Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

Sự can thiệp, các thể chế, xung đột khu vực và sắc tộc (Phần 2)

_68998118_68998117
Nguồn: Joseph S. Nye (2007). “Intervention, Institutions, and Regional and Ethnic Conflict” (Chapter 6), in Joseph S. Nye, Understanding International Conflicts (New York: Longman), pp. 157-203.
Biên dịch: Khoa QHQT | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Luật quốc tế và tổ chức quốc tế
Chủ quyền và không can thiệp là những điều được ghi nhận bởi luật pháp và các tổ chức quốc tế. Người ta đôi khi gặp khó khăn trong việc hiểu được các luật và tổ chức quốc tế vì họ so sánh với bối cảnh trong nước. Tuy nhiên tổ chức quốc tế khác với chính phủ một nước, và luật quốc tế cũng không giống với luật pháp trong nước. Các tổ chức quốc tế không phải là một dạng sơ khai của chính phủ toàn cầu vì hai lý do. Thứ nhất, chủ quyền của các quốc gia thành viên được bảo đảm trong hiến chương của hầu hết các tổ chức quốc tế. Điều 2.7 của Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định rằng “Không có điều gì trong bản Hiến chương này sẽ cho phép Liên Hợp Quốc can thiệp vào những vấn đề thuộc thẩm quyền trong nước của một quốc gia.” Nói cách khác, tổ chức này không nhằm thay thế quốc gia-dân tộc.
So sánh với bối cảnh trong nước
Một lý do khác khiến các tổ chức quốc tế không phải là một dạng sơ khai của chính phủ toàn cầu chính là sự yếu kém của những tổ chức này. Hiện đã có một cơ quan tư pháp quốc tế, dưới hình thức Toà án Công lý Quốc tế, bao gồm 15 thẩm phán với nhiệm kỳ 9 năm do Liên Hợp Quốc bầu, nhưng Toà án Công lý Quốc tế không phải là một toà án tối cao của thế giới. Các nước có thể không công nhận thẩm quyền của Tòa, và cũng có thể từ chối chấp nhận phán xét của Tòa ngay cả khi đã chấp nhận thẩm quyền của nó. Ví dụ trong những năm 1980, chính quyền Reagan đã từ chối chấp nhận phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế cho rằng hành động thả ngư lôi tại các cảng Nicaragua của Mỹ là bất hợp pháp.
Nếu chúng ta tưởng tượng Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tương đương quốc hội, thì đây sẽ là một loại hình cơ quan lập pháp kỳ lạ. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc dựa trên nguyên tắc mỗi quốc gia một phiếu bầu, nhưng nguyên tắc đó không phản ánh sự dân chủ lẫn những mối quan hệ quyền lực trên thế giới. Sự dân chủ dựa trên nguyên tắc mỗi người một lá phiếu. Trong Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, đảo quốc Maldive với 100.000 dân ở Nam Ấn Độ Dương có một phiếu bầu trong khi Trung Quốc với hơn một tỉ dân cũng chỉ có một phiếu. Điều đó có nghĩa là người dân Maldive có quyền bỏ phiếu cao gấp 10.000 lần người dân Trung Quốc tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Vì vậy, điều này không phù hợp hoàn toàn với tiêu chí dân chủ trong những cơ quan lập pháp. Nguyên tắc trên cũng không dân chủ trong việc phản ánh quyền lực, bởi vì Maldive có cùng số phiếu với Mỹ, Ấn Độ hay Trung Quốc tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Sự bất hợp lý như vậy khiến cho các quốc gia không muốn Đại hội đồng thông qua những văn bản pháp lý có giá trị ràng buộc. Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vì thế chỉ có vậy: nghị quyết, chứ không phải luật.
Cuối cùng, chúng ta có thể tưởng tượng rằng tổng thư ký Liên Hợp Quốc là tổng thống sơ khai của thế giới. Tuy nhiên đó cũng là một điều sai lầm. Tổng thư ký là một vị trí kém quyền lực. Nếu tổng thư ký có quyền lực, nó là thứ quyền lực mềm của một vị Giáo hoàng hơn là sự kết hợp giữa quyền lực cứng và quyền lực mềm của một vị tổng thống đúng nghĩa. Cố gắng để hiểu những tổ chức quốc tế bằng cách so sánh chúng với chính trị trong nước chắc chắn sẽ mang lại những câu trả lời sai.
Luật pháp quốc tế cũng không giống luật pháp của một quốc gia. Luật pháp của một quốc gia là sản phẩm của cơ quan lập pháp lẫn các tập quán, gọi là tập quán pháp. Luật pháp quốc gia liên quan đến những điều khoản về việc thi hành luật, việc yêu cầu xét xử bởi những cá nhân (bạn có thể tự đi tới toà án để tiến hành vụ kiện), và việc sửa đổi luật một cách trật tự bằng các văn bản pháp lý. Công pháp quốc tế nói chung có sự tương đồng vì nó cũng bao gồm các hiệp ước, là những thỏa thuận giữa các quốc gia, và những tập quán, là những thông lệ được chấp nhận rộng rãi giữa các quốc gia. Tuy nhiên có một sự khác biệt lớn trong việc thi hành luật và xét xử. Đối với vấn đề thi hành luật, không có bất kỳ ai có thể buộc các nước phải chấp nhận quyết định của toà án. Nền chính trị thế giới là một hệ thống mà ở đó các nước phải tự cứu lấy mình. Theo cách cổ điển trong luật pháp quốc tế, đôi khi việc thi hành luật được đảm bảo bởi các cường quốc. Ví dụ như trong Luật Biển có một tập quán quy định rằng một quốc gia có quyền tài phán trong phạm vi 3 dặm trên biển. Vào thế kỷ 19, khi Uruguay tuyên bố lãnh hải của mình rộng hơn nhằm bảo vệ ngành đánh bắt thuỷ sản trên biển của họ, nước Anh, là cường quốc hải quân vào thời điểm đó, đã đưa tàu chiến đến tuần tiễu trong vòng 3 dặm tính từ bờ biển Uruguay. Vì vậy, tập quán pháp được đảm bảo thực thi bởi các cường quốc. Nhưng bạn có thể đặt câu hỏi “Ai buộc nước Anh phải tuân thủ luật nếu nước Anh vi phạm?” Câu trả lời là việc thi hành luật trong một hệ thống vô chính phủ giống như một con đường một chiều.
Việc yêu cầu xét xử trong luật pháp quốc tế được thi hành bởi các quốc gia chứ không phải bởi các cá nhân (mặc dù Tòa án Châu Âu ở Strasbourg là một ngoại lệ mang tính khu vực). Thay vì bất kỳ ai trong hàng tỉ người dân trên thế giới có thể đâm đơn kiện lên toà án quốc tế, chỉ có các quốc gia mới có thể làm được việc đó, và những quốc gia đó sẽ không theo vụ kiện trừ khi họ muốn giải quyết vụ kiện hay nghĩ rằng họ có cơ hội đáng kể để giành phần thắng. Vì vậy, toà án quốc tế có tương đối ít việc để làm. Những năm 1990, các tòa án đặc biệt được thiết lập để xét xử các tội phạm chiến tranh trong các cuộc xung đột ở Bosnia và Rwanda, và vào năm 2002 một số lượng lớn các quốc gia đã thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế nhằm xét xử các tội phạm chiến tranh và diệt chủng nếu họ không bị chính phủ các nước xét xử. Tuy nhiên mốt số các quốc gia chủ chốt bao gồm Mỹ và Trung Quốc đã không phê chuẩn hiệp ước vì cho rằng Tòa án này vi phạm chủ quyền của họ. Hơn nữa, có một vấn đề là làm thế nào để diễn giải các quy định tập quán, ngay khi các bên đã thống nhất về nguyên tắc. Hãy xem xét ví dụ về nguyên tắc sung công. Một điều được thừa nhận là một quốc gia có thể quốc hữu hoá một công ty nước ngoài đang hoạt động trên lãnh thổ mình nhưng phải trả tiền bồi thường tương đương với giá trị của công ty đó. Nhưng ai có thể đưa ra được con số bồi thường bao nhiêu là thỏa đáng? Rất nhiều quốc gia kém phát triển cho rằng một mức bồi thường thấp là thoả đáng nhưng những nước giàu thường yêu cầu mức bồi thường cao hơn.
Cuối cùng, ngay cả khi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua các nghị quyết thì ý nghĩa của những nghị quyết đó vẫn còn nhiều điều mơ hồ. Chúng không phải là những văn bản pháp lý mang tính ràng buộc. Nơi duy nhất trong Hiến chương Liên Hợp Quốc mà ở đó các quốc gia buộc phải chấp nhận một quyết định về mặt pháp lý là Chương 7, liên quan đến đe doạ hoà bình, xâm phạm hoà bình và những hành động xâm lược. Nếu Hội đồng Bảo an (không phải Đại hội đồng) nhận thấy có hành động xâm lược hay đe dọa hòa bình và đưa ra lệnh trừng phạt, thì những quốc gia thành viên buộc phải áp dụng sự trừng phạt đó. Điều này đã xảy ra vào năm 1990 khi Iraq xâm lược Kuwait, và vào năm 2001 sau khi Mỹ trở thành mục tiêu của các vụ tấn công khủng bố quốc tế.
Một cách khác để tạo ra một luật mới là thông qua những hội nghị liên chính phủ lớn đàm phán các dự thảo hiệp ước để các chính phủ ký kết. Những hội nghị như vậy thường rất lớn và khó điều khiển. Ví dụ, trong những năm 70 của thế kỷ 20, Hội nghị Luật Biển với sự tham gia của hơn một trăm quốc gia đã cố gắng dự thảo những nguyên tắc đối với vùng lãnh hải 12 dặm, một vùng đặc quyền kinh tế dành cho đánh cá lên tới 200 dặm, và quy định những mỏ măng-gan ở đáy biển là di sản chung của nhân loại. Rắc rối phát sinh ở chỗ một vài quốc gia chỉ đồng ý một vài phần của dự thảo, khiến cho kết quả trở nên không rõ ràng trong luật quốc tế. Tuy nhiên vào năm 1995, khi Mỹ muốn chống lại khả năng Trung Quốc đòi chủ quyền đối với vùng biển xung quanh quần đảo Trường Sa, Mỹ đã viện dẫn tới Luật Biển quốc tế.
Luật quốc tế về cơ bản phản ánh bản chất không liền mạch của nền chính trị quốc tế. Ý thức cộng đồng thấp nghĩa là các quốc gia ít sẵn lòng hơn trong việc tuân thủ hay tự kiềm chế bắt nguồn từ việc cảm thấy có nghĩa vụ phải làm như vậy hay vì chấp nhận thẩm quyền của các thể chế quốc tế. Việc thiếu một cơ quan hành pháp chung được độc quyền sử dụng vũ lực một cách hợp pháp nghĩa là các quốc gia có chủ quyền đều nằm trong một thế giới tự lực thông qua sức mạnh để duy trì sự tồn tại của mình. Và khi vấn đề sinh tồn nổi lên, luật pháp thường chỉ đứng hàng thứ yếu.
Tính dự đoán được và tính hợp pháp
Tuy nhiên, luật pháp và tổ chức quốc tế là một phần quan trong của thực tiễn chính trị bởi chúng ảnh hưởng đến cách xử sự của các quốc gia. Các quốc gia quan tâm đến luật pháp quốc tế vì hai lý do: tính dự đoán được và tính hợp pháp.
Các quốc gia luôn bị dính líu vào các cuộc xung đột với nhau. Phần lớn các giao dịch quốc tế, ở mức độ nhà nước lẫn cá nhân, liên quan đến thương mại, du lịch, ngoại giao cũng như giao tiếp giữa con người với con người thuộc các quốc gia khác nhau. Khi sự phụ thuộc lẫn nhau tăng lên, những sự giao tiếp đó cũng tăng theo và ngày càng có nhiều nguy cơ xảy ra các va chạm. Luật pháp quốc tế giúp các chính phủ tránh được các xung đột ở cấp độ cao khi những va chạm này phát sinh. Ví dụ, nếu du khách người Mỹ bị bắt vì buôn lậu thuốc phiện ở Mêhicô; một con tàu của Anh đâm vào một con tàu Nauy ở biển Bắc; hay một công ty Nhật cho rằng một công ty Ấn Độ vi phạm bằng sáng chế của họ, thì các chính phủ có lẽ không muốn phá hỏng những mối quan hệ khác chỉ vì những va chạm cá nhân này. Giải quyết những vấn đề như vậy bằng luật pháp quốc tế và những nguyên tắc đã được thống nhất làm cho các va chạm này không mang màu sắc chính trị và có thể dự đoán được.
Tính dự đoán được cần thiết cho việc phát triển các giao dịch và giải quyết một cách có trật tự các xung đột chắc chắn đi kèm với chúng
Tính hợp pháp là lý do thứ hai giải thích tại sao các chính phủ quan tâm đến luật pháp quốc tế. Chính trị không chỉ là một cuộc đấu tranh giành những quyền lực thực tế mà còn là một cuộc chiến về tính hợp pháp. Quyền lực và tính hợp pháp không phải là hai mặt đối lập mà mang tính chất bổ sung cho nhau. Con người không thể hoàn toàn đạo đức, cũng không thể luôn nghi ngờ về đạo đức. Thực tế chính trị cho thấy niềm tin vào lẽ đúng sai giúp thúc đẩy con người hành động, và vì vậy tính hợp pháp chính là một nguồn quyền lực. Nếu các hành động của một quốc gia được cho là bất hợp pháp, cái giá phải trả cho một chính sách sẽ là rất cao. Các quốc gia dựa vào luật pháp và tổ chức quốc tế để hợp pháp hoá các chính sách của mình và làm cho chính sách của các nước khác trở nên bất hợp pháp, và điều này thường giúp họ hình thành những sách lược và các thành quả của các sách lược đó. Ngoài ra tính hợp pháp cũng giúp nâng cao quyền lực mềm của các quốc gia.
Trong những cuộc xung đột lớn về lợi ích, luật pháp quốc tế có thể không thể kiềm chế các quốc gia nhưng nó có thể giúp hình thành dòng chảy của chính sách. Luật pháp là một phần của cuộc đấu tranh giành quyền lực. Những người hoài nghi có thể nói rằng đây chỉ là những trò chơi của các luật sư; nhưng việc các chính phủ thấy cần thiết phải đưa ra những lập luận mang tính pháp lý hay cân nhắc những nghị quyết của các tổ chức quốc tế cho thấy các luật pháp quốc tế đóng vai trò đáng kể. Chúng ta có thể diễn tả điều này bằng một câu cách ngôn sau: “khi cái xấu cũng đòi đức hạnh thì ít nhất chúng ta biết được rằng đức hạnh cũng có giá trị.” Nói một cách đơn giản, các chính phủ có thể bị mắc bẫy bởi chính những lý do pháp lý của mình.
Một ví dụ là nghị quyết số 242 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Được thông qua vào cuối cuộc chiến tranh Trung Đông năm 1976, nghị quyết này kêu gọi các quốc gia phục hồi lại đường biên giới trước chiến tranh. Qua nhiều năm, nghị quyết có giá trị phủ nhận tính hợp pháp của việc Israel chiếm đóng những phần lãnh thổ mà nước này giành được trong cuộc chiến. Điều đó đặt Israel vào thế chống đỡ tại Liên Hợp Quốc. Các quốc gia Ảrập thất bại trong cuộc chiến nhưng vẫn có thể tạo áp lực đối với Israel. Năm 1976, khi liên minh các quốc gia Ảrập cố gắng trục xuất Israel khỏi Liên Hợp Quốc, Mỹ đã sử dụng rất nhiều ảnh hưởng chính trị để vận động hành lang Đại hội đồng nhằm ngăn chặn việc trục xuất Israel. Đây là một dấu hiệu cho thấy các biểu tượng của tính hợp pháp trong các tổ chức quốc tế là một phần của cuộc đấu tranh giành quyền lực.
Khi những vấn đề trọng yếu liên quan đến sự sinh tồn bị đe doạ, các quốc gia sẽ sử dụng thứ quyền lực hữu hiệu nhất của họ, đó là lực lượng quân sự. Và điều này có thể giải thích những thành công hạn chế của luật pháp và tổ chức quốc tế trong nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề sử dụng vũ lực. Giải quyết việc buôn lậu thuốc phiện, va chạm tàu biển hay vi phạm bằng sáng chế bằng luật pháp quốc tế là một chuyện, nhưng đe dọa sự tồn vong của một quốc gia bằng cách tuân thủ luật pháp quốc tế lại là một chuyện hoàn toàn khác. Đây chính là vấn đề đối với an ninh tập thể trong những năm 1930, và một dạng an ninh tập thể được cải biến đã được hình thành lại trong Hiến chương của Liên Hợp Quốc.
Liên Hợp Quốc: An ninh tập thể và gìn giữ hòa bình
Sự cân bằng quyền lực cổ điển không làm cho chiến tranh trở nên bất hợp pháp. Việc sử dụng lực lượng quân sự được chấp nhận, và nó thường đảm bảo sự ổn định cho hệ thống. Trong suốt thế kỷ 19, sự thay đổi của công nghệ đã làm tăng khả năng huỷ diệt của chiến tranh, và với sự gia tăng của phong trào dân chủ và hoà bình, đã xuất hiện một vài nỗ lực tập hợp các quốc gia chống lại chiến tranh. Hai mươi sáu quốc gia đã tổ chức một hội nghị hoà bình tại La Hay vào năm 1899. Vào năm 1907, một hội nghị La Hay khác được tổ chức với sự tham dự của 44 quốc gia. Cách tiếp cận được sử dụng trong các cuộc hội nghị này rất mang tính pháp lý. Những người tham dự hội nghị cố gắng thuyết phục tất cả các quốc gia khác ký vào những hiệp ước trọng tài để các cuộc tranh chấp có thể được xử lý bằng trọng tài chứ không phải bằng vũ lực. Họ cũng cố gắng pháp điển hóa các qui định về chiến tranh trong trường hợp trọng tài không có tác dụng.
Như chúng ta đã thấy, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hội Quốc Liên là một nỗ lực để phát triển một liên minh giữa các quốc gia nhằm răn đe và trừng phạt những kẻ xâm lược. Trong mắt của Woodrow Wilson và những người chung quan điểm, Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là một cuộc chiến tranh bất ngờ và không cần thiết do cân bằng quyền lực gây nên, và những cuộc chiến như vậy có thể được ngăn chặn bởi một liên minh giữa các quốc gia thực hiện chính sách an ninh tập thể. Nếu Hội Quốc Liên được thành lập để đẩy lùi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất sau khi nó diễn ra thì Liên Hợp Quốc được lập ra từ năm 1943-1945 để đẩy lùi Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Bốn mươi chín nước gặp nhau ở San Francisco vào năm 1945 để ký một bản hiến chương bao gồm những sự đổi mới nhằm sửa chữa những khiếm khuyết của Hội Quốc Liên. Không giống như hệ thống sự cân bằng quyền lực trong thế kỷ 19, sử dụng vũ lực để tấn công lúc này trở nên bất hợp pháp đối với bất kỳ quốc gia nào đã ký vào bản hiến chương, trừ ba trường hợp ngoại lệ duy nhất: sử dụng vũ lực vì lý do tự vệ, tự vệ tập thể, hay phục vụ an ninh tập thể.
