Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Hai, 2 tháng 10, 2017

Nhìn lại nền Giáo dục Miền Nam Việt Nam

Sách giáo khoa thời VNCH
Sách giáo khoa thời VNCH
Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa là Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”.
Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm tiểu học, trung học, và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.
1468720_354694488000497_1492264788_n
Phòng thí nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn (Internet)

Tổng quan

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc.
Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.
PKý lễ
Một buổi lễ khánh thành tượng Petrus Ký trong khuôn viên ( công viên 30/4 hiện tại ), nằm trên đường Boulevard Norodom – ( Đại Lộ Thống Nhất trước Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà ).
 Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.
Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.
Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh Trung học, và 101.454 sinh viên Đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng).
Cảnh giờ rước học sinh.
Cảnh giờ rước học sinh tan trường.
Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục)nền Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.
Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.
750Thay_Co_truong_QGNT
Thầy cô giáo ( Giáo sư ) thời VNCH

Triết lý giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng ( liberalic) ” được chính thức hóa ở hội nghị này.
Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa (1967).
vnch-giao-duc6
Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư Phạm.
1. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.
Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốclấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.
Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá conngười, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
vnch-giao-duc1 (1)
2. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.
Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.
Sinh viên đại học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964
Sinh viên đại học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964.
3. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng.
Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.

Mục tiêu giáo dục thời VNCH:

Bích chương của Bộ Y Tế VNCH
Bích chương của Sở Giáo Dục – Bộ Y Tế VNCH
1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.
Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.
Thanh nữ VNCH
Thanh nữ Việt Nam Cộng Hòa
2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.
Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974
Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974.
3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.
Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn (Số 3 Công Trường chiến sĩ)
Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn (Số 3 Công Trường
Chiến Sĩ)
Tuy nhiên trong giai đoạn 1955-1963, dưới thời Ngô Đình Diệm, nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa bị xem là thiên vị Thiên Chúa giáo nặng nề. Ngô Đình Diệm dành cho Giáo hội Thiên Chúa giáo quyền chi phối các trường (kể cả các trường không phải là của giáo hội) về mặt tinh thần, cốt bảo đảm thực hiện được nội dung giáo dục “Duy linh” mà thực chất là nội dung thần học theo lối triết học kinh viện thời Trung cổ. Phần lớn các học bổng đi học nước ngoài đều rơi vào tay các linh mục hoặc sinh viên Thiên Chúa giáo[23]
Do chính sách ưu đãi tài chính cùng với những đặc quyền mà Ngô Đình Diệm dành cho, hệ thống trường tư thục của Thiên Chúa giáo phát triển rất nhanh. Avro Manhattanthống kê rằng: Từ năm 1953 đến năm 1963, khắp miền Nam đã xây dựng 145 trường cấp II và cấp III, riêng ở Sài Gòn có 30 trường với tổng số 62.324 học sinh. Cũng trong cùng thời gian này, Giáo hội Thiên Chúa giáo ở miền Nam Việt Nam, từ chỗ chỉ có 3 trường cấp II và III trong năm 1953, đến năm 1963 đã lên tới 1.060 trường[24]. Có nơi Linh mục dùng uy thế của mình để phụ huynh không cho con học trường công mà phải vào học trường của Giáo hội, nên trường tư thục của Giáo hội làm tê liệt cả trường công vì không tuyển được học sinh[25]
Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các chính sách thiên vị Thiên Chúa giáo trong nền giáo dục mới kết thúc

Giáo dục tiểu học:

Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa.
Một lớp tiểu học ở miền Nam vào năm 1961.
Bậc tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất).   Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc). Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp”, tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.
Số liệu giáo dục bậc tiểu học[8]
Niên học Số học sinh Số lớp học
1955 400.865 8.191
1957 717.198[9]
1960 1.230.000[9]
1963 1.450.679 30.123
1964 1.554.063[10]
1970 2.556.000 44.104
Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều.
Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học (chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc).
Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa.
Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa – ( Lớp Bốn lớp Năm bây giờ ).
Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.
Lớp 1 (trước năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn Quốc văn; 2 giờ Bổn phận công dânĐức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục). Lớp 2 (trước năm 1967 gọi là lớp Tư), Quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và Địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn Quốc văn, Công dân và Sử Địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.
Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.
Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.
Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông thường vào những ngày áp Tết).
Thẻ căn cước học sinh trường Võ Trường Toản
Thẻ căn cước học sinh trường Võ Trường Toản

 Giáo dục trung học:

Các vị Giáo Sư trường Hồ Ngọc Cẩn
Các vị Giáo Sư trường Hồ Ngọc Cẩn
Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).
Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…
Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.
Tên gọi năm lớp bậc tiểu học
trước 1971 sau 1971
lớp năm lớp một
lớp tư lớp hai
lớp ba lớp ba
lớp nhì lớp tư
lớp nhất lớp năm
Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp
lớp đệ thất lớp sáu
lớp đệ lục lớp bảy
lớp đệ ngũ lớp tám
lớp đệ tứ lớp chín
Tên các lớp trung học đệ nhị cấp
lớp đệ tam lớp mười
lớp đệ nhị lớp 11
lớp đệ nhất lớp 12
Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký
Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký
Trung học đệ nhất cấp:
Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 năm 72- 73
Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 năm 72- 73
Trung học đệ nhất cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ. Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.
Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt” (hay “học kỳ”). Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp, môn Công dân giáo dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.
Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam (tức Việt Võ đạo) cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.
Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp.
Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.
Sân trường Marie Curie
Sân trường Marie Curie
Trung học đệ nhị cấp:
Nam sinh Võ Trường Toản
Nam sinh Võ Trường Toản
Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở.
Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban Vạn vật; ban Toán; ban Văn chương và ban Văn chương Cổ ngữ – thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.
Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú tài I rồi thi Tú tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.
Số liệu giáo dục bậc trung học[8]
Niên học Số học sinh Số lớp học
1955 51.465 890
1960 160.500[9]
1963 264.866 4.831
1964 291.965[10]
1970 623.000 9.069
Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8.
Tỷ lệ đậu Tú tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%), tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng “tối ưu” hay “ưu ban khen” (18/20 điểm trở lên). Thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm. Mỗi năm toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài thí sinh đậu hạng này, có năm không có. Kế tiếp là hạng “ưu” (16/20 điểm trở lên); “bình”(14/20); “bình thứ” (12/20), và “thứ” (10/20)
Thầy trò trường Gia Long
Thầy trò trường nữ Gia Long
Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Pétrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) và các trường Quốc học (Huế), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Võ Tánh (Nha Trang), Trần Hưng Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) dành cho nam sinh; và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), Trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), Trường Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) chỉ dành cho nữ sinh.
Học sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.
Nữ sinh Lê Văn Duyệt
Nữ sinh Lê Văn Duyệt
Trung học tổng hợp:
Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh: comprehensive high school) là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.
Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình trung học tổng hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức (khai giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965) , sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10) và Sương Nguyệt Ánh (cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (cầm đàn) trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (cầm đàn) trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960
Bổ sung ( theo góp ý của độc giả Nguyễn ):
Ở Huế: Ngày 4-8-1964 trường Đại Học Sư Phạm Huế đã thành lập một trường
Trung-học trực thuộc mang tên Trung Học Kiểu Mẫu Huế (khai giảng niên khóa đầu tiên gồm 8 lớp, 320 học sinh, 24 nhà giáo, 7 nhân viên, với hiệu trưởng Trần Kim Nở).

Ở Cần Thơ: Năm 1966, Trung học Kiểu mẫu Cần Thơ được thành lập thuộc Phân khoa Sư phạm của Viện Đại học Cần Thơ.
Cổng trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế 1964-1975
Cổng trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế 1964-1975
Trung học kỹ thuật:
Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B'Lao
Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B’Lao
Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là tiếng Anh và tiếng Pháp.
Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng), Trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ;  tư thục thì có Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco (do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM).
Hiệu trưởng Cao thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung học kỹ thuật Cao Thắng.
Hiệu trưởng Cao Thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung học kỹ thuật Cao Thắng.

Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử

Các trường tư thục và Bồ đề:

Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974
Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974
Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học.
Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo.
Sân trường Bác ái (Collège Fraternité)
Sân trường Bác ái (Collège Fraternité)
Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ.  Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466.
Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.
Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm.
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tên mới).
Le Collège Fraternité - Bac Ai datant de 1908, se situe 4 - rue Nguyên Trai, Cho Quan.
Le Collège Fraternité – Bac Ai datant de 1908, se situe 4 – rue Nguyên Trai, Cho Quan.
Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử:
Saigon 17 March 1971 - Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành Thư viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.
Saigon 17 March 1971 – Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành Thư viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.
Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng Hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc gia nghĩa tử. Tuy đây là trường công lập nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng.
Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc gia Giáo dục.
Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc gia nghĩa tử khác trường Thiếu sinh quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.
Giáo dục đại học:
VienDaiHocVanHanh Saigon
Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là  Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.
Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.
Trong khuôn viên Học viện Quốc gia Hành chánh
Trong khuôn viên Học viện Quốc gia Hành chánh
Số liệu giáo dục bậc đại học:
Niên học Số sinh viên
1960-61 11.708[45]
1962 16.835[10]
1964 20.834[10]
1974-75 166.475[46]
Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng Cử nhân (ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng Tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh…) hay bằng Kỹ sư (ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…). Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng Cao học hay Tiến sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: docteurde troisième cycle; tương đương Thạc sĩ ngày nay). Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng Tiến sĩ (tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ).
Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.

