Bí mật thế kỷ - Secrets Of The World - HD Thuyết minh
Trần Đức Thảo - Những lời trăng trối
Lưu Ý
Chút Nội Quy Về Bình Luận: 1. Không viết quảng cáo trong comment . 2. Xin đọc kỹ tên tác giả trên mỗi bài viết trước khi comment. 3. Xin phản biện về những đúng sai của tác giả và các bình luận viên khác dựa trên sự kiện, tài liệu, lý luận.... 4. Mọi thóa mạ cá nhân sẽ bị “deleted” và vi phạm sẽ bị ghi tên vào danh sách spammers. Thành thực cám ơn.
Phẩm cách có thể biểu hiện ra trong thời khắc quan trọng, nhưng nó lại hình thành trong thời khắc không quan trọng.
Bacon (Anh).
Danh ngôn Sự nghiệp
Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì ý nghĩa, ấy là một đức hạnh thật sự.
Senancourt
Danh ngôn Đối nhân xử thế
Khi bạn không thể thực hiện những gì ao ước, bạn nên ao ước những gì có thể làm.
Terence
Danh ngôn Đạo đức
Không có đạo đức công dân, xã hội sẽ diệt vong; không có đạo đức cá nhân, sự sinh tồn của con người cũng mất đi giá trị. Vì vậy, đối với một thế giới tốt đẹp thì đạo đức công dân và đạo đức cá nhân đều cần thiết như nhau.
Russell (Anh)
Danh ngôn Người kiệt xuất
Vĩ nhân trên thế giới chưa chắc đều là học giả vĩ đại, đồng thời, học giả vĩ đại trên thế giới cũng chưa chắc đều là vĩ nhân.
Holmes (Mỹ)
Âm
nhạc của Trịnh Công Sơn, giai điệu nghèo nàn thiếu sự lôi cuốn, hấp dẫn
đi kèm với lời ca có bài hay nhưng lại có quá nhiều bài đầy từ ngữ tầm
phào, so sánh lăng nhăng, ý tưởng mập mờ, u tối và chứa đựng kiến thức
nông cạn.
Khánh
Ly hát tại một vũ trường tại Sài Gòn năm 1962, 5 năm trước khi ghi âm
trực tiếp nhạc Trịnh Công Sơn ở Quán Văn. Nguồn: OntheNet
Lời ca trong ca khúc của Trịnh Công Sơn
được nhiều người khen là những bài thơ hay, có hình ảnh lạ, phong phú
hợp với tâm thức tuổi trẻ thời ấy. Người viết đồng ý một phần là lời ca
có một số hình ảnh lạ như Thành phố mắt đêm đèn vàng, Nắng Thủy Tinh, Bóng đổ một mình tôi, Môi em là đốm lửa … hoặc được nhân cách hóa khá hay như: Rừng núi nghiêng nghiêng đợi chờ, Biển có bâng khuâng gọi thầm… và những cách so sánh mới lạ như: Tình yêu như trái phá con tim mù lòa, Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ, Mắt em cười như lá bay
… Tuy nhiên những hình ảnh khác được khen hay như môi hồng, mắt xanh,
tóc mây, áo bay, chiều tím, liễu rũ, mùa thu… là những hình ảnh đã có
sẵn trong thi ca, âm nhạc được Trịnh Công Sơn đem ra dùng lại mà thôi.
Khác với những nhạc sĩ khác, ngôn từ trong ca khúc của Trịnh Công Sơn bị giới hạn quanh quẩn trong những hình ảnh như: bàn tay, ngón tay, bước chân, môi hồng, vai gầy, sợi tóc, áo bay, vườn khuya, rượu cay, lãng du, mây, mưa, và ngựa. Trong vài bài ta có thể tìm thấy tay, chân, ngón, áo, vai, tóc, môi, mắt trộn với những từ ngữ mang tính triết lý như thiên thu, phù du, hư vô, hoang vu, vô biên, vô thường,…
làm cho những câu hát có vẻ “thời thượng” nhưng nhiều khi tối nghĩa.
Điểm khá nổi bật là trong nhiều câu hát có sự tương phản làm người nghe
thích thú nhưng vì khả năng ngôn ngữ hạn hẹp, lời ca chứa nhiều từ ngữ
“trật khớp”.
Bên cạnh những lời ca khá hay, ca khúc
Trịnh Công Sơn lại có quá nhiều lời ca thật dở mà nhiều người hát nhạc
Trịnh Công Sơn không để ý. Những cái dở như dùng chữ bậy bạ, so sánh ngờ
nghệch vì thiếu hiểu biết thực tế hay vì kiến thức nông cạn. Đặc biệt
hơn hết là ý tưởng mù mờ, lấp lửng nên mỗi người tự động “diễn nôm” theo
ý mình nếu muốn biết câu hát có ý nghĩa gì.
Những ví dụ trong cách dùng từ, so sánh, diễn đạt ý tưởng có thể chứng minh những điểm này.
a. Cách dùng chữ
Một vài thí dụ về cách dùng chữ bậy bạ, vô nghĩa, qua một số ca khúc nổi tiếng và được nhiều người thích
Diễm Xưa Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu.
“Xanh xao” là tính
từ chỉ màu sắc nhợt nhạt, ẩn dụ sự ốm yếu, buồn bã. Trong câu hát trên,
Trịnh Công Sơn muốn nói đến tuổi thanh xuân. Mắt xanh chứ không phải là
lúc mắt xanh xao, bệnh hoạn, mắt đổ ghèn. Mắt xanh là hình ảnh ước lệ
cho tuổi xuân như thơ Đinh Hùng.
“Mắt xanh là bóng dừa hoang dại Âu yếm nhìn tôi không nói năng.” (Mộng Dưới Hoa)
Chúng ta có thể hiểu và cảm được chữ xanh xao trong câu “Nghe tiếng hát xanh xao của một buổi chiều” hay “Bàn tay xanh xao đón ưu phiền” nhưng chữ xanh xao dùng trong câu “Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao” là cách dùng từ bậy bạ.
Tình Nhớ Tình ngỡ đã quên đi, như lòng cố lạnh lùng Người ngỡ đã xa xăm bỗng về quá thênh thang Ôi áo xưa lồng lộng, đã xô dạt trời chiều Như từng cơn nước rộng xóa một ngày đìu hiu.
“Thênh thang” là
tính từ dùng để nói về sự rộng rãi, bổ nghĩa cho một danh từ, không phải
là trạng từ bổ nghĩa cho động từ “về”. Hơn nữa, từ phản nghĩa của xa xăm
là gần gũi, là quanh quất đâu đây (theo nghĩa đen hay nghĩa bóng). Điều
này cho thấy sự kém cỏi về ngôn ngữ trong lời ca của Trịnh Công Sơn vì
dùng từ “trật khớp”
Một cõi đi về Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy Một bờ cỏ non một bờ mộng mị, ngày xưa Từng lời tà dương là lời mộ địa Từng lời bể sương nghe ra từ độ suối khe
“Từ độ” hay từ thuở
là danh từ chỉ khoảng thời gian nào đó như “độ rày em khỏe không” hay
“Thương em từ thuở mẹ về với cha” hoặc như thơ Quang Dũng:
“Từ độ thu về hoang bóng giặc Điêu tàn ôi lại tiếp điêu tàn” (Đôi Mắt Người Sơn Tây)
Chữ “từ độ” cần phải có một từ hay nhóm từ để xác định thời gian nào đó. Vậy thì từ độ suối khe là thời gian nào và có nghĩa gì? Điều này cho thấy sự cẩu thả trong cách dùng chữ.
Nhìn Những Mùa Thu Đi Trong nắng vàng chiều nay Anh nghe buồn mình trên ấy Chiều cuối trời nhiều mây Đơn côi bàn tay quên lối Đưa em về nắng ươm nhè nhẹ
Chữ “ấy” có thể dùng
như danh từ, tính từ, trạng từ hay tán thán từ nhưng cần có một từ khác
để bổ nghĩa như “cây bút ấy đã hết mực” hay như Anh Việt.
“Bến ấy, ngày xưa người đi vấn vương biệt ly Gió cuốn muôn phương về đây, Thấy bóng người về hay chăng?” (Bến Cũ, Anh Việt).
Trong câu hát “Anh nghe buồn mình trên ấy” không có từ nào để từ “ấy” bổ nghĩa. Vậy thì “buồn mình trên ấy” là buồn mình trên cái gì?
b. Cách so sánh
Cách so sánh trong
một số bản nhạc của Trịnh Công Sơn là điều quái đản vì không thực sự
hiểu biết những điều được đem ra so sánh. Những ví dụ sau đây có thể cho
chúng ta thấy rõ hơn.
Tình Sầu Cuộc tình lên cao vút như chim mỏi cánh rồi Như chim xa lìa bầy như chim xa lìa trời Như chim bỏ đường bay.
Chim bỏ đường bay. Photographer: Gallery Stock
Chim còn sức mạnh
mới có thể “lên cao vút” chứ nếu “mỏi cánh, xa lìa bầy” và “bỏ đường
bay” thì “cao vút” nỗi gì. “Cuộc tình như” hấp hối vì eo xèo, tàn tạ,
què quặt… sắp rơi xuống vực sâu có lẽ đúng hơn nhiều.
Tuổi Đá Buồn Trời còn làm mây, mây trôi lang thang Sợi tóc em bồng, trôi nhanh trôi nhanh Như dòng nước hiền, ngày chủ nhật buồn Còn ai còn ai, đóa hoa hồng vùi quên trong tay.
Dòng nước hiền là
dòng nước trôi chầm chậm chở những đám mây và có thể có ít gợn sóng lăn
tăn nhưng không trôi nhanh. Dòng nước trôi nhanh là dòng nước dữ chớ
không hiền chút nào cả. Nếu chúng ta nói “trôi nhanh như dòng nước hiền”
với những người sống gần sông, rạch, họ sẽ gõ đầu chúng ta và chọc “Sao
mà ngốc vậy? Nhảy xuống dòng nước trôi nhanh thì biết hiền hay dữ
ngay.”
Lặng Lẽ Nơi Này Tình yêu như biển, biển rộng hai vai Biển rộng hai vai Tình yêu như biển, biển hẹp tay người Biển hẹp tay người lạc lối
“Biển rộng hai vai”,
“biển hẹp tay người” có nghĩa là gì? Vai và tay có thể đo được nhưng
biển rộng hay hẹp thì khó lắm. Đem ý niệm của cái cái vô hạn đặt vào cái
có giới hạn chẳng khác gì loại ngôn từ ngờ nghệch của Tố Hữu “đường ta
rộng thênh thang tám thước” (rộng thênh thang mà chỉ có tám thước?). Tác
giả loanh quanh ở vai và tay như nhiều bài khác nên đút đại vô, còn có ý
nghĩa hay không, đúng hay sai thì ai muốn hiểu sao thì hiểu.
Như Cánh Vạc Bay Gió sẽ mừng vì tóc em bay Cho mây hờn ngủ quên trên vai Vai em gầy guộc nhỏ Như cánh vạc về chốn xa xôi.
“Bạn có bao giờ nhìn cánh vạc bay trong đêm trăng hay biết đời sống của loài chim đêm này không?” Đa số những người bị tôi hỏi đều trả lời là “Không!”
Là con nhà nông, lớn lên từ gốc rạ và thuở bé ngu dại, tôi thường đi khuấy phá tổ vạc chơi nên hiểu loài vạc ít nhiều.
Ngoài màu sắc, vạc
khác với cò là chân vạc thấp, không cao như chân cò và cổ vạc không dài
như cổ cò. Khi bay vạc vươn đôi cánh rộng, cổ thụt lại và bay rất nhanh,
không có vẻ gì là gầy guộc, yếu đuối cả. Vạc làm tổ trên các bụi cây
gần bờ sông, rạch, đầm lầy để tiện việc bắt cá, tìm thức ăn rồi quay về
tổ nên vạc chẳng đi xa xôi đâu cả.
Với tôi, “vai em gầy guộc nhỏ như cánh vạc về chốn xa xôi” là cách so sánh ngớ ngẩn vì tác giả không biết thực sự con vạc hay là con chim rừng nào khác.
Một điều khá khôi
hài là hát mãi “vai em gầy guộc nhỏ như cánh vạc về chốn xa xôi” lại gây
trong đầu nhiều người là hay và đẹp lắm.
Cánh Vạc bay (Nycticorax nycticorax). Nguồn Onthenet
c. Chữ nghĩa khập khễnh
Lời ca của Trịnh
Công Sơn có nhiều điểm thật bất ngờ, từ ngữ chắp vá dị hợm chẳng ăn
nhập, dính líu gì đến ý tưởng trước, sau hoặc ngay trong câu đó. Lời ca
nhiều bài như là lời lảm nhảm của người không bình thường, “nhớ đâu nói
đó”. Sau đây là những ví dụ.
Biển nhớ Ngày mai em đi biển nhớ em quay về nguồn Gọi trùng dương gió ngập hồn bàn tay chắn gió mưa sang Ngày mai em đi thành phố mắt đêm đèn mờ Hồn lẻ nghiêng vai gọi buồn nghe ngoài biển động buồn hơn
Nhóm chữ “bàn tay
chắn gió mưa sang” trong đoạn này là những từ ngữ thừa thãi, chẳng có
một sự liên kết với các ý tưởng trong các câu trước hay sau đó, cả nghĩa
đen lẫn nghĩa bóng. Nếu bỏ đi cụm từ này thì lời ca không mất mát ý
nghĩa mà còn trong sáng hơn.
Tác giả nhớ đến bàn tay, gót chân ở đâu đó rồi nhét đại vô mà không nghĩ đến có ăn khớp với các ý tưởng khác hay không.
Mưa Hồng Này em đã khóc chiều mưa đỉnh cao Còn gì nữa đâu sương mù đã lâu Em đi về cầu mưa ướt áo Đường phượng bay mù không lối vào Hàng cây lá xanh gần với nhau.
Hàng cây lá xanh gần với nhau. Nguồn: http://www.vavoom.nl
Chiều mưa u ám, tối
tăm mà còn khóc nữa và có “sương mù đã lâu” thì dù có nhìn lên trời cũng
không thể nhìn thấy được đỉnh trời cao hay thấp. Tôi thật sự không hiểu
được cái “chiều mưa đỉnh cao” này có ý nghĩa gì để kết hợp với những ý
khác trong đoạn này. Xin nhờ bạn đọc góp ý.
