Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2016

Thực thi sức mạnh mềm


Nguồn: Joseph S. Nye (2004). “Wielding Soft Power” (Chapter 4) in J.S. Nye, Soft Power: The Means to Success in World Politics (New York: PublicAffairs), pp. 99-126.
Biên dịch: Lê Vĩnh Trương | Hiệu đính: Giáp Văn Dương
Các chính phủ sử dụng sức mạnh quân sự để đưa ra các đe dọa, phát động chiến tranh, và bằng cách phối hợp với các kỹ năng cùng yếu tố may mắn, họ có thể đạt được những kết quả mong muốn trong một thời gian phù hợp nào đó. Sức mạnh kinh tế cũng thường là một thực thể có tác động rõ ràng, trực tiếp như vậy. Các chính phủ có thể ra lệnh đóng băng các tài khoản ngân hàng nước ngoài trong vòng một đêm cũng như có thể phân chia các khoản hối lộ hay viện trợ nhanh chóng (dù rằng những cuộc cấm vận kinh tế nếu có, thường cần thời gian nhiều hơn để đạt tới những kết quả mong muốn). Như chúng ta đã thấy ở Chương 1, thực thi sức mạnh mềm khó khăn hơn vì nhiều loại tài nguyên quan trọng nằm ngoài tầm với của các chính phủ, ngoài ra ảnh hưởng của sức mạnh mềm phụ thuộc chặt chẽ vào sự chấp nhận của các cộng đồng tiếp nhận sức mạnh mềm. Hơn nữa, các nguồn lực sức mạnh mềm thường tác động một cách gián tiếp trong quá trình tạo môi trường để thực hiện chính sách và đôi khi tác động của loại sức mạnh này cần nhiều năm mới có kết quả mong muốn.
Dĩ nhiên, các khác biệt này nằm ở nhiều mức độ. Các cuộc chiến tranh hay tranh chấp kinh tế sẽ không phát huy hiệu lực trong một sớm một chiều – chúng ta có thể nhìn vào độ dài và sự thất bại sau cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam, và chúng ta có thể thấy các cuộc cấm vận kinh tế thường mang lại kết quả mong muốn ở một phần ba trong tổng số các cuộc cấm vận trước nay trong lịch sử.[1] Tại Iraq, Saddam Hussein đã sống sót qua các cuộc phong tỏa kinh tế hơn 10 năm và dù cho chiến dịch quân sự kéo dài bốn tuần của Mỹ đã thay đổi chế độ của ông ta, đó chẳng qua chỉ là những bước đầu tiên để Mỹ đạt được hết các mục tiêu của mình tại Iraq. Như một cựu quan chức quân sự đã nhận thấy, dấu ấn của một cuộc chinh phạt không phải nằm ở chỗ diệt trừ những ai mà ở chỗ xây dựng được những gì. Và câu hỏi của cuộc chiến Iraq vẫn còn bỏ ngỏ câu trả lời cho người phán xét sau khi cuộc chiến đã tàn nhiều năm sau.[2] Vả lại, đôi khi việc tung tin có thể tạo ra hay ngăn trở những hệ quả mong muốn. Tuy nhiên, nhìn chung thì nguồn lực của sức mạnh mềm thường là chậm chạp, phân tán và khó điều phối hơn là tài nguyên của sức mạnh cứng.
Những nỗ lực ban đầu
Khó khăn trong vận hành sức mạnh mềm không ngăn nổi các chính phủ luôn cố gắng thực thi chúng. Vào thế kỷ 17 và 18, Pháp đã truyền bá văn hóa của mình khắp các mảnh đất châu Âu. Tiếng Pháp không chỉ đã trở thành ngôn ngữ ngoại giao mà còn được sử dụng tại các tòa án nước ngoài như Phổ và Nga. Trong cuộc cách mạng Pháp, nước Pháp đã tìm cách vượt qua các chính phủ ngoại quốc và đưa lời kêu gọi của mình trực tiếp đến nhân dân các nước khác để quảng bá tư tưởng cách mạng của mình.  Sau khi thất bại trong cuộc chiến Pháp – Phổ, chính phủ Pháp đã tìm cách cứu vãn uy tín đã sứt mẻ của mình bằng cách truyền bá ngôn ngữ và văn chương của mình đến Liên minh Pháp, được lập ra năm 1883. Như sử gia Richard Pells ghi lại: “Việc đưa văn hóa Pháp ra nước ngoài, do vậy, đã trở thành một thành tố quan trọng trong nền Ngoại giao Pháp.”[3] Ý, Đức và các nước khác chẳng bao lâu cũng đã theo cách của Pháp bằng cách lập các viện quảng bá văn hóa của họ ra nước ngoài.
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra với một sự bùng phát nhanh chóng các nỗ lực triển khai quyền lực mềm ra khắp nơi và hầu như tất cả các chính phủ đã thiết lập cơ sở của mình để tuyên truyền cho sự nghiệp của mình. Hoa Kỳ không chỉ thiết lập văn phòng của mình mà còn – trong suốt những năm đầu chưa tham chiến là một trung tâm cho các nước khác quảng bá hình ảnh, như Đức và Anh đã tranh giành hình ảnh và uy tín từ công luận Mỹ. Nhận ra các hiệu quả của việc phản tuyên truyền của Đức thông qua các kênh truyền thông đại chúng, Anh Quốc đã thành công hơn khi tập trung vào thành phần tinh hoa của nước Mỹ và dùng cách tiếp cận mềm mại hơn. Một khảo sát khoa học ngày đó về tuyên truyền trong chiến tranh đã nhận định: “Riêng sự phát tỏa trong nhận thức của tầng lớp quý tộc đã đủ để làm ấm các góc cạnh của những tâm hồn Cộng Hòa trung kiên nhất, và sự phát tác đó sẽ thổi bùng nhiệt huyết của cả đất nước thành phẩm giá, sự đĩnh đạc và tình hữu nghị.”[4]
Hoa Kỳ là quốc gia khá chậm trong ý niệm sử dụng thông tin và văn hóa cho mục đích ngoại giao. Năm 1917, Tổng thống Woodrow Wilson đã lập Ủy ban Thông tin Công cộng do bạn ông điều phối: ký giả George Creel. Theo Tổng thống, công việc của Creel là công viêc của “một đại công ty chuyên làm công tác bán hàng và tiến hành các cuộc phiêu lưu kỳ thú nhất của thế giới vào ngành nghề quảng cáo.”[5] Creel cho rằng các công việc của ông không kiến tạo các cuộc tuyên truyền mà chỉ mang tính cách giáo dục và cung cấp thông tin. Tuy nhiên thực tế rõ ràng ngược lại.  Trong các hạng mục công việc, Creel đã tổ chức các chuyến đi, xen kẽ phát các tờ rơi nói về “học thuyết Mỹ”, ông thiết lập các dịch vụ do chính phủ quản lý, bảo đảm rằng các nhà làm phim nhận được đầy đủ những nguyên vật liệu quý hiếm của thời chiến và đảm bảo rằng các thước phim phải phản ánh tích cực về Hoa Kỳ.[6]  Ủy ban thông tin công cộng đã gây nghi ngờ khá lớn tại Quốc Hội và dân chúng Mỹ đến độ ngay khi hòa bình lập lại thì ủy ban này bị bãi bỏ ngay lập tức.
Sự ra đời của radio trong những năm 1920 đã khiến cho các chính phủ phải tiến vào mặt trận phát thanh tiếng nước ngoài, và trong những năm 1930, những người cộng sản ở Liên Xô và phe phát xít ở Đức, Ý đã cạnh tranh nhau để quảng bá các hình ảnh tốt đẹp về đất nước và hệ tư tưởng của họ đến với công chúng bên ngoài. Tiếp theo chương trình phát sóng tiếng nước ngoài, chính phủ Đức Quốc xã còn hoàn thiện các loại phim ảnh tuyên truyền. Vào năm 1937, ngoại trưởng Anh Anthony Eden đã nhận xét các kênh truyền thông mới này: “Dĩ nhiên, nói một cách chính xác các tuyên truyền văn hóa có hay đến đâu cũng không thể sửa chữa được các tổn hại của một chính sách Ngoại giao yếu kém, tuy nhiên không phải nói quá rằng một chính sách Ngoại giao hoàn hảo nhất cũng có thể thất bại nếu bỏ quên công tác giảng giải và thuyết phục mà thế giới hiện đại buộc phải thực hiện”.[7] Vào cuối thập kỷ 1930, đài BBC –phát từ 1922, đã bắt đầu các chương trình phát thanh bằng tất cả các ngôn ngữ châu Âu và Ả-rập .
Vào cuối những năm 1930, nội các Roosevelt đã tin rằng “nền an ninh của Mỹ tùy thuộc vào khả năng phát ngôn và thu phục sự ủng hộ của dân chúng tại các quốc gia khác.”[8] Tổng thống  Roosevelt đặc biệt quan tâm đến các tuyên truyền của Đức tại các nước Mỹ La-tinh. Vào năm 1938, Bộ Ngoại giao đã lập ra Vụ Quan hệ Văn hóa và hai năm sau đó bổ sung thêm với một Văn phòng Sự vụ Liên Mỹ Châu, dưới quyền Nelson Rockerfeller, người đã tích cực quảng bá thông tin và văn hóa Hoa Kỳ vào các nước Mỹ La-tinh. Vào năm 1939, Đức đã cho phát sóng 7 giờ một tuần, còn Mỹ phát 12 tiếng một tuần đến các nước Mỹ La-tinh. Vào năm 1941, Mỹ cho phát sóng 24 tiếng 1 ngày. [9]
Sau khi Mỹ tham chiến, chương trình tiến công về văn hóa của Hoa Kỳ đã lan tầm toàn cầu. Vào năm 1942, Roosevelt đã lập ra Phòng thông tin thời chiến (OWI) để xử lý các thông tin được cho là chính xác, còn tổ chức tình báo OSS (Phòng Dịch vụ Chiến lược) bao gồm việc phân phối các thông tin bị cố tình bóp méo tại các phòng ban chức năng. Nhóm OWI thậm chí còn hoạt động để uốn nắn các tác phẩm của Hollywood cho trở thành các công cụ tuyên truyền hữu hiệu, đề nghị thêm vào hay lược bỏ đối với phim ảnh và từ chối cấp phép cho một số bộ phim.[10] Các nhà quản lý của Hollywood, được thúc đẩy bởi lòng yêu nước và do lợi ích cá nhân, cũng vui vẻ hợp tác. Theo Richard Pell, ngay trước Chiến tranh Lạnh, “giới quản lý các công ty cũng như ngành quảng cáo Mỹ và những người đứng đầu Hollywood đã bán không chỉ các sản phẩm của Mỹ mà còn phân phối các giá trị và văn hóa Mỹ cũng như bí quyết thành công của họ đến với thế giới.” [11]Các nguồn lực sức mạnh mềm thời chiến đã được tạo ra một phần nhờ chính phủ và một phần từ các cơ quan độc lập.
Radio cũng đóng góp một vai trò quan trọng. VOA cũng đã phát triển nhanh chóng trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Phỏng theo cách tiếp cận của BBC, năm 1943 VOA đã có 23 làn sóng phát 27 ngôn ngữ khác nhau. Sau chiến tranh, tiếp theo là cuộc Chiến tranh Lạnh và mối đe dọa từ Liên Xô, VOA đã tiếp tục phát triển và đi theo sự phát triển ấy là những tranh luận ngày càng gia tăng về việc liệu VOA đã trở thành cổng thông tin bị khống chế bởi các nguồn tin chính phủ hay VOA là một đại diện độc lập của văn hóa Mỹ. Các trạm phát sóng đặc biệt đã được bổ sung vào như Đài phát thanh tự do (RL) hay Đài Châu Âu Tự do (FRE) đã sử dụng các kiều dân lưu vong nhằm phát thanh đến khối Đông Âu. Một cách tổng quát hơn nữa, khi Chiến tranh Lạnh ngày càng leo thang, có hai luồng ý kiến liên quan. Một luồng hoan nghênh các thông tin chậm về Ngoại giao văn hóa như nghệ thuật, sách báo và những trao đổi văn nghệ, còn một luồng khác thì quan tâm hơn đến các thông tin nhanh chóng hơn như radio, phim ảnh, tin tức phát hình, vốn hứa hẹn sẽ mang lại các kết quả nhanh chóng, dễ thấy và trực diện hơn.[12]
Trong suốt cuộc Chiến tranh lạnh, những người ủng hộ hai phương cách trên đã tranh cãi qua câu hỏi liệu chính phủ có cần phải đầu tư vào sức mạnh mềm hay không. Những người cứng rắn không nhân nhượng với cách thức tuyên truyền trực tiếp còn những người mềm mỏng cho rằng để thay đổi thái độ của ngoại quốc thì sẽ cần đo lường trong nhiều năm.[13] Giữa hai phái cũng có những tranh luận về việc chính phủ nên cai quản các chương trình do chính phủ đài thọ chặt chẽ đến mức độ nào. Tựu trung, theo Reinhold Wagnleiter, các chương trình văn hóa đối ngoại của Mỹ đã bị cuốn theo con nước xoáy của chính sách đối ngoại chống cộng kịch liệt.” Một ví dụ, có một đạo luật đã nêu rằng các thư viện hải ngoại của chúng ta nên “khách quan, nhưng mặt khác, các thư viện của chúng ta chính xác phải là các thư viện có công năng đặc biệt. Điều tối ưu mà chúng ta hy vọng sẽ đạt đến đó chính là duy trì ảo giác về tính khách quan của các thư viện ấy với mọi bên.”[14] Lằn ranh giữa thông tin và tuyên truyền vô cùng mong manh. Henry James Jr, một viên chức thuộc Bộ Ngoại giao đã lưu ý rằng các tập tạp chí phê phán chính sách của nội các Truman và các trước tác liên quan đến vấn đề chủng tộc đã gây ấn tượng đối với độc giả ngoài nước về “độ đáng tin cậy của nguồn tư liệu.” Những công kích của Thượng Nghị Sĩ McCarthy đã tạo nên một làn sóng cuồng nhiệt và kiểm duyệt thông tin ngắn ngủi, tuy nhiên các đạo luật ban hành năm 1953 đã tái lập sự quân bình.[15]
Những tranh biện này dai dẳng bất chấp các cải tổ của các thể chế Hoa Kỳ đối với mặt trận Ngoại giao công chúng trong suốt nhiều năm. Cuộc tranh luận nhà nước nên cố kiếm soát các công cụ của sức mạnh mềm trực tiếp và gián tiếp đến đâu không thể nào được giải quyết rốt ráo vì cả hai bên đều có lý lẽ rất vững chắc. Trong 46 năm sau kể từ 1953, cơ quan trung tâm chuyên lo Ngoại giao công chúng của Mỹ là Cục Thông tin Hoa Kỳ (USIA -United States Information Agency). Năm 1978, VOA được sáp nhập vào cơ quan này và vào những năm 1980, nội các Reagan đã cố gắng làm cho hai cơ quan này đáp ứng trực tiếp hơn nữa đối với các mục tiêu trước mắt của chính phủ.[16] Vào năm 1999, USIA đã được giải tán và các phòng ban chức năng của nó đã được sát nhập vào Bộ Ngoại giao. Tại đây, cơ quan này được tiếp xúc thân cận hơn với các trung tâm chính sách, còn VOA và các cơ quan chuyên biệt của họ thì được giao về cho một thực thể lưỡng đảng, đó là Ban phát sóng trực thuộc Chính quyền [Broadcasting Board of Governors]. Hiện nay VOA đang phát 53 ngôn ngữ đến với khoảng 91 triệu thính giả trên thế giới.[17]
Quan trọng hơn những thay đổi trong việc tái tổ chức là thái độ kém quan tâm đến sức mạnh mềm của thời hậu chiến. Thật vậy, Tổng thống  Eisenhower đã nói khi đã hết nhiệm kỳ rằng lẽ ra ông đã phải rút phần ngân sách chi tiêu cho quân lực để củng cố USIA, tuy nhiên điều đó cũng không phải là tiêu biểu. Một người quan sát đã phát biểu: “Có lẽ ngoại trừ Dwight Eisenhower, không có một Tổng thống  nào coi trọng vị trí giám đốc USIA. Trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, [giám đốc USIA là Edward R.] Murrow đã không can dự. Ông đã phát biểu rằng ông thích tham dự từ đầu, không phải đợi đến cờ tàn mới có mặt.[18] Ngay cả trong thời gian Chiến tranh Lạnh vào thập kỷ 1970, Pháp và Đức đã chi tiêu nhiều hơn cho các cơ quan chức năng chuyên về  thông tin chính sách và giao lưu văn hóa hơn Mỹ về con số tuyệt đối, còn Anh và Nhật chi tiêu nhiều hơn trên tỷ lệ của nguồn ngân sách, số cụ thể là 0.23% (Anh) và 0.14% (Nhật) so với các khoản chi này của Mỹ chỉ là 0.11%. Vào năm 1975, “lãnh đạo thế giới tự do” đã xếp thứ năm trong hàng ngũ các đồng minh phương Tây về khoản đầu tư cho các nguồn lực sức mạnh mềm.[19]
Với việc kết thúc Chiến tranh Lạnh, người Mỹ đã quan tâm hơn đến tiết kiệm chi tiêu thay vì gia tăng đầu tư cho sức mạnh mềm. Từ 1963 đến 1993, ngân sách liên bang tăng gấp 15 lần, nhưng ngân sách dành cho USIA chỉ tăng 6.5 lần. USIA có hơn 12 ngàn nhân viên tại thời gian đỉnh điểm vào giữa những năm 1960, nhưng sau đó chỉ còn 9000 vào 1994 và 6715 vào thời điểm sát nhập trở lại với Bộ ngoại giao.[20] Xem chừng sức mạnh mềm có vẻ không quan trọng gì cả. Từ năm 1989 đến năm 1999, ngân sách dành cho USIA, có tính trừ hao lạm phát, đã giảm 10%. Trong khi các chương trình phát sóng do chính phủ tài trợ hàng tuần đã vươn ra một nửa dân số Liên Xô và khoảng từ 70 đến 80% dân số của Đông Âu trong suốt cuộc Chiến tranh Lạnh, vào đầu thế kỷ mới, chỉ có 2% dân Ả-rập nghe được đài VOA.[21] Các nguồn lực dành cho USIA ở Indonesia, nước có dân số theo đạo Hồi lớn nhất thế giới, đã bị cắt xuống còn một nửa. Từ 1995 đến 2001, các trao đổi về văn hóa và khoa học đã giảm từ 45 ngàn lượt xuống còn 29 ngàn lượt hàng năm, và có nhiều trung tâm văn hóa cũng như thư viện đã bị đóng cửa. [22] Vào năm 2003, dịch vụ BBC World Service đã có 150 triệu người nghe hàng tuần trên toàn thế giới trong khi VOA chỉ có ít hơn 100 triệu người nghe.[23] Dường như quá ít người Mỹ nhận ra rằng với cuộc cách mạng thông tin đang diễn ra, tầm quan trọng của sức mạnh mềm đã gia tăng thay vì giảm thiểu. Chỉ sau tháng 9 năm 2001 thì người Mỹ mới tái khám phá ra tầm quan trọng của việc đầu tư vào sức mạnh mềm, và sự đầu tư ấy có phần chưa thích hợp; năm 2003 VOA đã giảm các chương trình phát thanh tiếng Anh xuống 25%.[24]
Ngoại giao công chúng trong thời đại thông tin
Quảng bá những hình ảnh tích cực của một quốc gia là một việc làm không mới lạ, song các điều kiện để khai triển sức mạnh mềm đã thay đổi khá lớn trong những năm gần đây. Một lý do là gần một nửa các quốc gia trên thế giới hiện nay là các quốc gia dân chủ.[25] Mô thức Chiến tranh Lạnh trong đó hai hệ thống quốc gia cạnh tranh nhau về chính trị xã hội đã trở nên không còn là một chỉ dẫn phù hợp cho chính sách Ngoại giao công chúng. Trong khi vẫn còn nhu cầu cung cấp tin tức chính xác cho dân chúng ở những nước như Miến Điện hay Syria, vốn vẫn bị lãnh đạo kiểm soát thông tin, vẫn còn đó những đòi hỏi mới làm sao tạo cho được hình ảnh tích cực cho công chúng tại các nước như Thổ Nhĩ Kỳ và Mexico, những nơi mà quốc hội giờ đây có thể tác động tới quá trình ra quyết định chính sách. Khi Mỹ tìm kiếm sự ủng hộ của các nước này cho cuộc chiến Iraq, sự phí phạm sức mạnh mềm của chính phủ Mỹ đã hạn chế thay vì tạo điều kiện cho các chính sách của mình. Định hình ý tưởng công chúng trở nên quan trọng hơn tại các nước nơi chính phủ chuyên chế được thay thế bằng các chế độ dân chủ. Ngay cả khi giới lãnh đạo nước ngoài tỏ ra thân thiện với Mỹ, thì phạm vi hành xử của họ cũng bị hạn chế nếu như công chúng và quốc hội có ấn tượng không thiện cảm đối với Mỹ và chính sách của Mỹ. Trong những trường hợp này, chính sách Ngoại giao nhắm đến ý kiến công chúng trở nên quan trọng đối với các kết quả sau cùng không kém hình thức liên lạc trực tiếp truyền thống qua đường chính thức giữa các nhà lãnh đạo với nhau.