Những người sáng lập nên Liên Hợp Quốc cũng tạo ra một Hội đồng Bảo an gồm năm thành viên thường trực và một số thành viên không thường trực theo cơ chế luân phiên. Hội đồng Bảo an có thể được coi là một dạng cân bằng quyền lực thế kỷ 19 được lồng ghép vào một khuôn khổ an ninh tập thể của Liên Hợp Quốc. Hội đồng Bảo an có thể thông qua các nghị quyết mang tính ràng buộc pháp lý theo Chương 7 của bản hiến chương. Nếu năm cảnh sát đầy quyền lực này không đồng ý về vấn đề gì thì mỗi người trong số đó có quyền phủ quyết, công cụ giống như cái cầu chì trong một hệ thống chiếu sáng của ngôi nhà. Các nhà sáng lập Liên Hợp Quốc cho rằng quyền phủ quyết làm ngôi nhà bị tối vì mất điện còn tốt hơn là làm căn nhà bị thiêu rụi dưới dạng một cuộc chiến tranh chống lại một siêu cường nào đó.
Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, hệ thống an ninh tập thể của Liên Hợp Quốc không có tác dụng. Với sự chia rẽ về ý thức hệ thời kỳ này, các bên đạt được rất ít sự nhất trí về việc xác định trường hợp nào là sử dụng bạo lực hợp pháp, và vấn đề còn lớn hơn khi định nghĩa thế nào là xâm lược. Ví dụ, chúng ta đánh giá thế nào về việc xâm nhập bí mật qua biên giới so với việc sử dụng vũ lực để vượt qua biên giới? Năm 1956, Israel bị các du kích quân do Ai Cập ủng hộ tấn công bí mật, tuy nhiên các lực lượng quân đội truyền thống của Israel đã vượt biên giới vào Ai Cập trước. Dựa vào việc bạn đứng về phía nào trong cuộc Chiến tranh lạnh, bạn sẽ có những cách nhìn khác nhau về việc ai là kẻ xâm lược trước. Trong hai thập kỷ thời kỳ Chiến tranh lạnh, các ủy ban của Liên Hợp Quốc đã nỗ lực định nghĩa sự xâm lược. Họ đã nghĩ ra những quy định mơ hồ và nhìn chung không có hiệu lực: Một danh sách các hành vi xâm lược, kèm theo đó là một điều khoản bổ sung quy định rằng Hội đồng Bảo an có thể quyết định các hành vi khác cũng có thể cấu thành sự xâm lược. Ngay cả khi lực lượng quân sự được sử dụng Hội đồng cũng có thể quyết định tuyên bố rằng đó không phải là hành vi xâm lược. Cho nên đối với Liên Hợp Quốc, một quốc gia phạm tội xâm lược chỉ khi mà Hội đồng Bảo an cho là như vậy. Mọi thứ đều phụ thuộc vào sự đồng thuận tại Hội đồng Bảo an, và điều này lại rất hiếm khi xảy ra trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh.
Sự bế tắc về an ninh tập thể đã làm nảy sinh khái niệm ngoại giao phòng ngừa và lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc. Thay vì xác định và trừng phạt kẻ xâm lược, vốn là khái niệm cơ bản của an ninh tập thể, Liên Hợp Quốc lại tập hợp các lực lượng độc lập và đặt họ vào giữa các bên tham chiến. Mô hình này đã được phát triển trong cuộc khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956.
Vào tháng 7 năm 1956, tổng thống Gamal Nasser của Ai Cập quốc hữu hoá kênh đào Suez. Thủ tướng Anh Anthony Eden thấy điều này là một mối đe doạ lớn cho nước Anh. Ông coi Nasser là một tên Hitler mới, và ông so sánh với thời kỳ những năm 1930. Ông lo lắng trước thực tế rằng Nasser đã chấp nhận vũ khí của Liên Xô, và tất nhiên sự kiện này diễn ra vào lúc Chiến tranh lạnh đang ở cao trào. Anh phát triển một kế hoạch bí mật cùng với Pháp nhằm hỗ trợ Israel nếu Israel xâm lược Ai Cập (vốn đã cho quân du kích xâm nhập biên giới với Israel). Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc kêu gọi ngừng bắn. Anh và Pháp sử dụng quyền phủ quyết của mình để ngăn cản lệnh ngừng bắn. Họ muốn sự can thiệp tiếp diễn cho tới khi có thể loại trừ được Nasser.
Dag Hammarskjold, tổng thư ký Liên Hợp Quốc lúc bấy giờ cùng với bộ trưởng ngoại giao Canađa Lester Pearson đã thảo ra một kế hoạch để ngăn chặn sự đụng độ giữa Israel và Ai Cập bằng cách gửi đến một lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc. Một nghị quyết của Đại hội đồng, nơi các nước không có quyền phủ quyết, đã uỷ quyền cho lực lượng của Liên Hợp Quốc ở khu vực Sinai. Nước Mỹ đã không ủng hộ những đồng minh Châu Âu của mình, lo lắng rằng sự can thiệp của họ sẽ gây nên sự phản kháng từ những người theo chủ nghĩa dân tộc Ảrập và gia tăng cơ hội cho Liên Xô tại Trung Đông. Ngày 15 tháng 11, đội quân đầu tiên của Liên Hợp Quốc được gửi tới Sinai nằm giữa hai phe đối địch, và sau đó, vào tháng 12, Liên Hợp Quốc chịu trách nhiệm trục vớt những con tàu đắm làm tắc kênh đào.
MỘT LÁ THƯ GỬI TỔNG THỐNG DWIGHT EISENHOWER
Trong những năm 1930, Hitler thiết lập vị trí của mình bằng một loạt những bước đi được lập kế hoạch cẩn thận. Những kế hoạch này bắt đầu bằng việc xâm chiếm Rhineland và tiếp theo là hàng loạt những hành động xâm lược Áo, Tiệp Khắc, Ba Lan và các nước phía Tây. Hành động của ông ta đã được số đông người dân các nước Tây Âu bao dung và tha thứ…Tương tự như vậy, chúng tôi tin rằng việc chiếm đóng kênh đào Suez là sự mở đầu cho một chiến dịch được lập kế hoạch cẩn thận bởi Nasser nhằm loại bỏ mọi ảnh hưởng và lợi ích của phương Tây khỏi các quốc gia Ảrập. Ông ta tin rằng nếu ông ta giải quyết trót lọt được việc này, và nếu ông ta có thể thách thức thành công mười tám quốc gia, uy tín của ông ta trong thế giới Ảrập sẽ đủ lớn để có thể thúc đẩy các cuộc cách mạnh của những sĩ quan trẻ ở Ảrập Xêút, Jordan, Syria và Iraq. (Chúng tôi biết rằng ông ta đã chuẩn bị cho một cuộc cách mạng ở Iraq, nơi ổn định và tiến bộ nhất). Những chính phủ mới này trong thực tế sẽ là những vệ tinh của Ai Cập, nếu không phải là của nước Nga. Họ sẽ đặt nguồn tài nguyên dầu mỏ chung dưới sự kiểm soát của một Ảrập Thống nhất do Ai cập đứng đầu và dưới sự ảnh hưởng của Nga. Khi thời điểm đó xảy ra, Nasser có thể từ chối bán dầu cho Tây Âu và số phận chúng ta ở đây sẽ tùy thuộc vào sự ban ơn của ông ta.-  Thủ tướng Anthony Eden, 1956 [1]
Mô hình gìn giữ hòa bình này đã trở thành một vai trò quan trong đối với Liên Hợp Quốc. Liên Hợp Quốc đã sử dụng mô hình này 55 lần trong nửa thế kỷ qua, so với hai chiến dịch an ninh tập thể chính thức (Triều Tiên năm 1950 và Iraq năm 1991). Vào đầu năm 2006, 17 chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc vẫn đang tiếp diễn. Vì vậy cho dù Chiến tranh lạnh ngăn cản Liên Hợp Quốc thực thi học thuyết an ninh tập thể chính thức của mình, nó không thể ngăn cản sự đổi mới trong việc sử dụng các lực lương quốc tế nhằm cách ly hai bên tham chiến. Trong an ninh tập thể, nếu một quốc gia vượt qua lằn ranh, tất cả các quốc gia khác sẽ liên kết chống lại và đẩy lùi quốc gia đó. Còn trong ngoại giao phòng ngừa và gìn giữ hòa bình, nếu một quốc gia vượt qua lằn ranh, Liên Hợp Quốc sẽ bước vào và giữ cho hai bên khỏi đối mặt nhau mà không phán xét ai sai ai đúng. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, một trong những nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp Quốc là các lực lượng luôn luôn đến từ các quốc gia nhỏ chứ không phải từ Liên Xô hay Mỹ, nhằm đảm bảo các siêu cường sẽ không bị dính líu trực tiếp vào cuộc xung đột. Ngoại giao phòng ngừa và gìn giữ hòa bình là một sự đổi mới quan trọng và ngày nay vẫn đóng một vai trò lớn trong việc điều chỉnh các cuộc xung đột quốc tế. Thế nhưng đó không phải là an ninh tập thể.
Cuộc xâm lược của Iraq đối với Kuwait là cuộc khủng hoảng đầu tiên thời hậu Chiến tranh lạnh. Do Liên Xô và Mỹ không phủ quyết nên lực lượng chung của Liên Hợp Quốc đã được sử dụng lần đầu tiên trong vòng 40 năm. Có ba lý do quan trọng dẫn tới điều này. Thứ nhất, Iraq phạm tội xâm lược một cách quá rõ ràng, giống như thời kỳ những năm 1930, khiến cho các nhà lãnh đạo phải nhớ tới hậu quả nếu an ninh tập thể thất bại. Nguyên nhân thứ hai chính là cảm giác rằng nếu chính sách an ninh tập thể của Liên Hợp Quốc thất bại trong một trường hợp rõ ràng như vậy thì nó không thể là một nguyên tắc đảm bảo trật tự cho thế giới hậu Chiến tranh lạnh được. Thứ ba, các quốc gia nhỏ trong Liên Hợp Quốc ủng hộ hành động này vì phần lớn đều dễ bị tổn thương và có các tranh chấp về đường biên giới do thời kỳ thực dân để lại. Các lập luận mà Saddam Hussein dùng để biện minh cho hành động xâm lược của mình cũng gây đe dọa cho các nước nhỏ khác. Nói như cách nói của đại biểu Haiti tại Hội Quốc Liên được đề cập ở các phần trước, họ không muốn trở thành một Kuwait của một ai khác.
Vậy liệu an ninh tập thể của Liên Hợp Quốc có trở thành nền tảng của một trật tự thế giới mới được không? Rất hiếm khi. Ví dụ, các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an không thể thống nhất về các nghị quyết cho phép tiến hành can thiệp ở Kosovo và Iraq năm 1999 và 2003. Còn có những vấn đề quan trọng khác. Thứ nhất, hệ thống Liên Hợp Quốc hoạt động tốt nhất khi xảy ra trường hợp xâm lược rõ ràng; còn trong trường hợp nội chiến thì khó hơn nhiều. Thứ hai, an ninh tập thể chỉ có hiệu lực khi không bị phủ quyết, nhưng nếu Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh hoặc Pháp không thể đạt được thỏa thuận thì an ninh tập thể lại bị ngăn cản. Hơn nữa, năm 1945, an ninh tập thể của Liên Hợp Quốc không phải được thiết kế nhằm áp dụng chống lại năm cường quốc có quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an. Thứ ba, an ninh tập thể có hiệu quả khi các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc cung cấp đủ các nguồn lực quân sự và tài chính cần thiết, nhưng thật khó tưởng tượng hệ thống này có thể mang lại hiệu quả nếu như các quốc gia với lực lượng quân sự lớn không đóng góp gì. An ninh tập thể là một thất bại ê chề những năm 1930, bị đông cứng thời kỳ Chiến tranh lạnh và sau đó, giống như Lazarus trong Kinh Thánh,[2] đã sống lại trong cuộc chiến vùng Vịnh năm 1990. Thế nhưng đó chỉ là một điều kỳ diệu trong khoảnh khắc, vì như chúng ta thấy trong Chương 9, an ninh tập thể chỉ là một phần mà chúng ta cần cho trật tự thế giới trong tương lai.
Liên Hợp Quốc có tác động chính trị, ngay cả khi an ninh tập thể không thể áp dụng được, vì mong muốn chống lại vũ lực được ghi trong hiến chương Liên Hợp Quốc đã đặt gánh nặng chứng cứ lên vai những ai muốn sử dụng vũ lực. Nó tác động tới quyền lực mềm của các quốc gia, như trường hợp nước Mỹ năm 2003. Việc không có được nghị quyết thứ hai của Liên Hợp Quốc không ngăn được nước Mỹ tiến hành chiến tranh với Iraq, nhưng điều này đã làm hạn chế số lượng trợ giúp và Mỹ nhận được, đồng thời làm cho chiến tranh và hậu quả của nó trở nên tốn kém hơn. Ngoài ra Hội đồng Bảo an cung cấp một diễn đàn quan trọng cho việc thảo luận bạo lực quốc tế, làm nổi bật những quan ngại chung và hướng sự chú ý tới các vấn đề quan trọng trong các thời kỳ khủng hoảng. Hội đồng Bảo an đôi khi cũng góp phần làm sáng tỏ các quan điểm, tăng phí tổn đối với các hành động xâm lược, và đóng vai trò như một chiếc van an toàn cho ngoại giao. Cuối cùng, vai trò của các lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc là hạn chế nhưng hữu ích. Lực lượng này tạo ra một vùng đệm và là một công cụ mà các quốc gia thường xuyên thấy phù hợp với lợi ích của mình.
Sự kết thúc của Chiến tranh lạnh mang lại cho Liên Hợp Quốc thêm nhiều cơ hội. Liên Hợp Quốc đóng vai trò trong việc phi thực dân hóa Namibia, giám sát nhân quyền ở El Salvador, trong các cuộc bầu cử ở Nicaragua, quản lý Campuchia cũng như giám sát các lực lượng gìn giữ hòa bình. Thành tích về gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc gần đây tương đối không nhất quán. Các nhân viên gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc đã thành công ở Haiti và Campuchia những năm 1990 nhưng đã thất bại khi không ngăn được nạn diệt chủng ở Rwanda hay chấm dứt nội chiến ở Angola. Họ đóng một vai trò thiết yếu ở đảo Síp trong ba thập kỷ, nhưng ở Bosnia họ lại bị thay thế bởi lực lượng NATO mạnh hơn. Việc đưa các lực lượng trung lập vào giữa hai phe đối địch không phải bao giờ cũng có tác dụng trong các cuộc xung đột sắc tộc. Thực tế một số nhà khoa học chính trị cho rằng sự can thiệp trung lập có thể kéo dài thời gian của các cuộc nội chiến, gây thêm nhiều đổ máu và thiệt hại nhân mạng. Mặt khác, Liên Hợp Quốc vẫn đóng vai trò hợp pháp hóa quan trọng khi những quốc gia như Australia đảm nhiệm lãnh đạo việc cung cấp lực lượng ổn định hóa các tình huống hỗn loạn như ở Đông Timor. Và việc Mỹ và Anh không thể có được nghị quyết thứ hai của Hội đồng Bảo an nhằm công khai cho phép họ sử dụng vũ lực năm 2003 đã khiến chi phí chiếm đóng Iraq đã gia tăng rất nhiều.[3] Mặc dù học thuyết nguyên thủy về an ninh tập thể không phù hợp hoàn toàn như người ta từng nghĩ thì vẫn sẽ là một sai lầm nếu như bác bỏ vai trò của luật pháp quốc tế và Liên Hợp Quốc. Chúng là một phần thực tế chính trị của một hệ thống vô chính phủ các quốc gia. Việc tin tưởng một cách ngây thơ hay quá hoài nghi về các tổ chức và luật pháp quốc tế đều là những sai lầm. Các quốc gia không phải sống dựa vào mỗi mình luật pháp, nhưng họ cũng không thể sống hoàn toàn không có nó.
Vào đầu thế kỷ 21, Liên Hợp Quốc rõ ràng không phải là “quốc hội của nhân loại” như một số nhà sáng lập hi vọng khi nó ra đời năm 1945. Với một ngân sách thường xuyên hàng năm khoảng 2 tỉ đô la Mỹ và số lượng nhân viên chủ chốt khoảng 9.000 người, tổ chức này có ít nguồn lực hơn so với ngay cả nhiều trường đại học. Ngay cả khi ngân sách đặc biệt dành cho các chiến dịch gìn giữ hòa bình (khoảng 3 tỉ đô la) và ngân sách thường niên dành cho các tổ chức chuyên môn và các quỹ phát triển được cộng vào thì con số tổng cũng chỉ vào khoảng 11 tỉ đô la, bằng khoảng 2% ngân sách quốc phòng của Mỹ. Còn ngân sách dành cho vấn đề nhân quyền còn bé hơn cả ngân sách của Nhà hát Opera Zurich, trong khi ngân sách của Tổ chức Y tế Thế giới chỉ tương đương với ngân sách của một bệnh viện cỡ trung bình.[4]
Nhiều nhà quan sát đã kêu gọi cải tổ các thể chế của Liên Hợp Quốc. Mười lăm thành viên của Hội đồng Bảo an có quyền lực pháp lý trong việc cho phép sử dụng vũ lực, và năm thành viên thường trực (Trung Quốc, Mỹ, Nga, Anh và Pháp) có quyền phủ quyết từ năm 1945. Năm 2005, một Ủy ban Cấp cao được Tổng thư ký Kofi Annan chỉ định đã đề xuất mở rộng số thành viên lên 24, và thêm Ấn Độ, Brazil, Nhật và Đức thành thành viên thường trực. Tuy nhiên kế hoạch này đã thất bại khi Trung Quốc bác bỏ việc cho Nhật làm thành viên thường trực, các kình địch ở khu vực cũng phản đối và các quốc gia châu Phi thì đòi thêm ghế. Ủy ban cũng đưa ra một số gợi ý cải tổ hữu ích khác, như thành lập Ủy ban Xây dựng Hòa bình nhằm giám sát việc tái thiết các quốc gia thất bại, cải cách Ủy ban Nhân quyền nhằm loại bỏ các quốc gia vi phạm nhân quyền, xác lập các tiêu chí rõ ràng hơn cho việc sử dụng vũ lực trong tình huống đánh phủ đầu và can thiệp nhân đạo, cũng như thống nhất một định nghĩa về chủ nghĩa khủng bố. Ngoại trừ Ủy ban Xây dựng Hòa bình và một Hội đồng Nhân quyền mới khiêm tốn, Đại hội đồng đã khá chậm trễ trong việc thi hành những khuyến nghị này.
Liên Hợp Quốc vẫn là một tập hợp 191 quốc gia chủ quyền cố gắng thông qua ngoại giao tìm kiếm một mẫu số chung nhằm giải quyết các vấn đề quốc tế trong khi bảo vệ lợi ích quốc gia của mình. Tổ chức này chính là điểm tập trung của các nỗ lực nhằm đối phó với các vấn đề về an ninh, phát triển quốc tế, hỗ trợ nhân đạo, suy thoái môi trường, ma túy, tội phạm xuyên quốc gia, y tế – bệnh dịch, và bầu khí quyển chung, những vấn đề đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế. Bất chấp những khiếm khuyết, Liên Hợp Quốc vẫn là tổ chức toàn cầu duy nhất tập trung hoạt động ngoại giao quốc tế. Người ta đôi khi nói rằng nếu Liên Hợp Quốc chưa tồn tại thì giờ đây người ta cũng phải tìm cách tạo ra nó. Thế nhưng với sự đa dạng về văn hóa và lợi ích quốc gia trong thế giới ngày nay, chưa chắc giờ đây điều đó đã có thể được thực hiện thành công.
—————
[1] Anthony Eden, trích trong Robert R. Bowie, Suez 1956 (New York: Oxford University Press, 1974), trang 124.
[2] Trong Kinh Thánh, Lazarus là một người bạn của Chúa Jesus và là em trai của Mary và Martha. Ông bị chết nhưng sau đó được Chúa Jesus giúp hồi sinh (ND).
[3] “Binding the Colossus,” The Economist, 22/11/2003, trang 25-26.
[4] Linda Fasulo, An Insider’s Guide to the UN (New Haven, CT: Yale University Press, 2004), trang 115.

