Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Chính sách đất đai đang vì ai? Hồ Đăng Hòa, Lê Thị Quỳnh Trâm, Phạm Duy Nghĩa và Malcolm F. McPherson

Khó khăn không phải là bởi Chính phủ không sẵn sàng sửa đổi Luật mà bởi thiếu một bộ nguyên tắc hoàn chỉnh cho phép những vấn đề liên quan đất đai (và tài sản) được giải quyết một cách hợp lý và vô tư.
LTS: Tại kỳ họp Quốc hội sẽ diễn ra vào tháng 10 tới, Luật Đất đai sửa đổi sẽ được đưa ra bàn thảo. Để cung cấp thêm thông tin và các phân tích khoa học cho độc giả liên quan đến vấn đề được dư luận quan tâm rộng rãi. Nhân dịp này Tuần Việt Nam xin giới thiệu nghiên cứu về Chính sách và Luật lệ đất đai do Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn (IPSARD) thuộc Bộ Nông nghiệp Việt Nam đã phối hợp với Đại học Harvard và Tổ chức Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tiến hành. Đây là công trình của nhóm tác giả Hồ Đăng Hòa, Lê Thị Quỳnh Trâm, Phạm Duy Nghĩa và Malcolm F. McPherson trong khuôn khổ dự án “Phân tích chính sách nhằm xây dựng chính sách đất đai cho  phát triển kinh tế – xã hội tại Việt Nam”.

