Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2016

Tại sao Phật gia giảng con người cần tích đức?

Con người cần tích trữ chính là phúc báo, có phúc báo, thì đi đến đâu cũng có lương thực, làm bất cứ ngành nghề nào cũng đều kiếm được tiền. Không có phúc báo, tiền cũng sẽ không giữ được lâu. Hơn nữa, tiền chỉ có thể dùng được ở trong đời này, còn phúc đức thì đời đời kiếp kiếp đều đi bên thân, lúc nào cũng có thể sử dụng được.

tai sao phat gia giang con nguoi can tich duc
Tại thời Phật Đà, vua Ba Tư Nặc có một công chúa, tên là Thiện Quang, lớn lên trông hết mực trang nghiêm xinh đẹp, người người đều kính yêu. Quốc vương rất kiêu ngạo nói rằng, con được người dân yêu mến chính là do công của ta. Công chúa nói, đó là do phúc đức của con mới được như vậy, không phải do người là phụ vương. Vua Ba Tư Nặc hỏi lại công chúa thêm ba lần, cả ba lần cô đều trả lời như vậy. Quốc vương bực mình, liền đem cô gả cho một anh chàng nghèo khó bần cùng và nói: “Để xem là do phúc đức của công chúa hay là do ta là phụ vương”.
Sau khi gả cho người nghèo khó kia, hai vợ chồng công chúa chăm chỉ làm việc, không lâu sau đã phát tài, họ trở nên giàu có, nhiều phú quý. Vua Ba Tư Nặc rất đỗi kinh ngạc, liền tới hỏi Phật, Phật nói, công chúa Thiện Quang trong quá khứ có tâm phát nguyện làm đồ ăn đem tới cho người tu đạo. Khi đó chồng của cô ngăn cản, cô nói: “ta đã phát tâm, chàng đừng có ngăn cản ta nữa”. Người chồng của cô liền đồng ý. Bởi vì Thiện Quang công chúa kiếp trước đã gieo mầm cơ duyên kính Phật, nên đời này mới giàu có, nhưng chồng của cô lại ngăn cản nhân duyên đó, vậy nên trở thành bần cùng trong đời này, nhưng anh ta về sau cũng đã đồng ý, kết quả là đã gặp được Thiện Quang công chúa, mới đắc được phú quý giàu sang.
Con người có phúc báo, tự nhiên sẽ chi phối đến phú quý của gia đình. Hơn nữa lấy người nghèo khó, thì cũng sẽ cấp cho người đó được giàu sang phú quý. Đây chính là tầm quan trọng của phúc báo. Tiền người khác có thể cướp mất, nhưng phúc báo thì sẽ không ai cướp được.
Rất nhiều người làm việc gì thì cũng chỉ nghĩ đến tiền. Trước kia, khi thời kỳ cải cách khai mở, những người kiếm được tiền, thực ra đều là phúc báo của bản thân họ, hơn nữa nếu họ lại tích đức, thì lại kiếm được thêm nhiều tiền. Nếu như bản thân không có phúc báo, có cố gắng thế nào thì số tiền kiếm được cũng chỉ là số tiền nhỏ. Đây chính là vấn đề về phúc báo.
Sự thành tựu một người, thì phải dựa vào trí huệ và phúc báo của người đó. Nếu chỉ có trí huệ, tuy đọc sách nhiều, nhưng không có phúc báo, thì đi ra ngoài xã hội kiếm tiền vô cùng khó khăn. Đọc sách thì cần phải biết đọc, nhưng kiếm tiền và đọc sách, là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Việc buôn bán, làm doanh nghiệp thì đầu tiên đều dựa vào phúc báo, còn trí huệ mới là thứ hai. Phạm Lãi thời cổ đại, mỗi lần đi buốn bán, phát tài đều đem tiền chia cho người nghèo khổ, sau đó lại dựng nghiệp bằng hai bàn tay trắng, rồi lại phát tài. Ba lần như vậy. Người Trung Quốc cung phụng Phạm Lãi là Thần tài, là vì có đạo lý trong đó. Chính là ông có phúc báo, làm việc gì thì cũng đều kiếm được tiền.
tai sao phat gia giang con nguoi can tich duc
Phúc báo của một người chính là do bản thân người đó bồi đắp lên, vì vậy những người thân khác không cách nào mà thay thế được. Trẻ em có nghiệp lực và phúc báo của riêng, cha mẹ không cách nào thay thế. Nhưng việc cha mẹ có thể làm cho trẻ chính là thường xuyên dạy trẻ tích đức. Cổ nhân đã giảng, để lại tiền cho cháu, nếu như cháu có thể phát đạt, thì cũng không cần để lại tiền. Nếu như cháu không thể phát đạt, để lại tiền thì cũng sẽ mất. Vậy nên lưu lại tiền bạc không bằng lưu lại phúc đức cho con cháu.
Hiện nay, người ta thường thích tích tiền, kỳ thực chính xác ra mà giảng, thì mọi người nên tích phúc báo. Vậy phúc báo tồn tại ở đâu? Là khi đem tiền giúp đỡ người nghèo, bố thí những nơi cần tiền…Không phải là nhìn tiền theo một phạm vi nhỏ, tiền cũng có thể cứu mạng. Bởi lẽ tiền là kết quả của việc nỗ lực tích đức, nhưng đó chỉ là một phương diện rất rất nhỏ, đó chỉ là một phần ít tài phú có thể thấy được, nhưng phần lớn phúc báo là tài phú vô hình. Phúc báo vô hình, có thể đi theo cả cuộc đời, tích đức càng nhiều có thể thành thánh nhân .
Trên thế giới này, con người nhìn thấy Phật có vẻ nghèo khổ, đi khất thực, sống dưới gốc cây. Phật không có tài phú nào, nhưng Phật có ba ngàn đại thiên thế giới phúc báo, một sợi tơ phúc báo của Phật có thể cho người tu hành trên khắp thiên hạ được no đủ. Các vị tổ sư khai ngộ cũng có năng lực như vậy. Ví như Đại sư Tinh Vân, trên người không có lấy một đồng tiền. Nhưng ông muốn xây dựng những đạo trường trên khắp thế giới, mọi người đều ra sức giúp đỡ. Đạo trường thứ nhất vừa xây dựng xong, Phật quang chiếu sáng khắp năm châu.
Tích đức sẽ có phúc báo, có phúc báo sẽ có hết thảy.
[Chú thích: Phạm Lãi, tên tự là Thiếu Bá, là một tướng tài của nước Việt ở Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc, người đã giúp Việt vương Câu Tiến tiêu diệt nước Ngô.]
Nguồn:ĐKN

Khi Con Chiên Thích Nói Bậy Về Thuyết Nhà Phật:

