng ta biết được quan điểm của Đảng về trí thức ra sao. Có quá không nếu nói NBC là phát ngôn viên của Đảng CSVN?

Đặc điểm của trí thức
Tôi là bác sĩ. Người đời thường xếp tôi và những người tốt nghiệp đại học (học thật chứ không phải học giả như bây giờ) là “trí thức”. Không biết tự bao giờ, người ta xếp những người “có học” là thành phần trí thức, nhưng tự trong thâm tâm, tôi không bao giờ nghĩ mình là bậc trí thức. Những đồng nghiệp tôi cũng không nghĩ họ là trí thức. Tôi không thấy những người mang chức danh “giáo sư”, “tiến sĩ” nhan nhản trong ngành y là trí thức, không phải vì những chức tước đó là do mua bán, mà vì họ chẳng có phát kiến gì có ảnh hưởng ngoài nghành nghề của mình. Thật ra, ngày nay, mỗi lần nghe ai đó giới thiệu “giáo sư, tiến sĩ” là tôi tự động khinh bỉ ngay! Tôi khinh bỉ vì tôi biết khả năng là những tước danh như thế là dỏm, và bản thân những người đó không xứng đáng được gọi như thế, chứ nói gì đến hai chữ “trí thức”.

Tôi nhìn thầy của mình như GS Trần Ngọc Ninh là bậc trí thức. Không phải vì Thầy có bằng cấp cao và chức danh giáo sư, nhưng vì Thầy là người uyên bác có đóng góp ngoài lĩnh vực chuyên môn của Thầy. Tôi coi cụ Nguyễn Hiến Lê là bậc trí thức, không phải vì cụ có học thức cao (thật ra, cụ chưa bao giờ tốt nghiệp đại học), mà vì những đóng góp vô giá của cụ cho xã hội qua những tác phẩm của cụ. Tôi xem cụ Đào Duy Anh, cũng chưa bao giờ tốt nghiệp đại học, là một bậc trí thức.
Hai cảm nhận trên để tôi đi đến một kết luận: Học vấn cao hay lao động trí óc không phải là một đặc tính làm nên người trí thức.

Thế thì trí thức là gì? Tôi mới đọc được một từ rất hay từ web của GS Nguyễn Văn Tuấn. Đó là từ nguỵ trí thức. Ông không giải thích cụ thể thế nào là nguỵ trí thức (có lẽ là pseudo-intellectual?), do đó ở đây tôi cố gắng bổ sung ý nghĩa chữ đó. Theo cảm nhận của tôi, nhận ra những đặc điểm của nguỵ trí thức cũng là cách để chúng ta phân biệt với trí thức chân chính. Theo tôi, những đặc tính sau đây có thể giúp chúng ta nhận dạng một người trí thức chân chính để phân biệt với những nguỵ trí thức.

Vượt tầm: Người trí thức chân chính không chỉ là người có chuyên môn cao, mà còn phải có những đóng góp ngoài chuyên ngành của mình. Có chuyên môn cao là một intellectual worker (có lẽ dịch là người lao động trí óc) như có người định nghĩa trên trang web của GS Nguyễn Văn Tuấn. Người trí thức đi ra ngoài phạm vi chuyên môn của một intellectual worker, bằng cách đóng góp ý kiến, phản biện những vấn đề liên quan đến xã hội, chính trị, triết học … GS Trần Ngọc Ninh, BS Nguyễn Khắc Viện là những người của ngành y, nhưng các bậc đàn anh đó còn là những nhà văn hoá có tiếng. Họ xứng đáng là những intellectual – nhà trí thức. Người trí thức chân chính không chỉ có tầm mà còn có tâm. Họ đau đáu lo chuyện quốc gia đại sự dù họ không có quyền.

Khiêm tốn: Người trí thức là những người khiêm tốn, vì họ ý thức được rằng kiến thức của mình còn hạn chế. Khiêm tốn tri thức còn có nghĩa người trí thức không khẳng định những gì mình chưa biết hay chưa có chứng cứ. Dĩ nhiên, khiêm tốn ở đây cũng có nghĩa là người trí thức không nên tự phụ, kiêu căng, khoác lác, kiêu ngạo, mà phải sử dụng logic và chứng cứ để phát biểu một cách hợp lý. Việt Nam không thiếu những người cũng mang danh giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhưng kỳ thực là họ không có kiến thức uyên bác về lĩnh vực họ phát biểu. Thay vào đó là những khoa ngôn, rừng chữ cầu kỳ, màu mè, mà chính họ cũng không hiểu họ nói gì. Những kẻ đó tôi gọi là nguỵ trí thức. Giới báo chí thường hay bị lừa bởi những nguỵ trí thức. Mới đây đã xảy ra trường hợp một ông bác sĩ hay dùng những từ ngữ triết học cao siêu được mời viết bài và giảng ở Đại học quốc gia TPHCM, nhưng chỉ vài ngày thì người ta phát hiện ông ta chỉ là loại nguỵ trí thức.

Can đảm, dấn thân: Người trí thức thật sự khác với trí thức trùm chăn. Trí thức trùm chăn là những kẻ cũng có bằng cấp cao, cũng danh xưng đầy mình, cũng lao động trí óc, nhưng không có khả năng hình thành một quan điểm độc lập. Họ là những người nằm trong một tổ chức, như Đảng CSVN. Họ có thể nhận ra những gì Đảng dạy là sai, nhưng họ không dám nói ra, chỉ “trùm chăn” hay đóng vai 3 con khỉ không muốn nghe, không muốn thấy, và không muốn nói. Loại này thì có nhiều ở Việt Nam. Ở bàn nhậu họ phát biểu rất hăng, nhưng khi họp chi bộ thì họ là những con mèo đáng thương hại. Ngược lại với loại trí thức dỏm (trùm chăn) đó là trí thức thật, những người không khi nào chấp nhận lý lẽ của người khác một cách dễ dãi, không bao giờ chấp nhận giáo điều, không bao giờ khuất phục trước những kẻ quyền thế. Đặc tính can đảm đặt người trí thức ở tình thế có khi nguy hiểm. Nếu Đảng dạy trí thức phải là a, b, c, mà người trí thức phản biện (với lý lẽ) không phải như thế thì người trí thức sẽ đối đầu với rủi ro. Người trí thức chân chính chấp nhận rủi ro đó. Còn nguỵ trí thức thì chỉ việc đi theo đường hay học thuộc bài Đảng đã dạy.

Thấu cảm: Người trí thức chân chính lúc nào cũng đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để thấu hiểu họ. Đặc tính này có tương quan với khả năng hình thành quan điểm và lý trí của người khác, và lý giải từ những giả định, tiền đề và ý tưởng của chính mình. Thấu cảm còn có nghĩa là người trí thức sẵn sàng chấp nhận mình sai cho dù mình tin tưởng rằng mình đúng. Những loại trí thức dỏm không có đặc tính thấu cảm, bởi họ không bao giờ đặt mình vào hoàn cảnh của người khác. Họ có thể là những người ở nước ngoài, không chịu sự chi phối của các nhóm quyền lực chính trị, nhưng họ sẵn sàng lớn tiếng lên tiếng lên lớp đồng môn trong nước là “phản biện trung thành” và lấy làm hài lòng sự lên lớp của mình.

Liêm chính: Người trí thức chân chính là người áp dụng những quy chuẩn khoa học để đánh giá những lý giải và chứng cứ của mình, chứ không phải dễ dãi với những gì mình tin tưởng. Nói cách khác, người trí thức dùng quy chuẩn khoa học chẳng những cho người khác mà còn cho chính mình. Điều này đòi hỏi người trí thức phải thành thật chấp nhận những quan điểm khác với mình. Đặc tính này tương phản với nguỵ trí thức, những kẻ không có khả năng lắng nghe quan điểm của người khác, không đủ can đảm để ghi nhận phê bình của người khác. Nguỵ trí thức cũng là loại trùm chăn, vì đầu óc họ (cũng lao động trí óc) chỉ biết có một quan điểm, chỉ tin vào một thần tượng. Bất cứ ai phê bình thần tượng của họ, họ nổi nóng và lảm nhảm. Một loại nguỵ trí thức khác là lên giọng dạy người khác rằng khi phản biện phải có am hiểu vấn đề nhưng bản thân họ thì chẳng có bất cứ một kiến thức nào về vấn đề họ phản biện. Đó là loại nguỵ trí thức tiền hậu bất nhất, một tiêu chuẩn cho mình, một tiêu chuẩn cho người khác.

Kiên trì và trung thành: Người trí thức chân chính là người trung thành với lý tưởng của mình, tin rằng lý tưởng đó sẽ làm cho xã hội tốt hơn. Họ kiên trì theo đuổi những sự thật hay nguyên lý mà họ tin tưởng, bất chấp những khó khăn, cản trở, và đe doạ. Khác với trí thức chân chính, nguỵ trí thức thay đổi quan điểm khi có điều kiện. Hôm nào họ tích cực tham gia phản biện dự án bauxite, nhưng sau một thời gian có lẽ bị uốn nắn, họ quay sang nói trí thức không cần phản biện!
Căn cứ vào những đặc tính trên, tôi nghĩ ở Việt Nam rất khó có một giai cấp trí thức chân chính. Chúng ta không có cơ hội để phản biện trên báo chí thì làm sao vượt tầm được. Nền học thuật còn chưa có tự do thì làm sao chúng ta có cơ hội công bố những quan điểm học thuật. Thay vào đó, chúng ta có rất nhiều nguỵ trí thức. Trong số này phải kể đến chính những người đã làm ồn ào không gian cyber với định nghĩa thế nào là trí thức.

BSNgocNguồn: bsngoc.wordpress.com

Tự do là gì?