Thông tin là sức mạnh, và ngày nay một tỷ lệ lớn dân số thế giới đã có được khả năng tiếp cận với thông tin. Đã qua rồi thời kỳ “các nhóm nhỏ những viên chức Ngoại giao Mỹ phải lái xe Jeep đi vào các vùng Mỹ La-tinh và các vùng xa xôi hẻo lánh khác để chiếu phim cho các khán giả ít tiếp xúc với thế giới.”[26] Những tiến bộ kỹ thuật đã làm giảm thiểu một tỷ lệ lớn các chi phí xử lý và truyền đạt thông tin. Kết quả là một sự bùng nổ thông tin kéo theo một “nghịch lý vì thông tin quá phong phú.”[27] Thông tin nhiều thì lại dẫn đến việc ít chú tâm đến thông tin. Khi người ta cảm thấy choáng ngợp với lượng thông tin xung quanh họ thì họ sẽ gặp khó khăn không biết phải phân biệt và nên lưu ý đến thông tin gì hơn. Quan tâm của công chúng sẽ trở nên ít hơn bản thân các thông tin và những ai phân biệt được thông tin nào là giá trị trong cái nền hỗn độn ấy sẽ có sức mạnh hơn. Các nhà biên tập và những thông tín viên chuyên dò la tin tức sẽ có giá hơn, và những người này sẽ là những nguồn sức mạnh mềm cho những hãng thông tấn trong việc chỉ cho chúng ta biết nên quan tâm đến điều gì.
Thêm nữa, công chúng đã càng ngày càng thận trọng và nhạy cảm hơn đối với các nguồn tin tuyên truyền. Trong số các biên tập viên và các nhà lãnh đạo thông tấn, sự đáng tin cậy sẽ là một nguồn lực quan trọng, một nguồn lực quyết định cho sức mạnh mềm. Danh tiếng sẽ quan trọng hơn ngày trước và các cuộc tranh giành vị thế chính trị sẽ xoay quanh sự sáng tạo hay loại trừ uy tín của nhau. Các chính phủ không chỉ cạnh tranh với nhau về độ khả tín mà còn với một loạt các chủ thể khác như giới truyền thông, các công ty, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên chính phủ và hệ thống các cộng đồng khoa học.
Chính trị đã trở thành một cuộc thi thố về độ khả tín. Thế giới chính trị quyền lực tiêu biểu trước nay là cuộc cạnh tranh ai thắng ai về kinh tế và quân sự. Chính trị trong thời đại thông tin sẽ “có thể là cuộc cạnh tranh xem ai kể chuyện thuyết phục hơn,” theo lời hai chuyên gia của RAND về chính trị và thông tin.[28] Các nhà nước sẽ cạnh tranh lẫn nhau và cạnh tranh với các tổ chức khác để gia tăng độ khả tín của mình và làm suy yếu mức độ tin cậy của các đối thủ. Chúng ta hãy xem lại cuộc chạy đua giữa Serbia và NATO trong việc định hình cách diễn giải các sự kiện ở Kosovo năm 1999 và các sự kiện ở Serbia một năm sau. Trước các cuộc biểu tình dẫn đến sự sụp đổ của Slobodan Milosevic vào tháng 10 năm 2000, 45% người Serb trưởng thành đã bắt sóng RFE và VOA, chỉ có 31% nghe đài do nhà nước phát sóng, Radio Belgrade.[29] Vả lại, đài nội địa của Serbia, B92, đã cung cấp thông tin của phương Tây cho thính giả, và sau khi nhà nước tìm cách ngưng phát sóng, thì đài này đã cung cấp các thông tin ấy trên mạng Internet.[30]
Danh tiếng luôn đóng vai trò quan trọng trong nền chính trị quốc tế, nhưng vai trò của sự khả tín trở nên quan trọng hơn nhiều bởi “nghịch lý vì thông tin quá phong phú.” Các thông tin bị phát hiện là tuyên truyền sẽ không chỉ bị khán thính giả xem thường mà còn phản tác dụng nếu nguồn thông tin ấy làm hỏng đi hình ảnh đáng tin cậy của một đất nước. Những cáo buộc phóng đại về sự hiện hữu chắc chắn kho vũ khí hủy diệt hàng loạt của Saddam cũng như các mối liên hệ của ông ta với Al Qaeda có thể đã giúp vận động ủng hộ cho cuộc chiến Iraq, song sự thật về mức thổi phồng ấy sau đó đã giáng một cú chí mạng vào mức độ khả tín của Anh và Mỹ. Trong điều kiện của thời buổi thông tin đến từ nhiều nguồn khác biệt hiện nay, gia tăng việc đưa thông tin một cách mềm mại có lẽ hiệu quả hơn là áp đặt.
Định hình ngoại giao công chúng
Vào năm 1963, Edward R. Morrow, nhà làm truyền thông nổi tiếng, Giám đốc USIA trong thời Kenedy, đã định nghĩa Ngoại giao công chúng là những tương tác không nhằm đến các chính phủ nước ngoài mà chủ yếu hướng đến các cá nhân và tổ chức phi chính phủ, và thường xuyên thể hiện sự đa dạng trong quan điểm cá nhân bổ sung vào quan điểm của chính phủ.[31] Theo Mark Leonard, một chuyên gia người Anh chuyên về Ngoại giao công chúng, những người hoài nghi xem chữ “Ngoại giao công chúng” như là một uyển ngữ của công việc tuyên truyền đã đi lệch trọng tâm. Ngoại giao công chúng cũng không phải là quan hệ công chúng (PR). Chuyển tải thông tin và truyền bá những hình ảnh tích cực chỉ là một phần của Ngoại giao công chúng, tuy nhiên Ngoại giao công chúng còn liên quan đến xây dựng những quan hệ lâu dài nhằm kiến tạo môi trường khả dĩ cho chính sách của nhà nước.
Có ba chiều kích trong Ngoại giao công chúng, cả ba đều quan trọng như nhau và chúng đòi hỏi sự phân bố khác nhau tương ứng trong việc thông tin của chính phủ, cũng như những giao lưu văn hóa dài hạn.[32] Chiều kích thứ nhất và cũng là trực diện nhất chính là sự giao tiếp hàng ngày, liên quan đến việc diễn giải bối cảnh của các quyết định đối ngoại và đối nội. Sau khi ra quyết định, các viên chức chính phủ tại các nền dân chủ hiện đại thường lưu ý rất nhiều về nội dung và cách thức truyền đạt đến giới truyền thông. Họ thường tập trung vào báo chí quốc nội, tuy nhiên đội quân báo chí nước ngoài mới là mục tiêu quan trọng nhất cho chiều kích số một của Ngoại giao công chúng. Leonard cảnh báo rằng có nhiều chính phủ đã mắc sai lầm khi giải thích các quyết định đối nội chỉ hướng đến các đối tượng trong nước mà không nhận ra tầm ảnh hưởng của các hành động và sự giải thích các hành động trên bình diện quốc tế của quốc gia họ. Ví dụ, sau một loạt các tai nạn đường sắt, báo chí Anh Quốc đã mỉa mai nước Anh là “một nước thuộc thế giới thứ ba.” Vì không giải thích bối cảnh, một số báo chí các nước khác khi lặp lại những từ ngữ ấy trong các bài báo của mình đã góp phần mô tả Anh Quốc như một quốc gia đang suy thoái.
Chiều kích hàng ngày này cũng phải liên quan đến việc chuẩn bị cho khủng hoảng và và phản ứng lại việc bị công kích. Một khả năng ứng phó nhanh chóng bao gồm bảo đảm sao cho các cáo buộc sai lầm hay các thông tin bị bóp méo phải có người trả lời cấp thời. Ví dụ, khi Al Jazeera phát hình Osama bin Laden lần đầu tiên vào ngày 7/10/2001, các viên chức Mỹ đã tìm cách ngăn không cho Al Jazeera và hệ thống truyền thông Mỹ phát lại các thông điệp của bin Laden. Thế nhưng trong thời đại thông tin hiện đại, điều đó không chỉ vô lý như cố gắn ngăn thủy triều lên mà còn đi ngược lại giá trị mở mà Mỹ muốn đại diện. Cách đối phó tốt hơn là chuẩn bị để làm sao tràn ngập kênh Al Jazeera và các mạng lưới truyền thông khác bằng những phát biểu của Mỹ nhằm phản công thông điệp hận thù của bin Laden.  Dù cho đài Al Jazeera đặt tại Qatar và các đài nước ngoài khác khó có thể không thiên vị, họ vẫn cần nội dung để đăng tải. Thật ra trưởng đại diện của đài này ở Washington đã mời người Mỹ “xin hãy đến trò chuyện với chúng tôi, hãy khai thác chúng tôi.”[33]
Chiều kích thứ hai là truyền thông chiến lược, trong đó một loạt các chủ đề đơn giản được triển khai, giống như những gì xảy ra trong các chiến dịch chính trị hay quảng cáo. Chiến dịch này sẽ vạch kế hoạch cho các sự kiện và cách truyền thông mang tính biểu tượng trong vòng một năm nhằm định vị chủ đề chính hoặc quảng bá một chính sách cụ thể nào đó của chính phủ. Đôi khi, hoạch định thì dễ chứ làm thì khác. Ví dụ, vào những năm 1990 khi Hội đồng Anh quảng bá hình ảnh Anh Quốc như là một đảo quốc hiện đại, đa chủng tộc và sáng tạo, thì các giới chức ngành du lịch Anh Quốc lại bận rộn quảng bá truyền thống, các lễ hội và lịch sử Anh Quốc. Ngoài ra các sự kiện cũng có thể làm cho việc định vị bị lệch hướng. Ví dụ, công sức nhiều năm nhấn mạnh chủ đề Anh Quốc là một thành viên trung thành của Cộng đồng Châu Âu đã bị xói mòn khi năm 2003 Anh Quốc tách khỏi Pháp và Đức để ủng hộ Hoa Kỳ trong cuộc chiến với Iraq. Trong mắt của công chúng tại nhiều quốc gia, sự kiện này củng cố thêm hình ảnh khó coi đó là Anh chẳng qua là một chư hầu của Mỹ mà thôi.
Những chủ đề đặc biệt sẽ tập trung vào các sáng kiến về chính sách cụ thể. Xin đơn cử một trường hợp: khi chính phủ Reagan quyết định thực thi một nghị quyết của NATO nhằm theo đuổi một chính sách có hai phần là triển khai tên lửa trong khi vẫn đàm phán để di dời các tên lửa tầm trung của Liên Xô, Liên Xô đã đáp trả bằng một chiến dịch nhuần nhuyễn tác động đến công chúng Châu Âu và khiến cho việc triển khai tên lửa ấy không thể tiến hành. Các chủ đề của Hoa Kỳ nhấn mạnh tính chất đa phương của nghị quyết NATO, cổ vũ các chính phủ Châu Âu nắm lấy quyền lãnh đạo khi có thể và sử dụng các thành viên phi chính phủ của Hoa Kỳ lên tiếng một cách hữu hiệu để chống lại các lập luận của Liên Xô. Dù cho các cuộc trưng cầu ở Đức cho thấy sự lưỡng lự của công chúng Đức về chính sách này, các kết quả trưng cầu cũng cho thấy hai phần ba người Đức ủng hộ Hoa Kỳ. Cựu Bộ Trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ George Schultz sau này tổng kết: “Tôi không nghĩ rằng chúng ta đã có thể rút lui nếu như không có chương trình Ngoại giao công chúng mạnh mẽ như vậy. Người Nga rất năng động trong suốt năm 1983… trong vận động hòa bình và trong các nỗ lực thuyết phục các đồng minh Châu Âu của chúng ta không nên triển khai dự án.” [34]
Chiều kích thứ ba của Ngoại giao công chúng là sự phát triển các mối quan hệ bền vững với các cá nhân quan trọng trong nhiều năm thông qua học bổng, trao đổi học thuật, các khóa huấn luyện, các hội thảo, hội nghị và tiếp cận với các kênh truyền thông. Trong các thập kỷ hậu chiến, khoảng 700 ngàn người đã tham gia vào các cuộc trao đổi văn hóa và khoa học với Hoa Kỳ và những trao đổi này đã giúp đào tạo những lãnh đạo thế giới như Anwar Sadat, Helmut Schmidt va Magaret Thatcher.[35] Charlotte Beers, cựu thứ trưởng Ngoại giao phụ trách Ngoại giao công chúng, đã chỉ ra rằng những trao đổi ấy đã liên quan đến hơn 200 cựu nguyên thủ, và một nửa trong số các nhà lãnh đạo trong liên minh chống khủng bố đã từng là khách mời của các cuộc trao đổi học thuật này. “Đây chắc hẳn là cuộc trao đổi mang lại nhiều lợi ích nhất cho chính phủ”, bà cho biết.[36] “Các nước khác cũng có những chương trình tương tự. Ví dụ Nhật đã có một chương trình trao đổi đặc sắc mang về 6.000 thanh thiếu niên từ 40 nước khác đến Nhật mỗi năm để dạy tiếng của đất nước họ ở các trường học của Nhật, và chương trình học sẽ có các liên kết để duy trì tình hữu nghị mà các khóa học này đã gây dựng.
Mỗi một chiều kích của Ngoại giao công chúng đóng một vai trò quan trọng nhằm hỗ trợ tạo dựng hình ảnh tích cực của đất nước và để cải thiện kỳ vọng sao cho kết quả tốt hơn. Tuy nhiên, biển quảng cáo tốt nhất cũng không thể giúp bán được món hàng mà công chúng đã không ưa, và như chúng ta đã thấy trong Chương 2, các chính sách chỉ nhìn qua là thấy phục vụ mục đích ích kỷ của nước ban hành hay được thể hiện một cách cao ngạo thì sẽ chỉ làm tiêu hao chứ không phát huy được sức mạnh mềm. Tốt nhất, tình thân hữu bền vững sẽ làm cho các bên trong cuộc nhẹ nhàng hơn trong ứng phó. Đôi khi bạn hữu sẽ có thể làm lợi cho chúng ta nhờ ở việc họ sẽ dễ nói ra các nghi ngờ của họ và bạn bè thì sẽ dễ dàng khoan thứ cho nhau hơn.