Chính sách đất đai được hiểu ở đây như các hành động và hoạt động mà thông qua đó Chính phủ Việt Nam xác định cho các cá nhân và nhóm trong xã hội về quyền của họ đối với đất đai, cụ thể hóa những hoàn cảnh mà trong đó quyền về đất đai có thể được chuyển nhượng, và xây dựng cơ chế để bảo vệ những quyền lợi đó và định hướng xử lý các tranh chấp có liên quan.
Những chính sách đất đai chính thức (de jure) của Việt Nam trước đây được phản ánh thông qua nhiều luật (chẳng hạn như Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003), nghị định, chỉ thị, quyết định và thông tư. Những chính sách này do Chính quyền trung ương thiết lập và do các bộ ngành và những cơ quan có liên quan ở các cấp triển khai thực hiện.
Những chính sách đất đai phi chính thức (de facto) được xác định theo cách các cơ quan quyền lực khác nhau và các đơn vị chức năng trực thuộc diễn giải, thực hiện và tuân thủ các chỉ đạo của Trung ương. Sự gắn kết ý đồ và kết quả đạt được trên thực tế sẽ xác định tính hiệu lực của chính sách đất đai.
Số liệu dưới đây cho thấy bên cạnh những văn bản liên quan đến đất đai được chuẩn bị kỹ lưỡng và áp dụng đúng như dự định vẫn còn khá nhiều văn bản không đạt được mục đích trên.
Kinh nghiệm lịch sử, kể cả ở Việt Nam và các nước khác, cho thấy rằng việc sử dụng, phân bổ, quy hoạch và quản lý đất luôn là những vấn đề nhạy cảm nhất, được tranh cãi nhiều nhất và chịu áp lực chính trị nhiều nhất ở bất cứ xã hội nào. Những điều này cũng đúng ngay cả trong thời đại ngày nay.
Đất có nhiều công dụng. Đất là tài nguyên sản xuất và đặc tính cơ bản của nó là vị trí tương đối tới nơi cung cấp nguyên liệu sản xuất và thị trường cho sản phẩm.Vị trí địa lý của đất được phân biệt bởi khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và các yếu tố vật  lý khác phục vụ cho các mục đích về môi trường, văn hóa và hành chính. Việc sử dụng đất hiệu quả đem lại công ăn việc làm, tạo ra sản phẩm, thu nhập và là nguồn cung cấp cho chi tiêu của gia đình và kinh doanh.
Đất đai là một tài sản văn hóa đối với mỗi cá nhân và cộng đồng. Đất đai đưa ra ý niệm về “nơi chốn” và nhận dạng vì thế nó đóng góp vào vốn xã hội quốc gia, gồm hệ thống các mối quan hệ và mạng lưới nhằm hỗ trợ và duy trì các cộng đồng và các vùng trong cả nước.
Ảnh: chinhphu.vn
Đất còn được coi là tài sản hữu hình và có thể được định giá trên thị trường, được trao đổi, được thừa kế hoặc cho/nhận như một món quà cũng như được sử dụng để thế chấp. Đối với nhiều cá nhân, đặc biệt là ở vùng nông thôn, đất vẫn là của cải chính và nguồn sinh kế đảm bảo cuộc sống.
Đất đai đóng vai trò mấu chốt để tạo ra và duy trì những dịch vụ phục vụ mục đích công cộng. Ví dụ như Hạ tầng cơ sở, rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển,vùng nuôi trồng thủy sản, rừng, công viên và các khu bảo tồn. Giá trị công của đất còn là nơi thưởng ngoạn chung với giá trị tăng lên nhanh chóng khi các xã hội đô thị hóa và thu nhập bình quân đầu người tăng lên.
Đất đai là một thực thể chính trị trong đó biên giới thể hiện ranh giới của chủ quyền quốc gia và là cơ sở Công nhận quốc tế và hợp tác quốc tế. Cuối cùng, đất đai (hoặc không gian nói chung) là căn cứ để xác định quyền và trách nhiệm giữa các đơn vị hành chính như làng mạc, quận/huyện, cộng đồng, cấp tỉnh và chính quyền trung ương. Tùy thuộc vào mỗi vấn đề, ví dụ như cơ sở hạ tầng, quản lý môi trường, giáo dục, hoặc thu hồi đất mà những lĩnh vực trách nhiệm trên có thể bị chồng chéo.
Ai có quyền tiếp cận?
Hiến pháp của Việt Nam tuyên bố sở hữu toàn dân về đất đai và quản lý Nhà nước đối với đất đai. Tuy nhiên, Hiếp pháp lại không đưa ra hướng dẫn đầy đủ về việc đất đai sẽ được quản lý như thế nào, bởi cơ quan Nhà nước nào, hoặc ai sẽ có quyền tiếp cận đất đai và trong những điều kiện nào.