Chiều một mình qua phố Chiều một mình qua phố âm thầm nhớ nhớ tên em Có khi nắng khuya chưa lên mà một loài hoa chợt tím Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên em Gót chân đôi khi đã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên
Mặt trời nửa khuya (không có nắng) ở Bodø, Norway. Nguồn YouTube.
“Khuya” có thể là
tính từ hay danh từ nói lên ý tưởng muộn màng về thời gian ban đêm như
trong câu nói “khuya rồi, ngủ đi em.” hay như trong ca dao:
“Đêm khuya ra đứng bờ ao Trông cá cá lặng trông sao sao mờ”
Dù chúng ta có thể
cảm được câu “Có khi nắng khuya chưa lên mà một loài hoa chợt tím” thì ý
tưởng mông lung và cách dùng từ lập dị [khuya mà có nắng?] này có vẻ
hợm hĩnh quá.
Dấu Chân Địa Đàng Ngựa buông vó người đi chùng chân đã bao lần Nửa đêm đó lời ca Dạ Lan như ngại ngùng Vùng u tối, loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng Một đời bỏ ngõ đêm hồng, ngoài trời còn dâng nước lên mắt em
Những hình ảnh rời rạc từ ngựa, người, hoa Dạ Lan đến sâu không có một sự liên kết nào để đưa tới, nói lên một ý tưởng rõ rệt. “Lời ca Dạ Lan ngại ngùng” điều gì? “Một đời” của ai hay của sâu và “bỏ ngõ đêm hồng” có ý nghĩa gì? Rồi lại “ngoài trời còn dâng nước lên mắt em”.
Xin bạn đọc giúp tôi
hiểu được ý chính đoạn này vì tôi chỉ cảm mà không hiểu được lời ca.
Với cảm giác của tôi, đây là những mảnh vỡ của những bức tranh, hình
dạng và màu sắc khác nhau trong một đống rác nào đó được nhạc sĩ nhặt ra
và dán lại một cách khập khễnh mà các “nhà phê bình” khen là bức tranh
“siêu thực” đầy hình ảnh “trừu tượng”.
Phải chăng đây là
những ngôn từ lan man, lẩm cẩm của kẻ bất bình thường, nhớ đâu nói đó,
chẳng mang lại một ý nghĩa rõ rệt gì cả?
d. Ý tứ lủng củng, u tối
Điều đặc biệt hơn
hết là trong lời ca của nhạc Trịnh Công Sơn khác với các nhạc sĩ khác là
lời ca chứa đựng ý tưởng rời rạc, u tối. Sự trong sáng trong ngôn ngữ
qua cách dùng từ và chuyển ý là điều mà lời ca trong nhạc Trịnh Công Sơn
biểu lộ sự hạn hẹp, thấp kém. Trong rất nhiều ca khúc, mỗi người phải
“diễn nôm” theo ý mình để tự hiểu.
Những ví dụ sau đây cho thấy điều này.
Ru em từng ngón xuân nồng Thôi ngủ đi em, mưa ru em ngủ Tay em kết nụ, nuôi trọn một đời Nuôi một đời người Mùa xuân vừa đến xin mãi ăn năn mà thôi
“Mưa ru em ngủ” và
“Tay em kết nụ” làm sao “nuôi trọn một đời” của ai (hay của cây cỏ)? Rồi
lại “Mùa xuân vừa đến xin mãi ăn năn mà thôi” có ý nghĩa gì?
“Ăn năn” là hối hận
vì một hành động không đúng hay ý nghĩ, lời nói sai lầm về một việc, một
người nào đó. Vậy thì ai “ăn năn” và tại sao lại “ăn năn”? Với tôi, đây
là những ngôn từ hỗn tạp được chắp vá lủng củng, chẳng mang lại một ý
tưởng nào cả. Xin bạn đọc giúp tôi hiểu ý chính của đoạn này là gì.
Một Cõi Đi Về
“Mây che trên đầu”
thì làm sao có “nắng ở trên vai” được? Nếu mây là ẩn dụ sự buồn bã, u ám
và nắng mang ý nghĩa của sự vui tươi, trong sáng thì cũng không có tính
nhất quán trong việc diễn tả cảm xúc của một người trong một khoảnh
khắc nào đó. Điều chính ở đây là trong những câu hát trên ngôn ngữ mơ
hồ, ý tưởng què quặt, mù mờ. “Sông” có sự liên kết nào với các ý tưởng
trong lời ca? “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi” gì để dẫn đến “lại
trong ta hiện bóng con người” nào? Đây là âm vang của tính “siêu thực”
như “mặt trời không bao giờ có thực” hay “hố thẳm của tư tưởng” mà một
thời tôi thấy các ông đàn anh của tôi nâng niu. Xin bạn đọc giúp cho tôi
hiểu được ý chính của những câu trên.
[Ở
trang 135 trong Tuyển tập những bài ca không năm tháng, Tôn Thất Lan
phỏng dịch “Mây che trên đầu và nắng trên vai” là “The sun and clouds
are over head” nghĩa là “mây nắng trên đầu” . Và “Con tinh yêu thương vô
tình chợt gọi” là “A lover demon has just called.” — DCVOnline.net]
Đóa Hoa Vô Thường Tìm em tôi tìm Nhủ lòng tôi ơi Tìm đêm chưa từng, Tìm ngày tinh khôi Tìm chim trong đàn Ngậm hạt sương bay Tìm lại trên sông những dấu hài.
Nếu lấy câu “tìm đêm
chưa từng” thì câu ca lấp lửng, què quặt, vô nghĩa vì chưa từng gì? Nếu
gom cả hai câu thành một câu “tìm đêm chưa từng tìm ngày tinh khôi” thì
không thể có đêm mà không có ngày. Có loài chim nào vừa bay vừa ngậm
được hạt sương mà không lẫn vào nước miếng ngay trừ phi đó là con chim
và hạt sương do nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vẽ ra? Nếu là kẻ có tâm trạng
bình thường thì không ai bước đi trên sông cả; còn kẻ đi “Tìm lại trên
sông những dấu hài” là kẻ khật khùng.
Nếu muốn nói một
điều gì sâu xa mà dùng những từ ngữ và hình ảnh vô nghĩa để diễn đạt ý
tưởng thì chẳng có “hiện thực”, “siêu thực” nào cả. Đừng nói những triết
lý cao xa hay “đạo” khi mà ngôn ngữ không đủ rõ ràng, chính xác để diễn
đạt những ý niệm thật bình thường.
Nguyệt Ca Từ trăng xưa là nguyệt lòng tôi có đôi khi
Tựa bông hoa vừa mọc hân hoan giây xuống thế
Từ khi trăng là nguyệt tôi nghe đời gõ nhịp ca
Từ khi em là nguyệt cho tôi bóng mát thật là.
Trăng và Nguyệt cũng
là trăng. Có cái gì vướng víu, lấp vấp mà chúng ta không hiểu được. Bụi
hoa thì “mọc” nhưng bông hoa không mọc mà “kết nụ” hoặc “nở”. Và “giây
xuống thế” là giây gì? Rồi “bóng mát thật là”? Sao lại có những chữ lấp
lửng thật là vô nghĩa, bậy bạ như thế này? Chúng ta có cảm thấy đây là
ngôn từ lảm nhảm của kẻ mê sảng hay bị bệnh tâm thần nên nói quàng xiên
hay không? Ai hiểu sao thì hiểu. Nếu chúng ta đem dịch những câu trên ra
tiếng Anh hoặc Pháp, người đọc sẽ cười sặc đờm và nếu họ không gọi xe
cứu thương đưa chúng ta đến nhà thương điên để chữa trị là may cho chúng
ta lắm. Xin bạn đọc góp ý dùm cho tôi hiểu đại ý bốn câu trên là gì.
e. Những cái tên rỗng tuếch
Tên của một bản nhạc
một bài thơ, một tập truyện chuyên chở ý tưởng, nội dung bản nhạc, bài
thơ, tập truyện ấy. Tác giả có thể dùng một từ hay cụm từ nào đó để nói
lên nội dung bài ca hoặc dùng một cụm từ trong lời ca để gợi lên ý
nghĩa. Ví dụ như Lá Đổ Muôn Chiều, Hương Xưa, Màu Kỷ Niệm, Phút Chia Ly, Các Anh Đi, Chiều Mưa Biên Giới, …Với ca khúc của Trịnh Công Sơn những bài ca như Diễm Xưa, Ướt Mi, Cát Bụi, Phôi Pha, Vẫn Có Em Bên Đời…đều
mang ý nghĩa trong ca khúc. Bên cạnh đó có những cái tên bản nhạc chẳng
mang âm hưởng gì dính líu đến nội dung ca khúc và chứa đầy tính lập dị,
làm dáng chữ nghĩa rỗng tuếch.
Một vài ví dụ như các bản nhạc sau:
Lời Buồn Thánh
là ca khúc được nhiều người ca tụng. Thánh thiện hay thánh thót? Lời ca
chứa đựng hình ảnh một người trong căn gác nhỏ đìu hiu, nghe tiếng hát
buồn bã, xanh xao và thiếu vắng bạn bè. Người ấy cảm thấy nỗi cô liêu,
trống vắng. Chẳng có cái “thánh” nào áp dụng vô bài hát cả. Thánh cho
“kêu” và biểu lộ tính lập dị.
[Trong
“tuyển tập những bài ca không năm tháng, 1998, trang 122, Tôn Thất Lan
phỏng dịch Lời Buồn Thánh là “Sad Sunday eve” nghĩa là “Chiều chủ nhật
buồn”. – DCVOnline.net]
Xa Dấu Mặt Trời cũng tương tự như Lời Buồn Thánh
là ca khúc được nhiều người hát. Nội dung lời ca nói về một người thức
dậy không còn thấy mặt trời, không còn thấy ai chung quanh mình với cảm
giác bơ vơ, lạc lõng. Mặt trời không có “dấu” và trong ca khúc cũng
không có chữ “dấu” nào cả. Chữ “dấu” trong tên bài hát chẳng góp phần
tăng ý nghĩa mà chỉ làm cho có vẻ “kênh kiệu” mà thôi.
Tuổi Đá Buồn đã từng làm nhiều
người bạn của anh tôi đau đầu vì không biết giải thích thế nào cho có ý
nghĩa. Tuổi Đá thì ai cũng hiểu, Đá Buồn cũng có thể cảm được nhưng Tuổi
Đá buồn là Tuổi của một hòn đá buồn bã hay là Tuổi (năm tháng) đầy buồn
bã của một hòn đá? Hai ý niệm khác nhau lắm. Lời ca chứa đựng hình ảnh
cô gái gầy ốm, cô đơn đi đến giáo đường trong một buổi chiếu chủ nhật
buồn bã và có mưa rơi. Tên bài ca và nội dug bài ca chẳng ăn nhập gì cả.
Đây là sự “làm dáng chữ nghĩa” rỗng tuếch.
Bà mẹ Ô Lý là tên bài ca nói về
thân phận người mẹ quê, tài sản chỉ có một trái bí mang theo trên đường
di tản từ Quảng Trị vào Huế khi Cộng quân nã đạn tứ tung bất kể là dân
hay là lính.
Nếu tác giả dùng từ nào khác như bà mẹ
Quảng Trị hay gì gì đó thì không sao nhưng khi dùng chữ Ô Lý (còn gọi là
Ô Rí) thì lại có ý nghĩa lịch sử như sau:
Huyền Trân công chúa (14), em vua Trần
Anh Tông lấy Chế Mân vua nước Chiêm Thành thuở xưa. Chế Mân dâng hai
châu Ô, Lý (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên – Huế đến phía bắc Quảng Trị ngày
nay) và không đánh phá nữa khi lấy được Huyền Trân. Bà bằng lòng theo
lệnh vua mà cũng có thể vì nghĩ đến khổ đau mà dân chúng cả hai nước
Chiêm, Việt phải chịu nếu cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Thi sĩ Nguyễn Văn
Cổn có nhắc đến hình ảnh Huyền Trân qua Tiếng Nước Tôi:
“Tại Mỹ Sơn lầu trang sụp đổ, Dấu Chiêm Thành khóc thuở tàn quân Bùi ngùi nhớ bóng Huyền Trân Hai châu Ô, Rí đổi thân ngàn vàng.” (Tiếng Nước Tôi)
Dù Trịnh Công Sơn không hiểu được hình
ảnh của Huyền Trân là hình ảnh của bậc anh thư dũng cảm, xem nhẹ hạnh
phúc cá nhân để đem lại yên vui cho trăm họ và mở mang bờ cõi về phương
nam thì cũng không phải là hình ảnh khổ đau của người mẹ quê nghèo khó,
nạn nhân của Cộng sản trong Mùa hè đỏ lửa 1972.
Tôi có thể nói thẳng là tác giả bài hát Bà mẹ Ô Lý là kẻ kém hiểu biết và nhận định lịch sử quá nông cạn.
Kết luận về lời ca trong những ca khúc của Trịnh Công Sơn
Trong một ca khúc, lời ca không cần phải
là một câu chuyện có đầu, có đuôi mà có thể là một cảm tưởng, một ý
niệm nào đó nhưng việc dùng chữ, so sánh, diễn đạt ý tưởng phải đúng và
thích hợp với cảm tưởng, ý niệm đó.
Qua những điều đã trình bày, chúng ta
thấy rằng lời ca trong ca khúc của Trịnh Công Sơn không có gì đặc sắc
như các “nhà thơ”, “nhà phê bình”, “nhà báo” tán tụng. Cái hay trong lời
ca cũng có nhưng cái dở thì quá nhiều. Nghe vài ba bài còn chịu được
nhưng nghe tới bài thứ tư thì nhàm quá vì cũng vẫn là những lời lẽ, hình
ảnh na ná như nhau. Vậy thì cái hay trong lời ca như thơ của Trịnh Công
Sơn cũng tùy theo nhận định của nỗi người.
Có người cho là những lời ca trong ca
khúc của Trịnh Công Sơn khó hiểu vì đầy tính “siêu thực” trong triết học
và “vô ngôn” trong đạo học… rồi đem những từ ngữ trong thơ Đường, triết
học hay thiền học gán vào những lời ca vô nghĩa để khen hay và khỏa lấp
những ý tưởng mù mờ, lấp lửng. Tuy nhiên, điều hiện thực là ngay cả
những ý niệm rất bình thường và phổ quát, ngôn từ trong ca khúc của
Trịnh Công Sơn cũng không rõ ràng, đúng đắn thì nói chi đến khả năng
dùng từ ngữ chính xác để chuyên chở, diễn đạt ý niệm cao xa trong triết
học hay đạo học.