Bổ sung của đọc giả Trần Thạnh (26.12.2013):

VNCH có nhiều trí thức tốt nghiệp từ Pháp và Hoa Kỳ nên có hai hệ thống bằng cấp khác nhau:
normale11
Thạc Sĩ người Việt đầu tiên là ông Phạm Duy Khiêm, bào huynh của nhạc sĩ Phạm Duy.
Ecole Normale Supérieure
Ðánh dấu hoa (*) là ông Phạm Duy Khiêm. Ðánh dấu X là Tổng Thống Pháp Georges Pompidou.
Theo hệ thống của Pháp (ngày trước):
–  Cử Nhân (Licencié), Cao học (DEA), Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp (Doctorat de 3è cycle), Tiến Sĩ Quốc Gia (Doctorat d’État).
Theo hệ thống của Hoa Kỳ:
– Cử Nhân (Bachelor), Master (trước 1975 chưa có từ ngữ dịch chính xác bằng cấp này), Tiến Sĩ (PhD).
Khó có thể so sánh MasterTiến Sĩ Đệ Tam Cấp vì học trình hai bên khác nhau.   ( Hiện nay trong nước dịch Master là Thạc Sĩ gây hiểu lầm cho nhiều người ).
Từ “ Thạc Sĩ ” trước đây được dùng để chỉ những người thi đậu một kỳ thi rất khó của Pháp (agrégation). Người thi đậu được gọi là Agrégé. Không có từ tiếng Anh tương đương cho từ này.
Luat Khoa Sai gon
Đại học Luật khoa Sài Gòn

Mô hình các cơ sở giáo dục đại học:

Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức theo mô hình Viện đại học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở).
Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ (tiếng Anh: credit). Mỗi viện đại học bao gồm nhiều Phân khoa đại học (tiếng Anh: faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v…) hoặc Trường hay Trường Đại học (tiếng Anh: school hay college; ví dụ: Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v…).
Trong mỗi Phân khoa Đại học hay Trường Đại học có các ngành (ví dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v…); về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban (tiếng Anh: department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay).
Đại học sư phạm kỹ thuật Thủ Đức
Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật
Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng Hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.
Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.
Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc.
Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng:Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam).
Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.
25-khach_vieng_truong_01
Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật
Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.
Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.
Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn
Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.
Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện.
Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học” cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các “đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học”.

Các viện đại học công lập:

Viện Đại Học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.
Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn.
Viện Đại Học Huế: Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa, và Y khoa.
Hàng đầu bên trái ông Nguyễn Đăng Trình Bộ trưởng Bộ QG Giáo dục , Viện trưởng Viện Đại học Huế đầu tiên ( tháng 3/1957-7/1957 ) Giữa Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm , bên phải Linh mục Giáo sư Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965
Hàng đầu bên trái ông Nguyễn Đăng Trình Bộ trưởng Bộ QG Giáo dục, Viện trưởng Viện Đại học Huế đầu tiên ( tháng 3/1957-7/1957 ). Giữa Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm , bên phải Linh mục Giáo sư Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965.
Viện Đại Học Cần Thơ: Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa.
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức: Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972).

Các viện đại học tư thục:

Viện Đại Học Đà Lạt: Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975  viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.
Viện Đại học Đà lạt
Viện Đại học Đà lạt
Viện Đại Học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.
Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973
Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973
Viện Đại Học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3/2 ), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng.
Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.
Thư viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn
Thư viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn
Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo.
Viện Đại Học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Cao Đài.

Viện Đại Học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo hội Công Giáo điều hành.

Các học viện và viện nghiên cứu:

Viện Pasteur Nha Trang
Viện Pasteur Nha Trang
Học Viện Quốc Gia Hành Chính: Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2), Quận10, Sài Gòn.
Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.
Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ v.v… với những chuyên môn đặc biệt.
Viện Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc.
Viện Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc.

Các trường đại học cộng đồng:

Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở  Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.
Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.
Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.

Các trường kỹ thuật và huấn nghệ:

Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tươngđương với cấp đại học.
Trường quốc gia Nông Lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sát nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.

Trường Cao đẳng Điện học
Trường Cao đẳng Điện học
Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức

Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia: Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.
Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia
Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia

Các trường nghệ thuật:

Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điễn Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.
Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu Trần Thanh Tâm (đờn kìm) Phan Văn Nghị (đờn cò) Trương Văn Đệ (đờn tam) Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh)
Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm (đờn kìm), Phan Văn Nghị (đờn cò), Trương Văn Đệ (đờn tam), Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh).
Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế: Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.
Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật: Thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940).
Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60
Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60
Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn: Thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ  (1954-1966).
Sinh viên du học ngoại quốc:
Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA

Trang trong sách Địa Lý lớp Ba
Trang trong sách Địa Lý lớp Ba
Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa xuất bản năm 1967
Năm 1958, chính phủ Đệ nhất Cộng hòa cho lập Ban Tu thư thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc gia Giáo dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[82]
Trang bìa sách Địa Lý lớp Ba
Trang bìa sách Địa Lý lớp Ba
Trang bìa cuối sách Địa Lý lớp Ba
Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo.
Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục sản xuất và cung cấp với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.
KohoReader
Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo dục cũng đã thiết lập Ủy ban Quốc gia Soạn thảo Danh từ Chuyên môn bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung tâm Học liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

NHÀ GIÁO

Đào tạo giáo chức:

Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện ĐH Huế. Tòa nhà này thời Pháp là KS Morin Frères
Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện ĐH Huế.
Tòa nhà này thời Pháp là KS Morin Frères
Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường Cao đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.
Ngoài ra còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt.
Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.
Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4 năm). Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.

Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn
Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn
Nha Sư phạm (thuộc Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên cũng gởi gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như AnhPhápHoa KỳNhậtĐức, v.v…

Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng hòa.

Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Đời sống và tinh thần giáo chức:

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470.
Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.
Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm (người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu), từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.

Scan_Pic0046
Một nữ giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm.

THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

Chứng chỉ Tú Tài 1
Chứng chỉ Tú Tài 1
Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 19651966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp.

Chứng chỉ Tú tài 2
Chứng chỉ Tú Tài 2
Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng (tức bộ trưởng) và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:

Phan_Huy_Quat
Ông Phan Huy Quát

ĐÁNH GIÁ

hocba1950
Học bạ của một học sinh giỏi nhất lớp năm 1950
Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:
Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.
Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.” ( Trích từ nguồn Blog Lý Toét )
Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 ( tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở  Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam (lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.” Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng (Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).[104]
Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:
Tôi là con của một cán bộ Việt Minh– tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc […] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…
Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:
Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu.[107]
***
(Nguồn: Wikipedia, FB Tuyen Nguyen, Huỳnh Minh Tú)

Hoàng Phong Nhã  ( đối chứng từ nhiều nguồn )

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

Nước Phần Lan Bỏ Phiếu Bảo Vệ Trẻ Em Khỏi Bị Thiên Chúa Giáo Nhồi Sọ

[Chuyện châm biếm trong mục "Cười trong giới Không Tin." Trang nhà lược dịch để tặng bạn đọc xem giải trí.]
Tòa thị chính ở Helsinki, Phần Lan
Helsinki, Phần Lan: Tại quốc gia Bắc Âu này, chỉ có hơn 5 triệu linh hồn, chính phủ đã phê chuẩn một đạo luật mới để giảm bớt quyền lực của đạo Ki-tô đối với trẻ em. Mệnh danh là Luật Richard Dawkins (tên nhà sinh vật học vô thần người Anh) luật này có nội dung cấm nhồi sọ các trẻ em dưới 13 tuổi về những điều liên hệ đến tôn giáo.
Ông Kari Kinnard đặc trách về Vấn Đề An Toàn Cho Trẻ Em giải thích rằng, "các phụ huynh đều biết các con cái còn nhỏ tuổi của họ không có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa những gì có thật và những gì giả dối (không thật)." Tốt nhất cho các trẻ em con nhỏ là không để cho chúng ở trong một môi sinh nơi mà những huyền thoại của Thời Đại Đồ Đồng (Thời Tối Cổ) được coi như là những sự kiện.
Các trẻ em ở mọi lứa tuổi rất vui mừng về việc ban hành đạo luật này. Một nhóm học sinh đã hát bài “Những Người Vô Thần Không có Bài Ca” của Steve Martin. Các em liều lĩnh đã hát theo giọng cổ điển của Martin từ Monty Every Sperm is Sacred
Nhiều người quen với các công việc chính trị và xã hội ở Phần Lan đã nhắm vào việc Giáo Hội Tin Lành Luther Evangelical phủ nhận vấn đề hôn nhân của những người đồng tính mà tiến đến việc ban hành Luật Richard Dawkins. Hôn nhân giữa những người đồng tính đã trờ thành hợp pháp ở Phần Lan, quốc gia cuối cùng trong các quốc gia Bắc Âu công nhận rằng những người đồng tính cũng có những tình cảm như những con người thật.
Chính quyền Phần Lan nhìn nhận rằng những lễ nghi như lễ hôn phối hay tang lễ thường được tổ chức ở trong nhà thờ, và gây ra phiền muộn trong các bậc cha mẹ muốn cho các con em của họ phải tham dự. Luật mới nói rằng các phụ huynh có thể dẫn các con em của ho đến tham dự những buổi lễ này với điều kiện các em được nghe lời phủ nhận chính thức do một cán bộ xã hội trước khi bước vào nhà thờ.
Này các bạn trẻ, các em hiện nay đang sống trong một thế giới nơi mà người ta chấp nhận một cách nghiêm túc rằng đạo lý dựa trên một cuốn sách trong đó có những con rắn biết nói, con lừa biết nói, và tình yêu của thượng đế được định nghĩa bằng hình phạt đời đời. Tóm lại, đừng xem những việc này là nghiêm túc.
Đối với với các trẻ em còn quá trẻ, cán bộ xã hội sẽ sử dụng những con rối để giải thích có bao nhiêu người lớn có những người bạn trong tưởng tượng.
Không có gì đáng ngạc nhiên là cơ sở tôn giáo ở Phần Lan rất giận dữ. Họ cho rằng truyền thống cấy vào đầu trẻ em những thiên kiến cổ truyền và những điều dối trá (nói láo) đã giữ được sự đan kết bền chặt của xã hội trong nước.
Giám Mục Hans Kotha tuyên bố rằng “Nếu chúng ta cứ tiếp tục hành xử như vậy, chúng ta sẽ trở thành một địa ngục vô thần giống như Thụy Điển."  
Chính quyền Phần Lan từ chối, không hủy bỏ Luật Richard Dawkins. Nguồn tin ẩn danh trong chính quyền nói rằng Giáo Hội Tin Lành theo phái Phúc Âm của Lutheran sẽ làm tốt nếu họ có thể thuyết phục được những người có khả năng phê bình chấp nhận được quan điểm của giáo hội.
Các chuyên gia tiên liệu rằng trong vòng mấy chục năm nữa, Giáo Hội Tin Lành theo phái Phúc Âm Lutheran sẽ tiêu vong.