Những khía cạnh này được xử lý bằng biện pháp hành chính và vì vậy có thể thương thuyết, diễn đạt khác nhau và chỉnh sửa liên tục. Điều này tạo ra sự mập mờ và bất định trong quản lý đất đai. Đồng thời, nó cũng tạo kẽ hở để các quan chức ở các cấp khác nhau tự quyết định quy định nào của luật pháp có nghĩa gì và vì quyền lợi của ai.
Khó khăn không phải là bởi Chính phủ không sẵn sàng sửa đổi Luật mà bởi thiếu một bộ nguyên tắc hoàn chỉnh cho phép những vấn đề liên quan đất đai (và tài sản) được giải quyết một cách hợp lý và vô tư.
Quyền tiếp cận với đất đai còn bị chính trị hóa cao độ và do sự khan hiếm của đất, các quan chức khó giải quyết các vấn đề liên quan tới đất một cách rạch ròi mà không gắn tới các tính toán lợi ích kinh tế, chính trị hay các lợi ích khác.
Nếu có một bộ nguyên tắc được áp dụng thì ít nhất các quyền sử dụng đất, các điều kiện trong việc chuyển giao các quyền này và cơ chế giải quyết các xung đột sẽ được đảm bảo nhất quán như nhau giữa những người có quyền sử dụng đất, theo một quy trình cho trước và được thực hiện một cách công bằng, minh bạch và không thiên vị.
Hiện nay, Luật đất đai và những quy định liên quan được áp dụng trong một số lĩnh vực và áp dụng trước hết cho cư dân thành thị và người đầu tư nước ngoài. Trong khi đó nông dân và cư dân nông thôn ít được đảm bảo quyền tiếp cận, và sự bảo vệ tương tự.
Sẽ chẳng có vấn đề gì nếu kết quả của điều đó không gây ra hậu quả. Tuy nhiên, nhóm cử tri lớn nhất của mình, nông dân và cư dân nông thôn đã chưa được người chủ đất đai đối xử một cách công bằng. Nếu tiếp tục tình trạng này sẽ không giúp củng cố phát triển kinh tế bền vững.
Trong khi có thể dễ dàng đề cập các vấn đề nêu trên trong Luật Đất đai, việc khó hơn là trục trặc trong tư cách pháp lý của tài sản và của cải nói chung.
Không một quốc gia nào có thể chuyển đổi nhanh chóng và dễ dàng từ hệ thống quản lý tập trung sang hệ thống phân quyền trong việc tiếp cận các tài sản dựa trên một bộ quy định nhất quán, công bằng các quyền sử dụng tài sản được phân bổ và bảo vệ theo các phương cách vô tư và phi chính trị. Việt Nam hiện đang và sẽ không phải là ngoại lệ.
Cùng với quá trình hiện đại hóa, Việt Nam sẽ dần có những tiến bộ về vấn đề này. Quan trọng hơn là Việt Nam cần đạt được các thành tựu về vấn đề này nếu Nhà nước muốn đạt được các mục tiêu đầy tham vọng về tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa. Chính sách đất đai sáng suốt sẽ đóng vai trò mấu chốt để đạt được tham vọng đó.
Hiện nay, tài liệu tham khảo về chính sách đất đai ở Việt Nam tương đối phong phú. Có rất nhiều nghiên cứu đang được thực hiện. Mỗi một nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng, khả năng ảnh hưởng và gợi ý thay đổi hình thức sử dụng đất cùng với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và toàn cầu hóa.
Còn nữa
*Tiêu đề và tiêu đề phụ do Tuần Việt Nam tự đặt
Hồ Đăng Hòa, Lê Thị Quỳnh Trâm, Phạm Duy Nghĩa và Malcolm F. McPherson
Nguồn:
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/90247/chinh-sach-dat-dai-dang-vi-ai-.html

Tìm hiểu về thông diễn học

Tên gọi “Thông diễn học” hay còn gọi là “Chú giải học” (Herméneutique) bắt nguồn từ tên của Thần Hermes, vị thần được coi như là một sứ giả, người thông ngôn, người dịch nghĩa, người diễn giải, người giải thích những “thần ý” của các vị thần với dân chúng đủ mọi thành phần, tầng lớp ở cõi trần và ngược lại.
Có thể nói công việc thông diễn, giải thích, chú giải đã xuất hiện ngay sau khi loài người biết sử dụng tiếng nói, sử dụng ngôn ngữ và đã phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển văn hóa, văn minh của nhân loại. Đặc biệt vào thời Trung cổ đến thời tiền hiện đại, khi các tôn giáo phát triển thành những thế lực quan trọng nhất nắm quyền cai trị chi phối xã hội, nhà nước thì công việc giải thích thông diễn, chú giải những huyền thoại, những tư tưởng, những quan niệm, những giáo lý của các tôn giáo với các tín đồ đã trở thành những công việc quan trọng thường xuyên của các vị thánh, các vị huyền sư, các giáo sĩ, các giáo chủ trong đời sống của nhiều xã hội.