Nếu đem so sánh lời ca trong ca khúc của Trịnh Công Sơn với các nhạc phẩm như Giọt
Mưa Thu, Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến, Giáo Đường Im Bóng, Nhắn Gió
Chiều, Qua Bến Năm Xưa, Ngày Về, Mơ Hoa, Quê Hương, Trưng Nữ Vương, Nhà
Việt Nam, Thiếu Phụ Nam Xương, Vợ Chồng Ngâu, Hòn Vọng Phu, Ơn Nghĩa
Sinh Thành, Ngọc Lan, Đêm Tàn Bến Ngự, Tình Ca, Thuyền Viễn Xứ, Nghìn
Trùng Xa Cách, Cỏ Hồng, Hoa Rụng Ven Sông, Dạ Lai Hương, Lá đổ muôn
chiều, Chiếc lá cuối cùng, Đôi Bờ, Hoài Cảm, Nguyệt Cầm, Phút Chia Ly,
Bóng Trăng Xưa, Mông Ban Đầu, Nhớ Bến Đà Giang, Giã Từ Đêm Mưa , Xóm
Đêm, Màu Kỷ Niệm, Tà Áo Cưới, Hỏi Người Còn Nhớ Đến Ta, Gạo Trắng Trăng
Thanh, Chiều Mưa Biên Giới, Bóng Nhỏ Giáo Đường, Sắc Hoa Màu Nhớ, Ngăn
Cách, Lòng Mẹ, Ảo Ảnh, Tình Quê Hương, Chuyế Đò Vỹ Tuyến, Khúc Ca Ngày
Mùa, Tàu Đêm Năm Cũ, Chiều Làng Em, Tình Khúc Thứ Nhất, Tưởn Niệm, Tuổi
Xa Người, Thương Hoài Ngàn Năm, Chiều Qua Tuy Hòa, Người Anh Vĩnh Bình,
Tình Khúc Cho Em, Dạ Khúc Cho Tình Nhân, Xin Còn Gọi Tên Nhau …
chúng ta có thể tìm thấy những nhạc phẩm nào chan chứa tình yêu, tình
người và tình quê hương trong tâm hồn Việt Nam với lời hay, ý đẹp. Với
tôi, tôi không tìm thấy được những lời hay, ý đẹp trong đa số ca khúc
cua Trịnh Công Sơn.
Tôi xin chào thua loại ngôn từ đỏm đáng,
mập mờ, lấp lửng, lập dị, đụng đâu cũng chỉ là “tay”, “chân”, “vai”,
“mắt”, “môi”, “tóc”, “ngón” kèm theo “lãng du”, “phù du” hay “thiên thu”
mà thích sự trong sáng với ngôn từ tôi có thể hiểu được. Cái hay, vẻ
đẹp trong thi ca, âm nhạc không phải chỉ thuần túy là “cảm” mà còn là sự
hiểu biết là hay và đẹp như thế nào.
3. Sự kết hợp giữa giai điệu và lời ca
Sự kết hợp giữa lời ca và giai điệu là
điều mà nhạc sĩ Việt Nam phải chú ý vì tiếng Việt là tiếng đơn âm và các
dấu làm thay đổi ý nghĩa từ ngữ. Nếu đặt trọng âm ở phách mạnh (strong
beat) và có trường độ dài hơn các nốt nhạc sau đó sẽ làm cho những từ
kép trong lời ca vô nghĩa, đôi khi thành hài hước.
Ví dụ chúng ta đem câu nói của “Thi Sĩ Nhân dân” Xuân Diệu làm “Thơ dâng Bác Hồ” như sau: “Bác Hồ sống mãi trong quần chúng tôi làm thơ dâng Bác.”
Đưa vào âm nhạc với trường độ khác nhau như “Bác Hồ sống mãi trong
quần… chúng tôi làm thơ dâng Bác” thì hài hước quá. Trịnh Công Sơn cũng
có nhiều cách “sáng tạo” tương tự như vậy.
Những ví dụ sau đây cho chúng ta thấy sự kết hợp giữa nhạc và lời qua một số ca khúc.
Tình Sầu
Đóa Hoa Vô Thường
hoặc
Còn Tuổi Nào Cho Em
Những từ kép như da thịt, rạng đông,
chuyến xe, tháng năm với trọng âm ở phách mạnh và có trường độ dài hơn
nên khi hát trở thành “Tình yêu như vết cháy trên da … thịt người”, “Từ rạng … đông cao”, “Một chuyến … xe tựa như” hoặc “Tuổi nào thôi hết từng tháng .. năm mong chờ”. Lời ca trở nên hài hước, vô nghĩa vì thiếu sự hài hòa giữa giai điệu và ca từ.
Do đặc điểm của tiếng Việt, luật bằng
trắc trong lời ca rất quan trọng vì âm thanh thay đổi dấu của từ ngữ.
Những ví dụ sau đây cho thấy sự cẩu thả, vụng về khi lấy nốt nhạc gắn
vào lời ca mà không chú ý tới luật bằng trắc trong lời ca có đi cùng với
âm nhạc hay không.
Tình Xa
Bên Đời Hiu Quạnh
Đóa Hoa Vô Thường
Phôi Pha
Vàng Phai Trước Ngõ
Trong những ca khúc nêu trên, do sự chuyển âm đi lên nốt nhạc cao hơn nhưng lời ca đi xuống theo luật bằng trắc, các chữ “sầu réo sầu bên bờ vực sâu”, “ô phố xa lạ”, “lời tình em trối trăn”, “tựa hồn những năm xưa”, khi hát theo giai điệu trở thành “sâu réo sâu bên bờ vực sâu”, “ô phố xa là”, “lời tinh em trối trăn”, “tựa hôn những năm xưa”.
Vàng Phai Trước Ngõ là bản nhạc
thể hiện sự trầy trật mà nhạc và lời không kết hợp nhau. Trọng âm câu
thơ buộc nhạc phải theo nhưng nhạc một nơi, lời một ngả nên những từ như
“ngậm ngùi”, “ngại hồng”, “một mùa”, “lạc loài”, “mẹ về”… khi hát
trở thành “ngậm ngui”, “ngại hông”, “một mua”, “lạc loai”, “mẹ vê”, …
Nói chung, nếu lấy sự giao duyên giữa
thơ và nhạc làm tiêu chuẩn để đánh giá thì những ca khúc của Trịnh Công
Sơn thuộc loại “xoàng”. Xếp theo tiêu chuẩn A, B, C, D, F thì dù có rộng
rãi lắm cũng chỉ đứng vào loại C- vì có quá nhiều bản nhạc thiếu tính
nhất quán giữa thơ và nhạc.
4. Tại sao nhạc Trịnh Công Sơn được nhiều người biết
Trước 30/04/1975 nhạc Trịnh Công Sơn
được giới trẻ thời ấy hâm mộ vì nhiều lý do. Một trong những lý do là
bối cảnh chính trị, xã hội miền Nam bất ổn sau khi chính quyền Kennedy
xúi đám tướng lãnh như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân … hãm
hại anh em ông Ngô Đình Diệm. Sau biến cố 1/11/1963 các ông tướng tranh
quyền lãnh đạo trong bối cảnh chiến tranh, lửa khói lan tràn làm tuổi trẻ mất niềm tin vào chính quyền miền Nam.
Tin đảo chánh 1/11/1963. Nguồn: The Times of Vietnam.
Khởi đầu với những ca khúc trong Ca Khúc
Da Vàng (1966), nhạc Trịnh Công Sơn được giới trẻ thích thú đón nhận.
Tuổi trẻ hồn nhiên không thích chiến tranh mà đầu óc nông cạn, không suy
nghĩ sâu xa kẻ gây chiến là ai nên dễ bị những kẻ có mưu đồ làm cho xã
hội bất ổn xúi dục. Những ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là phương
tiện hữu hiệu được dùng trong chiến tranh tâm lý đê ru ngủ tuôi trẻ
chống chiến tranh nhưng không cần biết rõ kẻ gây chiến.
Trừ phần đông những người lính, đa số tuổi trẻ Việt Nam thời ấy dù có thấy được “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào”(15)
thì họ cũng không đủ can đảm chỉ mặt kẻ gây chiến chưa nói đến trách
nhiệm công dân chống lại kẻ thù, bảo vệ và xây dựng đất nước mà chỉ biết
la ó, phá phách và chống đối chính quyền cho họ được tự do.
Sau Tết Mậu Thân 1968, hình ảnh tang
thương, điêu tàn với xác chết người dân Huế vô tội trong những hầm vùi
xác chết được phơi bày trước mắt tuổi trẻ. Mặt thật của việc “giải
phóng” là “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu anh em” nên những ca khúc trong tập Ca Khúc Da Vàng ít ăn khách như trước, tuổi trẻ chuyển hướng qua nhạc tình để ru ngủ.
Điều may mắn cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
là dù trốn lính, viết nhạc phản chiến chống miền Nam nhưng ông lại được
những người có thế lực trong chính quyền miền Nam thời ấy bảo bọc, đưa
ông vào những cuộc rong chơi (16). Bà Đặng Tuyết Mai và nhóm Sĩ Quan
Không Quân của ông Đại Tá Lưu Kim Cương thích nhạc Trịnh Công Sơn (17)
nên ông Nguyễn Cao Kỳ đành làm lơ vì không muốn xích mích trong gia đình
và làm đàn em phi công của ông bất mãn. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có điều
kiện để rong chơi và viết nhạc tình.
Bạn nhạc: Đặng Tuyết Mai, Trịnh Công Sơn, Lưu Kim Cương. Nguồn: YouTube
Nhạc tình của Trịnh Công Sơn ăn khách
không phải vì hay hơn những nhạc phẩm của các nhạc sĩ khác nhưng vì sự
đơn giản, dễ đàn, dễ hát và lời ca mới lạ, mơ hồ, nửa thơ nửa thẩn.
Để có thể đệm đàn đúng cho các nhạc phẩm của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Phạm
Duy, Hoàng Trọng, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Nguyễn Văn Đông, Cung
Tiến, Hoàng Thi Thơ… người chơi đàn phải vững nhịp, biết chơi những nhịp
điệu khác nhau tùy theo thể loại và biết chuyển hợp âm phong phú, nhất
là những hợp âm nghịch (dissonant chord). Người hát nhạc ngoài năng
khiếu còn đòi hỏi sự tập luyện giọng hát, giữ nhịp và uốn giọng theo
những nốt luyến, nốt hoa mỹ.
Với nhạc Trịnh Công Sơn, người đàn
guitar hoặc piano chỉ cần biết một số nhịp điệu cơ bản như Slow, Slow
Rock, Blues và Valse hay Boston là có thể đệm đàn hầu hết những nhạc
phẩm của Trịnh Công Sơn. Việc chuyển hợp âm cũng không phức tạp mà loanh
quanh ở những hợp âm chính và hợp âm tương ứng của nhạc thức (mode)
cùng khóa nhạc. Người hát nhạc Trịnh Công Sơn không phải uốn giọng do
các nốt hoa mỹ và giữ phách mạnh, phách yếu rõ ràng vì không đúng cũng
không ảnh hưởng mấy do tiết tấu rề rà, đều đều, rời rạc.
Một lý do nữa là trong những năm 1970,
giới trẻ miền Nam bị ảnh hưởng ít nhiều triết học hiện sinh của Tây
phương mà họ chẳng hiểu biết sâu xa gì nhưng lại có phong trào “triết học Phạm Công Thiện và nhạc Trịnh Công Sơn”.
Cái “à la mode” thời thượng của sự mập mờ mà những ông đàn anh được
miễn dịch (vì những lý do khác nhau) ưa thích. Nhiều ông ăn không ngồi
rồi học đòi trí thức này hưởng sự yên bình bằng xương máu của những
người lính đã ít nhiều ru ngủ giới trẻ miền Nam không chống Cộng dù cuộc
chiến khốc liệt vẫn xảy ra từng phút.
Sau ngày 30/04/1975, nhiều bản nhạc của
Trịnh Công Sơn cũng bị cấm lưu hành như hầu hết tác phẩm của các nhạc sĩ
khác nhưng sau đó nhờ sự quen biết và có “thành quả cách mạng” qua việc góp phần ru ngủ tuổi trẻ miền Nam không chống Cộng, kêu gọi mọi người “hợp tác với chính quyền cách mạng”, chửi rủa những người bỏ nước ra đi vì không muốn sống với Việt Cộng là “phản quốc” (18) nên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được chế độ mới xếp vào lọai “lưu dung”
uyên bố của Trịnh Công Sơn ngày 30 tháng 4, 1975 tại Đài Phát thanh Sài Gòn. Nguồn YouTube.
Trong bối cảnh đất nước sau 30/04/1975
với hàng hàng, lớp lớp người bị giam cầm trong những trại tù khổ sai
được gọi là “trại cải tạo” khắp hai miền Nam, Bắc mà nhiều người bỏ thây
nơi rừng thiêng nước độc, trong đó có những người từng bảo bọc cho
Trịnh Công Sơn được rong chơi và viết nhạc tình thì nhạc sĩ Trịnh Công
Sơn ca tụng “Cách mạng”, bào chữa cho chế độ bằng cách này hay cách
khác. Trong bức thư viết cho Joan Baez (19), Trịnh Công Sơn phịa là “trong những nhà tù cũ tại VN, có những người ở tù từ 1954 chưa hề biết đến ổ bánh mỳ là gì”
và “những con người ấy sẽ như thế nào, nếu không có cuộc Cách mạng vừa
qua mang lại độc lập và thống nhất trên đất nước chúng tôi?”
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng không biết,
không nghe được bao người Việt đã bỏ thây trong lòng biển, bị hải tặc
hãm hiếp, giết chóc vì phải xa lánh cái chế độ khốn nạn mà nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn bảo vệ, bào chữa. Và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có bao giờ đặt câu
hỏi là đất nước độc lập hay là được Đàn Chó Săn Việt Nam (ĐCSVN) để cho
những thế lực ngoại bang như bọn Tàu Cộng thao túng mà nếu có ai lên
tiếng thì chúng hùa nhau cắn xé và sủa vang là “phản động, phản động”?