Thuyết Luân Hồi

Lê Sỹ Minh Tùng



15-Aug-2016

LTS: Ông Nguyễn Hy Vọng thuộc về nhóm người cả đời đọc mãi một quyển thánh kinh mà chưa biết hết, lại thêm "khó hiểu". Thí dụ "Lucas: 14: 26 - Những kẻ nào theo ta mà không căm ghét cha mẹ, vợ con, anh, chị, em.....và ngay cả đời sống của hắn, thì không đáng làm môn đồ của ta”. "Mầu nhiệm cao siêu quá!" thôi thì ... để cho Chúa hiểu. Ông ta quay sang đạo khác chọc phá chơi, viết tầm bậy, nói tầm bạ, chê bai những triết lý mà ông ta chưa từng được dạy. Ông ta bất chấp những bài hồi đáp, mà các con chiên khác nghe phải tím mặt vì xấu hổ, nhưng ông ta thì không. Nhưng thôi, xin các bạn Phật tử chịu khó nhẫn nại hoán cải một con chiên. Công đức vô lượng: "Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng... giảng pháp, cứu cho con cừu!".
Bài sau đây của Lê Sỹ Minh Tùng hồi đáp một bài thuộc loại "phá phách" của ông Nguyễn Hy Vọng về Thuyết Luân Hồi nhà Phật ở dưới cùng. Xin mời đọc
Khi nói về tôn giáo là một sự nhạy cảm, nhưng bài viết của tác giả Nguyễn Hy Vọng chứng tỏ ông ta không có một chút hiểu biết hay chẳng qua chỉ là một số vốn liếng quá nghèo nàn vay mượn về triết lý Phật Đà, hay chỉ là hiểu biết một chiều.
Để trả lời về 10 nhận định sai lầm của tác giả qua bài viết “10 sai lầm của thuyết luân hồi”.
1) Đấng Tạo Hóa: Thế nào là đấng tạo hóa? Có phải là người đã sáng lập ra thế giới này trên 10,000 năm nay chăng (dựa theo Thánh kinh)? Ngày nay từ em bé học lớp 1 cũng biết thế gian vũ trụ này cấu thành trên mấy tỷ năm rồi mà các ông vẫn còn tin vào huyền thoại ông Adam và bà Eva? Nếu ông Nguyễn (hết) Hy Vọng tin chắc rằng phải có đấng sáng tạo mà có thế gian vũ trụ, thì thử hỏi ông Hy Vọng rằng đấng sáng tạo của ông từ đâu mà ra? Nay ở chỗ nào trong vũ trụ?
Thuyết luân hồi là luận thuyết dựa vào thuyết Duyên Khởi nghĩa là cái này có thì cái kia có, cái này diệt thì cái kia cũng diệt cho nên thế gian vũ trụ này từ vô thỉ đến nay đều là do duyên khởi tác tạo. Thí dụ cho ông dễ hiểu, nếu không có cha mẹ ông du hí với nhau thì cho dù một một ngàn đấng tạo hóa mà ông lạy hàng ngày cũng không cách nào có ông được.
Nếu không tin ông cứ cầu nguyện đấng sáng tạo của ông thử xem bà vợ ông có sanh thêm con cho ông được không?
2) Ông viết: “Thuyết luân hồi cho rằng, những người có quyền hành lớn, địa vị cao, tiền của nhiều là những kẻ đã tu nhiều kiếp. Nếu điều đó đúng thì Tần Thủy Hoàng, Hitler, Lenin, Stalin, Mao, .... là những kẻ có điạ vị quyền hành nhất nước, tiền của nhiều thì họ phải đạo đức hơn người? Thực tế, sự gian ác và tham lam của họ thế giới nghe danh. Và phải chăng vì kiếp trước làm điều bất nhân bất nghiã mà kiếp này phải là tu sĩ Phật giáo? Vì kiếp tu sĩ Phật giáo không có sự bình an, rất cô đơn, buồn chán đến tuyệt vọng mà nhiều cao tăng, tu sĩ đã tự tử”.
Dựa theo lời giải thích đủ chứng tỏ ông chẳng biết tí gì về thuyết luân hồi hay giáo lý nhà Phật mà chỉ lo đi dạy đời. Không có kinh sách Phật giáo dạy như vậy cả. Những điều ông nêu ra là thuộc về thyết nhân quả báo ứng nghĩa là mình gieo nhân rồi phải gặp duyên thì mới thành quả. Thí dụ nhân là hạt gạo, duyên là nồi cơm điện, nước… rồi mới thành cơm được. Đây là điểm khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác. Nếu một người trong quá khứ hay những kiếp quá khứ tạo nhiều thiện duyên thì đến kiếp này họ sẽ thọ lãnh những quả nghiệp tốt. Tuy nhiên nếu trong đời hiện tại họ gieo quá nhiều ác nghiệp thì chính họ sẽ thọ lãnh những hậu quả đó trong tương lai. Những tu sĩ không nhất thiết là Phật giáo hay thiên chúa giáo đều là phàm nhân cho nên họ có những cảm nhận về cuộc sống cũng như người thường vậy chẳng có gì khác biệt. Ông quên là hằng ngày trên báo chí có nêu biết bao tội ác của các vị chăn chiên thiên chúa giáo, thế thì ông giải thích thế nào? Họ cũng cầu nguyện đấng sáng tạo của ông thế mà tội ác họ vẫn tiếp tục gây cho người khác thì sao, đấng sáng tạo ở đâu không cứu giúp cho họ sớm thức tỉnh?
3) Nhìn qua lịch sử của nhân loại từ Ai Cập đến Hy Lạp rồi đến La Mã cho đến bây giờ, ông cứ nhìn lại thử xem đã có đến bao nhiêu đấng sáng tạo mà con người đã sáng tạo ra?Ngày nay đạo thiên chúa giáo có thượng đế, đạo hồi có Alla, Trung Hoa có Ngọc Hoàng….Vậy ông sáng tạo nào là ông thật? Có phải con người vì mù quáng, nhắm mắt tin theo ảo thuyết có đấng sáng tạo mà quay về giết hại đồng loại?
4) Ngày nay ông cứ nhìn vào tất cả những gì trong gia đình ông thì biết, cái gì cũng là “luân hồi” có nghĩa là recycle. Nhà ông ở một ngày nào đó sẽ trở thành cát bụi trở lại nghĩa là bất cứ vật thể gì trong thế gian này rồi cuối cùng cũng trở về với bản nguyên của nó. Đây chính là luân hồi đó ông ạ. Trước khi thiên chúa giáo vào Việt Nam, tổ tiên ông sanh con đẻ cháu trải qua biết bao nhiêu đời thì họ tin vào gì? Như thế ông gọi tổ tiện ông là gì? Nếu không có luân hồi thì làm gì ngày nay có Nguyễn Hy Vọng như ông!
5) Ngày xưa chính Đức Phật không bao giờ dạy những thứ đồng bóng, phù thủy như ông nói. Giáo lý Phật Đà rất đơn giản là :”không làm khổ mình và không làm khổ người” thế thôi. Không làm khổ mình nghĩa là mình đã có cuộc sống hạnh phúc, an lạc và không làm khổ người nghĩa là mình muốn mọi người cùng sống hạnh phúc như mình. Ông sống đời đạo đức nhân bản thì chính ông và gia đình ông đã sống trong thiên đường rồi mà không cầu về thiên đường nào nữa. Ngược lại, sống đời bất thiện mà cứ cầu nguyện để được vào thiên đường thì thiên đường này thật ra chỉ chứa toàn bọn tham ô, đạo tặc, có gì mà ao ước, mơ tưởng, cầu nguyện.
6) Phật giáo mà chính Đức Phật thuyết không dính dấp gì đến những tư tưởng của đạo Phật Trung Hoa. Họ biến chế theo khuynh hướng của họ, sai ý nghĩa của đạo Phật rất nhiều. Bằng chứng ngày nay những sản phẩm của Trung Hoa còn có ai quan tâm đến nữa đâu? Cái gì họ cũng làm giả được, ngay cả kinh Phật. Điều đó không có nghĩa là giáo lý Đức Phật dạy họ như vậy. Ông cứ nhìn vào hệ phái Tin Lành ở Hoa kỳ, có biết bao hệ phái, cùng thờ chúa, nhưng cách hành trì đâu có giống nhau. Ông hãy trả lời Chúa dạy người nào đúng, người nào sai? Ngay cả Thánh Kinh thì Orthodox dịch theo chiều hướng của họ, Catholic thì họ dịch theo ý tưởng khác. Ngay cả người Do Thái thì cho rằng Chúa Jesus lá đứa con hoang. Vậy tư tưởng nào đúng thưa ông?
7) Thế gian ngày nay có trên 6 tỷ người, thử hỏi có ông thượng đế nào mà quản lý từng giây từng phút tất cả những hành vi của trên 6 tỷ người ấy để luận công hay tội của họ mà cho họ vào thiên đường hay đọa vào địa ngục? Đây có phải là chuyện ảo tưởng hoang đường không thưa ông? Mỗi ngày ông nhận mấy trăm email là đã thấy nhức đầu, bây giờ mỗi ngày thượng đế nhận cả tỷ email khẩn cầu như vậy thì thượng đế cho ai, bỏ ai? Đạo Phật không chấp nhận bất cứ một linh hồn nào cả, mà chỉ có nghiệp lực là nguồn năng lực kết tập từ biết bao căn nghiệp của mỗi người do chính họ tự tạo tác trong đời này. Chính nghiệp lực này sẽ chuyển họ đi tái sinh vào trong một con người mới tương xứng với nghiệp quả của họ. Thí dụ có hai cây đèn cầy. Nếu chúng ta chuyền ngọn lửa từ cây đèn cầy đầu sang cây đèn cầy thứ hai thì cây đèn cầy thứ hai mới sáng. Cây đèn cầy thứ hai không phải là cây đèn cầy thứ nhất, nhưng nếu không có nguồn lửa từ cây đèn thứ nhất thì cây đèn cầy thứ hai không bao giờ sáng được. Mỗi cây đèn cầy có thể được xem như là mỗi cuộc sống và ánh lửa chính là nghiệp lực chuyển sang. Nghiệp lực chuyển thức tái sinh chớ không phải linh hồn từ người chết này sang người sống khác. Nếu tin là có linh hồn như đạo thiên chúa của ông, vậy khi vào nước thiên đường thì cái linh hồn nào xuất hiện, linh hồn ông mới 5 tuổi, 50 tuổi, hay 88 tuổi? Linh hồn còn khỏe mạnh hay linh hồn bịnh hoạn?
8) Mỗi loài chúng sinh trong thế gian có khả năng hiểu biết khác nhau chớ không có ai là “rô bô của Thượng đế cả”. Quan niệm tôi tớ chỉ có trong đạo thiên chúa của các ông. Các ông sống làm người mà chỉ muốn thành cừu non cho kẻ chăn chiên còn đạo Phật là đạo bình đẳng bởi vì ai cũng đều có máu đỏ và nước mắt cùng mặn cho nên mọi người đều có khả năng để trở thành bất cứ những gì họ mơ ước nếu họ thật sự cố gắng. Vì thế Đức Phật dạy rằng:”Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Ông thử tìm trong kinh thánh có câu nào nói rằng: “các ngươi là thượng đế trong tương lai không? Hay các ông chỉ là tôi tớ của thượng đế?”.
Đạo Phật dựa theo thuyết nhân quả cho nên ông làm bao nhiêu thì ông chỉ được hưởng bấy nhiêu mà không cần cầu nguyện, lạy lục ai hết. Nếu ông không tin, cứ dạy con ông, đến kỳ thi tới, ngày nào cũng cầu nguyện, lạy lục mà không chịu học hành thì đấng sáng tạo của ông có cho cháu đậu không?. Ngược lại nếu cháu siêng năng học hành thì không cần cầu nguyện mà cháu chắc chắn sẽ đậu cao, đây có phải là thuyết nhân quả (luân hồi) không thưa ông?
9) Đây mới là hoàn toàn khoa học. Vào thời Đức Phật còn tại thế, có người đến hỏi Đức Phật rằng:
-Bạch Thế Tôn, cái gì định đặt cho con người, sinh ra kẻ thì nghèo nàn khổ sở, người thì giàu sang sung sướng, kẻ thì sống lâu, người thì chết yễu, kẻ thì yếu đau, người thì khỏe mạnh, kẻ thì ngu tối, người thì thông minh?
Đức Phật trả lời rằng:
- Tất cả sự sai biệt giữa con người và con người là do Nghiệp mà họ đã tạo định đặt ra, nên có người cao kẻ thấp. Người không tạo nghiệp sát hại chúng sanh, thì được thọ mạng lâu dài. Người tạo nghiệp sát, đoản mạng sống của chúng sanh, nên thọ mạng yễu. Do nghiệp ác làm cho người đau khổ, nên thọ thân hay bệnh tật đau yếu. Và do tạo nghiệp lành như an ủi giúp đở người qua khỏi những tai nạn khốn khó nên được thọ thân khỏe mạnh vui tươi. Do đời trước biết tu làm lành, biết bố thí cúng dường, biết giúp đỡ người nghèo đói bịnh tật, nên đời nay được sinh thân trong cảnh giàu sang sung sướng. Người ở đời trước vì không biết bố thí cúng dường, không biết giúp đở người nghèo khó, lại còn tham lam rút rĩa của những người khác, nên đời nầy sanh thân trong cảnh nghèo đói thiếu thốn. Người đời trước do siêng năng học hỏi tìm hiểu chân lý, ưa thích giúp người học hỏi hiểu biết nên đời nầy được thông minh. Còn người ở đời trước do lười biếng học, không chịu tìm hiểu chân lý, cản ngăn sự học hỏi của người, nên đời nầy bị tối tăm mê mờ.