CÓ “CHRISTIAN GOD” HAY KHÔNG ?

Đó Là Câu Hỏi.

Nhưng Câu Trả Lời Là Gì?

Trong thế giới loài người, từ xưa tới nay, có cả trăm God khác nhau. [Xin đọc A History of God của Karen Armstrong, hoặc A World Full of Gods của Keith Hopkins, hoặc Mythology: An Illustrated Encyclopedia, Edited by Richard Cavendish..] Trong bài này, tôi không nói đến bất cứ God nào khác, thí dụ như Baal (God của dân Do Thái Canaan), Aton (God của người Ai Cập), Zeus (God của người Hi Lạp), hàng trăm God của người Ấn Độ, Huitzilopochtli (God của người Aztecs), Cha Quạ Sáng Tạo (Father Raven The Creator) của dân Eskimo, God Sáng Tạo Ahura Mazda hay Ohrmazd của người Ba-Tư v...v...


Mỗi God như trên, cũng như khoảng 200 God khác trong môn học tôn giáo tỷ giảo, đều có hàng triệu người tin và thờ phụng. Và God của Ki-tô Giáo là một trong những God này. Trong bài này, God mà tôi luận về “có hay không?” là God của Ki-tô Giáo (Christian God), đúng hơn là God của người Do Thái (the God of Israel), có tên là Jehovah hay Elohim, người Việt Nam theo đạo gọi là Thiên Chúa, hay Thượng đế, hay Chúa Trời, Trời ở trong Kinh Thánh là một cái vòm cứng bằng đồng thau, có những cánh cửa để cho các thiên thần mở ra làm mưa, trên đó các thiên thần đêm đêm treo những ngôi sao làm đèn [Xin đọc Ít Nhiều Nhận Định Về Thiên Chúa Giáo của Bác Sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ], và God của Ki Tô Giáo ngự trên đó, và Dê-su sau khi chết bay cả hồn lẫn xác lên ngồi bên phải God của ông ta, cũng chính là ông ta, chứ không phải là Trời theo cái hiểu của khoa học. God ở đây là God Cha (God the Father) của God Con (God the Son = Dê-su), hay chính là God Con, nếu bạn muốn, và cũng là Con Ma Thánh (Holy Ghost), nếu bạn tin vào cái thuyết điên rồ toán học (mathematical insanity): “Úm Ba La, Ba Ta Là Một”.

Vậy với câu hỏi: “Có God [của Ki-tô Giáo] hay không?”, chúng ta có nhiều câu trả lời. Nếu God là God Con (Dê-su Ki-tô) thì câu trả lời có thể là: “Có! Nhưng đã chết và táng xác rồi”, vì theo Giám Mục John Shelby Spong thì trong Kinh Tin Kính của các Tông Đồ [Apostle Creed] của Ki-tô Giáo chỉ có một câu này: “Dê-su Ki-tô chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và táng xác” (Jesus Christ suffered under Pontitus Pilate, was crucified, dead, and burried) là đúng sự thật. Nếu God nguyên thủy chỉ là một Con Ma được Thánh hóa [Holy Ghost], mà ngày nay người ta đổi thành “Chúa Thánh Thần” hay “Thánh Linh” [Holy Spirit], thì đối với những người tin là có ma quỷ tất nhiên là có. Còn nếu God là God Cha, Đấng Sáng Tạo ra vũ trụ và muôn loài trong 6 ngày, cách đây khoảng từ 6 đến 10 ngàn năm, thì vấn đề có rắc rối hơn, và câu trả lời nằm trong nội dung của bài khảo luận này. Để chiều ý các tín đồ Ki-tô Giáo Việt Nam, đôi khi tôi dùng từ Thượng-đế (T-đ) hay Thiên chúa để chỉ God của họ.