Với thái độ sống ”cơ hội chủ nghĩa” này,
nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được những người Cộng sản có quyền lực nâng đỡ
trong việc phổ biến nhạc phẩm và ngồi cạnh anh Sáu Dân (Võ Văn Kiệt)
(20), được viết nhạc do anh Sáu Dân đặt hàng (21). Nhạc sĩ Trịnh Công
Sơn cũng viết những tác phẩm xu nịnh chế độ mới như Khăn Quàng Thắp Sáng Bình Minh để ca tụng “lao động là vinh quang” theo ý Đảng, Em Ở Nông Trường Em Ra Biên Giới để thúc đẩy thanh niên xung phong (lao động cưỡng bức) là “những con người mới, muốn nghiêng vai gánh thêm nhọc nhằn” hay Nhớ Mùa Thu Hà Nội dù nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chẳng có gì gắn bó với Hà Nội để nhớ mà nơi đó là biểu tượng quyền lực của Đàn Chó Săn Việt Nam (ĐCSVN) với Cách mạng mùa Thu, nơi chôn xác Quốc tặc Hồ Chí Minh.
Nguồn: Trịnh Công Sơn
Lý do sau cùng là sau 1975, những tràng âm thanh bát nháo của nhạc “cách mạng” không còn ăn khách nữa. Bác đang cùng chúng cháu hành quân, Tiếng Chày Trên Sóc Bom bo hay Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây
… chẳng còn mấy ai muốn nghe thì trong môi trường ấy, nhạc Trịnh Công
Sơn dù dở vẫn còn hay hơn những tác phẩm xu nịnh “Bác, Đảng” và “Chống
Mỹ Cứu Nước” như Trồng cây lại nhớ đến Người của Đỗ Nhuận hay Nổi Lửa Lên Em của Huy Du hoặc Nhớ ơn Bác, nhớ ơn Đảng
của kẻ nằm vùng ra mặt Phạm Thế Mỹ… Còn có sự chọn lựa nào ngoài nhạc
Trịnh Công Sơn để tìm quên trong xã hội băng hoại vì “đạo đức cách
mạng”? Và khi đã nghe quen tai một loại nhạc nào đó mà không chói tai
như “nhạc cách mạng”, người ta sẽ thích và cho rằng chỉ có loại nhạc như
nhạc Trịnh Công Sơn mới hay.
Và cứ thế trong xã hội mà cái hay, vẻ
đẹp trong thi ca, âm nhạc được nâng đỡ và đánh giá cao bằng thước đo xu
nịnh “Bác, Đảng” và những kẻ có quyền lực, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trở
thành “thiên tài” của âm nhạc Việt Nam và được các ông “nhà văn”, “nhà
phê bình”, “nhà báo” như Bửu Ý (22) cùng “măc áo thụng vái nhau” xưng
tụng là “thiên tài”, khen lời ca mà sự thật là chẳng có gì đặc sắc so
với các nhạc sĩ khác trong dòng nhạc Việt Nam.
Thay Lời Kết
Người viết thích âm nhạc nhưng không
thần tượng hóa nhạc sĩ, ca sĩ hay một kẻ nào cả nên nghĩ rằng nhạc hay
thì ta nghe, dở thì tìm thứ khác hợp với sở thích cá nhân. Nếu ai thích
nhạc Trịnh Công Sơn thì cứ nghe nhưng đừng nên bắt người khác phải khen
hay chê như mình. Hãy bỏ đi thói quen “thần tượng hóa” hay xưng tụng là
“thiên tài” vì thói quen này chỉ củng cố cho sự nịnh hót, lương tâm bất
chính và không phát triển được sự suy nghĩ độc lập khi nhận định một vấn
đề, một nhân vật nào đó. Điều quan trọng hơn nữa là khi đánh giá tác
phẩm, chúng ta nên tạm thời quên đi tác giả là ai thì chúng ta mới có
thể có một nhận định sáng suốt hơn.
Để tóm tắt bài viết này, so với các nhạc
sĩ khác trong dòng nhạc Việt Nam, ca khúc Trịnh Công Sơn không có gì
đặc sắc về cả giai điệu lẫn lời ca. Nếu có giữ lại năm bảy bản kha khá
như Ướt Mi, Phôi Pha, Cát Bụi, Chiếc Lá Thu Phai, Vẫn Có Em Bên Đời… để làm nhạc sử cũng hay nhưng đại đa số những bản nhạc khác có âm hưởng gần như nhau và giá trị âm nhạc quá tầm thường.
Trong khung tròi âm nhạc cao rộng, những
cánh chim Phượng hoàng như các thiên tài âm nhạc Bach Haydn, Beethoven,
Mozart… đã để lại những âm thanh tuyệt mỹ. Những cánh chim đẹp như
Chopin, Schubert, Tchaikovsky … cũng lưu lại những tiếng hót vĩnh cửu.
Và những cánh chim quý khác như Brahms, Albeniz, Paganini, Tarrega,
Barrios… là những tiếng hót thanh tao được dùng để nghiên cứu, học hỏi.
Âm nhạc Việt Nam cũng có những cánh chim
quý, đẹp, nhiều màu sắc và tiếng hót đầy tình tự cho tâm hồn Việt Nam
như Đặng Thế Phong, Nguyễn Thiện Tơ, Hoàng Giác, Thẩm Oánh, Lê Thương,
Dương Thiệu Tước, Phạm Duy, Đoàn Chuẩn, Cung Tiến, Hoàng Trọng, Văn
Phụng, Phạm Đình Chương, Hoàng Thi Thơ, Nhật Bằng, Đan Thọ, Nguyễn Văn
Đông, Trúc Phương, Lam Phương, Y Vân, Trầm Tử Thiêng, Phạm Mạnh Cương,
Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Nguyễn Đức Quang, Lê Hựu Hà…
mà cái hay, vẻ đẹp và sự đúng đắn không thể chối cãi được.
Âm nhạc của Trịnh Công Sơn, giai điệu
nghèo nàn thiếu sự lôi cuốn, hấp dẫn đi kèm với lời ca có bài hay nhưng
lại có quá nhiều bài đầy từ ngữ tầm phào, so sánh lăng nhăng, ý tưởng
mập mờ, u tối và chứa đựng kiến thức nông cạn.
Âm nhạc của các nhạc sĩ khác trong dòng
nhạc Việt Nam là tiếng hót thánh thót của những cánh chim trời nhiều màu
sắc thì nhạc của Trịnh Công Sơn chỉ là tiếng chim chíp của loài chim
sâu quẩn quanh trong bụi cây nhỏ bé. Đem ra thế giới dùng nhạc của Trịnh
Công Sơn là những nhạc phẩm hay chỉ làm cho thế giới đánh giá khả năng
nhận định âm nhạc của người Việt Nam quá kém cỏi.
Bài viết này có thể làm cho một số người
đọc khó chịu. Đây là những lời lẽ trung thực của một người bình thường,
viết mà không biết lách, nhưng có dẫn chứng bằng những tác phẩm của
Trịnh Công Sơn mà không phải vì thích hay không thích con người Trịnh
Công Sơn. Phần nhận định về cá nhân Trịnh Công Sơn thì tùy mỗi người mà
người viết nghĩ rằng chưa cần phải nói tới nhân phẩm khi đánh giá tác
phẩm.
Nguồn: Bài và nhạc minh họa do tác giả gởi. DCVOnline biên tập, trình bầy, phụ chú và minh họa bổ túc. Tham khảo
Các bản nhạc Việt từ các trang Web
Các nhạc phẩm tiêu biểu trong bài viết Trịnh Công Sơn | Ướt Mi, Diễm Xưa, Như Cánh Vạc Bay,
Biển Nhớ, Còn Tuổi Nào Cho Em, Tuổi Đá Buồn, Chiều Một Mình Qua Phố,
Nhìn những Mùa Thu Đi, Đóa Hoa Vô Thường, Tình Xa, Cát Bụi, Hạ Trắng,
Tình nhớ, Một cõi đi về, Tình Sầu, Lời Buồn Thánh, Mưa Hồng, Lặng Lẽ Nơi
Này, Ru em từng ngón xuân nồng, Dấu Chân Địa Đàng, Nguyệt Ca, Xa Dấu
Mặt Trời, Bà mẹ Ô Lý, Bên Đời Hiu Quạnh, Vàng Phai Trước Ngõ, Khăn Quàng
Thắp Sáng Bình Minh, Em Ở Nông Trường Em Ra Biên Giới, Nhớ Mùa Thu Hà
Nội.
Đặng Thế Phong |Giọt Mưa Thu, Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến
Nguyễn Thiện Tơ | Giáo Đường Im Bóng, Nhắn Gió Chiều, Qua bến năm xưa
Hoàng Giác | Ngày Về, Mơ Hoa, Quê Hương
Thẩm Oánh |Trưng Nữ Vương, Nhà Việt Nam, Thiếu Phụ Nam Xương, Vợ Chồng Ngâu
Lê Thương | Hòn Vọng Phu 1, Hòn Vọng Phu 2, Hòn Vọng Phu 3
Dương Thiệu Tước |Ơn Nghĩa Sinh Thành, Ngọc Lan, Đêm Tàn Bến Ngự
Đoàn Chuẩn – Từ Linh | Lá thư, Thu quyến rũ, Gửi gió cho mây ngàn bay, Lá đổ muôn chiều, Tà áo xanh, Chiếc Lá Cuối Cùng
Phạm Duy | Nghìn Trùng Xa Cách, Vết Thù Trên Lưn Ngưa Hoang, Cỏ Hồng, Hoa Rụng Ven Sông
Dạ Lai Hương, Tình Ca, Mười Hai Tháng Anh Đi, Thuyền Viễn Xứ, Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà
Cung Tiến | Thu Vàng, Hoài Cảm, Nguyệt Cầm, Hương Xưa, Đôi Bờ
Hoàng Thi Thơ | Đường Xưa Lối Cũ, Gạo Trắng Trăng Thanh, Tà Áo Cưới, Hỏi Người Còn Nhớ Đến Ta
Văn Phụng | Các Anh Đi, Nhớ Bến Đà Giang, Xuân Họp Mặt, Giã Từ Đêm Mưa
Hoàng Trọng | Mộng Ban Đầu, Dừng Bước Giang Hồ, Phút Chia Ly, Bóng Trăng Xưa
Phạm Đình Chương | Nửa Hồn Thương Đau, Mộng Dưới Hoa, Màu Kỷ Niệm, Xóm Đêm </i? Nguyễn Văn Đông | Sắc Hoa Màu Nhớ, Chiều Mưa Biên Giới, Bóng Nhỏ Giáo Đường Trầm Tử Thiêng |Mười Năm Yêu Em, Tưởng Niệm/ Vũ Thành An | Bài Không Tên Số 7, Tình Khúc Thứ Nhất. Phạm Mạnh Cương | Thương Hoài Ngàn Năm, Thu Ca Nguyễn Đức Quang | Chiều Qua Tuy Hòa, Người Anh Vĩnh Bình Ngô Thụy Miên |Giáng Ngọc, Paris Có Gì Lạ Không Em
Đan Thọ | Chiều Tím, Tình Quê Hương
Nhật Bằng | Bóng Chiều Tà
Y Vân | Ngăn Cách, Lòng Mẹ, Ảo Ảnh
Lam Phương |Chuyế Đò Vỹ Tuyến, Khúc Ca Ngày Mùa, Chiều Hoang Vắng
Phạm Trọng Cầu | Mùa Thu Không Trở Lại
Trúc Phương | Tàu Đêm Năm Cũ, Chiều Làng Em
Từ Công Phụng | Giọt Lệ Cho Ngàn Sau, Tuổi Xa Người
Lê Hựu Hà | Mặt Trời Đen
Lê Uyên Phương | Dạ Khúc Cho Tình Nhân, Tình Khúc Cho Em
Trường Sa | Xin Còn Gọi Tên Nhau
Huy Thục | Bác đang cùng chúng cháu hành quân
Xuân Hồng | Tiếng Chày Trên Sóc Bom bo
Hoàng Hiệp | Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây
Đỗ Nhuận | Trồng cây lại nhớ đến Người
Huy Du | Nổi Lửa Lên Em
Phạm Thế Mỹ | Nhớ ơn Bác, nhớ ơn Đảng
14) Huyền Trân công chúa
https://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Tr%C3%A2n
15) Giặc từ miền Bắc vô đây, Thục Vũ
16) Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: một thiên tài đồng lõa với tội ác, Bằng Phong Đặng Văn Âu
https://tvtsonline.com.au/vi/chuyen-nganh-vi/lich-su-chinh-tri-ton-giao-van-hoa/nhac-si-trinh-cong-son-mot-thien-tai-dong-loa-voi-toi-ac-bai-bang-phong-dang-van-au-3/
17) Phỏng Vấn Bà Nguyễn Cao Kỳ
https://daohieu.wordpress.com/category/t%C6%B0-li%E1%BB%87u-ba-nguy%E1%BB%85n-cao-k%E1%BB%B3-va-tr%E1%BB%8Bnh-cong-s%C6%A1n/
18) Lời kêu gọi của Trịnh Công Sơn ngày 30/04/1975 kêu gọi sự “hợp tác”
với Việt Cộng và gọi những người bỏ nước vì không muốn sống hay làm tay
sai cho Việt Cộng là “phản quốc”.
19) Thư Trịnh Công Sơn viết cho Joan Baez
https://tuoitre.vn/trinh-cong-son-va-buc-thu-viet-cho-joan-baez-32237.htm
20)” Trịnh Công Sơn ngồi cạnh anh Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) như không thể cách xa nhau…”
http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=8567
21) “Em còn nhớ hay em đã quên” được sáng tác theo đơn đặt hàng của ông Võ Văn Kiệt Bài hát “Em còn nhớ hay em đã quên” được sáng tác theo đơn đặt hàng của ông Võ Văn Kiệt
22) Bửu Ý , Trịnh Công Sơn Một nhạc sĩ thiên tài – NXB Trẻ & Công ty Văn hóa Phương Nam 2003.
Âm
nhạc của Trịnh Công Sơn không chú trọng đến phần hợp âm đi kèm làm nền
hòa âm cho giai điệu. Hơn nữa, ca khúc của Trịnh Công Sơn không có một
tác phẩm nào viết cho nhạc khí hay cho nhiều giọng hát nên điều này
không cần phải đánh giá.