Trước hết ở phương Tây, chúng ta thấy các vị thánh, các giáo sĩ, mục sư… lấy việc giải thích thông diễn, chú giải Thánh kinh như những trọng trách và niềm say mê linh thiêng. Khi tiến hành các cuộc “Thập tự chinh”, nhiều vị giáo sĩ, linh mục với tinh thần “tử vì đạo” đã không quản ngại mọi gian khổ, hiểm nguy dấn thân vào những xứ sở xa lạ để giải thích, thông diễn Thánh kinh cho những tín đồ của vùng đất mới.

Cố đạo Alexandre de Rohdes đến Việt Nam không chỉ làm nhiệm vụ giải thích, chú giải, thông diễn Thánh kinh với việc góp công sức trí tuệ lớn lao sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, ông còn là người làm công việc giải thích, chú giải, thông diễn văn hóa giữa thế giới phương Tây và Việt Nam, và ngược lại.

Đạo Phật ở Ấn Độ muốn truyền bá vào Trung Hoa và các nước châu Á phải có nhiều vị huyền sư, tăng sư… làm công việc giải thích, chú giải, thông diễn đạo Phật với các tín đồ ở các xứ sở mới. Đạo Nho của Trung Hoa vào Việt Nam cũng là nhờ vào việc giải thích, chú giải, thông diễn của nhiều bậc trí giả, học giả… Đạo Hồi muốn phát triển, gìn giữ cũng cần có nhiều vị giáo sĩ, giáo chủ làm công việc giải thích, thông diễn kinh Coran để truyền bá cho những tín đồ cũ cũng như mới của mình…

Tuy nhiên công việc giải thích, chú giải, thông diễn trở thành một môn học thì chỉ mới thấy xuất hiện lần đầu tiên vào đầu thế kỷ XIX ở phương Tây, cụ thể ở nước Đức với vị mục sư Friedrich Schleiermacher, khi ông đưa môn này vào giảng ở Đại học Berlin. Môn này nội dung chủ yếu hạn chế ở công việc giải thích Thánh kinh, luật pháp và lịch sử.

Đến cuối thế kỷ XIX, nhà triết học Đức Wilhelm Dilthey mới đưa môn “Giải thích học” - “Thông diễn học” - Herméneutique thành một khoa học thực sự. Tên vị thần Hermes lấy để đặt tên cho môn khoa học này. Herméneutique đã không còn thu hẹp trong việc giải thích Thánh kinh, luật pháp, lịch sử mà đã mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. Riêng đối với triết học còn có thêm một lĩnh vực “Chú giải học triết học”.

Thực chất thì mọi triết gia đều làm công việc chú giải, giải thích, thông diễn (Herméneutique) với các lý thuyết, tư tưởng, quan niệm của các triết gia trong quá khứ hay đồng nghiệp có liên quan đến lĩnh vực mình tìm hiểu, nghiên cứu để hiểu, để đào sâu, mở rộng, phản biện rồi phát triển, sáng tạo ra những lý thuyết mới – tất cả các triết gia vĩ đại như Platon, R.Descartes, E.Kant, G.Hégel, K.Marx… đều làm như vậy. Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp của V.Lénine là giải thích, chú giải, thông diễn những tư tưởng triết học của chủ nghĩa Marx, tác phẩm Bút ký triết học là một điển hình…

Để giải thích, thông diễn, chú giải hợp thức, hợp thời, những nhà triết học về Herméneutique từ lâu đã thấy cần phải chống lại những tư tưởng duy lý, duy khoa học ngự trị hàng nhiều thế kỷ và đã trở thành “chân lý ngàn đời” để nhận thức, đánh giá mọi điều. Nhận thức chỉ tuân thủ, tôn thờ theo tinh thần đó đã đặt sự nhận thức theo lập trình của chủ nghĩa quy giản (Reductionisme) nên đã gạt bỏ, loại thải, đã không tính đến những gì là đặc thù, khác biệt, không đúng với khuôn mẫu, thước đo đã định đặt ra.

M.Heidegger được coi như người đặt nền cho môn “Chú giải học”, “Thông diễn học” của triết học hậu hiện đại đã tuyên bố rằng: Chân lý không bất biến. Những nhà triết học hậu hiện đại đã phát triển với những lý thuyết khác nhau, nhưng đều dựa trên tinh thần chung, cơ sở chung của tư tưởng nổi tiếng của ông: Hiện thể tự mở ra cho mọi sự hiểu biết khác nhau, chứ không phải là một sự hiểu biết duy nhất và những sự hiểu biết khác nhau đó không có cái nào sai, cái nào cũng có chân lý.

