Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

Dân Chủ Như Một Giá Trị Toàn Cầu - Amartya Sen

 
Amartya Sen, đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1998, là giáo sư Kinh tế học tại đại học Trinity, Cambridge, và đại  Harvard. Bài tham luận dưới đây là diễn văn chính trong buổi hội thảo tại New Delhi về "Xây dựng Phong trào Dân chủ Toàn Thế giới" do Quỹ Yểm trợ Dân chủ Quốc gia, Liên minh Kỹ nghệ Ấn độ, và Trung tâm Nghiên cứu Chính sách (New Delhi) đồng tổ chức. Tham luận này dựa trên cuốn sách của tác già mang tựa đề "Phát triển chính là Tự do," do nhà Alfred Knopf ấn hành.

Vào mùa hè năm 1997, một nhà báo hàng đầu của Nhật Bản có hỏi ý kiến của tôi xem điều gì đáng được coi là quan trọng bậc nhất đã xảy ra trong thế kỷ 20. Tôi cảm thấy đây quả là một câu hỏi bất thường khiến cho ta phải suy nghĩ, vì trong thế kỷ qua có biết bao điều trọng đại đã xảy ra. Các đế quốc ở Âu châu, nhất là đế quốc Anh và Pháp từng một thời thống trị thế kỷ mười chín, nay đã chấm dứt. Chúng ta cũng đã chứng kiến hai cuộc đại chiến. Ta đã chứng kiến sự nổi dậy và suy tàn của chủ nghĩa Phát-xít và Quốc xã. Thế kỷ này cũng chứng kiến sự nổi dậy của chủ nghĩa Cộng sản và sự suy tàn của nó (như ở tại khối Xô-viết) hay sự biến chất từ căn bản của chủ nghĩa này (như ở Trung Hoa). Ta cũng thấy một sự thay đổi cán cân kinh tế với một đầu nặng ở Tây phương sang một sự cân bằng kinh tế với sức nặng tương đương ở Nhật Bản và các nước thuộc Đông Á và Đông Nam Á. Mặc dù vùng này cũng đang trải qua những vấn nạn kinh tế và tài chính, nhưng những vấn nạn này cũng không làm mất được thế cân bằng kinh tế thế giới đã xảy ra trong nhiều thập niên vừa qua (trong trường hợp Nhật Bản, hầu như gần một thế kỷ). Một trăm năm qua, quả thật, không thiếu gì những biến cố quan trọng.
Tuy nhiên, trong số những sự phát triển lớn lao và khác nhau xảy ra trong thế kỷ 20, sau rốt, tôi chẳng thấy khó khăn gì khi chọn một sự phát triển ưu việt nhất trong thời đại này: đó là sự phát triển của chế độ dân chủ. Nói thế không có nghĩa là các sự kiện khác trong cùng thời không phải là không quan trọng, nhưng tôi sẽ lập luận rằng trong một tương lai không xa, khi người ta nhìn lại những gì đã xảy ra trong thế kỷ này, họ sẽ phải nhìn nhận sự phát triển của chế độ dân chủ-một chế độ chính trị được công nhận là ưu việt-xứng đáng được xem là quan trọng nhất.
Ý tưởng về dân chủ phát xuất, dĩ nhiên, từ cổ Hy lạp, hơn hai ngàn năm trước. Những nỗ lực rời rạc nhằm dân chủ hóa cũng được thử nghiệm tại nhiều nơi khác, gồm cả ở Ấn độ.[1] Nhưng thực ra chính là ở Hy lạp mà tư tưởng dân chủ mới được hình thành và nghiêm túc đưa vào thực hành (dù chỉ trong một quy mô giới hạn), trước khi nền dân chủ bị sụp đổ và thay thế bằng các chế độ chính trị bất cân xứng và độc đoán hơn. Ngoài ra, không còn mô hình chính trị nào khác.
Sau đó, chế độ dân chủ, như ta biết, đã phải mất một thời gian lâu dài mới trỗi dậy. Sự xuất hiện tiệm tiến và đắc thắng tối hậu của hệ thống chính quyền dân chủ được củng cố qua nhiều thời đại, từ khi Đại Hiến chương được ký kết năm 1215, tới cuộc cách mạng Mỹ và Pháp trong thế kỷ mười tám, đến việc mở rộng quyền bầu cử tại Âu châu và Mỹ châu trong thế kỷ mười chín. Tuy nhiên, mãi đến thế kỷ hai mươi, tư tưởng dân chủ mới trở thành một mô hình "bình thường" mà bất cứ nơi nào cũng được hưởng-dù ở Âu châu, Mỹ châu, Á châu, hay Phi châu.
Cái ý tưởng dân chủ, như là một sự cam kết thực hiện toàn cầu, quả là một ý tưởng khá mới, và là một sản phẩm tinh túy của thế kỷ hai mươi. Những viên loạn tướng và lãnh chúa dùng vũ lực để hạn chế quyền lực của Anh hoàng qua bản Đại Hiến chương chỉ thấy nhu cầu này có tính chất cá biệt tại nước Anh. Ngược lại, những người Mỹ chiến đấu cho độc lập và các nhà cách mạng tại Pháp là những người đã góp phần lớn lao vào sự hiểu biết về nhu cầu thiết lập chế độ dân chủ như một hệ thống tổng quát. Thế nhưng, trọng tâm của những đòi hỏi thiết thực của họ cũng vẫn mang tính địa phương, bị giới hạn bởi hai bờ của Đại Tây dương và được thiết lập trên nền tảng đặc thù về kinh tế, xã hội và lịch sử chính trị của vùng đất này.
Trong suốt thế kỷ mười chín, các lý thuyết gia về dân chủ cảm thấy tự nhiên khi đặt vấn đề liệu nước này hay nước kia có "trưởng thành để có chế độ dân chủ" hay không? Suy nghĩ này chỉ mới thay đổi trong thế kỷ hai mươi, khi các nhà học giả nhận ra rằng họ đã đặt sai vấn đề: Thay vì xét xem một nước có thích hợp với chế độ dân chủ hay không, ta cần xét xem nước đó khi áp dụng dân chủ có trở nên "trưởng thành" hay không.  Điều này quả thực là một sự thay đổi tư duy lớn lao, mở rộng khả năng tiếp cận của dân chủ tới hàng tỉ người trong những nền văn hóa, lịch sử và mức độ giàu nghèo chênh lệch khác nhau.
Cũng chỉ trong thế kỷ này, rốt cuộc rồi thì người ta mới chấp nhận "quyền bầu cử của mọi người trưởng thành" có nghĩa là của tất cả mọi người, không phân biệt nam nữ. Vào tháng Giêng năm nay, tôi có dịp gặp bà Ruth Dreyfus, tổng thống nước Thụy sĩ, và là một phụ nữ nổi tiếng trên thế giới; dịp này khiến cho tôi nhớ lại rằng phụ nữ Thụy sĩ mới chỉ được quyền bầu cử khoảng một phần tư thế kỷ trước đây.[2]
Tôi công nhận là có nhiều ý kiến chống lại sự khẳng định tính toàn cầu của dân chủ. Những sự chống đối này có nhiều thể loại và đến từ nhiều hướng khác nhau. Thật ra, phần trình bày những luận điệu chống đối này là một phần của tiểu luận này, qua đó tôi phải xem xét giá trị toàn cầu của dân chủ và những tranh biện chung quanh lập luận này. Trước khi bắt đầu cuộc thảo luận, tuy nhiên, ta cần phải hiểu rõ xu thế [thời đại] đã đưa dân chủ trở thành một niềm tin đang chiếm ưu thế trong thế giới hiện đại.
Trong bất kỳ thời đại và hoàn cảnh xã hội nào, bao giờ cũng có những niềm tin phổ quát được mọi người tôn trọng như một quy luật chung, tương tự như sự bố trí "mặc định" trong một lập trình điện toán. Những niềm tin này được xem là đúng cho đến khi sự khẳng định này bị chứng minh ngược lại. Mặc dù dân chủ vẫn chưa được áp dụng toàn cầu, cũng như chưa được chấp nhận đồng loạt, trong bối cảnh chung của thế giới, chính quyền theo dân chủ đã đạt được vị thế "mặc định." Trái banh hiện đang nằm trên sân của những kẻ muốn bôi bác dân chủ đưa ra những lập luận chống lại sự mặc định này.
Sự thay đổi có tính chất lịch sử này xảy ra cách nay chưa lâu, khi những người cổ võ cho dân chủ ở Á và Phi châu còn là một thiểu số bị dồn vào chân tường. Dù hiện nay ta đã có đủ lý lẽ để phản bác những kẻ, dù ngấm ngầm hay công khai, đã từ khước nhu cầu dân chủ, ta cũng phải ghi nhận một cách rõ ràng xem cái dư luận chung đã chuyển hướng như thế nào so với thế kỷ trước. Ta không cần cứ mỗi lần lại phải chứng minh xem nước này hay nước kia (Nam Phi, Cambodia, hay Chile) có "thích hợp" cho dân chủ hay không nữa (câu hỏi này đã từng là câu hỏi then chốt trong các cuộc thảo luận về dân chủ trong thế kỷ 19). Sự công nhận dân chủ như một hệ thống thích hợp trên toàn cầu, nằm trong chiều hướng đưa đến sự công nhận giá trị toàn cầu của hệ thống dân chủ, chính là một tư duy cách mạng trọng yếu, và là một trong những đóng góp chính trong thế kỷ 20. Chúng ta sẽ xem xét vấn đề dân chủ là một giá trị toàn cầu trong bối cảnh này.

Kinh nghiệm của Ấn Độ

Dân chủ đã hoạt động tốt như thế nào? Trong khi chẳng có ai đặt vấn đề về vai trò của dân chủ tại các nước như Mỹ, Anh hay Pháp, đây vẫn là một vấn đề gây tranh cãi tại những nước nghèo hơn trên thế giới. Đây không phải là lúc đưa ra một sự khảo sát chi tiết các dữ kiện lịch sử, nhưng tôi cũng có thể trả lời rằng chế độ dân chủ đã hoạt động khá tốt.
Ấn độ, dĩ nhiên, đã từng là diễn đàn của cuộc tranh luận này. Khi không trả lại độc lập cho Ấn độ, người Anh đã bày tỏ sự quan ngại về khả năng tự cai trị của người Ấn. Nước Ấn thực sự đã bị rối loạn chính trị trong năm 1947, năm được trao trả độc lập. Ấn độ lúc đó có một chính phủ chưa có kinh nghiệm, người dân Ấn còn chưa nguôi ngoai về việc đất nước bị chia hai, sự liên kết giữa các đảng phái còn chưa rõ ràng, cộng thêm với các cuộc bạo động tràn lan trong các cộng đồng sắc tộc và bất ổn xã hội. Cho nên, lúc đó thật khó mà có được niềm tin vào tương lai của một nước Ấn độ thống nhất và dân chủ.
Thế nhưng, nửa thế kỷ sau, ta thấy nền dân chủ đó, dù có nhiều trầy trật, đã hoạt động tốt một cách đáng nể. Những khác biệt chính trị phần lớn được giải quyết trong khuôn khổ của hiến pháp, các chính phủ lên rồi xuống theo quy luật của bầu cử và nghị viện. Dù sự kết hợp những khác biệt chính trị tại Ấn độ có lúc vụng về, thiếu trang nhã, và có lúc tưởng như bất khả, nhưng Ấn độ đã tồn tại và hoạt động như một đơn vị chính trị trong hệ thống dân chủ. Nói cho đúng, Ấn độ không bị phân hóa là nhờ có bộ máy dân chủ hoạt động hữu hiệu.
Ấn độ cũng đã vượt qua được những thử thách khổng lồ khi phải giải quyết những dị biệt giữa các ngôn ngữ chính và các sắc độ tôn giáo khác nhau.[3] Sự khác biệt giữa tôn giáo và cộng đồng khiến cho xã hội rất dễ bị các chính trị gia giáo phái lợi dụng, và họ đã lợi dụng sự phân hóa này trong nhiều trường hợp, gồm nhiều vụ mới xảy ra gần đây, và khiến cho cả nước phải cảnh báo. Tuy nhiên, chính sự cảnh báo trước những sự bạo động mang tính chất tôn giáo và sự lên án các hành vi đó từ mọi thành phần trong cả nước đã là một sự bảo đảm chính yếu của dân chủ chống lại các sự lợi dụng và tranh chấp hẹp hòi giữa những bè phái và phe nhóm tôn giáo. Điều này quả là hệ trọng cho sự tồn tại và thịnh vượng của Ấn độ, vì đây là một nước có nhiều sự khác biệt sâu sắc, không những là quê hương của đa số người Hindu mà còn là quê hương của một phần ba dân theo Hồi giáo, của hàng triệu người theo Phật giáo và Thiên Chúa giáo, và của những giáo phái khác như Sikhs, Parsees và Jains.