Andrew Hall là tác giả của mục Cười của giới Không Tin. Ngoài việc viết blog không ai đọc, ông còn đồng tổ chức mục Bữa Ăn Trần, viết a quyển sách không ai đọc, tựa đề Vampires, Lovers, and Other Strangers (Ma cà rồng, người yêu và những người lạ mặt khác). Tiếng đồn mục hài của ông ấy rất vui. Lúc ông không la hét trong đêm vì những trang mạng TwitterInstagram, hoặc Facebook thì ông dạy các con của ông những gì không nên làm.

Nguồn: http://www.patheos.com/blogs/laughingindisbelief/2017/03/finland-votes-to-protect-children-from-christianity/ MARCH 9, 2017 BY ANDREW HALL

Finland Votes To Protect Children From Christianity
(Laughing in Disbelief)
BY ANDREW HALL
Helsinki, Finland – In this Scandinavian country of just over 5 million souls, the government ratified a new law curbing the power of Christianity over children. Dubbed The Richard Dawkins Act after the renowned British biologist and atheist, the regulation bans children under the age of 13 from religious indoctrination.
“Every parent knows young children do not have the ability to differentiate between what is real and not real,” explained the Minister of Child Safety Kari Kinnard. “It’s in the best interest of the child and the state that he or she is not in an environment where Bronze Age myths and prejudices are accepted as fact.”
Children of all ages are celebrating the move. Groups of students have spontaneously broken out in singing Steve Martin’s Atheists Don’t Have No Songs. The cheekier kids follow up Mr. Martin’s tune with the classic from Monty Python Every Sperm is Sacred.
Many who are familiar with the socio-political workings of Finland point to the Lutheran Evangelical Church’s refusal to marry same-sex couples as the rallying point to pass The Richard Dawkins Act. Same-sex marriage just became legal in Finland, making it the last Scandinavian country to recognize that homosexuals are real people with feelings and such.
The government of Finland recognizes that some events like marriages and funerals are commonly held in churches and may cause distress amongst parents who wish their children to attend. The new law states that parents may bring their young ones to such services as long as the children are read the official disclaimer by the officialized social worker before entering.
Young child, you are living in a world where people seriously accept the claims that morality is based on a book where snakes talk, a donkey talks, and divine love is defined with the threat of eternal punishment. In short, don’t take this seriously.
For the very young, the social worker present will use puppets to explain how many adults have imaginary friends.
Unsurprisingly the religious establishment in Finland is up in arms. They point to the long tradition of filling children’s heads with traditional prejudices and lies that supposedly hold the country’s social fabric together.
“If we keep going on this path, then we will become a godless hellhole like Sweden,” stated Bishop Hans Kotka.
The Finnish government refuses to rescind The Richard Dawkins Act. Anonymous sources in the government state that the Lutheran Evangelical Church will do just fine if they can convince those with critical thinking skills the merits of the Church’s ideas.
Experts predict the death of the Lutheran Evenaglical Church in Finland within decades.


Andrew Hall is the author of Laughing in Disbelief. Besides writing a blog no one reads, co-hosting the Naked Diner, he wrote a book no one reads,  Vampires, Lovers, and Other Strangers. There are rumors his stand-up is funny. When he isn’t shouting at the darkness on TwitterInstagram, and Facebook he is showing his kids how not to behave.

Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017

Vụ Trịnh Xuân Thanh: Đức ngưng cấp visa cho đoàn công tác nhà nước và du học sinh Việt Nam



Vụ Trịnh Xuân Thanh: Đức ngưng cấp visa cho đoàn công tác nhà nước và du học sinh Việt Nam
Du học sinh Việt Nam và nền kinh tế của một tỉnh ở Việt Nam đang gánh chịu hậu quả từ cuộc khủng hoảng ngoại giao với Đức, tiếp theo sau vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ở Berlin.
Sau khi nhận được thư trả lời từ CSVN về sự việc ông Trịnh Xuân Thanh, chính phủ Đức đã  ra quyết định vào ngày 22.9 tạm thời đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược giữa Đức và Việt Nam, đồng thời trục xuất thêm 1 cán bộ ngoại giao tại Đại sứ quán Việt Nam ở Berlin.
Cùng ngày Đại sứ quán Đức ở Hà Nội đã lập tức phổ biến trên trang web và Facebook của mình Thông cáo báo chí của Bộ Ngoại Đức về những quyết định kể trên.
Thông báo cho biết: “Vì lí do cho tới nay phía Việt Nam hoàn toàn không đáp ứng các yêu cầu của chúng tôi cũng như không thừa nhận việc vi phạm pháp luật và phá vỡ lòng tin nên chúng tôi buộc phải áp dụng các biện pháp tiếp theo. Vì vậy, ngày hôm qua, trong buổi làm việc với Đại sứ Việt Nam tại trụ sở Bộ Ngoại giao chúng tôi đã thông báo với phía Việt Nam về việc sẽ tạm dừng mối quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng tôi đã quyết định trục xuất thêm một cán bộ của Đại sứ quán Việt Nam. Người này có 4 tuần để cùng gia đình rời khỏi nước Đức.” 
Tờ ThờiBáo.de hôm Thứ Ba 26.9 đưa tin, lịch ghi danh phỏng vấn xin visa với thời hạn trên 90 ngày cho người Việt Nam đi học hoặc đi làm việc tại Đức đã bị đóng băng ít nhất tới hết tháng 1 năm 2018 mà không có lời giải thích.
Sự việc này cũng khiến các sinh viên, học sinh đang du học và công nhân Việt Nam đang làm việc tại Đức xôn xao lo lắng. Họ không biết tình trạng căng thẳng quan hệ giữa hai nước có làm ảnh hưởng đến công việc cũng như tình trạng cư trú của họ hay không.
Vẫn theo tờ ThờiBáo.de, một đoàn công tác gần 20 người tháp tùng chủ tịch một tỉnh ở miền Bắc Việt Nam vừa bị từ chối cấp visa sang Đức vào dịp cuối tháng 9. Tờ báo không cho biết đây là tỉnh nào, nhưng nói rằng đoàn này sang Đức để tham dự một hội nghị giới thiệu và kêu gọi đầu tư để tạo việc làm cho người dân tỉnh nhà.
Được biết hội nghị tại Việt Haus Berlin vào ngày 2 tháng 10 sắp tới sẽ không diễn ra như dự định.

Huy Lam

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2017

Con gái Võ Kim Cự bị tố mở lâu đài karaoke trên đất cưỡng chế của vợ chồng thầy giáo


Con gái Võ Kim Cự bị tố mở lâu đài karaoke trên đất cưỡng chế của vợ chồng thầy giáo
Một đoàn sư sãi cúng bái cùng sính lễ ê hề bên trong, còn bên ngoài cảnh sát thuộc nhiều sắc phục trang bị tận răng bảo vệ trật tự.
Đó là quang cảnh được nhà hoạt động Thảo Teresa mô tả hôm Thứ Bảy 23/09 trên Facebook, về lễ khai trương nhà hàng karaoke nguy nga như tòa lâu đài của con gái ông Võ Kim Cự. Cơ sở Karaoke Ruby Hà Tĩnh do bà Võ Thị Tú Hương đứng tên, tọa lạc ngay trung tâm thành phố Hà Tĩnh, hiện là tâm điểm chú ý của dư luận trong mấy ngày vừa qua.
Theo Facebooker Phạm Việt Thắng, bà Tú Hương chỉ được mời tham gia dự án, còn con gái ông Cự là Võ Thị Thủy, phó chủ tịch Hội Liên Hiệp Phụ Nữ tỉnh Hà Tĩnh, mới là chủ nhân thật sự của lâu đài karaoke này. Ông Cự nguyên là bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh, người chịu trách nhiệm mang nhà máy thép Formosa vào tỉnh này. Ông Cự trong mấy tháng qua liên tục mất hết mọi chức vụ do bị ban bí thư trung ương đảng cộng sản kỷ luật.
Theo VietNamNet, mảnh đất tòa lâu đài karaoke tọa lạc vốn là đất hương hỏa của bà Nguyễn Thị Oanh và chồng là ông Thái, một thầy giáo trường trung học Phan Đình Phùng. Từ năm 2005, chính quyền thành phố Hà Tĩnh thu hồi đất của gia đình bà Oanh cho một dự án làm đường. Các biện pháp thu hồi còn bao gồm gửi thư đến trường của ông Thái, yêu cầu cho ông nghỉ việc để tạo áp lực buộc giao đất. Sau khi gia đình ông đi tái định cư và ông Thái đã tạ thế, vợ ông tiếp tục khiếu nại khắp nơi nhưng không có kết quả. Đến năm 2015, bất ngờ thành phố Hà Tĩnh giao mảnh đất cho một công ty tư nhân với quyền khai thác 50 năm.
Bà Oanh nói với VietNamNet hồi giữa tháng 8 vừa qua rằng, gia đình bà đang sinh sống yên ổn bỗng nhiên thành phố lấy đất để làm dự án, nay chẳng thấy dự án đâu, chính quyền lại sử dụng đất của gia đình bà cho doanh nghiệp thuê để xây dựng nhà hàng.
Ảnh: Facebook Thảo Teresa
Huy Lam / SBTN

Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

Bài học từ thành công của bà Giao Phan, lãnh đạo đóng 3 hàng không mẫu hạm tối tân nhất Hoa Kỳ


E-mail
Print

                   Qua câu chuyện cuộc đời của bà Giao Phan, Việt Nam có thể rút được các bài học sau:

1- Người Việt Nam khi ra học tập và sinh sống ở nước ngoài cũng có khả năng tranh đua ngang ngửa với các sắc dân khác.
2- Việt Nam cần củng cố cấp giáo dục đại học 4 năm là then chốt.
3- Việt Nam cần hủy bỏ qui định cho lãnh đạo các cơ quan thực hiện mọi đề án quốc kế dân sinh được hưởng 10% ngân sách.
4- Việt Nam cần minh bạch trong tuyển dụng, hữu hiệu trong huấn luyện và chăm lo đời sống công nhân viên.
5- Việt Nam cần quản trị hữu hiệu mọi công trình.

 Cách nay khoảng 10 năm, hai tác giả Việt Nam viết quyển sách dầy đề cập chuyện một người Việt Nam xây Tử Cấm Thành Bắc Kinh của Trung Hoa. Tôi quí hai tác giả nên có mua ủng hộ một cuốn, tuy nhiên tôi không đọc vì chuyện đó theo tôi có vẻ không tưởng. Bây giờ đài tiếng nói Hoa Kỳ VOA, ngày 23/08/2017, cũng loan một tin tương tự, "Nữ TGĐ gốc Việt điều hành đóng hàng không mẫu hạm hiện đại nhất thế giới", khiến cá nhân tôi và rất nhiều người Việt hay gốc Việt khác thấy vui, và tự hào. Nhưng cũng có không ít người không tin. Một facebooker tên Thuy Bich Le viết "Tôi đã đọc bài trên nhiều lần như vẫn không tin có một người phụ nữ VN như thế..."Một facebooker khác là Tong T Le San Jose, California lại tỏ không tin và coi thường vì thấy bằng cấp của bà Giao Phan không cao. Người này không nhận định mà chỉ viết mỉa mai ngắn gọn "Thac si????". Một facebooker khác có tên Andrew Nguyễn viết mạnh bạo hơn "Quí vị có nghĩ Hải Quân Mỹ giao việc đóng 3 HKMH tối tân nhất thế giới, mỗi chiếc 14 tỉ dollars, cho 1 phụ nữ gốc VN mà bằng cấp căn bản là kỹ sư công chánh (4 year college), có lẽ chưa từng đi xuồng chớ đừng nói chi tới việc điều hành 1 chiến hạm Mỹ???... có lẽ mình cũng nên tự hỏi liệu các tướng lãnh HQ Mỹ có ngu ngơ đến mức như được mô tả trong bản tin không?"
 
Nhưng ngày nay có google, internet và các trang mạng (websites) nên rất dễ kiểm chứng. Và rõ ràng là không phải chỉ trang mạng của VOA tiếng Việt viết về bà Giao Phan mà một số trang mạng của Hải quân Hoa Kỳ cũng có bài và hình ảnh về bà Giao Phan. Ví dụ trang mạng http://www.secnav.navy.mil/donhr/About/Senior-Executives/Biographies/Phan,%20G.pdf ghi rõ "Giao Phan Executive Director Program Executive Office for Aircraft Carriers" Giao Phan Tổng Giám Đốc Chương Trình Hàng không mẫu hạm "PEO". Trang mạng của Lực lượng Tuần Duyên Hoa kỳ (U.S. Coast Guard) http://www.uscg.mil/hq/CG9/aboutus/pdf/Bios/Phan_Bio_Mar2013.pdfghi "Bà Giao Phan-Phó giám đốc chương trình mua sắm của lực lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ" (Ms. Giao L. Phan Deputy Director of Acquisition Programs U.S. Coast Guard.) Một trang mạng khác http://www.alamy.com/stock-photo-giao-phan-executive-director-of-program-executive-office-for-aircraft-142811137.html có hình ảnh một buổi lễ trang nghiêm kỷ niệm tháng di sản Người Mỹ gốc châu Á được tổ chức tại Bộ tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ ở Thủ đô Washington D.C. ngày 28 tháng 5, 2015, trong đó bà Giao Phan được giới thiệu là Tổng giám đốc chương trình đóng Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ (executive director of Program Executive Office for Aircraft Carriers) đăng đàn chia sẻ những bài học và kinh nghiệm thành công trong cuộc đời của bà cho các tham dự viên (An Asian American Pacific Islander Heritage Month event was held at Commander, Navy Installations Command Headquarters at the Washington Navy Yard, May 28, 2015.)
 
 
Vị trí hiện nay của bà là thứ nhì trong cơ quan. Bà cho biết "Người lãnh đạo cơ quan của tôi là một vị tướng 2 sao của Hải quân là Đề đốc Brian Antonio. Tôi là vị phó của vị này, đứng vị trí thứ hai, là quan chức dân sự cao cấp nhất trong tổ chức, với chức vụ tạm dịch là Tổng Giám đốc Điều hành." Tuy nhiên, trong quân đội Hoa Kỳ, người chỉ huy hay lãnh đạo không bao giờ ở quá một nhiệm kỳ, và nhiệm kỳ ở cơ quan này là 5 năm. Nhưng người phụ tá như bà Giao Phan là thành phần chuyên viên không bị chi phối bởi nguyên tắc này, cho nên trong thực tế chính vị phụ tá này mới là người điều hành thực sự mọi công việc, và đó là nhiệm vụ thực sự của bà Giao Phan. Trang mạng của Hải Quân Hoa Kỳ http://www.secnav.navy.mil/donhr/About/Senior-Executives/Biographies/Phan,%20G.pdf ghi: Bà Giao Phan đảm nhận trách nhiệm Tổng Giám Đốc (Executive Director...) vào tháng 8-2013. Với tư cách là viên chức dân sự cao cấp nhất trong ban lãnh đạo, bà chịu trách nhiệm trông nom và quản trị (oversight and management) các nhân viên dân sự và quân sự, có trách nhiệm thực hiện một chương trình trị giá 40 tỉ đô la (executing a $40 billion acquisition portfolio). Trong số các chương trình bà chịu trách nhiệm trông nom, có chương trình thiết kế (design) và xây dựng (construction) những hàng không mẫu hạm lớp Ford (Ford-class aircraft carriers), và một số chương trình khác liên quan tới hàng không mẫu hạm mà tôi không dịch được vì không hiểu khá nhiều từ chuyên môn liên quan tới hàng không mẫu hạm. Tất cả những tài liệu đó khiến không ai còn có thể nghi ngờ vai trò lãnh đạo cao cấp của bà Giao Phan trong chương trình quan trọng của Hải Quân Hoa kỳ là đóng những hàng không mẫu hạm tối tân nhất thế giới.
 
 
Bà cho biết "Cơ quan của tôi đảm nhiệm tất cả các việc liên quan đến hàng không mẫu hạm, từ A tới Z. Từ lập kế hoạch, thiết kế, xây dựng, bảo trì, sửa chữa, tóm lại, từ đầu chí cuối." Để hiểu rõ tầm quan trọng của công việc xây dựng những hàng không mẫu hạm thế hệ Ford hiện nay, chúng ta nên biết rằng, theo phóng viên đài VOA, cho dù Hoa Kỳ không đóng thêm những hàng không mẫu hạm tối tân thế hệ Ford thì với những hàng không mẫu hạm thế hệ Nimitz Hoa Kỳ đang xử dụng, có thể trong 1 thập kỷ nữa cũng không nước nào sánh bằng được. Nhưng bà Giao Phan cho biết giới lãnh đạo Quân đội Hoa Kỳ có viễn kiến nhìn xa nhiều thập niên trong tương lai khi cho đóng những hàng không mẫu hạm tối tân loại mới hiện nay. Bà nói "Tổng Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ, ông John Richardson, đã tuyên bố rằng “Những lợi thế Hải quân Hoa Kỳ đang có hiện nay từ Thế chiến II sẽ nhanh chóng biến mất nếu chúng ta không quyết tâm tận dụng triệt để các tiến bộ tuyệt đỉnh về kỹ thuật. Chúng ta không thể chờ 10 năm hay 15 năm sau, mà phải bắt đầu áp dụng các sáng kiến ngay từ bây giờ. Chúng ta phải có chiến hạm có nhiều khả năng về tác chiến, cần phải có hệ thống thám thính tối tân hơn, đạn dược phải bắn xa hơn, có các vũ khí, năng lượng để Hải quân Hoa Kỳ tiếp tục giữ vị trí hàng đầu thế giới”.
 