Quốc Thanh
Tự do không phải là thuật ngữ xa lạ, càng không phải một phát hiện bởi nó gắn liền với con người như một công cụ để tồn tại, để sống và để phát triển. Tuy nhiên, đối với con người, tự do vẫn phần nào bí ẩn; chúng ta, dường như, chưa nhận thức trọn vẹn về nó, càng chưa biết khai thác và sử dụng nó như một công nghệ phát triển.
Thời kỳ Khai sáng đã đánh dấu một bước ngoặt không chỉ trong lịch sử mà còn trong nhận thức của con người. Các học giả của thời kỳ ấy không phải những người đầu tiên bàn về tự do nhưng họ là những người có công rất lớn trong việc xây dựng những nhận thức mới về tự do và thức tỉnh nhân loại về các giá trị của nó. Phương Tây đã đón nhận những đóng góp ấy và là những người đầu tiên được nếm vị ngọt của tự do và hưởng thụ những thành quả của nó.
Tuy nhiên, ở một số vùng kém phát triển, con người vẫn mơ hồ trước tự do và dừng lại ở việc nhận thức nó như một công cụ thỏa mãn các đòi hỏi mang tính bản năng. Vậy đâu là căn nguyên của hiện tượng này và phải chăng, có mối liên hệ giữa tình trạng kém phát triển với trạng thái thiếu hoặc không có tự do? Bài viết “Biện chứng của tự do” sẽ góp phần trả lời câu hỏi ấy.TỰ DO NHƯ MỘT PHẠM TRÙ TRIẾT HỌC
Những quan niệm về tự do
Ngược dòng lịch sử, có thể thấy các học giả phương Tây đã sớm đưa ra một số định nghĩa về tự do. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra hai cách hiểu về tự do phổ biến nhất của Locke và Hegel.
(Minh họa)
Tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào (Locke)
Đây là định nghĩa nguyên thủy nhất về tự do và cũng từng được khá nhiều người tán đồng. Tuy nhiên, định nghĩa này có những hạn chế nhất định, thể hiện ở chỗ nếu tự do chỉ thuần túy là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào thì sẽ có rất nhiều người nhân danh tự do để thỏa mãn những mong muốn hay tham vọng cá nhân của mình, phá hoại trật tự xã hội, và do đó, làm phương hại đến sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng.
Tự do là cái tất yếu được nhận thức (Hegel)
Nhận thức được sự hạn chế của định nghĩa về tự do của Locke, Hegel đã xây dựng một định nghĩa mới về tự do. Đó là, tự do là cái tất yếu được nhận thức. Câu hỏi đặt ra là, vậy cái tất yếu là gì? Ở đây, cái tất yếu được hiểu là các quy luật tự nhiên. Do vậy, có thể viết lại định nghĩa về tự do của Hegel như sau: tự do là các quy luật tự nhiên được nhận thức. Hegel cho rằng con người càng nhận thức một cách chính xác, rõ ràng và toàn diện về cái tất yếu bao nhiêu thì càng có tự do bấy nhiêu.
Định nghĩa này đã phát triển hơn một bước so với định nghĩa của Locke, tức đã đưa tự do từ một trạng thái bản năng đến tự do trong mối tương quan với cái tất yếu. Như vậy, ranh giới của trạng thái tự do và trạng thái không có tự do chính là cột mốc nhận thức được cái tất yếu. Nhận thức được cái tất yếu, con người sẽ không nhân danh tự do để thực hiện những hành vi kìm hãm sự phát triển của bản thân anh ta và cả cộng đồng. Chính lúc ấy, tự do sẽ là điều kiện tinh thần giúp con người tiếp cận với sự phát triển thực thụ và toàn diện.
Trong khi ở phương Tây, các học giả bàn về tự do một cách sôi nổi và đầy cảm hứng thì ở phương Đông, tự do chưa phải là một khái niệm hoàn chỉnh mà mới chỉ được hiểu theo nghĩa tự do bản năng, hay như cái cho phép, hệ quả là, cái gì không cho phép nghĩa là không tự do. Chẳng hạn, giải thoát là một trong những phạm trù triết học tôn giáp Ấn Độ để chỉ trạng thái tinh thần, tâm lý, đạo đức của con người thoát ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới trần tục và nỗi khổ ải của cuộc đời. Có thể nói, triết học Ấn Độ chỉ xoay quanh giải thoát con người trong đời sống tinh thần (gần như tiệm cận trạng thái siêu thoát) thay vì đưa ra các tư tưởng phát triển con người bằng cách giải phóng con người khỏi những ràng buộc. Triết học Trung Hoa cổ đại từng đề xướng tư tưởng “vô vị” nghĩa là tự do tuyệt đối không bị ràng buộc bởi bất cứ ý tưởng dục vọng, đam mê, ham muốn nào; tức sống, tồn tại theo bản tính tự nhiên, không cần sự tham gia có tính chất xã hội.
Tự do là quá trình dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi
Tự do được hiểu một cách rất khác nhau giữa các dân tộc và thậm chí, giữa các thành viên của dân tộc. Thực ra, người ta chỉ nhận ra giá trị của tự do khi đã bị mất tự do, hay nói cách khác, người ta chỉ cảm thấy giá trị của tự do khi vướng phải những giới hạn của nó bởi chính những giới hạn ấy sẽ đánh thức con người, giúp con người thoát ra khỏi trạng thái thụ động đón nhận một phần của tự do như sự nhân nhượng của bề trên đối với kẻ dưới. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, tự do không phải là một loại quyền được trao tặng bởi bất kỳ thể chế nào mà nó là bản chất tự nhiên của con người, tức là nó gắn liền với con người ngay từ khi sinh ra. Có thể nói, tự do là không gian sống của mỗi cá nhân, ai cũng có thể khai thác không gian ấy, thậm chí mở rộng nó, nếu hiểu được bản chất và giá trị của tự do.
Tuy nhiên, trước khi bàn về phép biện chứng của tự do, chúng ta cần phải xây dựng một định nghĩa về tự do. Chúng tôi cho rằng, tự do là quá trình dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi, hệ quả là, bất cứ xã hội nào cho phép sự dịch chuyển song song này diễn ra một cách thuận lợi trong một trật tự hài hòa và cân đối, xã hội ấy sẽ đạt tới trạng thái tự do. Phép biện chứng của tự do cần phải góp phần vào việc thay đổi nhận thức của con người về tự do, trên cơ sở ấy hỗ trợ quá trình dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi ở mỗi cá nhân cũng như cả cộng động. Đó chính là tiền đề của sự phát triển.
TỰ DO VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG
Tự do là một khái niệm phức tạp, đa chiều và gồm có nhiều thành tố. Nó không phải là một cảm giác mặc dù nếu thiếu cảm giác về tự do thì cũng không thể tạo thành khái niệm tự do. Điều quan trọng nhất là khi nghiên cứu tự do là chúng ta phải phân tích các thành tố tạo thành khái niệm tự do, vị trí và ảnh hưởng của từng thành tố đối với đời sống. Trên cơ sở đó, con người sẽ nhận thức được mình nên chuyển nhượng bộ phận nào của tự do, chuyển nhượng cho ai và vào thời điểm nào để phần tự do mình cống hiến không trở nên vô nghĩa.
Tự do là một trong những điều kiện ban đầu để hình thành hạnh phúc. Đồng thời, nó là nguyên liệu đầu vào của đời sống con người, hạnh phúc chính là kết quả của việc chuyển hóa tự do thành những sức mạnh nhất định và toàn bộ quá trình chuyển hóa chính là tiến trình phát triển. Vì vậy, có thể nói, phân tích tự do, hạnh phúc và quá trình phát triển chính là phân tích quá trình vận động của tự do.
Điều quan trọng nhất là, trên cơ sở các phân tích về tự do, chúng ta cần phải xác lập ranh giới giữa các loại đối tượng, đó là loại đối tượng có năng lực sử dụng và khai thác tự do và loại đối tượng không có năng lực khai thác và sử dụng tự do, bởi tự do chỉ dành cho những người có trình độ nhận thức nhất định. Mặc dù tự do là sở hữu tự nhiên của con người, nhưng không phải tất cả mọi người đều có năng lực và xứng đáng được khai thác thứ tài sản vô giá ấy. Xác lập ranh giới giữa những loại đối tượng khác nhau sẽ giảm bớt những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình xây dựng tự do như một công nghệ phát triển. Chỉ có như thế, tự do mới trở thành điểm xuất phát của mọi quá trình phát triển cả về mặt nhận thức lẫn hành vi.
Mối quan hệ giữa các thành tố của tự do
Có thể hiểu, tự do gồm có hai thành tố quan trọng nhất là tự do nhận thức và tự do hành động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Vậy, đâu là mối liên hệ giữa hai thành tố này?
Tôi cho rằng tự do nhận thức là nền tảng để con người đi tới tự do hành động. Không có tự do nhận thức tức là không có tự do tinh thần, con người sẽ không thể có tự do hành động bởi luôn vấp phải các rào cản về mặt nhận thức, và do đó, con người sẽ cảm thấy bị hạn chế, bị mất tự do ngay từ trong ý nghĩ chứ không chỉ trong hành vi của mình. Điều này hoàn toàn trái ngược với tinh thần về tự do mà chúng tôi đã đưa ra trong phần trên, đó là tự do là sự dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi. Phải hiểu rằng, tự do nhận thức sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển và dịch chuyển của ý nghĩ, trong khi đó, tự do hành động sẽ tạo điều kiện cho sự dịch chuyển của hành vi song song và tương ứng với sự dịch chuyển của ý nghĩ.
Mặt khác, tự do nhận thức chính là điều kiện tiên quyết để xây dựng các mô-đun nhận thức, biến không gian nhận thức của mỗi cá nhân và cộng đồng thành một vườn ươm các mô-đun tư duy của con người. Khu vườn đó chỉ đa dạng và phong phú chừng nào tự do hạnh phúc được công nhận như một trong những nguyên lý căn bản nhất. Sự phong phú và đa dạng về mặt nhận thức sẽ dẫn tới sự phong phú và đa dạng của hành động. Điều này sẽ tạo ra không gian đa chiều trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa – điều kiện cần và đủ để mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi nhà nước, mỗi thể chế duy trì và phát triển sự đúng đắn của mình. Mặt khác, đến lượt mình, tự do hành động lại tạo điều kiện cho việc mở rộng không gian nhận thức của mỗi cá nhân và cộng đồng, bởi thông qua tự do hành động, con người sẽ có điều kiện làm phong phú kinh nghiệm sống, kinh nghiệm văn hóa của mình, và do đó, có thể xúc tiến những cái mới về nhận thức và tự điều chỉnh nhận thức của mình. Đây chính là mối liên hệ hữu cơ giữa hai thành tố cơ bản nhất của tự do.
Mối quan hệ giữa tự do và phát triển
Chúng ta đã trăn trở rất nhiều trước vấn đề tại sao trong lịch sử cận đại và hiện đại phương Đông lại chậm phát triển hơn phương Tây. Để trả lời cho câu hỏi ấy, chúng ta đã tốn rất nhiều công sức và nhiệt huyết mà vẫn chưa tìm ra lời giải thích xác đáng. Phần lớn tài nguyên của nhân loại nằm ở phương Đông, nhưng phương Tây là cả chiến thắng trong hầu hết các cuộc chạy đua đến sự phát triển. Trong khi đó, ngụy biện với chính mình, phương Đông đắm chìm và tự cổ vũ mình trong những giá trị Châu Á đến khi nhận ra những giá trị ấy cũng chỉ là một dạng tài nguyên chứ không thể và không phải là sự phát triển thực. Vậy đâu là căn nguyên và lời giải của hiện tượng này?
Các phân tích về tự do cho thấy rằng chính sự thiếu tự do ở phương Đông là nguyên nhân sâu xa nhất gây nên tình trạng chậm phát triển, và do đó, nhận thức lại tự do, ý nghĩa và vai trò của nó đối với đời sống cũng như công nhận tự do như quyền và sở hữu tự nhiên của con người chính là giải pháp triệt để để phương Đông tiếp cận sự phát triển.
Chúng tôi tán đồng luận điểm của Amartya Sen, một trong những nhà kinh tế học đoạt giải Nobel, khi ông cho rằng “Phát triển như là tự do”. Sở dĩ có thể nói như vậy là bởi cấu trúc tự do, nói chung, gồm có tự do kinh tế, tự do chính trị và tự do tinh thần. Tự do kinh tế chính là nguyên khí của nền kinh tế thị trường – giải pháp duy nhất để phát triển kinh tế. Tự do chính trị chính là điều kiện tiên quyết để xây dựng một nhà nước dân chủ – phương thức quản lý ưu việt cho phép phát triển con người một cách toàn diện. Tự do tinh thần, tức không lệ thuộc vào nhận thức của người khác, chính là nguyên khí của khoa học nhận thức, nó chính là yếu tố quan trọng nhất tạo ra sự sáng tạo và sự đa dạng của khoa học nhận thức, tức sự đa dạng về mặt tinh thần.
Mối quan hệ giữa tự do và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cũng là một khía cạnh quan trọng trong các phân tích về tự do. Cần lưu ý rằng trình độ phát triển của lực lượng sản xuất không chỉ thể hiện ở sự hiện đại của tư liệu sản xuất mà quan trọng hơn là ở sự tiến bộ của nhận thức. Tự do đánh thức các năng lực phát triển, đó là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, sự phát triển của trình độ lực lượng sản xuất cũng đóng vai trò đáng kể vào việc mở rộng không gian tự do của con người. Nói cách khác, lực lượng sản xuất phát triển đến đâu thì không gian tự do sẽ mở rộng đến đó, và do đó, có thể kết luận giữa hai cặp phạm trù này luôn có một sự dịch chuyển song song và tương ứng.
Phải khẳng định rằng tự do bao giờ cũng là điểm xuất phát của sự phát triển và không thể có sự phát triển nào đi trước tự do. Sự phân biệt rành mạch hai khái niệm tự do và bản lĩnh tự do sẽ giúp nhà cầm quyền nhận ra nỗi sợ về sự mất ổn định do sự thiếu kinh nghiệm tự do của người dân tạo ra là một nỗi sợ hoàn toàn vô lý bởi kinh nghiệm tự do, hay bản lĩnh tự do chỉ hình thành khi người dân có tự do và có quyền sử dụng và khai thác nó trong đời sống của mình. Đó cũng chính là một trong những ý nghĩa căn bản của các phân tích về tự do.
Bên cạnh đó, tự do còn là hạt nhân của mọi cuộc cải cách, trong đó có bốn cuộc cải cách quan trọng nhất, đó là cải cách chính trị, cải cách kinh tế, cải cách văn hóa và cải cách giáo dục. Tự do kinh tế đi trước để con người nếm được các thành quả sự phát triển. Chừng nào cảm nhận được vị ngọt, tức các thành quả thu được từ tự do kinh tế, con người sẽ nhận thức được giá trị của tự do chính trị. Tự do chính trị chính là nhu cầu đòi hỏi thể chế khẳng định các quyền tự do. Tuy nhiên, con người còn là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nói cách khác, con người chính là sản phẩm của văn hóa. Do vậy, nếu không có tự do văn hóa, con người sẽ không thể ra khỏi quá khứ và không tìm được yếu tố bảo trợ tinh thần cho tự do kinh tế và tự do chính trị. Mặt khác, thiếu yếu tố bảo trợ tinh thần là tự do văn hóa, tự do kinh tế và tự chính trị sẽ tạo ra trạng thái phát triển không ổn định vì luôn bị níu kéo bởi sự lạc hậu về mặt văn hóa. Cải cách giáo dục là tiền đề của việc xây dựng một lực lượng tiên tiến hùng hậu của xã hội, đủ năng lực để duy trì và nâng cao chất lượng của sự phát triển. Tựu trung lại, bốn cuộc cải cách này với hạt nhân là tự do đều nhằm tiếp cận trạng thái phát triển bền vững. Phát triển bền vững không thuần túy là sự phát triển ổn định và liên tục mà còn là sự ổn định của các nguồn phát triển. Nếu cải cách kinh tế tạo ra được sức mạnh hữu hình của sự phát triển thì tự do về chính trị và tự do về văn hóa sẽ tạo ra tính ổn định của các nguồn của sự phát triển, hay nói cách khác chính là tạo ra phạm trù phát triển bền vững. Đó chính là một trong những điểm mấu chốt quan hệ giữa tự do và phát triển.
Mối quan hệ giữa tự do và dân chủ
Ở phương Tây, người ta cho rằng, tự do là một quyền tự nhiên, là không gian vốn có của mỗi con người, và do đó, Nhà nước dân chủ là kết quả của sự nhượng bớt một phần tự do cá nhân cho chính phủ để nhà nước có vốn liếng điều hành xã hội. Từ đó, có thể khẳng định, sự tự nguyện nhượng bớt một phần tự do cá nhân cho chính phủ như một hình thức góp vốn chính là bản chất khế ước xã hội. Điều hành đất nước bằng pháp luật, hay các khế ước xã hội chính là điểm ưu việt của phương thức quản lý theo mô hình dân chủ.
Russeau viết “Với khế ước xã hội, con người mất đi cái tự do thiên nhiên và hạn chế cái quyền được làm những điều muốn làm mà làm được; nhưng mặt khác, con người thu lại quyền tự do dân sự và quyền sở hữu những cái mà anh ta có”. Cũng trong phần này, ông viết “làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ, mà tuân theo các quy tắc mà mình đặt ra là tự do”. Như vậy, bản chất của tự do là gì và đâu là giá trị cao quý của nó? Có thể khẳng định ngay rằng, bản chất của tự do chính là việc tuân theo các quy tắc của nhận thức của mình chứ không lệ thuộc vào nhận thức của người khác. Do đó, giá trị cao quý của tự do chính là đảm bảo và trao trả một cách nguyên vẹn không gian sống của con người và tạo điều kiện cho hành vi của mỗi con người phản ánh một cách trung thực gương mặt của nhận thức của mình. Câu hỏi được đặt ra: Hình thái nhà nước nào đảm bảo được tính ổn định hay giá trị bền vững của tự do công dân? Lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng chế độ chính trị tiên tiến có thể đảm bảo quyền tự do công dân chính là chế độ dân chủ. Khi bàn đến tự do, người ta mới nói dân chủ là tất yếu, tức là xã hội không thể tiếp tục duy trì tình trạng độc tài.
Nền dân chủ được hình thành trên cơ sở các quyền tự do được thể chế hóa, nói cách khác, tự do chính là nguyên liệu quan trọng nhất để xây dựng nền dân chủ. Có thể nói, sở dĩ nền dân chủ ngày càng phát triển và chứng minh vai trò của nó trong việc xúc tiến sự phát triển và tiến bộ xã hội là bởi nó đã nhận thức đúng đắn về tự do thể hiện ở việc xây dựng các khế ước xã hội. Khế ước xã hội không phải là những mệnh lệnh mà là những thỏa thuận của con người trên cơ sở nhận thức về tự do và tự nguyện nhượng bớt một phần tự do cá nhân để xác lập trạng thái phát triển hài hòa và cân đối.
Trên cơ sở đó, cần phải đi đến nhận thức rằng, không có một môi trường nào có thể hỗ trợ sự phát triển của con người tích cực bằng một môi trường đảm bảo tự do cá nhân thông qua sự tự nguyện nhượng bớt một phần tự do cá nhân, tức một nhà nước dân chủ.
Một khía cạnh khác trong mối quan hệ giữa tự do và dân chủ là, tự do là thứ tài sản tự nhiên vô giá nhất của con người và xã hội được cấu thành từ sự góp vốn của con người, ở đây, vốn được hiểu là một phần tự do cá nhân. Vì vậy, bản chất của nhà nước là một khế ước, mà ở đó, con người tự nguyện góp một phần tự do. Gia đình là một đơn vị xã hội mà mỗi người, ngoài quan hệ huyết thống, còn tự nguyện góp một phần tự do. Do đó, chế độ độc tài là chế độ chiếm đoạt vốn liếng tự nhiên của đời sống con người tự do. Đó chính là bản chất của sự tham nhũng tinh thần, tức chiếm đoạt tự do của người khác thay vì sử dụng sự tự nguyện chuyển nhượng tự do của họ một cách minh bạch. Đó cũng chính là hạn chế của các nhà nước phi dân chủ. Các phân tích về tự do phải chỉ ra ai chiếm dụng vốn liếng của con người và phải giúp con người đi tới nhận thức rất quan trọng, đó là trạng thái không có tự do của nhiều người sẽ tạo ra quyền tự do tuyệt đối của một hay một số con người. Luận điểm này đã được khẳng định từ thời kỳ Khai sáng – thời kỳ của những tên tuổi vĩ đại như Voltaire, Didro, Montesquieu hay Russeau.
Hết thảy con người khi sinh ra đều bình đẳng, và được tự nhiên ban cho những quyền không thể phủ nhận, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo những quyền này, các nhà nước được hình thành trên cơ sở sự đồng thuận của các thành viên trong một xã hội. Nếu hiểu theo nghĩa này thì tự do là một khái niệm rất nhân văn, nó gắn liền với cái Tự nhiên (nói chung) và con người (nói riêng).
Tự do còn là một phạm trù văn hóa, nói khác đi, văn hóa chính là không gian tinh thần của tự do. Ý nghĩa và hành vi của con người “lội bộ” trong một cánh đồng mênh mông các đối tượng hình thành từ quá khứ, hay các ý niệm, khái niệm và nhận thức về văn hóa. Do đó, chính văn hóa mới có khả năng điều chỉnh hành vi và ý nghĩ của con người. Văn hóa điều chỉnh tự do cá nhân trở thành tự do cộng đồng tức là nó xây dựng các khái niệm sơ khai của khế ước xã hội, mọi khế ước xã hội đều xây dựng trên kinh nghiệm văn hóa chứ không phải kinh nghiệm pháp lý.