Viết cho MT và bạn bè của thời nhí nhố
Lời Ngỏ Trong
những lần chuyện trò cùng bạn bè, tôi thường bị phê bình là thiếu hiểu
biết, không thấy cái hay trong nhạc Trịnh Công Sơn mà nhiều người thích.
Điều này không làm tôi khó chịu vì mỗi người đều có những ý thích khác
nhau và âm nhạc chỉ là một khía cạnh nhỏ trong đời sống cá nhân của tôi,
nếu không có cũng không hề gì.
Tôi
viết bài này không nhằm mục đích đụng chạm “thần tượng” của bất kỳ ai
vì đó là điều không cần thiết nhưng để trình bày rõ ràng cho bạn bè
những suy nghĩ trung thực và hiểu biết của tôi về ca khúc của Trịnh Công
Sơn mà tôi chưa bao giờ giải thích. Người viết không đánh giá nhân phẩm
Trịnh Công Sơn mà chỉ nhìn vào nhạc phẩm, bối cảnh sáng tác và đưa ra
những sự kiện lịch sử để giải thích cho hiện tượng Trịnh Công Sơn như
cũng như một nhạc sĩ XYZ nào đó.
Bài
viết có thể có những lời khó nghe, có thể là sự xúc phạm đối với những
người thích nhạc Trịnh Công Sơn mà không cần biết nhạc hay như thế nào
nhưng nó cũng có thể đem đến cho nhiều người khác một cách nhìn khách
quan hơn khi đánh giá tác phẩm của bất cứ nhạc sĩ nào.
Người
viết bài này không phải là nhạc sĩ, thi sĩ hay văn sĩ mà chỉ một người
bình thường với khả năng tiếng Việt của một học sinh trung học miền Nam
và biết chút ít âm nhạc qua sách vở nên rất hoan nghênh những lời phê
bình đứng đắn để cho người viết cùng các bạn đọc khác học hỏi.
Từ ngàn xưa, âm nhạc đã hiện hữu cùng
với con người trên thế giới. Âm nhạc góp mặt trong đời sống cá nhân và
sinh hoạt xã hội trong mọi tầng lớp của mọi dân tộc.
Âm nhạc Việt Nam cũng như thế. Khi vui
có nhạc, khi buồn có nhạc. Những buổi hội ngộ, trùng phùng có tiếng nhạc
reo vui, những khi tiễn biệt, chia lìa có tiếng nhạc u sầu. Tiếng
trống, tiếng kèn hùng hồn thúc quân ra trận mạc hay ca khúc khải hoàn,
tiếng chuông chùa ngân nga thoát tục, tiếng sáo diều vi vu trong gió hay
tiếng hò đối đáp giữa trai gái… đã gắn bó với đời sống dân Việt qua
nhiều thế kỷ.
Âm nhạc cũng như thi ca, thay đổi theo
thời gian và phản ánh hoàn cảnh xã hội. Khi đất nước thanh bình, no ấm
âm nhạc đầy nét hiền hòa, tình tự, khi chiến tranh, lửa khói âm nhạc
toát ra sự phẫn nộ, sát phạt.
Dù hiền hòa hay phẫn nộ, nếu không bị
điều kiện hóa vì mục đích chính trị, những tác phẩm hay và có giá trị
vĩnh cửu vẫn tồn tại và những tác phẩm tầm thường dùng để phục vụ cho
một mục đích cần thiết, trong một giai đoạn nào đó sẽ bị quên đi nhường
chỗ cho những tác phẩm mới theo luật đào thải tự nhiên. Với âm nhạc Việt
Nam, chúng ta thấy nhiều nhạc phẩm một thời được xem là những tác phẩm
hay cũng lần đi vào quên lãng.
Tuy nhiên, những ca khúc của Trịnh Công
Sơn thì khác. Nhiều bản nhạc vẫn được khen ngợi cả trước và sau
30/04/1975. Những bản nhạc của Trịnh Công Sơn nổi lên như là những ca
khúc hay nhất của người Việt Nam. Điều này đúng hay không tùy theo ý
kiến của mỗi người. Hãy cùng phân tích để có một nhận định khách quan
hơn là dựa vào lời khen chê của người khác.
Nhìn lại sự phát triển và khả năng thẩm âm của người Việt Nam
Để có một nhận định sáng suốt, chúng ta
cùng nhìn lại cách nghe nhạc của người Việt Nam. Trước khi văn hóa Tây
phương du nhập vào đất Việt, ông bà ta ngày xưa không coi trọng âm nhạc
mà chỉ xem như là một trong bốn thú ăn chơi “cầm, kỳ, thi, tửu”. Trong bảng phân loại cho những nghề nghiệp khi một cô gái đi lấy chồng, rơi vào một trong “mười hai bến nước” (1) thì nhạc sĩ, ca sĩ không thuộc vào loại nào cả. Với quan niệm “xướng ca vô loại” (2), âm nhạc không được nâng đỡ. Một nhạc sĩ tài hoa hay một ca sĩ lừng danh cũng chỉ để “xa nghe đồn nức tiếng nàng tìm chơi”
(3) mà thôi. Vì âm nhạc không được xem trọng và không được hệ thống hóa
theo ký âm pháp có một tiêu chuẩn rõ ràng nên việc truyền đạt và học
hỏi rất khó khăn. Vì thế, âm nhạc Việt Nam không tiến xa được.
Âm nhạc phục vụ cho các tầng lớp trong
xã hội cũng khác nhau. Ngày xưa, vua chúa có giàn nhạc cung đình dành
cho những cuộc hội hè, đình đám, tiêu khiển… Lớp “sĩ” thì có hát ả đào
mà các đào nương ngày xưa ngâm nga những bài thơ của các ông thi sĩ và
dùng tiếng đàn hòa với tiếng ngâm các bài thơ này. Dân gian bình thường
thì có hát chèo, hát bộ, bài chòi… mà âm nhạc là cái bình phong sau
lưng, có thì tốt mà không có cũng không sao. Dù có trống đánh xuôi, kèn
thổi ngược cũng không hề gì.
Nói chung, dù ở tầng lớp nào, người nghe
nhạc nghe lời ca hoặc xem những điệu bộ trong các vũ khúc có âm nhạc đi
kèm. Qua nhiều thế hệ, thói quen không xem trọng âm nhạc, không có điều
kiện học hỏi hay nghe nhiều, nghe nhạc nhưng không chú trọng vào nhạc mà vào lời ca đã dẫn đến việc sai lầm khi đánh giá âm nhạc trở thành đánh giá lời ca.
Âm nhạc miền Nam trong chiến tranh Quốc Cộng
Từ khi âm nhạc Tây phương được các nhạc
sĩ Việt Nam tiền phong như Đặng Thế Phong, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước,
Hoàng Giác, Đoàn Chuẩn, … học hỏi và sáng tác, âm nhạc Việt Nam hiện nay
đã tiến một bước dài. Trước 30/04/1975 ở miền Nam nói riêng, bên cạnh
những nhạc sĩ đã nổi tiếng như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Lê Thương,
Phạm Duy, Hoàng Trọng … những nhạc sĩ trẻ hơn như Nguyễn Văn Đông, Trúc
Phương, Cung Tiến … đều có những tác phẩm hay và những thể loại khác
nhau.
Âm nhạc Việt Nam thật sự nở rộ trong
giai đoạn cuối cuộc chiến tự vệ chống Cộng sản. Những tên tuổi như Đan
Thọ, Nhật Bằng, Y Vân, Lam Phương, Phạm Mạnh Cương, Trầm Tử Thiêng, Ngô
Thụy Miên, Nguyễn Đức Quang, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Trường Sa, Lê
Uyên Phương, Lê Hựu Hà, Trịnh Công Sơn… được giới trẻ thời đó biết đến.
Sau khi Cộng sản thắng được miền Nam,
nhiều nhạc sĩ đã bỏ nước lìa xứ. Những nhạc sĩ còn lại nếu không bị nhốt
vào nhà tù khổ sai (có người phải bỏ xác trong tù như trường hợp Lê Hựu
Hà với tội danh “thành phần nguy hiểm cho chế độ”) thì phải đối diện với “thiên đường xã hội chủ nghĩa”,
không mấy người còn cảm hứng và được chính quyền Cộng sản cho phép sáng
tác âm nhạc nữa. Các nhạc phẩm dù hay hay dở của các nhạc sĩ không
thuộc về “thành phần cách mạng”, không xu nịnh “Bác, Đảng” bị “nhà nước” Cộng sản xem là “văn hóa đồi trụy của Mỹ Ngụy” và cấm lưu hành.
Với Trịnh Công Sơn thì hơi khác. Sau
30/04/1975, Trịnh Công Sơn về Huế, ở cùng nhà với Hoàng Phủ Ngọc Tường
(4) và Bửu Ý, tham gia Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên (5) của chính quyền
Cộng sản và tiếp tục sáng tác. Nhiều bản nhạc của Trịnh Công Sơn được
chế độ mới cho lưu hành sau một thời gian bị cấm. Nhạc phẩm của Trịnh
Công Sơn từ từ nổi lên và được các ông “nhà văn”, “nhà báo”, “nhà phê bình” thi nhau tán tụng mà các “nhà” này cũng không phân tích được cái hay trong nhạc Trịnh Công Sơn mà thi nhau tán hươu tán vượn về “lời ca đầy chất thơ” hơn là nhận định cái hay trong âm nhạc.
Để đánh giá nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn chúng ta cùng nhìn vào cách đánh giá âm nhạc theo tiêu chuẩn quốc tế.
Khi phê bình một văn sĩ những sáng tác
văn chương được đem ra nghiên cứu, so sánh với các nhà văn khác. Khi
nhận định một thi sĩ, những bài thơ, thi phẩm được đem ra bình luận. Khi
đánh giá một nhạc sĩ, những nhạc phẩm của nhạc sĩ ấy được đem ra trình
tấu, biêu diễn và phân tích những cái hay, nét đẹp và các kỹ thuật về
hòa âm, sáng tác được xử dụng trong nhạc phẩm ấy.
Dù theo tiêu chuẩn Tây phương hay không,
những tác phẩm dành cho khí nhạc được đem ra đánh giá trước hết. Muốn
viết nhạc cho khí nhạc (instrumental music) nhạc sĩ không những phải
biết xử dụng thành thạo nhạc khí mà còn phải biết âm sắc (timbre) (6)
của nhạc khí ấy có thể dùng hay nhất trong việc diễn tả cảm xúc nào.
Một nhạc sĩ hạng trung cũng phải có khả
năng về hòa âm (harmony) và phối khí (orchestration) cho nhiều loại nhạc
khí. Các dạng thức (form) và cấu trúc (structure) được đem ra thảo luận
qua những bản giao hưởng (symphony), công-xét- tô (concerto), sô nát
(sonata) …có nhiều giai điệu (melody) kết hợp với nhau tạo nên một bức
tranh đẹp, hoàn chỉnh bằng âm thanh.
Viết giai điệu cho giọng hát (voice
leading music) là những tác phẩm nhỏ hơn dù những tác phẩm này cũng đòi
hỏi khả năng hòa âm và đối điểm (counterpoint) khi viết cho nhiều giọng
hát và có nhữn phần hát bè, hát đuổi như trong những bản trường ca
(epic).
Viết ca khúc (songwriting) là việc dễ
nhất, không đòi hỏi nhạc sĩ phải có kiến thức âm nhạc sâu rộng hay xử
dụng nhạc khí tài tình nhưng phải biết cấu trúc trong dạng ca khúc (song
form) và luật cân phương (bar structure). Trong một ca khúc, phần âm nhạc hay giai điệu là phần quan trọng hơn là lời ca.
Những điều nói trên nhằm để chúng ta cùng nhìn vào khả năng thật sự của một nhạc sĩ.
Đánh giá về giai điệu
Thật khó mà cho rằng giai điệu này hay,
giai điệu kia tầm thường vì mỗi người có ý thích và khả năng thẩm âm
khác nhau. Tuy nhiên, với một cách nhìn khách quan, dù là nhạc cổ điển
hay nhạc hiện đại, trong những nhạc phẩm hay, được dùng làm khuôn mẫu để
giảng dạy, biểu diễn và được nhiều người biết đến đều có những yếu tố
sau đây:
Giai điệu có nét nhạc rõ ràng và các kỹ
thuật lặp lại và biến tấu nét nhạc tài tình tạo ra những nhạc ý có ý
nghĩa góp phần làm cho giai điệu hay, lôi cuốn và dễ nhớ.
Cách chuyển âm vững vàng và chuyển cung phong phú.
Cấu trúc giai điệu cân phương và có cảm xúc đúng nghĩa qua các giai kết.
Hòa âm hay và đẹp cho giai điệu.
1. Âm nhạc trong ca khúc của Trịnh Công Sơn
Người viết bài này chưa có may mắn đọc
được những bài phê bình âm nhạc Trịnh Công Sơn của các nhạc sĩ nổi tiếng
và có khả năng phê bình âm nhạc mà chỉ đọc được những nhận địng chung
chung như “nhạc Trịnh Công Sơn đơn giản, nghèo nàn” nên mạo muội dựa vào
kiến thức eo hẹp của mình để đánh giá nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn căn
cứ vào những điểm nêu trên. Người viết mong là các nhạc sĩ sáng tác có
khả năng phê bình âm nhạc góp phần nhận định để bạn đọc có cái nhìn
trung thực, rõ ràng hơn về cả giai điệu và lời ca trong những ca khúc
của Trịnh Công Sơn.
Phần nhận định về âm nhạc sơ sài này đối
với những nhạc sĩ chuyên nghiệp không là gì cả nhưng người viết đặt đối
tượng của bài viết là những bạn đọc có học chút ít nhạc lý cơ bản và có
khái niệm về hòa âm, sáng tác. Phần Anh ngữ kèm theo dành cho các bạn
trẻ muốn tìm hiểu thêm vì danh từ âm nhạc trong tiếng Việt được gọi khác
nhau tùy theo từng nhạc sĩ.
a. Giai điệu trong những ca khúc của Trịnh Công Sơn
Nếu căn cứ vào việc
phát triển giai điệu bằng nét nhạc (motif), nhiều giai điệu trong nhạc
tình hay nói về thân phận con người trong chiến tranh của Trịnh Công Sơn
ít có những nét nhạc rõ ràng và nếu có cũng không được xây dựng để tạo
ra những nhạc ý (theme) hài hòa. Phần lớn những giai điệu này có tiết
tấu (rythhm) đều đều, chầm chậm, rời rạc và thiếu sự hấp dẫn nên đại đa
số những bản nhạc có âm hưởng na ná như nhau.