Một chiến lược truyền thông không thể phát huy hiệu quả được nếu như chiến lược ấy làm ảnh hưởng đến chính sách chung. Hành động sẽ trả lời mạnh mẽ hơn là lời nói suông, và Ngoại giao công chúng nào có vẻ như bày biện khoe mẽ cho việc triển khai quyền lực cứng sẽ khó mà thành công. Sir Michael Butler, một nhà Ngoại giao Anh ngưỡng mộ Hoa Kỳ đã giải thích: “Nếu người ta cảm nhận chính phủ của bạn là tư lợi, phản động và không giúp ích gì cho cộng đồng, thì chính phủ ấy sẽ cản trở bước đường của bạn – như chính phủ Mỹ hiện nay.”[37] Vào năm 2003, Newt Gingrich, cựu Chủ tịch Hạ viện Mỹ, đã chỉ trích Bộ Ngoại giao vì đã thất bại trong quảng bá chính sách của Mỹ về Iraq.[38] Nhưng để quảng bá được một ý tưởng thì phải thâm nhập được vào các môi trường thực tế, và nếu xét về khía cạnh đó thì lỗi không thể quy kết cho mỗi Bộ ngoại giao. Gingrich cũng đã phàn nàn về việc Mỹ bị loại khỏi Ủy ban Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc vào năm 2001. Điều này bắt nguồn từ việc trả đũa Mỹ không trả hội phí cho Liên Hiệp Quốc (chính sách này bắt nguồn từ Quốc Hội) và các chính sách đơn phương của chính phủ Bush vừa lên cầm quyền. Chính sách này vốn có gốc rễ từ các cơ quan hành pháp khác, thường bỏ ngoài tai những cảnh báo của Bộ Ngoại giao. Thượng Nghị Sĩ Charles Hagel, một đảng viên Cộng hòa của Nebraska, đã ghi nhận rằng, sau ngày 11/9, rất nhiều người ở Washington đã bất ngờ lên tiếng về việc cần phải cái tổ chính sách Ngoại giao công chúng của Mỹ để có thể “đưa các thông điệp của chúng ta ra ngoài”. Thế nhưng cái cách đóng gói hàng hóa theo kiểu các tiệm hàng ở Đại lộ Madsison Avenue cũng không thể giúp tiếp thị một sản phẩm vừa mâu thuẫn vừa rối rắm như vậy được… Chính sách và thuật ngoại giao phải ăn khớp với nhau, nếu không thì việc đưa các sản phẩm ra bàn dân thiên hạ sẽ trở thành một mớ loằng ngoằng các thông điệp lộn xộn.” [39]
Chính sách Ngoại giao công chúng hữu hiệu sẽ là một con đường hai chiều liên quan đến chiều lắng nghe và chiều phát biểu. Sức mạnh mềm đặt căn bản trên một hệ thống các giá trị mà các bên cùng chia sẻ. Đó là lý do tại sao việc hai bên trao đổi thì sẽ hiệu quả hơn là một bên phát biểu ý kiến. Định nghĩa đã xác định rằng sức mạnh mềm có nghĩa làm sao cho kẻ khác quý trọng những kết quả mà ta yêu quý. Và để làm được điều đó cần phải hiểu được kẻ khác diễn giải những thông điệp của ta như thế nào và từ đó người phát thông điệp sẽ có thể điều chỉnh tần số sao cho hợp lý. Hiểu được đối tượng truyền đạt cũng là một việc làm quan trọng. Tuy vậy công tác khảo sát ý kiến quần chúng của Mỹ tại các nước khác tiếc thay lại bị rút bớt ngân sách mỗi năm là 5 triệu đô la Mỹ và trong thập kỷ vừa qua thì ngân sách này đã ngày càng trượt dốc.[40]
Thuyết giảng cho người nước ngoài không phải là cách tốt nhất để thay đổi quan niệm của họ. Thường thì các nhà lãnh đạo chính trị luôn cho rằng vấn đề chỉ đơn thuần là do người khác nắm ít thông tin, và đơn giản nếu như người khác hiểu rõ vấn đề như ta thì họ sẽ có cách nhìn giống chúng ta. Tuy nhiên tất cả các thông tin lại được nhìn nhận thông qua các lăng kính văn hóa và các phát biểu hoa lá cành sẽ chỉ được người ta nghe xong rồi bỏ ngoài tai mà thôi. Phát biểu thường ít có tác động hơn nhiều so với hành động và các biểu tượng đi cùng lời nói.  Đó là lý do tại sao các sáng kiến của của chính phủ Bush thúc đẩy gia tăng cho viện trợ phát triển hay gia tăng công tác chống HIV/AIDS lại có tác dụng quan trọng đến thế.
Phủ sóng rộng thông tin là quan trọng nhưng việc truyền thông này cần phải có sự bổ sung của phủ sóng hẹp, có nghĩa là có các thông điệp mục tiêu cho các nhóm người cụ thể – thông qua Internet. Tuy Internet chỉ có thể đến với tầng lớp tinh hoa ở nhiều nơi trên thế giới vì hầu hết nhân loại chưa đủ khả năng có điện thoại, chưa nói đến máy tính, nhưng sự linh động và giá hạ của Internet hiện nay đã cho phép truyền bá đến những nhóm mục tiêu xác định. Internet cũng giúp đưa thông tin đến các nước nơi mà chính phủ phong tỏa các kênh tin tức truyền thống. Internet cũng có thể sử dụng một cách tương tác và kết hợp với các trao đổi khác. Việc truyền đạt mặt-đối-mặt vẫn là cách thức hiệu quả nhất, nhưng phương cách này vẫn có thể được Internet bổ sung và củng cố. Ví dụ, việc kết hợp giữa các cuộc viếng thăm và dùng Internet có thể gây dựng cả hai mạng lưới thực và ảo bao gồm các công dân trẻ khao khát học hỏi từ những nền văn hóa khác. Hoa Kỳ cũng có thể học tập Nhật Bản trong việc đài thọ cho giới trẻ nước ngoài để họ dành một năm dạy ngôn ngữ và văn hóa của họ tại các trường của Mỹ. Những chương trình học tập này sẽ có thể tạo nên những hội đoàn liên kết nhau trên Internet.



[1] “Quyền lực hạn chế của túi tiền,” The Atlantic Monthly, tháng 11/2003. Trg 54. Để nghiên cứu sâu, đọc Gary Hufbauer, Jeffrey J.Schott và Kimberley Elliott, Nhìn lại các cuộc cấm vận kinh tế. 2nd ed. (Washington, D.C.: Học viện Kinh tế Quốc tế, 1990)
[2] Tác giả cảm ơn Jane Holl Lute đã chia sẻ ý tưởng này trong buổi trình bày đến Nhóm Chiến Lược Aspen vào tháng 8/2003.
[3] Richard Pells, Không giống chúng ta (New York Basic books, 1997), trg.31-32.
[4] Harold Lasswell, cited in Philip M. Taylor, Tuyên truyền của Anh quốc trong thế kỷ 20 (Edinburg; Ban tu thư Đại Học Edinburg,1999), p.37
[5] Creel dẫn lời Emily Rosenberg, Lan Tỏa Ước mơ Mỹ (New York: Hill &Wang, 1982),p.79
[6] Sách đã dẫn. Trang 100
[7] Eden trích dẫn Reinhold Wagnleitner, Thực dân hóa coca và chiến tranh lạnh (Chapel Hill: Ban tu thư Đại Học Bắc Carolina, 1994), trg 50.
[8] Pells, Không giống chúng ta, trg 33
[9] Rosenberg. Lan Tỏa Ước mơ Mỹ. Trg 208
[10] Sách đã dẫn., trg 209-11
[11] Pells,  Không giống chúng ta, trg xiii
[12] Rosenberg. Lan Tỏa Ước mơ Mỹ. Trg 215-217
[13] Terry Deibel và Walter Roberts, Văn hóa và thông tin: hai nhiệm vụ của chính sách đối ngoại (Beverly Hills; Sage Publications, 1976) trg 14-15
[14] Wagnleitner, Thực dân hóa coca, Trg 58.
[15] Mary Niles Maack, “Sách và thư viện-những khí giới Ngoại giao văn hóa tại Châu Phi nói tiếng Pháp thời chiến tranh lạnh,” Thư Viện Va Văn Hóa 36 (Mùa Đông 2001). Trg 66
[16] Carnes Lord, “Quá khứ và tương lai của Ngoại giao công chúng,” Orbis, Mùa Đông 1998, Trg 49-72
[17] Rosaleen Smyth, “Lược khảo Ngoại giao công chúng của Mỹ trong thế kỷ 21,”Tạp Chí Úc về quan hệ quốc tế 55, số 3 (2001) trg 429
[18] Leo Bogart, Chiến tranh mát, chiến tranh lạnh (Washington D.C.: Ban tu thư Đại Học American, 1995)Trg xvii,xxix.
[19] Deibel and Roberts, Văn hóa và thông tin, trg 23
[20] Bogart, Chiến tranh mát, chiến tranh lạnh, trg xxiv, and Leo Bogart, “Lịch sử Bộ Ngoại giao trong nhiệm kỳ Bill Clinton (1993-2001),Văn phòng Sử Gia, Phòng Công Vụ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, xem tại: http//www.state.gov/r/pa/ho/pubs/8518.htm.
[21] Anthony J. Blinken, “Chiến thắng chiến tranh tư tưởng,” trong Alexander T.J. Lennon, ed., Cuộc chiến tranh giành trái tim và khối óc; Sử dụng sức mạnh mềm để triệt phá các mạng khủng bố (Cambridge, Mass.: MIT Press, 2003), trg 287.
[22] Stephen Johnson and Helle Dale,”Cách thức tái khởi động Ngoại giao công chúng của Hoa Kỳ,” Heritage Foundation Backgounder no 1645 (Washington D.C.:Heritage Foundation,2003) xem tại http://www.heritage.org/research/nationalsecurity/bg1645.cfm, trg 4
[23] BBC world service, Báo cáo thường niên 2002-2003, “Khảo lược dịch vụ quốc tế và tin tức toàn cầu,” xem tại: http://www.bbc.co.uk/info/report2003/pdf/worldservice.pdf, trg 4
[24]  Sanford J.Ungar, “Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, đã tắt” Washington Post, 10 tháng 11 năm 2003, trg A 25
[25] Fareed Zakaria, “Sự trỗi dậy của dân chủ khép kín” Tạp chí Ngoại giao, Nov-Dec 1997, trg 22. Xin xem thêm tại Fareed Zakaria, “Tương lai của tự do: dân chủ khép kín quốc nội và quốc ngoại.”(New York: Norton, 2003)
[26] Christopher Ross, “Ngoại giao công chúng, thời đại mới,”  trong Cuộc chiến tranh giành trái tim và khối óc (Cambridge, Mass.: Ban tu thư MIT, 2003) trg 252
[27] Herbert A. Simon, “Thông tin 101: Không phải nội dung mà là cách thức hiểu biết” Tạp chí chất lượng và tham gia. Tháng 7 tháng 8, 1998 trg 30-33
[28] John Arquilla and David Ronfeldt, Tính cấp thiết của Tân Chính Trị: hướng đến một chiến lược thông tin của Hoa Kỳ (Santa Monica, RAND Corporation, 1999) trg 53
[29] Edward Kaufman, “ Một chiến lược phát sóng để chiến thắng những cuộc chiến truyền thông,” trong  Cuộc chiến tranh giành trái tim và khối óc (Cambridge, Mass.: Ban tu thư MIT,2003), trg 303
[30] Matthew Collin, Chiến tranh du kích qua radio (New York: Nation books, 2001)
[31] Murrow trích Mark Leonard, Ngoại giao công chúng, (London:Trung Tâm Chính Sách Đối Ngoại, 2002, trg i.
[32] Leonard, Ngoại giao công chúng, chương 3
[33] Blinken, “Chiến thắng chiến tranh tư tưởng,” trg 291
[34] Hans N. Tuch, Giao tiếp với thế giới: Ngoại giao công chúng của Mỹ ở nước ngoài (New Yorek: Ban tu thư St Maryins, 1990) chương 12
[35] Stephen Johnson and Helle Dale,”Cách thức tái khởi động Ngoại giao công chúng của Hoa Kỳ,” trg 2
[36] Beers trích Leonard, Ngoại giao công chúng, trg 19
[37] Butler dẫn tại sđd, trg 14
[38] Newt Gingrit, “Bộ tạp giao” (Rogue State Department), Chính sách đối ngoại, tháng 7 2003, trg 42
[39] Thượng nghị sĩ Chuck Hagel, “Những thách thức cho lãnh đạo thế giới,” diễn văn đọc tại câu lạc bộ Tu Thư Quốc Gia, 19/06/2003
[40] Blinken, “Chiến thắng chiến tranh tư tưởng,” trg 289

Sự trỗi dậy của chủ nghĩa chuyên chế cạnh tranh


Nguồn: Steven Levitsky & Lucan A.Way (2002). “Elections Without Democracy: The Rise of Competitive Authoritarianism”, Journal of Democracy, Vol. 13, No. 2, pp. 51-65.
Biên dịch: Nguyễn Thị Tố Uyên | Hiệu đính: Nghiêm Hồng Sơn 

Thế giới hậu Chiến tranh Lạnh được đánh dấu mới sự sinh sôi nảy nở của các chế độ chính trị lai. Trong suốt thập niên 1990, bằng những cách khác nhau và ở những mức độ khác nhau, các chính thể ở hầu khắp châu Phi (Ghana, Kenya, Mozambique, Zambia, Zimbabwe), Đại lục Âu Á hậu cộng sản (Albania, Croatia, Nga, Serbia, Ucraina), châu Á (Malaysia, Đài Loan) và châu Mỹ Latinh (Haiti, Mexico, Paraguay, Peru) đã kết hợp các nguyên tắc dân chủ với sự cai trị chuyên chế. Các học giả thường nhìn nhận những chế độ này như là những hình thức không hoàn chỉnh hay đang chuyển đổi của dân chủ. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp những nhận định (hay hy vọng) này hóa ra lại lạc quan thái quá. Đặc biệt ở châu Phi và Liên Xô cũ, nhiều chế độ hoặc duy trì dạng lai hoặc chuyển sang hướng chuyên chế. Vì vậy, có thể đã đến lúc chúng ta thôi nghĩ đến những chuyển đổi sang dân chủ của các trường hợp này và bắt đầu suy nghĩ xem thực sự chúng là những loại chế độ đặc trưng nào.
Trong những năm gần đây, nhiều học giả đã chỉ ra tầm quan trọng của các chế độ lai. Thật vậy, các bài viết học thuật gần đây đã đưa ra nhiều cách gọi khác nhau cho các trường hợp pha trộn, bao gồm trong đó không chỉ có “chế độ lai” mà còn “bán dân chủ”, “dân chủ ảo”, “dân chủ bầu cử”, “dân chủ giả tạo”, “ dân chủ phi tự do”, “chủ nghĩa bán chuyên chế”, “chủ nghĩa chuyên chế mềm”, “chủ nghĩa chuyên chế tuyển cử”, và “Tự do Một phần”1 của  Tổ chúc Ngôi nhà Tự do (Free House). Tuy nhiên phần nhiều các bài tài liệu này mắc phải hai điểm yếu quan trọng. Đầu tiên, đặc trưng của nhiều nghiên cứu là khuynh hướng thiên lệch về việc dân chủ hóa. Các nghiên cứu thường xem những chế độ pha trộn như những hình thức một phần hay “thu nhỏ” của dân chủ,2 hoặc đang trải qua những chuyển đổi kéo dài sang dân chủ. Những đặc trưng như vậy hàm ý rằng những trường hợp này đang chuyển sang chiều hướng dân chủ. Tuy nhiên, cả Jeffrey Herbst và Thomas Carothers gần đây đã lập luận rằng điều này thường không đúng.3 Mặc dù một vài chế độ lai (Mexico, Senegal, Đài Loan) trong thập niên 1990 đã trải qua những chuyển đổi dân chủ, một số khác (Azerbaijan, Belarus) thì dứt khoát chuyển sang hướng chuyên chế. Vẫn còn một số khác hoặc duy trì ổn định hoặc chuyển sang những hướng đa dạng (Malaysia, Nga, Ucraina, Zambia, Zimbabwe), khiến những hàm ý đơn hướng của từ “chuyển đổi” bị sai lệch.
Thứ hai, những thuật ngữ như “bán dân chủ”, “bán chuyên chế”, và “Tự do Một phần” thường được xếp như những nhóm chế độ còn lại và thường bỏ qua những khác biệt quan trọng giữa những chế độ này. Ví dụ, El Salvador, Latvia và Ucraina là những chế độ lai trong đầu thập niên 1990 và đều đạt sáu điểm – hay “Tự do Một phần” – từ đánh giá về quyền chính trị và các quyền tự do dân chủ của tổ chức Ngôi nhà Tự do vào năm 1992-1993. Tuy nhiên những chế độ này khác nhau về nhiều phương diện cơ bản. Trong khi ở Latvia đặc trưng phi dân chủ quan trọng nhất là việc người gốc Nga không có quyền công dân, ở El Salvador các đặc trưng phi dân chủ chính bao gồm những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và không có sự kiểm soát của chính quyền dân sự đối với quân đội. Ucraina thực thi quyền công dân tới toàn dân và đặt quân đội dưới sự kiểm soát của chính quyền dân sự, nhưng các quyền tự do dân chủ thường xuyên bị vi phạm và giới quan chức thường xuyên lạm dụng hoặc thao túng các thủ tục dân chủ. Do đó, mặc dù mỗi chế độ trong các trường hợp này có thể được phân loại thành “lai”, “bán dân chủ”, hay “tự do một phần”, những cách gọi như vậy gây mơ hồ về những điểm khác nhau cốt yếu – những điểm khác nhau có thể có những hàm ý nhân quả quan trọng. Sự pha trộn khác nhau giữa các đặc tính chuyên chế và dân chủ có những nguồn gốc lịch sử khác nhau và có tác động khác nhau về phát triển kinh tế, nhân quyền và các triển vọng dân chủ.