10 cách để có sự nghiệp thành công hơn

Forbes Vietnam's photo.
Mỗi người đều có hai bản chất tự nhiên. Một bản chất thúc đẩy chúng ta tiến lên phía trước, cái còn lại kéo chúng ta thụt lùi. Cách mà chúng ta lựa chọn và phát triển sẽ quyết định con người mà chúng ta trở thành. May thay, với cách rèn luyện đúng đắn, mỗi cá nhân đều có thể thành công. Nhưng chờ đợi và trông mong người khác giúp đỡ không mang lại lợi ích gì cho bạn trên con đường phía trước cả. Hơn nữa, thành tích và thăng tiến trong sự nghiệp sẽ tiếp thêm năng lượng, xác định cách giải quyết và tạo ra một cam kết bền vững để chinh phục những điểm yếu và thói quen xấu.
Nếu thành công thực sự là một phần của đam mê, thì những chuyên gia tuyển dụng của chúng tôi đã vạch ra 10 giả thuyết căn bản dưới đây để giúp bạn có một sự nghiệp trọn vẹn hơn.
1. BÍ QUYẾT CỦA THÀNH CÔNG LÀ LUÔN LUÔN CỐ GẮNG hoàn thiện bản thân mình cho dù bạn ở đâu và vị trí của bạn như thế nào. Hãy học hỏi hết sức mình. Trong kinh doanh, phép màu không xảy ra theo những cách giản đơn. Hơn nữa, thành công chính là thành quả của việc học hỏi và trau dồi không ngừng nghỉ, dùng kiến thức để tạo đòn bẩy cho những mục tiêu, và tận hưởng những thành quả đáng mong đợi ở phút cuối cùng.
2. SUY NGHĨ VỀ NHỮNG GIẢI PHÁP THAY VÌ TẬP TRUNG VÀO CÁC VẤN ĐỀ. Đơn giản vì chúng ta không thể nhìn ra cách giải quyết tại thời điểm cần thiết không có nghĩa là nó không tồn tại ở đó.
Những người có ý thức mạnh mẽ về giá trị của bản thân sẽ tự nói với mình rằng họ có thể giải quyết bất cứ vấn đề gì, kể cả những trở ngại bất chợt xảy đến trong quá trình theo đuổi mục tiêu.
3. NHỮNG AI SẴN SÀNG ĐÁNH ĐỔI ĐỀU CÓ THỂ THÀNH CÔNG. Hãy nhớ rằng những điều khó khăn sẽ khiến chúng ta trưởng thành, còn bất cứ thứ gì chỉ đòi hỏi một chút cố gắng, vận dụng ít khả năng sẽ không đem lại lợi ích vào phút cuối.
4. HÃY HỌC CÁCH LOẠI BỎ NHỮNG THÚ TIÊU KHIỂN. Duy trì kỉ luật và tập trung vào những việc ưu tiên. Đừng làm những thứ dễ dàng trước, thay vào đó, hãy ưu tiên những nhiệm vụ đem lại lợi ích cao nhất.
5. XÁC ĐỊNH RÕ ĐIỀU GÌ LÀ QUAN TRỌNG. Định nghĩa công việc bạn muốn làm, những người mà bạn muốn kết giao, số tiền mà bạn muốn kiếm và kiến thức bạn ao ước học được.
6. Với mọi người, BẠN CHO ĐI NHƯ THẾ NÀO THÌ BẠN SẼ NHẬN LẠI NHƯ THẾ ẤY. Quan tâm chân thành và tích cực sẽ giúp bạn có được sự hợp tác và tình bạn với những người xung quanh.
Hãy bắt đầu nhìn nhận những điểm tốt của mọi người và mọi vật. Điều này không những khích lệ những người xung quanh bằng cách tập trung vào những điểm tích cực của họ, mà còn giúp chúng ta có được lòng tin, lòng trung thành của họ.
7. HÃY TIẾP XÚC VỚI NHỮNG NGƯỜI LẠC QUAN. Những người mà chúng ta tiếp xúc hoặc là sẽ nâng cao cơ hội thành công, hoặc là sẽ cản trở tham vọng và sự sáng tạo của chúng ta.
Những người bi quan, sẽ bước ra ngoài và chứng tỏ rằng họ đúng. Bằng cách liên hệ bản thân với những người lạc quan, bạn sẽ bắt kịp được niềm tin và sự tham vọng của họ.
8. HÃY TRỞ THÀNH MỘT CHIẾN BINH. Thành công có vẻ phần lớn là những vấn đề còn dang dở sau khi những người khác đã bỏ cuộc. Kiên cường là một đức tính cần thiết trên con đường đến vinh quang.
Để luôn đối mặt với những chướng ngại vật một cách hiệu quả, hãy nhìn nhận vấn đề như việc tạm thời, và có thể vượt qua được.
Một đặc điểm phổ biến của những người không thành công là họ xem những thất bại nhỏ nhặt như bi kịch kết thúc của sự nghiệp.
9. HÃY LỰA CHỌN NGHỀ BẠN YÊU THÍCH, tiền bạc cùng với thành công sẽ đến về sau. Trái ngược với quan niệm phổ biến, hạnh phúc không phải là sản phẩm phụ của thành công. Thay vào đó, nó chính là thành phần thiết yếu; yêu thích công việc chính là yếu tố quyết định con đường tới thành công.
Hạnh phúc nuôi dưỡng mục tiêu, sự sáng tạo và tham vọng. Để đạt hiệu suất làm việc tối đa, mỗi cá nhân phải hài lòng với công việc của mình. Tài sản sẽ được tích lũy sau này.
10. NHỮNG ĐIỀU VĨ ĐẠI KHÔNG THỂ HOÀN THÀNH TRONG ĐƠN ĐỘC. Thành công trong việc kinh doanh nằm ở sự thấu hiểu và cảm thông với quan điểm của người khác. Hãy học cách nhìn nhận thế giới từ cách suy nghĩ của người khác và nhớ rằng sự cảm kích, lòng tử tế và sự thân thiện có thể làm nên mọi việc
Nguồn: forbes.com