Chính tầm nhìn xa của giới lãnh đạo quân lực Hoa Kỳ đã được cơ quan do bà Giao Phan lãnh đạo biến thành hiện thực với 3 hàng không mẫu hạm thế hệ Ford mà chiếc đầu tiên USS Gerald R. Ford đã được chính thức đưa vào xử dụng ngày 21-7.
 
 
 

Chiếc thứ hai là hàng không mẫu hạm USS Kennedy đã đạt hơn 30% tính tới cuối tháng 8. Thêm nữa, ngày 24-8 theo dự kiến sẽ diễn ra lễ khởi công đóng hàng không mẫu hạm USS Enterprise, còn gọi là CVN-80. Theo bà Giao Phan, trên chiếc hàng không mẫu hạm USS Gerald R. Ford có khoảng 4.600 người.

Từ thành công và vai trò quan trọng của bà Giao Phan trong Hải Quân Hoa Kỳ, Việt Nam có thể rút được một số bài học.

Trước tiên, từ câu chuyện của bà Giao Phan khiến tôi tin việc một người Việt Nam chỉ huy xây dựng Tử Cấm Thành Bắc Kinh là điều có thực theo sách sử Trung Hoa. Nhưng theo tôi điều chúng ta nên sòng phẳng ở đây là không nên vì thế mà viết tạo cho người đọc có cảm tưởng rằng người Việt dậy người Tầu xây Tử Cấm Thành Bắc Kinh, mà chúng ta có thể suy ra rằng cũng như bà Giao Phan, họ đều là người đã nhập tịch và đã được học tập văn hóa, kỹ thuật bản xứ để đóng góp xây dựng quốc gia với tư cách người bản xứ (Trung Hoa và Hoa Kỳ, ở 2 trường hợp).

Bài học thứ hai là với ngân sách 40 tỉ hàng năm, nếu ở VN thì bà Giao Phan và ông xếp của bà đương nhiên được hưởng theo qui định 10% là 4 tỉ. Nếu chúng ta biết để đóng 1 chiếc hàng không mẫu hạm tối tân nhất thế giới như vậy chỉ tốn có 14 tỉ đô la; và thêm nữa, theo tờ Washington Post chỉ với ngân khoản $1.6 tỷ là đủ để tài trợ xây đoạn tường biên giới và hàng rào dài 74 dặm, thì sẽ thấy 4 tỉ đô to như thế nào. Như vậy nhà cầm quyền VN cần rút kinh nghiệm từ bài học này mà hủy bỏ qui định cho các giới chức lãnh đạo cơ quan chủ đầu tư (tức cơ quan nhà nước) được hưởng 10% của mọi dự án quốc kế dân sinh thì sẽ tiết kiệm được ngân sách nhiều lắm. Nếu mọi cơ quan chủ đầu tư đều được hưởng 10% trị giá kế hoạch như hiện nay thì tất cả mọi cơ quan đều có khuynh hướng lập kế hoạch dưới chiêu bài xây dựng cho dù không cần thiết, để hưởng lợi cá nhân. Điều này khiến chi tiêu công ngày càng phình to và kết quả như ai cũng thấy là hiện nay ngân sách đã kiệt quệ.

Bài học thứ ba là bà Giao Phan chỉ có bằng kỹ sư công chánh (civil engineer), một văn bằng đại học 4 năm và không phải là khó học. Với văn bằng này, nói chung, ở Mỹ kiếm việc cũng không dễ và khi có việc lương cũng không cao so với các kỹ sư khác. Mãi 16 năm sau, 1997, bà Giao Phan mới học lấy bằng thạc sỹ quản lý của Viện Công nghệ Florida. Bà chỉ học thạc sĩ để tăng tiến khả năng, không học để chạy chức. Có lẽ không ít người Việt trong nước thấy vậy có vẻ coi thường bà Giao Phan. Nhưng nếu họ biết rằng, tại tất cả các quốc gia tiên tiến, Miền Nam trước kia cũng vậy, hầu hết mọi công việc cao nhất đều chỉ đòi hỏi có văn bằng 4 năm đại học. Ở miền Nam trước 1975, trong ngạch công chức có ba hạng, mà hạng A, cao nhất, là những người có bằng đại học 4 năm. Bằng tiến sĩ chỉ dành cho những người thích nghiên cứu hay dậy đại học (dậy đại học ở Mỹ cũng thường là các nhà nghiên cứu). Nếu tìm hiểu những nhân vật lãnh đạo các cấp chính quyền và trong các công ty lớn (các CEO) ở các nước tiên tiến thì đa số cũng chỉ có bằng 4 năm đại học. Không nhiều người có bằng tiến sĩ. Vấn đề chính là đại học 4 năm có nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo những con người có đủ khả năng phục vụ xã hội (tư hay công) và vì thế nên tập trung hoàn thiện cấp giáo dục đại học 4 năm này thay vì theo đuổi đào tạo nhiều cấp tiến sĩ hay thạc sĩ gây lãng phí ngân sách, lãng phí tiền của, sức lực và thời gian của sinh viên, đồng thời tạo ra tệ nạn bằng giả hay bằng thật nhưng học giả.

Bài học thứ tư: Mặc dù chỉ có bằng đại học 4 năm, nhưng công chức, viên chức công hay tư ở các nước tiên tiến được thăng tiến và giao những trọng trách cao hơn là vì họ làm việc tận tụy (hardworking), có tinh thần hoạt động nhóm (team work), và biết lãnh đạo chỉ huy (leadership).

Làm việc tận tụy là điều cần thiết cơ bản của mỗi con người trong xã hội để có thể giữ được công việc (không bị sa thải) và có cơ may tiến thân (lên lương, lên chức). Một khả năng quan trọng nữa là phải biết làm việc tập thể. Tại Hoa kỳ, khi đi xin việc, sau khi được phỏng vấn về kinh nghiệm chuyên môn, ứng viên sẽ được hỏi kinh nghiệm làm việc tập thể tức là khả năng cộng tác với các đồng nghiệp. Mỗi sản phẩm được hình thành và hình thành với hiệu năng nhất, giá rẻ nhất, đúng thời hạn nhất phải là công trình của tập thể. Ngoài ra, một người muốn tiến lên cấp lãnh đạo lại còn cần có khả năng lãnh đạo (leadership). Với khả năng lãnh đạo tuyệt vời bà Giao Phan đã mau chóng lần lượt được giao trách nhiệm lãnh đạo qua các chức vụ như sau:

- 8/2013 đến nay: Tổng Giám đốc Điều hành, Cơ quan Điều hành Chương trình Hàng không Mẫu hạm, Hải quân Hoa Kỳ

- 11/2007-7/2013: Phó Giám đốc, Các Chương trình Mua sắm Trang thiết bị, Tuần duyên Hoa Kỳ

- 2006-2007: Phó Giám đốc Điều hành, Chương trình Hàng không Mẫu hạm Đang Hoạt động

- 2004-2006: Trợ lý Giám đốc Điều hành về đóng hàng không mẫu hạm mới thuộc lớp Nimitz

- Trước đó, bà là Giám đốc chuyên trách Hàng không Mẫu hạm và Tàu Đổ bộ, thuộc Văn phòng Trợ lý Bộ trưởng Hải quân (chuyên trách Nghiên cứu, Phát triển và Mua sắm Trang thiết bị)

Và trong vai trò lãnh đạo hiện nay bà Giao Phan có trách nhiệm:

1- Giúp Đề đốc Antonio lãnh đạo mọi hoạt động của tất cả các giám đốc điều hành chương trình; hỗ trợ mọi công việc, từ ngân sách do giám đốc tài chính chuyển giao, cho tới giao tiếp với Quốc hội và công chúng.

2- Điều khiển mọi chương trình hoạt động, giúp đỡ các giám đốc điều hành giải quyết những công việc phức tạp.

Và quan trọng hơn hết là bà Giao Phan có thêm trách nhiệm:

3- Bảo đảm khả năng nhân viên trong cơ quan được tận dụng triệt để, các nhu cầu của họ được đầy đủ; tuyển dụng, huấn luyện, giúp đỡ tất cả nhân viên.

Để thực hiện tốt trách nhiệm đối với nhân viên (trách nhiệm thứ 3), bà Giao Phan cho biết, một trong năm ưu điểm của hàng không mẫu hạm mới mà chưa quốc gia nào khác trên thế giới có thể làm được là lo đầy đủ cho đời sống của các thủy thủ trên hàng không mẫu hạm. Bà nói, "Cuối cùng, một cái rất quan trọng nữa là chúng tôi không quên chăm sóc cho hàng ngàn thủy thủ làm việc ngày đêm trên chiến hạm. Nên hệ thống máy lạnh cũng tối tân được trang bị trên chiếc Ford để thủy thủ có thể có một nơi ăn ở cho thoải mái, có thể hít thở không khí trong lành mà không bị hại môi trường."

Bài học thứ năm: Quản trị hữu hiệu.