Nghèo khó là do không biết gieo nhân thiện lành để giúp người, cứu vật khi cần thiết, lại không tin sâu nhân quả, nên thường xuyên làm các việc xấu ác cho nên chẳng những không thọ hưởng quả giàu sang mà còn đối diện biết bao phiền não, khổ đau. Bây giờ cố gắng gieo trồng phước đức bằng cách làm lành tránh dữ, tích công bồi đức thì hậu vận sẽ không bị rơi vào hoàn cảnh cơ hàn, túng thiếu.
10) Ông (Ng Hy Vọng) viết rằng: Nếu hỏi “phật tử” 3 câu hỏi này, hắn sẽ ú ớ :
a- Tại sao có kiếp đầu tiên?
b- Kiếp đầu tiên là gì?
c- Và kiếp kế tiếp là gì?
Chánh kiến cho chúng ta thấy biết rõ ràng thế gian vũ trụ này là do nhân duyên kết tập trải qua trùng trùng duyên khởi từ vô thỉ đến vô chung chớ không phải do Thượng đế sáng tạo.
Khoa học ngày nay khám phá vũ trụ có được là do một vụ nổ lớn từ một vi tử (The Big Bang Theory) khoảng 13.7 tỷ năm về trước và từ đó những dãy Thiên Hà được tạo dựng. Trước năm 1913 vũ trụ đối với khoa học chỉ vỏn vẹn có dãy Ngân Hà (The Milky Way). Mãi sau khi Edwin Hubble đo được khoảng cách của dãy Thiên Hà Andromeda khoảng 900,000 năm ánh sáng thì vũ trụ mới được hiểu là do sự tạo thành của rất nhiều dãy Thiên Hà khác chớ không nhất thiết chỉ có dãy Ngân Hà mà thôi. Nhưng mãi đến năm 1965 tại phòng thí nghiệm của hãng điện thoại Bell, hai nhà khoa học Arno Penzias và Robert Dicke thuộc đại học Princeton vô tình khám phá những năng lượng rơi rớt lại trong không gian sau vụ nổ lớn 13.7 tỷ năm về trước và từ đó họ đưa ra thuyết “The Big Bang”.
Hiện nay vũ trụ vẫn còn nằm trong thời kỳ nới rộng cho đến khi tất cả những hành tinh nóng như mặt trời…đốt cháy hoàn toàn những nhiên liệu như Hydrogen, Helium…và lúc đó vũ trụ sẽ chìm vào bóng tối, băng giá. Sau đó vũ trụ sẽ thu trở lại thành vi tử như lúc ban đầu. Hiện tượng này gọi là The Big Crunch.
Thế thì thế gian vũ trụ sinh rồi diệt và diệt để rồi sinh trở lại, nhân này quả nọ vô cùng vô tận từ vô thỉ đến vô chung, vậy đâu là điểm khởi đầu và đến bao giờ là ngày cùng tận?
Ngày xưa, khi khoa học còn nằm trong thời kỳ phôi thai, tín ngưỡng phát triển rất mạnh. Thế nhưng, ngày nay khoa học tiến rất xa và con người có tầm nhìn khá chính xác về nhân sinh vũ trụ cho nên tín ngưỡng, ngay cả tín ngưỡng dân gian, càng ngày càng bị thu hẹp. Vì thế Đức Phật luôn nhắc nhở chúng sinh đừng tin vội, tin vàng (Believe nothing, no matter where you read it, or who said it, no matter if I have said it, unless it agrees with your own reason and your own common sense. Buddha.) mà hãy dùng trí tuệ để nhận xét một cách công minh thì chúng ta đang thực hành Chánh kiến. Phật giáo ngày nay pha trộn quá nhiều với tín ngưỡng dân gian làm cho Phật giáo mất đi định hướng. Tin tưởng sai lầm còn tác hại hơn là không tin tưởng gì hết. Hiện nay, người Tây phương thuộc về tín ngưỡng thần quyền (religious) ở Hoa kỳ, Âu châu hay ngay cả Úc châu đi nhà thờ càng ngày càng sa sút đặc biệt là giới trẻ. Họ muốn đi tìm một định hướng mới cho cuộc sống, ngay cả những người không tin vào Thượng đế (atheism and agnosticism) bắt đầu quay về tìm hiểu, học hỏi và thực tập giáo lý Phật Đà càng ngày càng nhiều. Họ cảm thấy thoải mái và hạnh phúc hơn khi thực tập Bát chánh đạo và các phương pháp thiền. Họ tự tin nhiều hơn về lối sống mới vì chính họ tự lèo lái con thuyền định mệnh của họ chớ không do ai khác.
Phật giáo là tôn giáo không có tín ngưỡng bởi vì Phật giáo không phải là một hệ thống tín ngưỡng và lễ bái và Phật giáo không chấp nhận sự hiện hữu của một hay nhiều Thần Linh có năng lực chi phối định mệnh con người và con người có phận sự vâng lệnh, phục vụ và tôn sùng. Do đó, trong Bát Chánh Đạo, không bao giờ có Chánh tín do đó niềm tin trong Phật giáo hoàn toàn khác hẳn với niềm tin của những tôn giáo hữu thần (nhất thần giáo hoặc đa thần giáo). Vì thế nhánh đầu tiên của Bát Chánh Đạo là Chánh kiến nghĩa là con người phải có cái thấy biết một cách sát thật, rõ ràng, vô tư. Khi đã thấy biết sát thật thì niềm tin bây giờ không còn cần thiết nữa. Ngược lại, không thấy biết sát thật, nghiêng hướng này hay hướng kia thì gọi là tà kiến. Do vậy, đạo Phật là đạo “đến để thấy biết, chớ không phải đến để tin” cho nên đức tin không phải là một điều quan trọng trong Phật giáo và người đệ tử Phật không cần đến đức tin mà chỉ cần tinh tấn. Phật Giáo không đòi hỏi nơi tín đồ một đức tin mù quáng. Do đó một niềm tin tưởng suông không thể có chỗ đứng. Thay vào đó là lòng tín nhiệm căn cứ trên sự hiểu biết. Chính Đức Phật đã khẳng định rằng : “Ta không là Thượng đế, cũng không phải là thần linh, mà chỉ là một con người, nhưng con người đã chiến thắng thế gian”. Đức Phật đã chiến thắng thế gian, nhưng Ngài không cần ngai vàng để ngự trị và cũng không cần thần dân để được tôn vinh. Ngài sống rất thảnh thơi với ba mảnh y và một bình bát, nhưng chiến thắng được tâm mình mới là chiến thắng vĩ đại nhất. Đức Phật chỉ là một đạo sư và giáo pháp của Ngài là ngọn đuốc tuệ giúp chúng sinh nương theo đó tìm ra con đường sáng, con đường giải thoát giác ngộ cho chính mình.
Để giải thích mối quan hệ giữa lòng tin và trí tuệ, Đức Phật dạy rằng: “Người có lòng tin mà không có trí tuệ thì thường làm tăng trưởng vô minh. Người có trí tuệ mà không có lòng tin thì thường làm tăng trưởng tà kiến”. Trí tuệ ở đây cần được hiểu là năng lực suy xét và phán đoán mọi sự việc cho nên nếu trí tuệ không có lòng tin vào Chánh pháp thì người tu tập dễ rơi vào tà kiến, tăng trưởng tự cao, tự đại, luôn cố chấp không thấy được chỗ sai lầm của mình. Ngược lại, người có lòng tin vào Chánh pháp mà thiếu đi trí tuệ để nhận hiểu và phân biệt đứng đắn thì dễ dàng lún sâu vào chỗ si mê, tăm tối, mê tín dị đoan.
Từ xưa đến nay, lý trí và đức tin luôn chống đối với nhau. Lý trí dùng lý luận và suy tư phát xuất từ kinh nghiệm và nhận xét, trong khi đức tin nằm trong phạm vi tình cảm, không thể suy luận, suy xét hay giảng giải được. Do đó những tôn giáo thần khải thì đức tin là Thượng đế cảm nhận bằng trái tim, không phải bằng lý trí. Tình thương phát xuất bằng trái tim thì dựa vào tình cảm nên rất thăng trầm vì thế nó có lúc đúng, có lúc sai, có lúc thương, có lúc ghét. Ngược lại lòng từ bi phát xuất từ trí tuệ sáng suốt thì dựa theo tinh thần khách quan bình đẳng, không thiên vị. Thêm nữa, đối với những tôn giáo thần khải thì thần thông, phép lạ là quan trọng. Ngược lại Đức Phật, đã chứng lục đại thần thông, coi đó là không đáng kể và không thích đáng bởi vì điều quan trọng nhất vẫn là bồi dưỡng trí tuệ để có giải thoát. Đối với đạo Phật, những người có phép lạ không nhất thiết là bậc giác ngộ hay các bậc Thánh cho nên theo Đức Phật, thần thông phép lạ cao siêu nhất và huyền diệu nhất phải là làm sao biến một người ngu si thành một người khôn ngoan, trí tuệ. Do đó hạnh phúc hay khổ đau là do nơi con người chớ không tùy thuộc vào một đấng quyền năng tuyệt đối nào.
Từ khi con người xuất hiện trên quả địa cầu trải qua biết bao nền văn minh cổ đại bắt đầu từ Ai Cập rồi đến Hy Lạp, La Mã cho đến ngày nay, ý nghĩa về Thượng đế rất thăng trầm, thay đổi từ nhất thần cho đến đa thần tùy theo mỗi thời đại. Nếu Thượng đế là đấng toàn năng thì tại sao Thượng đế lại để con người uốn nắn Ngài tùy theo ý muốn của con người? Từ đó, chúng ta dễ dàng kết luận rằng dọc theo dòng tiến hóa của nhân loại, con người đã sáng tạo ra Thượng đế chớ không phải Thượng đế đã sáng tạo ra con người.Bằng chứng là ông trời của Trung Hoa đâu có giống ông trời của người Do thái hay ông trời của người Ấn Độ cho nên ngày nay, mỗi tôn giáo tự tạo một Thượng đế riêng cho tôn giáo của mình, Thiên chúa giáo có God, Hồi giáo có Allah, Ấn Độ có Brahman, Trung Hoa thì có Ngọc Hoàng…từ đó mới có chiến tranh, hiềm khích và giết hại lẫn nhau để dành độc quyền ông Thượng đế không có thật đó. Vào thời Đức Phật còn tại thế, Bà la môn giáo tin rằng linh hồn được gọi là Atman (tiểu ngã) là do đấng toàn năng tạo ra và tất cả mọi sự sống trên quả địa cầu này đều có linh hồn. Linh hồn chuyển từ thân xác này qua thân xác khác, cứ thế cho đến khi có giải thoát thì tiểu ngã sẽ hòa đồng với đại ngã Brahman tức là Thượng đế hay là linh hồn của vũ trụ.
Đến khi đạo Phật ra đời, Đức Phật phủ nhận con người là do Thượng đế sinh ra và phủ nhận luôn cả ý nghĩa linh hồn (Soul) là do Thượng đế ban cho ta. Do đó, vào thời Đức Phật còn sinh tiền có sự ngăn cách rất rõ ràng giữa Phật giáo và đạo Bà la môn. Phật giáo chủ trương vô thần, diệt trừ bản ngã, tự giải thoát, bình đẳng và không có cúng tế nghi lễ rườm rà phức tạp. Đức Phật không chấp nhận khái niệm về một linh hồn bất tử hayngay cả một bản ngã thường tại. Ngược lại đạo Bà la môn tin rằng có tự ngã và khi chết thì tự ngã hòa nhập vào đại ngã để có giải thoát. Vì thế con người mới cầu xin vào đấng phạm thiên, tin tưởng vào thần linh nên cúng kiến cầu xin ban phước, tha tội.
Trong kinh Pháp Cú (145), Ðức Phật khẳng định rằng:
"Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
Chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta.
Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”.
Hy vọng ông Nguyễn Hy Vọng hài lòng về bài trả lời đơn sơ ở trên.
Nếu ông thích thú tôi có dẫn dịch theo đây bài nói về thuyết nhân quả luân hồi, có thể giúp ông học hỏi thêm về giáo lý Phật Đà trước khi đi đánh trống loạn xạ ở xứ người.
Lê Sỹ Minh Tùng