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Karl Marx dẫn đầu cuộc nổi dậy chống lại chủ nghĩa tư bản (Phần 2)

marx_engels2
Nguồn: Mark Skousen (2007). “Karl Marx Leads a Revolt Against Capitalism”, in M. Skousen, The Big Three in Economics: Adam Smith, Karl Marx, And John Maynard Keynes (New York: M.E.Sharpe), pp. 64-104 (Ch. 3).
Biên dịch: Bùi Thu Thảo | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Marx trong đời thường: Một thất bại buồn thảm
Engels đã phải chờ cho tới thế kỷ 20 trước khi những tác động của Marx có ảnh hưởng. Năm 1883, nó mới chỉ là sự hoang tưởng tự đại. Tại thời điểm ông qua đời, Marx gần như là một người bị lãng quên. Chỉ có chưa đến hai mươi người tới dự đám tang của ông. Ông đã không nhận được sự tiếc thương từ những người công nhân thợ mỏ ở Siberia, như Engels từng nói, chỉ một số ít người còn nhớ Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, chứ chưa nói gì đến Tư bản. John Stuart Mill còn chưa từng nghe nói về ông. Vào lúc cuối đời, có thể Marx đã nhớ lại với sự đồng tình những lời trong Kinh thánh, “Vì di chúc chỉ có hiệu lực khi người ta chết đi, nên nó chẳng có hiệu lực gì khi người ấy còn sống” (Heb. 9: 17).
Số phận gia đình ông thật đáng buồn khi nghĩ tới. Nó là một cơn ác mộng. Trước khi qua đời Marx chỉ có hai người con gái và một người con trai ngoài giá thú. Năm 1898, Eleanor Marx con gái của ông, được biết đến với tên Tussy và là một nhà cách mạng có tư chất mạnh mẽ giống cha, đã tự vẫn sau khi biết tin Freddy là con trai ngoài giá thú của cha bà, và người chồng, nhà cách mạng người Ireland đầy hoài nghi của bà, đã có một người vợ nữa. Năm 1911, người con gái còn sống của Marx, Laura, một diễn giả hùng hồn với nhan sắc nổi bật cũng đã tự sát cùng chồng là một nhà xã hội người Pháp. Tóm lại, có rất ít tin vui trong những năm cuối đời của Marx và Jenny Marx cũng như con cháu của họ. Engels, còn được gọi là “Tướng quân” (General), đã chết vì ung thư vào năm 1895.
Mô hình của Marx về sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản
Giờ hãy cùng nhìn lại những đóng góp của Marx đối với kinh tế học và xác định rõ những gì là tác động lâu dài và những gì đã bị loại bỏ.
Trong tác phẩm Tư bản, xuất bản năm 1867, Karl Marx đã cố gắng giới thiệu một mô hình thay thế mô hình kinh tế học cổ điển của Adam Smith. Hệ thống này đã thông qua những định luật “khoa học” bất biến để chứng minh rằng chế độ tư bản chủ nghĩa có những lỗ hổng chết người, chỉ làm lợi cho những nhà tư bản và doanh nghiệp lớn, rằng nó bóc lột công nhân, lao động bị hạ cấp chỉ như một thứ hàng hóa có giá cả mà không có linh hồn, và rằng nó luôn có xu hướng khủng hoảng khiến cho chủ nghĩa tư bản chắc hẳn sẽ tự diệt vong. Theo nhiều cách, mô hình của chủ nghĩa Marx đã hợp lý hóa niềm tin của nhà tạo lập ra nó rằng chế độ tư bản chủ nghĩa phải bị lật đổ và thay thế bởi chủ nghĩa cộng sản.
Thuyết giá trị lao động
Marx đã phát hiện ra rằng hệ thống của Ricardo phù hợp hoàn toàn với mô hình bóc lột của ông. Bằng nhiều cách, David Ricardo chính là người dẫn dắt Marx trong kinh tế học. Như đã đề cập trong Chương 2, Ricardo tập trung vào sản lượng và phương thức phân phối nó giữa các giai cấp chính – địa chủ, công nhân và tư sản. Ricardo và người nối nghiệp của ông, John Stuart Mill, đã nỗ lực phân tích nền kinh tế theo giai cấp hơn là theo hoạt động của các cá nhân.
Say và trường phái tự do kinh tế (Chương 2) đã chú trọng vào lợi ích chủ quan của các cá nhân, nhưng Marx đã chối bỏ Say và đi theo Ricardo bằng cách tập trung vào việc sản xuất của một thứ “hàng hóa” đồng nhất và cách phân phối thu nhập từ sản xuất này cho các giai cấp.
Trong hệ thống giai cấp của Ricardo, lao động đóng vai trò then chốt trong việc xác định giá trị. Đầu tiên là Ricardo và sau đó là Marx đã cho rằng lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị. Giá trị của một “hàng hóa” phải tương ứng với số giờ lao động bình quân được sử dụng để làm ra hàng hóa đó.
Học thuyết giá trị thặng dư
Nếu lao động đúng là yếu tố quyết định giá trị duy nhất thì lợi nhuận và lợi tức nằm ở đâu? Marx đã gọi lợi nhuận và lợi tức là “giá trị thặng dư”. Đó chỉ là một bước logic ngắn gọn để đi đến kết luận rằng do đó các nhà tư sản và địa chủ là những kẻ bóc lột lao động. Nếu mọi giá trị thật sự là sản phẩm của lao động thì mọi lợi nhuận mà các nhà tư bản thu được và lợi tức các địa chủ có được phải là “giá trị thặng dư”, được bòn rút bất chính từ thu nhập chân chính của giai cấp lao động.
Marx đã phát triển một công thức toán học cho học thuyết giá trị thặng dư của mình. Tỷ lệ lợi  nhuận (p) hay tỷ lệ bóc lột bằng giá trị thặng dư (s) chia cho giá trị sản phẩm cuối cùng (r). Do vậy:
p = s/r
Ví dụ, giả sử nhà sản xuất quần áo thuê công nhân sản xuất váy. Nhà tư sản bán những bộ váy với giá 100USD mỗi sản phẩm, nhưng lao động chỉ có giá 70USD cho mỗi bộ váy. Do đó, tỷ lệ lợi nhuận hay tỷ lệ bóc lột sẽ là:
p = 30/100 = 0,3, hay 30%
Marx đã chia giá trị sản phẩm cuối cùng thành hai dạng tư bản là tư bản bất biến (C) và tư bản khả biến (V). Tư bản bất biến đại diện cho nhà máy và thiết bị. Tư bản khả biến là chi phí nhân công. Do vậy, phương trình tỷ lệ lợi nhuận được viết thành:
p = s/[v +c]
Marx cho rằng lợi nhuận và sự bóc lột được tăng lên bằng cách kéo dài ngày làm việc của công nhân, và bằng cách thuê phụ nữ và trẻ em với mức lương thấp hơn đàn ông. Hơn thế, Marx còn cho rằng, máy móc và công nghệ tiên tiến mang lại lợi ích cho nhà tư sản chứ không phải công nhân. Ví dụ, máy móc cho phép nhà tư sản thuê phụ nữ và trẻ em để vận hành. Kết quả chỉ có thể là bóc lột nhiều hơn.
Những người chỉ trích đáp trả rằng tư bản là năng suất và xứng đáng với một khoản lợi nhuận hợp lý, nhưng Marx đã phản biện lại rằng tư bản chỉ là lao động “bị đóng băng” và do đó tiền lương phải chiếm toàn bộ tiền thu được từ sản xuất. Các nhà kinh tế học cổ điển đã không có phản hồi nào đối với Marx, ít nhất là vào thời điểm ban đầu. Và vậy nên Marx đã thắng lợi bằng cách sử dụng những lập luận không thể chối cãi để “chứng minh” rằng chủ nghĩa tư bản đã gây ra sự “đấu tranh giai cấp”  khổng lồ giữa công nhân, tư sản và địa chủ – và các nhà tư sản và địa chủ có một lợi thế không công bằng. Murray Rothbard nhận xét, “Khi thế kỷ 19 đã trôi qua nửa chặng đường, khiếm khuyết của kinh tế học Ricardo đã trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Kinh tế học đã đi đến sự diệt vong của chính nó” (Rothbard 1980, 237). Mãi cho đến nghiên cứu của Philip Wicksteed, một tu sĩ người Anh, và Eugen von Bohm-Bawerk, một nhà kinh tế có tầm ảnh hưởng tại Áo, Marx mới thực sự được trả lời, với sự tập trung vào vấn đề chấp nhận rủi ro và lợi ích tiên phong mà các nhà tư sản mang lại. Nhưng chủ đề này phải chờ tới Chương 4.
Lợi nhuận giảm dần và sự tích lũy tư bản
Marx có một quan điểm bảo thủ về máy móc và công nghệ. Sự tích lũy tư bản không ngừng tăng lên nhằm đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và làm cho chi phí nhân công giảm. Marx từng phát biểu trong Tư bản rằng, “Tích lũy, tích lũy! Đó là Moses và các nhà tiên tri!… Vì vậy, tiết kiệm, tiết kiệm, cụ thể là tái biến đổi phần lớn nhất có thể của giá trị thặng dư, hay sản phẩm thặng dư thành tư bản!” (1976 [1867], 742).
Nhưng điều này đã dẫn tới rắc rối, một cuộc khủng hoảng trong chủ nghĩa tư bản, tất cả là do “quy luật lợi suất giảm dần.” Bởi theo công thức về lợi suất của Marx, s/[v + c], chúng ta có thể thấy rằng tăng thêm máy móc sẽ làm tăng c và do vậy làm giảm lợi nhuận. Các công ty lớn trở nên tập trung hơn bởi các doạnh nghiệp lớn hơn sản xuất rẻ hơn, điều “luôn luôn dẫn tới sự phá sản của nhiều nhà tư bản nhỏ.” Trong khi đó, tất cả công nhân trở nên cực khổ hơn, ngày càng có ít tiền hơn để mua hàng hóa tiêu dùng. Ngày càng nhiều công nhân bị đuổi việc, gia tăng thất nghiệp trong một “đội quân dự bị công nghiệp” vốn chỉ kiếm được một mức lương vừa đủ sống.
Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản
Chi phí hạ, lợi nhuận giảm, sức mạnh độc quyền, tiêu dùng dưới mức, thất nghiệp hàng loạt của giai cấp vô sản – tất cả những điều kiện này dẫn tới “những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hơn và trên phạm vi rộng hơn” và sự suy thoái của của chế độ tư bản chủ nghĩa (Marx và Engels 1964 [1848], 13). Và tất cả những điều này bắt nguồn từ thuyết giá trị về lao động!
Marx đã chối bỏ định luật về thị trường của Say, thứ bị ông gán cái tên là “tiếng bập bẹ trẻ con… lời bốc phét… trò bịp bợm” (Buchholz 1999, 133). Không hề có sự ổn định trong chủ nghĩa tư bản, không có xu hướng hướng tới trạng thái cân bằng và toàn dụng lao động. Marx đã nhấn mạnh bản chất của cả sự bùng nổ và sụp đổ của chế độ tư bản chủ nghĩa, và rằng sự cáo chung sau cùng của nó là điều tất yếu.
Chủ nghĩa đế quốc của chủ nghĩa tư bản tiền tệ
Marx bị ấn tượng mạnh mẽ bởi năng lực của các nhà tư bản trong việc tích lũy vốn và tạo ra các thị trường mới, cả ở trong và ngoài nước. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã mô tả hiện tượng này trong một trích đoạn nổi tiếng: “Giai cấp tư sản, trong suốt thời kỳ thống trị hiếm hoi một trăm năm của mình, đã tạo ra lực lượng sản xuất đồ sộ và khổng lồ hơn tất cả các thời kỳ trước gộp lại.” Các nhà tư bản luôn bị gắn với sự hỗn độn “bởi sự xâm chiếm các thị trường mới, và bởi sự bóc lột ngày càng triệt để các thị trường đã có” (Marx và Engels 1964 [1848], 12-13).
Sau đó các nhà Marxist luôn mô tả chủ nghĩa tư bản và các công ty lớn là những “tên đế quốc” cố hữu, bóc lột công nhân nước ngoài và khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên của nước họ. Học thuyết về chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân được phát triển chủ yếu bởi J.A. Hobson và V.I. Lenin. Rất nhiều trong số những thái độ chống Mỹ và bài ngoại của các nước đang phát triển trong suốt thế kỉ 20 có nguồn gốc từ chủ nghĩa Marx, và kết quả của quan điểm chống tư bản này đã và đang tàn phá, dẫn tới sự tăng trưởng chậm và thậm chí là âm tại rất nhiều khu vực của châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Vậy chủ nghĩa tư bản tiến về đâu? Marx bị ảnh hưởng sâu sắc bởi George Wilhelm Hegel trong việc phát triển tiến trình quyết định luận kinh tế của mình. Chính đề cơ bản của Hegel là “Mâu thuẫn (về bản chất) là gốc rễ của mọi sự vận động và sự sống.” Hegel đã mô tả mâu thuẫn này theo phép biện chứng, các lực lượng chống đối nhau cuối cùng sẽ tạo ra một lực lượng mới. Một “chính đề” được hình thành sẽ tạo ra một “phản đề” phát triển theo hướng ngược lại, đến lượt nó rốt cuộc sẽ tạo ra một “hợp đề” mới. Hợp đề này sau đó trở thành một “chính đề” và quá trình lại lặp lại theo sự tiến bộ của văn minh.
Biểu đồ trong Hình 3.1 phản ánh phép biện chứng trên của Hegel. Marx đã áp dụng phép biện chứng của Hegel vào quan điểm quyết định luận về lịch sử của mình. Do vậy, tiến trình lịch sử có thể được mô tả bằng cách sử dụng khái niệm của Hegel – từ chế độ chiếm hữu nô lệ tới chủ nghĩa tư bản rồi đến chủ nghĩa cộng sản.
Theo thuyết này, nô lệ được xem như phương tiện sản xuất chính hay một chính đề trong suốt thời kì Hy – La. Chế độ phong kiến đã trở thành phản đề chính của nó trong thời Trung Cổ. Hợp đề đã trở thành chủ nghĩa tư bản, điều trở thành chính đề mới sau thời đại Khai sáng. Nhưng chủ nghĩa tư bản đã phải đối mặt với phản đề của chính nó – mối đe dọa tăng lên từ chủ nghĩa xã hội. Sau cùng, cuộc đấu tranh này sẽ dẫn tới hệ thống sản xuất tối hậu, chủ nghĩa cộng sản. Với cách lập luận này, Marx luôn là một người lạc quan. Ông tin chắc rằng mọi quá trình lịch sử đều hướng tới các hình thái xã hội cao hơn, đỉnh cao là chủ nghĩa cộng sản.
Hình 3.1 Phép biện chứng của Hegel được sử dụng để mô tả tiến trình lịch sử
(vui lòng download file để xem hình)
Giải pháp của Marx: Chủ nghĩa xã hội cách mạng
Nhưng trong khi chủ nghĩa cộng sản được cho là điều tất yếu thì Marx lại thấy rằng cách mạng là cần thiết để đạt được nó. Đầu tiên và trên hết, Marx là người đề xuất dùng bạo lực (“mạnh mẽ”) để lật đổ chính quyền và thiết lập chủ nghĩa xã hội cách mạng. Ông thích thú với bạo lực. Marx đã thôi thúc cách mạng diễn ra trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản năm 1848, Quốc tế thứ nhất năm 1860 và tại Công xã Paris năm 1871. Dù nhà cách mạng Đức đã không tiết lộ cụ thể kế hoạch của ông nhưng Tuyên ngôn của Đảng cộng sản mang một cương lĩnh gồm mười điều sau (Marx và Engels 1964 [1848], 40):
  1. Xóa bỏ sở hữu (tư nhân) đối với đất đai và đưa toàn bộ đất đai phục vụ cho mục đích công.
  2. Thuế thu nhập theo mức hoặc lũy tiến bậc cao.
  3. Xóa bỏ mọi quyền thừa kế.
  4. Tịch thu tài sản của toàn bộ người di dân và phiến loạn.
  5. Tập trung tín dụng trong tay nhà nước bằng một ngân hàng quốc gia với vốn nhà nước và độc quyền duy nhất.
  6. Tập trung các phương thức truyền thông và vận tải trong tay nhà nước.
  7. Mở rộng các nhà máy và công cụ sản xuất thuộc sở hữu nhà nước; khai hoang đất trống và cải tạo đất nói chung phù hợp với kế hoạch chung.
  8. Nghĩa vụ lao động ngang nhau đối với tất cả mọi người. Thành lập các đội quân ngành, đặc biệt là trong nông nghiệp.
  9. Kết hợp nông nghiệp với các ngành sản xuất; từng bước xóa bỏ sự phân hóa giữa thành thị và nông thôn bằng sự phân bổ dân số đồng đều hơn trên cả nước.
  10. Giáo dục miễn phí cho toàn bộ trẻ em tại các trường công. Xóa bỏ việc sử dụng lao động trẻ em trong các nhà máy hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất công nghiệp, v.v…
Thật khó mà tưởng tượng việc thúc đẩy một vài trong số các biện pháp trên mà không cần đến bạo lực. Nhưng chưa dừng lại ở đó. Marx cũng tán thành “nền chuyên chính vô sản” độc tài. Ông ủng hộ việc xóa bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân, dựa trên học thuyết của ông cho rằng sở hữu tư nhân là căn nguyên của xung đột, đấu tranh giai cấp và là một hình thái nô lệ (1964 [1848], 27). Ông đồng tình với Proudhon cho rằng “sở hữu là trộm cắp.” Không có sở hữu tư nhân sẽ không cần tới trao đổi, không có mua bán, và do đó Marx và Engels tán thành việc triệt tiêu tiền tệ (30). Sản xuất và tiêu dùng sẽ tiếp diễn và thậm chí là phát triển thịnh vượng thông qua kế hoạch tập trung mà không cần trao đổi hay tiền tệ.
Marx và Engels cũng yêu cầu xóa bỏ gia đình truyền thống trong một nỗ lực nhằm “ngăn chặn hiện tượng cha mẹ bóc lột con cái” và “hình thành một cộng đồng phụ nữ.” Những người sáng lập chủ nghĩa cộng sản ủng hộ một chương trình giáo dục giới trẻ vốn sẽ “phá hủy những mối quan hệ tôn kính nhất” và “thay thế giáo dục gia đình bởi giáo dục xã hội” (33 – 35).
Vậy còn tôn giáo thì sao? Marx cho rằng “tôn giáo là thứ thuốc phiện của con người.” “Chủ nghĩa cộng sản thủ tiêu những chân lý bất diệt, nó thủ tiêu mọi tôn giáo và đạo lý thay vì cấu thành chúng theo một nền tảng mới; do vậy, nó đi ngược lại toàn bộ kinh nghiệm lịch sử trước đây” (38).
Marx đã đoán trước rằng chủ nghĩa xã hội cách mạng sẽ lần đầu tiên cho phép con người có sự biểu đạt đầy đủ về sự tồn tại và hạnh phúc. Mục tiêu “vạn vật giàu có” mà Adam Smith theo đuổi cuối cùng sẽ đạt được dưới chế độ chủ nghĩa cộng sản đích thực. Trong tâm can, Marx là một con người theo đuổi hòa bình, thịnh vượng phổ quát. Thiên đường có để đạt được trên cõi trần. Rốt cuộc nền chuyên chính vô sản sẽ được thay thế bởi một xã hội không giai cấp, không nhà nước. Con người của chủ nghĩa Marx sẽ là một con người mới!
Lời tiên tri của Marx không thành hiện thực
Nhưng tất cả điều này đã không xảy ra. Lời tiên tri của Marx đã bị sai lệch, dù không phải là ngay lập tức. Đến tận năm 1937, Wassily Leontief, một người Nga lưu vong mà sau này đã đạt giải Nobel cho phân tích đầu vào – đầu ra (input – output analysis), đã tuyên bố rằng ghi chép của Marx là “ấn tượng” và “chính xác” (Leontief 1938, 5, 8). Nhưng lời ngợi ca của Leontief đã quá vội vàng. Kể từ đó, như Leszek Kolakowski, cựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Ba Lan đã tuyên bố, “Tất cả những lời tiên tri quan trọng của Marx hóa ra đều sai lầm” (Denby 1996, 339). Một số vấn đề cần xem xét lại:
  1. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, tỷ lệ lợi nhuận không hề giảm, ngay cả khi ngày càng nhiều vốn được tích lũy qua hàng thế kỷ.
  2. Giai cấp lao động không hề rơi vào cảnh ngày càng bần cùng. Mức lương về căn bản đã tăng hơn mức đủ sống. Mức sống trung bình của công nhân tăng dần tại các nước công nghiệp. Tầng lớp trung lưu không hề biến mất mà còn tăng lên. Như Paul Samuelson kết luận, “Sự bần cùng hóa của giai cấp lao động… chỉ đơn giản là chẳng bao giờ diễn ra. Là một nhà triên tri, Marx đã vô cùng không may mắn và hệ thống của ông cũng chẳng đem lại kết quả gì” (1967, 622).
  3. Có rất ít bằng chứng về sự tập trung công nghiệp tăng lên trong các xã hội tư bản tiên tiến, đặc biệt là khi có sự cạnh tranh toàn cầu.
  4. Các xã hội xã hội chủ nghĩa không tưởng không hề nảy nở, và cũng không có cuộc cách mạng vô sản tất yếu nào xảy ra.
  5. Bất chấp các chu kỳ kinh doanh và thậm chí đôi khi xảy ra các cuộc suy thoái lớn, chủ nghĩa tư bản dường như vẫn phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết.
Cập nhật: Những nhà Marxist là những nhà tiên tri dự báo ngày tận thế thời hiện đại
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Marx và Engels đã cảnh báo, “Chỉ cần đề cập là đã đủ rằng các cuộc khủng hoảng thương nghiệp diễn ra theo chu kỳ đã thử thách sự tồn tại của toàn bộ xã hội tư sản, mỗi lần một đe dọa hơn” (1964 [1848], 11 – 12).
Theo chân người lãnh đạo của mình, các nhà Marxist hiện đại tiếp tục dự đoán sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản, để rồi bị bác bỏ, cứ lặp đi lặp lại như vậy. Năm 1976, vào giữa cuộc khủng hoảng năng lượng và sự suy thoái do lạm phát, nhà xã hội Michael Harrington đã xuất bản cuốn sách với tựa đề Buổi hoàng hôn của chủ nghĩa tư bản (The Twilight of Capitalism) để dành tặng Karl Marx. Ông đã dự đoán rằng cuộc khủng hoảng vào những năm 1970 sẽ là cái kết của chủ nghĩa tư bản.
Cũng trong năm đó, nhà Marxist Ernest Mandel đã viết lời tựa cho tác phẩm Tư bản, tuyên bố hùng hồn rằng “Chủ nghĩa tư bản sẽ chẳng thể tồn tại qua nửa thế kỷ nữa với các cuộc khủng hoảng (quân sự, chính trị, xã hội, tiền tệ, văn hóa) diễn ra không ngừng suốt từ năm 1914” (Mandel 1976 [1867], 86).
Paul M. Sweezy, giáo sư Marxist tại đại học Harvard, là một người bi quan lâu năm. Từ những năm 1930, ông đã dự đoán rằng chủ nghĩa tư bản đang suy yếu, và rằng chủ nghĩa xã hội, vốn giúp nâng mức sống lên cao hơn, sẽ tiến lên nhanh chóng (Sweezy 1942, 362). Ông là đồng tác giả của một cuốn sách với tiêu đề Cái kết của sự phồn vinh (The End of Prosperity) in năm 1977.
Tuy nhiên, sang thế kỷ mới, chủ nghĩa tư bản thậm chí còn năng động hơn bao giờ hết. Các nhà Marxist hiện đại, luôn là những người bi quan, một lần nữa lại bị chứng tỏ là đã sai lầm.
Trường hợp kì lạ của Nikolai Kondratieff
Một nhà kinh tế nổi tiếng người Nga đã phủ nhận dự đoán của các nhà Marxist về cái kết tất yếu của chủ nghĩa tư bản là Nikolai Kondratieff (1892 – 1938). Năm 1926, ông đã gửi một bài luận văn tới Viện Kinh tế có uy tín ở Moscow, đưa ra trường hợp về một chu kỳ kinh doanh 50 – 60 năm. Dựa trên các xu hướng về giá và sản lượng từ những năm 1780, Kondratieff đã mô tả các chu kỳ “sóng dài” 2,5 lên xuống của sự thịnh vượng và suy thoái. Kondratieff không tìm ra bằng chứng về sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản mà thay vào đó lại là một sự hồi phục mạnh mẽ tiếp sau suy thoái.
Năm 1928, Kondratieff đã bị cách chức khỏi vị trí đứng đầu Viện Điều kiện Kinh doanh của Moscow và chính đề của ông đã bị phản bác trong cuốn Bách khoa toàn thư Liên Xô chính thức (Solomou 1987, 60). Ông nhanh chóng bị bắt giữ vì bị cáo buộc là lãnh đạo của Đảng Nông dân Lao động vốn thực tế không hề tồn tại và bị trục xuất tới Siberia vào năm 1930. Ngày 17 tháng 10 năm 1938, trong suốt giai đoạn thanh trừng diện rộng dưới thời Stalin, ông bị xét xử lần thứ hai và bị kết án tù mười năm và không được quyền thư từ liên lạc với thế giới bên ngoài; tuy nhiên, Kondratieff đã bị xử bắn vào đúng ngày phán quyết được ban hành. Vào thời điểm bị giết, ông mới 46 tuổi.[1]
Những phê phán đối với Marx
Tại sao Marx lại sai lầm tệ hại sau khi thiết lập thứ ông gọi là định luật “khoa học” của kinh tế học?
Trước tiên, thuyết giá trị về lao động của ông có những khiếm khuyết. Khi bác bỏ quy luật về thị trường của Say, ông cũng đã phủ nhận thuyết giá trị có căn cứ của Say. Say đã nói đúng rằng giá trị của hàng hóa và dịch vụ rốt cuộc sẽ được xác định bằng lợi ích. Nếu các cá nhân không có nhu cầu hoặc không cần tới một sản phẩm thì không cần biết có bao nhiêu lao động và nỗ lực được đặt vào đó, sản phẩm đó vẫn là không có giá trị.
Nhà sử học Jacques Barzum cho rằng “Ngọc trai không phải có giá trị vì con người lặn tìm nó mà con người lặn tìm ngọc trai vì nó có giá trị” (Barzum 1958, 152). Và Philip Wicksteed, người viết bài phê bình khoa học đầu tiên về thuyết giá trị của Marx vào năm 1884, đã nhận định “Một cái áo choàng không đáng giá 8 lần so với một cái mũ bởi thời gian làm ra nó lâu gấp 8 lần… Mà mọi người sẵn sàng dành 8 lần thời gian để làm ra một chiếc áo choàng bởi vì nó đáng giá 8 lần cái mũ” (Wicksteed 1933, vii).[2]
Và còn tất cả những thứ đáng giá vốn liên tục tăng giá trị ngay cả khi chúng yêu cầu rất ít hoặc không cần tới lao động, ví dụ như nghệ thuật và đất đai thì sao? Marx đã nhận ra đây là những ngoại lệ trong học thuyết của mình nhưng vẫn coi chúng không quan trọng đối với vấn đề căn bản về sức lao động.
Vấn đề chuyển đổi
Marx cũng đã phải đối mặt với một vấn đề lưỡng nan được xem là “vấn đề chuyển đổi”, vấn đề về tỷ suất lợi nhuận và giá trị. Một xung đột nổi lên dưới hệ thống của Marx do có một số ngành cần nhiều nhân công và các ngành khác lại cần nhiều vốn. (Trong ngôn ngữ Marxist, chúng có kết cấu hữu cơ về tư bản cao hơn.) Trong tập 1 của tác phẩm Tư bản, Marx đã khẳng định rằng giá biến động hoàn toàn theo thời gian lao động, do đó kết luận rằng các ngành cần nhiều vốn sẽ ít có khả năng sinh lời hơn là các ngành cần nhiều lao động. Nhưng chứng cớ dường như lại chỉ ra khả năng sinh lời tương đương nhau ở tất cả các ngành trong dài hạn, do vốn và các khoản đầu tư có thể di chuyển từ các ngành có khả năng sinh lời thấp tới các ngành có khả năng sinh lời cao hơn. Marx không bao giờ có thể giải quyết được vấn đề hóc búa này, điều mà Rothbard gọi là “lỗ hổng rõ ràng nhất trong mô hình của Marx” (Rothbard 1995b, 413).
Marx đã vật lộn với vấn đề chuyển đổi này trong suốt cuộc đời của ông, hứa hẹn một câu trả lời trong các tập sắp tới của Tư bản. Trong lời giới thiệu về tập 2 của Tư bản, Engels đã trao giải thưởng cho một cuộc thi viết luận về cách giải quyết vấn đề lưỡng nan của Marx. Trong chín năm sau đó, một số lớn các nhà kinh tế học đã cố gẳng giải quyết nó, nhưng lúc xuất bản tập 3 của Tư bản, Engels đã thông báo rằng không có ai chiến thắng[3] (Rothbard 1995b, 413). Eugen Bohm-Bawerk đã công kích kịch liệt sai lầm này trong kinh tế học này của Marx; như lời của Paul Samuelson thì, “rõ ràng Bohm-Bawerk hoàn toàn đúng khi khẳng định rằng tập 3 của Tư bản không bao giờ có khả năng thực hiện được lời hứa giải quyết được các mâu thuẫn hư cấu” (Samuelson 1967, 620).
Vai trò thiết yếu của các nhà tư bản và các nhà doanh nghiệp
Thứ hai, Marx mắc sai lầm khi đánh giá thấp kiến thức và công việc của các nhà tư bản và nhà doanh nghiệp. Như chúng ta sẽ xem xét trong chương tới, Bohm-Bawerk, Alfred Marshall và các nhà kinh tế học vĩ đại khác đã nhận ra đóng góp khổng lồ của các nhà tư bản và nhà doanh nghiệp trong vấn đề chấp nhận rủi ro và cung cấp vốn (sự tiết kiệm) cần thiết và kỹ năng quản lý cần có để vận hành một doanh nghiệp có khả năng sinh lời.