Định nghĩa Chủ nghĩa chuyên chế cạnh trạnh
Bài viết này xem xét một thể loại đặc thù của chế độ “lai”: Chủ nghĩa chuyên chế cạnh tranh (competitive authoritarianism). Trong những chế độ chuyên chế cạnh tranh, những thể chế dân chủ chính thức thường được xem như phương tiện chủ yếu để đạt được và thực thi quyền lực chính trị. Tuy nhiên, các quan chức thường xuyên vi phạm luật lệ và trong một chừng mực nào đó, chế độ này không thể đáp ứng những tiêu chuẩn dân chủ tối thiếu. Điển hình như Croatia dưới thời Franjo Tudjman, Serbia dưới thời Slobodan Miloševic, Nga dưới thời Vladimir Putin, Uraina dưới thời Leonid Kravchuk và Leonid Kuchma, Peru dưới thời Alberto Fujimori, và Haiti sau năm 1995, cũng như Albania, Armenia, Ghana, Kenya, Malaysia, Mexico, và Zambia trong hầu hết thập niên 1990. Mặc dù các học giả đã đánh giá đa số các chế độ này mang đặc trưng giống như những hình thức một phần hay “thu nhỏ” của nền dân chủ, chúng tôi tán thành với nhận định của Juan Linz rằng những chế độ này đúng hơn nên được xem như một hình thức (thu nhỏ) của chế độ chuyên chế.4
Cần phân định rành ròi giữa chủ nghĩa chuyên chế cạnh tranh với một bên là dân chủ và bên kia là chủ nghĩa chuyên chế hoàn toàn. Các chế độ dân chủ hiện đại đều phải đáp ứng bốn tiêu chuẩn tối thiểu:
1) Các quan chức hành pháp và lập pháp được lựa chọn thông qua các cuộc bầu cử công khai, tự do và công bằng;
2) Tất cả công dân trưởng thành đều có quyền bầu cử thực sự;
3) Các quyền chính tri và quyền tự do dân chủ bao gồm quyền tự do báo chí, tự do lập hội và tự do phê bình chính phủ mà không bị trả đũa phải được bảo vệ rộng rãi; và
4) các nhà cầm quyền được bầu ra có thẩm quyền thực sự để điều hành mà không chịu sự kiểm soát của quân đội hay các thủ lĩnh tôn giáo.5
Mặc dù đôi lúc thậm chí các chế độ dân chủ hoàn toàn cũng vi phạm một hay nhiều tiêu chuẩn này, nhưng các vi phạm như vậy chưa đủ bao quát và mang tính hệ thống để cản trở nghiêm trọng những thử thách dân chủ đối với chính phủ cầm quyền. Nói cách khác, các vi phạm này về cơ bản không làm thay đổi sân chơi giữa chính phủ và phe đối lập.6
Ngược lại, trong các chế độ chuyên chế cạnh tranh, những tiêu chí này bị vi phạm thường xuyên và nghiêm trọng đủ để tạo ra một sân chơi bất bình đẳng giữa chính phủ và phe đối lập. Mặc dầu các cuộc bầu cử được tổ chức có quy củ và nhìn chung không có gian lận nghiêm trọng, các quan chức tại vị thường lạm dụng các nguồn lực nhà nước, ngăn cản quyền được truyền thông đưa tin đầy đủ của phe đối lập, sách nhiễu các ứng viên đối lập và những người ủng hộ họ, và trong một số trường hợp thao túng cả kết quả bầu cử. Các nhà báo, chính trị gia đối lập và các nhà phê bình chính phủ có thể bị theo dõi, đe dọa, quấy rối hay bắt giữ. Các thành viên của phe đối lập có thể bị bỏ tù, đẩy đi lưu vong hoặc đôi khi thậm chí bị tấn công hoặc sát hại. Các chế độ có những hành vi tàn bạo như vậy không thể được gọi là dân chủ.
Do đó chúng ta phải phân biệt rạch ròi giữa chủ nghĩa chuyên chế cạnh tranh và các loại chế  độ bất ổn định, không hiệu quả hoặc sai lạc nhưng đáp ứng những tiêu chuẩn cơ bản của dân chủ, và cái này cũng bao hàm những chế độ mà Guillermo O’Donnell gọi là “những nền dân chủ ủy nhiệm” (delegative democracies).7 Theo Guillermo O’Donnell, những nền dân chủ ủy nhiệm đặc trưng bởi trách nhiệm giải trình theo chiều ngang (kiềm chế và đối trọng) ở những mức độ thấp và chính vì vậy lộ diện những quan chức hành pháp quyền lực, có uy tín áp đảo và thường xuyên lạm quyền. Tuy nhiên những chế độ như vậy lại đáp ứng những tiêu chuẩn tối thiểu cho nền dân chủ. Vì vậy dân chủ ủy nhiệm phù hợp với các trường hợp như Argentina và Brazil trong đầu thập niên 1990 nhưng không đúng đối với trường hợp của Peru sau cuộc “tự đảo chính” của tổng thổng Fujimori năm 1992.
Tuy nhiên, nếu các chế độ chuyên chế cạnh trạnh không hội đủ tiêu chuẩn để được xếp vào dân chủ thì các chế độ này cũng không đủ các yếu tố để được xếp vào chủ nghĩa chuyên chế hoàn toàn. Mặc dù các quan chức trong các chế độ chuyên chế cạnh tranh thường có thể thao túng những nguyên tắc dân chủ chính thức, họ lại không thể loại bỏ hay giảm thiếu chúng xuống tới mức chỉ mang tính hình thức. Thay vì công khai vi phạm các nguyên tắc dân chủ (ví dụ như ngăn cấm hay đàn áp phe đối lập và truyền thông), các quan chức nhiều khả năng sử dụng mua chuộc, thu nạp, và các hình thức khủng bố tinh vi hơn như lợi dụng các cơ quan thuế, các tòa án bù nhìn, và các cơ quan nhà nước khác để “hợp pháp” sách nhiễu, bắt bớ, hay ép buộc hợp tác từ giới phê bình. Mặc dù lợi thế nghiêng về phía các quan chức chuyên quyền, thì sự kiên trì bền bỉ của các thể chế dân chủ quan trọng tạo ra những vũ đài mà thông qua đó các lực lượng đối lập có thể hay và thực sự tạo ra những thách thức quan trọng. Vì vậy, mặc dù có thể các thể chế dân chủ bị khiếm khuyết nặng nề, cả các quan chức chuyên chế và các phe đối lập đều cần phải xem trọng chúng.
Theo cách hiểu này, chủ nghĩa chuyên chế cạnh trạnh khác hẳn với cái được gọi là các chế độ tuyển cử “hình thức” – những chế độ mà trong đó các thể chế tuyển cử tồn tại nhưng không tạo ra cuộc cạnh tranh quyền lực mang ý nghĩa nào cả (chẳng hạn như ở Ai Cập, Singapore và Uzbekistan trong những năm 1990). Các chế độ dạng này được gọi là các chế độ “dân chủ giả tạo”, “dân chủ ảo”, và “chuyên chế tuyển cử”. Theo quan điểm của chúng tôi, đây là các trường hợp của chủ nghĩa chuyên chế hoàn toàn.8 Có thể rất khó để vẽ ra ranh giới giữa chế độ loại này và chủ nghĩa chuyên chế cạnh tranh và có thể một ngày nào đó những thể chế tuyển cử phi cạnh tranh sẽ trở thành cạnh trạnh (như trường hợp xảy ra ở Mexico). Tuy nhiên, cần thiết phải phân biệt giữa các chế độ mà trong đó các thể chế dân chủ cung cấp một kênh quan trọng qua đó phe đối lập có thể tìm kiếm quyền lực với những chế độ khác mà trong đó các nguyên tắc dân chủ chỉ đơn thuần phục vụ cho mục tiêu hợp pháp hóa một bộ máy lãnh đạo chuyên quyền hiện có.
Cuối cùng, chúng ta phải phân biệt giữa chủ nghĩa chuyên chế cạnh tranh với các loại chế độ lai khác. Các chế độ có thể pha trộn những đặc tính chuyên chế và dân chủ theo nhiều cách khác nhau, và chủ nghĩa chuyên chế cạnh trạnh không nên được xem như bao hàm tất cả các đặc tính của những thể loại chế độ này. Các chế độ lai khác gồm có “các nền cộng hòa độc quyền”9 (những chế độ với các thể chế dân chủ mạnh nhưng hết sức hạn chế các luật công dân) và các nền dân chủ “được bảo hộ” hay “bị dẫn dắt” – những chế độ cạnh tranh trong đó các chủ thể phi dân chủ như quân đội hay các giới chức tôn giáo nắm giữ quyền phủ quyết.
Bốn vũ đài của đấu tranh dân chủ
Nhờ vào sự kiên trì của các thể chế dân chủ đúng nghĩa trong chế độ chuyên chế cạnh tranh, các vũ đài đấu tranh vẫn tồn tại, thông qua những vũ đại này các lực lượng đối lập có thể thường xuyên thách thức, làm suy yếu, và thậm chí đôi lúc đánh bại các quan chức chuyên quyền. Bốn vũ đài với tầm quan trọng riêng đặc biệt là: 1) vũ đài tuyển cử; 2) cơ quan lập pháp; 3) cơ quan tư pháp; và 4) truyền thông.
Vũ đài tuyển cử
Vũ đài đấu tranh đầu tiên và quan trọng nhất là vũ đài tuyển cử. Trong các chế độ chuyên chế, các cuộc bầu cử hoặc không tồn tại hoặc không thực sự có sự cạnh tranh. Cạnh trạnh tuyển cử bị loại bỏ hoặc về mặt pháp lý như ở Cuba và Trung Quốc, hoặc trên thực tế như ở Kazakhtan và Uzbekistan. Trong trường hợp sau, các đảng đối lập thường bị cấm hoặc ngăn chặn tham gia vào cuộc cạnh tranh bầu cử, và các lãnh đạo phe đối lập thường bị bỏ tù. Các nhà quan sát độc lập hay bên ngoài bị ngăn cản việc xác minh kết quả thông qua các cuộc đếm phiếu song song, điều này tạo ra những cơ hội đánh cắp phiếu bầu trên diện rộng. Do đó, các lực lượng đối lập không thể tạo ra một mối đe dọa tuyển cử nghiêm trọng cho các quan chức tại vị, và các cuộc bầu cử, xét trên mọi góc độ, là phi cạnh trạnh. Chính vì vậy mà tổng thống Kazakhstan ông Nursultan Nazarbayev đã tái đắc cử vào năm 1999 với 80% phiếu bầu và ở Uzbekistan vào năm 2000 tổng thống Islam Karimov tái đắc cử với 92% phiếu bầu. (Ước tính, những chế độ mà trong đó tổng thổng tái đắc cử với hơn 70 phần trăm số phiếu nhìn chung được xem là phi cạnh trạnh). Trong các trường hợp này, cái chết hay cuộc lật đổ đầy bạo lực của vị tổng thống đó thường được nhìn nhận như một phương thức kế vị khả dĩ hơn so với chờ ông ta thất bại trong bầu cử.
Ngược lại, trong các chế độ chuyên chế cạnh tranh các cuộc bầu cử thường diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt. Mặc dù quá trình tuyển cử có thể được đặc trưng bởi sự lạm quyền trên diện rộng, truyền thông thiên lệch, sách nhiễu các ứng viên đối lập và các nhà hoạt động10 (thường đầy bạo lực) và nhìn chung thiếu minh bạch, các cuộc bầu cử vẫn được tổ chức có quy củ, cạnh tranh (trong đó các đảng đối lập lớn và ứng viên của họ thường tham gia), và thông thường không có gian lận nghiêm trọng. Trong nhiều trường hợp, sự hiện diện của giới quan sát quốc tế hay sự hiện hữu của các thủ tục đếm phiếu song song hạn chế giới quan chức tham gia mưu đồ gian lận trên diện rộng. Do đó, các cuộc bầu cử có thể tạo ra những bất ngờ đáng kể, và giới quan chức chuyên quyền buộc phải xem trọng chúng. Chẳng hạn như vào năm 1996 tổng thống Nga Boris Yeltsin và năm 1999 tổng thổng Ucraina Leonid Kuchma đã phải đối mặt với những thách thức tuyển cử từ các đảng từng là đảng cộng sản trước đây. Mặc dù bằng nhiều nỗ lực để hăm dọa tống tiền và những chiêu trò khác nhằm đảm bảo số phiếu,11 Kuchma thắng cử với chỉ 35% số phiếu bầu trong vòng bầu cử tổng thống đầu tiên năm 1999 và 56% trong vòng thứ 2. Ở Kenya, nhà cầm quyền độc tài lâu đời Daniel arap Moi đã tái đắc cử với số phiếu sát sao vào năm 1992 và 1997, và ở Zimbabwe phe đối lập Phong trào vì Đổi thay Dân chủ (Movement for Democratic Change) suýt giành chiến thắng trong các cuộc cầu cử nghị viện. Trong một vài trường hợp, các lực lượng đối lập đã thành công trong việc đánh bại các quan chức chuyên quyền hoặc các ứng viên sáng giá của chúng, đơn cử như trường hợp xảy ra ở Nicaragua năm 1990, Zambia năm 1991, Malawi và Ucraina năm 1994, Albania năm 1997 và tại Ghana năm 2000.
Mặc dù giới quan chức có thể thao túng các kết quả bầu cử nhưng điều này thường khiến họ chịu tổn thất nặng nề và thậm chí có thể bị đánh bại. Chẳng hạn, ở Peru Fujimori tái đắc cử vào năm 2000 nhưng liền bị buộc phải từ chức trong vụ bê bối vài tháng sau đó. Tương tự, những nỗ lực của Miloševic nhằm làm sai lệch kết quả bầu cử năm 2000 ở Serbia đã dẫn đến một cuộc khủng khoảng chế độ và loại bỏ tổng thống. Các cuộc khủng hoảng chế độ nổ ra do gian lận bầu cử cũng diễn ra ở Mexico năm 1988 và Acmenia năm 1996.
Vũ đài lập pháp
Vũ đài đấu tranh thứ hai là cơ quan lập pháp. Trong hầu hết các chế độ chuyên chế hoàn toàn, các cơ quan lập pháp hoặc không tồn tại hoặc bị đảng cầm quyền kiểm soát triệt để đến nỗi mâu thuẫn giữa nhánh hành pháp và lập pháp là điều gần như không tưởng. Trong các chế độ chuyên chế cạnh tranh, các cơ quan lập pháp có xu hướng tương đối yếu nhưng đôi lúc chúng trở thành những tâm điểm của hoạt động đối lập. Điều này đặc biệt có thể xảy ra trong các trường hợp mà các quan chức không thuộc các đảng chính và mạnh. Ví dụ như ở Ucraina và Nga trong thập niên 1990, các tổng thổng đều phải đương đầu với các nghị viện ngoan cố thống trị bởi các đảng cộng sản cũ và các đảng cánh tả. Nghị viện Ucraina nhiều lần chặn đứng hoặc làm suy yếu các đạo luật cải cách kinh tế do tổng thống Kuchma đề xuất và năm 2000 – 2001, mặc cho Kuchma đe dọa dùng những biện pháp “thích đáng” nếu không nhận được sự hợp tác, nghị viện vẫn chặn đứng nỗ lực kêu gọi một cuộc trưng cầu dân ý của tổng thống nhằm làm suy giảm quyền lực của cơ quan lập pháp này. Dù cho các quan chức cố gắng để vây hãm hay thậm chí đóng cửa nghị viện (như ở Peru năm 1992 và Nga năm 1993), những hành động như vậy thường phải trả giá rất đắt, đặc biệt là trên trường quốc tế. Chính vì vậy cả Fujimori và Yeltsin đều tổ chức các cuộc bầu cử nghị viện mới trong thời gian ba năm “tự đảo chính” của hai người và Yeltsin tiếp tục gặp phải sự đối đầu từ nghị viện hậu đảo chính năm 1993.
Thậm chí ở những nơi mà các quan chức hành chính đương nhiệm chiếm đa số ghế trong nghị viện, các lực lượng đối lập có thể dùng cơ quan lập pháp này như một nơi gặp gỡ và tổ chức và (trong trường hợp có truyền thông độc lập) như một diễn đàn công khai để lên án chế độ. Ở Peru, mặc dù các đảng đối lập chỉ tạo ảnh hưởng nhỏ lên quá trình lập pháp từ giữa năm 1995 đến 2000, các nhà lập pháp chống đối Fujimori đã dùng nghị viện (và hoạt động đưa tin báo chí của nó) như một nơi để nói lên các quan điểm của mình. Tháng 11 năm 2000 ở Ucraina, phó thủ lĩnh phe đối lập là Aleksandr Mozoz đã dũng nghị viện để cáo buộc tổng thổng về tội giết người và phát tán những cuộn băng tố giác tổng thống cho báo chí.
Vũ đài tư pháp
Vũ đài thứ ba đầy tiềm năng của cuộc đối đầu chính là cơ quan tư pháp. Chính phủ trong các chế độ chuyên chế cạnh tranh luôn tìm mọi cách để hạ thấp vai trò của bộ máy tư pháp, thường bằng cách luận tội hoặc tinh vi hơn qua con đường mua chuộc, tống tiền và các cơ chế thu nạp khác. Đơn cử như ở Peru, rất nhiều thẩm phán – bao gồm một vài thẩm phán tòa án tối cao – có liên quan mật thiết vào mạng lưới bảo kê thân hữu, tham nhũng và tống tiền được xây dựng bởi người đứng đầu cơ quan tình báo của Fujimori là Vladimiro Montesinos. Tại Nga, khi Tòa Bảo Hiến tuyên bố sắc lệnh giải tán quốc hội năm 1993 của Yeltsin là trái hiến pháp, Yeltsin đã cắt các đường dây điện thoại và dẹp bỏ lính gác của cơ quan này. Trong một số trường hợp, các chính phủ phải sử dụng đến đe dọa và bạo lực. Ở Zimbabwe, sau khi Tòa án Tối cao phán quyết việc chiếm đóng đất trồng của người da trắng – một phần trong chính sách tái phân phối đất đai của chính phủ Mugabe – là bất hợp pháp, các thẩm phán độc lập đã phải nhận một làn sóng đe dọa bạo lực từ phía “cựu chiến binh” ủng hộ chính phủ. Năm 2001 bốn vị thẩm phán, trong đó có Chánh án Anthony Gubbay, đã quyết định về hưu sớm và được thay bằng các thẩm phán thân chính phủ.