2016-08-14 16:18 GMT-04:00 Phaolo Thai <tphaolo@gmail.com>:
10 sai lầm của thuyết luân hồi
1- Chối bỏ Đấng Tạo Hóa là tội lớn nhất của loài thụ tạo: thiên thần bị thành quỷ, loài người phải đau khổ và phải chết. Có hằng tỷ bằng chứng buộc chúng ta phải tin có Đấng Tạo Hóa. Ở bài này tôi chỉ nêu vài bằng chứng, cũng đủ cho rất nhiều người thông minh:
Tiến sĩ Bill Hybels, dẫn giải: “Nếu một người tin rằng thế giới tự tiến hóa thành, không do Đấng Tạo Hóa nào sáng tạo thì người đó phải duy trì lập trường tin rằng sự hỗn loạn tạo ra trật tự, vô sinh tạo ra hữu sinh, vô cơ tạo ra hữu cơ, may rủi tạo ra trí thông minh, tình cờ tạo ra mục đích, phi nhân tính tạo ra các kiểu mẫu. Nói như thế chẳng khác nào thừa nhận một hậu qủa (phức tạp, sống động, thông minh, có nhân cách) lớn hơn nguyên nhân của chính nó (vô trật tự, không có sự sống, tình cờ, may rủi). Nói như thế chẳng khác nào thần thánh hóa tự nhiên tôn lên ngang hàng Đấng Tạo Hóa.
“Chúng ta hãy tưởng tượng đến tất cả các thiên hà, các ngôi sao, tất cả các hành tinh, cả thái dương hệ trong đó có quả đất chúng ta và tất cả vũ trụ. Rồi ta hãy vẽ một vòng tròn chung quanh tất cả mọi thứ nói trên, không để sót một vật nào dù là nhỏ nhất. Bây giờ mọi sự trong vũ trụ đều nằm trong cái vòng tròn nầy. Mọi vật trong vòng tròn nầy đều tùy thuộc vào một vật khác để hiện hữu và mọi vật bên trong vòng tròn nầy đang dần dần tàn phai, già cỗi, hư hoại, suy thoái. Đây là sự kiện không ai chối cải được. Bây giờ câu hỏi quan trọng là, "Ai đã làm cho vạn vật tùy thuộc lẫn nhau để sống còn?" Và câu hỏi thứ hai, "Ai đã làm cho vạn vật suy thoái dần?" Câu trả lời hợp lý nhất cho câu hỏi nầy phải nằm ở một trong hai chỗ mà thôi. Nguyên nhân đầu tiên của mọi vật phải nằm hoặc là bên trong hoặc là bên ngoài vòng tròn nói trên. Không có một lựa chọn nào khác. Vậy sự giải thích nào là hợp lý nhất? Nguyên nhân đó không thể nằm bên trong vòng tròn, nhưng chắc chắn phải nằm bên ngoài vòng tròn. Nếu có một ai đó nằm bên ngoài vòng tròn, thì theo định nghĩa Đấng ấy phải không tùy thuộc, không do ai dựng nên, tự hiện hữu và hoàn toàn độc lập. Nói một cách khác Đấng ấy phải là vĩnh cửu, vô hạn và toàn năng. Những đặc tính đó là định nghĩa về Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa Tối Thượng."
Bác học Duclaux: "Nếu sự sống đầu tiên xuất hiện trên mặt đât do tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuât hiện kia nó kỳ dị như hòn đá tự bò lên sườn núi."
Blaise Pascal (1623-1662), người Pháp, nhà toán học, triết gia, nỗi danh với định nghĩa vũ trụ: "Một quả cầu mà trung tâm điểm thì khắp nơi và vòng đai thì không biên giới."
Blaise Pascal cũng là tác giả của những danh ngôn mà tới nay, ai cũng thấy hữu lý: "Giả như Thượng Đế không có, ta chẳng mất gì cả, nếu đã tin vào Ngài. Nhưng nếu có Ngài, ta sẽ mất tất cả, nếu ta không tin"
và câu: "Con tim có lý lẽ riêng của nó mà lý lẽ thì không biết." Câu sau nầy, Ông muốn nói niềm tin khác với lý trí. Cũng nên nhắc lại Pascal đã là người phát minh máy tính cộng lúc mới 19 tuổi; máy nầy cũng là hình thức thuộc loại tiên khởi của computer sau nầy.
2- Thuyết luân hồi cho rằng, những người có quyền hành lớn, địa vị cao, tiền của nhiều là những kẻ đã tu nhiều kiếp. Nếu điều đó đúng thì Tần Thủy Hoàng, Hitler, Lenin, Stalin, Mao, Hồ chí Minh, Pôn Pôt.. là những kẻ có điạ vị quyền hành nhất nước, tiền của nhiều thì họ phải đạo đức hơn người? Thực tế, sự gian ác và tham lam của họ thế giới nge danh. Và phải chăng vì kiếp trước làm điều bất nhân bất nghiã mà kiếp này phải là tu sĩ Phật giáo? Vì kiếp tu sĩ Phật giáo không có sự bình an, rất cô đơn, buồn chán đến tuyệt vọng mà nhiều cao tăng, tu sĩ đã tự tử. -- “Ai chêt cho ai? Ai sống cho ai?” của Nguyễn Huệ Nhật --
3- Tin có thể tự cứu. Thực tế không phàm nhân nào đã tự quyết định khi vào đời, và không phàm nhân nào biết được gì ở cõi sẽ đến. Trong khi sống ở trần gian, mọi phàm nhân đều lệ thuộc vào Thiên Chuá, như không khí, nước uống, hoa trái để ăn, mặt trời sưởi ấm, quả đất nhân loại cư ngụ v.v.. đều do Thiên Chúa ban. Loài người không sáng tạo được một điều gì để có thể tự sinh tồn. Đó là chỉ nói về sự sinh tồn của thân xác. Điều quan trọng hơn là con người có linh hồn; linh hồn con người chỉ có thể sống bởi Lời Chúa, bởi Lòng Thương Xót và sự tha thứ của Thiên Chúa. Không muốn trở về, không muốn nhận sự tha thứ của Thiên Chúa thì không một ai thoat khỏi sự hư mất đời đời, vì mọi người đều có tội, tội do nguyên tổ truyền lại, cộng với tội riêng của mỗi người. Vì thế chủ trương tự cứu, không cần đến Thiên Chúa, là điên rồ.
4- Tin loài vật là hiện thân của kiếp người đã chết.
Loài vật hành động theo bản năng: cá lớn nuốt cá bé; cọp vồ nai; trâu bò ăn cỏ; ngựa kéo xe; chim làm tổ bằng rơm rạ... Từ khi có loài vật cho đến tận thế thì chúng vẫn thế. Thuyết luân hồi tin loài vật có thể tu thành người là chuyện chỉ có trong tiểu thuyết, hoặc trong đầu óc của những kẻ bị quyền lực của tà thần làm cho tối tăm không còn nhìn thấy đâu là sự thật.
5- Tin loài người đã chết được trở lại làm người.
Nhân dân Tâytạng và nhiều người theo Phật tin Đalai Lama là Phật sống. Nếu Đalai Lama là Phật sống thì phải chấp nhận là trí khôn của Phật sống đã không thắng được tay sai của sự dữ là Mao và đảng Cộng sản Tàu. Mỗi khi gặp khó khăn Đalai Lama xin ý kiến của phù thuỷ, đồng bóng... Một số người đã bỏ ngề phù thuỷ, đồng bóng, và được ơn trở về với Thiên Chúa cho biết, phù thuỷ, đồng bóng... là trò chơi của quỷ; làm bạn với quỷ là nhận quỷ làm sư phụ. Nhiều chùa ở Việtnam, Cambốt... vẽ bùa, làm bùa; một số nhà sư Tâytạng kiêm cả ngề phù thuỷ, đồng bóng...
6- Trong tác phẩm của một nhà sư Phật giáo cho biết, có vị sư đang ngồi thiền đã dùng cái dùi gõ mõ đập vào đầu người đệ tử vỡ sọ chêt ngay. Có vị sư đang ngồi thiền thì thấy một con trâu săp hiếp dâm một phụ nữ, ông vội vã đến hiếp dâm người phụ nữ “để giúp nàng” không có đứa con là “trâu”. Nhiều người ngồi thiền thấy Gandi, Kennedy, Khổng tử, Chú Cuội, Hằng Nga, Phật nọ, Phật kia... và nghĩ đó là kiếp trước của họ, hoặc họ đã thành Phật. Họ chỉ thấy “kiếp trước” hoặc “đã thành Phật” trong cơn mê. Đại đức Huệ Nhật và các bạn của ông trong lúc ngồi thiền cũng thấy ảo giác tương tự. Nhưng khi tỉnh lại, họ không còn thấy kiếp trước, cũng không còn thấy là Phật, mà chỉ thấy những gì ở trước mắt, với một tâm hồn vẫn còn tham, sân, si... Tương tự Tất Đạt Đa khi ngồi thiền dưới gốc cây cũng thấy “vô số kiêp trước” và thấy “đã thành Phật” !
7- Có phàm nhân nào biết được gì trước khi sinh ra? Có phàm nhân nào chọn thời gian, nơi chốn, cha mẹ, phái tính khi vào đời? Có phàm nhân nào biêt được ngày giờ, nơi chốn, và bằng cách nào khi phải vĩnh biệt trần gian? Có phàm nhân nào biết được gì ở cõi sẽ đến khi chưa lià đời? Thuyết luân hồi chỉ có thể hình thành trong giấc mơ, trong trí tưởng tượng, trong sự suy đoán, và do quỷ Satan mớm ý, để lừa gạt nhiều người đi đến hỏa ngục với nó.
8- Một em bé bình thường, độ ba năm đến trường học, em có thể tự chép lại bài viết này. Loài khỉ dù bạn có mất thời gian đến tận thế để dạy chúng, thì loài khỉ cũng không thể tự chép lại một chữ của bài viết này. Loài vật chỉ là “rôbô” của Thượngđế. Loài vật không có linh hồn, nên chúng không có trí khôn, vì trí khôn là tài năng của linh hồn; vì thế, loài vật không tiến bộ và không chịu trách nhiệm về hành động của chúng. Không một người bình thường nào bảo hành vi của một người điên hay một người đã mất trí, là đạo đức hay độc ác.
9- Người tin thuyết luân hồi lý luận: “Tại sao có người sinh ra là hoàng tử, công chúa; còn có kẻ sinh ra là con của người ăn mày? Không phải do hậu quả của kiếp trước hay sao?”
Đó là lý luận của người mù sờ voi. Ai có thể bắt Thiên Chúa phải suy nghĩ như loài người? Thiên Chúa không có quyền tạo dựng đời người theo một đường thẳng, nghiã là con người được sinh ra ở quả đất và khi vĩnh biệt quả đất, thì hoặc về thiên đàng hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, hoặc phải vào hỏa ngục chịu đau khổ đời đời sao?
Thiên Chúa đã tạo dựng hằng triệu loài cá, triệu loài cây, triệu loài hoa khac nhau... Ngài không có quyền tạo dựng con người khác nhau sao? Giả dụ thế giới này chỉ có một loài cây, chỉ có một loài hoa thì thế giới này buồn chán, kém đẹp biêt bao. Giả dụ ai cũng là bác sĩ thì thế giới này ngưng trệ, vô lý và vô nghiã, vì ai làm ruộng để chúng ta có lúa gạo? Ai lưới cá, chăn nuôi để chúng ta có cá, thịt? Ai dệt, ai may để chúng ta có cái mặc? Ai nhạc sĩ, họa sĩ, viết văn, làm thơ để chúng ta thấy cái đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn? Ai tu sĩ, tín đồ để chúng ta thấy cái đẹp của tôn giáo? Ai hốt rác, quét đường để chúng ta có thành phố sạch sẽ? Ai bác học để chúng ta biết đến sự vĩ đại của vũ trụ, sự khôn ngoan tuyệt vời của Thiên Chúa?...
Thiên Chúa không nhìn con người qua danh vọng, chức quyền, sự giầu sang, dáng vẻ bề ngoài để định giá trị. Thiên Chúa nhìn tâm hồn con người. Một người ăn mày có thể có giá trị hơn một ông vua, một tổng thống dưới mắt của Ngài. Ngược lại, thuyết luân hồi đánh giá con người qua danh vọng, chức quyền, sự giầu sang, dáng vẻ bề ngoài, và chính điều này bộc lộ sai lầm trầm trọng của thuyêt luân hồi. Việtnam có câu “Tấm lòng vàng trong manh áo rách”, “Chiếc áo không làm nên thầy tu”, “Cái nết hơn cái đẹp”, “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”... Giá trị thật của con người là ở linh hồn, không phải những gì chúng ta nhìn thấy bên ngoài. Qua dẫn chứng đó, những ai tin vào thuyết luân hồi, là tin con voi đúng thật như lời của người mù sờ voi kể lại !!
Thiên Chúa: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi. Đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi. Trời cao hơn đất thế nào, thì tư tưởng và đường lối của Ta cũng cao hơn tư tưởng và đường lối của các ngươi như thế.”
10- Nếu hỏi “phật tử” 3 câu hỏi này, hắn sẽ ú ớ :