Quản trị hữu hiệu là phải tạo ra sản phẩm tốt nhất, không đội giá, và không chậm tiến độ. Bà Giao Phan cho biết, "Thử thách khó khăn nhất đối với tôi trên đoạn đường dài mấy năm qua là làm sao có thể xây được một chiến hạm tối tân nhất trên thế giới với những hệ thống công nghệ và máy móc mà vẫn giữ được trong ngân quỹ được ấn định, mà phải bàn giao cho quân đội Hoa Kỳ đúng kỳ hạn". Về vấn đề này Việt Nam còn cần phải học nhiều từ tấm gương của bà Giao Phan.

Tóm lại, nghiên cứu kỹ hoạt động của bà Giao Phan, Việt Nam sẽ học được 5 bài học quí giá như tôi đã giới thiệu lúc đầu.

Tham khảo:
https://www.voatiengviet.com/a/tgd-goc-viet-dieu-hanh-dong-tau-san-bay-hien-dai-nhat-the-gioi/3997200.html
Theo Dòng Sự Kiện:
Nguyễn Tường Tâm

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017

Ai cũng nói uống nước chanh vào buổi sáng rất tốt nhưng họ quên chưa nói cho bạn biết điều này…


– Ai cũng nói là uống nước chanh vào mỗi buổi sáng rất tốt cho sức khỏe, những vẫn chưa nói cho bạn điều này. Thật là quá phí nếu bạn chưa biết nhé!…

- nuocchanhtuoi - Ai cũng nói uống nước chanh vào buổi sáng rất tốt nhưng họ quên chưa nói cho bạn biết điều này…
Có thể bạn đã nghe hoặc đọc ở đâu đó rằng uống nước chanh lúc bụng đói vào buổi sáng cực tốt cho sức khỏe, nhưng có thể bạn chưa biết một số lợi ích khác của loại đồ uống này.
Vì sao các chuyên gia khuyên bạn nên uống 1 li nước chanh buổi sáng? Vì sao nước chanh thực sự tốt cho sức khỏe? Đó là vì chanh giàu các chất chống oxy hóa, flavonoid, protein, vitamin B, C, kali. Nước chanh sẽ tăng cường hệ miễn dịch và giúp chống viêm nhiễm. Bạn có thể thanh lọc cơ thể hết mọi độc tố nếu uống nước chanh lúc bụng đói mỗi buổi sáng, đồng thời giúp cơ thể cân bằng pH. Ngoài ra, nó còn giúp bạn giảm cân nữa đấy.
Và đây là một số lợi ích khác của việc uống nước chanh vào buổi sáng mà nhiều người không biết, theo Healthyadviceteam:
Giảm đau cơ
Những cơn đau cơ sẽ biến mất nếu bạn bắt đầu uống nước chanh sau những buổi tập nặng.
Giảm axit uric
Khối lượng axit uric trong khớp có thể được giảm nếu bạn uống nước chanh, qua đó giúp giảm viêm. Vì thế nếu bạn bị đau khớp, bạn nên uống nước chanh thường xuyên.
Trị mụn
Vấn đề mụn có thể được giải quyết với việc uống nước chanh mỗi sáng vì nó giúp điều tiết axit trong cơ thể.
Giảm cân
Như chúng tôi đã nói, nước chanh có thể giúp giảm cân vì nó sẽ giúp bạn có cảm giác no lâu. Ngoài ra, nó còn kiểm soát mức đường huyết.
Tăng cường hệ miễn dịch
Nước chanh giúp tăng cường hệ miễn dịch và giúp ngừa cảm cúm.
Một li nước chanh lúc bụng đói mỗi sáng đem lại vô số lợi ích – Ảnh minh họa: InternetTrị viêm phế quản có đờm và kiệt sức
Những người bị viêm phế quản có đờm và kiệt sức nên uống nước chanh thường xuyên.
Chữa viêm ruột kết
Sự mất cân bằng axit và kiềm trong cơ thể gây viêm ruột kết. Nước chanh giúp cân bằng độ PH, vì thế uống nước chanh là một trong những cách tốt nhất để trị viêm ruột kết.
Giảm viêm
Nước chanh có thể trung hòa axit và giảm viêm nhờ đặc tính chống viêm.
Móng tay chắc khỏe
Nước chanh giúp móng tay chắc khỏe. Nếu bạn có các đốm trắng trên móng tay, vấn đề này sẽ biến mất nếu bạn bắt đầu uống nước chanh.
Giảm đau do sỏi bàng quang
Cơn đau do sỏi bàng quang gây ra có thể giảm nhiều nhờ uống nước chanh.
Ngừa sỏi thận
Trong chanh có nhiều kali. Kali giúp tăng lượng citrate trong nước tiểu, điều này sẽ ngăn sự hình thành oxalate và giúp tống xuất sỏi thận.
Ngăn cơn thèm rượu
Việc thèm rượu có thể chấm dứt bằng cách uống nước chanh.
Ngừa táo bón
Với nước chanh, bạn có thể phòng ngừa và chữa táo bón vì nó kích thích nhu động ruột.
Ngừa ngộ độc thực phẩm
Bạn có thể tránh ngộ độc thực phẩm bằng cách uống nước chanh.
Với những lợi ích này, còn chờ gì mà không bắt đầu uống nước chanh lúc sáng sớm ngay hôm nay?

Theo Phụ nữ và gia đình

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

LÀNG XÃ VIỆT NAM

LÀNG XÃ VIỆT NAM
 
      Nhiều bà con thắc mắc  sao các Hội Đồng hương lại cứ lấy tên “làng” : làng Ưu Điềm, làng Phước Tích, làng Đại Lộc, làng Kế Môn,…mà không lấy tên “xã” : xã Phong Hòa, xã Điền Lộc hay xã Điền Môn,…Mặt khác, khi nói hội đồng hương “Phong Điền” (chỉ vùng đất Phong Điền)  nghe có vẻ “gần gủi” hơn là hội ĐH “huyện Phong Điền”. Điều đó hẵn là xuất phát từ nguyên do “biểu thị tình cảm” của con người đối với quê hương xứ sở chăng. Website donghuongphongdien.com xin được giới thiệu loạt bài sau đây của tác giả PHẠM NHÂN ĐỨC, là người con của quê hương Phong Điền (làng Vĩnh Xương, xã Điền Môn) về vấn đề liên quan tới lịch sử và văn hóa này.

1
LÀNG XÃ VIỆT NAM - MỘT VÀI KHÁI NIỆM

          Về tên gọi:
1. Làng: 
“Làng” là danh từ (theo tiếng Nôm), dùng để chỉ đơn vị tụ cư nhỏ nhất nhưng chặt chẽ và hoàn thiện nhất của người Việt. Trong buổi đầu được gọi là các Kẻ, Chạ, Chiềng của người Việt cổ, về sau được gọi là Làng, còn ở khu vực miền núi được gọi là Bản, Mường, Buôn, Plei, Plum, Đê,…
2. Xã:
“Xã” là danh từ (theo tiếng Hán) có nơi gọi là Thôn, dùng để chỉ đơn vị hành chính thấp nhất của nhà nước Phong kiến ở các vùng nông thôn Việt Nam xưa. Ngày nay tên gọi xã vẫn dùng để chỉ đơn vị hành chính địa phương cở sở ở nông thôn.
3. Mối quan hệ:
Thông thường một “xã” bao gồm một hoặc nhiều “làng”, làng là đơn vị cấu thành của xã, đôi lúc mỗi xã chỉ có một làng (xã ngang bằng với làng).
Trường hợp một xã gồm nhiều thôn, thì thôn là phân thể hành chính của xã nhưng không có tư cách pháp nhân. Trường hợp xã tương đương với thôn thì thôn mang tính chất độc lập và nó cũng có tư cách pháp nhân là đơn vị hành chính địa phương, cơ sở của nhà nước TW.
Tuy có trường hợp xã tương đương với làng, nhưng xét về sắc thái, ý nghĩa thì giữa chúng vẫn có sự khác biệt: làng mang tính chất truyền thống, được sử dụng để biểu thị tình cảm, còn xã mang ý nghĩa về mặt hành chính, thường được sử dụng trên giấy tờ.
Trong trường hợp thôn có tư cách pháp nhân giống như xã thì người ta gọi ghép là xã thôn. Do có nhiều xã chỉ gồm có một làng duy nhất nên người ta gọi chung là làng xã. Do làng là một tập hợp bao gồm nhiều xóm nên người ta gọi là làng xóm.
Trong lịch sử Việt Nam có lúc còn thấy xuất hiện các danh từ Hương, Ấp (đều là những từ Hán), trong đó Hương tương đương với Làng, có lúc nó được dùng để chỉ đơn vị hành chính thuộc ngoại thành của kinh đô Thăng Long, nhưng có lúc tên gọi Hương lại được dùng để chỉ cấp hành chính trên cấp xã, cũng có khi là một tên gọi dùng để chỉ quê hương của nhà vua.
Tên gọi Ấp thường được sử dụng nhiều trong các đơn vị cư trú ở Nam Bộ, nó tương đương với đơn vị Thôn (vì lí do những đơn vị tụ cư và khai phá sinh sống ở đây có số lượng ngườ ít, không đủ qui mô để được gọi là xã, và có trường hợp ảnh hưởng đơn vị tụ cư của người Hoa).