Tuy nhiên sự kết hợp giữa độc lập tư pháp chính thức và sự kiểm soát không hoàn toàn của cơ quan hành pháp có thể đem đến cho các thẩm phán tự do một cơ hội tốt. Ví dụ như ở Ucraina, Tòa Bảo Hiến đã chỉ rõ rằng cuộc trưng cầu dân ý của tổng thống Kuchma nhằm làm giảm quyền lực của cơ quan lập pháp là không có tính ràng buộc. Tại Slovakia, Tòa Bảo Hiến đã chặn đứng việc chính phủ Vladimír Meciar phủ nhận các ghế trong nghị viện của phe đối lập vào năm 1996. Các tòa án cũng đã bảo vệ giới truyền thông và phe đối lập tránh khỏi khủng bố nhà nước. Tại Croatia, các tòa án hằng tuần tha bổng một thành viên phe đối lập đã bị kết án vì tố cáo sai tổng thống Tudiman là người sùng bái nhà độc tài Francisco Franco của Tây Ban Nha. Tương tự, ở Malaysia năm 2001, một thẩm phán Tóa án Tối cao đã thả hai người chống đối bị bắt giam căn cứ theo Đạo luật An ninh Trong nước của chế độ và chất vấn công khai sự cần thiết của đạo luật hà khắc đó.12
Các chính phủ chuyên chế cạnh tranh có thể ngay sau đó trừng phạt các thẩm phán ra phán quyết chống lại chính phủ, tuy nhiên những hành động chống lại cơ quan tư pháp độc lập chính thức như vậy sẽ gây những tổn thất lớn về tính hợp pháp ở trong nước và quốc tế. Ví dụ, năm 1997 ở Peru Quốc hội thân Fujimori đã sa thải ba thành viên của Tòa án Hiến pháp sau khi những quan chức này cố gắng chặn đứng việc làm vi hiến nhằm tái đắc cứ tổng thống nhiệm kỳ thứ ba của Fujimori. Tuy nhiên, động thái đó đã vấp phải sự chỉ trích nặng nề trong và ngoài nước, và vụ việc này vẫn còn là một cái gai trong mắt chế độ cho đến tận cuối thập niên.
Phương tiện truyền thông
Cuối cùng, truyền thông thường là tâm điểm tranh đấu trong các chủ nghĩa chuyên chế cạnh tranh. Trong hầu hết các chế độ chuyên quyền lớn mạnh, truyền thông hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước, bị kiểm duyệt nặng nề và bị trấn áp có hệ thống. Các đài phát thanh và truyền hình hàng đầu bị chính phủ (hoặc các đồng minh thân chính phủ) kiểm soát và các tờ báo và tạp chí lớn hoặc bị cấm theo luật (như ở Cuba) hoặc trên thực tế bị loại bỏ (như ở Uzbekistan và Turkmenistan). Các nhà báo kích động sự nổi giận của chính phủ có nguy cơ bị bắt giữ, trục xuất và thậm chí bị sát hại. Trái lại, trong các chế độ chuyên chế cạnh tranh các hãng truyền thông độc lập không những hợp pháp mà còn có ảnh hưởng khá lớn và các nhà báo – mặc dù thường xuyên bị đe dọa và đôi lúc bị tấn công- nổi lên như lực lượng quan trọng của phe đối lập. Ví dụ như ở Peru, các tờ báo độc lập như La República El Comercio và các tạp chí hàng tuần như and Caretas hoạt động tự do trong suốt thập niên 1990. Tại Ucraina, các tờ báo như Zerkalo nedeli, Den và gần đây nhất là Vicherni visti giữ vai trò như những luồng quan điểm độc lập về chính phủ Kuchma.
Các hãng truyền thông độc lập thường đóng vai trò như một lực lượng kiểm sát trọng yếu bằng việc điều tra và phơi bày sai phạm của chính phủ. Truyền thông Peru đã phơi bày hàng loạt các vụ lạm quyền của chính phủ, gồm có vụ thảm sát sinh viên đại học La Cantuta năm 1992 và vụ giả mạo các chữ ký cần thiết để đảng của Fujimori đủ điều kiện cho các cuộc bầu cử năm 2000. Ở Nga, hãng truyền hình độc lập của Vladimir Gusinsky là một nguồn phê phán chính phủ Yeltsin quan trọng, đặc biệt liên quan đến những các hoạt động của chính phủ này ở Chechnya. Ở Zimbabwe, tờ Daily News giữ vai trò trọng yếu trong việc phơi bày các vụ lạm quyền của chính quyền Mugabe. Các hãng truyền thông còn có thể giữ vai trò như phát ngôn viên cho các lực lượng đối lập. Ở Serbia, đài truyền thanh Belgrade B-92 có chức năng như một trung tâm chủ chốt của phe đối lập chống lại Miloševic trong nửa sau thập niên 1990. Các tờ báo cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cổ vũ các lực lượng đối lập ở Panama và Nicaragua vào cuối thập niên 1980.
Trong các chế độ chuyên chế cạnh tranh các quan chức hành pháp thường tích cực ra tay đàn áp giới truyền thông độc lập, sử dụng các cơ chế đàn áp tinh vi hơn các người đồng nhiệm trong các chế độ chuyên chế. Các phương thức này bao gồm đưa hối lộ, phân bổ chọn lọc hoạt động quảng cáo nhà nước, thao túng các khoản nợ và thuế mà các hãng truyền thông phải trả, kích động mâu thuẫn giữa các cổ đông và các quy định luật báo chí hạn chế tạo điều kiện thuận lợi để buộc tội các ký giả độc lập và các ký giả phe đối lập. Ở Nga, chính phủ lợi dụng các khoản nợ của đài truyền hình độc lập với Gazprom- tập đoàn khí đốt trọng yếu- để giúp các lực lượng thân chính phủ sắp đặt một âm mưu thôn tính. Ở Peru, chính phủ Fujimori trên thực tế nắm quyền kiểm soát tất cá các đài truyền hình tư nhân trên cả nước dựa trên sự kết hợp giữa hối lộ và các trò bịp hợp pháp, ví dụ như lệnh vô hiệu hóa quyền công dân của ông chủ đài Channel 2 Baruch Ivcher. Các chính phủ còn tận dụng triệt để các điều luật về tội bôi nhọ để sách nhiễu hay truy tố “hợp pháp” các tờ báo độc lập. Chẳng hạn như ở Ghana, chính phủ Jerry Rawling đã sử dụng luật chống bôi nhọ người khác từ thời kỳ thuộc địa để bắt giam một số biên tập viên và ký giả trong thập niên 1990, và ở Croatia, theo báo cáo năm 1997 của Viện Xã Hội Mở thì các tờ báo độc lập lớn đã 230 lần bị truy tố về tội bôi nhọ.Tương tự, chính phủ Armenia đã lợi dụng các vụ truy tố về tội bôi nhọ để làm lắng xuống chỉ trích từ phía báo chí sau cuộc bầu cử đầy tranh cãi của nước này năm 1996.13
Tuy vậy những nỗ lực để đàn áp truyền thông có thể khiến giới quan chức trong các chế độ chuyên chế hao tổn không ít. Ví dụ, vào năm 1996 khi chính phủ Tudjman ở Croatia cố gắng thu hồi giấy phép của kênh truyền thanh Radio 101, một đài truyền thanh độc lập phổ biến ở thủ đô, làn sóng phản đối nổ ra mạnh mẽ khiến phe đối lập vững mạnh thêm và tạm thời gây chia rẽ đảng cầm quyền. Năm 2000 tại Ucraina, những cáo buộc cho rằng tổng thống Kuchma đã cố gắng sát hại một phóng viên phe đối lập đã dẫn đến làn sóng phản đối trong nước và sự cô lập một phần từ phương Tây. Ở Peru, hành vi truy tố và đẩy Ivcher đi lưu vong đã làm dấy lên sự phản đối mạnh mẽ trong nước và trở thành tâm điểm chỉ trích ở ngoài nước.

Chuyển dịch quyền lực: Tái xác định vị trí của Úc trong Thế kỷ Châu Á


Nguồn: Hugh White1 (2011). “Power Shift: Rethinking Australia’s Place in the Asian Century”, Australian Journal of International Affairs, 65:1, 81-93.
Biên dịch: Nguyễn Thị Minh Trang | Hiệu đính: Đỗ Thanh Hải
Kể từ khi Richard Nixon đến Trung Quốc năm 1972, Úc đã tận hưởng khoảng thời gian thịnh vượng và bình yên lâu dài nhất bắt đầu từ cuối thế kỷ 19. Khi hòa bình kéo dài quá lâu như vậy, chính quyền Úc đã có xu hướng coi hòa bình là hiển nhiên. Chúng ta cho rằng thực tế hiển nhiên và chắc chắn là những điều không may, sai lầm hay các ý đồ xấu xa đã gây ra các cuộc chiến tranh trong quá khứ không thể tái diễn vào ngày nay bởi hệ thống quốc tế đã tiến bộ. Chúng ta nhận thức rằng ý tưởng về chiến tranh – một cuộc chiến tranh quy mô lớn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến Úc – là điều không tưởng. Điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến cách nhìn nhận của chúng ta về mục đích và tầm quan trọng của chính sách đối ngoại. Chúng ta tin rằng chính sách đối ngoại là để tối đa hóa lợi ích thương mại, thể hiện giá trị của chúng ta, và gia tăng ảnh hưởng quốc gia.
Bài luận này thách thức những giả định nói trên. Lập luận chính của bài là những thập kỷ hòa bình của châu Á không phải là kết quả đến từ những thay đổi cơ bản và không thể đảo ngược trong hệ thống quốc tế, mà do trật tự khu vực chuyên biệt tại châu Á sau Chiến tranh Việt Nam. Ngày nay, các nhân tố tạo ra và duy trì trật tự đó đang mất đi khi Trung Quốc trỗi dậy, và một trật tự mới đang được hình thành. Hình dạng của trật tự đó đến giờ vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng khu vực này có thể ít thanh bình so với vài thập kỷ trước. Điều đó tạo ra những rủi ro chiến lược đối với Úc. Chính sách đối ngoại của Úc phải đối mặt với những thách thức chủ yếu bắt nguồn từ quản lý và giảm thiểu nguy cơ, đặc biệt để phòng tránh những rủi ro mang tính thảm họa. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ về chính sách đối ngoại hoàn toàn khác với những việc chúng ta đã làm hàng thập kỷ qua. Việc này lại đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại cơ sở của mối quan hệ giữa nước Úc và khu vực, và cân nhắc về vai trò nước Úc muốn đảm trách, và bản sắc quốc gia.
*
Chiến tranh Lạnh kết thúc ở châu Á khi Nixon và Mao Trạch Đông đạt được thỏa thuận tại Bắc Kinh: Mỹ công nhận chính phủ cộng sản ở Bắc Kinh, ngược lại, Bắc Kinh chấm dứt thách thức vị trí lãnh đạo quân sự của Mỹ tại châu Á. Khi Nhật Bản buộc phải chấp nhận diễn tiến đầy bất ngờ này, vị thế chiến lược hàng đầu của Mỹ đã lần đầu tiên trong lịch sử không bị cạnh tranh bởi hai cường quốc lớn tại Đông Á. Cả ba bên đã phải chấp nhận nhượng bộ để đạt được hình thế chiến lược nói trên, nhưng tất cả đều được hưởng lợi. Trung Quốc không còn phải đối mặt với áp lực từ Mỹ mà còn nhận dược sự ủng hộ từ Mỹ để chống lại Liên Xô, đồng thời bảo đảm việc Nhật Bản sẽ không bao giờ được trở thành cường quốc theo đúng nghĩa của nó. Nhật Bản cũng vậy, đạt được sự ủng hộ của Mỹ chống lại Liên Xô và có được sự đảm bảo từ Trung Quốc. Mỹ đã vượt lên từ sau thất bại tại Việt Nam với vị thế mạnh mẽ nhất tại châu Á từ trước đến nay. Phần còn lại của châu Á cũng được hưởng lợi từ điều này. Quan hệ bền vững giữa các nước lớn mang đến những điều kiện phát triển đáng chú ý cho Đông Á kể từ khi sau cuộc chiến Việt Nam (tăng trưởng kinh tế, phát triển chính trị và hợp tác khu vực).2 Nền hòa bình đó cũng là điều kiện cần thiết để Úc gắn bó với châu Á, vì nó cho phép chúng ta xây dựng mối quan hệ gần gũi với toàn bộ khu vực trong khi vẫn là một đồng minh thân cận của Mỹ. Điều đó đã trở thành sự thật khi các nhà lãnh đạo của chúng ta thường nói, chúng ta không cần phải lựa chọn giữa Mỹ và châu Á mà bởi vì sức mạnh Mỹ được chấp nhận và chào đón trên toàn châu Á.
Tuy vậy, hiện tại nền tảng cho trật tự tại châu Á thời kỳ hậu chiến tranh Việt Nam đang bị xói mòn bởi chính sự thành công của nó. Thỏa thuận xây dựng trật tự châu Á hiện tại dựa trên tính toán về tương quan quyền lực, và cán cân quyền lực ấy đang thay đổi rất nhanh cùng với sự phát triển của Trung Quốc. Trung Quốc hiện là nền kinh tế lớn thứ hai của thế giới, theo sát Mỹ ngày nay hơn cả Liên Xô thời Chiến tranh Lạnh. Nếu Trung Quốc tiếp tục phát triển trong ba mươi năm tới như đã thực hiện với ba mươi năm vừa qua, nó sẽ dễ dàng vượt lên Mỹ và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Điều đó đơn giản có nghĩa là Trung Quốc không còn cần Mỹ như nó đã từng trong năm 1972, và khi nó phát triển, quyền lực của Mỹ sẽ ngày càng hạn chế hơn so với sự vươn lên của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ muốn có nhiều quyền lực hơn khi sức mạnh của nó gia tăng, điều đó có nghĩa nó sẽ thách thức vị trí nắm quyền của Mỹ tại châu Á lần đầu tiên kể từ năm 1972. Trong thực tế, chuyện này đã và đang diễn ra và trở nên gay gắt hơn trong hai năm trở lại đây.3
Cho đến nay Úc vẫn phủ nhận thực tế này. Chúng ta cho rằng chúng ta vẫn có thể tiếp tục làm giàu nhờ vào sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc trong lúc vẫn an toàn nhờ sự thống trị của Mỹ ở châu Á. Nhưng nếu Trung Quốc phát triển đủ nhanh để thúc đẩy nền kinh tế của chúng ta như được hy vọng và mong đợi, quốc gia này sẽ trở nên quá lớn trong cái áo của trật tự cũ do Mỹ đứng đầu, trật tự mà chúng ta cũng hưởng lợi. Các nhà lãnh đạo Úc đã nhận ra điều này từ những năm 1990. John Howard nhanh chóng học được rằng để buôn bán với Trung Quốc chúng ta phải thừa nhận sức mạnh ngày càng tăng của nó. Đằng sau sự trung thành công khai với Washington, ông ngày càng thừa nhận ảnh hưởng chiến lược ngày càng lớn của Trung Quốc, vô tình đảm bảo rằng Úc không cần phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ nhưng trên thực tế ông đã phải lựa chọn.4 Kevin Rudd chắc chắn hiểu rõ vấn đề này và dường như chưa sẵn sàng để giải quyết nó. Tuy nhiên, ông không hành động gì nhiều trừ việc kích động tâm lý bài ngoại với việc thổi phồng mối đe dọa Trung Quốc và đề xuất thiết lập Cộng đồng Châu Á-Thái Bình Dương (APC) như một diễn đàn để thảo luận vấn đề đó.5 Cả Julia Gillard lẫn Tony Abbott đều không suy nghĩ nghiêm túc về Trung Quốc.6 Họ cần phải bắt đầu nghĩ về điều đó ngay bây giờ. Và chúng ta cũng vậy.