a- Tại sao có kiếp đầu tiên?
b- Kiếp đầu tiên là gì?
c- Và kiếp kế tiếp là gì?
Tin vào thuyết luân hồi là người sống trong ảo tưởng, trong tăm tối, vì họ không biết cuộc đời của họ bắt đầu từ đâu và dẫn đến đâu?!!
Kết
Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ, mọi luật thiên nhiên, mọi loài, mọi vật hữu hình và vô hình từ hư vô; nhưng Ngài không thiết lập luật luân hồi; vì thế, không thể có luật luân hồi trong thực tế.
Những ai tin vào thuyết luân hồi là đã sa vào cạm bẫy của quỷ Satan.

Nguyễn Hy Vọng

Tuyển Tập II: NGUYỄN TRƯỜNG TỘ - 12 bài biện chính

Bài 1
A. DE RHODES & NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
Bùi Kha trao đổi với Gs. Đinh Xuân Lâm

http://sachhiem.net/BUIKHA/img/DinhXuanLam.jpg
“GS. Đại học Quốc gia Hà Nội,
Phó chủ tịch Hội Sử học Việt Nam”.
Học vị và chức danh của Gs Đinh Xuân Lâm như thế, tôi và có thể một số độc giả cũng sẽ “khựng lại” sau khi đọc bài tham luận của Giáo sư. 
Hai năm trước, lúc gặp người bạn, giáo sư trường Đại học sử Huế, ông cho biết ở Hà Nội có “Tứ trụ triều đình” là Đinh, Lê, Tấn, Vượng. Tức là Gs Đinh Xuân Lâm, Gs Phan Huy Lê, Gs Hà Văn Tấn và Gs Trần Quốc Vượng. Ông bạn còn nói thêm, bốn vị nầy là thầy của những sử gia tại Việt Nam hiện nay. Trong số ấy, tôi chưa có cơ hội đọc một số bài về sử do ba giáo sư viết, còn GS Đinh Xuân Lâm thì tôi được biết tên trong bài "Từ Một Câu Chữ Của Alexandre De Rhodes Đến Các Dẫn Dụng Khác Nhau”, tác giả là Gs Chương Thâu, mà GS Chương Thâu tường thuật vào“cuối tháng 3-1993, tại một cuộc Hội Thảo “Tưởng niệm A. de Rhodes, nhân 400 năm ngày sinh của ông.”
Tiếp đến, ngày 24/1/2012, trên web Lam Hồng, tình cờ tôi lại đọc được bài “Tham luận của GS. Đinh Xuân Lâm* tại Hội thảo khoa học “Nguyễn Trường Tộ – Khát vọng canh tân đất nước” ngày 10/11/2008, TP Vinh, Nghệ An”.
Do vậy, bài viết của tôi chia làm hai phần. Phần A, biện chính với GS Đinh Xuân Lâm về A. de Rhodes và chữ Quốc ngữ. Phần B, về Nguyễn Trường Tộ.
Phần A
BIỆN CHÍNH VỚI GS ĐINH XUÂN LÂM về A. de Rhodes và CHỮ QUỐC NGỮ