Dân chủ và Phát triển Kinh tế

Ta vẫn thường nghe lời tuyên bố là các hệ thống chính trị phi-dân chủ khá hơn các hệ thống khác trong việc đem lại phát triển kinh tế. Sự tin tưởng này thường được gọi là "Giả thuyết họ Lý," vì được Lý Quang Diệu, nhà lãnh đạo và cựu thủ tướng của Singapore xiển dương. Lý Quang Diệu đã hoàn toàn đúng khi dẫn chứng một vài nước có kỷ luật (như Nam Hàn, nước Singapore của ông ta, và nước Tàu hậu cải cách) đã có mức độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn các nước kém độc tài (gồm cả Ấn độ, Jamica, và Costa Rica). Giả thuyết họ Lý, tuy nhiên, giả thuyết này chỉ được đặt căn bản trên một vài sự quan sát rời rạc, rút ra từ những thông tin được tuyển lựa và hạn chế, thay vì dựa trên bất kỳ một cuộc khảo sát dùng thống kê phân tích các dữ kiện về nhiều phương diện và hiện đang có sẵn. Ta không thể rút ra được một quan hệ tổng quát như Giả thuyết họ Lý đề ra dựa trên căn bản của những chứng cớ được lựa lọc ra để chứng minh. Tỷ dụ, ta không thể lấy sự tăng trưởng kinh tế cao của Singapore hay của Tàu làm "bằng chứng dứt khoát" cho rằng chế độ độc tài phát triển kinh tế giỏi hơn các chế độ khác, cũng như không thể rút ra một kết luận ngược lại từ sự kiện là Botswana, một nước có thành tích cao nhất về phát triển kinh tế tại Phi châu, thực ra phải nói đó là một nước có thành tích tốt nhất về phát triển kinh tế trên toàn thế giới, đã là một ốc đảo của dân chủ trên lục địa châu Phi cả hàng mấy thập niên. Ta cần có nhiều nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống hơn nữa để phân loại các kiểu lý luận ủng hộ hay chống đối Giả thuyết họ Lý.
Thực ra, chẳng có một chứng cớ tổng quát và đáng tin nào chứng tỏ được rằng sự cai trị độc tài và đàn áp các quyền chính trị và dân sự của người dân lại có lợi cho sự phát triển kinh tế. Nói cho đúng hơn, nếu dựa trên sự nghiên cứu thống kê tổng quát, thì không thể suy luận như vậy được. Những nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống (như của Robert Barro hay của Adam Przeworski) không đưa ra được chứng cớ nào cho giả thuyết là có sự mâu thuẫn giữa quyền chính trị và hoạt động kinh tế.[4] Mối quan hệ trực tiếp dường như còn tùy vào nhiều hoàn cảnh khác nữa, và nếu có một vài sự khảo sát bằng thống kê nào cho thấy mối tương quan ngược chiều và yếu giữa dân chủ và kinh tế, thì cũng có những khảo sát khác cho thấy có mối tương quan thuận và mạnh mẽ [giữa hai biến số này]. Nếu tất cả những khảo sát mang tính chất so sánh được xem xét cùng lúc, thì giả thuyết cho rằng không có một mối liên hệ rõ rệt nào giữa phát triển kinh tế và dân chủ theo cả hai chiều thuận và nghịch, có lẽ hợp lý hơn cả. Vì dân chủ và tự do chính trị đều là các điều quan trọng, cho nên không phải vì có liên hệ hay không tới phát triển kinh tế mà sự quan trọng bị ảnh hưởng bởi lập luận kể trên.[5] Câu hỏi mà chúng ta đang xem xét cũng liên quan đến một vấn đề cơ bản về phương pháp nghiên cứu kinh tế. Ta phải, không những quan sát những mối liên hệ theo xác suất và thống kê, mà còn phải xem xét tỉ mỉ tiến trình nhân-quả nằm trong sự tăng trưởng kinh tế và phát triển. Giờ đây ta đã hiểu khá rõ những chính sách kinh tế và hoàn cảnh đưa tới sự thành công về phương diện kinh tế tại những nước Đông Á. Dù những nghiên cứu thực nghiệm có khác nhau về trọng tâm, nhưng hiện nay đã có được một sự đồng thuận rộng rãi về một danh mục gồm một số các "chính sách có lợi" cho sự phát triển kinh tế, gồm có các điểm sau: cởi mở cho sự cạnh tranh, sử dụng thị trường quốc tế, các chính sách khuyến khích xuất, nhập cảng, nâng cao giáo dục, cải cách ruộng đất, và các cơ hội khác mở rộng sự tham gia của người dân vào tiến trình phát triển kinh tế. Không có lý do gì để cho rằng những chính sách như vậy lại mâu thuẫn với các chính sách [của chế độ] dân chủ và phải dùng tới sức mạnh của độc tài như đã từng xảy ra ở Nam Hàn, Singapore, hay Trung Hoa. Thực ra, có vô vàn chứng cớ chứng minh rằng điều kiện tạo ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh là một không khí kinh tế thân thiện hơn chứ không phải một chế độ chính trị hà khắc hơn.
Để khảo sát trọn vẹn, ta phải vượt ra ngoài khuôn khổ chật hẹp của sự tăng trưởng kinh tế và nghiên cứu tỉ mỉ những đòi hỏi lớn hơn của sự phát triển kinh tế, gồm cả nhu cầu an ninh kinh tế và xã hội. Trong phạm vi đó, ta phải một mặt xem xét mối quan hệ giữa quyền chính trị và dân quyền, và mặt khác xem xét các chính sách ngăn ngừa không cho những đại họa kinh tế xảy ra. Quyền chính trị và quyền dân sự cho người dân cơ hội để lên tiếng mạnh mẽ về những nhu cầu chung và đòi hỏi các biện pháp thích đáng của chính quyền. Phản ứng của chính quyền [có nhanh nhạy] trước những đau khổ lớn lao của người dân thường tùy vào áp lực người dân tạo ra có đủ mạnh hay không. Việc thực thi các quyền chính trị của người dân (bầu cử, phê bình, biểu tình, vân vân) có thể tạo nên những phần thưởng hay trừng phạt chính trị thật sự cho những viên chức đang vận hành bộ máy chính quyền.
Tôi cũng đã có lần trình bày một sự kiện đặc biệt, đó là trong lịch sử của những nạn đói khủng khiếp trên thế giới, chưa có một nạn đói đáng kể nào xảy ra trong một nước độc lập, dân chủ, và có một hệ thống báo chí tương đối tự do.[6] Đây là một quy luật không có ngoại lệ, dù ta có tìm bất cứ chỗ nào trên thế giới: các nạn đói xảy ra gần đây tại Ethiopia, Somalia, hay tại các chế độ độc tài khác; những nạn đói xảy ra tại Liên Xô trong thập niên 1930; tại Trung Hoa năm 1958-1961 xảy ra sau Kế hoạch Đại Nhảy Vọt; hoặc xa hơn nữa là các nạn đói xảy ra ở Ái nhĩ lan hoặc Ấn độ dưới chế độ thực dân. Trung Hoa, dù trên nhiều phương diện, phát triển kinh tế khá hơn Ấn độ, nhưng (khác với Ấn độ) là vẫn có nạn đói, mà phải nói đó là nạn đói lớn nhất được ghi lại trong lịch sử thế giới: gần 30 triệu người chết trong nạn đói 1958-61, nhưng các chính sách sai lầm của chính quyền vẫn không được sửa đổi trong suốt thời gian 3 năm đó. Những chính sách sai lầm đó không bị chỉ trích gì cả bởi vì không có một đảng đối lập nào trong quốc hội, không có tự do báo chí, và các cuộc bầu cử đa đảng. Chính ra, chỉ vì không có sự phê bình và thách thức này mà chính quyền mới có thể tiếp tục thi hành những chính sách cực kỳ sai lầm đã đưa đến cái chết của hàng triệu người mỗi năm. Đó cũng là tình trạng tương tự đang xảy ra tại Bắc Hàn và Sudan nơi diễn ra hai nạn đói trong lịch sử đương đại của thế giới.
Người ta thường liên kết nạn đói với những thiên tai, và các nhà bình luận cũng thường chấp nhận sự đơn giản hóa này để giải thích nguyên do của những nạn đói: những vụ lụt lội xảy ra tại Trung Hoa trong kế hoạch Đại Nhảy Vọt, hạn hán ở Ethiopia, hay thất mùa tại Bắc Hàn. Tuy nhiên, có rất nhiều quốc gia bị những thiên tai tương tự, hay trầm trọng hơn nữa, mà vẫn không bị đói, chỉ vì có sự đáp ứng kịp thời của chính quyền làm giảm đi nguy cơ gây ra nạn đói. Bởi vì nạn nhân chính của nạn đói là những người nghèo khổ, cho nên, chính quyền có thể ngăn ngừa nạn chết đói bằng chính sách tài trợ thu nhập (qua chương trình thuê mướn nhân công, chẳng hạn), để giúp họ có tiền mua thực phẩm. Ngay cả những nước dân chủ nghèo đói nhất và đã từng phải trải qua những trận hạn hán hay lụt lội khủng khiếp, hay những thiên tai khác (như Ấn độ năm 1973, Zimbabwe và Botswana đầu thập niên 1980) nhưng vẫn có khả năng nuôi sống dân của họ mà không phải kinh qua nạn đói.
Nạn đói rất dễ dàng ngăn ngừa, nếu ta có một nỗ lực nghiêm túc để thực hiện, và một chính quyền dân chủ-khi phải đứng trước những cuộc bầu cử và chỉ trích từ các đảng đối lập và báo chí độc lập- không thể không thực hiện nỗ lực nghiêm túc đó. Ta cũng chẳng ngạc nhiên gì khi thấy Ấn độ tiếp tục có những nạn đói xảy ra trong suốt thời bị người Anh cai trị cho đến khi giành lại được độc lập (nạn đói cuối cùng, mà tôi được chứng kiến khi còn là một đứa trẻ, xảy ra vào năm 1943, bốn năm trước khi Ấn độ được độc lập), những nạn đói này bỗng dưng biến mất khi một nền chính trị đa đảng và báo chí tự do được thiết lập.
Tôi đã trình bày vấn đề này trong các tác phẩm khác, nhất là trong cuốn sách viết chung với Jean Dr'eze, nên tôi sẽ không bàn thêm ở đây.[7] Thực ra, vấn đề nạn đói chỉ là một thí dụ cho thấy phạm vi hoạt động của dân chủ [liên quan đến dân sinh], và là trường hợp dễ phân tích nhất. Vai trò của các quyền chính trị và dân quyền còn có những ảnh hưởng tích cực trong việc ngăn ngừa những tai họa kinh tế và xã hội, nói chung, chứ không chỉ trong vấn đề nạn đói. Khi mọi sự diễn tiến tốt đẹp, thì ta thường không để ý tới vai trò then chốt này của dân chủ. Chỉ khi nào sự việc bị trục trặc, vì lý do này hay lý do khác, thì phần thưởng chính trị[8] do hệ thống dân chủ mang lại mới có giá trị thực tế.
Ở đây, tôi tin là có một bài học quan trọng. Có nhiều chuyên viên kinh tế đề nghị việc sử dụng những phần thưởng kinh tế (do hệ thống thị trường cung cấp) mà quên đi những phần thưởng chính trị (được bảo đảm bởi hệ thống dân chủ). Trong số những vấn đề xảy ra gần đây tại Đông và Đông Nam Á là những hình phạt dành cho sự cai trị phi-dân chủ về hai phương diện nổi bật. Thứ nhất là sự lan tràn của cuộc khủng hoảng tài chánh tại một số nước (gồm có Nam Hàn, Thái Lan, và Nam Dương) có liên hệ mật thiết với sự thiếu minh bạch trong kinh doanh, đặc biệt là thiếu sự tham gia của công chúng trong tiến trình duyệt xét sự kết hợp những định chế tài chánh. Sự vắng mặt của một diễn đàn dân chủ hữu hiệu là trọng tâm của sự thất bại này. Thứ hai, một khi cuộc khủng hoảng tài chánh dẫn đến tình trạng suy trầm kinh tế chung, sức bảo vệ của dân chủ--giống như sức mạnh ngăn chặn nạn đói tại các nước dân chủ--hầu như không hiện hữu tại một nước. Như tại  Nam Dương, những nạn nhân mới bị mất hết tài sản không có được cơ hội để trình bày trường hợp của họ trước công luận.
Một sự sụt giảm tổng sản lượng quốc gia, thí dụ là 10 phần trăm, có thể sẽ không bị coi  là nghiêm trọng cho lắm, nếu sau đó nền kinh tế lại gia tăng với mức độ 5 hoặc 10 phần trăm mỗi năm trong vòng một thập niên qua, nhưng sự suy giảm như vậy có thể làm cho nhiều cuộc sống bị lao đao và tạo ra sự khốn khổ cho hàng triệu người nếu gánh nặng của sự suy giảm này không được trải rộng ra mà thay vào đó lại chồng chất lên những người bị thất nghiệp hay những người bị thừa ra vì thiếu việc làm-những người mà sức chịu đựng khó khăn kinh tế kém nhất. Người dân Nam Dương có thể sẽ không cảm thấy nhược điểm này và sẽ không thấy cần có dân chủ nếu mọi sự cứ tiếp tục tiến triển, nhưng nếu sự khủng hoảng kinh tế vẫn không được chia sẻ đồng đều với mọi thành phần và vẫn tiếp tục xảy ra, thì nhược điểm này vẫn tồn tại dù tiếng nói của người dân có bị uất nghẹn đi chăng nữa. Vai trò bảo vệ của dân chủ đã bị thiếu trầm trọng khi mà người dân cần nó nhất.