 
*Quá trình ra đời và phát triển làng xã ở Việt Nam:
Khi con người nguyên thủy sống du canh du cư thì xóm làng không thể ra đời. Khi nghề nông xuất hiện cùng với sự phát triển của nghề trồng lúa nước, thì xóm làng mới được xúc tiến hình thành và phát triển. Con người tiến từ vùng thượng du về đông bằng để làm nông nghiệp, chuyển từ quan hệ huyết thống sang quan hệ láng giềng - địa vực. Họ dần biết hợp tác trong công tác khai phá đất đai, đào kênh mương tưới nước, đắp đê chống lũ…, những công việc không thể thực hiện bởi một người hay một gia đình. Sự cố kết ấy đã tạo ra đơn vị tụ cư nhỏ đó là Xóm, xóm phát triển rộng ra hình thành nên làng, làng xóm buổi đầu của người Việt là các kẻ chạ, chiềng… với quan hệ láng giềng - địa vực và chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất (tức là các Công xã nông thôn).
Sự cố kết của ba nhu cầu: đoàn kết để chống ngoại xâm, hợp tác để làm thủy lợi, và công tác trị thủy, đã hình thành nên quốc gia sơ khai của người Việt trên lưu vực sông Hồng, sông Mã đó là nhà nước Văn Lang của các vua Hùng. Sau khi ra đời nhà nước lấy các kẻ chạ làm đơn vị hành chính cho mình, và làng xã trở thành đơn vị hành chính nhỏ nhất trong xã hội sơ khai của người Việt.
Các kẻ chạ có cơ sở kinh tế là các Công xã nông thôn (CXNT). Trong các CXNT phần lớn ruộng đất thuộc sở hữu công của làng xã, người nông dân công xã cày cấy trên ruộng đất công của làng xã, sau đó trích một phần hoa lợi nộp lên trên cho nhà nước và bộ máy điều hành của làng xã. Do đó người nông dân Việt Nam có sự cố kết rất chặt chẽ, có tinh thần tự trị, tự quản rất cao, trở thành một pháo đài xanh, núp sau lũy tre làng chống lại sự đồng hóa của phong kiến phương Bắc sau hơn ngàn năm đô hộ. Bởi lẽ sau hơn ngàn năm đô hộ, chính quyền phương Bắc chưa bao giờ đặt được ách cai trị và nắm được các cơ sở kinh tế của làng xã (các CXNT), các kẻ chạ vẫn là bầu trời riêng của người Việt.
Tên gọi “Xã” được nhà Đường du nhập vào Việt Nam, danh từ “Làng” trong tiếng Việt đã thay thế cho các từ Kẻ, Chạ… thời xưa cũ. Như vậy, xã là danh từ ngoại nhập và nó chỉ thực sự được sử dụng để chỉ đơn vị hành chính cấp cơ sở của nhà nước từ thời họ Khúc (thế kỉ X) trở đi.
Trong lịch sử phát triển, làng xã Việt Nam đã qua 3 lần biến đổi lớn: lần thứ nhất vào thế kỉ XV, do chính sách “quân điền” của Lê Thánh Tông, nhằm chia ruộng đất cho nông dân cày cấy, đã phá vỡ sự tồn tại của ruộng đất công làng xã. Lần thứ hai vào thời Pháp thuộc, do chủ trương “cải lương hương chính” của thực dân Pháp đã làm thống nhất bộ máy quản lý làng xã. Lần thứ ba vào nửa sau thế kỉ XX, do chủ trương xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, đã làm hiện đại hóa làng xã cổ truyền, mặt trái đã làm mất đi những di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) cổ truyền của làng xã vốn được xây dựng từ hàng ngàn năm qua.

2

CÁCH THỨC THÀNH LẬP VÀ DIỆN MẠO
CỦA LÀNG XÃ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
1.    Cách thức thành lập:

Trước tiên, khi con người nguyên thủy sống trong các công xã thị tộc, thì xóm làng chưa ra đời. Khi nghề nông xuất hiện cùng với sự phát triển của nghề trồng lúa nước, con người chuyển từ quan hệ huyết thống sang quan hệ láng giềng - địa vực. Họ tiến từ vùng thượng du về đông bằng để khai phá đất đai làm nông nghiệp, tạo ra sự “cộng cư” của những người nông dân trong từng nhóm nhỏ. Họ dần biết hợp tác trong công tác khai hoang, đào kênh mương tưới nước, đắp đê chống lũ…, những công việc không thể thực hiện bởi một người hay một gia đình, đã hình thành nên các công xã nông thôn với tên gọi ban đầu là các kẻ, chạ, chiềng…, sau đổi gọi là làng, rồi tới làng xã, đó chính là cách thức thành lập của những làng xã cổ xưa.
Cách thức thứ hai đó là “lệ tách xã”: từ những ngôi làng ban đầu, càng về sau khi dân số ngày một gia tăng, để tiện cho công tác quản lí, nhà nước cho phép tách xã lớn thành các làng xã nhỏ hơn, nên gọi là “lệ tách xã” theo yêu cầu của nhà nước. Thời Lê Thánh Tông, chia làm ba loại xã: Đại xã (trên 500 hộ), Trung xã (trên 400 hộ), Tiểu xã (trên 100 hộ).
 Cũng có khi trong nội bộ của làng xã, do yêu cầu cấp thiết của việc mưu sinh, những người dân trong làng xã xin phép nhà nước được tách ra thành những làng xã mới bên cạnh làng xã cũ (tên gọi của các làng xã này thường lấy tên gốc của làng xã cũ cộng vào tên mới của vùng đất hoặc tên của một họ tộc nào đó), gọi là “lệ tách xã” theo nhu cầu của làng xã. 
Cách thứ ba: Trong trường hợp dân số quá đông mà đất đai sinh sống và canh tác lại chật hẹp, thì một bộ phận nông dân làng xã đi tìm chỗ tụ cư mới, dần dần khi đủ số dân đinh thì họ xin nhà nước được lập làng xã mới (thường gọi là làng Tân Lập). 
Thứ tư: do chủ trương khẩn hoang lập đồn điền, hoặc lập điền trang, thái ấp, của nhà nước (hoặc bộ phận quý tộc), nên có một số làng xã được hình thành theo cách này.
Thứ năm: Do sự dịch chuyển của cộng đồng cư dân trong công cuộc khẩn hoang (chủ yếu là quá trình Nam tiến của người Việt). Sự dịch chuyển về Nam của cộng đồng người Việt được đánh dấu qua các sự kiện lớn: Vào năm 1069, sau khi Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành, lấy được ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh (phần lớn tỉnh Quảng Bình ngày nay). Sự kiện năm 1306, đám cưới của công chúa Huyền Trân với vua Chămpa là Chế Mân, đổi được hai châu Ô, Rí (từ bắc Quảng Trị đến phía bắc sông Thu Bồn – Quảng Nam). Sự kiện năm 1471, khi vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành, miền bắc của Chiêm Thành (từ Quảng Nam đến đèo Cù Mông - Phú Yên) được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Sự kiện năm 1558 khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, (đây là lần dân cư vào đông nhất, các làng xã ở Miền Trung chủ yếu được lập vào thời kì này), rồi các sự kiện năm 1611 (lập phủ Phú Yên), năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định… 
Thứ sáu, một số làng xã ra đời do chủ trương lập ấp trại của chính quyền đô hộ phương Bắc (thời Bắc thuộc và Minh thuộc).
Như vậy, làng xã Việt Nam ra đời với nhiều cách thức, lí do khác nhau, tuy nhiên chỉ có hai cách chủ yếu đó là cách thứ nhất, sự chuyển hóa từ công xã thị tộc sang công xã nông thôn (các làng xã cổ xưa) và cách thứ năm, sự dịch chuyển của cộng đồng cư dân về Nam (Nam tiến), các làng xã ở huyện Phong Điền ( TT Huế) chủ yếu được thành lập theo con đường này.
 
2.    Diện mạo của làng xã cổ truyền Việt Nam:


Diện mạo của làng xã được quy đinh bởi các thiết chế được hình thành từ bên trong làng xã. Đó là các thành tố tạo nên diện mạo:
·                        Cổng làng
·                        Cây đa đầu làng
·                        Bến nước
·                        Giếng làng
·                        Đình làng (ra đời từ thế kỉ XV)
·                        Hương lộ (đường làng)
  .             Lũy tre làng
  ·                        Xóm
  ·                        Ngõ
  ·                        Nhà ở
  ·                        Chùa làng
   ·                        Nghè, đền, miếu
  ·                        Chợ làng
 ·                        Cổng phụ ( cổng sau)
·                        Cánh đồng làng
Trên đây là những thành tố tạo nên làng xã Việt Nam cổ truyền, trong một làng khó có thể hội đủ các yếu tố trên, có chăng chỉ là sự hiện diện của một số thành tố cơ bản như hương lộ, xóm ngõ, nhà ở, đình làng, đền miếu và một số yếu tố khác mà thôi.


                                                                PHẠM NHÂN ĐỨC

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017

Giáo sư luật Harvard: ‘Chưa thể nói Trịnh Vĩnh Bình thắng kiện’

Doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình đòi chính phủ Việt Nam bồi thường 1,25 tỷ USD.
Doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình đòi chính phủ Việt Nam bồi thường 1,25 tỷ USD.
RFA
Truyền thông mạng những ngày qua hồ hởi nhận định ông Trịnh Vĩnh Bình thắng trong vụ kiện đòi chính quyền Việt Nam bồi thường khoản tiền lên đến 1.25 tỷ USD.
Vụ kiện được cho là “thế kỷ” này có thật sự kết thúc chưa? Chính phủ Việt Nam cần phải làm gì hoặc rút ra bài học gì?