Trong bài "Từ Một Câu Chữ Của Alexandre De Rhodes Đến Các Dẫn Dụng Khác Nhau”, GS Chương Thâu viết, nguyên văn : 
Giáo Sư Hoàng Tuệ, trong cuộc Hội Thảo Quốc Tế về “Nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam” – nhân 90 năm thành lập trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Việt Nam – họp tại Hà Nội những ngày 3,4,5 tháng 12 năm 1992, có đọc bản tham luận Về sự sáng chế chữ quốc ngữ, trong đó có đề cập đến vai trò của A. de Rhodes và có “dẫn dụng” câu trên của A. de Rhodes (nhưng lại không trích trực tiếp từ tác phẩm Hành Trình Và Truyền Giáo, nguyên bản của A. de Rhodes, bản in năm 1653, mà lại trích gián tiếp qua bản của De Francis mới viết năm 1977, và cũng không trích dịch trọn câu đủ ý).
Giáo Sư Hoàng Tuệ viết: “A. de Rhodes quê ở Avignon, lãnh địa của Giáo Hoàng trên đất Pháp. Ông vẫn gắn bó với nước Pháp. Ông viết trong hồi ký:
“Tôi nghĩ là nước Pháp, vương quốc mộ đạo nhất, có thể cấp cho tôi binh lính để chinh phục toàn phương Đông và đặt nó dưới quyền Jésus Christ”.
Ông đã tiến hành một chuyến đi Pháp. Ở đây ý kiến của ông được hoan nghênh. Kết quả là sự thành lập Société des Missions Étrangères de Paris năm 1661, chỉ bao gồm các giáo sĩ Pháp... Từ đó thế lực của Giáo Hội Pháp ở Việt Nam mạnh lên.
Có thể nghĩ là chữ Quốc ngữ, ngoài ý nghĩa thực tiễn, còn có ý nghĩa chính trị nhất định trong phạm vi các Giáo Hội khác ở Việt Nam.”
Do có ý kiến “tham luận” như vậy, nên nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu tại cuộc Hội Thảo này đã có ý kiến trao đổi lại với giáo sư Hoàng Tuệ như sau:
“Qua đoạn vừa trích trên đây, người đọc có cảm tưởng Giáo Sư Tuệ đã ám chỉ A. de Rhodes là thân Pháp, xui Pháp đem binh lính xâm chiếm phương Đông và “chữ Quốc ngữ”... “còn có ý nghĩa chính trị”.
Và đến lượt, ông Nguyễn Đình Đầu đã dịch lại câu trên của A. de Rhodes đồng thời “chú thích một số từ dùng trong câu của A. de Rhodes, cũng là nhằm “đối thoại” và “biện minh” với giới nghiên cứu khoa học xã hội – nhân văn, như sau:
“Tôi tin rằng nước Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để chinh phục toàn phương Đông và đặt dưới quyền trị vì của Đức Giêsu Kitô, và đặc biệt tại Pháp, tôi sẽ tìm cách có được Giám mục, các ngài sẽ là cha và là thầy chúng tôi tại các Giáo Hội này” (tức là Đàng Ngoài và Đàng Trong).
Ông Nguyễn Đình Đầu biện giải thêm: “Nếu đọc nguyên đoạn trích trên đây, ta mới hiểu chữ chiến sĩ có nghĩa bóng là thừa sai (đối với giám mục là cha và thầy họ). Còn “chinh phục toàn phương Đông” là để cho “nước Cha trị đến”, chứ không phải để cho Pháp đến thống trị. “Chinh phục” hiểu theo nghĩa tôn giáo, chứ không phải chính trị. Vì ngộ nhận trên, người ta mới gán cho chữ quốc ngữ “còn có ý nghĩa chính trị” vậy!
Cũng vào thời gian cuối tháng 3-1993, tại một cuộc Hội Thảo “Tưởng niệm A. de Rhodes, nhân 400 năm ngày sinh của ông” do Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam tổ chức tại Hội Trường Viện Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam, có nhiều nhà khoa học tham dự, đọc tham luận. Trong đó Giáo Sư Sử Học Đinh Xuân Lâm, một lần nữa lại đề cập “câu chữ” trên đây của A. de Rhodes và dịch lại (theo đúng văn cảnh, bối cảnh lịch sử thế kỷ 17) cụm từ “plusieurs soldats” là chiến sĩ” truyền giáo, vào coi như “lần cuối cùng đính chính lại sự lầm lẫn (dịch soldat là lính chiến, là quân lính đi xâm lược) như trước đây trong một số “giáo trình lịch sử Việt Nam” đã dẫn dụng.
Chính trong cuộc Hội Thảo đó của Hội Sử Học đã đưa ra nhiều kiến nghị với các cấp có thẩm quyền (Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ Văn Hóa v.v...) nhằm “khôi phục” vị trí xứng đáng cho linh mục A. de Rhodes, người đã góp phần quan trọng trong việc chế tác ra chữ Quốc ngữ cũng như một số hoạt động văn hóa (trứ tác các công trình sử học giá trị).
Cũng do vậy mà hiện nay, đã có quyết định khôi phục lại tên đường phố Đắc Lộ ở thành phố Hồ Chí Minh, dựng lại “bia 1941” tại khuôn viên Thư Viện Quốc Gia ở Hà Nội v.v...
Chương Thâu
Hà Nội 14 tháng 12 năm 1995
[Trích từ Nguyệt San Hiệp nhất số 43, tháng 7, 1996, giáo phận Orange, California].
Tôi trích dẫn hơi dài để thấy, ngoại trừ GS Hoàng Tuệ có ý kiến đúng nhưng chưa đủ, tất cả những vị còn lại, dịch chữ Soldat một cách tùy tiện và hoàn toàn sai, không đúng nghĩa cũng như không đúng ngữ cảnh và bối cảnh lịch sử thời bấy giờ và ngay cả bây giờ nữa. Trong những người dịch và hiểu sai nầy có Gs Đinh Xuận Lâm. Muốn biết thêm tại sao sai lầm và sai lầm như thế nào xin mời quý vị đọc bài “Alexandre De Rhodes & chữ Quốc ngữ" (Bùi Kha) trên trang nhà tongiaovadantoc theo link:
http://tongiaovadantoc.com/c1036/20120112012635441/alexandre-de-rhodes-chu-quoc-ngu-bui-kha.htm
và bài “Biện chính với ông Nguyễn Đình Đầu về linh mục Đắc Lộ” (Bùi Kha), theo đường link: http://tongiaovadantoc.com/c1036/20120112014403472/bien-chinh-voi-ong-nguyen-dinh-dau-ve-linh-muc-dac-lo-bui-kha.htm.
Hai bài này cũng có thể tìm thấy trên Nguyệt san Hồn Việt xuất bản tại Tp HCM, số 17 và số 20
Qua hai lần hội thảo nầy chúng ta có cảm tưởng là hầu hết các nhà nghiên cứu chưa đọc mấy tác phẩm của Ðắc Lộ, đặc biệt là cuốn “Hành Trình và Truyền Giáo”, Lời nói đầu cuốn “Từ điển Việt-Bồ-La” và cuốn “Phép Giảng Tám Ngày”. Dưới đây tôi sẽ đưa ra sáu luận điểm để cho thấy quý vị có tên tuổi, vừa nêu trên, đã diễn dịch sai ngữ nghĩa chữ soldat:
1. Về Phương Diện Từ Ngữ
Một danh từ có thể đổi nghĩa qua thời đại. Do đó, thay vì chỉ sử dụng cuốn Từ điển Larousse hiện nay để tra cứu nghĩa của chữ SOLDAT, tôi xử dụng hai cuốn Tử điển xuất bản cùng thời mà ông Alexandre de Rhodes sinh sống (1591-1660).
▪ Cuốn thứ nhất: Dictionnaire, Cotgrave, xuất bản năm 1611, chữ soldat có nghĩa, nguyên văn:
Soldat: m. A soldier; one that followes the warres”.
▪ Cuốn thứ hai: Dictionnaire de L’Académie Francaise, 1st Edition (1694), chữ soldat cũng được định nghĩa như sau, nguyên văn:
“Soldat: s.m.Home de guerre, qui est à la solde d’un Prince, d’un Estat, & c. La terre estoit toute couverte de soldats, il faut reprimer la licence des soldats”.
Xem thế, cả hai cuốn từ điển xuất bản năm 1611 và 1694, cùng thời mà Đắc Lộ viết cuốn Hành trình và truyền giáo, cũng định nghĩa chữ soldat: giống đực, số ít, có nghĩa là binh lính, người có súng.
dictionaire de l'academie francais   dict de lacademie
Phóng ảnh bìa hai cuốn từ điển nêu trên
Do đó, cụm từ Plusieurs soldats có nghĩa là nhiều binh lính. Và chữ missionares mới có nghĩa là lính thừa sai tức là các giáo sĩ.
2. Trích dẫn chưa trọn câu đủ ý:
Ðể có thể hiễu rõ thêm ngữ nghĩa chữ soldat chúng ta nên đọc tiếp đoạn văn của Ðắc Lộ, cũng ở trong cuốn “Hành trình và truyền giáo,” cách đoạn trích dẫn trên chỉ chưa đầy ba dòng mà thôi:
“Tôi đi qua Marxây và Lyon rồi tới Paris; theo tôi thì Paris là thu gồm hay đúng hơn là bản mẫu tất cả những gì đẹp nhất tôi đã thấy ở khắp trái đất này.”(cuối tr. 263).
“Trên đường từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan phòng rất đặc biệt của Chúa tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Để ra mắt ở Pháp tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đình vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của Hoàng Hậu. Ngài có nhã ý cùng đi với tôi trong cuộc hành trình nhỏ bé nầy…” (đầu tr. 264), [các chữ in đậm là của BK muốn lưu ý, nhất là các chữ gần cuối trang 263, cuối trang 263 và đầu trang 264].
Như thế, chính Linh Mục A. de Rhodes (Đắc Lộ) đã vào trong triều đình, gặp bà hoàng hậu vua Luis thứ XIV, xin giúp nhiều lính chiến (plusieurs soldats) để chinh phục toàn cỏi Đông Phương (la conquête de tout l’Orient), trong đó có nước ta.
Tuy sự vận động đó chưa thành vào thời điểm của ông, nhưng nó đã mở đường cho Pháp xâm lăng nước ta 206 năm sau. Lính Pháp đổ bộ lên Đà Nẵng ngày 1.9.1858.
Thêm một lý do khác để hiểu tại sao hai chữ Plusieurs soldats có nghĩa là lính chiến có khí giới vì LM Ðắc Lộ vào xin triều đình (chứ không phải vào xin Tòa Giám mục hay xin giáo hội), mà trong triều thì tuyệt nhiên không có “lính thừa sai” tức là các giáo sĩ mà chỉ có lính chiến mà thôi.
3. Thánh chiến:
Giữa trang 264 cuốn Hành trình và truyền giáo Đắc Lộ còn viết:
“Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Quốc, ở Ðàng Trong, ở Ðàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanchicô Xavie tới ba trăm quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm những nơi cùng kiệt cõi đất.”
”Thánh” chiến hay phàm chiến đều là hành động của người gây chiến hay của người lính có khí giới.
4. Về Bối Cảnh Tôn giáo và Chính Trị:
Từ năm 1493, Giáo Hoàng Alexander VI đã có giáo lệnh giao cho Bồ Đào Nha có quyền “sinh sát” tại các nước Phương đông. Vì thế, LM Ðắc Lộ viết rất đúng với hiện thực tôn giáo-chính trị lúc bấy giờ rằng: “Tôi tưởng nước Pháp là một nước ngoan đạo nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ (plusieurs soldats)để đi chinh phục toàn thể Phương Đông (la conquête de tout l’Orient)…”
Tại sao LM Đắc Lộ không xin Giáo Hội Pháp mà xin nước Pháp? Vì về mặt giáo quyền, Giáo Hội Pháp bị ràng buộc bởi giáo lệnh của Giáo Hoàng Alexander VI từ 1493, như đã nêu trên, nên không thể xin Giáo Hội Pháp lính thừa sai (missionnaires) được. Vì vậy, khi Cha Đắc Lộ tiếp cận với nước Pháp (hay bất kỳ nước nào ngoại trừ Bồ Đào Nha) là để xin lính chiến, hoặc để xin gì cũng được ngoại trừ những thứ liên hệ đến Giáo Hội như giáo sĩ, giáo sản…LM Đắc Lộ dùng chữ soldats (lính chiến) rất chính xác. Vì nước Pháp, hay trong chính phủ Pháp làm gì có các thừa sai mà chính phủ cung cấp cho LM Ðắc Lộ?
5. Về Mặt Tâm Lý:
LM Ðắc Lộ (A. de Rhodes) bị Chúa Trịnh đuổi, Chúa Nguyễn đuổi, Trung Quốc đuổi, há ông không xin binh lính (soldats) để phục thù sao? Trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày, trang 83, LM Ðắc Lộ cũng đã biểu hiện tâm chất bất bình và thiếu văn hóa của mình:
“Như thể có chém cây nào đục cho ngã, các cành ấy tự nhiên cũng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ.”
6. Sứ Mạng Của Một Giáo Sĩ Dòng Tên (Jesuite):
Muốn biết thêm giáo sĩ A. de Rhodes có ý đồ chính trị hay không, chúng ta cũng nên tìm hiểu ông được đào tạo và trưởng thành như thế nào qua:
Lời thề của các tu sĩ Dòng Tên trước Giáo Hoàng
…Con xin hứa thêm rằng, lúc có cơ hội, con sẽ tạo ra chiến tranh và tham gia bí mật hay công khai chống lại tất cả những kẻ khác tôn giáo, Tin Lành và Tự Do như con đã được chỉ thị để tàn sát và triệt hạ tận gốc những tên này trên khắp mọi miền của quả đất. Con sẽ không bỏ sót một tên nào; bất kể tuổi tác, giới tính hay hoàn cảnh, con sẽ treo cổ, đốt sống, bỏ vào nước sôi, lột da, siết cổ hay chôn sống những kẻ khác tôn giáo, mổ bụng, moi bào thai trong tử cung vợ chúng và đập đầu những hài nhi vào tường để tiêu diệt vĩnh viển một chủng tộc đáng ghét…
(…I furthermore promise and declare that I will, when opportunity present, make and wage relentless war, secretly or openly, against all heretics, Protestants and Liberals, as I am directed to do, to extirpate and exterminate them from the face of the whole earth; and that I will soare neither age, sex or condition; and that I will hang, burn, waste, boil, flay, strangle and bury alive these infamous heretics, rip up the stomachs and wombs of their women and crush their infants’ heads against the walls , in order to annihilate forever their execrable race…) (*)
Sử liệu cho thấy Linh Mục A. de Rhodes gia nhập Dòng Tên lúc 19 tuổi (1612), ông đến Macao năm 1623, Nam Kỳ Việt Nam năm 1645. Thời gian 22 năm ở các nước Á Châu, qua về Âu Châu. Trong suốt thời gian này ông không bị dứt phép Thông Công, không bị khai trừ ra khỏi Giáo Hội, nghĩa là LM Đắc Lộ vẫn theo Dòng Tên. Với lời thề của Dòng Tên như chúng ta vừa thấy, LM Đắc Lộ ít nhiều không thể là một người hiền lương bình thường.
Với sứ mạng của một giáo sĩ Dòng Tên mà Linh Mục A. de Rhodes (Đắc Lộ) đã thề, thì:
- cụm từ Plusieurs soldats, thêm một lý do nữa, phải được dịch là nhiều binh lính.
Tóm lại, Gs Đinh Xuân Lâm tùy tiện và thiếu trách nhiệm, không thể chấp nhận được, lúc dịch nghĩa cụm từ “plusieurs soldats” là “chiến sĩ” truyền giáo!
Phần B
BIỆN CHÍNH GS ĐINH XUÂN LÂM về NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
Tôi không muốn đi quá sâu vào việc nhận định bài viết tùy tiện và sai lầm của Gs Đinh Xuân Lâm, vì bài này cũng giống như các bài của Giám mục Nguyễn Thái Hợp, ông Vĩnh Khánh, ông Trần Hữu Tá, bà Mai Thị Huyền, Tiến sĩ Lê Thị Lan trên trang nhà Văn hóa Nghệ An, trang Boxit của Gs Nguyễn Huệ Chi mà tôi đã có bài biện chính toàn bộ, quý độc giả có thể tìm thấy trên trang nhà www.tongiaovadantoc.com.
Dưới đây, tôi chỉ phản biện vài mục
▪ --> Gs Đinh Xuân Lâm: "Nguyễn Trường Tộ (1828 – 1871) là một nhà thơ, đồng thời là một người dân công giáo nhiệt tình yêu nước”.
Bùi Kha: NTT một nhà thơ hay không tôi không rõ. Nhưng nếu cho ông là “một người dân công giáo nhiệt tình yêu nước”. Thì phải hiểu đó là nước Pháp và nước La Mã.
- Sử liệu:
Ngày ‘16/10/1858), Nguyễn Trường Tộ và các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. (Trương Bá Cần, “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo”, TP HCM, 1988, tr. 22).
"...đầu năm 1861 Nguyễn Trường Tộ với Giám mục Gauthier trở về Sài Gòn, theo yêu cầu của Đô đốc Charner viên chỉ huy được giao trách nhiệm gom quân để mở rộng vùng chiếm đóng ở Sài gòn (TBC, Sđd, tr. 22).
- Dối trá trong việc mở trường kỷ thuật tại Huế năm 1868 [Xem Hoàng Chí Hiếu, Xưa và Nay, số 393, tháng 12. 2011].
trang báo Hoàng Chí Hiếu
Ăn ở tiếp xúc thân cận với một tên tình báo, Giám mục Gauthier, gần 20 năm. Ngay chỉ một hành động này thôi, cũng đủ biết tâm chất của NTT là một tên vọng thực dân Pháp và yêu nước Pháp chứ không phải nước Việt Nam.
- Sáu sử liệu cho thấy Giám mục Gauthier là một tên tình báo cao cấp, vui lòng xem Bùi Kha, “Nguyễn Trường Tộ & vấn đề canh tân”. Nhà Xuất bản Văn học, Hà Nội, tháng 3. 2011. Trung Tâm Nghiên cứu Quốc học phát hành. Tr. 137-171].
▪ --> Gs Đinh Xuân Lâm: "Đã thế, trong thời gian này, triều đình lại liên tiếp phạm những sai lầm to lớn trong chính sách đoàn kết dân tộc chống Pháp, trong chính sách giáo lương đoàn kết, tháng 12/1961 công bố các hình thức trừng phạt đối với dân theo đạo, từ giam giữ chung thân, đến thắt cổ chết ngay, hay đánh trượng tuỳ theo tội nặng nhẹ. Tháng 1/1862 triều đình có lệnh cho những người bị tội được bỏ tiền của ra chuộc, nhưng những tội nhân theo đạo lại không được hưởng điều đó”.
Bùi Kha: Một trong 4 trụ cột sử gia, nhưng chúng ta không thấy Gs Đinh Xuân Lâm cho độc giả biết, đọan văn nêu trên, Gs trích dẫn từ tài liệu nào?
Trái lại, một Đô đốc người Pháp viết về vấn đề nầy như sau:
Ai (các giáo sĩ, BK) cũng ôm ấp lý tưởng trở lại thời kỳ mà Giám mục Bá Đa Lộc được xem như ông vua thực sự của xứ An Nam, thời kỳ mà mọi việc chỉ có thể được thực hiện theo lời khuyến cáo của ông giám mục này, hoặc được ông cho phép. Để đạt mục đích đó, các nhà truyền giáo đã dùng kế hoạch sau đây: Nếu những ai nối vị vua Gia Long mà không theo ý của các ông giáo sĩ, thì họ sẽ tìm cách phủ nhận tính chính thống của vua này, và khi lật đổ được triều đình hiện tại thì sẽ bầu lên một ông vua khác theo ý họ”.
Nguyên văn tiếng Pháp:
“Tous caressent l'idée de revenir au temp où l'Évêque d'Adran était le véritable souverain du royaume d'Annam, temps où rien ne se faisait que par ses conseils ou sa permission. Pour parvenir à ce but voici quels moyens ils ont employés: les unes et les autres, ne trouvant pas que les successeurs de la dynastie de Gia Long obtempérassent assez à leurs désirs, ont contesté la légitimité de ceux-ci et ont cherché à mettre en avant un candidat qui, s'il renversait la dynastie régnante, leur offrit plus de garanties pour arriver à leurs fins”. (Trích trong Archives du Ministère des Affaires Étrangères, Asie, Mémoires et Documents, Vol, 28, Fol. 85-88: Thư khố Bộ Ngoại giao, Á châu, kỷ yếu và tài liệu, tập 28, tr. 85-88. Xem Bùi Kha, tr. 73-74).
Để vấn đề được vô tư hơn, và để thấy ngay các hành động mà giáo sĩ đã tác hại cho đất nước Việt Nam, xảy ra lúc mà Nguyễn Trường Tộ vào khoảng 30 tuổi, chúng ta nên nghe lời than phiền của Đô đốc Rigault de Genouilly về hành động mà họ gọi là “kẻ tử đạo”.
Không một nền cai trị nào, dù là phục vụ cho đạo Công giáo, lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên và ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự, và quân sự vốn không được và không phải thuộc quyền hạn của họ (các giáo sĩ, BK). Nếu cũng vì những yếu tố buộc tội đó mà Giám mục Pellerin bị nhà cầm quyền An Nam trục xuất thì báo chí của người truyền đạo lại kêu la om sòm là họ bị bạo hành.
Nguyên văn tiếng Pháp:
“Fut - elle au service de l'intérêt chrétien, ne pouvait tolérer leur intrusion permanente et insolente dans les affaires politiques, civiles et militaires qui ne sont et ne doivent pas être de leur ressorts. Si l'expulsion du Mgr Pellerin avait été prononcée, pour les mêmes chefs d'accusation, par une autorité Vietnamienne, la presse des missionnaires aurait crié partout persecution” (Văn thư 29/01/1859, p.113).
--> Gs. Đinh Xuân Lâm: Trong bài, Gs có nhắc tên Linh mục Nguyễn Hoằng và Nguyễn Điều bằng một tâm cảnh “trang trọng”.
Bùi Kha: Gs ĐXL không biết hai ông linh mục nầy là việt gian và nằm vùng để lèo lái vua bù nhìn Đồng Khánh.
Sử liệu về Linh mục Nguyễn Điều:
Theo sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, thì năm 1858, Giám mục Gauthier có đem theo vào Đà Nẵng cụ Khang, cụ Điều (Trương Bá Cần, “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo”, TP HCM, 1988, tr. 190).
…“Sau này chúng ta chỉ thấy Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và Joannes Vị cùng đi Pháp với Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ (1867-1868) (TBC, Sđd, tr. 90).
…Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm…Đô đốc Rigault de Genouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hồng Kông. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi Hồng Kông trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859” (TBC, Sđd, tr. 22).
Linh mục Nguyễn Hoằng:
“… Sau khi Hàm Nghi lên ngôi đi kháng chiến, Chánh Mông sang tòa khâm sứ Pháp xin De Courcy để tên đại tướng giặc thương tình cho hai đội lính Pháp hộ tống sang thành nội làm lễ đăng quang lên ngôi hoàng đế, đặt ra niên hiệu Đồng Khánh thì ông vua bù nhìn này được sự cố vấn của Trương Vĩnh Ký và Linh mục Nguyễn Hoằng (chức Ngự Tiền Hành Nhân) hợp cùng tay sai đắc lực Pháp như Nguyễn Hữu Độ, Phan Liêm... ra sức dùng mồi danh lợi kêu gọi nghĩa quân...”(Phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam, tr. 340).
Cùng trang 340 sách này, tác giả Nguyễn Sinh Duy, chú thích thêm:
Còn Nguyễn Hoàng (có chỗ chép Hoằng), sinh 1839, người Hà Tĩnh, theo đạo Thiên Chúa, từng du học ở chủng viện Pénang, Mã Lai. Năm 1876, được cử làm Tham Biện Thương Chính ở Hải Phòng và Hải Dương, năm 1885, hàm Hường lô tự Khanh kiêm Tham Biện viện Cơ Mật, năm 1886, giữ chức Phụ tế đại thần và Ngự tiền Triều vua Đồng Khánh”.
Nhằm mục đích tránh việc "dĩ hư truyền hư", nên tôi chỉ nêu ba điểm trong số những sai lầm hoàn toàn cả bài viết của Gs Đinh Xuân Lâm.
Kính chúc Giáo sư một năm mới an lành và vạn sự như ý.