Những câu nhạc được lập lại hoặc được tiếp nối nhưng những kỹ thuật lập lại
(7) để tái tạo nét nhạc như đổi tiết tấu, phân mảnh, nới rộng… không
được xử dụng để phát triền nhạc ý. Trong một giai điệu, cái hay không
phải chỉ là sự lập lại và tiếp nối mà còn thay đổi bằng biến tấu
(8). Phần lớn trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn, ít có những kỹ thuật
biến tấu tài tình như đảo mảnh, giảm, tăng, thêm phần hoa mỹ… để làm
tăng âm điệu réo rắt, mời gọi của giai điệu.
Một vài ví dụ qua những giai điệu trong các ca khúc như Diễm Xưa, Như Cánh Vạc Bay, Biển Nhớ, Còn Tuổi Nào Cho Em, Tuổi Đá Buồn, Chiều Một Mình Qua Phố…cho chúng ta thấy sự đơn điệu, kém cỏi trong cách phát triển nét nhạc cho giai điệu.
Diễm Xưa
Còn Tuổi Nào Cho Em
Như Cánh Vạc Bay
Điều này có thể nhận ra rõ ràng hơn khi chúng ta nghe những ca khúc như Thu
Quyến Rũ, Vết Thù Trên Lưng Ngưa Hoang, Đường Xưa Lối Cũ, Các Anh Đi,
Dừng Bước Giang Hồ, Chiều Mưa Biên Giới, Bóng Chiều Tà, Chiều Tím, Thu
Vàng, v.v.. Trong những nhạc phẩm này, chúng ta nghe vài ba lần là
có thể nhận ra nét nhạc chính với âm hưởng quyến rũ và dễ nhập tâm do sự
lập lại và biến tấu nét nhạc.
Thu Quyến Rũ, Đoàn Chuẩn – Từ Linh
Dừng Bước Giang Hồ, Hoàng Trọng
Chiều Mưa Biên Giới, Nguyễn Văn Đông
Đường Xưa Lối Cũ, Hoàng Thi Thơ
Thu Vàng, Cung Tiến
So với các nhạc sĩ cùng thời với Trịnh Công Sơn qua những giai điệu trong các bản Chiều
Hoang Vắng, Mười Năm Yêu Em, Bài Không Tên Số 7, Thu Ca, Paris Có Gì Lạ
Không Em, Chiều Qua Tuy Hòa, Giọt Lệ Cho Ngàn Sau, Dạ Khúc Cho Tình
Nhân, Mặt Trời Đen, v.v… thì những giai điệu trong nhạc Trịnh Công Sơn thiếu sự lôi cuốn và không gây ấn tượng sâu sắc làm ta dễ nhớ.
Mười Năm Yêu Em, Trầm Tử Thiêng
Thu Ca, Phạm Mạnh Cương
b. Cách chuyển âm và chuyển cung trong nhạc Trịnh Công Sơn
Trong một giai điệu, sự chuyể âm (melodic
progression) từ chủ âm (tonic) đến át âm (dominant) và quay về chủ âm
qua những nốt nhạc khác trong âm giai (scale) là sự kết hợp giữa những
bước đi (quãng hai) và bước nhảy (quãng ba hoặc lớn hơn) vững vàng, xoay
quanh trục chủ âm – át âm. Những giai điệu hay còn tạo ra cảm giác căng
thẳng, chơi vơi, hân hoan, áo não… qua các cực điểm (climax) trước khi
quay về chủ âm với cảm xúa trọn vẹn.
Phần lớn những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, việc chuyển âm rất đơn giản và sự kết hợp giữa những bước đi và bước nhảy không uyển chuyển vì thiếu sự tái cân bằng (counterbalance). Đa số những giai điệu của Trịnh Công Sơn không tạo ra những cảm xúc mạnh, căng thẳng có ý nghĩa ở cực điểm trước khi quay về chủ âm với cảm xúc hoàn tất nhạc ý.
Nhìn những Mùa Thu Đi
Đóa Hoa Vô Thường
Chiều Một Mình Qua Phố
Tiến hành hợp âm
(chord progression) trong giai điệu là điều mà nhiều nhạc sĩ Việt Nam
không chú trọng. Ngay cả những nhạc sĩ có khả năng hòa âm, phối khí vững
vàng như Hoàng Trọng, Nguyễn Văn Đông,… cũng không viết thêm phần hợp
âm đi kèm để làm nền hòa âm cho giai điệu (harmonize a melody) (9).
Người chơi đàn guitar hoặc piano trung bình không có khả năng hòa âm
phải đoán mò là ở trường canh (measure/bar) ấy là hợp âm gì.
Những bản nhạc của
Trịnh Công Sơn cũng không có phần hợp âm đi kèm. Do sự đơn giản trong
cách chuyển âm, tiến hành hợp âm chỉ quanh quẩn ở những hợp âm chính
(primary chords: bậc I, IV và V) và hợp âm tương ứng của nhạc thức
(mode) cùng khóa nhạc.
Về chuyển cung (modulation), những tác phẩm như Gởi
Gió Cho Mây Ngàn Bay, Tà Áo Xanh, Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà, Mười Hai
Tháng Anh Đi, Hương Xưa, Thu Vàng, Xuân Họp Mặt, Nửa Hồn Thương Đau,
v.v.. mà sự chuyển âm vững vàng và sự chuyển cung giàu có tạo nên âm
thanh réo rắt, cung bậc hài hòa mang lại những cảm xúc quyện vào nhau
làm tăng cái hay, cái đẹp của giai điệu.
Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Đoàn Chuẩn – Từ Linh
Xuân Họp Mặt, Văn Phụng
Nửa Hồn Thương Đau, Phạm Đình Chương
Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà, thơ Hữu Loan, Phạm Duy phổ hạc
Đem so sánh những bản nhạc như Ướt Mi, Biển Nhớ, Diễm Xưa, Lời Buồn Thánh, Như Cánh Vạc Bay,… với các nhạc phẩm khác nổi tiếng trước hay sau chút ít như Mùa Thu Không Trở Lại, Bài Không Tên số 7, Tưởng Niệm, Giáng Ngọc, Chiều Qua Tuy Hòa, Người Anh Vĩnh Bình,
… thì cách chuyển âm không có gì đặc sắc và cách chuyển cung trong nhạc
của Trịnh Công Sơn nghèo nàn hơn nhiều nên không tạo được sự quyến rũ,
hài hòa trong giai điệu.
Mùa Thu Không Trở Lại, Phạm Trong Cầu
Giáng Ngọc, Ngô Thụy Miên
Chiều Qua Tuy Hòa, Nguyễn Đức Quang
c. Cấu trúc giai điệu và sự ngưng nghỉ qua các giai kết
Về cấu trúc bên
trong, giai điệu trong ca khúc của Trịnh Công Sơn thiếu kỹ thuật xây
dựng và phát triển nét nhạc như đã trình bày. Về cấu trúc bên ngoài,
nhiều ca khúc có những câu nhạc dài ngắn bất thường làm cho chúng ta cảm
thấy tác giả không cần theo luật cân phương và sự cân đối trong những câu nhạc là điều mà tác giả không chú trọng.
Những ví dụ trong các ca khúc nêu trên cho thấy điểm này:
Như Cánh Vạc Bay – hai câu 4 trường canh và 5 trường canh.
Nhìn Những Mùa Thu Đi – hai câu cuối có 6 trường canh và 7 trường canh.
Còn Tuổi Nào Cho Em – hai câu cuối 4 trường canh và 6 trường canh.
Sự ngưng nghỉ trong
âm nhạc cũng tương tự như viết lách với các dấu phảy, chấm phảy hoặc dấu
chấm trong câu văn. Sự ngưng nghỉ tạm thời để lấy hơi với giai kết
thiếu (inperfect cadence) khác với sự ngưng nghỉ để chấm dứt một câu qua
giai kết nửa (half cadence) rồi tiếp tục câu còn lại và chấm dứt bằng
giai kết trọn (perfect cadence) trong những đoạn nhạc có hai câu gần như
nhau.
Với ca khúc của Trịnh Công Sơn, việc ngưng nghỉ qua các giai kết giai điệu (melodic cadence) (10) nhiều khi không mang lại cho người nghe là sự ngưng nghỉ với ý nghĩa nào rõ ràng.
Đặc biệt hơn cả là trong một ca khúc mới khởi đầu, ý nhạc còn đang tiếp
diễn thì đã đưa về giai kết trọn để chấm dứt câu nhạc làm người nghe có
cảm giác hụt hẫng là điều hiếm có trong âm nhạc.
Một vài ví dụ về
cách xử dụng giai kết qua một số nhạc phẩm nêu trên, dù không sai, người
học nhạc cảm thấy có cái gì đó vướng víu trong ý nhạc qua cách ngưng
nghỉ.
Diễm Xưa –
giai kết thiếu ở chữ “thêm sâu” thay vì giai kết nửa mà những nhạc sĩ
khác xử dụng vì hai chi câu gần như nhau trường canh cuối.
Biển Nhớ – giai kết trọn ở chữ “lênh đênh” khi ý nhạc vừa bắt đầu và đang tiếp diễn lại đưa về chủ âm để kết thúc.
Còn Tuổi Nào Cho Em
– giai kết nửa ở chữ “tháng …năm” thay vì thay đổi trường độ chữ tháng
ngắn hơn để lời ca có ý nghĩa và tiếp tục đưa ý nhạc về giai kết trọn .
Với những người học
sáng tác âm nhạc, cách viết không chịu ràng buộc theo luật cân phương,
không chú trọng đến sự cân đối nhạc ý sẽ không đạt tới đỉnh cao trong âm
nhạc vì chính cách viết theo những quy luật mới rèn luyện nên sự tài
hoa. Bước đầu của âm nhạc là nghệ thuật nhưng đi xa hơn nữa là những kỹ
thuật được nghiên cứu, học hỏi và xử dụng qua nhiều thế kỷ mà bất cứ kỹ
thuật nào cũng có những quy luật riêng phải theo mới có thể tiến xa và
có thể phá luật khi đã đạt tới một mức độ sâu xa nào đó.
Cách viết nhạc với
những câu dài ngắn khác nhau thế này đi kèm với việc xử dụng giai kết
không đúng ý nghĩa cũng tương tự như cách làm thơ mới mà câu cán dài
ngắn khác nhau, muốn xuống hàng lúc nào cũng được như ông Bút Tre (11)
sẽ dễ dàng trở thành Nhạc Mõ.
d. Hòa âm hay và đẹp cho giai điệu
Âm nhạc của Trịnh Công Sơn không chú
trọng đến phần hợp âm đi kèm làm nền hòa âm cho giai điệu. Hơn nữa, ca
khúc của Trịnh Công Sơn không có một tác phẩm nào viết cho nhạc khí hay
cho nhiều giọng hát nên điều này không cần phải đánh giá.
Kết luận về âm nhạc trong ca khúc của Trịnh Công Sơn
Qua những điều nói
trên, âm nhạc của Trịnh Công Sơn nhạt nhẽo, đơn điệu so với các nhạc sĩ
cùng thời đừng nói đến những nhạc sĩ tài ba trong dòng nhạc Việt Nam.
Điều mà ông Văn Cao nói là “Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây.”(12) Theo tôi, có nghĩa là không thể dùng làm khuôn mẫu để cho người khác học hỏi.
Dù là nhạc cổ điển
hay nhạc hiện đại, viết ca khúc phải dựa vào nét nhạc, phát triển nét
nhạc thành câu để tạo nên những nhạc ý cân đối và có ý nghĩa. Việc
chuyển âm, chuyển cung, ngưng nghỉ qua các giai kết và hòa âm cho giai
điệu (nếu có khả năng) là những điều cơ bản mà âm nhạc cổ điển Tây
phương đã đặt nền móng cho âm nhạc hiện đại mà những người viết ca khúc
đều phai biết. Tôi không hiểu rõ ý ông Văn Cao muốn nói cấu trúc bác học
nào. Đây là lời nói không được giải thích rõ ràng nhưng lại được các
“nhà” đem ra biện minh cho cách viết lấy nốt nhạc gắn vào lời là đủ hay
rồi.
Điều mà ông Nguyễn Xuân Khoát nói là “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”
(13) là lời nói chơi trong những lúc trà dư, tửu hậu mà theo tôi hiểu
là lấy nốt nhạc gắn vào lời ca không theo quy luật nào nên giá trị âm
nhạc chẳng có gì đáng nói. Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó câu nói của nhạc sĩ
tài hoa Johannes Brahms, “Không có sáng tạo đích thực nào mà không phải trải qua khó nhọc.” Muốn viết được một giai điệu hay và đúng kỹ thuật không phải dễ như lấy chữ từ trong túi.
Nhìn một cách khoa
học thì những nốt nhạc với cao độ và trường độ trong một đồ thị thì kết
quả những điểm trên đồ thị chẳng tạo ra một đường nét nào rõ ràng để
diễn tả một cảm xúc thích hợp. Vậy thì cái hay, cái đẹp trong nhạc của
Trịnh Công Sơn tùy theo ý kiến mỗi người. Đối với cá nhân tôi, âm nhạc
của Trịnh Công Sơn là loại nhạc dùng để ngủ gà ngủ gật vì âm điệu nghèo
nàn ấy không tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn để tôi chú ý.
Không một lý
thuyết kinh tế nào có thể tiên đoán được sự tăng giá chóng mặt của các
đồng tiền ảo trong những năm gần đây, đặc biệt là trong năm 2017. Điển
hình và được nhắc đến nhiều nhất cũng như có giá cao nhất trong số gần
1.500 loại tiền ảo là đồng Bitcoin.
Ra đời từ năm 2009 – theo một câu chuyện truyền kỳ
được tiết lộ – bởi một kỹ sư tin học tài ba có một cái tên rất Nhật là
Satoshi Nakamoto. Ông là tác giả bài viết giới thiệu Bitcoin đầu tiên
bằng một thứ tiếng Anh cực kỳ tinh tế – một người chưa ai biết mặt, biết
tuổi và cũng không hề nhận mình là cha đẻ của Bitcoin.