Vấn nạn của người Ki-tô Giáo là tin vào sự hiện hữu của một God, trong khi không ai có thể biết được God là cái gì, ở đâu, và chứng minh được sự hiện hữu của God. Thực ra, God mà người theo đạo Ki-tô ngày nay tin chỉ là God của riêng người Do Thái tưởng tượng ra để dưa ra một giả thuyết Sáng Thế, một trong số những giả thuyết về nguồn gốc vũ trụ và con người, phù hợp với lịch sử của Do Thái. Cho nên God của họ chỉ biết đến một vài vùng ở Trung Đông xung quanh Do Thái như chúng ta có thể đọc trong Thánh Kinh. Nhưng về sau, khi Ki-tô Giáo phát triển, nền Thần học Ki-tô Giáo đã biến chế, ngụy tạo kinh văn, lịch sử v..v.. để diễn giải đó là God của cả nhân loại.
Cái lý luận Thần học hoang đường này, dù đã cố nhồi nhét vào đầu óc con người qua những thủ đoạn cải đạo lừa dối, vô đạo đức, cưỡng bách bạo tàn như lịch sử Ki-tô Giáo đã viết rõ, cho tới ngày nay, cũng chỉ được độ một phần tư (1/4) trên tổng số hơn 6 tỷ người trên thế giới, tuyệt đại đa số là những người thấp kém trong xã hội, ít học hay vô học, tin. Thống kê mới nhất cho biết hơn 70% tín đồ Ca-tô Giáo Rô-ma là thuộc thế giới thứ ba và một số ốc đảo ngu dốt [từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh] ở Á Châu.
Một trong những lý luận thần học của Ki-tô Giáo là: nếu không ai có thể chứng minh được là “God Không Hiện Hữu” thì tất nhiên God phải hiện hữu. Câu trả lời của những người không tin God của Ki-tô Giáo là, tại sao chúng tôi phải chứng minh là không có God khi mà chúng tôi coi đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của dân Do Thái? Điều này thực sự không cần thiết. Nếu muốn cho chúng tôi tin là có God thì Ki-tô Giáo phải chứng minh cho chúng tôi thấy là có God. Điều này, trong 2000 năm nay, Ki-tô Giáo đã không làm được, đó chẳng phải là một chứng minh xác thực nhất hay sao? Đó chẳng phải là điều biện minh cho sự “Không tin là có God” của chúng tôi là đúng hay sao?

Below is the host webpage http://www.religioustattoos.net/Other_Tattoos/Holy_Spirit/holy_spirit_14.php with the image in its original context
Đây là trang nguồn trình bày các hình xâm mình với tiêu đề "thánh thần" (Holy Spirit)- ảnh chụp với nội dung nguyên thủy. http://www.religioustattoos.net /Other_Tattoos/Holy_Spirit/holy_spirit_14.php
Reproduced With Permission Dan Marino - Religious Tattoos makes no guarantees concerning translations in tattoo pictures. The onus to verify a translation rests with the person who wishes to get a tattoo
 
Thật ra, nền thần học Ki-tô Giáo, với thời gian, đã đưa ra nhiều luận cứ để “chứng minh” là có God nhưng tất cả những luận cứ thần học này, thí dụ như Luận Cứ Về Bản Thể (Ontological Argument) của St. Anselm và René Descartes, Luận Cứ Vũ Trụ hay Nguyên Nhân Đầu Tiên (Cosmological Argument) của Thomas Aquinas, Luận Cứ Cứu Cánh (Teleological Argument) hay Thiết Kế (Design Argument) của William Paley, Luận Cứ Đạo Đức (Moral Argument) v..v.., và gần đây, luận cứ “thiết kế thông minh” (Intelligent Design) dựa vào khoa học của những tổ chức “Khoa học sáng tạo” (Creation Science) đều đã bị dứt khoát bác bỏ.
Căn bản đức tin trong Ki-tô Giáo, đúng như lời thú nhận của giáo sư Đỗ Mạnh Tri, một tín đồ Ca-tô Giáo Rô-ma, trong cuốn “Ngón Tay và Mặt Trăng” là: “Tin là một cách sống chết, không liên quan gì đến cái biết và hiểu.” Nhưng đây chính lại là vấn nạn của người Ki-tô Giáo. Tin mà không biết không hiểu thì chẳng qua chỉ là “mù lòa tin bướng tin càn”, vậy thì tin làm quái gì để cho ngoại đạo người ta chê cười? Lý do tại sao Ki-tô Giáo đang suy thoái ở phương trời Âu Mỹ, cái nôi của Ki-tô Giáo trước đây, vì trong những quốc gia văn minh, tân tiến, sự tiến bộ trí thức đi kèm với những tác phẩm nghiên cứu sâu rộng và nghiêm chỉnh về Ki Tô Giáo và cuốn Kinh Thánh không cho phép con người tiếp tục “mù lòa tin bướng tin càn” như ông Đỗ Mạnh Tri và những tín đồ Ki-tô mà đầu óc chưa thể theo kịp sự tiến bộ trí thức của nhân loại.
Trong bài này, tôi sẽ không đi vào những phần lý luận triết lý nặng nề để trả lời câu hỏi “Có “God” hay không?” hay đưa ra những lập luận bác bỏ những luận cứ về sự hiện hữu của God của nền thần học Ki-tô Giáo. Công việc này mất nhiều thời giờ và không thích hợp với nội dung của một bài đăng trên một diễn đàn truyền thông. Tuy nhiên, nếu quý độc giả muốn đi sâu vào vấn đề này, tôi có thể giới thiệu vài cuốn sách điển hình:

- Cuốn “A History of the Warfare of Science with Theology in Christendom”, Prometheus Books, New York, 1993, của Andrew D. White [Đây là một cuốn sách cổ điển, xuât bản lần đầu năm 1896, dày 900 trang, viết lại lịch sử chống đối khoa học của Ki-tô Giáo trên những vấn đề Sáng tạo/Tiến hóa, Trái đất hay Mặt trời là trung tâm vũ trụ, Sự sa ngã của con người đối với Nhân Chủng Học v..v.. Đại tác phẩm của White cho chúng ta biết những ảnh hưởng nguy hại của chính sách nhồi sọ Ki-tô Giáo trên địa hạt giáo dục và tiến bộ đạo đức (White’s great work has much to teach us about the dangerrous effects of religious indoctrination on education and moral growth)]
- Cuốn “Science and Religion: Are They Compatible?”, Prometheus Books, New York, 2003) do Chủ Biên Paul Kurtz biên tập.
- Cuốn “Critiques of God: Making The Case Against Belief In God”, Prometheus Books, New York, 1997, do Chủ Biên Peter A. Angeles biên tập.
- Cuốn “The Case Against God”, Prometheus Books, New York, 1989, của George H. Smith.
- Cuốn “But Is It Science? The Philosophical Question In The Creation/Evolution Controversy”, Prometheus Books, New York, 1996, do Chủ Biên Michael Ruse biên tập.
- Cuốn “The Impossibility of God”, Prometheus Books, New York, 2003, do chủ biên Michael Martin và Ricki Monnier biên tập.
- Cuốn “The Existence of God”, The Macmillan Company, New York 1972, do chủ biên Paul Edwards biên tập.
- Cuốn God Is Not Great: How Religion Poisons Everything, Twelve Hachette Book, New York, 2007, của Christopher Hitchens [God không sáng tạo ra chúng ta. Chúng ta sáng tạo ra God. Chúng ta làm hại con cháu chúng ta – và làm nguy hại đến thế giới – bằng cách nhồi sọ chúng (God did not make us. We made God. We damage our children – and endanger our world – by indoctinating them)]
- Cuốn God’s Problem: How The Bible Fail To Answer Our Most Important Question – Why We Suffer?, HarperOne, New York, 2008, của Bart D. Ehrman
- Cuốn Atheist Universe: The Thinking Person’s Answer To Christian Fundamentalism, Ulysses Press, Berkeley, 2006, của David Mills [Sử dụng lô-gíc giản dị, thẳng thắn, cuốn sách này bác bỏ mọi lý luận dùng để “chứng minh” là có God (This book rebuts every argument that claims to “prove” God’s existence)]
Sau đây, tôi sẽ đi vào việc tìm hiểu Ki-tô Giáo đã dạy tín đồ những gì về God của họ, rồi từ đó phân tích các chủ đề liên hệ đến các thuộc tính của God mà người Ki-tô Giáo thường tin, và sau cùng đi đến kết luận là “Có God hay không?”, nếu có thì chúng ta sẽ phải có thái độ gì đối với God? và nếu không thì sao?