[1] Việc Kondratieff bị hành hạ bởi chính quyền Liên Xô không có nghĩa rằng lý thuyết của ông về việc chủ nghĩa tư bản tự động trải qua chu kỳ 50 – 60 năm là đúng. Niềm tin vào thứ gọi là chu kỳ sóng dài Kondratieff vẫn tồn tại trong một số nhà kinh tế, nhà sử học và nhà phân tích tài chính, những người thường dự đoán một cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế khác. Tuy nhiên, giờ đã gần 80 năm kể từ cuộc suy thoái toàn cầu cuối cùng. Như Victor Zarnowitz kết luận mới đây, “Có nhiều ý kiến không tán thành về sự tồn tại thực sự của một vài sóng dài thậm chí cả ở những người ủng hộ khái niệm này, và càng nhiều quan điểm bất đồng về thời điểm của sóng và các giai đoạn của chúng” (Zarnowitz 1992, 238).
[2] Chính bài báo này, xuất hiện trên tờ nguyệt san Ngày nay (Today) của các nhà xã hội chủ nghĩa vào tháng 10 năm 1884, đã thuyết phục George Bernard Shaw và Sidney Webb rằng thuyết giá trị về lao động là không thể trụ vững được và do vậy sẽ kéo toàn bộ lâu đài của chủ nghĩa Marx xuống đống đổ nát (Lichtheim 1970, 192 – 93).
[3] Bản tóm tắt đầy đủ về cuộc tranh luận về sự chuyển đổi giữa các nhà Marxist có thể được tìm thấy trong tài liệu của Howard và King (1989, 21 – 59).
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/05/22/marx-chong-lai-chu-nghia-tu-ban-p2/#sthash.WOZpn5My.dpuf

Karl Marx dẫn đầu cuộc nổi dậy chống lại chủ nghĩa tư bản (Phần 1)

Nguồn: Mark Skousen (2007). “Karl Marx Leads a Revolt Against Capitalism”, in M. Skousen, The Big Three in Economics: Adam Smith, Karl Marx, And John Maynard Keynes (New York: M.E.Sharpe), pp. 64-104 (Ch. 3).
Biên dịch: Bùi Thu Thảo | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp


Jenny! Nếu linh hồn của chúng ta có thể hòa quyện cùng nhau, thì anh có thể bất chấp mà đấm thẳng vào bộ mặt của thế gian, rồi sải bước qua đống đổ nát như một đấng tạo hóa!
Karl Marx nói với hôn thê của mình (Wilson 1940)
Karl Marx sở hữu tố chất thiên tài đầy ma lực để biến đổi thế giới hiện đại.
Saul K. Padover (1978)
Nếu nghiên cứu của Adam Smith là khởi thủy của kinh tế học hiện đại thì Karl Marx là nơi kết thúc của nó. Nếu triết gia người Scotland là nhà sáng lập vĩ đại của tự do kinh tế, thì nhà cách mạng Đức là người hủy diệt vĩ đại của nó. Nhà Marxist John E. Roemer cũng thừa nhận như vậy. Theo ông, “sự khác biệt căn bản” giữa Smith và Marx được miêu tả như sau: “Smith cho rằng mưu cầu tư lợi của cá nhân sẽ đưa đến kết quả lợi ích cho tất cả, trong khi đó Marx lại lý luận rằng mưu cầu tư lợi sẽ dẫn tới tình trạng vô chính phủ, khủng hoảng và sự tự tan rã của chế độ tư hữu. Smith đã chứng tỏ rằng có một bàn tay vô hình dẫn dắt các cá nhân và tác nhân tư lợi có những hành động giúp đưa đến sự tối ưu xã hội dù họ không quan tâm tới kết quả này; đối với những người theo chủ nghĩa Marx thì sự ví von tương tự là bàn tay sắt của sự cạnh tranh sẽ nghiền nát những người lao động và khiến họ trở nên khốn đốn hơn so với trong một chế độ khả dĩ khác, cụ thể là một chế độ dựa trên sở hữu xã hội hoặc công cộng (Roemer 1988, 2-3).
Bất chấp tất cả những nỗi kinh hoàng được thực hiện nhân danh Marx, trong hơn một thế kỷ, triết gia người Đức đã truyền nguồn cảm hứng to lớn cho những người lao động và trí thức bị tước đi quyền công dân của chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Malthus và Ricardo có thể đã gieo mầm cho những mối bất đồng nhưng chính Marx (1818 – 83) đã đập tan những xiềng xích của chủ nghĩa tư bản và xé tan những cơ sở của hệ thống tự do tự nhiên của Adam Smith. Hệ thống thương mại không còn được xem là “vô hại” (Montesquieu), “cùng có lợi” (Smith) hay “hài hòa tự nhiên” (Say và Bastiat). Giờ đây, theo Marx, nó được khắc họa là một thứ xa lạ, mang tính bóc lột và tự hủy diệt. Theo ý kiến của Marx, sự giải phóng xảy ra khi mọi người rời khỏi mô hình của Adam Smith.
Dấu ấn của ông đối với thế giới là không thể xóa nhòa và là minh chứng của một trí tuệ xuất chúng. Marx là một thiên tài, điều đó không có gì phải bàn cãi – ông có học vị tiến sĩ về triết học Hy Lạp; nói được tiếng Pháp, Đức và Anh thành thạo; am hiểu sâu rộng về khoa học, văn học, nghệ thuật, toán học và triết học; và đã viết nên một cuốn sách kinh điển vốn tạo ra một mẫu hình mới đầy sức mạnh về tư duy kinh tế. Và cũng đừng bận tâm rằng ông không thể cân bằng sổ séc hoặc giữ được một việc làm. Một nhà viết tiểu sử không theo chủ nghĩa Marx đã gọi ông là “một con người tài năng phi thường, uyên bác và xuất chúng” (Padover 1978: xvi). Martin Bronfenbrenner thì cho rằng Marx là “nhà khoa học xã hội vĩ đại nhất mọi thời đại” (1967: 624).[1]
Marx và Chủ nghĩa cộng sản
Tuy nhiên, cũng giống như Cain trong Kinh thánh, Marx bị nguyền rủa là vết nhơ của lịch sử. Tên tuổi của ông sẽ mãi mãi bị gắn liền với mặt trái của chủ nghĩa cộng sản. Có một bóng ma luôn đeo đuổi Karl Marx – lịch sử về Lenin, Stalin, Mao và Pol Pot và hàng triệu người chết và bị đầy đọa bởi “đế quốc xấu xa”, như theo cách gọi của Ronald Reagan. Các nhà biện minh cho rằng Marx không thể chịu trách nhiệm về sự tàn bạo của những người đi theo chủ nghĩa cộng sản của ông và thậm chí còn cho rằng Marx chắc sẽ là một trong những người đầu tiên bị hành quyết và gửi tới các trại lao động. Có thể như vậy. Có một điều là trong suốt sự nghiệp của mình, ông luôn phản đối kịch liệt việc kiểm duyệt báo chí, xuất bản. Nhưng nếu không có Marx, liệu có sự trấn áp và cách mạng bạo lực này không? Phải chăng Marx đã không ủng hộ sự “cai trị bằng khủng bố” đối với giai cấp tư sản? Như một nhà phê bình cục đoan từng nói: “Nhân danh sự tiến bộ của con người, Marx đã gây ra sự chết chóc, bất hạnh, suy đồi và tuyệt vọng nhiều hơn bất cứ một ai từng sống” (Downs 1983, 299).
Marx gây ra sự cuồng tín của thanh niên
Trong các trường phái tư tưởng, không có nhà kinh tế hay triết gia nào mang lại niềm say mê và cơn sốt sùng đạo như Marx. Hơn hết thảy, Marx là một người nhìn xa trông rộng và là một thần tượng cách mạng chứ không chỉ là một nhà kinh tế. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (The Communist Manisfesto) ra đời hơn 150 năm trước, ta không thể không cảm thấy nội lực đầy say mê, ngòi bút sắc sảo và sự giản dị đến lạ lùng trong những ngôn từ của Marx và Engels (1968 [1848]).
Những môn đồ trẻ tuổi trờ thành những tín đồ thật sự và thường mất nhiều năm để họ không còn say mê với chủ nghĩa Marx. Điều này đã xảy ra với Robert Heilbroner, Mark Blaug, Whittaker Chambers và David Horowitz. Tôi thậm chí đã thấy điều này trong những sinh viên của tôi tại Đại học Rollins, một thập kỉ sau khi chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô sụp đổ và chủ nghĩa Marx bị coi như đã tàn lụi. Trong khóa học “Tìm hiểu các nhà kinh tế vĩ đại” mà tôi giảng dạy, tôi đã yêu cầu các sinh viên đọc một cuốn sách được viết bởi một nhà kinh tế. Một sinh viên đã chọn Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Sau khi đọc nó, cậu ấy đã tới chỗ tôi và thốt lên đầy xúc động khi chỉ vào bản copy được đánh dấu chi tiết của mình, “Thật không thể tin được! Em phải làm một bài tường thuật về cuốn sách này!” Thật là kì lạ. Trong giờ giảng của mình, tôi cố hết sức để phản biện lại học thuyết của Marx song điều này không còn ý nghĩa nữa. Cậu ấy đã bị thay đổi chính kiến.
Tôi có thể dễ dàng nhận ra cách một nhà cách mạng trẻ tuổi có thể bị lay động bởi những dòng bút chiến không thể nào quên trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản:
Một bóng ma đang đeo đuổi châu Âu – bóng ma của Chủ nghĩa cộng sản…. Lịch sử của mọi xã hội tồn tại từ trước tới nay là lịch sử của các cuộc đấu tranh giai cấp…. Giai cấp tư sản đã thẳng tay phá tan các mối quan hệ phong kiến đa dạng, ràng buộc con người vào “các bậc bề trên tự nhiên” của mình và không để lại mối quan hệ giữa người với người nào khác ngoài sự tư lợi trần trụi hay lối “tiền mặt trao tay” đầy vô cảm…. Được che đậy bởi tấm màn tôn giáo và chính trị, nó đã thay thế sự bóc lột tàn bạo, trắng trợn, vô liêm sỉ và trần trụi… Hãy để các giai cấp cầm quyền phải run sợ trước cuộc cách mạng cộng sản. Những người vô sản không có gì để mất ngoài những xiềng xích mà họ phải chịu đựng. Họ có phần thưởng là cả thế giới này để giành lấy. VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC, ĐOÀN KẾT LẠI! (1964 [1848]).
Một thời gian lâu sau khi chủ nghĩa Marx tồn tại ở New York, Marshall Berman kể lại cái cách mà ông, một người trẻ tuổi, bắt gặp một cuốn sách khác của Marx, Các bản thảo kinh tế và triết học năm 1844 (Economic and Philosophical Manuscripts of 1844). Cuốn sách này cũng đã mang đến một niềm nhiệt huyết cuồng nhiệt. “Đột nhiên tôi vã mồ hôi, ướt đẫm, cởi bỏ quần áo và tuôn trào nước mắt, chợt cảm thấy nóng lạnh từng đợt” (Berman 1999, 7) – không phải do những ngôi sao trong tạp chí Playboy hay lần đầu giao dịch cổ phiếu giá rẻ, mà là do tác phẩm của Marx.
Về nhiều phương diện, chủ nghĩa Marx đã gần như trở thành một thứ tôn giáo, với các khẩu hiệu, biểu tượng, ngọn cờ đỏ, thánh ca, tư cách thành viên của đảng, các vị tông đồ, những người tử vì đạo, kinh thánh và chân lý cuối cùng. “Marx có sự tự tin của một nhà tiên tri đã từng nói chuyện với Chúa…. Ông là một nhà thơ, nhà tiên tri, nhà luân lý học nói chuyện như một nhà triết gia và nhà kinh tế học; học thuyết của ông không được kiểm chứng một cách thực tế nhưng lại được tiếp nhận như là chân lý đạo đức. Marx đã dẫn đường cho những Người Được Chúa Chọn thoát ra khỏi ách nô lệ để đến với Jerusalem Mới… Trở thành một người theo chủ nghĩa Marx hoặc một người Cộng sản giống như việc chìm dắm trong tình yêu, một thứ xúc cảm thiết yếu” (Wesson 1976, 29–30, 158). Một cuốn cẩm nang của tuổi trẻ đã được xuất bản vào năm 1935 với tiêu đề Những giáo huấn của Marx cho nam nữ thanh niên (Teachings of Marx for Girls and Boys) được viết bởi mục sư Tin lành William Montgomery Brown, được làm nổi bật trên trang bìa với hình ảnh những “môn đồ xuất sắc nhất” của Marx là Lenin và Stalin.
Những đóng góp của Marx đối với kinh tế học
Ít có nhà kinh tế học nào đã thâm nhập vào các ngành học khác như Marx đã từng làm. Marx vừa là một triết gia, một nhà sử học, vừa là nhà khoa học chính trị, nhà xã hội học và nhà phê bình văn học. Ông viết nhiều và viết gần như không ngừng nghỉ về mọi lĩnh vực. Thậm chí ngày nay, bộ tài liệu sưu tập tất cả các công trình của Marx và đồng sự của ông – Friedrich Engels vẫn chưa được hoàn thành. Các bình luận về Marx và các chủ đề liên quan khổng lồ đến mức phải gộp thành các tuyển tập. (Trên Internet, trang Amazon.com đã liệt kê hơn 4000 đề mục về Marx và chủ nghĩa cộng sản, chỉ xếp thứ hai sau Chúa Jesus và Thiên chúa giáo.) Do đó, chương này về Marx của chúng tôi buộc phải tập trung chủ yếu vào những đóng góp của ông đối với lĩnh vực kinh tế. Ngay cả vậy, Marx với tư cách một nhà kinh tế học cũng không phải là một đề tài đơn giản.
Marx chính là nhà kinh tế học lớn đầu tiên thiết lập ra trường phái tư tưởng của riêng mình, với một phương pháp luận riêng và thứ ngôn ngữ đặc thù. Khi tạo dựng nên trường phải tư tưởng của chính mình trong tác phẩm kinh điển, Tư bản (1976 [1867]), ông đã đối chiếu cơ chế của mình với cơ chế tự do kinh tế – cơ chế được tán thành bởi Adam Smith, J.-B. Say, David Ricardo và nhiều người khác. Marx đã gọi tự do kinh tế với cái tên “trường phái cổ điển”. Khi phát triển cách tiếp cận kinh tế học theo chủ nghĩa Marx, ông đã tạo ra những thuật ngữ của riêng mình: giá trị thặng dư, tái sản xuất, tư sản và vô sản, chủ nghĩa duy vật lịch sử, nền kinh tế tầm thường, chủ nghĩa tư bản độc quyền, vv…. Ông đã sáng tạo ra thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản.”[2] Từ thời của Marx, kinh tế học không còn giống như trước. Ngày nay, không có mô hình kinh tế nào được chấp nhận rộng khắp như các mô hình trong vật lý và toán học – chỉ có những trường phái kinh tế học đối lập nhau.
Học vấn thuở ban đầu: Các mâu thuẫn tồn tại trong Marx
Triết gia người Đức là ai? Ai đã mang lại niềm đam mê, sự sùng đạo, một mô hình kinh tế mới đầy sức mạnh có thể thách thức mô hình cổ điểm của Adam Smith?
Karl Heinrich Marx sinh ngày mùng 5 tháng 5 năm 1818 trong một ngôi nhà tuyệt đẹp ở Trier thuộc tỉnh Rhine thuộc Phổ. Trier là thành phố lâu đời nhất tại Đức. Từ khi chào đời cho đến lúc lìa trần, con người Marx luôn chứa đựng đầy những mâu thuẫn. Ông công kích những người tiểu tư sản, nhưng lại lớn lên trong một gia đình thuộc giai cấp tư sản. Ông đã sống nhiều năm của cuộc đời thành niên trong cảnh khốn cùng tuyệt vọng dù ông có dòng dõi tương đối khá giả. Ông tán dương các tiến bộ về vật chất và công nghệ của chủ nghĩa tư bản, song lại chỉ trích xã hội tư bản. Ông đồng cảm sâu sắc với những người công nhân, nhưng lại chưa từng có một công việc ổn định hay từng tới thăm một nhà máy nào trong suốt cuộc đời thành niên của mình. Mẹ ông từng phàn nàn rằng, “Giá mà Karl làm ra được tiền, thay vì chỉ viết về nó!” (Padover 1978, 344).
Marx ném những lời chỉ trích bài Do Thái vào những người chống đối ông, dù ông mang dòng máu Do Thái từ cả hai phía gia đình. Trong một bài tiểu luận công bố năm 1843, “Về vấn đề Do Thái”, Marx đã thể hiện thái độ bài Do Thái rất phổ biến tại châu Âu thời điểm đó. Ngôn ngữ của ông không hề khoan nhượng: “Sự sùng bái cá nhân của người Do Thái là gì? Lừa đảo. Đức Chúa trời của anh ta là gì? Tiền!… Tiền là vị thần đố kị của Isarel mà trước mặt vị thần đó không vị thần nào khác có thể tồn tại. Tiền làm thoái hóa mọi vị thần của nhân loại – và biến họ thành các loại hàng hóa… Những gì chứa đựng một cách trừu tượng trong tín ngưỡng Do Thái – đó là sự khinh miệt đối với các học thuyết, nghệ thuật và lịch sử” (Padover 1978, 169). Sự phỉ báng mang tính phân biệt chủng tộc của Marx không bao giờ dịu lại. Ông không bao giờ rút lại những lời phỉ báng năm 1843 của mình về người Do Thái. “Ngược lại”, nhà tiểu sử Saul Padover viết, “ông đã nuôi dưỡng sự thù địch đối với họ suốt đời… Những lá thư của ông chứa đầy những bình phẩm, châm biếm, và những biệt danh cay nghiệt bài trừ người Do Thái: “cái mũi Do Thái của Levy” (Levy’s Jewish nose), “kẻ cho vay nặng lãi” (usurers), “thằng nhóc Do Thái” (Jew-boy), “kẻ Do Thái mọi rợ” (nigger-Jew), vv…. Nguyên nhân có thể được lý giải bởi quan niệm Selbsthass (sự tự căm thù bản thân) trong tiếng Đức, việc Marx căm ghét người Do Thái giống như một căn bệnh xấu xa mà thời gian hay kinh nghiệm đều không thể xóa bỏ khỏi tâm hồn của ông” (Padover 1978, 171).