Một trong những quan điểm quan trọng nhất của Herméneutique (Giải thích học - Thông diễn học - Chú giải học) của triết học hậu hiện đại là: cần phải phân biệt rõ chân lý của khoa học tự nhiên và chân lý của khoa học nhân văn. Chân lý của khoa học tự nhiên ít biển đổi hơn, trái lại chân lý của khoa học nhân văn không cố định, chúng sẽ biến đổi theo sự phát triển của xã hội, của thời đại. Sự thật, chân lý của xã hội nhân văn không bao giờ mãi mãi phù hợp với quan niệm đã từng đóng mác gắn biển cho nó.

Đến thời đại ngày nay - thời đại tin học, thời đại của thế giới phẳng, thế giới mở, thời đại của giao lưu, hội nhập, thời đại của toàn cầu hóa thì các nhà triết học về Herméneutique không chỉ chống lại chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa duy khoa học mà còn chống lại mạnh mẽ những tư tưởng, những quan điểm của chủ nghĩa duy ý chí, chủ nghĩa đế quốc (chủ nghĩa nước lớn), chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, méo mó, chủ nghĩa thực dụng và tất cả những tư tưởng, quan điểm tiêu cực, phản động khác trong việc giải thích, thông diễn, chú giải trong mọi vấn đề của mọi lĩnh vực: Văn hóa, chính trị, kinh tế, luật pháp… đang diễn ra hiện nay trên thế giới.

Lý thuyết “Đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đã lấy làm sự thật, làm chân lý để đưa ra giải quyết vấn đề biển Đông với các nước ASEAN là điển hình cho việc lấy những tư tưởng của chủ nghĩa nước lớn, chủ nghĩa thực dụng để giải thích, thông diễn về chân lý, về sự thật.

Trong tiến trình toàn cầu hóa, vấn đề đáng quan tâm nhất là mối quan hệ giữa cái toàn thể và cái thành phần, và mối quan hệ giữa các nước lớn và các nước nhỏ. Toàn cầu hóa không phải là sự cắt gọt, giản lược những cái thành phần để nhập vào cái toàn thể, cũng không phải là sự đơn giản hóa cái toàn thể để đưa vào cái thành phần. Toàn cầu hóa cũng không phải là cứ lấy những tiêu chí, chuẩn mực, luật lệ, cách hiểu của các nước lớn làm mục tiêu, chân lý để giải thích, thông diễn rồi áp đặt cho những nước nhỏ phải đồng thuận tuân theo cho đồng nhất, thống nhất. Và cũng không phải các nước nhỏ cứ đưa ra những cái khác lạ, đặc thù, dị biệt để làm rào cản cho tiến trình toàn cầu hóa theo hướng tích cực.

H.G.Gadamer là một nhà triết học thời danh của nước Đức, học trò của M.Heidegger, trong lý luận về Herméneutique đã đưa ra thuyết: “L’unification des Horizon” (Sự hợp nhất, sự hòa hợp của các chân trời, các giới hạn) lấy làm cơ sở nhận thức, giải quyết những vấn đề của tồn tại.

Theo tinh thần này thì vấn đề cốt lõi nhất của tiến trình toàn cầu hóa là chúng ta phải xây dựng được những phương pháp, cách thức tích cực, khả thi để có thể giải quyết được một cách đúng đắn, hợp lý những mối quan hệ, những mối tương quan, những sự liên đới giữa các xã hội, giữa các quốc gia, giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế… để cộng tồn, cộng sinh trong một mái nhà chung của thế giới.

J.F.Lyotard nhà triết học rất nổi tiếng của triết học hậu hiện đại Pháp đã khẳng định như đinh đóng cột “Sự đồng thuận chỉ là một chân trời”, ông bảo “đấy là sự đời”, nhưng không vì thế mà chúng ta không tìm ra những cách thức chung tay để làm ra những điều tốt đẹp. Cách thức mà ông đưa ra là: Cần phải xây dựng được những “Hiệp ước tạm thời” (Contrat provisoire).

Để làm được điều đó các bên, các đối tác phải từ bỏ hay hạn chế, hoặc “triển hạn” lại việc thực hiện những chân lý những mục đích rất riêng, rất khác lạ, rất dị biệt để cùng nhau ký một “Hiệp ước tạm thời” trong những điều kiện, hoàn cảnh giai đoạn cụ thể để giải quyết theo hướng tích cực, có lợi cho công việc, cho những vấn đề đang diễn ra. Như vậy chân lý được thực hiện theo một tiêu chí khác: không phải là “sự đồng thuận” mà là sự “công bằng”.

Giải thích, chú thích, thông diễn lĩnh vực văn hóa, triết học, văn học nghệ thuật là lĩnh vực sở trường có lịch sử lâu đời nhất của khoa học Herméneutique. Đến thời nay đã có nhiều thay đổi trong quan niệm về giải thích, chú giải, thông diễn.

M.Foucault một tên tuổi lớn của triết học hậu hiện đại Pháp trong công trình đồ sộ Khảo cổ học về trí thức (L’Archéologie du savoir) đã đưa ra nhiều tài liệu khác nhau để nói: Mỗi một dân tộc có một lịch sử riêng, có một nền văn hóa riêng… với nhiều đặc thù, dị biệt; mỗi con người có một tâm tính riêng để chứng minh sự xung đột ở mọi cấp độ trong việc thông diễn, giải thích, chú giải khi có sự gặp gỡ, giao lưu với nhau.