*
Bước đầu tiên là phải có được cái nhìn rõ ràng về tầm nghiêm trọng của mối đe dọa Trung Quốc tới trật tự châu Á. Liệu Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển? Nếu có, nó có thực sự trở thành một thách thức với thực trạng hiện tại ở châu Á? Và nó sẽ thực thi quyền lực tăng thêm của mình như thế nào? Từ khi Trung Quốc bắt đầu quá trình tăng trưởng kinh tế dựa vào thị trường 30 năm trước, nhiều người đã tin rằng sự phát triển đó không thể kéo dài, và họ đang chờ đợi thực tế để chứng tỏ luận điểm của mình: sự trỗi dậy của Trung Quốc không hẳn là không thể tránh khỏi. Sớm hay muộn, có nhiều yếu tố khiến sự phát triển đó mau chóng chậm lại, chấm dứt hoặc thậm chí là phát triển ngược, bao gồm các hạn chế trong môi trường, dân số và thể chế cũng như bất ổn xã hội hoặc chính trị. Nhưng khi chúng ta đánh giá những khả năng này, có một điều đáng nhớ rằng không có điều gì không chắc chắn về quỹ đạo phát triển của kinh tế Trung Quốc. Nó chỉ đơn giản làm điều mà nhiều quốc gia khác đã làm kể từ buổi ban đầu của cuộc cách mạng công nghiệp – nghĩa là gia tăng sản lượng bình quân đầu người bằng cách di chuyển nhân công từ công việc năng suất thấp trong nền nông nghiệp bán tự cung tự cấp đến với công việc năng suất cao hơn, chủ yếu trong ngành công nghiệp. Sự khác biệt duy nhất của Trung Quốc là quy mô. Nhưng quy mô mang đến tất cả sự khác biệt, nó là nguyên nhân làm cho chuyển đổi kinh tế của Trung Quốc quan trọng đối với sự phân bố quyền lực toàn cầu, và khiến người ta tin rằng tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc sẽ nhanh chóng vượt Mỹ. Từ năm 1880, không có một quốc gia nào đe dọa vị trí của Mỹ chỉ vì quốc gia đó có dân số lớn như Mỹ – chưa nói là lớn hơn như trường hợp của Trung Quốc – chuyển đổi từ mô hình tự cung tự cấp đến công nghiệp năng suất cao. Liên Xô là một trường hợp đến gần với Mỹ nhất bởi quy mô dân số tương đương Mỹ, nhưng mô hình kinh tế của Liên Xô thất bại. Trung Quốc đang tạo thách thức lớn nhất mà Mỹ từng phải đối mặt vì dân số lớn hơn và nền kinh tế mang lại hiệu quả tốt hơn nền kinh tế của Liên Xô.
Nhưng liệu Trung Quốc có thể tiếp tục phát triển tốt như hiện tại? Đối với nhiều người, mối đe dọa lớn nhất đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc chính là hệ thống chính trị của nó. Họ cho rằng một hệ thống chính trị Lêninít không bao giờ duy trì tăng trưởng kinh tế và Trung Quốc về lâu dài sẽ không tạo nên sự khác biệt bất chấp 30 năm tăng trưởng của Trung Quốc tính đến thời điểm hiện tại. Điều đó có lẽ đúng, nhưng cho đến nay không có một nhà nước Leninít nào trước đó có được tính chính đáng từ sự tăng trưởng kinh tế bền vững, vì vậy có thể Trung Quốc là một ngoại lệ. Ngoài ra, rất có khả năng Trung Quốc sẽ thay đổi chính trị, và tiếp tục phát triển. Hệ thống chính trị của Trung Quốc có thể dễ dàng tiến hóa khi nền kinh tế không ngừng phát triển như nhiều quốc gia khác. Dù sao đi chăng nữa, những người cho rằng khát vọng dân chủ sẽ ngăn chặn sự phát triển kinh tế của Trung Quốc có thể sẽ gặp thất vọng
Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ mang lại cho nó sức mạnh quân sự và chính trị lớn hơn, nhưng Trung Quốc muốn làm gì với điều đó? Kể từ nỗi nhục nhã dưới bàn tay của phương Tây trong thế kỷ XIX, Trung Quốc đã nỗ lực vươn lên để trở nên – hoặc trở lại – “giàu có và mạnh mẽ”, và chúng ta có thể giả định rằng bây giờ, khi sự giàu có xuất hiện trở lại, nó sẽ muốn thực thi quyền lực tương xứng với sự giàu có của mình. Không chỉ các nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn điều này mà cả người dân cũng vậy. Hơn nữa, không có lý do nào khiến họ không nên làm điều đó; không có gì không chính đáng về việc Trung Quốc tìm kiếm ảnh hưởng nhiều hơn khi nó đang trở nên mạnh hơn. Câu hỏi đặt ra là liệu nó sẽ cố gắng để thực thi quyền lực đi ngược với lợi ích và phúc lợi của các nước khác hay không. Ở đây nó phải đối mặt lựa chọn truyền thống mà tất cả các cường quốc phải đối đầu: làm thế nào để cân bằng mong muốn sức mạnh và nhu cầu duy trì trật tự. Như nhiều người thường nói, Trung Quốc cần trật tự cũ của Châu Á để tiếp tục phát triển, nhưng đồng thời nó cũng mong muốn nhiều quyền lực và ảnh hưởng hơn. Các nhà lãnh đạo của nó phải cân bằng những ham muốn, và cân nhắc những giới hạn đối với sức mạnh của Trung Quốc và những hạn chế nó sẽ phải đối mặt ngay cả khi nó vượt qua Mỹ về mặt kinh tế.
Để thực hiện sự cân bằng này, Trung Quốc có ba lựa chọn lớn. Đầu tiên, nó có thể cố gắng phản đối bá quyền khắc nghiệt đối với châu Á, được hỗ trợ bởi vũ lực. Điều này luôn là một nguy cơ, nhưng trong vài thập kỷ tới có vẻ không có nhiều khả năng Trung Quốc có thể áp đặt sự lãnh đạo lên châu Á mà không gặp kháng cự mạnh và không gây ra tình trạng bất ổn nào đó vốn có thể làm gián đoạn sự phát triển của mình. Miễn là các cường quốc chủ chốt như Mỹ, Nhật Bản, Nga và Ấn Độ có khả năng chống lại bá quyền khắc nghiệt của Trung Quốc, Bắc Kinh chắc chắn sẽ không quá ngu ngốc để cố thử áp đặt bá quyền. Có nhiều khả năng rằng Trung Quốc hy vọng xây dựng một quyền bá chủ mềm, lấy mô hình của bá quyền Mỹ ở Tây bán cầu dưới học thuyết Monroe. Nhiều cường quốc châu Á có thể miễn cưỡng chấp nhận , nhưng Nhật Bản thì không, và  Mỹ cũng vậy khi cường quốc này vẫn duy trì sự có mặt chiến lược tại Châu Á, và sự phản đối của hai nước này đủ để làm cho lựa chọn này cũng trở nên tốn kém và rủi ro hơn so với lợi ích mà nó có thể mang lại. Vì vậy, Trung Quốc có lựa chọn tốt nhất là cân bằng tham vọng quyền lực với nhu cầu về duy trì trật tự bằng cách chấp nhận rằng nó không có thể lãnh đạo châu Á một mình. Thay vào đó, nó sẽ phải chia sẻ lãnh đạo khu vực với các cường quốc khác – đó là Nhật Bản, Mỹ và cuối cùng là Ấn Độ. Chúng ta có thể chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ không chào đón kết quả này bởi nó hi vọng về một địa vị lãnh đạo độc tôn. Trung Quốc chỉ miễn cưỡng chấp nhận bởi nó nhận ra các chi phí và rủi ro nếu cố gắng đòi hỏi nhiều hơn. Chúng ta cũng có thể chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ không chấp nhận ngồi yên với quyền lợi ít hơn thế, chí ít là một vị thế bình đẳng với các cường quốc khác trong sự chia sẻ quyền lãnh đạo ở châu Á.
*
Từ đây, câu hỏi mấu chốt về tương lai châu Á trở thành liệu Mỹ đã sẵn sàng chấp nhận chia sẻ quyền lãnh đạo với Trung Quốc hay chưa? Liệu Mỹ có sẵn sàng chấp nhận xem Trung Quốc là một thế lực bình đẳng với mình tại châu Á? Rất nhiều người Mỹ sẽ miễn cưỡng khi phải làm điều đó. Ban đầu, rất nhiều người Mỹ không tin rằng sự nhượng bộ như vậy dành cho Trung Quốc là điều cần thiết. Một số hy vọng rằng sự thay đổi rõ ràng trong sức mạnh của Trung Quốc sẽ bị đảo ngược khi Mỹ phát triển trở lại sau khi vấn đề của nó hiện tại được xử lý, nhắc nhở rằng những dự đoán về ngày tàn của đế chế Mỹ trước đây luôn sai lầm. Nhưng, giả định ấy cho rằng sự thay đổi quyền lực bắt nguồn từ những yếu kém của Mỹ chứ không phải vì sức mạnh của Trung Quốc. Và giả định ấy xem nhẹ bản chất đặc biệt của thách thức đến từ Trung Quốc, đó là quy mô, như chúng ta đã thấy, là nguồn gốc của mọi sự khác biệt, điều đó có nghĩa Trung Quốc hoàn toàn có thể vượt qua Mỹ về kinh tế. Mặt khác, vài người tin rằng sức mạnh quân đội Mỹ sẽ giúp nó giữ vững vai trò lãnh đạo ở châu Á dù cho bị vượt qua về mặt kinh tế. Chắc chắn Mỹ sẽ vẫn mạnh hơn Trung Quốc rất nhiều trong những thập kỷ tới, nhưng điều đó không giúp gì nhiều. Trong nhiều thập kỷ, nền tảng cho sức mạnh vượt trội của Mỹ ở châu Á đã tạo ra khả năng khai triển lực lượng lục quân và không quân bằng đường biển theo ý muốn. Lực lượng không quân và hải quân ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc nhanh chóng làm xói mòn khả năng đó của Mỹ, bằng cách gia tăng chi phí và rủi ro khi Mỹ triển khai các tàu sân bay và tàu đổ bộ tới khu vực tiếp giáp với Trung Quốc cũng như đến các địa bàn xa hơn, và xu hướng này sẽ còn tiếp diễn. Ngay cả khi Mỹ có thể duy trì ưu thế vượt trội bằng sức mạnh quân sự – một điều ít có khả năng xảy ra – nó vẫn nhanh chóng mất đi khả năng triển khai sức mạnh tại châu Á khi Trung Quốc ngày càng phát triển.
Có ý kiến cho rằng vị trí lãnh đạo của Mỹ ở châu Á là an toàn, ngay cả khi không có sự vượt trội về kinh tế hay quân sự, vì nó sẽ nhận được hỗ trợ từ những nước láng giềng của Trung Quốc ở châu Á. Nhiều người châu Á lo sợ sức mạnh của Trung Quốc và muốn Mỹ bảo vệ họ. Đây là một cuộc tranh luận mạnh mẽ kéo dài đến tận thời điểm hiện tại, nhưng nó chỉ đúng một nửa. Đúng là các dân tộc châu Á khác (và kể cả Úc) lo lắng về quyền lực của Trung Quốc và sẽ háo hức chào đón sự can dự của Mỹ để cân bằng Trung Quốc, ngăn chặn nó thống trị khu vực. Nhưng, như Úc, họ cũng muốn một mối quan hệ tốt với Trung Quốc, để hưởng lợi từ những lợi ích của thương mại, và điều đó tác động đến phương thức hỗ trợ họ mong muốn từ Mỹ cũng như hình thức trợ giúp của họ dành cho Mỹ. Người châu Á muốn tránh phải lựa chọn giữa Washington và Bắc Kinh nếu có thể. Nếu Trung Quốc cố gắng áp đặt một quyền bá chủ hà khắc bằng sức mạnh quân sự, nhiều người châu Á sẽ chấp nhận rằng họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài Washington để chống lại Bắc Kinh. Nhưng nếu tham vọng của Trung Quốc có vẻ khiêm tốn hơn, nhiều người châu Á sẽ hài lòng chấp nhận điều đó. Xét về bản chất, châu Á sẽ hỗ trợ Mỹ để ngăn chặn Trung Quốc trở thành một lãnh chúa của họ, nhưng hầu hết sẽ không làm như vậy để giúp Mỹ không phải chia sẻ quyền lực với Trung Quốc. Họ muốn Mỹ ở lại châu Á để cân bằng Trung Quốc, nhưng họ sẽ không hỗ trợ Mỹ để duy trì vị thế độc tôn để đối mặt với thách thức từ Trung Quốc nếu điều đó có nghĩa là phá vỡ mối quan hệ của họ với Bắc Kinh. Đây là thực trạng đúng với Ấn Độ, đất nước mà nhiều người Mỹ hy vọng sẽ tranh thủ để khắc phục tình trạng thay đổi cán cân quyền lực về phía có lợi hơn cho Trung Quốc. Ấn Độ, khi phát triển, sẽ vui vẻ hợp tác với Mỹ, nhưng nó làm như vậy để tối đa hóa sức mạnh của mình, chứ không phải của Mỹ.
Cuối cùng, tất cả điều này có nghĩa là Mỹ sẽ phải đối mặt với sự lựa chọn tương tự như Trung Quốc – đó là làm thế nào để tối đa hóa ảnh hưởng của mình tại châu Á trong khi vẫn có thể giảm thiểu các nguy cơ xung đột. Trong bốn thập kỷ vừa qua vấn đề này đã được giải quyết rất dễ dàng: địa vị vượt trội của Mỹ là nền tảng của trật tự, và sự lớn mạnh trong vị trí lãnh đạo của nước Mỹ đồng nghĩa với hòa bình của khu vực châu Á. Hiện tại, khi thời kỳ vai trò lãnh đạo độc tôn của Mỹ không bị thách thức dần qua đi, Mỹ có thể có những tính toán khác. Nếu Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận một trật tự chia sẻ quyền lãnh đạo ở châu Á – một khả năng thật quan trọng – thì Mỹ cần phải tự hỏi bản thân liệu nó có chấp nhận lựa chọn đó không. Liệu nó sẽ đồng ý từ bỏ địa vị thống trị của mình và tham gia vào việc chia sẻ quyền lãnh đạo như là cách tốt nhất để xây dựng một trật tự ổn định mới, hoặc nó sẽ đối đầu với thách thức đến từ Trung Quốc và cố gắng duy trì vị thế độc tôn, chấp nhận bất ổn và xung đột như là hệ quả tất yếu của lựa chọn đó?
Nói một cách đơn giản nhất, mấu chốt nằm ở việc là liệu người Mỹ hôm nay có coi thế thống trị độc tôn của mình như một phương tiện để xây dựng trật tự thế giới, hay vị thế đó đã kết thúc? Đây là một câu hỏi khó khăn đối với người Mỹ, và cho đồng minh của Mỹ như Úc. Bá quyền của Mỹ là nền tảng của trật tự Châu Á trong một thời gian dài, do đó chúng ta dễ dàng cho rằng nó là cơ sở duy nhất khả dĩ có thể làm tiền đề cho một trật tự trong tương lai, và bất kỳ thách thức nào nhằm tạo ra bất ổn hiển nhiên là bất hợp pháp. Nhưng một trật tự vững bền của châu Á hoàn toàn có khả năng không dựa trên vị thế độc tôn của Mỹ, và không nhất thiết là sai nếu Trung Quốc nỗ lực tìm kiếm một trật tự như vậy – thứ trật tự giữ cho Châu Á hòa bình và ổn định nhưng mang đến cho Trung Quốc nhiều quyền lực hơn. Trước khi chúng ta có thể nói rằng liệu Mỹ có thể sẵn sàng, hoặc nên sẵn sàng, để chấp nhận thứ trật tự đó, chúng ta cần biết thêm về trật tự châu Á mới đó.
Như chúng ta đã thấy, Trung Quốc có thể sẽ không chấp nhận bất cứ điều gì ít hơn một vị trí bình đẳng trong một trật tự chia sẻ quyền lãnh đạo, vì vậy tốt nhất nên bắt đầu bằng câu hỏi trật tự đó có thể hoạt động ra sao. Có một hình mẫu lịch sử cho hệ thống quốc tế đó: hệ thống hòa hợp quyền lực (concert system) của các cường quốc châu Âu trong thế kỷ XIX. Trật tự Hòa hợp Quyền lực ở châu Âu cung cấp một cơ chế để giải quyết các vấn đề chủ chốt trong trật tự này mà không phải viện đến chiến tranh hệ thống và quy mô. Nó ngăn chặn chiến tranh ở châu Âu từ 1815 đến 1914, và cung cấp nền tảng cho sự tăng trưởng rõ rệt và mở rộng quyền lực của châu Âu sau Cách mạng Công nghiệp. Mấu chốt trong một trật tự hòa hợp quyền lực này là một thỏa thuận của tất cả các cường quốc trong hệ thống rằng nếu có quốc gia nào trong số họ cố gắng để thực thi bá quyền trên phần còn lại, các quốc gia khác sẽ đấu tranh để ngăn chặn hoặc phản đối, và kết quả cuối cùng sẽ dẫn đến một cuộc chiến làm cho quốc gia thách thức trật tự mất mát nhiều hơn lợi ích mang lại. Nhận thức như thế này rất khó để xây dựng và duy trì. Các cường quốc phải cử xử với nhau một cách thận trọng. Họ phải chấp nhận tính hợp pháp của hệ thống chính trị của những nước khác ngay cả khi hệ thống đó khác với hệ thống chính trị của quốc gia mình. Họ không được can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Trong giới hạn của mình, họ phải chấp nhận tính hợp pháp trong lợi ích quốc tế của nhau, và chuẩn bị sẵn sàng thỏa hiệp để đạt được một thỏa thuận khi có sự xung đột lợi ích. Họ phải chấp nhận rằng mỗi thành viên sẽ có lực lượng vũ trang có thể hạn chế các lựa chọn mang tính chiến lược của những nước khác. Nói cách khác, họ phải đối xử với nhau công bằng chí ít là về mặt địa vị.