Chức năng của Dân chủ

Từ nãy tới giờ tôi đã dành chỗ cho các sự chỉ trích dân chủ, nhất là những chỉ trích liên quan đến kinh tế. Tôi sẽ quay lại với phần chỉ trích, lần này liên quan đến chỉ trích về văn hóa, nhưng đây cũng là lúc để xem xét một sự phân tích có tính chất tích cực về các chức năng của dân chủ và tìm hiểu cặn kẽ sự tuyên xưng giá trị toàn cầu của dân chủ.
Thế thì dân chủ thực sự là cái gì? Ta không thể đồng hóa dân chủ với quy luật đa số. Dân chủ có những điều kiện phức tạp, trong số đó có bầu cử và tôn trọng kết quả bầu cử, nhưng cũng đòi hỏi phải có sự bảo vệ và tôn trọng các quyền tự do thiên nhiên và dân sự, và bảo đảm một sự thảo luận tự do và sự phổ biến thông tin và bình luận trung thực mà không bị kiểm duyệt. Ngay cả những cuộc bầu cử cũng có thể bị xem là có khuyết điểm nếu một trong những phe tranh cử không có được cơ hội đồng đều để trình bày lập trường của mình, hoặc cử tri không được tự do để thu thập tin tức và nghiên cứu quan điểm của các phe tranh cử. Dân chủ là một hệ thống đòi hỏi nhiều điều kiện, không phải chỉ có một điều kiện được áp dụng một cách máy móc (như quy luật đa số) và riêng rẽ.
Dưới ánh nhìn này, ta có thể liên hệ các phẩm chất của dân chủ và sự tuyên xưng giá trị toàn cầu của nó với một số những giá trị đặc thù phát xuất chính từ sự thực hành dân chủ một cách đúng nghĩa. Ta có thể phân biệt ba trường hợp khác nhau dân chủ có thể làm cho đời sống của công dân phong phú thêm. Trước hết, tự do chính trị là một phần của tự do của con người nói chung, và thực thi các quyền chính trị và dân sự là một phần thiết yếu của đời sống cá nhân trong cương vị là thành viên của xã hội. Tham gia vào các hoạt động chính trị và xã hội mang lại một giá trị nội tại cho đời sống và phúc lợi của con người. Ngăn cấm sự tham gia này vào trong đời sống chính trị của một cộng đồng là một sự tước đoạt nghiêm trọng.
Thứ hai, như tôi đã phản biện lập luận cho rằng dân chủ không đi đôi với sự phát triển kinh tế, dân chủ có một giá trị như một công cụ giúp cho sự đạo đạt các nguyện vọng hay ủng hộ chính trị trên các diễn đàn công cộng được dễ dàng và tốt đẹp hơn (kể các các nguyện vọng về nhu cầu kinh tế). Thứ ba--điều này cần được nghiên cứu sâu xa thêm--là sự thực thi dân chủ giúp cho người công dân có cơ hội để học hỏi lẫn nhau, và giúp cho xã hội thành lập các giá trị và xác định những ưu tiên [cần được quan tâm]. Ngay cả ý tưởng "nhu cầu," như trong "nhu cầu kinh tế," cũng cần được đưa ra thảo luận, trao đổi quan điểm, và phân tích. Hiểu theo nghĩa này, dân chủ còn có một sự quan trọng mang tính chất xây dựng cộng thêm với giá trị nội tại trong đời sống của công dân và là vai trò công cụ quan trọng trong những quyết định chính trị. Sự tuyên xưng giá trị toàn cầu của dân chủ cũng cần để ý tới sự đa dạng này.
Tiến trình hình thành những khái niệm, hay chỉ để hiểu thấu đáo những gì được coi là "nhu cầu," trong đó có nhu cầu kinh tế, tự nó cần có sự thực thi các quyền chính trị và dân sự. Một sự hiểu biết đúng đắn về thế nào là nhu cầu kinh tế--bao gồm nội dung và sức đẩy--cũng đòi hỏi phải có trao đổi quan điểm và thảo luận. Những quyền chính trị và quyền dân sự, đặc biệt là những quyền liên quan đến việc bảo đảm thảo luận, tranh luận, phê phán và cả bất đồng chính kiến một cách công khai, là trọng tâm của một tiến trình tạo ra những sự chọn lựa có hiểu biết và đã được cân nhắc. Những tiến trình này đóng một vai trò quan trọng cho việc hình thành các giá trị và thứ tự ưu tiên, và ta không thể, nói một cách tổng quát, thiên về tiến trình nào hơn khi thảo luận việc công, mà không cần biết xem sự thảo luận và trao đổi ý kiến công khai có được cho phép hay không.
Thực ra, tầm ảnh hưởng và sự hữu hiệu của cuộc đối thoại công khai vẫn thường bị coi nhẹ khi đánh giá những vấn đề xã hội và chính trị. Thí dụ, sự thảo luận công khai đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu mức sinh sản cao đang xảy ra tại các nước đang phát triển. Ta có thể tìm thấy những bằng chứng cụ thể cho thấy sự giảm thiểu mức sinh sản tại một số tiểu bang có văn hóa cao tại Ấn độ là kết quả của sự thảo luận cởi mở và công khai về các ảnh hưởng tai hại của mức sinh sản cao đối với cộng đồng, nói chung, và đối với đời sống của phụ nữ nói riêng.
Nếu quan điểm cho rằng một gia đình hạnh phúc là một gia đình nho nhỏ thôi được phổ biến rộng rãi, thí dụ như tại tiểu bang Kerala hay Tamil Nadu ở Ấn độ, ta có thể đoan chắc rằng đã có nhiều cuộc thảo luận và tranh luận góp phần tạo nên quan điểm này. Kerala hiện nay có sinh suất là 1.7 (tương tự như ở Anh và Pháp, và thấp hơn sinh suất 1.9 của Tàu), và Kerala đã đạt được tỷ lệ này nhờ sự xuất hiện của những giá trị mới chứ không cần phải có luật hạn chế sinh sản-tiến trình đối thoại vào thảo luận về các vấn đề chính trị và xã hội đã đóng góp một phần lớn đến sự hình thành các giá trị mới. Tỷ lệ học thức cao tại Kerala (cao hơn bất kỳ tỉnh nào của Trung Hoa), nhất là trong thành phần phụ nữ, đã giúp cho những sự đối thoại và thảo luận về chính trị và xã hội trở nên dễ dàng hơn.
Sự nghèo đói và thiếu thốn có thể có nhiều loại khác nhau, một số có thể được cải thiện bằng các biện pháp xã hội dễ dàng hơn một số khác. Toàn bộ vấn nạn của con người có thể quy vào một điều căn bản là xác định được "nhu cầu" của con người. Thí dụ, có nhiểu điều mà chúng ta có lý do xác đáng để xem là có giá trị và như thế có thể xem những điều đó là những "nhu cầu" nếu đó là những điều khả thi. Ta có thể mong muốn ngay cả có được sự bất tử, như Maitreyee, một bộ óc có khả năng suy luận kiệt xuất trong Áo nghĩa thư,[9] đã đặt ra cho đạo sư Yajnvalkya trong cuộc đàm luận nổi tiếng cách đây ba ngàn năm. Nhưng ta không xem sự bất tử là một "nhu cầu" bởi vì đó là một việc hoàn toàn bất khả thi. Sự hình thành khái niệm về nhu cầu có quan hệ với những ý tưởng của chúng ta về tính chất có thể ngăn ngừa được của một sự thiếu thốn nào đó và sự hiểu biết của ta về cách giải quyết sự thiếu thốn này. Trong quá trình hình thành sự hiểu biết và niềm tin vào tính cách khả thi (nhất là tính cách khả thi xã hội), những cuộc thảo luận trên diễn đàn công đóng một vai trò hết sức quan trọng. Những quyền chính trị, bao gồm tự do phát biểu và thảo luận, không những chỉ đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra những giải pháp xã hội cho các nhu cầu kinh tế, mà còn là trọng tâm của tiến trình xây dựng khái niệm của những nhu cầu kinh tế.