Nhiều người cho rằng sự ẩn danh của cha đẻ đồng
Bitcoin có lý do đạo đức, ông biết rằng mình đã tạo ra một thứ gì đó mà
sau này sẽ gây tán gia bại sản cho vô số người mặc dù đã làm giàu cho
chính ông. Cha đẻ đồng Bitcoin được biết là đã sở hữu không dưới 1 triệu
đồng Bitcoin trong thời kỳ đầu tạo dựng ra nó bằng một kỹ thuật toán
siêu việt và giải mã chúng.
Cho đến nay, nhiều người vẫn tin rằng các phương
trình toán này được thiết lập để hạn chế số lượng Bitcoin tạo ra không
vượt quá ngưỡng 21 triệu đồng. Vào cuối năm 2017, người ta ước lượng đã
có 16,5 triệu đồng Bitcoin được đào xới, như vậy sẽ chỉ còn 4,5 triệu
đồng Bitcoin mà những chuyên gia tin học, sử dụng những siêu máy tính và
những thiết bị công nghệ cao cấp, đắt tiền có thể đào tìm được trong
tương lai. Điều đó khiến mọi người dễ tin rằng đồng Bitcoin sẽ không bị
lạm phát như các loại tiền giấy khác và do đó khó thể bị mất giá.
Thế nhưng người ta quên rằng tự thân đồng Bitcoin
không có giá trị, giá trị của nó chỉ có được là do những người tham gia
chơi đồng Bitcoin khoác lên mà thôi.
Đồng Bitcoin kỹ thuật số vô thừa nhận ấy sau một thời
gian ngủ đông trong 4 năm từ 2009 – 2013 đã bước vào giai đoạn tăng
trưởng dị dạng khủng khiếp chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Giá trị
ban đầu được biết đến của Bitcoin là gần như bằng 0, chỉ tương đương
0,1 cent (1/1.000 đồng USD).
Có một câu chuyện kể rằng, đã từng có một người sở
hữu 10 ngàn đồng Bitcoin đề nghị giao nó cho một chủ nhà hàng để mua một
chiếc bánh pizza trị giá 14 USD và người chủ tiệm đã đồng ý. Đây là lần
đầu tiên đồng tiền ảo bước vào thế giới thực.
Trong năm 2017, đồng Bitcoin đã có lúc chạm ngưỡng
20.000 USD/1 Bitcoin, trước khi rơi xuống mức 14.000 USD vào cuối năm.
Nếu người chủ cửa hàng pizza đó còn giữ 10 ngàn đồng Bitcoin đó đến nay
và bán toàn bộ trên thị trường giao dịch vào thời điểm Bitcoin có giá
cao nhất là 20.000 USD, ông ta sẽ có một tài sản trị giá tương đương 200
triệu USD. Chiếc bánh pizza đó – nếu câu chuyện kể trên là thật mà
không phải là huyền thoại – sẽ phải được Guinness công nhận là chiếc
bánh pizza đắt nhất mọi thời đại.
Và sau này, khi đánh giá hiện tượng tiền ảo và ảnh
hưởng của nó đối với nền kinh tế của thế giới thực tại, người ta sẽ thấy
rằng không phải người giấu mặt Nakamoto, mà chính là người đã dùng
10.000 Bitcoin mua bánh pizza, mới thực sự mang lại cuộc sống cho các
đồng tiền ảo không riêng gì Bitcoin. Anh ta đã mở cánh cửa vào đời thực
cho các đồng tiền ảo, nơi đó nó có một môi trường sống hội đủ các điều
kiện cần thiết để tăng trưởng.
Bitcoin và các “đồng loại” của nó, sau khi bước qua
cánh cửa ngăn cách ảo và thực, sẽ từ một con sâu bé tí trở thành con
quái vật khổng lồ có khả năng nuốt chửng mọi thứ, như trong một phim
khoa học viễn tưởng kinh dị. Mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng sự lớn mạnh kỳ
quái của đồng tiền ảo không gì khác hơn là lòng tham không đáy và sự vô
minh của con người.
Con sâu tiền ảo chui được vào trong cơ thể kinh tế
của đời thực với tư cách là một phương tiện thanh toán ngẫu nhiên vì bản
chất nó không phải là tiền tệ mà là một tài sản ảo. Không một đồng tiền
nào có giá trị cao chót vót và thăng giáng chóng mặt như Bitcoin để có
thể làm một vật ngang giá và thước đo giá trị trong quá trình trao đổi
hàng hóa, dịch vụ. Nó chắc chắn không phải là đồng tiền của thế giới
tương lai như một số người đang ra sức quảng cáo cho nó vì tư lợi.
Cũng không nên khoa trương rằng tiền ảo là đồng tiền
tự do và công bằng, dân chủ vì chúng không bị kiểm soát bởi các chính
phủ. Trên thực tế chúng đang bị kiểm soát bởi những nhóm tài phiệt giấu
mặt được giúp sức bởi những nhà phù thủy tin học đang sử dụng quyền năng
của họ để sai khiến các đồng tiền ảo thực hiện mục tiêu tối hậu là thâu
tóm tài sản tiền bạc từ mọi ngóc ngách trên thế giới đổ vào những cái
túi không đáy của họ.
Đang có một nỗ lực toàn cầu chiêu dụ càng nhiều càng
tốt những người nhẹ dạ cả tin nhưng có một điểm chung là muốn làm giàu
nhanh chóng, dễ dàng. Khi Bitcoin trở nên quá đắt đỏ vượt khỏi khả năng
tài chính của giới trung lưu các nước đang phát triển, các đồng tiền ảo
khác xuất hiện để người ta tha hồ lựa chọn. Sòng bạc có những xới bạc
lớn, đồng thời cũng có sẵn những bàn đánh nhỏ dành cho những kẻ ít tiền.
Thế giới có rất nhiều chàng người gỗ Pinocchio sẵn
lòng trao những đồng tiền vàng thực cho những con cáo để chúng gieo
trồng thành những cây xum xuê trĩu nặng quả vàng chỉ trong một đêm.
Những ông chủ đích thực của tiền ảo, còn được gọi là
những con cá mập vì những người đã và đang tham gia vào trò chơi làm
giàu trên tiền ảo và đã từng nếm trái đắng, sẽ quyết định tần suất biến
động giá tiền ảo trên thị trường, tạo nên những xu hướng tăng giảm giá
có xếp đặt. Giống như dàn xếp tỷ số trong bóng đá, sự biến động này bề
ngoài mang dáng vẻ cung cầu thị trường nhưng thực chất là thao túng lũng
đoạn giá, tạo ra một số ít những kẻ thắng bạc ồn ào giữa vô số kẻ thua
cuộc thầm lặng để kích thích, mê hoặc thêm nhiều Pinocchio mới tự nguyện
trao đi những đồng tiền thực mà họ đã dành dụm chắt chiu, thậm chí phải
vay mượn để đốt cháy trong cơn ảo vọng triệu phú Bitcoin.
Không phải ngẫu nhiên mà việc mua bán kinh doanh tiền
ảo phát triển mạnh và nhanh nhất tại Trung Quốc. Theo một ước tính, thị
trường Trung Quốc chiếm từ 50 – 98% tổng trị giá giao dịch Bitcoin toàn
cầu. Tờ Bitcoin Magazine nhận xét rằng có đến 70% số lượng
khai mỏ (mining) Bitcoin được thực hiện tại Trung Quốc, phần lớn tại
vùng Tây Bắc – nơi nguồn năng lượng gió và mặt trời với chi phí được hỗ
trợ của chính phủ sẽ cung cấp điện năng với chi phí rẻ hơn cho các siêu
máy tính trong công việc xử lý giải mã các thuật toán phức tạp ngày càng
khó, để nhận được phần thưởng là các đồng Bitcoin.
Như vậy tại Trung Quốc, cả nguồn cung và cầu đều lớn,
thậm chí cầu còn lớn hơn khi số nhà giàu mới ở nước này tăng nhanh và
nhu cầu chuyển tài sản của họ ra nước ngoài ngày càng lớn. Họ tìm thấy ở
Bitcoin một phương tiện trú ẩn tài sản và trốn thuế tuyệt vời.
Những biện pháp hạn chế và kiểm soát giao dịch
Bitcoin của chính phủ Trung Quốc như cảnh báo người dân về sự vô giá trị
và bất hợp pháp của tiền ảo trong năm 2013, hay tạm thời đóng cửa 3 sàn
giao dịch tiền ảo lớn vào năm 2017 tuy có làm giảm giá đồng Bitcoin
trong ngắn hạn nhưng không thể chặn đứng xu hướng tăng hiện thời của nó.
Chính vì những con cá mập muốn thế nhưng cũng là vì số người tham gia
trò chơi tiền ảo vẫn tăng mạnh ở Trung Quốc.
Tại Việt Nam, số người tham gia trò chơi tiền ảo vẫn
trên đà tăng và thường có xu hướng tập trung thành nhóm để chia sẻ kinh
nghiệm, chơi các đồng tiền ảo có giá trị thấp hơn Bitcoin và trong số
này nhiều người đã có kinh nghiệm xương máu, một số không ít phải bỏ
cuộc và lâm vào cảnh nợ nần.
Nhưng cũng có những người thắng, những người tự nhận
là thợ săn cá mập, đánh hơi được đường đi nước bước của cá mập và tìm
được mồi riêng cho họ. Nhóm săn được cá mập không nhiều, có người đã
phải cay đắng thốt lên rằng đây là một trò chơi được tắm bằng máu của
những kẻ mới bước vào và tắm nhiều máu hơn của những kẻ chậm chân bước
ra sau cùng khi con quái vật khủng long hiện nguyên hình là con sâu bé
tí.
Điều mà người ta hay gọi là đầu tư – đúng ra là đầu
cơ – tiền ảo, thực chất là một cuộc đánh bạc không hơn không kém. Đánh
bạc là một trò chơi có kết số bằng không (zero sum game), tiền được của
người này chính là tiền thua của người kia, chưa kể tiền phải nộp xâu
cho chủ sòng, có nghĩa là càng chơi lâu, mọi người đều thua. Đối với
những người khoe khoang rằng mình đã mua nhà mua ô tô từ đầu tư tiền ảo,
hãy nhớ rằng nếu bạn mua được một căn nhà thì đã có đến 2 người cùng
chơi bán đến 2 căn.
Joseph Stiglitz – người được giải Nobel Kinh tế năm
2001 đã cảnh báo nguy cơ vỡ bong bóng tiền ảo, với tổng giá trị giao
dịch năm 2017 có lúc lên đến trên 650 tỷ USD, gấp 3 lần GDP của Việt
Nam, và có xu hướng ngày càng tăng lên. Vì vậy việc chuẩn bị các biện
pháp ngăn chặn khủng hoảng tiền ảo và cảnh báo cho công chúng phải là
trách nhiệm ngay từ bây giờ của chính phủ các nước.
Trần Tuyết Mai thay đổi bản thân trong những bức ảnh mới và ngày càng gây được sự chú ý đối với cộng đồng mạng.
Trần Tuyết Mai – thiếu nữ gốc Gia Lai (SN 1996) là cái tên không còn
xa lạ với cộng đồng mạng khi sở hữu gương mặt xinh xắn như búp bê. Cô
nàng còn thường xuyên bị nhầm tưởng là học sinh cấp 2 vì quá dễ thương,
đáng yêu..
Cô thiếu nữ Gia Lai ngày ấy khiến mọi người lầm tưởng là học sinh
Sau một thời gian khá im lặng trên truyền thông, thiếu nữ Gia Lai trở
lại trong những bộ ảnh rất dễ thương, xinh xắn như vẻ ngoài vốn có của
mình. Chỉ khác một điều, suy nghĩ của Tuyết Mai đã thay đổi đi nhiều.
‘Búp bê Gia Lai’ ngày ấy đã dần trưởng thành hơn. Chia sẻ về cuộc
sống hiện tại của mình, cô nàng cho hay: ‘Cuộc sống hiện tại của mình
cũng bình thường như bao người, đôi khi cũng có nhiều người biết và hỏi
thăm khiến mình cảm thấy rất vui.’
Cô nàng cho biết, từ khi được biết đến, cô nàng nhận được một số lời
mời quảng cáo cho một số mẫu sản phẩm kiếm thêm thu nhập để trang trải
cuộc sống.
Tuyết Mai cho biết cô nàng đã quyết định nghỉ học đại học vì một lý
do cá nhân, đồng thời tích cực đi làm để gửi tiền về cho ba mẹ ở quê.
Vẫn là gương mặt nhỏ nhắn, dễ thương của cô nàng Gia Lai
Trong mỗi bộ hình trước kia, ‘búp bê Gia Lai’ gây ấn tượng với phong
cách búp bê hồn nhiên, và đây cũng chính là phong cách mà cô nàng theo
đuổi. Bộ ảnh mới nhất của cô nàng cũng nhận được sự quan tâm rất lớn từ
cộng đồng mạng.
Mỗi album ảnh đều gây được sự chú ý đối với cộng đồng mạng
Mỗi bức ảnh đăng lên, nhận được hàng ngàn lượt yêu thích này, cô nàng
rất vui và chia sẻ: ‘Mai cảm thấy rất vui vì luôn được mọi người biết
tới và được mọi người ủng hộ. Mai cảm ơn tất cả các bạn đã bên Mai và
giúp đỡ cho Mai suốt thời gian qua. Cảm ơn tình cảm của các bạn rất
nhiều…”
Trang Facebook cá nhân của Tuyết Mai đã sở hữu hơn 700 ngàn người
theo dõi. Đây là con số không hề kém cạnh bất kì một nghệ sĩ, hotboy,
hotgirl nào của Việt Nam. Cô nàng coi đó là một vinh dự và là một sự may
mắn lớn đối với bản thân.