*
Một trật tự Hòa hợp Quyền lực của châu Á có thể được xây dựng giữa các cường quốc tại đây, đó là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Nó sẽ là một cách hiệu quả để quản lý sự trỗi dậy của Trung Quốc, và Ấn Độ, cũng như một cách để đưa Nhật Bản ra khỏi tình trạng không lối thoát thời hậu chiến bằng cách thiết lập và thực thi các giới hạn về hành vi quốc tế có thể chấp nhận được. Tất nhiên, sự hòa hợp này phải thể hiện một sự hiểu biết rõ ràng về những giới hạn đó, bởi vì sự chấp nhận những giới hạn đó và sự sẵn sàng để duy trì chúng bằng vũ lực nếu cần thiết, là nền tảng duy trì trật tự hòa hợp này. Việc thiết lập các chuẩn mực cho một Trật tự Hòa hợp Quyền lực ở Châu Á có thể không quá khó; Hiến chương Liên Hiệp Quốc mà tất cả các cường quốc châu Á đều tham gia là một khởi điểm tốt. Quan trọng hơn, Trật tự Hòa hợp Quyền lực ở Châu Á sẽ tạo nên một khuôn khổ rõ ràng cho Mỹ tiếp tục can dự ở châu Á và cân bằng sức mạnh của Trung Quốc. Nó tránh việc chuyển giao vị trí lãnh đạo ở châu Á cho quốc gia hùng mạnh nhất châu Á bằng cách trao quyền lãnh đạo cho một nhóm quốc gia trong đó có Mỹ. Nó đồng thời sẽ làm tăng sức mạnh của Trung Quốc ở châu Á nhưng nó cũng sẽ hạn chế sức mạnh của Trung Quốc – và đó là cách tốt nhất để làm điều đó mà Trung Quốc có thể chấp nhận, và có thể được thực hiện trong hòa bình.
Nhiều người vẫn cho rằng thỏa thuận là nhượng bộ quá nhiều cho Trung Quốc. Điều đó như một chính sách “cầu hòa” (appeasement) dành cho Trung Quốc. Bài học Munich là nhượng bộ cho những quốc gia tham vọng chỉ khuyến khích họ đòi nhiều yêu sách hơn, và nếu các yêu sách đó tiếp tục được đáp ứng thì hậu quả cuối cùng là trật tự quốc tế bị phá hủy. Mặt khác, kiên định từ chối, sẽ buộc quốc gia đó tôn trọng trật tự hiện có và gìn giữ hòa bình. Nhưng nhận định này có thể dẫn đến việc hiểu sai bài học Munich. Sai lầm của Chamberlain có lẽ không phải là việc nhượng bộ Hitler về Tiệp Khắc, mà không tuyên bố rõ ràng là sẽ không có nhượng bộ về Ba Lan. Nếu thực hiện được điều đó, chiến tranh thế giới thứ hai là hoàn toàn có thể tránh được. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để tiếp cận với Trung Quốc. Nó cho thấy cách tốt nhất để quản lý tham vọng của Trung Quốc là sự cần thiết phải có những nhượng bộ vừa đủ khiến Trung Quốc hài lòng và làm rõ ràng rằng những yêu sách tiếp theo sẽ nhận sự phản kháng quyết liệt từ một liên minh khu vực, một tổ chức sẵn sàng sử dụng vũ lực nếu cần thiết để ngăn chặn mọi nỗ lực của Trung Quốc sử dụng sức mạnh của nó một cách hiếu chiến.
Tất nhiên, có những rủi ro đối với cách tiếp cận nhượng bộ thận trọng trên với Trung Quốc, nhưng các lựa chọn khác cho nước Mỹ là gì? Mỹ phải đối mặt với một sự lựa chọn đơn giản: nếu nó không sẵn sàng chia sẻ quyền lực với Trung Quốc khi Trung Quốc trỗi dậy, Mỹ phải rút lui khỏi châu Á hoặc cạnh tranh với Trung Quốc cho vị trí lãnh đạo tối cao tại đây. Ban đầu, chúng ta dễ dàng nhận ra cơ hội để Mỹ rút quân dường như khó có thể xảy ra. Trong khi vai trò của Mỹ ở châu Á là chưa bao giờ gặp thách thức, chưa kể chi phí dành cho việc lãnh đạo này rất thấp mà lợi ích đạt được lại rất cao. Nhưng, khi Trung Quốc phát triển, sự hiện diện của Mỹ ở châu Á sẽ trở nên tốn kém hơn. Mỹ sẽ phải tự hỏi xem liệu họ có cần thiết phải đóng một vai trò quan trọng ở châu Á trong thế kỷ châu Á này không. Các lập luận cổ điển cho rằng nước Mỹ ràng buộc với Châu Á bởi những lợi ích kinh tế và chiến lược. Châu Á có tầm quan trọng sống còn đối với sự thịnh vượng của nước Mỹ, và sự ổn định rất cần thiết cho sự tăng trưởng của châu Á, vì vậy Mỹ vẫn có thể bày tỏ quan điểm rằng họ cần ở lại châu Á để gìn giữ hòa bình tại đây. Tuy nhiên, mục đích đó tự mâu thuẫn vì nếu Mỹ tiếp tục ở lại châu Á, nó sẽ tham gia cuộc chạy đua quyền lực với Trung Quốc có khả năng gây ra bất ổn. Về góc độ kinh tế, nước Mỹ chỉ nên tiếp tục can dự nếu nó có thể tìm thấy một cách khả dĩ để tránh cạnh tranh với Trung Quốc.

Lý thuyết giản lược và lý thuyết hệ thống


Nguồn: Kenneth N. Waltz (1979). “Reductionist and Systemic Theories” (Chapter 4) in K. N. Waltz, Theory of International Politics (Reading, Mass.: Addison-Wesley Pub. Co.), pp. 60-78.
Biên dịch và Hiệu đính: Nguyễn Hoàng Như Thanh

Các Chương 23 ở trên mang tính phê phán rất cao. Nói gì thì nói, phê phán là một công việc mang tính tiêu cực nhưng nhằm đạt được kết quả tích cực sau này. Để có được những kết quả tích cực như vậy, trong chương này tôi sẽ suy xét lại các thiếu sót lý thuyết đã được chỉ ra ở các chương trước, sau đó chỉ ra một lý thuyết chính trị quốc tế mang tính hệ thống bao gồm những gì, cái gì một lý thuyết như vậy có thể mang lại và cái gì nó không thể.
I.
Bằng cách này hay cách khác, bất kể một lý thuyết chính trị quốc tế nào, dù mang tính giản lược hay hệ thống, đều phải nghiên cứu các sự kiện quốc tế ở mọi cấp độ, từ dưới quốc gia (subnational) đến siêu quốc gia (supranational). Một lý thuyết mang tính giản lược hay hệ thống không phụ thuộc vào loại dữ liệu mà nó giải quyết mà phụ thuộc vào cách xử lý dữ liệu như thế nào. Các lý thuyết giản lược giải thích sự kiện quốc tế thông qua các yếu tố và tập hợp yếu tố ở cấp quốc gia hoặc dưới quốc gia. Loại lý thuyết như vậy tuyên bố rằng các lực lượng nội tại của quốc gia gây ra các sự kiện ở bên ngoài quốc gia. Công thức của nó theo đó là N à X. Hệ thống quốc tế, nếu có, chỉ đơn giản được coi là một kết quả.
Lý thuyết giản lược tập trung vào hành vi của các đơn vị. Một khi lý thuyết giải thích hành vi của đơn vị được hình thành thì ta sẽ không còn cần gì thêm nữa. Ví dụ, theo lý thuyết chủ nghĩa đế quốc đã được nghiên cứu ở Chương 2, sự kiện quốc tế đơn giản chỉ là kết quả được tạo ra bởi các quốc gia riêng lẻ, và hành vi của mỗi quốc gia được giải thích bởi các đặc điểm nội tại của chính quốc gia đó. Học thuyết của Hobson tập trung vào nền kinh tế quốc gia. Theo đó, với một vài điều kiện cho trước, học thuyết Hobson sẽ chỉ ra tại sao cầu giảm, tại sao sản xuất đình trệ và tại sao nguồn lực không được sử dụng tối đa. Từ hiểu biết về cách thức vận hành của nền kinh tế tư bản, Hobson tin rằng mình có thể suy ra hành vi trên trường quốc tế của các nước tư bản. Như vậy ông đã mắc phải sai lầm là dự báo kết quả chỉ dựa trên các thuộc tính đơn vị. Làm như vậy sẽ khiến ta bỏ qua sự khác biệt trong hai cách nói: “Nó là kẻ gây rối” và “Nó tạo ra rối loạn” (He is a troublemaker He makes trouble). Câu đầu tiên không nhất thiết sẽ dẫn đến câu thứ hai nếu đặc tính chủ thể không một mình quyết định kết quả. Cũng như người gìn giữ hòa bình vẫn có thể không giữ được hòa bình, kẻ gây rối cũng có thể không gây được rối loạn. Ta không thể dự đoán được kết quả từ đặc tính nội tại nếu như kết quả còn phụ thuộc vào hoàn cảnh của chủ thể cũng như nó phụ thuộc vào đặc tính chủ thể.
Có vẻ như ít người có thể thoát khỏi định kiến rằng các sự kiện quốc tế được xác định, hơn là chỉ bị tác động, bởi đặc tính của quốc gia. Đa số mọi người đều mắc phải sai lầm của Hobson, ít nhất từ thế kỷ 19 trở đi. Trong lịch sử chính trị cường quyền cận đại, tất cả các quốc gia đều là nước quân chủ, và phần lớn trong số đấy ở trong chế độ quân chủ tuyệt đối. Vậy thì trò chơi chính trị được tiến hành trên cơ sở do chính trị quốc tế thúc ép hay đơn thuần chỉ là do các quốc gia chuyên chế đều ham muốn quyền lực? Nếu vế thứ hai là đúng, thì những biến đổi sâu sắc ở cấp độ quốc gia sẽ làm thay đổi chính trị quốc tế. Các biến đổi như vậy đã xảy ra ở châu Âu và châu Mỹ một cách mạnh mẽ vào năm 1789. Đối với một số người này, dân chủ chính là chế độ khiến thế giới hòa bình hơn; một thời gian sau, đối với một số người khác chỉ có chủ nghĩa xã hội mới làm được như vậy. Không chỉ có vấn đề chiến tranh và hòa bình, mà chính trị quốc tế còn cần phải được hiểu thông qua việc nghiên cứu các quốc gia và chính trị gia, giới tinh hoa và bộ máy quan liêu, nhân tố bên trong quốc gia và xuyên quốc gia, tất cả họ với hành vi và sự tương tác của mình tạo nên nền tảng của chính trị quốc tế.
Các nhà khoa học chính trị, dù có khuynh hướng truyền thống hay hiện đại, đều xây dựng hệ thống của mình bằng cách giản lược nó về cấp độ các phần tử tương tác bên trong hệ thống. Sự giống nhau này của những người theo phái truyền thống dựa trên tư duy lịch sử và phái hiện đại dựa trên tư duy khoa học thoạt trông có vẻ kỳ lạ bởi hai lý do. Thứ nhất, sự khác biệt trong phương pháp (method) mà họ sử dụng đã che mờ nét tương đồng trong phương pháp luận (methodology) của họ, đó là sự tương đồng của lối tư duy lô gíc mà họ theo đuổi. Thứ hai, các miêu tả khác nhau về đối tượng nghiên cứu của họ càng củng cố cảm giác rằng sự khác nhau về phương pháp chính là một sự khác nhau về phương pháp luận. Phái truyền thống nhấn mạnh sự khác biệt về cấu trúc giữa chính trị quốc tế và chính trị quốc gia, sự khác biệt này vốn bị phái hiện đại phủ nhận. Ở đây sự khác biệt nằm ở chỗ một bên là chính trị được thực hiện trong điều kiện có quy tắc ràng buộc rõ ràng (tức chính trị trong nước – NBT) và một bên là trong điều kiện vô chính phủ (tức chính trị quốc tế – NBT). Ví dụ, Raymond Aron đã chỉ ra đặc tính riêng biệt của chính trị quốc tế nằm trong “sự thiếu vắng một lực lượng tòa án hay cảnh sát, quyền được sử dụng vũ lực, sự đa dạng các trung tâm ra quyết định độc lập với nhau, sự luân phiên liên tục giữa hòa bình và chiến tranh” (1967, tr. 192). Nghiên cứu của J. David Singer về các tiềm năng mô tả, giải thích và dự báo của hai cấp độ phân tích quốc gia và quốc tế lại tương phản với quan điểm trên của Aron (1961). Singer thậm chí còn không nêu được sự khác biệt về môi trường giữa chính trị có tổ chức bên trong quốc gia và chính trị có vẻ vô tổ chức giữa các quốc gia với nhau. Nếu khác biệt môi trường bị bỏ qua hay bác bỏ thì khác biệt về chất giữa chính trị nội địa và quốc tế sẽ biến mất hoặc được xem là không tồn tại. Vậy mà đây chính là kết luận của phái hiện đại. Sự khác nhau giữa hệ thống thế giới và các tiểu hệ thống của nó được cho là không nằm ở điều kiện vô chính phủ của cái đầu tiên và tính tổ chức của cái thứ hai, mà, theo lời Singer, nằm ở sự tồn tại một hệ thống quốc tế “trên và bao phủ trái đất” (1969, tr. 30). Nếu chúng ta chấp nhận quan điểm này thì “vấn đề cấp độ phân tích trong quan hệ quốc tế” sẽ được giải quyết: ta chỉ cần xem vấn đề này như một vấn đề về lựa chọn được thực hiện trên cơ sở lợi ích của người nghiên cứu (1961, tr. 90).
Phái truyền thống không ngừng nhấn mạnh đặc điểm vô chính phủ của chính trị quốc tế như là điểm phân biệt giữa lĩnh vực này với lĩnh vực chính trị nội địa, còn phái hiện đại thì không màng đến điều này. Nếu chúng ta chỉ nghe những gì hai phe nói, hố ngăn cách giữa họ có vẻ rộng lớn. Nếu chúng ta nhìn vào những gì họ làm, [mà] bỏ sang một bên phương pháp của họ, thì cái hố ngăn cách đó dần thu hẹp lại và thậm chí gần như biến mất. Cả hai phái đều có xu hướng thiên về các “cực [đóng vai trò] tiểu hệ thống thống trị”. Cả hai đều chú trọng hành vi của đơn vị. Cả hai đều tập trung tìm hiểu xem ai đang làm cái gì để gây ra sự kiện quốc tế. Khi Aron và các học giả truyền thống khác nhấn mạnh rằng các phạm trù của các nhà lý thuyết cần phù hợp với động cơ và nhận thức của các chủ thể [tức các quốc gia], họ cũng đồng khẳng định lô gic chủ yếu thiên về hành vi mà các nghiên cứu của họ theo đuổi. Hiện đại hay truyền thống thật ra đều cùng được đúc từ một khuôn. Họ đều chia sẻ niềm tin cho rằng có thể giải thích sự kiện chính trị quốc tế bằng cách nghiên cứu hành vi và tương tác giữa quốc gia với các chủ thể khác.
Dễ dàng chỉ ra sự giống nhau giữa hai cách tiếp cận truyền thống và hiện đại. Các nhà nghiên cứu lựa chọn cách tiếp cận từ các đơn vị tương tác mà bỏ qua vai trò của hệ thống sẽ phải bù đắp sự thiếu sót này bằng cách áp đặt các nguyên nhân hệ thống lên cấp độ đơn vị. Hệ quả của việc chuyển các nguyên nhân hệ thống xuống cấp độ đơn vị này vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính lý thuyết. Chính trị nội địa khi đó được xem là một vấn đề trực tiếp của chính trị quốc tế. Điều này được thấy rõ vào năm 1973 và sau đó khi “hòa dịu” (détente) trở thành một vấn đề của chính trị Mỹ. Vài người tự hỏi rằng liệu hòa dịu có giúp duy trì sức ép của Mỹ lên các lãnh đạo chính trị Liên Xô khiến họ điều hành đất nước một cách cởi mở hơn không? Không hề bất ngờ, Hans Morgenthau đã làm rõ hơn lập luận này. Ông tuyên bố rằng mối quan tâm của người Mỹ đối với chính trị nội địa của Nga không phải là “can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Thật ra điều này thể hiện rằng một nền hòa bình ổn định, xây dựng trên cơ sở một cân bằng sức mạnh ổn định, phải dựa trên một nền tảng khuôn khổ đạo đức chung thể hiện cam kết của tất cả các nước liên quan đối với một vài nguyên tắc đạo đức căn bản, trong đó có nguyên tắc duy trì cán cân lực lượng hiện tại” (1974, tr. 39). Nếu như chính trị quốc tế được quy định bởi bản chất của các quốc gia, thì chúng ta nên để tâm đến, và khi cần thiết phải tác động để thay đổi, các đặc điểm bên trong của những nước quan trọng trên bình diện quốc tế.
Với vai trò nhà hoạch định chính sách, Ngoại trưởng Henry Kissinger bác bỏ lập luận của Morgenthau. Nhưng với tư cách học giả chính trị, Kissinger lại đồng ý với quan điểm của Morgenthau rằng việc duy trì hòa bình và ổn định quốc tế phụ thuộc vào thái độ và đặc trưng nội tại của quốc gia. Kissinger định nghĩa một trật tự thế giới là “chính thống” nếu được tất cả các cường quốc chính chấp nhận và “cách mạng” nếu một hay nhiều hơn các cường quốc phản đối. Đối lập với trật tự chính thống, một trật tự mang tính cách mạng khi một hoặc nhiều các cường quốc từ chối thỏa hiệp với các cường quốc khác theo luật chơi hiện tại. Đặc tính của một trật tự thế giới phụ thuộc vào đặc điểm của các quốc gia tạo nên trật tự đó. Một trật tự quốc tế chính thống có xu hướng dẫn đến hòa bình và ổn định, còn trật tự mang tính cách mạng thường đem lại bất ổn và chiến tranh. Các quốc gia mang tính cách mạng khiến cho hệ thống quốc tế mang tính cách mạng; một hệ thống cách mạng là hệ thống có chứa một hay nhiều quốc gia cách mạng (Kissinger 1957, tr. 316-320; 1964, tr. 1-6, tr. 145-147; 1968, tr. 899). Đây là lối lập luận vòng vèo, và đương nhiên phải là như vậy. Khi mà hệ thống bị xếp ngang hàng với các đơn vị, số phận của nó chỉ có thể được định đoạt bởi đặc trưng của các đơn vị nổi trội.[1]
Trong số các nhà khoa học chính trị, Morgenthau và Kissinger được xem là các học giả theo trường phái truyền thống – những người có xu hướng thiên về lịch sử và bận tâm đến chính sách hơn là vấn đề phương pháp luận và lý thuyết. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là chung cho tất cả học giả đủ mọi khuynh hướng. Chúng ta đã thấy ở Chương 3 là lập luận của Kaplan tương tự như của Morgenthau, dù rằng lời lẽ của ông, vốn được vay mượn từ lý thuyết hệ thống phổ quát, đã che mờ điều đó. Marion Levy, một nhà xã hội học nghiên cứu chính trị quốc tế, là một ví dụ khác. Ông khẳng định rằng “vấn đề trọng tâm” của chính trị quốc tế là “việc hiện đại hóa các xã hội chậm phát triển một cách tương đối và duy trì hòa bình trong (và giữa) các xã hội hiện đại” (1966, tr. 734).