Về God trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo, Giám mục Tin Lành John Shelby Spong đã cho chúng ta một khẳng định về thái độ chúng ta cần có đối với God, trong cuốn Rescuing The Bible From Fundamentalism, trang 24: “A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship.” (Tạm dịch: Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một God mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.)
Chúng ta hãy tìm hiểu tại sao một ông Giám mục Tin Lành rất nổi tiếng trên đất Mỹ, tác giả của nhiều cuốn sách về Ki-tô Giáo được rất nhiều người đọc, đã được phỏng vấn trên nhiều đài truyền hình cũng như được mời đến thuyết trình ở một số trường đại học, lại có thể đưa ra một khẳng định trớ trêu như vậy. Điều này không khó, nếu chúng ta biết Ki-tô Giáo đã dạy những gì cho đám tín đồ thấp kém của họ về God của Ki-tô Giáo, và đã đọc kỹ Kinh Thánh để biết God trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo thực sự là như thế nào.
Trước hết, có lẽ chúng ta cần biết, theo quan niệm của Ki-tô Giáo thì God là ai hay là cái gì? Trong Ki- tô Giáo, Ca-tô Giáo Rô-ma (The Roman Catholic Church) có nhiều tín đồ nhất, vào khoảng gần một tỷ người [đếm theo con số đã rửa tội, không kể số người chết hay đã bỏ đạo] trong đó có khoảng 5-7 triệu người Việt Nam. Cho nên chúng ta hãy bình luận trên God của Ca-tô Giáo Rô-ma, cũng là God chung của Ki-tô Giáo, Hồi Giáo, và Do-thái Giáo. Theo sách National Catholic Almanac, 1968, trang 360, của Ca-tô Giáo, chúng ta có một ông God với 23 thuộc tính (23 attributes):
“Phép tắc vô cùng, vĩnh hằng, thánh thiện, bất diệt, bao la mênh mông, không bao giờ thay đổi, không thể hiểu được, không thể mô tả được, vô tận, vô hình, công chính, thương yêu, nhân từ, cao nhất, khôn ngoan nhất, toàn năng, toàn trí, có mặt khắp nơi, nhẫn nại, toàn hảo, cung cấp tinh thần và vật chất cho con người, tối cao, chân thật”
(almighty, eternal, holy, immortal, immense, immutable, incomprehensible, ineffable, infinite, invisible, just, loving, merciful, most high, most wise, omnipotent, omniscient, omnipresent, patient, perfect, provident, supreme, true.)
Trong phạm vi bài này, tôi không thể bàn về cả 23 thuộc tính của God, như vậy quá dài, vì khi bàn về một thuộc tính nào đó, tôi không thể thiếu phần lý luận, dựa vào thực tế, lô-gic, lý trí v..v.., và dựa vào ngay chính những điều viết trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo. Cho nên, tôi chỉ luận trên một số thuộc tính điển hình mà người Ki-tô Giáo thường tin và rao truyền. Nếu độc giả nào cho rằng, God là để tin chứ không phải để bàn, thì tốt hơn hết là độc giả đó không nên đọc bài này, vì độc giả đó không ở trong thời đại của sự tiến bộ trí thức ngày nay cùng với chúng ta.
Trước hết, trong 23 thuộc tính nêu trên có một thuộc tính rất đặc biệt, đó là incomprehensible, nghĩa là không thể hiểu được. Giáo lý của giáo hội Ca-tô Rô-ma cũng còn nhấn mạnh là cả 3 ngôi God đều không thể hiểu được “God Cha không thể hiểu được, God Con không thể hiểu được, God Ma Thánh không thể hiểu được” (The Father incomprehensible, the Son incomprehensible, the Holy Ghost incomprehensible). Dù không hiểu được, nhưng Ca-tô Giáo Rô-ma đã thản nhiên đưa ra thêm 22 thuộc tính khác như trên để mô tả God của họ. Vì trong Ca-tô Giáo Rô- ma, tín đồ chỉ có quyền “quên mình trong vâng phục”, trung thành với “đức vâng lời”, không có quyền thắc mắc, chỉ có quyền tin, không có quyền hiểu, nên điều này không thành vấn đề đối với con chiên, giáo hội dạy sao thì cứ tin làm vậy. Khổ một nỗi, đối với người ngoại đạo như tôi, xét theo logic thì thuộc tính incomprehensible đã chứng tỏ rằng 22 thuộc tính kia thuộc loại...phịa theo sự tưởng tượng của đầu óc con người, và tất cả những gì mà Ki-tô Giáo nói về God, khẳng định là God thế này, God thế nọ, ý God thế này, ý God thế nọ, God thương yêu bạn, muốn bạn thế này thế nọ v..v.. chung qui cũng chỉ là nói chỉ để mà nói, thực chất những khẳng định trên hoàn toàn vô nghĩa.. Vô nghĩa ở chỗ không ai thấy được God (invisible), và không ai hiểu được God (incomprehensible), cho nên những gì nói về God đều là do sự tưởng tượng của con người, thường là sự tưởng tượng của những người không có mấy đầu óc, đưa ra để lòe bịp những người ít đầu óc hơn.
Mặt khác, Ki-tô giáo cũng còn dùng từ “không biết được” (unknowable) để chỉ God của họ. Một God mà không ai biết được và không ai hiểu được thì có thể rất xấu hoặc rất tốt, rất ác độc hoặc rất hiền lành v..v.. Hiển nhiên là God không ra ngoài sự tưởng tượng của đầu óc của con người. Ai muốn nghĩ sao về God thì God như vậy. Một người ngu thì God trong đầu họ cũng ngu như họ. Một người sáng suốt thì God trong đầu họ cũng sáng suốt như họ. Tuy nhiên, nếu dựa vào những điều viết trong Kinh Thánh mà Ki-tô Giáo cho là những lời mạc khải của God nên không thể sai lầm, thì chúng ta thấy God của Ki-tô Giáo thực sự không lấy gì làm thông minh cho lắm, có nhiều tính xấu, ghen tuông, độc ác, tàn nhẫn v..v.., do đó chúng ta đã hiểu là tại sao Giám mục Spong lại cho rằng không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng, một God như vậy.
Chỉ một từ incomprehensible đã có thể xóa sạch mọi thuộc tính mà người ta gán cho God của Ki-tô Giáo. Vậy rõ ràng là 22 thuộc tính kia của God mà Giáo hội đưa ra là để lừa dối, mê hoặc đám tín đồ vốn không có nhiều đầu óc để nhận ra thủ đoạn này. Thật vậy, God không thể hiểu được, nhưng giáo hoàng vẫn tự nhận là đại diện của God Ki-tô (Vicar of Christ), các linh mục vẫn tự ban cho mình quyền thay God Con (Cha cũng như Chúa Dê-su) để rửa tội và tha tội cho các tín đồ, các Mục sư vẫn luôn luôn nói là God muốn thế này, muốn thế nọ v..v.. Nói tóm lại, họ dạy những tín đồ thấp kém là God không thể hiểu được, nhưng họ lại tự cho là chỉ có họ là hiểu được God, hay nói đúng hơn, tự cho mình thay quyền God, tuy rằng đầu óc của họ nhiều khi ít thông minh hơn, kém cỏi hơn chính những tín đồ của họ. Nhưng vì họ đã mê hoặc các tín đồ bằng một cái bánh vẽ trên trời, cho nên họ muốn nói hươu nói vượn gì về God, tín đồ chỉ có việc tin theo, không cần phải thắc mắc. Đây chính là thủ đoạn nhồi sọ của giới giáo sĩ Ki-tô Giáo để tự tạo quyền lực trên đám tín đồ thấp kém. Bởi vậy cho nên nhà Đại Văn Hào Pháp Voltaire đã nhận định rất chính xác như sau: “Lời của God là lời của các linh mục; sự vinh quang của God là sự hãnh diện của các linh mục; ý của God là ý của các linh mục; xúc phạm God là xúc phạm các linh mục; tin vào God là tin vào mọi điều linh mục bảo chúng ta tin” (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.) Chẳng vậy mà một giám mục Việt Nam đã khuyên các con chiên: “Các con đừng nói hành các Cha [bê bối] mà mang tội với Chúa” hàm ý “Cha cũng như Chúa”. Ông Giám mục này quên một điều là trong thế giới ngày nay, người ta đã nhốt nhiều “Cha cũng như Chúa” vào tù về những tội gian lận, ăn cắp, hiếp dâm nữ tu, và loạn dâm đám trẻ. Ngoài ra, trong thế giới Tây phương, có những con chiên, không những nói hành các Cha mà còn nói hành từ Đức Thánh Cha trở xuống. Và chẳng có ai tin là mình đã mang tội với Chúa.
Giáo dân, phần lớn là kém hiểu biết, cho nên không thấy được sự mâu thuẫn trong giáo lý của Ki-tô Giáo, không nhận ra được thủ đoạn của giới giáo sĩ, kết quả là tuyệt đối tuân phục nghe theo các “bề trên”, tin rằng muốn hiệp thông với Chúa thì phải qua trung gian là giới giáo sĩ, và nghe lời họ để gây nên nhiều tội ác đối với nhân loại như lịch sử Ki-tô Giáo đã chứng minh. Trong cuộc Thánh Chiến đầu tiên, để khích động sự cuồng tín của giáo dân, Giáo hoàng đã đưa ra khẩu hiệu đó là “Ý Chúa” (God’s Will), đồng thời cướp quyền Chúa, ban lệnh toàn xá cho những thập ác quân nghe lời ông ta đi giết người ngoại đạo. Không ai đặt vấn đề là nếu Chúa không thể hiểu được (incomprehensible) thì ai là người biết được “Ý Chúa”? Chỉ có Chúa mới biết được “ý Chúa” hoặc phải là bậc thần thông quảng đại như Tề Thiên Đại Thánh, vượt trội hơn Chúa, mới có thể biết được Ý Chúa.
Đó là cái hại của sự thiếu hiểu biết và mê tín. Ngày nay, Ki-tô Giáo không còn phát động Thánh Chiến được nữa, nhưng không phải vì vậy mà sự thiếu hiểu biết và mê tín trong đám tín đồ thấp kém đã suy giảm. Thật vậy, chúng ta hãy xét đến 7 “bí tích” của Ca-tô Giáo Rô-ma. Trong lễ tiết của các “bí tích” như “phong chức linh mục”, “rửa tội”, “thêm sức” v..v.., các giám mục hay linh mục đã đóng vai God, thực hiện phép lạ như gọi con Ma Thánh (Holy Ghost), cũng là God Cha, cũng là God Con (theo thuyết Chúa Ba Ngôi), không biết đang ở đâu, bên Tàu hay bên Ta, xuống ngự trên đám tín đồ thấp kém, mê tín, cả tin, qua hành động đặt tay lên đầu của “nạn nhân”. Tôi thực tình không hiểu nổi tại sao trong thời đại này mà đầu óc con người còn có thể tin vào những chuyện hoang đường phi lý đầy tính cách mê tín như vậy.
Tôi thấy thật là tội nghiệp cho những người bị kéo vào vòng nhồi sọ, mê tín của Ki-tô Giáo mà không tự biết, vẫn tưởng mình ở trong một “hội thánh”, độc quyền nắm trong tay chân lý của người đời. Lẽ dĩ nhiên, ai cũng có quyền tin vào một cái gì đó, dù là tin một cách sai lầm. Nhưng nếu mang cái niềm tin sai lầm này truyền rao để “Phúc Âm hóa thế giới” mà thực chất chỉ là kéo con người vào vòng nô lệ tâm linh và gây hại cho xã hội loài người thì đó lại là vấn đề khác. “Phúc Âm” đã trở thành “Họa Âm” đối với người ngoại đạo.. Người ngoại đạo có quyền tìm hiểu sự thật và chống lại những thủ đoạn “Phúc Âm hóa” của Ki-tô giáo. Đây không phải là vấn đề vi phạm tự do tín ngưỡng mà chỉ là thái độ lương thiện trí thức trong vấn đề học thuật (scholarship), hiển nhiên là một quyền căn bản của con người. Người trong đạo có quyền nói là họ chỉ cần đức tin. Còn người ngoại đạo chúng tôi cũng có quyền nói là chúng tôi không tin. Điều khác biệt là chúng tôi có những lý lẽ để không tin. Còn quý vị tin là tin chứ không cần đến lý lẽ.
Chúng ta đã biết, tất cả các thuộc tính của God mà Ki-tô Giáo đưa ra đều là do sự tưởng tượng của con người. Nhưng có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu là họ đã tưởng tượng như thế nào, có hợp lý không, và có nhất quán không. Chúng ta có thể thấy ngay, có hai thuộc tính của God hoàn toàn mâu thuẫn nhau: invisible (vô hình = nghĩa là không ai có thể nhìn thấy) và omnipresent, nghĩa là có mặt khắp nơi (being present everywhere). [Có một câu chuyện về một “sơ” [các “sơ” thường tự nhận là “hôn thê của Chúa” (bride of Christ)], rất tin ở thuộc tính “omnipresent” mà giáo hội dạy nên luôn luôn tắm với quần áo, sợ rằng để Chúa nhìn thấy cái của nợ của mình thì mang tội với Chúa]. Thuộc tính “có mặt khắp nơi” này của Chúa có nghĩa là Chúa có mặt ở Hiroshima ngay chỗ quả bom nguyên tử nổ; có trong người Hitler vì Hitler là một tín đồ Ca-tô, chắc chắn đã được rửa tội, được một linh mục hay giám mục gì đó đặt tay trên đầu và truyền lệnh cho Thánh Linh, alias Chúa, xuống ngự trong người; có trong Satan, chứa đầy Satan; và lẽ dĩ nhiên, có trong tôi khi tôi đang viết những câu này. Vậy quý vị nào mở miệng mạ lỵ tôi vì tôi viết những bài thuộc loại này là quý vị cũng đã mạ lỵ luôn cả Chúa ở trong tôi, theo niềm tin của quý vị, chứ không phải là niềm tin của tôi. Vì Chúa ở trong tôi là một điều bất hạnh đối với tôi chứ không phải là điều vinh hạnh.
Các tín đồ Ki-tô giáo đã tin vào một God vô hình nhưng lại có mặt khắp nơi Vậy thực chất niềm tin của họ là tin vào cái vô hình nhưng lại có mặt khắp nơi và không thể hiểu nổi (invisible, omnipresent and incomprehensible). Kiểu tin này, chúng ta thường gọi là “mù lòa tin bướng tin càn”, kiểu tin đặc thù của Ki-tô Giáo.. Nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng, trong Kinh Thánh, God không phải là vô hình, mà có hình bằng xương bằng thịt, đã nói chuyện với Adam và Eve, Abraham, Isaac, Jacob, Moses v..v... God còn ra lệnh cho các binh sĩ trong trại, mỗi khi đi đại tiện phải chôn phân cho kỹ [Phục Truyền 23: 12-14], vì God không muốn nhìn thấy thứ này khi đi dạo trong trại [có thể là sợ giẫm phải. God không thể tưởng tượng được là ngày nay, hầu hết trong các đô thị ở các xứ văn minh tiến bộ trong đó có Việt Nam, chúng ta lại có cái cầu tiêu máy, giật một cái là phân trôi xuống hầm chứa, God khỏi phải lo nhìn thấy hay giẫm phải. Nhưng tránh cũng không được, vì God có mặt khắp nơi (omnipresent). Khắp nơi có nghĩa là “khắp nơi”, không chỗ nào mà không có, có phải như vậy không?] Có lẽ các tín đồ Ki-tô Giáo không bao giờ nghĩ đến những sự mâu thuẫn oái ăm này.

Bây giờ chúng ta hãy điểm qua vài thuộc tính điển hình của God mà các tín đồ Ki-tô Giáo thường tin và ca tụng, và đối chiếu với những hành động của God trong Kinh Thánh cũng như đối chiếu với thực tại xem những thuộc tính đó có ý nghĩa gì trong thời đại ngày nay. Làm công việc này, trước hết chúng ta cần ghi nhớ là God có một thuộc tính là “không bao giờ thay đổi” (immutable), nghĩa là trước sau như một, ngày xưa vậy thì ngày nay cũng vậy. Những hành động ngày nay của God chỉ là lập lại những hành động của God trước đây. Bởi vậy, thiên tai, bão lụt, động đất, cuồng phong v..v.., gây nên thiệt hại nhân mạng và vật chất trên thế gian đều không được các hãng bảo hiểm ở Mỹ bảo hiểm, vì họ coi đó là hành động của God (Acts of God) nên God phải chịu trách nhiệm, ai muốn kiện thì cứ đi mà kiện God. Các nhà bảo hiểm khôn lắm, họ biết rằng kiểu đi kiện God là kiểu “con kiến mà kiện củ khoai” thì bao giờ có kết quả? Cả các nhà thờ cũng không được bảo hiểm những “Acts of God”.
Nhớ khi xưa, sét của God cứ nhè nóc nhà thờ đang thờ God mà đánh, vì cây thập giá trên nóc nhà thờ bằng kim loại luôn luôn vươn cao để đón chờ sét của God đánh. Cho đến khi Benjamin Franklin khám phá ra cái cột thu lôi thì quyền năng sấm sét của God bị vô hiệu hóa, được tự động truyền từ cây thập giá chui xuống yên nghỉ dưới đất. Ngày nay, mỗi khi God nổi cơn sấm sét, chó mèo còn cúp tai chạy, chứ con người thì thản nhiên ngồi chơi sơi nước.
Trong số 23 thuộc tính của God, tôi muốn luận trên vài thuộc tính như toàn năng, toàn trí, công chính, nhân từ, và nhất là “lòng thương yêu” của God đối với nhân loại (A loving God). Vì những thuộc tính này liên hệ với nhau trong phần lý luận nên tôi để chung chúng trong phần phân tích sau đây.
- Trước hết là thuộc tính “toàn năng” (omnipotent). Thế nào là “toàn năng”? Toàn năng có nghĩa “toàn là xạo” vì ở trên cõi đời này, chẳng có gì có thể gọi là “toàn năng”. Tại sao? Vì toàn năng có nghĩa là làm gì cũng được, không có một chướng ngại nào không thể vượt qua, không có khó khăn nào không thể thực hiện, và nhất là không cần dùng đến phương tiện để thực hiện, chỉ cần có ý muốn là đủ. Theo sách Sáng Thế Ký trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo thì God “sáng tạo” (sic) ra vũ trụ muôn loài bằng những lời phán. Thí dụ, Thượng đế chỉ cần phán: “Có ánh sáng nè”, lập tức có ánh sáng v..v.. Nghĩa là God muốn cái gì thì tức khắc cái đó có liền. Phải dùng đến bất cứ một phương tiện nào để thực hiện bất cứ điều gì, thí dụ như dùng phương tiện tàn nhẫn, hi sinh con một của mình để chuộc tội cho con người, hoặc dùng đến những tên truyền đạo ngu đần để kéo người khác vào vòng mù quáng tin God v..v.. đương nhiên đã loại bỏ thuộc tính toàn năng của God. Suy rộng ra, chúng ta không thể nói là God có bất cứ “hành động” nào, vì hành động đòi hỏi phải dùng đến phương tiện để đạt tới mục đích. Lại nữa, cũng không thể nói là God có mục đích, vì điều này uẩn hàm God có những điều chưa thực hiện được. Tất cả những điều trên đã chứng minh không thể nào có một God “toàn năng”.
Mặt khác, thuộc tính “toàn năng” của Thượng đế không thể phù hợp với thực tế mà chúng ta thường thấy hàng ngày. Đó là sự hiện hữu của những sự “xấu” (evil) về vật chất cũng như về đạo đức trong thế giới của chúng ta mà các tín đồ Ki-tô Giáo tin rằng chính God của họ đã “sáng tạo” ra. [Trong tiếng Anh, người ta thường dùng hai từ đối nghịch nhau là “good” và “evil”. Good là tốt, hay “thiện”, tôi dịch “evil” là những sự “xấu”, nhưng chúng ta nên hiểu từ này theo nghĩa rộng, bao gồm mọi sự xấu, ác, hiện tượng thiên nhiên, hay bất cứ điều gì đưa đến những tác hại về vật chất cũng như tinh thần cho các sinh vật trong đó có con người. TCN] Đây là một vấn nạn nhức nhối của Ki-tô Giáo mà không nhà thần học nào, không một lý luận nào, có thể giải thích ổn thỏa vấn nạn này mà không vấp phải những mâu thuẫn tự tại.
Không phải là ngày nay chúng ta mới thấy sự mâu thuẫn trong những thuộc tính “toàn Năng”, “toàn trí” và “nhân từ” của Thượng đế [T-đ]. Mà cách đây khoảng 23 thế kỷ, triết gia Epicurus đã đặt vấn đề như sau, và cho tới ngày nay vẫn chưa có ai giải đáp nổi:

"Hoặc Thượng đế (T-đ) muốn hủy bỏ những sự “xấu”, và không thể
Hoặc T-đ có thể hủy bỏ nhưng không muốn
Hoặc T-đ không thể, và không muốn

Nếu T-đ muốn, nhưng không thể làm được, T-đ bất lực. (nghĩa là không Toàn Năng)
Nếu T-đ có thể, nhưng không muốn, T-đ thật là tồi tệ. (nghĩa là không nhân từ)
Nếu T-đ không thể và cũng không muốn,
T-đ vừa bất lực vừa tồi tệ.
Nhưng nếu (như họ nói) T-đ có thể hủy bỏ những sự “xấu”
Và T-đ thật sự muốn như vậy
Tại sao trên cõi đời này lại có những sự “xấu, ác v..v..”?"