Để có được sự chấp nhận, nhiều khi người ta phải dùng đến quyền lực: quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế, thậm chí cả quyền lực quân sự - dây xích và nòng súng. Vẫn là nước Pháp, P.Ricoeur được coi là nhà triết học có uy tín rất lớn về Herméneutique đã chỉ ra rằng: Không bao giờ có cùng một ý nghĩa cho một sự việc.

Vấn đề giải thích, chú giải, thông diễn về văn hóa, văn học nghệ thuật là lĩnh vực phong phú, sâu rộng có nhiều điều để bàn, trong khuôn khổ của một trang báo, không còn đất để bàn nữa, nên chỉ có thể nói tóm ở một tinh thần: Du nhập, chuyển tải, kết nối, chuyển dịch văn hóa văn học nghệ thuật không phải là bê thế giới của họ để ấn vào, ghép vào thế giới của mình, mà phải là chuyển thế giới của họ vào được thế giới của mình, làm thế nào để “chuyển được”, để “đưa vào được” thì những người làm công việc chuyển tải, kết nối, chuyển dịch không chỉ có chuyên môn nghề nghiệp vững mà còn đòi hỏi có một phông văn hóa, trí thức sâu rộng về văn hóa truyền thống, bản sắc, tính cách của đất nước dân tộc mình cũng như đất nước, dân tộc của họ. Chỉ có một vế bên này hay bên kia thì đều thất bại. Nhiều thí dụ về du nhập nghệ thuật, dịch văn chương đã cho ta thấy rõ điều này

NGUYỄN HÀO HẢI (CAND)

Những mâu thuẫn trong quá trình xây dựng "kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa"

 Theo Đảng Dân Chủ Việt Nam

Trong chương trình thời sự của VTV1 ngày 21/7/2010, phát thanh viên của Ðài truyền hình trung ương đã đọc một đoạn văn trong đó có nội dung như sau: “…Vào thập kỷ cuối của thế kỷ trước, những biến động xã hội dẫn đến sự tan rã của hệ thống XHCN ở Liên Xô và các nước Ðông Âu, tuy nhiên phải nói rằng đây chỉ là cuộc khủng hoảng của những mô hình phát triển, chứ không phải là thất bại của CNXH như một hình thái kinh kế – xã hội. Những mô hình phát triển kinh tế trung thành với ý tưởng của CNXH và mang bản sắc riêng vẫn đang phát triển thành công ở Trung Quốc hay Việt Nam. Các nước TBCN cũng đang phải tự điều chỉnh mọi phương diện để tự tồn vong. Biểu hiện là con đường thứ ba hay CNTB màu hồng đang lên ngôi ở một loạt nước Tây Âu…

Có đúng sự thật?

Hãy khoan đề cập đến cách lập luận lẩn quẩn theo kiểu “con kiến mà leo cây đa” của đoạn văn trên, mà chỉ tập trung vào nội dung: con đường thứ ba nào, CNTB màu hồng nào đang lên ngôi? Và ý nghĩa “bản sắc riêng” của Trung Quốc hay Việt Nam hôm nay là gì? Tìm hiểu thêm, tôi được biết đây không phải là lần đầu tiên chương trình thời sự của đài truyền hình Việt Nam cho phát thanh viên đọc lại đoạn văn này, mà cứ như một máy thu âm được lặp đi lặp lại nhiều lần ở nhiều buổi khác nhau.
Chúng ta tạm thời cũng thôi nhắc đến chuyện đúng hay sai của “Chủ nghĩa xã hội khoa học” nữa. Nhưng thử hỏi xem, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam hôm nay còn thực sự trung thành được bao nhiêu phần trăm với những “ý tưởng của kinh tế CNXH” mà những nhà cộng sản tiền bối đã vạch ra? Đảng Cộng sản Việt Nam muốn xây dựng CNXH nhưng kinh tế lại theo đường lối TBCN nên mới có một định đề lạ lùng: “Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”. Lý do để phát triển kinh tế thị trường là cho dân giàu nước mạnh. Muốn hay không chúng ta phải có những mối quan hệ tốt với các nước tư bản, nhất là ba nước Pháp, Nhật, Mỹ từng là kẻ thù của chúng ta. Mà tất cả những nước trên đều là TBCN, nên ghép thêm “định hướng XHCN” là hoàn toàn nghịch lý.
Cũng cùng một quan điểm trên, trong dự thảo nghị quyết Đại hội Ðảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11 sắp diễn ra và đang được đưa ra cho nhân dân “đóng góp ý kiến”, thì quan điểm bao trùm có tác dụng quyết định đến phương hướng, nhiệm vụ của cả đất nước trong giai đoạn tới vẫn cứ là: “…Đảng, Nhà Nước và nhân dân ta quyết tâm tiến lên con đường XHCN. Lịch sử thế giới đã, đang và sẽ còn trải qua những bước quanh co, xong loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử…”! Hay nói tương tự như Lê Nin hồi đầu thế kỷ trước là “chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là cái phòng chờ của chủ nghĩa xã hội”!
Nhưng chúng ta hãy thử hình dung kỹ hơn, nếu đúng là quy luật tiến hóa của lịch sử diễn ra như vậy, thì một ngày nào đó nước ta sẽ từ một nước đang nghèo nàn lạc hậu, sẽ bước lên, trở thành đầu tàu cho việc phát triển kinh tế cho toàn thế giới. Hay nói cách khác là đi đằng đuôi sẽ nhảy phắt lên hàng đầu! Ðể một lần nữa, Việt Nam lại tiếp tục được gánh vác cái “sứ mệnh mà lịch sử giao phó” là dẫn dắt nhân loại tới cái tương lai tươi sáng kia! Cái tương lai mà không hiểu vì sao nhân loại ‘‘chậm hiểu’’ này ngồi mãi trong cái “phòng chờ” ấy nhưng vẫn không chịu nhận ra!
Chỉ có điều trước khi được hưởng cái hạnh phúc “viễn vong” ấy, thì dân tộc ta vẫn phải trải qua “những bước quanh co”, vẫn phải “đẩy mạnh hơn con đường kinh tế định hướng XHCN”. Trong đó có công tác xuất khẩu lao động sang các nước “Tư bản đang giẫy chết”! Và phải làm sao để những chiếc “vòi bạch tuộc” ở chính quốc kia “cơ bản hoàn thành” việc hút cạn kiệt sức lực dân ta thì lúc ấy “xét về thực chất” nhân loại đã có chủ nghĩa xã hội!
Trong hội nghị về xuất khẩu lao động ngày 15/12/2009 tại Hà Nội. Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố rằng “… Xuất khẩu lao động là một chiến lược trước mắt và lâu dài… Năm 2009 Việt Nam đã xuất khẩu được 91.000 lao động. Mục tiêu mà Quốc hội đặt ra thực hiện năm 2010 sẽ là 100.000 người.