Tính chất toàn cầu của giá trị

Nếu sự phân tích ở phần trên được xem là đúng, thì sự tuyên xưng giá trị dân chủ không dựa trên một phẩm chất đặc thù nào mà trên nhiều đức tính khác nhau, gồm có trước hết là sự quan trọng nội tại của sự tham gia vào tiến trình chính trị và sự tự do của đời sống con người; thứ hai, sự quan trọng mang tính chất công cụ của những phần thưởng chính trị giúp cho chính quyền vận hành đúng đắn và chịu trách nhiệm với cử tri; và thứ ba là vai trò xây dựng của dân chủ trong việc hình thành các giá trị, và tạo nên sự hiểu biết của ta về nhu cầu, quyền lợi, và bổn phận. Dựa trên sự phân tích này, ta có thể trả lời câu hỏi chính yếu của bài khảo luận này, tức là xét xem có phải dân chủ có giá trị toàn cầu hay không.
Để phản bác sự tuyên xưng này, đôi khi người ta lý luận rằng không phải ai cũng đồng ý về sự quan trọng mang tính chất quyết định của dân chủ, nhất là khi so sánh dân chủ với những điều khác mà ta khao khát hoặc có niềm tin. Quả thật có như vậy, và như thế ta không có được sự nhất trí ở đây. Sự thiếu nhất trí này đã được một số người dùng làm bằng cớ để chứng minh dân chủ không phải là giá trị toàn cầu.
Như vậy, ta phải bắt đầu với một câu hỏi mang tính phương pháp luận: Giá trị toàn cầu là gì? Để cho một giá trị được xem là toàn cầu, có cần giá trị đó được sự đồng ý của mọi người không? Nếu đó thực sự là một điều kiện cần thiết, thì phạm trù của giá trị toàn cầu trở nên trống rỗng. Tôi không biết có một giá trị nào-ngay cả tình mẫu tử-mà không có người chống lại. Tôi cho rằng sự đồng thuận toàn cầu là một điều không cần thiết để xét xem một điều gì đó có giá trị toàn cầu hay không. Lẽ ra, sự tuyên xưng giá trị toàn cầu [của một điều] nằm ở chỗ liệu con người, dù ở bất cứ đâu, có lý do để xem điều đó có gia trị hay không?
Khi Mahatma Gandhi chứng minh giá trị toàn cầu của đấu tranh bất bạo động, ông không chứng minh rằng người ta ở mọi nơi đã hành động theo giá trị này, nhưng chỉ chứng minh rằng người ta có đủ lý lẽ để thấy đó là điều có giá trị. Tương tự như thế, khi Rabindranath Tagore chứng minh "sự tự do của tâm trí" là một giá trị toàn cầu, ông không cho rằng sự tuyên xưng này được tất cả mọi người chấp nhận, nhưng tất cả đều có đủ lý lẽ để chấp nhận điều đó - đó là lý do mà ông đã nỗ lực tìm hiểu, trình bày và truyền bá.[10] Hiểu theo nghĩa này, bất kỳ một sự tuyên xưng giá trị toàn cầu nào cũng liên quan đến một số những phân tích phản-sự thật[11]- trong trường hợp này, ta phải giả định rằng người ta có thể thấy một giá trị nào đó trong sự tuyên xưng [giá trị] mà trước đây họ chưa từng để ý đến. Tất cả mọi sự tuyên xưng giá trị toàn cầu-không phải chỉ cho dân chủ-cũng đều hàm chứa giả thuyết này.
Tôi cho rằng nhờ vào cái giả thuyết tiềm ẩn này mà ta có một sự chuyển biến thái độ thật là lớn lao đối với dân chủ trong thế kỷ 20. Hãy xét một nước chưa có dân chủ và ở những nơi mà người dân có lẽ chưa có cơ hội để thực thi dân chủ, ta có thể giả thiết rằng người dân ở những xứ đó sẽ tán thành và chấp nhận dân chủ một khi điều này trở thành thực tế trong đời sống của họ. Trong thế kỷ 19, chắc chắn giả thuyết này không được đặt ra, nhưng cái giả thuyết mặc định mà tôi đã nhắc tới ở phần trên đã thay đổi nhanh chóng trong thế kỷ 20.
Tưởng cũng cần ghi nhận thêm là ta nhận thấy sự thay đổi lớn lao này qua sự quan sát lịch sử của thế kỷ 20. Khi chế độ dân chủ lan rộng ra, những người ủng hộ dân chủ cũng gia tăng theo chứ không giảm đi. Khởi đi từ Âu châu rồi sang Mỹ châu, dân chủ như một hệ thống đã vươn tới nhiều bờ bến mới và được người dân tại những nơi này chấp nhận và sẵn lòng góp phần xây dựng. Hơn thế nữa, khi một chế độ dân chủ đang hiện hữu bị lật đổ, người dân ồ ạt tham gia vào những cuộc biểu tình phản đối ở khắp mọi nơi, dù cho những cuộc biểu tình này thường bị đàn áp thô bạo. Nhiều người đã sẵn lòng hy sinh mạng sống trong cuộc đấu tranh khôi phục lại dân chủ.
Những người phản bác dân chủ không dựa vào lý do vì dân chủ thiếu sự nhất trí của tất cả mọi người về giá trị toàn cầu, mà lại dựa vào sự khác biệt giữa các vùng trên thế giới. Cái gọi là sự khác biệt giữa các vùng thường có liên quan đến sự nghèo đói của một số quốc gia. Theo lập luận này, người dân nghèo chỉ quan tâm đến miếng ăn, chứ không phải dân chủ. Lập luận thường được nhắc đi nhắc lại này là một ngụy biện trên hai lãnh vực khác nhau.
Thứ nhất, như đã trình bày ở trên, vai trò bảo vệ của dân chủ, đối với người nghèo có lẽ mới là điều đặc biệt quan trọng. Điều này hiển nhiên nhất là đối với những nạn nhân đang phải đối diện với nạn đói sắp xảy ra. Và vai trò bảo vệ này cũng đúng luôn cho những người thất cơ bị rớt xuống nấc thang kinh tế khi khủng hoảng tài chánh xảy ra. Người ta khi phải đối phó với nhu cầu kinh tế cũng cần có tiếng nói chính trị. Dân chủ không phải là một món hàng xa xỉ đợi khi người ta có dư rồi mới dám mua sắm.
Thứ hai, có rất ít chứng cớ cho rằng người nghèo, nếu có sự lựa chọn, sẽ từ chối dân chủ. Cho nên, cũng khá là thú vị để nhìn lại sự kiện xảy ra hồi xa xưa vào khoảng giữa thập niên 1970 tại Ấn độ khi chính quyền dùng một luận cứ tương tự để biện minh cho việc ban hành "tình trạng khẩn cấp" (và đàn áp các quyền chính trị và dân sự), và tổ chức một cuộc bầu cử. Cuộc bầu cử này đã chia cử tri thành hai khối rõ rệt chỉ vì vấn đề này. Trong cuộc bầu cử định mệnh này, hành vi đàn áp các quyền chính trị và dân sự đã bị cử tri bác bỏ, và đại khối cử tri Ấn-một trong số những người nghèo đói nhất trên thế giới-đã chứng minh rằng họ cũng chống lại sự vi phạm các quyền tự do căn bản một cách nhiệt liệt không kém những hoạt động chống lại sự tước đoạt các quyền lợi kinh tế.
Trong phạm vi của lập luận cho rằng người nghèo chẳng quan tâm gì đến các quyền chính trị và dân sự, chứng cớ hiển nhiên đã bác bỏ hoàn toàn lập luận này. Ta cũng nhận thấy một số điểm tương tự khi quan sát cuộc đấu tranh cho những quyền tự do dân chủ tại Nam Hàn, Thái lan, Bangladesh, Pakistan, Miến điện, Nam dương và các nước khác tại Á châu. Tương tự như thế, dù tự do chính trị đang bị ngăn cấm tại Phi châu, ta cũng thấy người dân có những phong trào chống đối những sự đàn áp này bất cứ khi nào tình thế cho phép.