Lối giải thích từ-trong-ra-ngoài luôn dẫn đến kết cục mà các ví dụ trên đã chỉ ra. Khẳng định của Kissinger cho rằng bất ổn và chiến tranh trên bình diện quốc tế là do sự hiện diện của các nước có tính chất cách mạng cuối cùng cũng dẫn tới kết luận rằng chiến tranh xảy ra là do một vài nước có tính hiếu chiến. Thế nhưng các thể chế cách mạng vẫn có thể tuân thủ quy tắc quốc tế – nói đơn giản là hướng đến cùng tồn tại hòa bình – vì sức ép của bối cảnh bên ngoài vượt quá tham vọng của các nước đó. Một trật tự thế giới mang tính cách mạng vẫn có thể ổn định và hòa bình. Ngược lại, trật tự quốc tế chính thống vẫn có thể bất ổn và tiềm tàng nguy cơ xung đột. Cố gắng của Levy trong việc dự đoán chiều hướng chính trị quốc tế trên cơ sở đặc trưng quốc gia cũng đưa ta đến một kết quả không lấy gì làm ấn tượng như trên. Nói rằng một quốc gia ổn định cần thiết cho một thế giới ổn định thì cũng không khác gì hơn là nói rằng trật tự tồn tại khi hầu hết các nước có trật tự. Tuy nhiên thậm chí nếu mỗi quốc gia đều ổn định, thì hệ thống thế giới có thể vẫn không ổn định. Nếu mỗi quốc gia, dẫu ổn định, chỉ tìm kiếm an ninh và không quan tâm đến các nước láng giềng, tất cả các nước vẫn sẽ không có an ninh; đó là do công cụ bảo đảm an ninh của một nước này chính là mối đe dọa cho an ninh của một nước khác. Ta không thể suy luận được đặc điểm của chính trị quốc tế chỉ từ đặc trưng của các quốc gia, ta cũng không thể nắm rõ chính trị quốc tế bằng cách cộng gộp chính sách đối ngoại và hành vi đối ngoại của các nước.
Những điểm khác biệt giữa phái truyền thống và hiện đại đủ nhiều để che mờ sự giống nhau căn bản của họ. Điểm giống nhau này một khi được chỉ ra thì thật ấn tượng: Các học giả ở cả hai phái đều chứng tỏ mình là người theo thuyết hành vi từ trong xương tủy. Họ đều giải thích sự kiện quốc tế thông qua các đơn vị tương tác trong khi bỏ qua một bên tác động của hoàn cảnh. Sự thống nhất trong cách lập luận này được làm rõ với các ví dụ trong Chương 2 và 3 cùng với các ví dụ trên đây. Veblen và Schumpeter lý giải chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh theo sự phát triển xã hội trong mỗi quốc gia; Hobson và các học trò thì lý giải chúng theo phân bổ kinh tế nội tại. Levy nghĩ rằng quốc gia ổn định thì quốc tế ổn định. Kaplan tuyên bố chính trị thế giới mang tính chất tiểu hệ thống chi phối. Aron cho rằng chất lượng của cực trong hệ thống quan trọng hơn số lượng các cực. Với tư cách học giả, chứ không phải chính trị gia, Kissinger nghĩ rằng quốc gia cách mạng liên quan chặt chẽ đến bất ổn quốc tế và chiến tranh. Vốn đồng ý với học giả Kissinger, Morgenthau cho rằng có thể can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác khi cần thiết cho chính trị quốc tế. Rosecrane giải thích chính trị quốc tế dựa trên mối tương quan giữa điều kiện bên trong và sự kiện bên ngoài và hệ quả phát sinh. Khá nhiều học giả hiện đại dành nhiều thời gian để tính toán hệ số Pearson giữa đại lượng đặc trưng nội tại quốc gia với đại lượng tình hình quốc tế.[2] Kết quả là khá nhiều con số được đưa ra để chỉ mối tương quan ấn tượng giữa điều kiện bên trong và sự kiện bên ngoài, điều mà phái truyền thống cũng thường xuyên nêu lên. Các nghiên cứu chính trị quốc tế áp dụng mô hình giải thích từ-trong-ra-ngoài đều được tiến hành theo lô gíc trên, dù cho phương pháp của từng nghiên cứu là gì đi chăng nữa. Các học giả tự coi là nhà lý thuyết hệ thống hoặc không, và những luận điểm ít hay nhiều có tính khoa học đều đi theo lối tư duy này. Họ đều nghiên cứu chính trị quốc tế từ góc độ đặc điểm quốc gia và tương tác giữa các quốc gia mà bỏ qua mối tương quan giữa vị trí của các quốc gia trong hệ thống. Họ đã phạm phải điều mà C. F. A Pantin gọi là “ảo tưởng nghiên cứu” khi tập trung sức lực vào các chủ thể đơn vị mà quên rằng “các phân bổ trật tự cấp cao hơn cũng đáng được nghiên cứu” (1968, tr. 175).
Ta không thể hiểu được chính trị quốc tế chỉ bằng cách quan sát nội tình các quốc gia. Nếu mục đích, hành động và chính sách quốc gia trở thành điểm cần tập trung chú trọng, khi đó ta bắt buộc phải lui xuống cấp độ mô tả thông thường; và từ cấp độ mô tả thông thường ta không thể rút ra một lý thuyết khái quát hóa thỏa đáng nào. Ta có thể chỉ ra những gì ta nhìn thấy, nhưng không thể nói được chúng có ý nghĩa gì. Mỗi khi ta nghĩ rằng đã nhìn thấy một cái gì đó khác biệt hay mới mẻ, ta lại phải đưa ra một “biến số” cấp đơn vị mới làm nguyên nhân cho điều mới mẻ đó. Nếu hoàn cảnh của chủ thể có tác động lên hành vi và ảnh hưởng lên tương tác giữa chúng thì mọi cố gắng lý giải từ cấp độ đơn vị sẽ làm phát sinh một số lượng biến số khổng lồ, vì ở cấp độ này không biến số hay tập hợp biến số nào đủ sức gây ra sự kiện được xét đến. Những cái-gọi-là biến số này càng sinh sôi nảy nở khi cách tiếp cận đơn vị không thể hiểu được đâu là nguyên nhân chính của vấn đề. Biến số được thêm vào để giải thích cho các sự việc, vấn đề có vẻ khó giải thích. Những gì vốn của cấp độ hệ thống được bù đắp – giả dụ là có thể bù đắp được – bằng các đặc trưng, động cơ, vai trò của từng chủ thể riêng biệt. Kết quả thu được được coi là nguyên nhân, và nguyên nhân đó đến lượt nó lại được gán cho các chủ thể. Thế nhưng, không có một phương thức lô gíc và đáng tin cậy nào để quy các tác động của hệ thống về cho các đơn vị. Vì khi đó cần phải thêm vào các biến số một cách chủ quan tùy theo đánh giá tốt hay xấu của tác giả. Điều này sẽ dẫn tới lượng lập luận vô tận vốn ngay từ đầu đã không thể giải quyết được vấn đề.
Nếu chấp nhận quan điểm của Morgenthau, Kissinger, Levy và những người khác, ta cần phải tin rằng không một nguyên nhân quan trọng nào khác xen vào mối liên hệ giữa mục đích và hành động quốc gia với kết quả mà hành động ấy gây nên. Thế nhưng, trong lịch sử quan hệ quốc tế, hiếm khi nào kết quả cuối cùng lại phù hợp với ý đồ của chủ thể. Tại sao lại như vậy? Câu trả lời rõ ràng là nguyên nhân không nằm tại cấp độ đơn vị mà tồn tại giữa các chủ thể. Mỗi nước quyết định chính sách và hành động dựa trên các quá trình nội tại, nhưng quyết định đấy lại bị tác động bởi sự hiện diện của các nước khác và sự tương tác giữa chúng với nhau. Không thể nói được khi nào và bằng cách nào điều này xảy ra nếu chỉ dựa trên các đơn vị riêng lẻ, trong bối cảnh môi trường tồn tại và tương tác của các quốc gia hạn chế một số hành động này, thúc đẩy một số hành động khác và tác động lên kết quả cuối cùng gây ra bởi hành động của các quốc gia đó.
Giả sử biến đổi trong chính trị quốc tế có liên quan trực tiếp với biến đổi trong các chủ thể, vậy ta giải thích như thế nào khi mà các sự kiện tương tự nhau luôn xảy ra ngay cả khi chủ thể thay đổi? Người nào tự tin cho rằng mình có thể giải thích các thay đổi trong quan hệ quốc tế cũng phải có khả năng giải thích tính liên tục trên trường quốc tế. Chính trị quốc tế nhiều khi được xem như một lĩnh vực đầy rẫy biến cố và biến động, thay đổi nhanh chóng và không đoán định được. Mặc cho có nhiều biến động, tính liên tục trong quan hệ quốc tế thật sự ấn tượng như một mệnh đề có thể được chứng minh bằng nhiều cách. Nếu ta đọc cuốn dã sử First Maccabee[3] và kết hợp với các sự kiện diễn ra trong và sau Thế chiến I, ta sẽ nhận ra có một sự tiếp diễn liên tục trong quan hệ quốc tế. Dù ở thế kỷ thứ 2 hay thế kỷ 20, người Ả rập và người Do thái vẫn đánh nhau giành giật những gì còn sót lại của đế chế phương Bắc, trong khi những nước bên ngoài khu vực thì để tâm quan sát hay can thiệp. Để làm rõ hơn điểm này, ta có thể kể ra lập luận của Hobbes vốn chỉ ra tính thời sự của Thucydides. Ít nổi tiếng hơn, nhưng không kém phần ấn tượng, là luận điểm của Louis J. Halle theo đó Thucydides vẫn đúng trong thời đại nguyên tử và siêu cường (1995, Phần phụ lục). Một dẫn chứng khác, trong hai cuộc chiến tranh thế giới ở thế kỷ này, các nước này đánh các nước kia ở Thế chiến I thì vẫn chính các nước đấy tham chiến chống lại nhau ở Thế chiến II, mặc cho chính trị nội bộ có nhiều biến động giữa hai cuộc chiến tranh. Tính chất chính trị thế giới không hề thay đổi, các mô thức được duy trì, và thậm chí tự lặp lại bất tận. Quan hệ quốc tế hiếm khi thay đổi một cách nhanh chóng về chất lẫn về lượng. Chính trị quốc tế có đặc điểm bền bỉ đáng buồn, đến nỗi mà ta có thể tin rằng không một đơn vị nào đủ khả năng biến đổi môi trường quốc tế vô chính phủ thành một môi trường có trật tự.
Đặc tính vô chính phủ bất biến của chính trị quốc tế giải thích cho sự lặp lại của môi trường quốc tế qua nhiều thiên niên kỷ, vốn là một nhận xét được tán thành rộng rãi. Vậy tại sao đặc điểm bền bỉ này lại bị giản lược đi? Câu trả lời là thông thường sự giản lược đó không bắt nguồn từ chủ ý của nhà nghiên cứu mà từ sai lầm của anh ta. Việc nghiên cứu các đơn vị tương tác với nhau được xem như là cách nghiên cứu đầy đủ, hoàn chỉnh đối tượng và đã bao hàm tất cả mọi thứ có thể bao hàm ở cấp độ đơn vị cũng như cấp độ hệ thống. Một vài nhà khoa học chính trị tuyên bố rằng cách tiếp cận hệ thống tập trung chú ý vào khía cạnh quan hệ của chính trị quốc tế. Tuy nhiên các quốc gia vẫn luôn là đối tượng nghiên cứu. Người khác cho rằng để bổ sung vào phân tích ở cấp độ quốc gia, ta chỉ cần nghiên cứu các chủ thể phi quốc gia. Có thể đối tượng này cần nghiên cứu, nhưng có làm như vậy thì chúng ta vẫn ở tại cấp độ đơn vị hoặc thấp hơn. Sự tương tác chỉ xảy ra ở cấp độ đơn vị chứ không trên tầm hệ thống. Cũng như kết quả của hành vi quốc gia, hệ quả của tương tác không thể nắm bắt hay đoán định được nếu không có hiểu biết về môi trường trong đó tương tác xảy ra. Các tương tác không thường xuyên giữa các quốc gia, ví dụ, có thể quan trọng hơn các tương tác hàng ngày. Vận mệnh hai quốc gia có quan hệ kinh tế và du lịch không sâu sắc vẫn có thể gắn kết chặt chẽ với nhau. Chúng ta biết rằng điều này đúng với Mỹ và Liên Xô. Chúng ta không thể đi đến kết luận này nếu chỉ đong đếm số lượng trao đổi và giao dịch qua lại. Điều này cũng không có nghĩa là phương pháp đo lường không có ý nghĩa gì, nó chỉ muốn nói rằng kết luận về tính chất chính trị quốc tế không thể suy ra được từ số liệu về mối quan hệ chính thức và không chính thức giữa các quốc gia. Trên thực tế, chúng ta thường suy luận theo chiều ngược lại. Ví dụ, chúng ta nói rằng Mỹ và Liên Xô, hay Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc, có quan hệ chặt chẽ với nhau vì chúng ta tin rằng một hành động riêng lẻ của mỗi nước tác động mạnh mẽ lên cả hai hay cả ba, mặc cho ta có thể quan sát mối tương tác và đong đếm được các giao dịch hay không. Chúng ta đã không mắc phải sai lầm ngớ ngẩn là cho rằng số lượng tương tác ít ỏi quan sát được giữa một vài quốc gia nói lên tính không quan trọng của mối quan hệ giữa chúng.
Thất bại lặp đi lặp lại khi ta cố gắng giải thích quan hệ quốc tế bằng công thức từ-trong-ra-ngoài. Ví dụ như các nguyên nhân đa dạng của chiến tranh mà các học gia phát hiện được. Hình thái chính phủ, hệ thống kinh tế, thể chế xã hội, lý tưởng chính trị: đấy chỉ là một vài ví dụ về nguyên nhân của chiến tranh. Mà chúng ta đã biết rằng các nước với tất cả các loại thể chế kinh tế, truyền thống xã hội và lý tưởng chính trị có thể tưởng tượng ra đều đánh nhau. Ấn tượng hơn nữa là, nhiều hình thức tổ chức chính trị khác nhau đều gây chiến, cho dù đó là bộ lạc, vương quốc, đế chế, quốc gia – dân tộc hay băng đảng đường phố đi chăng nữa. Nếu như một điều kiện ban đầu được cho là đã gây ra một cuộc chiến tranh nào đó, thì ta cần phải tự hỏi tại sao chiến tranh vẫn tiếp diễn dù cho điều kiện đó có thay đổi. Thay đổi trong tính chất của đơn vị không liên quan trực tiếp với kết quả hành vi của chúng, và thay đổi trong mẫu hình tương tác cũng không. Ví dụ, nhiều người cho rằng Thế chiến I bị gây ra bởi tương tác giữa hai liên minh cân bằng và đối lập nhau. Thế nhưng nhiều người khác lại cho rằng Thế chiến II có nguyên nhân là do sự thất bại của một số nước trong việc cân bằng cán cân sức mạnh bằng cách liên minh với nhau chống lại một liên minh khác đang hình thành.

—-
[1] Những gì Kissinger học được trong vai trò chính trị gia lại khác biệt rất lớn so với những kết luận của ông trong vai trò học giả. Có nhiều tuyên bố thể hiện lập trường của ông, nhưng chỉ cần một ví dụ là đủ. Trong buổi phỏng vấn khi còn là Ngoại trưởng với William F. Buckley, Kissinger nêu rõ: “Xã hội cộng sản, xét cấu trúc nội tại, là không thể chấp nhận được đối với chúng ta về mặt đạo đức.” Dù rằng lý tưởng của chúng ta và của họ không thể tương thích với nhau, trong thực tiễn chúng ta vẫn có thể thi hành được các biện pháp duy trì hòa bình trong chính sách đối ngoại. Thật vậy, chúng ta cần “tránh xa ảo tưởng rằng tiến bộ trên một vài vấn đề đối ngoại…có nghĩa là đã có một vài đổi thay trong cấu trúc nội tại” 13/9/1975, tr. 5).
Mối liên hệ giữa đặc điểm bên trong và sự kiện bên ngoài không được xem là không thể phá vỡ. Điều kiện và cam kết bên trong không còn quy định tính chất của đời sống quốc tế.
[2] Trong thống kê, hệ số Pearson (P) dùng để chỉ quan hệ phụ thuộc giữa X và Y, theo đó hệ số Pearson sẽ có giá trị từ -1 đến 1, với P = -1 thì X và Y tỷ lệ nghịch với nhau, P = 0 thì X và Y không phụ thuộc vào nhau, P = 1 thì X và Y tỷ lệ thuận với nhau [ND]
[3] First Maccabees: quyển 1 trong bộ sách lịch sử kể về cuộc nổi dậy của người Do thái dưới sự lãnh đạo của Maccabee để lập nên Vương quốc Do thái đầu tiên. Bộ sách này được công nhận là thánh điển bởi Nhà thờ Công giáo, ngoại trừ đạo Tin lành [ND].