(Either god wants to abolish evil, and cannot;
Or he can, but does not want to;
Or he cannot, and does not want to.
If he wants to, but cannot, he is impotent.
If he can, but does not want to, he is wicked.
If he neither can, nor wants to,
He is both powerless and wicked.
But if (as they say) god can abolish evil,
And god really wants to do it,
Why is there evil in the world?)
Và ngày nay, Linh mục dòng Tên G.H. Joyce cũng đã đặt vấn đề trong cuốn Principles of Natural Theology như sau:
Sự hiện hữu của những sự “xấu, ác” trong thế giới muôn đời cũng vẫn là vấn nạn lớn nhất trong những vấn nạn mà đầu óc con người gặp phải khi suy tư về Thượng đế và sự liên hệ của ông ta đối với thế giới. Nếu thật sự là ông ta “toàn thiện” và “toàn năng”, làm sao lại có những sự “xấu” ở chỗ nào trên cái thế giới mà ông ta đã tạo ra? Khi nào thì những sự “xấu” tới? Tại sao chúng có mặt ở đây? Nếu ông ta “toàn thiện”, tại sao ông ta để cho chúng xảy ra? Nếu “toàn năng” tại sao ông ta không giải thoát chúng ta khỏi những sự “xấu, ác”? Trong cấp vật chất cũng như tinh thần, có vẻ như sự sáng tạo đã thất bại trầm trọng khiến chúng ta khó có thể hiểu được là làm sao mà tất cả là từ Thượng đế mà ra?
(Peter A. Angeles, p. 204: The existence of evil in the world must at all times be the greatest of all problems which the mind encounters when it reflects on God and His relation to the world. If He is, indeed, all-good and all-powerful, how has evil any place in the world which He has made? Whence came it? Why is it here? If He is all-good why did He allow it to arise? If all-powerful why does He not deliver us from the burden? Alike in the physical and moral order creation seems so grievously marred that we find it hard to understand how it can derive in its entirely from God?)
Những thắc mắc trí thức trên chứng tỏ một Thượng đế mà người Ki-tô Giáo thường tin không thể hiện hữu, vì thực tế và những thuộc tính của Thượng đế có tính loại trừ lẫn nhau (mutual exclusive), nghĩa là, có cái này thì không thể có cái kia.


Chữ trên nút đỏ: "Nút xanh đúng"
Chữ trên nút xanh: "Nút đỏ sai"

(SH: Mâu thuẫn là, nếu nút đỏ nói đúng thì tin nút xanh. Nhưng nút xanh nói rằng "nút đỏ sai". Vậy nghĩa là nút xanh sai. Và nếu nút xanh sai, thì câu nói "nút đỏ sai" trên nút xanh cũng không đúng, nghĩa là phải hiểu "nút đỏ đúng, và nếu nút đỏ đúng thì nên tin rằng "nút đỏ sai". Cứ lòng vòng như thế không thể kết luận điều gì. Do đó, chỉ có thể một câu đúng thôi, hoặc nút đỏ, hoặc nút xanh, không thể có hai câu mâu thuẫn trên hai nút như thế)
Nhưng có lẽ chúng ta cần khai triển vấn đề thực tế để có thể thấy rằng những thắc mắc trên rất chính đáng. Vậy thực tế là như thế nào? Đối với những người có cái “gen” của Thượng đế cho nên dễ bị nghiện đạo thì có lẽ không bao giờ họ quan tâm đến thực tế. Họ chỉ cần biết một điều mà bản chất thật là vô cùng ích kỷ: “yêu Thượng đế hết lòng hết sức” như Kinh Thánh dạy, và chờ đợi để nuốt cho riêng mình những cọng ân huệ của Thượng đế, bất kể là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái mình, có thể vì không tin nên bị Thượng đế đày đọa hỏa ngục vĩnh viễn.. Nhưng đối với những người có đôi chút đầu óc thì thực tế đã làm cho họ không tránh khỏi những thắc mắc suy tư về thế giới mà chúng ta đang sống trong đó.
Theo luận điệu thần học của Ki-tô Giáo thì Thượng đế đã sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài, trong đó đặc biệt là con người đã được Thượng đế tạo nên theo hình ảnh của Thượng đế và giống như Thượng đế, vì vậy chúng ta phải tôn thờ, yêu hết lòng hết sức Thượng đế, đấng đã sáng tạo ra chúng ta. Chúng ta hãy thử phân tích một số vấn đề để xem chúng ta nên tin theo Ki-tô Giáo để mà hết lòng hết sức thương yêu Thượng đế như thế nào?
Thượng đế sáng tạo ra chúng ta, rồi lại hành hạ chúng ta đủ điều. Vì sự lầm lỗi, thực ra là sự sáng suốt, của một người (Adam) mà Thượng đế đã trả thù cả nhân loại. Ai bảo đây là công lý xin lên tiếng. Công lý của Thượng đế đã bị công lý của người đời loại bỏ trong hầu hết các xã hội ngày nay. Rồi Thượng đế lại muốn cứu chúng ta ra khỏi cái tội không hề có trên thế gian: tội tổ tông. Rồi nữa, hoàn thành công việc sáng tạo trong 6 ngày, Thượng đế rất hài lòng và tự khen là tất cả mọi thứ tạo ra đều rất là tốt đẹp, tuyệt hảo (very good).. Ngày thứ bảy, Thượng đế nghỉ, và ra luật “Đứa nào không nghỉ ngày thứ bảy giống như ta thì sẽ phải xử tội chết.”. Nhưng rồi Thượng đế lại thấy những sản phẩm “sáng tạo” ưng ý nhất của mình là con người theo hình ảnh mình, giống như mình, không phải là rất tốt (very good) mà là rất xấu (very bad), nên Thượng đế đã tạo ra Hồng Thủy để giết tất cả mọi người trừ gia đình của một tên say rượu (Noah) vì loài người xấu xa, và giận cá chém thớt, giết luôn tất cả nhiều triệu chủng loại sinh vật, chỉ chừa lại mỗi thứ 1 cặp, những sinh vật không có đắc tội gì với Thượng đế và do chính Thượng đế “sáng tạo” ra. Có thể nói được chăng là Thượng đế rất mực nhân từ, quá thương yêu thế gian như các nhà truyền giáo thường rao giảng cho đám tín đồ đầu óc thuộc loại của con chiên, người ta bảo sao nghe đó? Chính mình đã thất bại trong sự “sáng tạo” của mình, nhưng lại đi trừng phạt những thứ do chính mình sáng tạo ra, công lý ở chỗ nào đây. Thượng đế của Ki-tô Giáo chưa học được câu: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” của Đông phương.
Chúng ta hãy bỏ qua những luật của Thượng đế mà ngày nay chẳng có ai tuân hành, kể cả những người Ki-tô Giáo, nhất là luật nghỉ ngày thứ Bảy, mà chỉ nhìn vào những vật sáng tạo của Thượng đế. Chúng ta thấy gì? Hãy bỏ qua vũ trụ rộng lớn khoảng 15 tỷ năm ánh sáng mà nhiều khoa học gia đã tìm hiểu, chỉ nhìn vào trái đất mà chúng ta đang sống trên đó, chúng ta có thể đánh giá một cách khá chính xác những thứ mà Thượng đế cho là rất tốt đẹp, nhất là loài người, được Thượng đế tin là sẽ tái tạo đạo đức sau cơn Hồng Thủy.
Trước hết, trên trái đất có những sa mạc nóng như thiêu đốt, những miền băng giá lạnh buốt, những rừng rú đầy ác thú và chướng khí, những vùng sình lầy đầy cá sấu v..v.. mà không có ai có thể sống một cách tự nhiên, thoải mái trong các vùng đó. Rồi thì có những con ác thú, rắn rết, bọ cạp, ruồi muỗi, và hàng triệu loại sâu bọ khác nhau. Mục đích sáng tạo ra một thế giới như vậy để làm gì, hiển nhiên không phải là để giúp con người mà là hại con người.
Thứ đến, thiên tai đầy rẫy: cháy rừng, núi lửa, động đất, bão tố, cuồng phong, sóng thần, hạn hán, lụt lội, nạn đói v..v.. Rồi thì biết bao chứng bệnh hiểm nghèo điển hình là bệnh hủi, ung thư, AIDS v..v.. và sau cùng, có những đứa bé sinh ra là quái thai, mù, điếc, bị những khuyết tật, dị tật bẩm sinh v..v.. Tất cả những sự “xấu” như trên đã tàn phá không ít đời sống của con người, tác phẩm ưng ý nhất của Thượng đế. Dê-su trong Thánh Kinh đã làm cho người què quặt đi đứng lại được, người mù sáng mắt ra, biến nước thành rượu, biến một ổ bánh thành 5000 ổ bánh để cho người đói ăn v..v.., vậy bây giờ ông ta trốn lui trốn lủi ở đâu mà không giúp cho thiên hạ bất cứ điều gì ngoài việc làm các bung xung cho những kẻ buôn thần bán thánh lừa dối những kẻ ngờ nghệch đầu óc kém cỏi. Đời này không giúp, chết rồi mới hứa hẹn, dụ khị thì đúng hơn, mà cũng chẳng biết bao giờ mới thực hiện được lời hứa hẹn vì chẳng ai biết ngày tận thế là ngày nào.
Có nhà thần học Ki-tô nào, chuyên nghiệp cũng như mới tập sự, có thể giảng cho tôi hiểu có cái gì đáng giá trong những sản phẩm sáng tạo của một “Thượng đế quá thương yêu thế gian..” như trên, và những thứ đó có ích gì cho nhân loại? Hay đó là những “kế hoạch mầu nhiệm” của Thượng đế mà đầu óc con người không thể nào hiểu nổi, theo như luận điệu lừa dối của giới truyền đạo trước đám tín đồ đầu óc thấp kém? Thượng đế của Ki-tô Giáo, nếu có, tuyệt đối không phải là “quá thương yêu thế gian” như những nhà truyền đạo tập sự quảng cáo, mà thực chất chỉ là một kẻ rất thích thú trong cuồng bạo (sadist), thích thú trước những sự bạo tàn, giết chóc do chính mình “sáng tạo” ra. Đọc kỹ Kinh Thánh, nhất là Cựu Ước, chúng ta thấy rõ điều này.
Trên đây chỉ là những sự “xấu, ác” về vật chất mà Thượng đế đã “sáng tạo” ra để phục vụ con người, vì Ngài đã “quá thương yêu thế gian”, theo như niềm tin của những người có đầu mà không có óc. Bây giờ, chúng ta hãy xét đến những sự “xấu” thuộc lãnh vực tinh thần, tâm linh của loài người. Vì con người được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế và giống như Thượng đế cho nên chúng ta thấy trong loài người tất cả những “đức tính” của Thượng đế như: ích kỷ, tham, sân, si, ganh ghét, ghen tuông, hèn nhát, độc ác, lừa bịp, xảo quyệt. Sau khi phải dùng đến phương tiện đất sét để tạo nên Adam theo hình ảnh mình và giống như mình, Thượng đế xoa tay tự khen “very good”. Nhưng “very good” như thế nào? Tác phẩm đầu tay của Thượng đế là Adam và Eve. Ngay thế hệ đầu, Cain và Abel đều là con của Adam và Eve, nhưng vì sự bất công, thiên vị của Thượng đế [Thượng đế thích phần thịt mỡ có nhiều chất béo và cholesterol của Abel dâng, và chê phần rau trái của Cain], Cain đã giết ngay người em ruột của mình, sau đó loạn luân với mẹ Eve để sinh con đẻ cái. Cain chính là hình ảnh của Thượng đế, giống như Thượng đế, như mục đích tạo ra loài người của Thượng đế. Vậy thì tốt đẹp ở cái chỗ nào? Ai bảo tốt đẹp ở chỗ nào? Xin lên tiếng.
Thượng đế là bậc toàn năng, theo niềm tin của những người không hiểu toàn năng là gì, không có cách gì khác để tạo ra loài người hay sao? Thí dụ, chỉ cần phán một câu là có một cặp vợ chồng da đen, một cặp lờ lờ gần giống như Dê-su ở miền Trung Đông, một cặp da trắng v..v.. thì có phải tránh được vấn đề loạn luân hay không? [Các khoa học gia ngày nay đã khám phá ra rằng màu da của con người biến thiên từ đen đến trắng thành 36 màu khác nhau]
Nhưng Thượng đế lại thích cái trò loạn luân vì trong Kinh Thánh, những lời mạc khải của Thượng đế nên không thể sai lầm, không thiếu gì những chuyện loạn luân: anh lấy em, anh hiếp em, em ngủ với chị dâu, bố chồng ngủ với con dâu, cha làm cho con gái có mang v..v. Ngoài ra, Kinh Thánh viết rõ: Thượng đế là Thượng đế của chiến tranh, nên con người đã tạo ra không biết bao nhiêu là cuộc chiến tranh với tất cả những hành động độc ác, khủng khiếp đi kèm với chiến tranh. Thử nghĩ xem, con người, tác phẩm ưng ý nhất của Thượng đế theo niềm tin của những tôi tớ của Thượng đế, có hơn gì loài vật không? Đã đành rằng con người là dạng tiến hóa cao nhất trong các sinh vật, có lý trí, có óc phân biệt phải trái, nhưng con người đã làm những gì cho đồng loại? Loài vật cắn xé nhau, mạnh hiếp yếu, cá lớn nuốt cá bé, nhưng chúng chưa hề tra tấn đồng loại, chưa hề phát minh ra những dụng cụ tra tấn vô cùng khủng khiếp như của Ki-tô Giáo trong thời Trung Cổ để tra tấn những người mà họ cho là lạc đạo, chưa từng phát minh ra bom nguyên tử để với một quả bom có thể làm chết cả trăm ngàn người. Cái ác của con người thật không có gì sánh nổi. Mà phần lớn những phát minh này là từ những con cái Chúa, từ những xã hội văn minh tiến bộ tự nhận là dân Chúa.
Từ sự phân tích vài điều trên, tôi thấy con người không có một lý do nào để yêu thương hết lòng hết sức một Thượng đế như vậy, nếu thực sự là có một Thượng đế. Một Thượng đế như vậy cần phải lên án và loại bỏ ra khỏi đấu óc con người, để cho đầu óc con người không bị ô nhiễm bởi những điều độc ác, phi nhân, phi lý trí. Gary DeVaney, trên Internet, trong bài “Thiên Chúa Giết Người” [The God Murders: This is a 4-Court day Agenda] mà nội dung là 4 Phiên Tòa xử Thiên Chúa, đã đưa ra trên 170 trường hợp trong Thánh Kinh và kết án từng trường hợp một là Thiên Chúa đã giết người bừa bãi một cách hết sức vô nhân đạo. Khi Dê-su bị đóng đinh trên thập giá, ông ta đã xin Thượng đế tha thứ cho những người đang hành hình ông ta: “Cha hãy tha thứ cho họ vì họ không biết là họ đang làm gì”, nhưng một học giả Ki-tô đã đưa ra một nhận định sâu sắc: “Nếu cái tên Ki-tô (Dê-su) không biết gì về siêu hình học này mà có chút kiến thức nào về luật nhân quả, thì lời cầu nguyện của hắn phải đọc ngược lại - Con người, hãy tha thứ cho Thượng đế, vì hắn đã không biết là mình làm những gì...Nhưng con người có thể tha thứ cho sự độc ác của Thượng đế không? ” [Lloyd M. Graham, Deceptions & Myths of the Bible, p.425: Had this metaphysically ignorant Christ possessed any knowledge of Causation, his prayer would read in reverse- Man, forgive God, for he knows not what he does.. But, can man forgive God for his cruelty?]
Sau khi loại bỏ Thượng đế ra khỏi đầu óc thì chúng ta còn lại gì? Đó là một đầu óc lành mạnh, có khả năng suy tư, và từ đó có thể giải thích về sự hiện hữu của những sự xấu trên thế giới. Đó là chẳng có Thượng đế nào sáng tạo ra vũ trụ muôn loài, mà tất cả đều phù hợp với thuyết Tiến Hóa. Thuyết Tiến Hóa có thể gói trọn trong một thuyết mà Phật Giáo đã đưa ra cách đây trên 2500 năm: thuyết Duyên Sinh hay Duyên Khởi. Đủ duyên thì thành mà hết duyên thì diệt. Chữ duyên trong Phật Giáo có nghĩa rất rộng, gồm tất cả những yếu tố tạo thành, yếu tố vật chất cũng như tinh thần, thể hiện dưới thiên hình vạn trạng. Con cóc được sinh ra vì nó có đủ duyên để tạo thành con cóc và trở thành “Cậu đức Chúa Trời”. [Gần đây. nền thần học theo cung cách Á Châu cố gắng đánh đồng Chúa Trời của Ki Tô Giáo với ông Trời của người Việt Nam. Họ quên mất một điều: Người Việt Nam có câu “Con Cóc là cậu ông Trời”. Tại sao? Vì mỗi khi con cóc nghiến răng thì bốn phương trời chuyển động, báo hiệu sắp có mưa giông sấm sét. Vậy nếu ông Trời là Chúa Trời thì con cóc lại là cậu của Chúa Trời, mà cậu là em ruột của mẹ, vậy thì mẹ của Chúa Trời cũng phải là con cóc. Nếu mẹ của Chúa Trời là con cóc thì Chúa Trời cũng phải là con cóc. Đây chỉ là những lý luận để chống lại chuyện nhập nhằng Chúa Trời với Ông Trời của Việt Nam, chứ chẳng phải sự thực mẹ Chúa Trời hay Chúa Trời là con cóc. Những người sáng chế ra cái gọi là nền thần học theo cung cách Á Châu để dụ người dân Việt vào đạo có biết gì về nền văn hóa Việt Nam hay không, có bao giờ nghĩ đến phản ứng “gậy ông đập lưng ông” này không?]
Có một câu của Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết trong cuốn “L'Infini Dans La Paume de la Main” có thể giúp chúng ta hiểu phần nào chỗ đứng của chúng ta trong vũ trụ: "Tiến hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm" (Poussières d'étoiles, nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande). Cho nên, chúng ta có thể dữ như con sư tử cũng như hiền hòa, đẹp đẽ như những bông hoa. Chỉ có điều, vì chúng ta là dạng cao nhất trong các sinh vật, nên nhiều khi chúng ta có thể dữ hơn sư tử nếu chúng ta không thấy được nguyên lý tương tức (interbeing), hay tương nhập (inter-penetration), hay duyên khởi (dependent origination) trong Phật Giáo, và do đó, không biết xử dụng đầu óc của chúng ta cho đúng.
Thứ đến là thuộc tính “toàn trí” (omniscient) của Thượng đế, nghĩa là cái gì cũng biết, quá khứ, hiện tại, vị lai đều biết cả. Toàn trí hàm ý có một kiến thức không giới hạn.
Trước hết, hai thuộc tính “toàn trí” và “toàn năng” có tính loại trừ lẫn nhau, có cái này thì không thể có cái kia. Nếu God biết trước tương lai sẽ phải xảy ra thế nào thì God không thể thay đổi tương lai, như vậy khả năng cũa God bị giới hạn, God không thể toàn năng. Ngược lại, nếu God có thể thay đổi tương lai, God đã không biết trước tương lai, God không thể toàn trí.. Nhưng hiển nhiên là, đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy rằng God không biết gì về quá khứ, hiện tại và vị lai. Trong Kinh Thánh có rất nhiều điều sai lầm về thần học cũng như khoa học. Đây là điều không ai có thể phủ nhận. Ngay trong tác phẩm “sáng tạo” của God cũng có nhiều điều bất toàn trước kiến thức thông thường của con người hiện đại.