Lập luận về sự khác biệt văn hóa

Cũng có một lý lẽ khác bảo vệ cho cái gọi là sự tương phản căn bản giữa các vùng trên thế giới; lý lẽ này không dựa trên sự khác biệt kinh tế mà trên sự khác biệt về văn hóa. Trong số những lập luận này, nổi tiếng nhất có lẽ là "các giá trị Á châu." Người ta vẫn thường cho rằng người dân châu Á vẫn có truyền thống xem kỷ luật quan trọng hơn tự do chính trị, và như vậy, người dân châu Á phải có thái độ hoài nghi đối với dân chủ hơn các nơi khác. Tôi đã có dịp thảo luận về đề tài này một cách khá chi tiết trong bài thuyết trình tại Hội đồng Đạo đức và Quốc tế vụ thuộc học viện Carnegie.[12]
Thật ra, ta rất khó tìm được bất cứ căn bản thật sự nào cho lập luận nói trên trong kho tàng lịch sử của văn hóa Á châu, nhất là khi chúng ta tìm hiểu những truyền thống cổ điển của Ấn độ, Trung Đông, Iran và các vùng khác của châu Á. Thí dụ, ta có thể tìm thấy những lời tuyên bố mạnh mẽ nhất và sớm nhất ủng hộ sự đa nguyên và bổn phận của nhà nước phải bảo vệ thành phần thiểu số trong những lời phán của hoàng đế Ashoka (Ấn độ) được ghi khắc lại vào thế kỷ thứ Ba trước Công nguyên.
Châu Á là một vùng đất rộng lớn chứa tới 60 phần trăm dân số của thế giới, và công việc tổng quát hóa một tập hợp các sắc dân đa dạng như vậy thật chẳng phải là điều dễ dàng. Thành ra những người cổ võ cho thuyết "giá trị Á châu" có khuynh hướng dùng khu vực Đông Á làm nền tảng cho lý luận của họ. Luận đề chính của sự tương phản giữa Tây phương và Á châu vẫn thường tập trung vào vùng đất ở phía đông của Thái lan, dù đã có người còn mạnh miệng hơn tuyên bố rằng các vùng khác của Á châu cũng tương tự như nhau. Lý Quang Diệu, người mà ta phải cám ơn vì đã lên tiếng trình bày một cách đầy đủ và rõ rệt nhất về cái vấn đề mà vẫn thường được nhắc tới một cách mơ hồ trong vô vàn tài liệu rối như mớ bòng bong. Lý Quang Diệu đã phác họa ra "sự khác biệt căn bản giữa khái niệm về xã hội và chính quyền của Tây phương và Đông Á" và giải thích, "Khi tôi [Lý Quang Diệu] nói đến Đông Á, tôi muốn nói tới Đại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam, là những quốc gia khác với vùng Đông Nam Á pha trộn giữa văn hóa Hán tộc và Ấn độ, dù văn hóa Ấn cũng chú trọng tới những giá trị tương tự.[13]
Tuy nhiên, ngay cả vùng Đông Á cũng có nhiều khác biệt rất lớn, với những biến thể không những giữa các nước Nhật, Hoa, Hàn và các nước khác trong vùng, mà còn khác nhau ngay cả trong mỗi nước. Khổng tử là tác giả tiêu biểu vẫn thường được trích dẫn khi giải thích các giá trị Á châu, nhưng Khổng tử không phải là học giả duy nhất có ảnh hưởng tại các nước này (như tại các nước Nhật, Hoa, Hàn còn có một truyền thống Phật giáo sâu rộng, ảnh hưởng hơn 1500 năm, và những ảnh hưởng khác nữa gồm có cả Cơ đốc giáo). Ta thấy, không có một sự đồng nhất nào về sự tôn sùng trật tự hơn tự do trong các nền văn hóa này.
Hơn thế nữa, Khổng tử, chính ngài cũng không khuyến khích người dân trung thành mù quáng với nhà nước. Khi Tử Lộ hỏi về "đạo thờ vua," Khổng tử đáp rằng "Làm tôi thì phải hết lòng thành thật; như vua lầm lạc thì phải can gián, đừng sợ mếch lòng"[14] (câu nói này các nhà kiểm duyệt của chế độ độc tài nên suy ngẫm). Khổng tử khuyến khích môn đệ cẩn trọng và khéo léo trong xử thế, nhưng cũng dạy đệ tử chống lại chế độ xấu xa (phải khéo léo, nếu cần), như "Bang hữu đạo, nguy ngôn, nguy hành; bang vô đạo, nguy hành, ngôn tốn"[15] (lúc nước yên ổn, sống thanh cao và bày tỏ hết ý để giúp nước; lúc nước điên đảo, vẫn sống thanh cao, nhưng dè dặt trong lời nói).
Thực ra, Khổng tử đã chỉ rõ rằng hai trụ cột trong tòa nhà giá trị Á châu: trung với nhà và tuân theo phép nước, có thể xung đột trầm trọng với nhau. Những người cổ võ cho sức mạnh của giá trị Á châu quan niệm vai trò của nhà nước như một sự nối dài của gia đình, nhưng Khổng tử ghi nhận rằng hai điều này có chỗ xung khắc với nhau. Diệp Công nói với Khổng tử rằng: "Ở xóm tôi có những người ngay thẳng rất mực, như cha ăn trộm dê thì con đứng ra làm chứng khai thật." Khổng tử đáp: "Ở xóm ta, người ngay thẳng cư xử có khác. Cha che lỗi cho con, con che lỗi cho cha; tình ngay thẳng vẫn ngụ trong đó vậy."[16]
Sự giải thích một chiều về giá trị Á châu là những điều chống đối với dân chủ và các quyền chính trị không tồn tại được dưới sự phân tích nghiêm túc. Tôi không nên quá khắt khe trước sự thiếu sót trầm trọng các nghiên cứu khoa học để bảo vệ luận cứ này, vì những người tuyên xưng giá trị Á châu không phải là học giả mà là những chính trị gia, thường phát biểu hoặc chính thức hoặc không chính thức cho các chế độ độc tài. Thật ra, đây cũng là điều thú vị khi những người nghiên cứu học thuật như chúng tôi thường bị mang tiếng là thiếu thực tế về các vấn đề chính trị, còn những chính trị gia thực tế thì lại thiếu thực tế về các vấn đề nghiên cứu.
Dĩ nhiên, muốn tìm những tác phẩm do những học giả chuyên chế trong truyền thống Á châu thì cũng chẳng khó khăn gì. Nhưng muốn tìm những tài liệu như vậy trong các tác phẩm Tây phương cũng dễ dàng thôi: Ta chỉ cần suy ngẫm những bài viết của Plato hoặc Aquinas là cũng đủ thấy sự tôn sùng kỷ luật không phải chỉ là đặc tính Á châu. Bỏ qua sự hợp lý của dân chủ như một giá trị toàn cầu chỉ vì một vài bài viết cổ võ kỷ luật và trật tự, thì cũng chẳng khác nào bỏ qua luôn dân chủ như một mô hình chính quyền tự nhiên tại Âu Mỹ ngày nay chỉ vì bài viết của Plato hay Aquinas (đó là chưa kể đến những tài liệu thời Trung cổ kết án những người ngoại đạo).
Dựa trên kinh nghiệm của những cuộc chiến chính trị cận đại, nhất là ở Trung Đông, Hồi giáo vẫn thường được xem là một tôn giáo tự bản chất thù địch và không dung thứ cho tự do cá nhân. Nhưng sự hiện hữu của những chi phái khác nhau trong cùng một truyền thống cũng xảy ra trong đạo Hồi như trong các tôn giáo khác. Tại Ấn độ, Akbar và đa số các hoàng đế Moghul khác (ngoại trừ vua Aurangzeb) là những thí dụ điển hình cho sự khoan dung giữa lý thuyết và thực hành về chính trị cũng như tôn giáo. Những vị hoàng đế Thổ nhĩ kỳ vẫn thường khoan dung hơn các vị vua cùng thời ở Âu châu. Có rất nhiều thí dụ trong số những vua chúa tại Cairo hay Baghdad. Thực ra trong thế kỷ 12, đại học giả Maimonides, gốc Do thái, đã phải bỏ trốn khỏi Âu châu nơi ông sinh ra, để tránh sự không dung thứ và bách hại người Do thái, và sang tá túc trong sự khoan dung tại Cairo dưới sự bảo trợ của vua Saladin.
Sự đa dạng là một nét đặc biệt của mọi nền văn hóa trên thế giới. Văn minh Tây phương cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Việc thực hành dân chủ rộng rãi tại Tây phương trong thời hiện đại, một phần lớn là kết quả của một sự đồng thuận đã được phát sinh ra từ thời Khai Sáng và Cách mạng Kỹ nghệ, và nhất là trong thế kỷ vừa qua.
Nếu ta chỉ xem sự gắn bó của Tây phương với dân chủ trong hơn một thiên niên kỷ, rồi so sánh với những truyền thống không thuộc Tây phương (xem những truyền thống đó như một khối thuần nhất), thì đó là một sai lầm lớn lao. Khuynh hướng dẫn đến sự cực kỳ đơn giản hóa này ta có thể thấy không những trong những lời tuyên bố của viên chức chính quyền tại Á châu, mà còn trong những lý thuyết của chính một số học giả nổi tiếng Tây phương.
Ta có thể dùng một thí dụ trong nhiều tác phẩm của một học giả nổi tiếng mà công trình nghiên cứu đã có rất nhiều ảnh hưởng, đó là luận đề của giáo sư Samuel Huntington về sự va chạm giữa các nền văn minh, nhưng sự khác biệt trong mỗi nền văn hóa không được ghi nhận đầy đủ. Sự nghiên cứu của Huntington đưa đến một kết luận rõ ràng là "ý thức về chủ nghiã cá nhân và truyền thống tôn trọng tự do và quyền cá nhân" trong nền văn hóa Tây phương là "một nét độc đáo trong số các xã hội văn minh."[17] Hungtington cũng lập luận rằng "những đặc tính trọng yếu của Tây phương, những đặc tính mà đã tạo nên sự khác biệt với các nền văn minh khác, đã hiện hữu trước khi Tây phương được hiện đại hóa." Theo ông, "Tây phương là Tây phương trong một thời gian rất dài trước khi trở thành hiện đại."[18] Tuy nhiên, đó là một luận đề mà­, như tôi đã lý luận, không đứng vững trước sự mổ xẻ, phân tích các dữ kiện lịch sử.
Đối với mọi nỗ lực của một người phát ngôn cho các chính quyền Á châu nhằm chứng tỏ sự tương phản giữa "cái gọi là" giá trị Á châu với cái gọi là giá trị Tây phương, thì cũng giống như nỗ lực của những nhà trí thức Tây phương nhằm chứng minh sự tương phản do phía bên kia đưa ra. Nhưng dù cho mỗi sức kéo của Á châu bị trung hòa bởi sức đẩy từ Tây phương, thì cả hai cũng chẳng làm xuy xuyển được giá trị toàn cầu của dân chủ.
Trọng tâm của vấn đề
Tôi đã cố trình bày một số các vấn đề liên quan đến giá trị toàn cầu của dân chủ. Giá trị của dân chủ gồm có cả sự quan trọng nội tại trong đời sống của loài người, vai trò công cụ trong việc tạo ra những phần thưởng và trừng phạt chính trị, và chức năng xây dựng trong việc hình thành những giá trị (và trong sự hiểu biết về sức đẩy và sự khả thi của những tuyên xưng về nhu cầu, quyền lợi, và bổn phận). Những giá trị này không hề mang tính chất địa phương. Tương tự như sự cổ võ cho kỷ luật và trật tự. Sự khác biệt giữa những giá trị, có lẽ là nét chung của hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả các nền văn hóa chính của con người. Lý luận văn hóa không hạn chế hay loại trừ những sự lựa chọn của chúng ta ngày nay.
Những sự lựa chọn này phải được thực hiện tại đây và ngay bây giờ, cùng lúc phải ghi nhận chức năng của dân chủ mà các nền dân chủ trên thế giới hiện nay đang áp dụng. Tôi đã chứng minh rằng giá trị toàn cầu của dân chủ là một giá trị vững chắc và không mang tính chất địa phương. Sức mạnh của sự tuyên xưng giá trị toàn cầu của dân chủ nằm ở chỗ đó. Đó mới chính là trọng tâm của vấn đề. Giá trị toàn cầu của dân chủ không thể bị phủ nhận bởi những cấm kỵ tưởng tượng của văn hóa Á châu hay tính chất tiên thiên thuận lợi của Tây phương.
© Học Viện Công Dân 2009
Nguồn:
http://www.gozaar.org/template1.php?id=1120&language=english
 

[1] Trong tiểu thuyết Điểm Đối Điểm của Aldous Huxley's, một người chồng nói dối vợ là anh ta phải đi London để nghiên cứu về nền dân chủ của cổ Ấn độ trong thư viện của Viện Bảo tàng Quốc gia, để đi thăm nhân tình.
[2] Ruth Dreyfus là nữ tổng thống đầu tiên của Thụy sĩ vào năm 1999. Phụ nữ Thụy sĩ được quyền bầu cử lần đầu tiên năm 1971, và quyền ứng cử/bầu cử tại các cấp chính quyền từ địa phương tới liên bang từ năm 1990 (ghi chú của người dịch).
[3] Ấn độ có 22 ngôn ngữ chính được hiến pháp công nhận, và hàng ngàn các ngôn ngữ khác nhau (Indian Language: http://www.indianlanguages.com/main/index.php). Có 4 nhóm tôn giáo chính tại Ấn độ: Ấn giáo (Hindu), Hồi giáo (Islam), Thiên Chúa giáo, và đạo Sik; ngoài ra còn Phật giáo, đạo Jain cùng những giáo phái khác do nhiều đạo sư sáng lập  (ghi chú của người dịch).
[4] Adam Przeworski et al., Sustainable Democracy (Cambridge: Cambridge University Press, 1995); Robert J. Barro, Getting It Right: Markets and Choices in a Free Society (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1996).
[5] Tôi đã khảo sát  các bằng chứng thực nghiệm và quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này một cách chi tiết trong cuốn sách Development as Freedom, sắp được nhà xuất bản Knopf phát hành năm 1999.
[6] Xem thêm bài viết của tôi trong tiểu luận "Phát triển: Nhưng theo hướng nào?" Tạp Chí Kinh Tế, bộ 93 (12,1983); sách Tài nguyên, Giá trị, và Phát triển (Harvard University Press, 1984); và tiểu luận "Lý tính và Sự Lựa chọn Xã hội," diễn văn của tôi, lúc đó là chủ tịch Hiệp hội Kinh tế Hoa kỳ, được in trong tạp chí American Economic Review tháng Ba, 1995. Xem thêm các cuốn sách do Jean Dr'eze và Amartya Sen viết, nhan Nạn Đói và Các Hoạt động Công (nhà xuất bản Clarendon Press, 1987); do Frances D'Souza, chủ biên, nhan Nạn Đói trong Thầm lặng: Báo cáo về Nạn đói và chế độ kiểm duyệt (Điều 19 của Trung tâm Quốc tế về Kiểm duyệt, 1990); sách do Human Rights Watch xuất bản, nhan Những Nhân quyền bất khả phân: Quan hệ giữa Quyền Chính trị và Dân sự với Sự Nghèo đói, Sinh kế, và Sinh tồn (1992); và Báo cáo về Thiên tai trên Thế giới của hội Hồng thập tự Quốc tế và hội Lưỡi liềm Đỏ, 1994.
[7] Dr'eze và Sen, Nạn Đói và Các Hoạt động Công.
[8] Phần thưởng chính trị: cử tri dành cho những viên chức chính quyền hoạt động hữu hiệu trong thời gian tại chức; ngược lại, viên chức chính quyền sẽ bị cử trị bầu cho ứng viên khác (ghi chú của người dịch).
[9] Áo nghĩa thư là một trong những tác phẩm triết học cổ điển của Ấn độ và cũng là kinh điển của giáo phái Vệ đà của Ấn giáo (ghi chú của người dịch).
[10] Xem thêm cuốn sách "Tagore và nước Ấn độ" của tôi do nhà xuất bản New York Review of Books phát hành năm 1997.
[11] Phân tích phản-sự thật (counterfactual analysis) là một phương pháp lý luận dựa trên mô hình sau đây: "Nếu A và B là 2 sự kiện thực khác nhau, thì sự hiện hữu của B có quan hệ nhân quả với A, nếu và chỉ nếu, nếu A không xảy ra, thì B sẽ không xảy ra." (xem thêm David Lewis' Theory tại: http://plato.stanford.edu/entries/causation-counterfactual/. Ghi chú của người dịch)
[12] Amartya Sen, "Nhân quyền và các Giá trị Á châu," do Carnegie Council on Ethics and International Affairs ấn hành năm 1997), bản rút ngắn được in lại trong tờ The New Republic, ngày 14-21/07/1997.
[13] Fareed Zakaria, "Văn hóa là Số mệnh: Cuộc trò chuyện với Lý Quang Diệu," Tạp chí Foreign Affairs số 73 (March-April 1994): 113.
[14] Luận ngữ, 14:23
[15] Luận ngữ, 14: 4 (bản dịch Đoàn Trung Còn, Nhà XB Thuận Hóa, 2000)
[16] Luận ngữ, 13:18 (sách đã dẫn)
[17] Samuel P. Huntington, Sự Va chạm giữa các nền văn minh và Công cuộc Tái lập Trật tự Thế giới, New York: Simon and Schuster, 1996, trang 71.
[18] Sách đã dẫn, trang 69.