Tuy nhiên, những nhà Marxist lỗi lạc đã phủ nhận tư tưởng bài trừ Do Thái của Marx. Cuốn Từ điển về tư tưởng Marx (A Dictionary of Marxian Thought) khẳng định, “Mặc dù chúng ta biết rằng Marx không phản đối việc sử dụng những từ thô tục xúc phạm một số người Do Thái nhưng không có một căn cứ nào để coi ông là một người bài Do Thái” (Bottomore 1991, 275). Gareth Stedman Jones viết rằng, “Cáo buộc Marx là người theo chủ nghĩa bài Do Thái…là không thể hiểu được trừ khi đặt nó trong bối cảnh lòng căm thù của ông đối với mọi dạng chủ nghĩa đặc thù về quốc gia và dân tộc” (Blumenberg 1998 [1962], x).
Marx đã trải qua nhiều mâu thuẫn trong suốt cuộc đời của mình. Ông yêu thương những đứa con, nhưng lại chứng kiến chúng chết yểu bởi sự suy dinh dưỡng và bệnh tật hoặc tự tử. Marx chống lại những con quỷ của sự bóc lột trong hệ thống tư bản, nhưng theo một nhà tiểu sử thì ông đã “bóc lột tất cả những người xung quanh mình – vợ ông, các con ông, người giúp việc nhà của ông và những người bạn của ông – với một sự nhẫn tâm và ngày càng khủng khiếp hơn vì nó là cố ý và có tính toán” (Payne 1968, 12). Paul Samuelson nói thêm rằng, “Marx là một người cha và người chồng hiền lành; nhưng ông cũng rất dễ nổi nóng, cục cằn, lỗ mãng” (Samuelson 1967b, 616). Tóm lại, Marx công kích những mâu thuẫn bên trong chủ nghĩa tư bản, nhưng chính ông cũng luôn bị vây quanh bởi những mâu thuẫn trong chính con người mình.
Niềm tin vào Thiên Chúa của Marx
Sự trớ trêu đáng ngạc nhiên nhất là Karl Marx – người được xem là một trong những kẻ thù lớn nhất của tôn giáo – lại được nuôi dưỡng bởi một người theo đạo Thiên Chúa dù nhiều tổ tiên của ông là những chức sắc Do Thái giáo.
Cha của ông, Heinrich Marx, đã vượt qua những chướng ngại tưởng chừng như vô vọng để trở thành một luật sư Do Thái khá giả. Khi ông phải đối mặt với một đạo luật mới của Phổ vào năm 1816 cấm những người Do Thái hành nghề luật sư, ông đã chuyển từ đạo Do Thái sang đạo Cơ Đốc dòng Luther. Mẹ ông, Henrietta Pressborch, là con gái của một chức sắc Do Thái giáo, nhưng bà cũng đã nhận thấy các giá trị xã hội trong việc chuyển sang đạo Thiên Chúa.
Karl, người con trai sống sót lớn nhất trong gia đình có chín người con, đã được rửa tội để trở thành một con chiên và đã viết một vài bài luận về cuộc sống của người theo đạo Thiên Chúa khi đang trong trường trung học. Khi là học sinh năm cuối trong trường trung học, Karl đã viết một bài luận với tiêu đề “Liên hiệp những người theo đạo Thiên Chúa” nói về sự cách ly, một nỗi sợ bị Chúa chối bỏ. Ông bị mê hoặc bởi những câu chuyện về một thiên đường hòa bình trong Sáng thế ký (Genesis – sách mở đầu của Kinh thánh – NHĐ) và sự tận thế kinh hoàng trong sách Khải huyền (Revelation – sách cuối cùng của Kinh Tân Ước – NHĐ) của Thánh John. Sau đó, những quyển sách đầu và cuối trong Kinh Thánh này đã giúp hình thành những học thuyết của Marx về sự cách ly, đấu tranh giai cấp, sự lật đổ xã hội tư sản mang tính cách mạng và sự huy hoàng của một kỉ nguyên hòa bình và hưng thịnh không giai cấp, không nhà nước. Tầm nhìn của ông về thắng lợi của những người vô sản đến từ những bài học thuở ban đầu về lòng tin vào Chúa cứu thế. Đầu tiên và trước hết Marx là một người cộng sản của thiên niên kỷ (millennial communist – trong Kinh thánh “thiên niên kỷ” đề cập tới thời kỳ nghìn năm hòa bình, thịnh trị khi Chúa và các môn đồ của ông cai trị thế gian – NHĐ).
Nhiều giáo điều của Marx không phải do ông nghĩ ra. Chúng đến từ Kinh Thánh nhưng đã được ông pha chế và biến đổi cho phù hợp với mục đích của mình. Như nhà viết tiểu sử Robert Payne từng viết, “khi ông ấy (Marx) quay lưng lại Thiên Chúa giáo, ông đã mang vào những ý tưởng của mình về công bằng xã hội một niềm đau đáu về sự chuộc lỗi và nỗi sợ hãi bị cách ly (như trong Kinh Thánh)” (1968, 42).
Marx trở thành một nhà cấp tiến trong trường đại học
Đức tin của Marx đã bị thách thức gần như ngay lập tức khi bước chân vào Đại học Bonn, nơi ông, giống như bao sinh viên năm đầu khác, tốn nhiều thời gian vào việc uống rượu và nhậu nhẹt hơn là học tập. Ông chất đống hóa đơn, tham gia vào một nhóm cách mạng bí mật, và bị thương trong một cuộc đấu tay đôi. Sau đó ông bị bắt giữ vì mang súng lục và bị giam vì tội gây rối trật tự.
Cha ông hy vọng rằng có thể sửa đổi người con trai cả của mình bằng cách chuyển ông sang trường Đại học Berlin danh tiếng, nơi Marx trải qua năm năm tiếp theo. Nhưng lối sống vô kỉ luật của ông vẫn tiếp diễn. Ông đọc ngấu nghiến rất nhiều sách và sống một cuộc đời khác người. Ông cho mình là một nhà thơ, biên dịch những vở kịch Hy Lạp và ghi đầy trong sổ những vở bi kịch tối tăm và thi ca lãng mạn. Ông tham gia câu lạc bộ của các tiến sĩ (Doktorklub), một nhóm nhỏ các nhà cấp tiến trẻ tuổi theo thuyết Hegel.
Các bạn học mô tả ông là người có trí tuệ khác thường và ngoan cố bảo thủ, đôi mắt đen đầy kích động nhìn chằm chằm thách thức. Ông nổi bật với bộ râu đen và mái tóc dày, chất giọng chói tai, tính khí mạnh mẽ. Ông có nước da sẫm màu khác thường đến mức gia đình và bạn bè gọi ông là “Mohr” hay “Moor” (người gốc Ả-rập Bắc Phi – NHĐ). Trong suốt những năm đại học, ông được mô tả rất sinh động qua một bài thơ ngắn (Payne 1968, 81; Padover 1978, 116).
Ai đang xông vào, mạnh mẽ và hoang dại –
Anh chàng ngăm đen từ Trier đang nổi khùng phải không?
Không bước không nhảy, mà là vồ lấy con mồi
Trong cơn thịnh nộ dữ dội, như đang nhảy ra chồm lấy
Những khoảng trời rộng lớn và kéo chúng xuống đất
Vươn cách tay rộng lên ôm lấy khoảng trời kia.
Nắm tay ma quỷ siết chặt, anh gầm lên vô tận
Như thể hàng vạn quỷ dữ đang túm tóc mình.[3]
Ảnh hưởng của các triết gia cấp tiến Đức
Hai triết gia cấp tiến ảnh hưởng mạnh mẽ tới Marx trong suốt những năm tháng đại học và sau này là: G.W.F. Hegel (1770-1831) và người đồng nghiệp Ludwig Feuerbach (1804-72). Từ Hegel, Marx đã nâng tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của “chủ nghĩa duy vật biện chứng” – rằng mọi sự tiến bộ đều đạt được thông qua xung đột. Từ Bản chất của Thiên Chúa giáo (The Essence of Christianity) (1841) của Feuerbach, Marx đã hợp lý hóa quan điểm cho rằng tôn giáo là hoang đường và chối bỏ Thiên Chúa giáo. Chúa không tạo ra con người; chính con người đã tạo ra Chúa! Engels đã mô tả tác động giải phóng mà cuốn sách của Feuerbach đã tạo ra: “Chỉ trong một chốc lát…nó đã đưa chủ nghĩa duy vật lên ngôi… Lời nguyền đã bị phá bỏ… Khí thế lan tỏa khắp trời: Tất cả chúng ta là những người theo tư tưởng Feuerbach vào lúc này” (Padover 1978, 136).
Cha mẹ của Marx đã phát ốm khi đứa con tiêu hoang của họ muốn trở thành một nhà văn và nhà phê bình thay vì một luật sư. Những bức thư của ông đã cho thấy những cuộc trò chuyện gay gắt giữa ông và cha mẹ mình. Cha của ông, Heinrich, là một người theo chủ nghĩa tự do kinh điển và là một nhà biện hộ cho nền văn hóa tư sản, vì vậy người ta có thể mường tượng ra ông đã thất vọng về con trai mình đến thế nào. Những bức thư của ông đã chỉ trích Karl là “một đứa mọi rợ nhếch nhác, một kẻ chống đối xã hội, thằng con khốn nạn, một người anh vô tâm, một người tình ích kỉ, đứa học sinh vô trách nhiệm và một kẻ lãng phí thiếu suy nghĩ”, tất cả những lời buộc tội xác đáng đó đã ám ảnh Marx trong suốt cuộc sống trưởng thành. Heinrich Marx đã mắng nhiếc, “Chúa giúp chúng con! Sự hỗn loạn, học đòi mê muội mọi ngành khoa học, những suy nghĩ u mê trong ánh đèn dầu tăm tối; sự bất quy tắc trong chiếc áo choàng và mái tóc rối của một học giả (Padover 1978, 106–07). Trong một lá thư khác, ông cáo buộc Karl bị ám ảnh bởi một “linh hồn của quỷ” đã “làm cho trái tim con trở nên xa lạ với những cảm xúc tốt đẹp” (Berman 1999, 25). Tuy nhiên, lá thư này không phải là lần duy nhất mà Karl bị cha chỉ trích về những hành động bất trị.
Những vần thơ quỷ quái của Marx
Một trong những khía cạnh ác mộng nhất về cuộc đời của Marx là niềm đam mê của ông đối với tác phẩm Faust của Goethe, câu chuyện về một người đàn ông trẻ tuổi đấu tranh giữa cái thiện và cái ác của chính mình và kí giao kèo với quỷ Satan. Faust đã đánh đổi linh hồn của mình (cho quỷ Mephistopheles) để có một cuộc sống mơ ước và khả năng điều khiển thế giới thông qua đám đông lao động được tổ chức. Tác phẩm Faust của Goethe là một cuốn kinh thánh suốt đời đối với Marx. Ông nằm lòng mọi lời nói của Mephistopheles và có thể thuật lại những đoạn dài cho những đứa con của mình. (Ông đồng thời cũng yêu thích Shakespeare, người có những câu nói mà ông thường xuyên trích dẫn.)
Khi còn là một sinh viên tại trường Đại học Berlin năm 1837, Marx đã viết nên những vần thơ lãng mạn dành tặng vị hôn thê của mình, Jenny von Westphalen. Một trong những bài thơ này, “Người nghệ sĩ”, đã được đăng trên tạp chí văn học Đức, Athenaeum năm 1841 (tái bản trong Pane 1971, 59). Nó miêu tả một nghệ sĩ vĩ cầm khơi gợi lên sức mạnh của bóng tối. Người nghệ sĩ, trong hình tượng Lucifer (quỷ Satan) hoặc Mephistopheles, đã tuyên bố táo bạo:
Nhìn đây, ta sẽ đâm thanh kiếm nhuốm máu đen
Chuẩn xác vào tâm hồn ngươi.
Chúa chẳng biết và cũng chẳng tán dương nghệ thuật.
Địa ngục bốc hơi và lấp đầy trí não.
Cho tới khi ta phát điên và trái tim hoàn toàn thay đổi.
Nhìn thanh kiếm này – Hoàng tử Bóng đêm đã bán nó cho ta.
Vì ta người gõ nhịp và ra tín hiệu.
Càng liều lĩnh hơn, ta nhảy vũ điệu tử thần.[4]
Marx sáng tác một bi kịch Hy Lạp
Giao kèo với quỷ là chủ đề chính trong Oulanem, một vở kịch thơ mà Marx viết năm 1839. Ông chỉ hoàn thành được màn đầu tiên, nhưng nó hé lộ một số nhân vật lập dị và bạo lực. Tên nhân vật chính, Oulanem, là phép đảo chữ của từ Manuelo, nghĩa là Immanuel hoặc Thiên Chúa (Payne 1971, 57-97). Trong một đoạn độc thoại kiểu Hamlet, Oulanem đã tự hỏi liệu mình có phải phá hủy thế giới hay không.
Sự ám ảnh của Marx đối với hành vi tự hủy hoại là phổ biến trong suốt cuộc đời ông. Ông thậm chí còn viết và xuất bản nguyên một cuốn sách về vấn đề tự sát khi đang sống lưu vong ở Bỉ năm 1835. Ông cũng dịch tác phẩm của Jacques Peuchet miêu tả chi tiết câu chuyện của bốn vụ tự sát, trong đó ba vụ là của ba phụ nữ trẻ. Trọng tâm của cuốn sách là nhằm vào hệ thống công nghiệp vốn khuyến khích hành vi tự tử (Plaut and Anderson 1999).
Marx kết hôn và chuyển tới Paris
Marx rốt cuộc đã rời khỏi Berlin với lý do ban giám hiệu trường đại học được tiếp quản bởi những người theo phái chống Hegel. Lo sợ rằng luận án tiến sĩ về triết học Hy Lạp của mình có thể bị từ chối, ông đã nộp nó lên trường Đại học Jena, nơi đã chấp nhận nó mà không cần yêu cầu Marx dự học. Năm 1842, ông đã làm việc trong một thời gian ngắn với vai trò biên tập viên của một tờ báo Đức, đồng thời mạnh mẽ bảo vệ tự do ngôn luận. Ông đã thôi việc khi những nhà kiểm duyệt khiến ông không thể tiếp tục.
Năm 1843, Marx kết hôn với người yêu thời niên thiếu và cũng là hàng xóm của mình, Jenny von Westphalen, bất chấp sự phản đối của cả hai gia đình. Jenny, hơn Marx bốn tuổi, là con gái của Nam tước Johann Ludwig von Westphalen, một quý tộc giàu có đại diện cho chính quyền Phổ trong hội đồng thành phố. Sau khi nhà quý tộc qua đời, gia đình Marx sống nhờ vào sự hào phóng của phu nhân nam tước. Jenny đã hết lòng tận tình đối với Marx và lý tưởng cách mạng của ông. Trong phần còn lại của cuộc đời, họ không bao giờ bị chia lìa dù lúc đói nghèo, bệnh tật hay thất bại. Tình yêu của họ sâu đậm và vững vàng, dù không phải không có rắc rối và phiền muộn. Họ gửi cho nhau vô số bức thư tình. Họ có cùng nhau 6 người con, dù chỉ có 2 cô con gái là sống sót.
Chưa đầy một năm sau, Karl và vợ mới cưới chuyển tới Paris, nơi ông đã làm biên tập viên cho một tờ nguyệt san tiếng Đức. Karl và Jenny Marx yêu Paris và văn hóa Pháp. Tại đây Marx ít quan tâm tới việc giao lưu với Bastiat và trường phái tự do kinh tế Pháp – sau này ông đã gọi Bastiat là người biện hộ “thiển cận” nhất của “nền kinh tế tầm thường” (Padover 1978, 369). Tuy nhiên ông lại là một trong những thành viên theo phong trào chủ nghĩa xã hội cấp tiến của Pháp cùng với Pierre Proudhon và Louis Blanc. Ông đắm mình vào đại dương sách và thường ba, bốn ngày liền không ngủ (Padover 1978, 189). Trực tiếp chứng kiến cảnh đấu tranh giai cấp, ông đã viết về sự chia tách (giai cấp) và những khổ đau mà người lao động phải chịu đựng dưới chủ nghĩa tư bản theo một cách đầy sức thuyết phục trong Các bản thảo kinh tế và triết học năm 1844, một cuốn tài liệu sưu tập các bài báo không được công bố cho đến năm 1932.