Bùi Kha,
Ngày mồng 3 Tết, 25.1.2012

20 Triệu chứng ung thư chết người thường gặp không thể bỏ qua

Hãy cẩn trọng với sức khỏe mình, không được bỏ qua bất kỳ thay đổi nào trong cơ thể. Vì xem thường những thay đổi bất ngờ này, vô tình chúng ta đã bỏ qua cơ hội phát hiện ra các căn bệnh ung thư có thể chữa khỏi ở giai đoạn mới hình thành.



Tôi có một người bạn, mới vừa bước qua tuổi 30 chưa được bao lâu. Cô ấy hoàn toàn khỏe mạnh, sự nghiệp thăng tiến, gia đình hạnh phúc với hai đứa con xinh đẹp 5 và 3 tuổi. Công việc bận rộn cùng thói quen thờ ơ với sức khỏe nên chị chẳng bao giờ đi khám sức khỏe định kỳ. Cả hai vợ chồng đều đinh ninh mình khỏe mạnh bình thường, chỉ cảm sốt sơ sơ thôi nên không bao giờ nghĩ phải đối mặt với căn bệnh nguy hiểm ấy.
Hôm đó, chị nhìn vào gương thì thấy bộ ngực có điều bất thường. Vú bên phải trơn tru trong khi bên trái lại nhăn nheo; bên to bên nhỏ rõ rệt, đã thế khi ấn tay vào cảm giác đau nhói. Cảm giác thấy có sự chẳng lành, chị nhanh chóng đến bệnh viện kiểm tra, thì biết mình bị ung thư vú.
Thông báo này của bác sĩ như sét đánh ngang tai, chị mới hơn 30 tuổi, hai con của chị còn rất nhỏ, chúng còn chưa bước vào tiểu học. Hoang mang, lo lắng và sợ hãi; chị buộc phải trải qua một cuộc đại phẫu thuật, cắt bỏ 2 tuyến vú và 2 buồng trứng cùng một lúc. Sau cuộc phẫu thuật, sức khỏe của chị hoàn toàn suy sụp. Mọi động tác, cử chỉ, đi lại, vệ sinh cá nhân… đều phải phụ thuộc vào người thân…
Hãy cẩn trọng với sức khỏe mình, không được bỏ qua bất kỳ thay đổi nào trong cơ thể. Vì xem thường những thay đổi bất ngờ này, vô tình chúng ta đã bỏ qua cơ hội phát hiện ra các căn bệnh ung thư có thể chữa khỏi ở giai đoạn mới hình thành.
Một khảo sát của tổ chức từ thiện The Eve Appeal cho thấy phụ nữ ít khi quan tâm đến những thay đổi của cơ thể mình vì về bản chất, cơ thể phụ nữ luôn thay đổi từ khi dậy thì đến tuổi mãn kinh. Tuy nhiên, nếu xuất hiện những triệu chứng dưới đây thì bạn cần đề phòng:
Dù không hút thuốc lá, phụ nữ có thể nhạy cảm hơn với các chất gây ung thư trong thuốc lá, và phụ nữ có xu hướng phát triển bệnh ung thư phổi sau ít năm hút thuốc hơn ở nam giới. Một ngày nào đó bạn phát hiện hơi thở nặng nhọc, khò khè. Đặc biệt vào ban đêm, lúc ngủ hơi thở như có đờm, đó là một trong những dấu hiệu đầu tiên của rất nhiều bệnh nhân ung thư phổi.
Ho dai dẳng lâu ngày hoặc đau tức ngực
Hầu hết những cơn ho sẽ kết thúc sau 3-4 tuần. Đừng bỏ qua những cơn ho kéo dài, kèm theo đau tức ngực, cơn đau có khi kéo dài xuống cánh tay. Nếu bạn bị ho ra máu hãy đi khám bác sĩ ngay. Ho là triệu chứng phổ biến của bệnh ung thư phổi.
Sốt thường xuyên hoặc nhiễm trùng
Nếu bạn bị sốt kéo dài và không có dấu hiệu thuyên giảm thì có thể đã mắc bệnh cầu cấp hoặc các bệnh ung thư máu khác. Bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra tiền sử bệnh lý, sau đó đưa ra các phương pháp xét nghiệm cụ thể.
Khó nuốt
Bạn không cần lo lắng khi thỉnh thoảng mới thấy khó nuốt. Tuy nhiên, hiện tượng khó nuốt xảy ra thường xuyên, đi kèm giảm cân và nôn, bạn cần nhờ bác sĩ kiểm tra ngay xem có mắc ung thư cuống họng, ung thư thực quản hay ung thư dạ dày không, nhưng nó cũng có thể là một trong những dấu hiệu đầu tiên của ung thư phổi.
Khi có dấu hiệ này bạn nên đi khám để được kiểm tra họng và tiến hành chụp Bari. Khi chụp, bạn sẽ được uống một chất lỏng đặc biệt làm cho hình ảnh của cuống họng nổi bật.
Sưng hạch bạch huyết hoặc cục u trên cổ, nách, háng
Các hạch bạch huyết có hình dạng nhỏ như hạt đậu, trải khắp cơ thể. Hầu hết hiện tượng sưng hạch bạch huyết là do nhiễm trùng thông thường. Tuy nhiên, một số loại ung thư như bạch cầu cấp hoặc ung thư hạch bạch huyết cũng khiến sưng hạch bạch huyết. Tốt nhất là bạn nên đến gặp bác sĩ nếu hiện tượng này kéo dài 1 tháng hoặc hơn.
ung thu blogtin (1)
Tất cả các dạng chảy máu không lí giải được đều có thể là dấu hiệu của bệnh bạch cầu bởi khi đó, chứng giảm tiểu cầu sẽ ngăn máu đông. Những vết bầm có thể đột nhiên xuất hiện trong khi bạn nhớ rằng mình không va chạm vào bất cứ đâu. Hơn nữa, chúng còn có mặt ở những nơi lạ như ngón tay, bàn tay, bụng, lưng. Các vấn đề liên quan tới chảy máu gồm có: Đứt tay khó lành, thường xuyên chảy máu cam hay kinh nguyệt dài kì bất thường ở phụ nữ.
Cơ thể thường xuyên mệt mỏi
Hấu hết chị em đều cảm thấy mệt mỏi vì cuộc sống bận rộn. Nhưng nếu hiện tượng mệt mỏi kéo dài thì quả thực không bình thường chút nào. Hãy nói với bác sĩ nếu bạn bị mệt mỏi kéo dài và không có dấu hiệu suy giảm hoặc có những dấu hiệu khác đi kèm như có lẫn máu trong phân. Bác sĩ sẽ kiểm tra tiền sử bệnh lý, sau đó tiến hành xét nghiệm máu.
Đầy hơi hoặc tăng cân ở vùng bụng dưới
Phụ nữ thường cảm thấy đầy hơi. Điều này là chuyện rất bình thường, nhưng nếu hiện tượng này xuất hiện 1-2 tuần mà không biến mất thì hãy đến gặp bác sĩ”, Tiến sĩ Marleen Mayer (Trung tâm Y tế NYU Langone, Mỹ) cho biết.
Nếu đầy hơi đi kèm với tăng cân ở vùng bụng dưới hay chảy máu không rõ lý do rất có thể bạn đã bị ung thư buồng trứng. Bạn sẽ phải tiến hành khám phụ khoa cũng như xét nghiệm máu , thậm chí là siêu âm để tìm ra nguyên nhân.
Cảm giác không muốn ăn
Khi ăn bạn có cảm giác không ngon miệng dù bạn đang đói, rất muốn ăn. Bình thường thì không sao vì có thể do bạn làm việc mệt mỏi, căng thẳng không muốn ăn… Một khi triệu chứng này kéo dài và xảy ra liên tục bạn phải đi bác sĩ ngay vì đây cũng có thể là triệu chứng của ung thư buồng trứng.
Đau vùng chậu
Nhiều phụ nữ phải chịu chứng chuột rút trong chu kì kinh nguyệt hàng tháng của mình. Tuy nhiên, chị em cần hết sức chú ý nếu thấy đau nhức ở quanh vùng chậu hoặc bị chuột rút ở những ngày không có kinh nguyệt. Bởi vì đó có thể là những triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung.
Chảy máu trực tràng hoặc máu trong phân
Bạn cần nói chuyện với bác sĩ khi hiện tượng này kéo dài hơn 1-2 ngày. “Hiện tượng lẫn máu trong phân là dấu hiệu của bệnh trĩ nhưng đây cũng là triệu chứng của bệnh ung thư ruột kết. Còn hiện tượng chảy máu trực tràng là một triệu chứng phổ biến của bệnh ung thư đại tràng”, bác sĩ chuyên khoa Niệu Herbert Lenpor (Trung tâm y tế Langone, đại học New York, Mỹ) khẳng định.
Giảm cân không rõ nguyên nhân
Hấu hết phụ nữ đều muốn giảm cân để có thân hình thon thả. Tuy nhiên, nếu bạn bị giảm nhiều hơn 5 kg mà không có sự thay đổi trong thói quen ăn kiêng và tập thể dục thì rất có thể cơ thể đang có vấn đề. “Giảm cân ngoài ý muốn không hẳn là ung thư. Nó thường do căng thẳng hoặc tuyến giáp đang bị trục trặc, nhưng đây cũng có thể là do bạn đã bị ung thư tuyến tụy, dạ dày và phổi”, Meyers nói.
Lúc này bạn cần đến gặp bác sĩ để tiến hành các xét nghiệm, bao gồm xét nghiệm máu và chụp cắt lớp CT.
Đau bụng
Thường xuyên đau bụng hoặc dạ dày khó chịu có thể là dấu hiệu của ung thư đại trực tràng.
Núm vú đỏ, đau, hoặc sưng
Nếu bạn có cảm giác ngực mình nóng, hay ửng đỏ (thậm chí có màu tím), sưng đau, đó có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng, viêm vú, nhưng cũng có thể là ung thư vú dạng viêm. Nguyên nhân là do các khối u vú đẩy vào chèn ép các mô, khiến ngực bị sưng, đau tức và tấy đỏ.
Thay đổi núm vú
Mặc dù hầu hết các khối u ở vú không phải là ung thư, nhưng tốt nhất vẫn nên tới các cơ sở chuyên khoa để được kiểm tra và điều trị kịp thời, đặc biệt khi phát hiện thấy những triệu chứng sau:
Da vú nhăn nheo, sần sùi như vỏ cam
Núm vú bị kéo tụt vào trong.
Núm vú tiết dịch bất thường.
Vú bị sưng, đỏ.
Chảy máu giữa chu kỳ kinh nguyệt
Nếu bạn bị chảy máu nhưng chưa đến kỳ kinh nguyệt, bạn cần đến gặp bác sĩ ngay vì đây là dấu hiệu của ung thư niêm mạc tử cung – dễ thành ung thư buồng trứng. Nếu bị chảy máu sau thời kỳ mãn kinh thì càng không được chủ quan bởi đây là hiện tượng không bình thường, cần đi kiểm tra ngay lập tức.
Khuôn mặt, bọng mắt sưng đỏ
Bọng mắt, sưng, hoặc đỏ ở mặt là những đặc điểm rất dễ nhận dạng ở một số bệnh nhân bị ung thư phổi. Các khối u trong phổi thường làm nghẽn mạch máu trong ngực, ngăn không cho máu chảy tự do từ đầu và mặt.
Thay đổi cấu trúc da, xuất hiện khối u giống mụn
Nhiều người bỏ qua dấu hiệu này vì nó dễ bị nhầm tưởng với vết máu được hình thành khi nặn mụn trên mặt. Sự khác biệt cơ bản giữa hai yếu tố này là vết thương do ung thư da thường chảy máu nhiều lần và tập trung ở nốt ruồi, các vết ban đỏ.
Trong khi mọi người thường cảnh giác với các nốt ruồi xấu xí, bất thường thì khối u nguy hiểm này lại được bỏ qua khi xuất hiện trên da với màu đỏ nhạt. Nó giống một nốt mụn đến mức ngay cả bác sĩ chuyên khoa sau khi quan sát kỹ vẫn có sự nhầm lẫn.
Xuất hiện vùng da thô, màu đỏ nhạt ở đầu, mặt, tai, cổ, cánh tay và lưng là dấu hiệu cảnh báo bạn mắc ung thư biểu mô tế bào vảy. Nhìn chung, vùng da này khi chạm vào ít có cảm giác đau. Điều khác biệt duy nhất bạn có thể cảm nhận là nó thường dày hơn so với mô da vùng lân cận.
Đây là một số dấu hiệu cảnh báo ung thư da mà mọi người không nên bỏ qua, từng chi tiết cũng có thể giúp bạn không gặp phải những nguy hiểm từ căn bệnh ác tính này gây ra.
Những thay đổi ở móng tay
Móng tay của bạn tự nhiên thay đổi không rõ nguyên nhân, có thể là một triệu chứng của một số loại ung thư. Một vệt màu nâu hoặc màu đen hoặc chấm dưới móng tay có thể là một dấu hiệu của bệnh ung thư da. Các đầu móng tay cong xuống là một triệu chứng của bệnh ung thư phổi. Móng tay nhợt nhạt hoặc trắng đôi khi có thể là một triệu chứng của bệnh ung thư gan.
ung thu blogtin (2)
Đây là dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư gan. Tuy nhiên Ung thư vú cũng thường được chẩn đoán qua đau lưng, xảy ra khi một khối u vú ép ngược vào trong ngực, hoặc khi ung thư lan đến cột sống hay xương sườn.
Nguồn: Sưu tầm.