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Mã Chiến – Phiên tòa có tính trình diễn mang tầm thế kỉ của Trung Quốc




Phạm Nguyên Trường dịch




LONDON – Phiên tòa, lời buộc tội và bản án tử hình được hoãn thi hành dành cho bà Cốc Khai Lai, vợ của nhà lãnh đạo Trung Quốc vừa bị thất sủng tên là Bạc Hi Lai, làm người ta nghi ngờ không chỉ hệ thống pháp lý của Trung Quốc mà còn nghi ngờ cả sự thống nhất của Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản nữa.



Xin bắt đầu bằng những vấn đề xuất hiện tại phiên tòa. Bà Cốc tuyên bố rằng bà ta giết doanh nhân người Anh, ông Neil Heywood, là để bảo vệ con mình. Nhưng với quyền lực của Cốc, vợ ông Bạc, thì việc giam giữ hay trục xuất một người như ông Heywood chỉ là một cái búng ngón tay. Không cần tới chất cyanide.




Tuy nhiên, bà ta không chỉ công nhận tội lỗi mà dường như còn coi đó là nhu cầu của lịch sử nữa. “Nhằm củng cố sự trong sáng của pháp luật, tôi sẵn sàng chấp nhận và đối mặt với bất kỳ bản án nào, tôi cũng hy vọng một bản án công bằng và chính trực”, bà ta đã nói với tòa như thế. Từ những phiên tòa có tính trình diễn của Stalin hồi những năm 1930, chưa có bị cáo nào lại ca ngợi quan tòa – người phải kết án bà ta tại một phiên toà mà không có nhân chứng hay bằng chứng nào chống lại bà ta được trình ra – một cách nồng nhiệt đến như vậy.



Phiên tòa xử một cách chóng vánh bà Cốc còn nực cười hơn nữa là bà ta là người hoàn toàn tin tưởng vào hệ thống pháp lý của Trung Quốc. Sau khi giành chiến thắng ở một tòa án Mỹ, bà Cốc, vốn là một Luật sư, đã viết một cuốn sách, trong đó bà tuyên bố rằng Trung Quốc cung cấp cho người ta “phương pháp xử án công bằng nhất”. “Các Luật sư Trung Quốc không tranh luận lằng nhằng về ý nghĩa của mỗi chữ. Một khi họ tin chắc rằng anh đã giết một người nào đó thì anh sẽ bị bắt giam, bị đưa ra tòa và bị hành quyết”, bà ta viết như thế.



Nói đúng ra, bà Cốc là biểu hiện của của luật pháp Maoist mà Trung Quốc còn giữ lại sau khi Mao chết đã lâu. Không vượt qua được kì thi vào trường Đại học tổng hợp Bắc Kinh, nhưng bà Cốc lại được đặc cách học luật sau khi Đảng cộng sản khôi phục khoa luật học. Trước đó, bà ta bán thịt lợn tại một khu chợ ở Bắc Kinh, ở đây bà ta có biệt danh là “Yi dao zhun (Nhất đao chuẩn一刀准), nghĩa là chỉ cần một nhát là được đúng miếng thịt mong muốn.



Bà Cốc là một trong những người đầu tiên có giấy phép hành nghề Luật sư. Nhưng từ sau sự kiện xảy ra trên quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989, chính quyền đã xiết chặt sự tự chủ của nghề luật sư. Đảng, thông qua Ủy ban về luật pháp và chính trị trực thuộc Ban chấp hành trung ương (PLAC), đã nắm lại quyền kiểm soát tất cả các khía cạnh của Tòa án.



Cơ quan có tính toàn trị này không có địa chỉ cụ thể, nhưng nó quản lý cảnh sát, công tố và Bộ Tư pháp và bổ nhiệm ban lãnh đạo của những tổ chức này. Tất cả các Luật sư đều bị nó theo dõi. Đặc biệt quan trọng là, Ban thư ký của PLAC địa phương cũng đồng thời là lãnh đạo cơ quan an ninh địa phương. Không có gì ngạc nhiên là nghệ sĩ Ngải Vị Vị có thể bị giam ở nơi bí mật, Lưu Hiểu Ba bị kết án đến 11 năm tù giam, còn Li Wangya (Lý Uông Dương 李旺阳) thì có thể “tự sát” khi bị giam giữ.



Nhưng ngay cả hệ thống kiểm soát chặt chẽ nhất cũng có khe hở. Nếu Vương Lập Quân, cựu Giám đốc Công an Trùng Khánh và là đồng minh thân cận của Bạc Hi Lai, không sợ và không chạy vào Lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô thì bây giờ Cốc có thể vẫn còn đang giúp Bạc cai trị thành phố.



Vương không phải là một người trong sạch. Trước khi trở thành Giám đốc Công an của Bạc, ông ta từng là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tâm lý học tại hiện trường (Field Psychology Research Center), nơi những tội nhân bị hành quyết, nội tạng của họ thì bị lấy đi. Bài báo của Vương có nhan đề: “Nghiên cứu việc cấy nội tạng từ người hiến sau khi bị hành quyết bằng phương pháp tiêm” đã được trao Giải thưởng đóng góp đổi mới của Trung tâm khoa học kỹ thuật Quang Hoa (Guanghua Innovation Contribution Award). Trong bài báo, ông ta ca ngợi “thành công” của “hàng ngàn trường hợp cấy ghép”.



Nhận thức được sự dã man của hệ thống ở Trung Quốc, chắc chắn Vương biết rằng sau khi ngã ngựa cùng với Cốc và Bạc thì Lãnh sự quán Mỹ là nơi duy nhất ông ta có thể tìm được sự che chở.



Nói cho cùng, liên quan tới những cơ quan an ninh công cộng, tòa án và hệ thống nhà tù, thì Cốc bao giờ cũng có tiếng nói cuối cùng. Bà ta từng là cố vấn của chồng trong việc tiêu diệt tội phạm và tham nhũng và là người chịu trách nhiệm trong việc bỏ tù hai người, trong đó có thư kí PLAC quận Vu Sơn.



Trên thực tế, vài ngày sau khi giết Heywood, Cốc đã khoác lên người bộ quân phục Trung tướng (có thể là của bố bà ta, tướng Gu Jingsheng – Cốc Cảnh Sinh谷景生), rồi tập hợp các sĩ quan công an ở Trùng Khánh và nói dối là bà ta nhận được mật lệnh của Bộ Nội vụ là phải bảo vệ an toàn cho Vương. Bộ quân phục có thể là nhằm dọa công an Trùng Khánh.



Nhưng thật bất ngờ và không thể nào giải thích được là Vương bị đưa từ Lãnh sự quán Mỹ về Bắc Kinh. Ông ta đã trình cho lãnh đạo Đảng bằng chứng làm cho Bạc sụp đổ, còn Cốc thì bị bắt giữ. Nhưng việc phát hiện ra những bí mật động trời của Bạc cũng có nghĩa là phát hiện ra thế giới ngầm của giới “quý tộc đỏ”. Cho nên Vương không thể hy vọng vào sự nhân từ của phiên tòa xử ông ta, một phiên tòa có thể kết thúc bằng án tử hình được thay bằng lao động khổ sai.



Nhằm bảo vệ giới quý tộc đỏ, trong phiên tòa xử Cốc, PLAC đã không nhắc gì tới hàng loạt tội phạm về kinh tế của bà ta. Cho nên trong cuốn lịch sử được PLAC viết lại, Heywood đã bị giết vì bà Cốc muốn cứu con là Bạc Qua Qua. Còn Vương, trong khi tiết lộ tội ác của Bạc và Cốc, không phải là để bảo vệ thanh danh của Trung Quốc mà là đã tiết lộ câu chuyện của ông ta cho những thế lực thù địch ngoại quốc. Chỉ có trừng phạt ông ta thì mới làm dịu được cơn tức giận của quần chúng.



Nhưng vụ Bạc Hi Lai và Cốc Khai Lai có thể chỉ là khúc dạo đầu vì chỉ có một sự thật được bộc lộ trong vụ này, đấy là Ban lãnh đạo Đảng đang bị chia rẽ. Lũ chó sói bắt đầu quay sang cắn nhau rồi.


Nguồn: project-syndicate.org

Thư ngỏ của Makarevich gửi tổng thống Putin



Phạm Nguyên Trường dịch



Lời người dịch: Andrey Vadimovich Makarevich, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1953, nhạc sĩ Liên Xô và Nga, ca sĩ, nhà thơ, họa sĩ, người dẫn chương trình truyền hình, trưởng ban nhạc “Cỗ máy thời gian”, từng được phong danh hiệu nghệ sĩ công huân Cộng hòa Liên bang Nga (1991) và Nghệ sĩ nhân dân Nga, vừa gửi cho tổng thống Putin bức thư ngỏ (ngày 7 tháng 8 năm 2012) nhằm phê phán nạn tham nhũng và sự thối nát của hệ thống tòa án Nga. Sau đây là bản dịch tiếng Việt toàn bộ bức thư ngỏ.




Thưa Valadimir Vladimirovich!



Là một ca sĩ, tôi thường xuyên đi khắp đất nước và gặp gỡ nhiều người khác nhau. Điều tôi sắp nói với ngài, về nguyên tắc chắc chắn là ngài cũng đã biết, nhưng tôi ngờ rằng ngài không tưởng tượng được mức độ của tai họa. Chắc chắn là ngài biết từ “lại quả”. Cách đây 5-6 năm lại quả trung bình trên cả nước là 30%. Người ta đã khóc, nhưng họ vẫn móc hầu bao. Hiện nay là 70%. Tôi biết chắc một trường hợp khi lại quả chiếm tới 95%. Cả nước đều biết chuyện này. Biết nhưng im lặng vì một phần dân chúng được lại quả cho ăn, phần còn lại (lớn hơn nhiều) sợ mất 30% còn lại. Tôi biết ngài sẽ nói – bảo họ đưa ra tòa. Họ không đưa ra tòa, thưa Valadimir Vladimirovich. Vì tòa án của chúng ta hiện nay – đấy hoặc là cỗ máy nhằm trừng phạt những người mà họ không ưa hoặc là cỗ máy moi tiền của bên nguyên.



Như vậy là chúng ta định dùng 30% còn lại để củng cố quốc phòng, xây dựng đường xá, phát triển công nghiệp, y tế, giáo dục và tổ chức thế vận hội hoành tráng nhất thế giới. Nếu tình hình không được cải thiện triệt để ngay trong thời gian tới thì sẽ có mùi thảm họa.  



Tôi viết bức thư này cho ngài vì bất cứ một sự thay đổi nghiêm túc nào ở trong nước cũng đều chỉ xảy ra do quyết định, do ý kiến và quan điểm của ngài. 