Chia sẻ về những thuận lợi cũng như áp lực khi có nhiều người theo
dõi, cô gái gốc Gia Lai lại khiêm tốn chia sẻ: ‘Thuận lợi thì đó là có
cơ hội nhiều hơn với nghề nghiệp của mình, cũng có thể là sau này có thể
Mai kinh doanh gì đó, hay đóng quảng cáo. Còn về khó khăn thì Mai nghĩ
nếu có thì hiệu ứng của nhiều người biết đến mình sẽ mang những hướng
tiêu cực hơn…”
Cùng xem một số hình ảnh của thiếu nữ Gia Lai sau đây:
Khó có thể nhận ra đây là một cô thiếu nữ đã 22 tuổi
Tuy sở hữu gương mặt ‘búp bê’ nhưng Tuyết Mai đã trưởng thành hơn rất nhiều
Cô nàng cho rằng: ‘Tìm đến mẫu ảnh là
một cơ duyên do tình cờ. Mọi chuyện nó tới nhiều khi Mai cũng không
nghĩ được. Có lẽ là do Mai may mắn…’
Chris Khoa tiếp tục từ chối Google và một số công ty lớn khác vì bản
thân hứng thú hơn với các ngành liên quan đến xã hội. Vào Bộ tài chính
Anh khi còn rất trẻ, cậu bạn gốc Việt điển trai này đang ấp ủ hi vọng có
thể đóng góp một phần công sức làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Đầu năm mới, Chris Khoa Nguyễn báo
cho tôi một tin vui, kèm theo đó là một tin không được vui lắm. Tin vui
mà cậu mang đến chính là việc mình được nhận vào Bộ tài chính Anh làm
việc, sau khi tốt nghiệp xuất sắc ĐH Exeter, Anh Quốc hồi tháng 8 năm
ngoái.
Còn tin không vui từ anh chàng đẹp trai này, tôi nghĩ không chỉ mình và kha khá các bạn trẻ yêu mến Khoa sẽ tiếc nuối, đó là: "Đây chắc sẽ là lần trả lời phỏng vấn cuối cùng của Khoa, mình ngày càng ít dùng MXH rồi...". Nguyên văn câu nói của cậu là thế! Nếu
dõi theo hot boy tuổi Tuất này thì chắc hẳn bạn sẽ nhận ra thời gian
gần đây Khoa ít cập nhật hình ảnh trên Instagram lẫn Facebook. Anh chàng
gốc Việt đang ngầm thông báo với những người yêu mến mình rằng cậu đã
có những lựa chọn riêng.
Chris Khoa đã ngừng làm người mẫu để tập trung cho sự nghiệp riêng sau khi tốt nghiệp ĐH.
Chris
Khoa từng được bạn trẻ gần xa biết đến nhờ sở hữu gương mặt điển trai
và là người mẫu gốc Việt đầu tiên cộng tác với một thương hiệu thời
trang lớn thế giới. Năm 2016, cậu được nhiều người ngưỡng mộ hơn nữa khi
nhận được đến 6 lời mời làm thực tập sinh từ các công ty hàng đầu như
Google, Apple, Goldman Sachs, BlackRock, Bank of England và HSBC.
Đầu
năm 2018, sau quãng thời gian im ắng, Chris Khoa quyết định mở lòng.
Những chia sẻ của cậu dưới đây sẽ hé lộ nhiều thông tin thú vị sau khi
tốt nghiệp ĐH cùng những dự định sắp tới.
Chào Chris Khoa, đã
lâu không thấy Chris cập nhật ảnh và các hoạt động mới trên MXH, cũng
ít khi thấy bạn chia sẻ về cuộc sống riêng... Từ lúc nào Khoa lại trở
nên "khép kín" đến thế? Đúng là dạo này Chris
có hơi bận công việc. Mình đang cố gắng học cách cân bằng cuộc sống. Mỗi
ngày, mình đều về nhà khá trễ nên việc cập nhật Facebook là điều cuối
cùng mình nghĩ đến. Mấy tháng qua,
Chris cũng bị căng thẳng về việc chuyển công việc. Thêm nữa, vì Chris
không còn làm người mẫu nên cũng chẳng có nhiều hình để cập nhật. Còn
những tấm hình thường nhật của mình thì chán lắm, chắc là mọi người
không thích xem đâu (cười).
Chris Khoa vừa trải qua quãng thời gian căng thẳng sau khi chuyển việc.
Khoa có thể chia sẻ về công việc mới của mình không? Sau khi từ chối lời mời của một số công ty thì tháng 6/2017 mình quyết định vào BlackRock làm
về phòng chống tội phạm tài chính. Cái này chắc mọi người đã biết
(cười). Cùng tháng 8 cùng năm đó mình tốt nghiệp ĐH và lại một lần nữa
phải đưa ra quyết định về con đường tương lai. Nhờ các mối quan hệ với các cơ quan chính phủ - cơ quan lập pháp có được trong thời gian làm ở BlackRock, mình đã được nhận vào làm tại Bộ Tài chính Anh quốc. Đến
hôm nay nghĩ lại thì Chris tin rằng sự lựa chọn vào làm việc tại công
ty cũ và cả việc rời đi để có một công việc mới đều là lựa chọn đúng
đắn. Ngày trước ở BlackRock, Chris đã quen
với các bộ luật đã thông qua bởi Bộ và áp dụng xuống các doanh nghiệp.
Còn khi làm việc trong Bộ tài chính, Chris sẽ làm theo hướng ngược lại,
tức là làm việc cho nhà nước và giúp doanh nghiệp gây ảnh hưởng đến các
quy định và luật của nhà nước. Công việc này chắc chắn sẽ rất thú vị! Những đầu việc cụ thể Chris sẽ đảm đương khi vào Bộ tài chính Anh là gì? Chris
tin rằng Bộ tài chính Anh sẽ là một cơ hội thú vị, nơi bản thân có thể
học tập được nhiều điều. Vào đây, Chris sẽ được làm việc với các nghị sĩ
và bộ trưởng, nghiên cứu và chia sẻ với họ ý kiến của Chris về các vấn
đề chính sách. Trọng tâm công việc của
Chris là về cạnh tranh thị trường bình đẳng. Bên cạnh đó, mình cũng sẽ
học chương trình nghiên cứu về luật tại đại học Cambridge, cũng như vẫn
sẽ năng nổ trong nhiều hoạt động khác. Những dự định sắp tới còn có một vài dự án hợp tác với UNICEF cũng
như tham gia làm đại sứ cho một chương trình doanh nhân trẻ tại Việt
Nam. Chris sẽ cố gắng làm việc và trau dồi kinh nghiệm trong một vài năm
nữa, trước khi học cao hơn tại Anh hoặc Mỹ.
Chris Khoa dự định sẽ học lên cao hơn nữa trong tương lai.
Liệu lần này, bạn có lại từ chối "ông lớn" nào đó để theo tiếng gọi của niềm yêu thích không đấy? Bạn
hiểu Chris quá rồi đấy! Thú thật là mình có từ chối thêm một lần mời
làm việc nữa của Google. Mình không biết lần này họ có cho mình vào danh
sách đen không nữa. Tuy nhiên, Chris luôn
tin vào bản thân mình. Với mỗi quyết định trong sự nghiệp, Chris luôn
suy nghĩ theo hướng rằng đấy có thể là cơ hội cuối cùng của mình. Tuy
nhiên, một khi đã đưa ra quyết định thì Chris không bao giờ quay nhìn
lại, để hối tiếc, luôn nhìn về phía trước. Được
làm việc ở Google hẳn là rất tuyệt. Nhưng Chris suy nghĩ lại và thấy
rằng mình có hứng thú hơn với các ngành liên quan đến xã hội, đồng thời
với nền tảng học vấn là kinh tế, Google có lẽ là một ngã rẽ chưa thích
hợp cho Chris vào thời điểm này. Ngoài Google, năm
nay, Chris cũng rất may mắn nhận được một số hợp đồng chủ yếu từ các
ngân hàng, cũng như các tổ chức khác như Reuters và Airbus. Google là
một công ty rất chuyên nghiệp, họ gửi cho Chris hợp đồng khá chi tiết và
đầy đủ để Chris tham khảo và đưa ra câu trả lời. Để đi đến quyết định này, bạn có phải cân nhắc nhiều lắm không? Hồi lễ tốt nghiệp trung học cấp 3, thầy hiệu trưởng của Chris có dặn dò riêng: "Chris, một ngày nào đó sẽ có rất nhiều cơ hội đến với em và em hãy nhớ chọn công việc, đừng chọn công ty". Chris luôn nhớ câu nói đó của thầy khi cần đưa ra các quyết định nghề nghiệp. Và lần này cũng vậy! Ước
mơ của Chris là công việc của mình có thể giúp được nhiều người nhất có
thể và Chris nghĩ rằng công việc tại Bộ tài chính Anh sẽ cho mình nhiều
kinh nghiệm và kiến thức để có thể chạm tới ước mơ đó.
"Ước mơ của Chris là công việc của mình có thể giúp được nhiều người nhất có thể".
Sau
những lựa chọn, đấu tranh và cả những phấn đấu không ngừng để vào Bộ
tài chính Anh làm việc. Bạn kỳ vọng công việc này sẽ mang lại cho bản
thân những giá trị gì? Ở tuổi 24, Chris
sẽ là một trong những cố vấn Bộ tài chính trẻ tuổi nhất và điều đó đòi
hỏi Chris sẽ phải nỗ lực rất nhiều để chứng minh thực lực của mình,
thông qua đó bản thân mình cũng sẽ học hỏi được rất nhiều thứ. Đó sẽ là
một quá trình dài. Mình đã nộp đơn xin việc
vào tháng 9/2017. Mình phải viết rất nhiều bài luận về việc bằng cách
nào tư vấn cho các nghị sỹ về các vấn đề liên quan, sau đó là nhiều vòng
phỏng vấn và thuyết trình trước các hội đồng đánh giá. Mình được đặt
câu hỏi về các vấn đề liên quan đến cạnh tranh và kinh tế quốc tế... Nhiều
năm trước, Chris cũng chọn học ngành kinh tế vì Chris tin vào sức mạnh
của nó có thể cải thiện cuộc sống của rất nhiều người. Chris vẫn giữ
niềm tin đó và rất hứng khởi được đóng góp vào đó một chút công sức của
mình. Mừng cho Chris vì đã được làm công việc mình yêu thích, song cũng có nhiều người tiếc vì Chris không lấn sân nghệ thuật. Chris
cũng nhận được một số lời đề nghị về phim ảnh hay MV, nhưng thực sự là
ngành công nghiệp giải trí không phải là nơi dành cho Chris, bởi vì mình
chẳng có tài năng nghệ thuật gì để đóng góp cả. Diễn xuất chưa bao giờ là thế mạnh của Chris, cũng như ca hát và bản thân thấy rằng mình có ích cho những việc khác hơn. Hồi
còn nhỏ, Chris cũng có nhiều ước mơ, như trở thành diễn viên hay vận
động viên chuyên nghiệp. Nhưng con người chúng ta rồi cũng trưởng thành
và cả những giấc mơ cũng phải trưởng thành. Nhiều người bạn của Chris
rất hợp làm diễn viên hay người mẫu, nhiều người trong số họ rất tài
năng, và Chris luôn muốn những cơ hội đến với những người xứng đáng.
Con người chúng ta rồi cũng trưởng thành và cả những giấc mơ cũng phải trưởng thành.
Vì sao bạn quyết định "ngày càng ít dùng MXH”, là vì bạn muốn thế hay vì vị trí công việc bạn phải như thế? Chris
luôn tin rằng mình chỉ nên nói khi có điều gì để nói, chỉ nên post khi
có gì đó để post. Trong tương lai, có thể Chris sẽ chia sẻ nhiều hơn nếu
như Chris may mắn đạt được những thành quả nhất định. Chris
dùng Instagram nhiều hơn Facebook và rất thích nhiếp ảnh, nhưng vì
Chris không làm người mẫu nữa nên cũng không có nhiều hình để post. Đó
cũng là một lý do tại sao Chris sẽ không còn dùng các mạng xã hội nhiều
nữa. Chris thích đi chơi với bạn bè, gặp gỡ, chia sẻ và nói chuyện với
họ trực tiếp hơn là kết nối trên mạng. Chris
tài năng, đó là điều để nhiều người biết đến bạn, nhưng dĩ nhiên cũng
không thể phủ nhận được vẻ đẹp trai đã khiến Chris nổi tiếng hơn nữa…
Đối với bản thân bạn thì điều gì mới là quan trọng? Chris
cảm thấy rất may mắn và vinh dự khi được một số người biết đến. Nhưng
chắc chắn Chris sẽ không đánh giá một ai đó qua vẻ ngoài của họ. Bởi vì
sau tất cả, sắc đẹp là điều gì đó rất chủ quan, những tiêu chuẩn sắc đẹp
thay đổi liên tục và nó chẳng bao giờ là vĩnh cửu cả.
Không làm người mẫu ảnh nữa, cuộc sống của Chris giờ đây gắn bó với những bộ quần áo trắng - đen, bàn giấy và những cuộc họp.
Nếu Chris giữ lấy quyết định "ở ẩn" trên MXH, Chris sẽ bị lãng quên mất... Bạn không sợ điều đó sao? Chris
biết là chuyện đó sẽ xảy ra nhưng Chris chắc chắn là chuyện đó sẽ xảy
ra ngay cả nếu như Chris đăng hình lên MXH mỗi ngày. Nhưng
dù thế thì Chris sẽ luôn nhớ niềm vui từ những tin nhắn từ mọi người,
nói với Chris rằng Chris đã truyền cảm hứng cho họ, đã động viên họ thử
những điều mới, học những cái mới, vượt ra những rào cản an toàn của
chính mình. Và vì thế, nếu có biến mất khỏi các trang báo hay tâm trí mọi người thì Chris cũng hi vọng rằng mình đã góp một chút ít thay đổi tốt đẹp nơi một vài người. Một ngày nào đó, hi vọng Chris sẽ may mắn có cơ hội đóng góp cho những thay đổi lớn hơn. Cảm ơn những chia sẻ của Chris Khoa. Chúc bạn luôn đạt được thành công như những gì mình muốn!
12. Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959 Bài của Nghiên Cứu Quốc Tế - Bản dịch của Đỗ Hải Yến. Nguồn: Catholic Refugees from the North of Vietnam, and Their Role in the Southern Republic, 1954–1959 - Peter Hansen (2009)
5.Mở rộng truyền giáo ở thuộc địa Thượng Du Bắc Kỳ (Jean Michaud) - Journal of Southeast Áian Studies, 35 (2), pp 287-310 June 2004. Printed in the United Kingdom @ 2004 The National University ò Singapore DOI:10.1017/S0022463404000153