Sự mâu thuẫn?

Dĩ nhiên nói như vậy không có nghĩa là [tác giả] phản đối việc xuất khẩu lao động. Bởi vì có khi đây là cứu cánh cuối cùng của nhiều gia đình Việt Nam hôm qua và hôm nay. Chính lý lịch của ông Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Bắc Giang – Nông Quốc Tuấn (vừa mới “bất ngờ” lên ngôi thôi, nghe đâu là con của Nông Đức Mạnh?) cũng ghi rõ rằng từ tháng 9 năm 1981 đến cuối năm 1988 ông Tuấn là “công nhân xuất khẩu lao động” tại Singwitz, thuộc Cộng hoà Dân chủ Đức cũ. Điều đó cũng đủ nói lên tầm quan trọng của việc xuất khẩu lao động!
Nhưng ở đây, tôi muốn nói lên sự mâu thuẫn giữa quan điểm của Ðảng Cộng sản Việt Nam với thực tiễn cuộc sống. Chính môi trường chính trị đã và đang diễn ra trên đất nước ta mới là nguyên nhân sâu xa, khiến cho những người lao động Việt Nam phải chịu muôn vàn đắng cay ở ngay trong nước cũng như khi ra nước ngoài. Ai không tin điều này xin tìm hiểu thêm tình trạng của những người công nhân Việt Nam trên các nước Trung Đông như Quatar, các Tiểu vương quốc Á Rập Thống nhất (AUE), Ả Rập Sê-út…mà báo chí trong nước gần đây cũng có đăng tải. Hoặc tìm hiểu thêm rất nhiều ví dụ khác đã phát sinh trong các xí nghiệp do người Hàn Quốc, Ðài Loan…làm chủ ở Việt Nam hiện nay. Hay tình trạng “tình nguyện” làm dâu xứ người của nhiều cô gái Việt Nam cũng được xem như là một loại xuất khẩu lao động “biến tướng”. Trước đây, khi đất nước còn trong vòng đô hộ của thực dân Pháp, rất nhiều dân nhân lương thiện cùng tấm long nhiệt huyết với cách mạng đã không ngại gian khổ và quyết dấn thân cho con đường “tiến lên CNXH”. Tất cả những điều được cho là “phi XHCN” thuộc mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đều bị bao vây, ngăn chặn, thậm chí còn bị bức hại trên quy mô toàn hệ thống. Tức là mọi điều kiện cho “cuộc thực nghiệm” những ý tưởng của CNCS đều đã được thỏa mãn với khả năng cao nhất có thể.
Thế nhưng một khi đã “tận nhân lực” đến vậy mà kết cục vẫn là sự sụp đổ của tất cả các nước Ðông Âu và Liên Xô, thì vấn đề là phải lật ngược những “hòn đá tảng” kia lên xem ở bên dưới đó là cái gì?
Do vậy sẽ thật là nhẫn tâm và độc ác với những ai ở Việt Nam, đến hôm nay mà vẫn còn mưu toan đem cả dân tộc ra để thực nghiệm tiếp những ý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê Nin. Bằng cách đó họ đã làm cái công việc giống như của tầng lớp vua quan phong kiến nhà Nguyễn gần 2 thế kỷ trước: luôn trung thành một cách mù quáng với Khổng Tử, Mạnh Tử. Một lòng một dạ hướng về “Thiên triều”, để rồi đất nước đã bỏ lỡ chuyến tàu văn minh công nghiệp xuất phát từ phương Tây, dân tộc tiếp tục chìm đắm trong đói nghèo lạc hậu, và sau đó là bị người Pháp đô hộ gần 100 năm.
Có điều là những vua quan nhà Nguyễn xưa thì thực sự tin rằng “cái bọn Phú Lang Sa, bọn Tây Phương kia là man di mọi rợ”. Khác với nhiều người trong tầng lớp vua quan thời nay, dù chẳng còn mảy may tin gì vào các cụ Mác, Lê nữa, nhưng cứ vờ vờ vịt vịt để đánh lừa cả một dân tộc. Họ chính là những người luôn tìm cách chơi trò “đạo đức” với nhân dân. Miệng luôn nói rằng lấy dân làm gốc, nhưng thực chất là họ chỉ muốn lấy gốc làm “thớt” để tha hồ chặt chém! Ðây mới chính là điểm khác nhau lớn giữa người xưa và người nay cần phải nhìn và hiểu rõ.
Đương nhiên tôi không có ý nói đến những người cộng sản chân chính mà tôi luôn kính trọng. Đó là các tướng Chu Văn Tấn, Trần Độ, Võ Nguyên Giáp… Đó là các ông Nguyễn Hộ, Kim Ngọc… Đó là các sĩ quan, cựu chiến binh Trần Dũng Tiến (Hà Nội), Trần Anh Kim (Thái Bình ), Lê Trí Tuệ (Sài Gòn), Vũ Cao Quận (Hải Phòng)… Trong giới trí thức văn nghệ sĩ là các ông Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hữu Đang, Văn Cao, Phùng Quán, Lữ Phương… Thực tế thì đa số họ đã mất, và nếu còn sống cũng đều thuộc tầng lớp bị trị, không thể dễ dàng “cựa quậy” được.
Thực tế hiện nay, trong bốn nước XHCN còn lại, thì chính hai nước Cu Ba và Bắc Triều Tiên mới thực sự là trung thành với những ý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê Nin hơn cả. Nhưng đời sống hôm nay của nhân dân hai nước này khó khăn như thế nào ai tất cả chúng ta đều thấy rõ.
Còn với Trung Quốc và Việt Nam, động lực chính làm nên sự chuyển biến tích cực trong những năm qua là do sự vận hành của cơ chế thị trường, dựa trên căn bản sự tư hữu về tư liệu sản xuất. Là sự tiếp nhận nguồn vốn và công nghệ, mà chủ yếu là đến từ các nước TBCN, chứ không phải là xuất phát từ “quyền làm chủ tập thể XHCN của nhân dân lao động” (cái điều mà cả hai dân tộc đã buộc phải lao vào xây đắp bao năm trời, tốn biết bao mồ hôi công sức, kể cả cơ man nào là máu và nước mắt. Nhưng rồi cuối cùng thất bại vẫn hoàn thất bại).
Những năm qua tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của cả hai nước đều đạt khá cao (từ 6 đến 15% mỗi năm), nhưng đây là điều bình thường đối với những nước mới bước vào giai đoạn phát triển. Ðiều này 30-40 năm về trước, các nước trong khu vực cũng đã trải qua khi họ được tiếp nhận nguồn vốn và công nghệ của Mỹ và các nước phương Tây. Nhưng cùng với thời gian, tỷ lệ trên sẽ giảm dần theo quy luật của thị trường. Rất nhiều người đã bị nhầm lẫn về tính “ưu việt” này. Một sự nhầm lẫn tương tự và cũng rất phổ biến là nếu lại đi so sánh mức sống chung của nhân dân hay của bản thân mình hôm nay với thời kỳ trước đổi mới. Thậm chí còn là trước… Cách mạng tháng Tám năm 1945 (!) rồi lấy đó làm sự hài lòng.