Thủ tục của vụ kiện đúng luật

Trước khi phiên toà diễn ra, khi còn được tiếp xúc với truyền thông một cách đúng luật, ông Trịnh Vĩnh Bình từng bày tỏ với RFA rằng ông tự tin sẽ thắng kiện trong vụ tái khởi kiện lần thứ hai này vì ông đã thực hiện đúng Hiệp thương giữa Hà Lan và Việt Nam. Ông cho biết là một doanh nhân sống và làm việc lâu năm ở Hà Lan, ông rất tôn trọng và giữ đúng những vấn đề liên quan đến luật lệ, khai thuế…
RFA đặt vấn đề về niềm tin thắng kiện của doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình với Giáo sư Tạ Văn Tài, nguyên giảng viên luật trường Đại học Harvard, ông cho biết chính khi vụ kiện diễn ra, ông cũng cho rằng “khả năng thắng kiện là có.”
“Đúng thế. Cái thế mạnh về thủ tục của ông Trịnh Vĩnh Bình là ổng đã đầu tư dựa vào Hiệp định Thương mại đầu tư giữa Việt Nam và Hà Lan. Hiệp định này chắc chắn đã qui định rằng nếu có tranh chấp thì đưa ra Toà Trọng tài Quốc tế. Ông ấy đi theo đúng hiệp định  đó mà làm vụ kiện nên có những đường đi chắc chắn về thủ tục”.
Vào đầu những năm 1990, ông Trịnh Vĩnh Bình từ Hà Lan về Việt Nam đầu tư vào một số dự án ở Sài Gòn và một số tỉnh phía Nam.
EC5D031A-2A06-4C29-9444-D63C1953F488_w900
Bộ sưu tập xe của ông Trịnh Vĩnh Bình RFA
"Ông ấy đi theo đúng hiệp định  đó mà làm vụ kiện nên có những đường đi chắc chắn về thủ tục" - GS Tạ Văn Tài
Cho đến năm 1998, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu bắt ông Trịnh Vĩnh Bình với cáo buộc đưa hối lộ và vi phạm các qui định về quản lý- bảo vệ đất đai. Ông bị tuyên án 11 năm tù sau đó và tòa buộc ông Trịnh Vĩnh Bình phải đóng tiền phạt và tịch thu toàn bộ tài sản của ông ở Việt Nam.
Vào năm 2000, ông vượt thoát khỏi Việt Nam trở về lại Hà Lan.
Năm 2003, ông Trịnh Vĩnh Bình khởi kiện nhà nước Việt Nam tại Trung Tâm Trọng Tài Thương Mại ở Stockholm, Thụy Điển, đòi bồi thường trên 150 triệu đô la.
Tuy nhiên vào năm 2006, tại Singapore Việt Nam thương lượng với ông này ngưng vụ kiện và cam kết trả lại tài sản cũng như tạo điều kiện để ông Trịnh Vĩnh Bình trở lại đầu tư ở Việt Nam…
Thời điểm này, theo lời của Giáo sư Tạ Văn Tài, phía chính phủ Việt Nam, mà điển hình là một vài lãnh đạo cao cấp lúc đó cũng đã công nhận rằng cần phải trả lại số tài sản của doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình.
“Tức là ổng có một phần cái chính nghĩa mà chính Việt Nam hồi đó công nhận do lời khuyến cáo của các Thủ tướng Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Thị Bình chống lại các cường hào ác bá địa phương. Nhưng sau 7 năm không thấy thực hiện cái thoả ước ký tại Singapore nên ổng mới kiện lại.”
Trong một lần trả lời RFA những vấn đề liên quan đến vụ kiện, Giáo sư Nguyễn Vi Khải - thành viên Ban nghiên cứu, cố vấn Thủ tướng Phan Văn Khải khi đó, hiện là Viện phó Viện Nghiên cứu các vấn đề phát triển (VIDS) cho biết.
“Thủ tướng có văn bản gửi xuống cho các ngành an ninh, Bộ trưởng công an lúc đó là ông Lê Minh Hương, để xem xét sự việc và tìm nguyên nhân giải quyết theo luật pháp. Khoảng hai lần Thủ tướng yêu cầu Bộ Công An giải trình.”
Tuy nhiên những cam kết không được phía Việt Nam thực hiện nên đến năm 2014, ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định kiện Việt Nam lại lần nữa. Và lần này ông thuê Hãng luật Hoa Kỳ King & Spalding LLP cãi cho ông.
“Có đại diện ngoại giao Việt Nam nói chuyện với tôi. Tôi nói rằng muốn giữ thanh danh của chính phủ để quyến rũ tiếp tục giới đầu tư, thì nên giải quyết vụ Trịnh Vĩnh Bình một cách thoả đáng, nhất là theo thoả hiệp đã ký ở Singapore. Chính tôi đã nói với họ như vậy.” - GS Tạ Văn Tài

‘Chưa thể nói là thắng kiện’

Hôm 27 tháng 8, mạng xã hội tràn ngập hình ảnh và video của ông Trịnh Vĩnh Bình bước ra khỏi trụ sở Tòa Trọng Tài Quốc Tế, tại 112, đường Kleber, Quận XVI, Paris với gương mặt rạng rỡ và hai tay đưa cao dấu hiệu chiến thắng. “Vụ án thế kỷ” được nhiều người nhận định phần thắng nghiêng về phía doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình.
Tuy nhiên, Giáo sư luật Tạ Văn Tài không nghĩ như thế. Ông có cách phân tích dựa theo cơ sở luật pháp của Toà Trọng tài Quốc tế.
“Đồng bào ở hải ngoại suy đoán mà thôi rằng chiến thắng rồi thì tôi nghĩ là hơi vội vàng, vì có thể ông ấy đang hào hứng giơ tay thôi. Mà theo thủ tục trọng tài thì hai bên không được nói gì để còn đi đến thoả hiệp.
Trọng tài nghĩa là họ đâu có xử án theo kiểu toà án, mà họ nghe 1 bên xong rồi họ nghe bên kia, nhiều khi là mỗi người 1 phòng, rồi họ tìm cách họ hoà giải.
Nếu không hoà giải được lúc ấy họ mới đưa ra một bản án trọng tài.
Thế thì tôi nghĩ rằng nó chưa xong đâu, vì theo nguồn tin tôi biết, các bên còn phải nộp hồ sơ thêm. Mà nộp hồ sơ thêm nghĩa là chưa có bản án.”
"Tôi nghĩ rằng nó chưa xong đâu, vì theo nguồn tin tôi biết, các bên còn phải nộp hồ sơ thêm. Mà nộp hồ sơ thêm nghĩa là chưa có bản án.” - GS Tạ Văn Tài
Về phía chính phủ Việt Nam, cho đến chiều ngày 30 tháng 8, tại buổi họp báo chính phủ thường niên, Việt Nam lần đầu tiên lên tiếng thừa nhận về vụ kiện.
Bộ Trưởng-Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ, Phó Thủ tướng Mai Tiến Dũng, trả lời Báo Tuổi Trẻ trong nước rằng Việt Nam đang chờ phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc Tế ở Paris về vụ ông Trịnh Vĩnh Bình, một công dân Hà Lan gốc Việt, kiện chính phủ Hà Nội đòi bồi thường 1 tỷ 250 triệu đô la.
"Quan điểm của Chính phủ, Thủ tướng là tạo môi trường kinh doanh rất bình đẳng cho các doanh nghiệp nước ngoài vào trong nước. Hiện nay tòa án quốc tế đang xem xét, với việc tranh chấp, vi phạm điều luật. Như các báo đều biết, vì vấn đề bảo hộ đầu tư nên một địa phương, một cơ quan nào vi phạm hoặc không thực hiện đúng cam kết, không thực hiện đúng điều luật thì nhà đầu tư nước ngoài đều kiện Chính phủ. Vậy cho nên hiện nay vấn đề này tòa án đang xem xét, chúng ta phải đợi".

Chính phủ Việt Nam phải làm gì?

Theo dõi trên mạng xã hội, chúng tôi nhận thấy trong vụ kiện thế kỷ này, vấn đề được nhiều người tranh luận nhất là chính phủ Việt Nam nên làm gì ngay lúc này để hình ảnh và uy tín về môi trường đầu tư của Việt Nam với thế giới sẽ không bị ảnh hưởng?
Giáo sư Tạ Văn Tài nói rằng chính một vị đại diện ngoại giao Việt Nam cũng đặt vấn đề này với ông và hỏi về phương cách giải quyết tốt nhất lúc này. Thuật lại câu trả lời của mình, ông cho biết.
“Có đại diện ngoại giao Việt Nam nói chuyện với tôi. Tôi nói rằng muốn giữ thanh danh của chính phủ để quyến rũ tiếp tục giới đầu tư, thì nên giải quyết vụ Trịnh Vĩnh Bình một cách thoả đáng, nhất là theo thoả hiệp đã ký ở Singapore. Chính tôi đã nói với họ như vậy.”
Rất nhiều phản ứng trong dư luận cho rằng Việt Nam đã và sẽ chịu một dư âm rất xấu đối với thương trường quốc tế. Một số khác đặt câu hỏi rằng liệu với Hội nghị thượng đỉnh các nền kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương APEC 2017 sắp diễn ra cuối năm nay, Việt Nam sẽ hội nhập kinh tế toàn cầu và nhận sự ủng hộ của cộng đồng thương mại quốc tế như thế nào?