[1] Tôi nghĩ nhà xã hội học người Đức Max Weber xứng đáng nhận được sự tôn vình này. Xem thêm Skousen (2001), chương 10.
[2] Frank H. Knight và các nhà kinh tế học thiên hướng thị trường khác thích dùng thuật ngữ “tự do kinh doanh” hơn là “chủ nghĩa tư bản” khi mô tả nền kinh tế thị trường. XemKnight (1982 [1947], 448).
[3] Nguyên văn:
Who comes rushing in, impetuous and wild—
Dark fellow from Trier, in fury raging?
Nor walks nor skips, but leaps upon his prey
In tearing rage, as one who leaps to grasp
Broad spaces in the sky and drags them down to earth,
Stretching his arms wide open to the heavens.
His evil fist is clenched, he roars interminably
As though ten thousand devils had him by the hair.
[4] Nguyên văn:
Look now, my blood-dark sword shall stab
Unerringly within thy soul.
God neither knows nor honors art.
The hellish vapors rise and fill the brain.
Til I go mad and my heart is utterly changed.
See this sword—the Prince of Darkness sold it to me.
For me he beats the time and gives the signs.
Ever more boldly I play the dance of death.
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/05/20/marx-chong-lai-chu-nghia-tu-ban-p1/#sthash.DUvjuboP.dpuf