Tôi không tin rằng ngài lại phớt lờ cái đất nước đã bầu ngài làm tống thống đến như vậy.



Andrey Makarevich.



Dịch từ nguyên bản tiếng Nga tại địa chỉ:

Bowman Cutter - Giáo dục, liều thuốc thần cho nền kinh tế



Phạm Nguyên Trường dịch

Vài lời phi lộ: Giáo dục, liều thuốc thần cho nền kinh tế của Bowman Cutter do mỗ dịch và gửi cho tạp chí Tia Sáng. Sau đây là bản rút gọn của Tiasang.com.vn, còn bên dưới là bản đầy đủ.


Đôi khi người ta quên mất rằng ngành giáo dục Mĩ đã tạo ra một trăm năm phát triển.

Trong những buổi thảo luận về Nền kinh tế Mĩ giai đoạn tiếp theo với Giáo sư Larry Katz diễn ra vào tuần trước, ông đã tập trung nói về tác phẩm do ông viết chung với Giáo sư Claudia Goldin, với nhan đề Cuộc chạy đua giữa giáo dục và công nghệ (The Race Between Education and Technology) trong đó giáo sư Larry đã đưa ra một số nhận định căn bản. 

(Dưới đây là những nhận định mà tôi cho là quan trọng nhất, Giáo sư có thể nghĩ khác). 

Thứ nhất, ít nhất 25% của sự gia tăng năng suất lao động – cũng có nghĩa là sự phát triển kinh tế của nước ta – trong suốt 100 năm qua (từ năm 1870 đến 1970) có liên quan trực tiếp với sự gia tăng số năm đi học trung bình của người Mĩ. Có nhiều khả năng là trên thực tế, đóng góp của giáo dục cho sự phát triển kinh tế lớn hơn rất nhiều.


Thứ hai, trong suốt giai đoạn này, chẳng những kinh tế có tốc độ phát triển cao mà quyền bình đẳng cũng được cải thiện, mặc dù đã có những thay đổi cơ bản cả trong kinh tế lẫn công nghệ nhờ những tiến bộ trong lĩnh vực giáo dục. 

Thứ ba, những thay đổi cơ bản trong lĩnh vực giáo dục giai đoạn này diễn ta trong phong trào gọi là “phổ thông trung học”, tức là phong trào của những người dân bình thường, những người nhìn thấy rằng cơ sở cho thành công của cộng đồng là mọi người, không phân biệt giới tính, đều được đi học miễn phí.

Nhưng thời gian gần đây phong trào “phổ thông trung học” đã có những thay đổi lớn, hệ giáo dục sau phổ thông không còn là miễn phí nữa. Chính vì vậy mà những thành tựu trong lĩnh vực giáo dục đã chậm lại, kinh tế phát triển chậm và gia tăng một cách nhanh chóng hiện tượng bất bình đẳng, chứ không phải là do việc tập trung thu nhập vào tay 1% những người giàu có nhất, như báo chí thường viết. 

Trên cơ sở buổi thảo luận với Giáo sư Larry, tôi rút ra kết luận, nếu nước Mỹ muốn có tốc độ phát triển trong 20 năm tới đây cao hơn tốc độ phát triển trong 20 qua, chúng ta phải làm một cuộc các mạng trong lĩnh vực năng suất lao động, tốc độ phát triển kinh tế chủ yếu trong thập kỉ tới khoảng 80% là do đóng góp của năng suất lao động, thay vì 35 đến 50% như trong ba thập kỉ vừa qua. 

Việc duy nhất chúng ta có thể làm nhằm gia tăng tốc độ phát triển của năng suất lao động là nâng cao trình độ học vấn của người Mĩ bằng một cuộc cách mạng thật sự trong lĩnh vực giáo dục, chứ không phải là mở rộng đơn thuần hệ thống đã có sẵn. Nó phải là sự kết hợp của việc học tập và cấp chứng chỉ trong suốt cuộc đời, phải cố gắng dạy cho học sinh những phương pháp để họ có thể thường xuyên nâng cao kiến thức của mình, phải cố gắng giữ vững điều mà Giáo sư Larry Katz gọi là huấn luyện theo hoàn cảnh, đổi mới và củng cố hệ thống các trường cao đẳng cộng đồng của chúng ta, biến internet thành hệ thống dễ sử dụng và hướng tới từng người học cụ thể, và những khoản chi phí dài hạn. Tôi cho là trong khoảng thời gian dài, mỗi năm cần chi từ 50 đến 75 tỉ USD, tức là một phần ba đến 0,5% GDP. 

 Bowman Cutter là một thành viên cao cấp và Giám đốc dự án kinh tế sau Mỹ tại Viện Roosevelt.




Giáo dục: liều thuốc thần của nền kinh tế Mĩ

Đôi khi người ta quên mất rằng sự bành trướng của ngành giáo dục Mĩ đã tạo ra một trăm năm phát triển.
Trong những buổi thảo luận về Nền kinh tế Mĩ giai đoạn tiếp theo với Giáo sư Larry Katz diễn ra vào tuần trước, ông đã tập tung nói về tác phẩm do ông viết chung với Giáo sư Claudia Goldin, với nhan đề Cuộc chạy đua giữa giáo dục và công nghệ (The Race Between Education and Technology). Nếu bạn chưa đọc cuốn sách thì bạn sẽ không hiểu được nhiều vấn đề trong nền kinh tế của chúng ta. Nếu bây giờ, sau khi đã được nghe nói về cuốn sách, mà bạn vẫn không đọc ít nhất là phần dẫn nhập của nó thì bạn nên lấy làm xấu hổ. Giáo sư Larry đã đưa ra một số nhận định căn bản. (Dưới đây là những nhận định mà tôi cho là quan trọng nhất, Giáo sư có thể nghĩ khác).

Thứ nhất, ít nhất 25% của sự gia tăng năng suất lao động – cũng có nghĩa là sự phát triển kinh tế của nước ta – trong suốt 100 năm qua (từ năm 1870 đến 1970) có liên quan trực tiếp với sự gia tăng số năm đi học trung bình của người Mĩ. Có nhiều khả năng là trên thực tế, đóng góp của giáo dục cho sự phát triển kinh tế lớn hơn rất nhiều, 25% là con số tối thiểu.  

Thứ hai, trong suốt giai đoạn này, chẳng những kinh tế có tốc độ phát triển cao mà quyền bình đẳng cũng được cải thiện, mặc dù đã có những thay đổi cơ bản cả trong kinh tế lẫn công nghệ - sự thay đổi cũng lớn như những thay đổi mà chúng ta đã thấy trong 30 năm qua. Nói cách khác, chúng ta đã trải qua tất cả những chuyện này rồi. Nhờ những tiến bộ trong lĩnh vực giáo dục mà chúng ta đã giải quyết thành công những tác động của biến đổi công nghệ trong quá khứ. Không có lí do gì để lần này chúng ta  không giải quyết được.

Thứ ba, những thay đổi cơ bản trong lĩnh vực giáo dục giai đoạn này diễn ta trong phong trào gọi là “phổ thông trung học”, tức là phong trào của những người dân bình thường, những người nhìn thấy rằng cơ sở cho thành công của cộng đồng là mọi người, không phân biệt giới tính, đều được đi học miễn phí.

Thứ tư, thời gian gần đây không có cuộc cách mạng nào trong lĩnh vực giáo dục có phạm vi rộng như phong trào “phổ thông trung học” và những thay đổi to lớn như thế - sự phát triển của hệ giáo dục sau phổ thông – không còn là miễn phí nữa. Chính vì vậy mà những thành tựu trong lĩnh vực giáo dục đã chậm lại, kinh tế phát triển chậm và bất bình đẳng gia tăng.

Cuối cùng, sự thụt lùi trong lĩnh vực giáo dục có thể là tác nhân quan trọng hơn trong việc gia tăng một cách nhanh chóng hiện tượng bất bình đẳng chứ không phải là việc tập trung thu nhập vào tay 1% những người giàu có nhất, như báo chí thường viết.

Trên cơ sở buổi thảo luận với Giáo sư Larry , tôi rút ra kết luận rằng thần chú của phong trào chính trị thành công tiếp theo ở Mĩ phải là sự phát triển bền vững, công bằng và đấy là mục tiêu hợp tình hợp lí.  
Xin nói thêm. Trong một vài năm nữa chúng ta có thể bước vào giai đoạn phát triển kinh tế với tốc độ tương đối cao, trong một thời gian dài, đấy là nói nếu chúng ta thay đổi được đường lối của mình. Tôi đã viết về vấn đề này trong bài báo với nhan đề Phong trào Phục hưng của Mĩ.

Nhưng đây không phải là việc dễ. Nếu muốn có tốc độ phát triển trong 20 năm tới đây cao hơn tốc độ phát triền trong 20 qua, chúng ta phải làm một cuộc các mạng trong lĩnh vực năng suất lao động. Tốc độ phát triển kinh tế chủ yếu phải từ năng suất lao động – trong thập kỉ tới, khoảng 80% là do đóng góp của năng suất lao động, thay vì 35 đến 50% như trong ba thập kỉ vừa qua. Muốn giữ tốc độ phát triển như ba thập kỉ vừa qua, năng suất lao động phải tăng khoảng một phần ba. Nếu điều đó không xảy ra, thế hệ sinh ra trong thập kỉ trước sẽ trở thành những người chứng kiến sự gia tăng khoảng 60% thu nhập trung bình trên đầu người, như thế hệ những người sinh ra trong thập kỉ 60 từng chứng kiến.

Việc duy nhất chúng ta có thể làm nhằm gia tăng tốc độ phát triển của năng suất lao động là nâng cao trình độ học vấn của người Mĩ. Nhưng phát triển bền vững, công bằng không phải là mục tiêu mà hai đảng đang tập trung vào. Tái phân phối thu nhập mà phong trào tiến bộ hiện thời đang tập trung vào là việc làm không đúng chỗ, nhưng lại có lợi cho họ. Không đúng chỗ là vì có những biện pháp tốt hơn, có giá trị hơn nhằm đạt được cả bình đẳng hơn lẫn phát triển hơn; có lợi cho họ vì nó giúp người ta bỏ qua nhiều vấn đề khác. Phái hữu bị thị trường tự do ám ảnh – đấy còn là ý tưởng điên rồ, hơn vì họ hoàn toàn bỏ qua lịch sử phát triển kinh tế của nước Mĩ.

Cuộc cách mạng thật sự tiếp theo trong lĩnh vực giáo dục của Mĩ không phải là mở rộng đơn thuần hệ thống đã có sẵn. Nó phải là sự kết hợp của việc học tập và cấp chứng chỉ trong suốt cuộc đời, phải cố gắng dạy cho học sinh những phương pháp để họ có thể thường xuyên nâng cao kiến thức của mình, phải cố gắng giữ vững điều mà Giáo sư Larry Katz gọi là huấn luyện theo hoàn cảnh, đổi mới và củng cố hệ thống các trường cao đẳng cộng đồng của chúng ta, biến internet thành hệ thống dễ sử dụng và hướng tới từng người học cụ thể, và những khoản chi phí dài hạn. Tôi cho là trong khoảng thời gian dài, mỗi năm cần chi từ 50 đến 75 tỉ USD, tức là một phần ba đến 0,5% GDP.

Không muốn nhắc đi nhắc lại những điều tôi thường nói, nhưng cánh cửa trước điều có thể gọi là chủ nghĩa tiến bộ mới hay phong trào bảo thủ mới đang rộng mở. Lúc đó những người cánh hữu cũ sẽ hướng tới nền kinh tế thị trường tự do và không bị kiểm soát. Còn những người cánh tả cũ sẽ hướng tới việc phân phối thu nhập. Nhưng công việc xây dựng xã hội có thể hoạt động được, trên cơ sở phát triển bền vững và công bằng, lại do những người muốn khát vọng của mình trở thành hiện thực thực hiện.