Trong quá khứ, để biện hộ cho sự hiện hữu của những sự “xấu, ác” trên thế gian, Ki-tô Giáo đã đưa ra nhiều luận điệu thần học để biện minh cho God của họ. Một trong những luận điệu này mà ngày nay có vài tân tòng Tin Lành vẫn dùng là: “God không muốn con người là những người máy (robots) mà phải có tự do hành động theo ý muốn hay ý chí tự do (free will). Con người có khả năng và có tự do chọn giữa tốt và xấu, đúng và sai. Cho nên những sự xấu ác do con người gây ra là trách nhiệm của con người, không phải của Thượng đế. Vậy sự hiện hữu của những sự “xấu” không có gì là đối nghịch với thuộc tính toàn thiện của Thượng đế.” Cũng như các luận điệu thần học khác để biện minh cho sự hiện hữu của Thượng đế, đây chỉ là một luận điệu cãi quanh cãi quẩn và chỉ có thể làm cho đám người thấp kém tiếp tục tin vào Thượng đế của Ki-tô Giáo.
Thật vậy, Ki-tô Giáo muốn chúng ta tin vào một Thượng đế đã tạo ra loài người, tất nhiên là với ý định là mọi người phải sống tốt và tuân phục Thượng đế. Nhưng con người, vì có ý chí tự do nên lại coi thường ý muốn của Thượng đế và mang những sự xấu, ác đến cho đồng loại. Nhưng bảo rằng con người, vì có ý chí tự do, nên có thể chống ý muốn của Thượng đế là một luận điệu thần học không đứng vững nếu không muốn nói là hoàn toàn vô nghĩa, vì Thượng đế là một Thượng đế toàn năng, nghĩa là làm gì cũng được, không có một chướng ngại nào không thể vượt qua, không có khó khăn nào không thể thực hiện, và nhất là không cần dùng đến phương tiện để thực hiện, chỉ cần có ý muốn là đủ. Như vậy, chúng ta không có kết luận nào khác là sự hiện hữu của những sự xấu, ác trên thế gian nằm trong ý định của Thượng đế, nghĩa là Thượng đế muốn thế. Nếu Thượng đế muốn một thế giới không có những sự xấu, ác thì không có gì có thể ngăn cản Thượng đế thực hiện điều này.
Hơn nữa, thuyết ý chí tự do (free will) không thể có tính cách thuyết phục vì những lý lẽ sau đây.
Thứ nhất, sự xấu không chỉ xảy ra trong xã hội loài người, mà còn xảy ra trong thiên nhiên, trong xã hội các loài vật. Vậy, tự do ý chí nào sinh ra ung thư, bệnh dịch, động đất v..v.. , gây tác hại khủng khiếp cho sản phẩm ưng ý nhất của Thượng đế là loài người. Hạn hán có phải là do ý chí tự do của con người không muốn có mưa không? Đây là điều không một nhà thần học nào có thể giải đáp để biện minh cho thuyết “Tự do ý chí” của Ki-tô Giáo.
Thứ nhì, tại sao God lại sáng tạo ra loài người với tự do ý chí khi, vì thuộc tính toàn trí của God, God đã biết trước là con người sẽ phạm tội nếu có cơ hội, thí dụ như những kẻ giết người, những linh mục loạn dâm, những cuộc chém giết nhau vì lý do tôn giáo trong đó có vô số những kẻ vô tội bị chết oan v..v...
Thứ ba, nếu có cái gọi là ý chí tự do thì con người có cái đó khi nào? Hiển nhiên một bào thai trong bụng mẹ không thể có ý chí tự do, một đứa trẻ sơ sinh không thể có ý chí tự do, một người mới sinh ra đã bị khuyết tật về tinh thần không thể có ý chí tự do. Vậy khi nào thì con người được Thượng đế ban cho ý chí tự do? Khi lên ba, lên bảy, hay 18 tuổi. Một đứa trẻ, muốn làm những điều mà bố mẹ thường ngăn cấm, vậy nó có thể sử dụng được ý chí tự do của nó không? Một người đã trưởng thành cũng không thể tự do làm theo ý mình mà phải theo những quy luật trong xã hội đã được mọi người đồng ý, vậy ý chí tự do của Thượng đế ban cho sẽ được sử dụng như thế nào. Hay ý chí tự do của Thượng đế ban cho chỉ có khi già như tổng thống Reagan đã bị bệnh mất trí nhớ?
Thực tế là, những hành động và cách xử sự của con người tùy thuộc rất nhiều yếu tố: di truyền, giáo dục, ảnh hưởng của môi trường xung quanh, chế độ dinh dưỡng v..v.. Chỉ cần bị nhiễm một loại siêu vi trùng nào đó là con người có thể thay đổi tác phong, suy nghĩ của chính mình, và như vậy đã vô hiệu hóa cái ý chí tự do mà Thượng đế đã ban cho. Một virus có thể cướp quyền Thượng đế, mạnh hơn Thượng đế. Nhưng sự tiến bộ trí thức của con người đã mang lại nhiều kết quả để vô hiệu hóa những tác dụng độc hại của nhiều loại virus, song song với sự vô hiệu hóa những tác động độc hại của Thượng đế, nếu ta tin rằng Thượng đế là đấng sáng tạo ra vũ trụ muôn loài như Ki-tô Giáo thường dạy. Vậy trên thực tế, con người đã vượt quyền của Thượng đế và trong rất nhiều trường hợp, Thượng đế đã tỏ ra bất lực.
Sau cùng là quan niệm “a loving God” của Ki-tô Giáo. Người Ki-tô thường ưa thích trích dẫn câu John 3: 16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.” để “chứng minh” lòng thương yêu của God đối với nhân loại. Nhưng ngày nay, người ta biết rằng nhân loại đã có mặt trên trái đất ít ra là vài trăm ngàn năm trong khi Dê-su mới sinh ra đời cách đây khoảng 2000 năm. Do đó câu trên trở nên vô nghĩa một cách lố bịch, vì chỉ có những người sinh sau Dê-su và tin Dê-su mới không bị luận phạt, một luận điệu thần học ngớ ngẩn, ngu dốt của những người không hề biết gì về nhân chủng học. Vậy mà chính Giáo hoàng John Paul II cũng đã trích dẫn cái câu ngu đần này trong cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng” để làm luận điểm (sic) trả lời câu hỏi: “Tại sao nhân loại cần được cứu rỗi?” Câu trên cũng hoàn toàn mâu thuẫn với thuyết Chúa Ba Ngôi của Ca-Tô Giáo Rô-ma. Đã là Con thì không thể như Cha được. Đọc Kinh Thánh của Ki-tô Giáo, chỉ có những người mù mới không thấy rằng God trong đó tuyệt đối không phải là đấng đã “quá thương yêu thế gian”.
Thật vậy, trong Kinh Thánh có vô số trường hợp God đã hoặc đích thân ra tay, hoặc ra lệnh thực thi những cuộc tàn sát hàng loạt (mass destruction). Quý độc giả nên tin rằng, tôi có thể liệt kê ít nhất là năm trăm (500) hành động tương tự của God Cha (Jehovah) và God Con (Dê-su) trong Kinh Thánh, chưa kể đến những hành động khủng khiếp mà hai God này sẽ làm trong ngày tận thế [Xin đọc bài “Ngày Tận Thế Của Ki-tô Giáo” trên các trang nhà Giao Điểm và Sách Hiếm]. Gary DeVaney đã kết án Thiên Chúa giết người trong hơn 170 trường hợp viết trong Thánh Kinh.
Một câu hỏi được đặt ra là: Thượng đế là bậc toàn năng, toàn trí v..v..., vậy Ngài có cả triệu phương cách khác nhau để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn để chúng ta sống trên đó. Tại sao Ngài lại chọn để tạo ra một thế giới vô nhân tính (thiên tai), tàn nhẫn (bệnh tật), độc hại (chiến tranh), đầy những sự “xấu, ác” v..v..? Có phải rằng thực tế đã chứng minh rằng không thể nào có một Thượng đế toàn năng hay toàn trí? Và nếu có một Thượng đế đã tạo ra một thế giới như vậy thì chúng ta cần phải lên án, không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.
Thượng đế của Ki-tô Giáo có ba sắc thái đặc thù
Người Ki-tô Giáo tin rằng Thượng đế của họ là bậc toàn năng, nhưng nhiều học giả đã chứng tỏ Thượng đế của Ki-tô Giáo có ba sắc thái đặc thù trong thế giới của chúng ta ngày nay:
- Thứ nhất là “không công bằng” (unfair). Nhìn ra thế giới chúng ta đang sống trên đó, chúng ta thấy tất cả những sự bất công trên thế gian, không chỉ bất công với người ngoại đạo mà còn bất công với chính những tín đồ Ki-tô Giáo ở khắp nơi trên thế giới, sự bất công của Thượng đế, nếu có một Thượng đế toàn năng, thật là quá rõ rệt.
- Thứ nhì, Thượng đế thường xuyên ẩn náu, không bao giờ dám thò mặt ra (hidden).
- Thứ ba, Thượng đế thường xuyên câm nín, không bao giờ thốt ra lời nào (silent).
Nhưng tôi không muốn khai triển, luận bàn về ba sắc thái đặc thù này của Thượng đế vì bài sẽ trở thành quá dài. Đối với những người có đôi chút đầu óc, thực tế cho thấy ba sắc thái trên là điều hiển nhiên mà không cần phải nói rõ thêm.
Sau phần phân tích ở trên, chúng ta phải kết luận ra sao để trả lời câu hỏi: “Có God Hay Không?” Đối với những tín đồ Ki-tô Giáo, tất nhiên là có God. Nhưng nếu chúng ta hỏi God là cái gì, ở đâu, và có những bằng chứng gì có thể chứng minh sự hiện hữu của God, thì có lẽ không ai có thể trả lời được, vì God chỉ có ở trong đầu họ. Tiến sĩ Madalyn O’Hair, chủ tịch hội những người không tin God ở Mỹ, có đưa ra một nhận định:
“Thật ra, đây là những gì mà người Ki-tô Giáo làm: chẳng thờ phụng cái gì cả. Một vật không ai nhìn thấy, không ai biết, không ai nghe thấy, không đáp ứng được gì (những lời cầu nguyện) mà các người gọi là Thượng đế và cầu khẩn hàng ngày mà không hề có một đáp ứng nào. Chẳng có cái gì cả - nhưng các người thờ phụng cái đó. Chẳng có gì nghe được các người – nhưng các người vẫn nói lên những tiếng nói truyền thông với cái đó. Chẳng có gì đáp ứng – nhưng các người vẫn nghe thấy một thông điệp nào đó trong hư không. Chẳng có gì đã từng xảy ra – nhưng các người vẫn lý luận rằng có một cái gì đó xảy ra ở đâu đó, có thể ở trong trái tim của con người. Đây là một canh bạc kỳ dị mà các người chơi.”
(In fact, this is what the Christian does: worships nothing. An unseen, unknown, unhearing, unresponding entity which you call god is supplicated by you daily with no response. Nothing is there – but you worship it. Nothing hears you – but you address communication to it. Nothing responds – but you hear some message in the void. Nothing ever happens – but you rationalize that “something” occur somewhere, perhaps in one’s heart. It is an incredible game that you play.)
Đây cũng chính là những bức xúc mà Mẹ Teresa đã thú nhận trong một bức thư gửi cho một “bề trên” mới được phổ biến gần đây [cầu nguyện không có đáp ứng, tìm không thấy v..v…].
Thật ra, những người Ki-tô không chỉ thờ phụng một ông Thượng đế không ai nhìn thấy, không ai biết, không ai nghe thấy, không đáp ứng được gì, mà còn thờ phụng một ông Thượng đế đã có những hành động khủng khiếp đối với nhân loại, những hành động mà trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay không ai có thể chấp nhận.
Để thay cho phần kết luận, tôi xin trích dẫn một vài đoạn của Robert G. Ingersoll, nhà tư tưởng tự do vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ mà cho tới ngày nay, chưa có ai sánh kịp.
“Những Thiên chúa thì có ích gì cho con người?
Không phải là câu trả lời khi cho rằng có một thiên chúa nào đó tạo nên thế giới, lập ra một số luật, rồi quay đi làm việc khác, để cho những con cái của mình yếu ớt, ngu dốt và không được giúp đỡ, vật lộn với đời sống. Không phải là một giải pháp khi tuyên bố rằng cái ông thiên chúa này sẽ mang hạnh phúc đến cho một số ít, hoặc ngay cả cho tất cả những thuộc hạ của ông ta. trong một thế giới nào khác...
Thế giới có đầy những sự bất toàn.
Phải chăng là một thiên chúa vô cùng thông thái, thánh thiện và toàn năng, có ý định sản xuất ra con người, lại bắt đầu từ những dạng sống thấp nhất; với những cơ thể sinh vật đơn giản nhất mà người ta có thể tưởng tượng được, và rồi trong những thời kỳ lâu dài không thể đo được, tiến triển chậm đến nỗi không thể nhận ra được, từ lúc ban đầu thô thiển cho đến khi tiến hóa thành con người? [Tác giả đã mô tả phần nào nguồn gốc của con người theo quá trình tiến hóa. TCN]
Phải chăng vô số những thời đại đã bị phí phạm để sản xuất ra những dạng sống nguy hiểm, sau đó lại bỏ đi? [Tác giả muốn nói nhiều chủng loại sinh vật đã được sinh ra rồi lại bị tiêu diệt, biến mất trên thế gian, dựa trên những sự kiện trong môn cổ sinh vật học. TCN]
Có thể nào sự thông minh của con người thấy được chút ít khôn ngoan nào (của Thiên chúa) trong việc phủ đầy trái đất với những con vật gớm ghiếc, chỉ sống trên sự đau đớn và những cảm xúc đau đớn của những con vật khác? Ai là người có thể ghi ơn lòng nhân từ (của Thiên chúa) đã dựng lên một thế giới mà súc vật ăn thịt lẫn nhau (có con người trong này), mỗi một cái miệng là một lò sát sinh, mỗi một dạ dầy là một nấm mồ? Có thể thấy được chăng sự thông minh và lòng thương yêu vô cùng (của Thiên chúa) trong sự tàn sát ở khắp nơi và không bao giờ chấm dứt?
Chúng ta nghĩ thế nào về một người cha, muốn ban cho con cái mình một nông trại, nhưng trước khi trao quyền sở hữu nông trại cho chúng, ông ta đã trồng trên đó hàng ngàn loại cây độc địa; chất trong đó những con thú dữ tợn, những loài bò sát độc hại; đặt một số sình lầy ở bên để nuôi dưỡng bệnh sốt rét; xếp đặt vật chất sao cho thỉnh thoảng đất lại mở ra để nuốt chửng một số con cái thân yêu của ông ta; và ngoài ra, còn lập lên những núi lửa gần bên để bất cứ lúc nào cũng có thể làm con cái của ông ta ngập trong những dòng sông lửa? Giả thứ ông cha này đã bỏ mặc không nói cho các con mình biết là loại cây nào độc; là những rắn rết thì độc địa; không nói gì về động đất, giữ núi lửa là một điều bí mật; chúng ta phải gọi ông ta là một thiên thần hay là một tên ác ôn?
Và đấy chính là những gì mà Thiên chúa (của Ki-tô giáo) đã làm.
Và chúng ta được kêu gọi để thờ phụng (và hết lòng, hết sức, hết linh hồn thương yêu. CTN) một Thiên chúa như vậy; phải quỳ xuống để mà ca tụng ông ta là tốt, là nhân từ, là công chính, là đầy lòng thương yêu. Chúng ta được đòi hỏi là phải dập tắt tình cảm cao quý của chúng ta, phải trà đạp dưới chân tất cả những điều ngọt ngào từ ái trong tim của chúng ta. Vì chúng ta từ chối không tự phủ nhận – từ chối không trở thành những người nói láo – chúng ta bị tố cáo, ghét bỏ, vu khống, và khai trừ trong đời sống này, và cũng cùng cái ông Thiên chúa này đe dọa sẽ hành hạ chúng ta trong ngọn lửa vĩnh hằng lúc chết để cho ông ta hung hăng vồ lấy những linh hồn của chúng ta.
Cứ để cho họ (những người Ki-tô) ghét, cứ để cho Thiên chúa đe dọa – Chúng ta sẽ giáo dục họ, và chúng ta sẽ khinh miệt và coi thường bất chấp Thiên chúa.
Khi mà con người còn thờ phụng một tên bạo chúa ở trên trời thì trên trái đất này chẳng còn mấy tự do.
Chúng ta không muốn được tha thứ, nhưng chúng ta muốn những người Ki-tô Giáo phải xử sự làm sao để chúng ta không phải tha thứ cho họ. [Ki-tô Giáo, Ca-tô cũng như Tin Lành, đều đã xưng thú tội lỗi đối với nhân loại và xin được tha thứ. TCN]