Cậu học trò cá biệt đã dạy cho cô giáo một bài học không bao giờ quên.

Cô giáo cố ý để hồ sơ của cậu học trò cá biệt trong lớp để xem cuối cùng, nhưng đến khi xem xong cô đã vô cùng kinh ngạc. Từ đó, cô nhìn lại cách giáo dục trẻ của mình và bắt đầu thay đổi…



Vào ngày khai giảng, cô giáo đã nói dối một điều với học sinh…
 
Ngày khai giảng đầu tiên, Thompson đứng trước mặt các học sinh lớp 5 của mình. Cô nhìn các em học sinh, nói rằng cô sẽ yêu thương mỗi em đều như nhau. Nhưng điều này dường như là không thể …  Ngồi hàng ghế đầu có một bé trai, cậu bé tên là Teddy Stoddard. Cô phát hiện, Teddy không chơi cùng các bạn. Áo quần cậu bé rất nhếch nhác, người cũng không sạch sẽ, hơn nữa lại không được các bạn yêu quý. Thompson rất thích dùng bút đỏ vẽ dấu gạch chéo lên bài thi của cậu.
 
Không lâu sau, ngôi trường của Thompson yêu cầu giáo viên thẩm định thông tin về từng học sinh trong những năm qua, cô đem hồ sơ của Teddy để cuối cùng mới xem. Nhưng khi xem, cô đã vô cùng kinh ngạc.
 
Thầy chủ nhiệm năm 1 của Teddy viết: “Teddy là một đứa bé thông minh, luôn mang trên mặt nụ cười. Bài tập ghi rất sạch sẽ, rất có lễ phép, cậu bé mang đến niềm vui cho mọi người xung quanh”.
 
Thầy giáo năm thứ 2 viết: “Teddy là một học sinh ưu tú, rất được bạn bè yêu mến, nhưng cậu bé rất buồn, bởi vì căn bệnh của mẹ cậu bé đã đến giai đoạn cuối, cuộc sống gia đình đang rất khó khăn”.
 
Thầy giáo năm thứ 3 viết: “Mẹ qua đời là một bi kịch rất lớn đối với Teddy. Cậu bé muốn cố gắng, nhưng cha cậu không có ý thức trách nhiệm, nếu không áp dụng một ít biện pháp thì gia đình sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng bất lợi đối với Teddy”.
 
Thầy giáo năm thứ 4 viết: “Tính tình của Teddy rất quái gở, không có hứng thú với học tập. Cậu bé không có người bạn nào, hay ngủ gật trên lớp”.
 
Lúc này, Thompson mới nhận ra vấn đề, cô cảm thấy xấu hổ vì hành vi của mình.
 
Đến lễ giáng sinh, khi các em học sinh tặng quà cho cô, cô càng cảm thấy xấu hổ hơn nữa. Quà của các bạn khác đều dùng giấy loại tốt sáng ngời, bên trên còn có dây lụa xinh đẹp, duy chỉ có Teddy là không phải.
 
Món quà của cậu bé dùng loại giấy rất dày bao lại, giấy này là từ túi tạp hóa. Cô rất khó khăn mới mở được món quà. Đó là một vòng tay bằng đá thủy tinh bị mất một viên, còn có một lọ nước hoa chỉ còn 1/4 lọ. Mấy đứa bé khác bắt đầu cười, cô ngăn bọn nhỏ lại, rồi lớn tiếng khen vòng tay rất đẹp, cô mang nó trên tay, còn thoa một ít nước hoa lên cổ tay.
 
Ngày tan học hôm đó, Teddy Stoddard đã nói một câu trước khi về: “Cô Thompson à! Mùi hương trên người cô hôm nay giống mẹ con trước kia vậy!”. Sau khi bọn nhỏ về, cô đã khóc hàng giờ liền.
 
Từ ngày đó trở đi, thay vì chỉ chăm chú nghiên cứu dạy đọc, làm văn, số học như thế nào nữa, cô Thompson đặc biệt chú trọng nghiên cứu làm sao để giáo dục bọn nhỏ cho tốt hơn. Cô bắt đầu đặt biệt chú ý tới Teddy. Cùng học với cô, đầu óc cậu bé đã trở nên linh hoạt… Cô càng khích lệ, phản ứng của cậu bé lại càng nhanh nhẹn.
 
Đến cuối năm, Teddy đã trở thành cậu bé thông minh nhất lớp, cho dù cô đã từng nói sẽ yêu thương bọn nhỏ đều như nhau, nhưng Teddy trở thành “con cưng” của cô. Một năm sau, Thompson phát hiện một mảnh giấy ở khe cửa nhà mình, là của Teddy ghi, cậu bé nói rằng, cô là cô giáo giỏi nhất mà cả đời cậu bé gặp được. Sáu năm sau, cô lại nhận được một mảnh giấy khác của Teddy, cậu bé nói mình đã tốt nghiệp trung học, thành tích xếp hạng đứng thứ ba trong lớp, cô vẫn là cô giáo giỏi nhất mà cậu bé từng gặp.
 
Nhiều năm sau, Thompson nhận được một phong thư, lần này Teddy nói, sau khi tốt nghiệp đại học, cậu bé quyết định tiếp tục lưu lại trường để đào tạo chuyên sâu. Cậu bé còn nói, cô Thompson vẫn là cô giáo tốt nhất mà cả đời cậu gặp được. Trên chữ ký lần này còn thêm một chút: Tiến sĩ Y Khoa Teddy F Stoddard.
 
Mùa xuân năm đó, Teddy lại gởi một phong thư, cậu nói mình sắp kết hôn, không biết cô Thompson có nguyện ý tham dự lễ cưới của cậu không, và cô sẽ được ngồi ở chiếc ghế dành cho mẹ của cậu.
 
Đương nhiên, cô đã đi. Cô còn đeo chiếc vòng tay thủy tinh, dùng loại nước hoa mẹ Teddy đã từng dùng. Khi cô trò ôm nhau, tiến sĩ Teddy Stoddard nhẹ nhàng nói bên tai Thompson: “Cảm ơn cô Thompson nhiều! Cảm ơn cô đã cho con biết rằng mình còn có giá trị”.
 
Đôi mắt ngấn lệ, cô thì thầm nói:
 
“Teddy, con đã lầm rồi, là con đã dạy ta, mãi đến khi gặp con, cô mới biết làm cô giáo là như thế nào”.

Nguồn: mạng thư viện

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2016

Bí thư Đoàn “uống thuốc sâu tự tử” ngay cơ quan

Một Bí thư đoàn phường ở TP Cần Thơ vừa được phát hiện uống thuốc trừ sâu tự tử ngay tại cơ quan.
Ngày 1/9, ông Trần Hoàng Tuấn – Chủ tịch UBND phường Tân An (quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ) xác nhận thông tin, anh Đỗ Ngọc Trọng (34 tuổi) – Bí thư đoàn của phường vừa uống thuốc trừ sâu tự tử ngay tại cơ quan.
1472727003-5127-20160901162309-doan
Anh Tr đang được điều trị tại BV Đa Khoa TP Cần Thơ
Theo thông tin ban đầu, sáng hôm qua, anh Trọng đến cơ quan làm việc bình thường. Khoảng 10h cùng ngày, một đồng nghiệp đến phòng làm việc của Trọng thấy cửa khóa trong, gọi mãi không được nên nghĩ có chuyện chẳng lành.
Đồng nghiệp này hô hoán và mọi người cùng tông cửa vào thì phát hiện anh Trọng đang nằm gục bên cạnh chai thuốc trừ sâu. Mọi người nhanh chóng, đưa anh Trọng vào BV Đa khoa TP Cần Thơ cấp cứu.
Tại bệnh viện anh Trọng được hồi sức tích cực, súc rửa dạ dày, giải độc…Đến chiều nay, sức khỏe anh Trọng đã tạm ổn.
Ông Tuấn cho hay, anh Trọng có vợ và hai con. Từ trước đến nay, Trọng hoàn toàn bình thường, sống hòa đồng với bạn bè và đồng nghiệp. Trước khi vụ việc xảy ra, anh Trọng còn đi họp chi đoàn trong khu vực dân cư.
Theo Vietnamnet.vn