Bowman Cutter là một thành viên cao cấp và Giám đốc dự án kinh tế sau Mỹ tại Viện Roosevelt.


TQ phân cực chiến lược tại Châu Á-Thái Bình Dương

Nhà kinh tế quốc tế Claude Myer nhận định: “Trên thực tế, sự đối đầu mà Bắc Kinh sẽ thực hiện là cuộc chiến đối đầu với Mỹ, cùng với sự phát triển tại khu vực châu Á lấy Trung Quốc là trọng tâm và sự sụt giảm tương đối của phương Tây mà Mỹ là trọng tâm. Một siêu cường đang được hình thành, đó là Trung Quốc với mục tiêu cuối cùng là nhằm ganh đua vị trí bá chủ của Mỹ và tác động đến trật tự thế giới theo hình thức đối thoại bình đẳng với Mỹ”.
Chiến lược của Trung Quốc đã thể hiện thông qua mục tiêu như đã chỉ ra ở trên một cách rõ ràng từ giữa thập niên vừa qua. Việc Trung Quốc sử dụng quyền lực mềm để gây ảnh hưởng với các nước châu Á láng giềng đã thu được lợi ích đáng kể trong phần lớn thập niên vừa qua. Điều này đã tạo ra một khoảng trống chiến lược nhấn chìm châu Á-Thái Bình Dương với sự sụt giảm về lực lượng quân đội Mỹ do diễn biến tại Ápganixtan và Irắc. Khoảng trống này cũng tạo thuận lợi cho Trung Quốc thực hiện một đường hướng về việc mở rộng quân sự không hạn chế và không có trở ngại.

Điều này đã tạo ra hai khía cạnh khác nhau của sức mạnh quân sự Trung Quốc. Điều đầu tiên đó là việc Trung Quốc nhận thấy là đối tác bình đẳng với Mỹ và kích động Trung Quốc tiếp tục thực hiện một cách dễ dàng những vấn đề còn tranh cãi như Đài Loan, Tây tạng và vấn đề biển Nam Trung hoa. Đây  là những vấn đề cốt yếu mà Trung Quốc sẵn sàng gây chiến tranh. Vấn đề thứ hai là Trung Quốc không bị hạn chế bởi Mỹ đã thành công khi tạo ra được cho các nước lân cận nhận thức rằng Hoa Kỳ không phải là đối tác chiến lược tin cậy của bất kể một nước châu Á nào khi phải đối mặt với Trung Quốc. Thủ đô của các nước châu Á được khuyến cáo rằng sức mạnh của châu Á nằm ở Bắc Kinh chức không phải ở Oasinhtơn. Trước khi làm rõ chủ đề của bài viết này hai nhận xét của tác giả nói trên cần phải được nghiên cứu đó là sự nổi lên của châu Á với Trung Quốc là trọng tâm và ý định của Trung Quốc là nhằm gây ảnh hưởng với trật tự thế giới theo cách đối thoại bình đẳng với Hoa Kỳ.

Tham vọng chiến lược của Trung Quốc về sự nổi lên của châu Á với Trung Quốc là trung tâm dường như sẽ được giải quyết khi có sự đánh giá chiến lược về khía cạnh môi trường an ninh châu Á. Sự chuyển đổi của Trung Quốc từ chiến lược lớn dựa vào quyền lực mềm sang việc sử dụng vũ lực (hard power) dường như tạo ra một sự phân cực về chiến lược tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ý định của Trung Quốc sẽ không được môi trường an ninh châu Á nhìn nhận như ý định mang tính chất hòa bình. Sự thay đổi của Trung Quốc trong chiến lược lớn dường như đã tạo ra nhận thức về một sự đe dọa của nước này đang nhấn chìm  châu Á-Thái Bình Dương.

Sự gia tăng chủ nghĩa ôn hòa ở châu Á cần phải được xem xét như một vấn đề tập trung nhiều hơn vào nhận thức chiến lược châu Á về khả năng đe dọa của Trung Quốc hơn là sự nổi lên của châu Á do Trung Quốc lãnh đạo để chiến đấu chống lại sự thống trị của Mỹ và thay đổi cán cân quyền lực ở châu Á-Thái Bình Dương. Sự bình đẳng về mặt chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc về đối thoại bình đẳng là không bền vững và thực tế khi cán cân quyền lực ở châu Á và thế giới cần phải được xem xét. Trung Quốc chỉ có thể nổi lên như một sự bình đẳng chiến lược với Mỹ nếu nước này tập trung vào mặt chiến lược được hàng loạt các nước ở châu Á-Thái Bình Dương tạo thành liên minh do Trung Quốc đứng đầu đối đầu với mô hình an ninh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, thật đáng buồn cho Trung Quốc là không có nước nào trong khu vực này muốn trở thành đồng minh với với nó trừ CHDCND Triều Tiên và Pakixtan vốn là đồng minh chiến lược. Ngoài ra, cũng có một sự khác biệt về mặt quân sự mà không thể thay đổi giữa Mỹ và Trung Quốc là về vũ khí hạt nhân, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân (ICBM) và khả năng điều quân.

Trở lại chủ đề chính về việc Trung Quốc đang thiết lập sự phân cực ở châu Á-Thái Bình Dương, cần phải nhấn mạnh rằng việc này là do Trung Quốc chứ không phải do Mỹ điều hành. Sự phân cực này cũng đã được thiết lập trong một khoảng thời gian và học thuyết của Tổng thống Mỹ Obama về trục chiến lược tại châu Á và việc tái cân bằng vị thế của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã bị chậm chễ. Mặc dù có những hệ quả tự nhiên của những động thái của Trung Quốc trong khu vực mang tính rất hùng hổ. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã bình yên về mặt chiến lược cho đến năm 2008 và châu Á cũng không thể hiện sự lo ngại trước việc nổi lên của Trung Quốc. Cho đến thời điểm đó có nhiều nước trung lập tại châu Á và họ không tin rằng liệu Mỹ có là một đối tác tin cậy hay không nếu như các vấn đề an ninh quốc gia của họ bị tác động bởi sự hiếu chiến đang nổi lên như Trung Quốc. Vào năm 2012 tình hình đã thay đổi rõ rệt, nhiều nước trung lập đã lựa chọn ngả theo Mỹ về mặt chiến lược. Tại sao lại có sự thay đổi về nhận thức về mặt chiến lược như vậy?

Chiến lược lớn của Trung Quốc dựa chủ yếu vào quyền lực mềm để đạt được mục tiêu chiến lược cuối cùng của nó dường như thực hiện trong giai đoạn từ 2006-2008. Sự hiếu chiến cũng như áp lực về mặt quân sự là con chủ bài lớn trong chiến lược của nước này.

Sau đó, Trung Quốc đã lợi dụng môi trường an ninh hiện có ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, khủng hoảng tài chính toàn cầu và những giai đoạn phát triển nhanh về hiện đại hóa quân đội để tiến hành sử dụng một cách mạnh mẽ sức mạnh quân sự mới được hình thành. Điều này được thể hiện là quan điểm mang tính chất áp đặt và hiếu chiến của Trung Quốc đối với các nước đang tranh chấp vùng biển Nam Trung Quốc. Nó cũng được thể hiện thông qua việc trấn áp về mặt quân sự như vụ việc biểu tình ở Tây tạng diễn ra trước hội nghị Olympic ở Bắc Kinh năm 2008. Điều này cũng được thể hiện thông qua việc tàu ngầm Trung Quốc có mặt tại vùng biển Nhật Bản và  Trung Quốc không gây áp lực với CHDCND Triều Tiên để có phản ứng mạnh hơn đối với những hành động mang tính quân sự chống lại Nhật Bản và Hàn Quốc, hai nước vốn là thành viên chủ chốt của Mỹ trong mô hình an ninh tại châu Á-Thái Bình Dương.

Có những dấu hiệu thay đổi về quan điểm của các nước châu Á khi Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và Minama, hai nước có địa chiến lược quan trọng và rộng lớn nằm ở hai bên sườn khu vực châu Á-Thái Bình Dương và có nhiều tiềm năng như đã từng được niêu tả trong bài viết trước đây của tôi sẽ tao cho Mỹ một chỗ đứng ở châu Á ngoài Hàn Quốc. Rõ ràng Nhật Bản và Mỹ đã tăng cường quan hệ quân sự và Hàn Quốc cũng thay đổi thái độ không rõ ràng đối với Trung Quốc. Philippin sau nhiều năm phản đối Mỹ về việc sử dụng căn cứu không quân và hải quân quan trọng thì nay cũng đồng ý cho Mỹ tham gia đầy đủ trong bối cảnh nước này đang có tranh chấp đến cùng với Trung Quốc về vùng biển Nam Trung hoa.

Trung Quốc được cho là có tầm nhìn, kế sách và tính kiên nhẫn một cách chiến lược lâu dài. Trung Quốc dường như đã hiểu sai ý định cũng như quyết tâm mang tính chiến lược của Mỹ khi gắn kết một cách chiến lược tại khu vực này. Mỹ không chỉ tăng cường mô hình an ninh của nó ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương mà hiện còn mở rộng ra khu vực xung quanh như Đông nam châu Á và tiểu lục địa Ấn Độ dưới các hình thức khác nhau như đối tác chiến lược và quan hệ chiến lược nhằm ám chỉ cho khu vực biết rõ mục đích mang tính uy lực và đe dọa của Trung Quốc.

Theo định hướng của Trung Quốc thì cuộc chiến đối đầu với Mỹ là không thể tránh khỏi, điều này sẽ đưa ra hai câu hỏi là liệu Mỹ hay Trung Quốc sẽ lẩn tránh cuộc chiến tranh? Câu hỏi thứ hai cần xem xét là trong cuộc chiến như vậy thì sự tổn thất của hai bên sẽ ra sao? Để trả lời câu hỏi thứ nhất tôi trích dẫn ý kiến của ông George Friedman -Giám đốc trung tâm nghiên cứu chiến lược Mỹ (Stratfor) viết trong cuốn sách mới xuất bản gần đây: "Mỹ đã tiến đến sức mạnh toàn cầu với cuộc chiến Tây Ban Nha-Mỹ vào năm 1898. Và đã duy trì đường hướng này trong một thế kỷ. Việc thay đổi về mức độ mà Hoa Kỳ sẽ thực hiện thì đó không phải là sự lựa chọn vì điều này rất kỳ quặc". Tương quan về mặt tổn thất trong một cuộc chiến kéo dài thì Trung Quốc sẽ bị tổn thất nhiều hơn so với Mỹ và do vậy sẽ có sự bất lợi về mặt chiến lược hơn. Liệu điều này có cản trở Trung Quốc hay không? Dường như là không vì Trung Quốc với tham vọng lớn sẽ khó từ bỏ chiến lược toàn cầu. Lợi thế đối với Mỹ là thành công trong cuộc chiến tranh lạnh và trong mọi khía cạnh thì nó cũng sẽ thành công trong một cuộc chiến tranh lạnh thứ hai trong thời gian này. Riêng sức mạnh kinh tế thì không chuyển thành quyền lực mang tính chiến lược, đó là sức mạnh áp đặt về quân sự và chính trị và có khả năng điều hành quân sự mang tính toàn cầu.

Để kết luận thì có thể nhận thấy rằng vấn đề ngoại giao của Mỹ không thể đạt được trong thời gian trước đây về vấn đề phân cực mang tính chiến lược tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương chống lại sự đe dọa của Trung Quốc, một chính sách hiếu chiến của Trung Quốc với sự thiếu kiên nhẫn và bất ngờ nhằm thể hiện quyền lực quân sự mới ở châu Á dường như đã tạo ra một cực chiến lược nổi bật tại châu Á-Thái Bình Dương chứ không phải sự bất lợi của Trung Quốc.
VietNamNet