Những nhà thần học đã chết không biết gì hơn những nhà thần học còn đang sống. Không có gì cần phải nói thêm nữa. Về thế giới này chúng ta chỉ biết chút ít. – về thế giới khác, chúng ta không biết gì hết.
Những thượng phụ của chúng ta lý luận bằng những hình cụ tra tấn. Họ tin vào lô-gic của những ngọn lửa và lưỡi gươm. Họ ghét lý trí. Họ khinh khi tư tưởng – Họ sợ tự do.
Sống cho Thượng đế đã làm cho thế giới ngập đầy máu lửa. Có một lối sống khác. Hãy sống cho con người, cho thế giới này. Hãy phát triển trí óc và văn minh hóa tấm lòng. Hãy khẳng định những điều kiện của hạnh phúc và rồi sống theo đó. Hãy làm tất cả những gì có thể làm được để triệt hạ sự ngu si, nghèo khổ và tội ác. Hãy cố làm hết sức để phục vụ nhu cầu chính đáng của thân xác, để thỏa mãn cái đói của trí óc, để khẳng định những bí mật của thiên nhiên.
Hãy để cho các thiên chúa lo cho nhau. Chúng ta hãy sống cho con người. Chúng ta hãy nhớ rằng những người tìm kiếm sự thật thiên nhiên chưa từng bạo hành đồng loại. Những nhà thiên văn học và hóa học chưa từng rèn những xiềng xích, xây những ngục tù tăm tối. Những nhà địa chất học chưa từng phát minh ra những hình chụ tra tấn. Những triết gia chưa từng chứng minh sự thật về những lý thuyết của mình bằng cách thiêu sống con người. [Chúng ta nên nhớ: Bạo hành đồng loại, rèn xiềng xích, xây ngục tù tăm tối, phát minh hình cụ tra tấn, thiêu sống con người... tất cả đều là những sản phẩm đặc thù của Ki-tô Giáo trong lịch sử các tôn giáo nhân loại. TCN] Những người vĩ đại không theo đạo, những tư tưởng gia, [là những người] đã sống cho phúc lợi của con người.”

(Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, pp. 151-153: Of what use have the gods been to man? It is no answer to say that some god created the world, established certain laws, and then turned his attention to other matters, leaving his children weak, ignorant and unaided, to fight the battle of life alone. It is no solution to declare that in some other world this god will render a few, or even all, his subjects happy...
The world is filled with imperfections...
Would an infinite wise, good and powerful god, intending to produce man, commence with the lowest possible forms of life; with the simplest organisms that can be imagined, and during immeasurable periods of time, slowly and almost imperceptibly improve upon the rude beginning, until man was evolved?
Would countless ages thus be wasted in the production of awkward forms, afterwards abandoned?
Can the intelligence of man discover the least wisdom in covering the earth with crawling, creeping horrors, that live upon the agonies and pangs of others?
Who can appreciate the mercy of so making the world that all animals devour animals; so that every mouth is a slaughter-house, and every stomach a tomb?
Is it possible to discover infinite intelligence and love in universal and eternal carnage?
What would we think of a father, who should give a farm to his children, and before giving them possession sholud plant upon it thousands of deadly srubs and vines; should stock it with ferocious beasts, and poisonous reptiles; should take pains to put a few swamps in the neiborhood to breed malaria; should so arrange matters, that the ground would occasionally open and swallow a few of his darlings, and besides all this, should establish a few volcanoes in the immediate vicinity, that might at any moment overwhelm his children with rivers of fire? Suppose that this father neglected to tell his children which of the plants were deadly; that the reptiles were poisonous; failed to say anything about the earthquakes, and kep the volcano business a profound secret; would we pronounce him angel or fiend?
And yet this is exactly what the orthodox god has done...
And we are called upon to worship such a god; to get upon our knees and tell him that he is good, that he is merciful, that he is just, that he is love. We are asked to stifle every noble sentiment of the soul, and to trample under foot all the sweet charities of the heart. Because we refuse to stultify ourselves – refuse to become liars – we are denounced, hated, traduced and ostracized here, and this same god threatens to torment us in eternal fire the moment death aloows him to fiercely clutch our naked helpless souls. Let the people hate, let the god threaten – we will educate them, and we will despise and defy him...
There can be little liberty on earth while men worship a tyrant in heaven.
We do not wish to be forgiven, but we wish Christians to so act that we will not have to forgive them.
The theologians dead, knew no more than the theologians now living. More than this cannot be said. About this world little is known – about another world, nothing.
Our fathers reasoned with instruments of torture. They believed in the logic of fire and sword. They hate reason. They despised thought. They abhorred liberty...
Living for god has filled the world with blood and flame.
There is another way. Let us live for man, for this world. Let us develop the brain and civilize the heart. Let us ascertain the conditions od happiness and live in accordance with them. Let us do what we can for the destruction of ignorance, poverty and crime. Let us do our best to supply the wants of the body, to satisfy the hunger of the mind, to ascertain the secrets of nature. Let the gods take care of themselves. Let us live for man. Let us remember that those who have sought for the truths of nature have never persecuted their fellowmen. The astronomers and chemists have forged no chains, built no dungeons. The geologists have invented no instrument of torture. The philosophers have not demonstrated the truth of their theories by burning their neighbors. The great infidels, the thinkers, have lived for the good of man.)
Người Ki-tô Giáo có quyền tin vào bất cứ cái gì mà họ muốn tin, thí dụ như cái mà họ gọi là Thượng đế. Nhưng chúng ta cũng có quyền không tin và nói rõ tại sao chúng ta không tin. Chúng ta có đủ lý lẽ và bằng chứng để chứng tỏ là tại sao chúng ta không tin.
Tuy nhiên, khi chúng ta phân tích vấn đề có Thượng đế hay không và đi đến kết luận là chẳng làm gì có Thượng đế, hay nếu có một Thượng đế như được viết trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo, thì Thượng đế đó không đáng để cho chúng ta kính trọng, khoan nói đến thờ phụng, thì rất có thể có những người Ki-tô Giáo sẽ đem lòng căm ghét chúng ta, thù hận chúng ta, tìm cách xuyên tạc và mạ lỵ chúng ta, vì họ cho rằng chúng ta đã xúc phạm đến tín ngưỡng hay đấng mà họ thờ phụng. Hãy cứ để cho họ căm ghét, thù hận và mạ lỵ, chúng ta sẽ tiếp tục giáo dục họ cho đến khi họ mở mắt ra để thấy rằng họ đã bị nhồi sọ, lừa dối để tự giam mình trong số phận thấp hèn của một con chiên, và hiểu ra và phải chấp nhận tự do tư tưởng là một quyền căn bản và quý báu nhất của con người, và thảo luận trí thức là điều kiện cần thiết để con người có thể ngày càng văn minh tiến bộ.