Thay lời kết

Ngày nay dân tộc ta hoàn toàn có đủ điều kiện để chọn lại đường đi cho đất nước mình. Chắc chắn cả dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hoặc một lực lượng chính trị nào đó chọn cho chúng ta. Nếu những ai đang nắm thực quyền trong Ðảng Cộng sàn Việt Nam vẫn tìm đủ mọi cách để cố bám víu đến cùng vào sự duy nhất của Đảng, thì chính họ đang chống lại cả một dân tộc và trào lưu dân chủ mới trên thế giới. Kể cả việc phản bội lại chính những đồng chí cũ của mình hiện còn sống, cùng biết bao người đã ngã xuống trên khắp các nẻo đường mặt trận.
Ngay với Mác và Ăng Ghen họ cũng không phải là những người trung thành, bởi vì cả hai ông lúc sinh thời, ít ra cũng đã đều thừa nhận sự tồn tại của những đảng công nhân khác bên cạnh đảng cộng sản. “…Những người cộng sản ở mọi nơi đều phấn đấu cho sự đoàn kết và sự liên hiệp của các đảng dân chủ ở tất cả các nước…” và “…những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác…” (trích Tuyên Ngôn Ðảng Cộng sản 1848 – phần II). Trong thực tiễn, tất cả các Ðảng Cộng sản ở các nước XHCN đều đã cố tình nhập chúng lại làm một, và mọi người Việt Nam hôm nay đang cùng với thế giới tiến bộ bền bỉ đấu tranh tách cho được nó ra. Ðể sao cho trong tương lai gần, trên chính trường của một nước Việt Nam mới, chẳng những chỉ có các đảng công nhân mà còn có các đảng khác nữa, theo sự đòi hỏi của cuộc sống sinh động.
Tôi nghĩ rằng mong muốn của tôi cũng giống như của biết bao người Việt Nam khác là được góp một phần công sức – dù nhỏ – nhằm chuyển biến được căn bản tình hình đất nước trong ôn hòa, không một tiếng súng, để đưa nước ta hòa nhập tốt vào thế giới đang biến đổi mạnh mẽ. Sự hòa nhập về kinh tế tự bản thân nó đã chứa đựng những điều kiện tự nhiên cho sự hòa nhập về chính trị và ngược lại; giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ và biện chứng để thúc đẩy hoặc kìm hãm lẫn nhau. Ðiều đó tùy thuộc vào khả năng tận dụng hay bỏ lỡ của mỗi quốc gia.
Nếu đất nước vẫn phải tiếp tục chịu đựng tình cảnh như hiện nay, đó chính là sự hòa tan trong đau đớn, tủi nhục. Và do vậy cơ hội mà thời đại mới đang mở ra cho dân tộc ta có thể rút ngắn được phần nào khoảng cách đã bị tụt hậu quá xa so với thế giới. Với các nước trong khu vực Ðông Nam Á (ASEAN) – những nước mà phần lớn trước Cách Mạng Tháng 8 đều có hoàn cảnh tương tự như Việt Nam, cũng sẽ bị tiêu tan. Nếu tình hình diễn ra đúng như vậy thì trách nhiệm ấy, những người bảo thủ hiện đang nắm thực quyền trong Ðảng Cộng sản Việt Nam hôm nay sẽ phải trả lời trước dân tộc và lịch sử trong nay mai khi dân tộc ấy chuyển mình. Chính họ và không ai khác lại một lần nữa cố tình bỏ lỡ chuyến tàu văn minh trí tuệ mà lẽ ra dân tộc đã được hưởng sớm hơn.
Với lịch sử và dân tộc, họ là tội phạm chứ không phải là nạn nhân! Nền dân chủ thực sự cho Việt Nam dẫu phải trải qua những gian nan thử thách, nhưng nhất định cuối cùng dân tộc cũng sẽ giành được. Vì quy luật muôn đời của con người là cùng tắc biến, biến tắc thông – không có điều gì bị dồn nén đến cùng cực mà không biến và một khi đã biến thì ắt sẽ thông!

Đánh giá tác động pháp luật




Đánh giá tác động pháp luật (RIA- Regulatory Impact Assesment) là một tập hợp các bước logic hỗ trợ cho việc chuẩn bị các đề xuất chính sách. Nó bao gồm việc nghiên cứu sâu các hoạt động đi kèm với quá trình xây dựng chính sách và chính thức hóa các kết quả nghiên cứu bằng một bản báo cáo độc lập. Trách nhiệm thực hiện RIA được giao cho cơ quan phụ trách việc đề xuất chính sách. RIA là công cụ chủ yếu cho việc xây dựng chính sách.




*
I. Đánh giá tác động pháp luật
1. Khái niệm đánh giá tác động pháp luật
*Đánh giá tác động pháp luật (RIA- Regulatory Impact Assesment) là một tập hợp các bước logic hỗ trợ cho việc chuẩn bị các đề xuất chính sách. Nó bao gồm việc nghiên cứu sâu các hoạt động đi kèm với quá trình xây dựng chính sách và chính thức hóa các kết quả nghiên cứu bằng một bản báo cáo độc lập. Trách nhiệm thực hiện RIA được giao cho cơ quan phụ trách việc đề xuất chính sách. RIA là công cụ chủ yếu cho việc xây dựng chính sách.
Tuy nhiên, RIA là công cụ trợ giúp cho việc xây dựng chính sách chứ không phải là công cụ thay thế nó (không nên nhầm lẫn giữa RIA với đề xuất chính sách hoặc với tờ trình trước khi đề xuất). RIA tập hợp và trình bày các chứng cứ để xác định các lựa chọn chính sách khả dĩ và các ưu, nhược điểm của chúng. RIA cần được thực hiện song song với việc nêu sáng kiến lập pháp, lập quy và được lồng ghép vào quy trình xác lập chính sách của các bộ, ngành... hoặc chủ thể khác khi đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định. Cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu các kết quả của RIA khi ra quyết định. Việc đề xuất, thông qua chính sách là quyết định chính trị thuộc về cơ quan chủ trì soạn thảo, Chính phủ, Quốc hội (theo các giai đoạn khác nhau) mà không phải là nhiệm vụ của các chuyên gia thực hiện đánh giá tác động của văn bản.
Tiến hành RIA bao gồm việc trả lời một số câu hỏi chủ yếu sau: Đâu là bản chất, mức độ và sự phát triển của vấn đề? Đâu là các mục tiêu mà quốc gia theo đuổi? Đâu là các tác động về môi trường, xã hội và kinh tế của các lựa chọn chính sách? Đâu là ưu và nhược điểm của các lựa chọn chính sách chính? Việc giám sát và đánh giá về sau được tổ chức như thế nào? Trong mọi trường hợp, một RIA không nhất thiết đòi hỏi phải có sự nghiên cứu chi tiết và lâu dài, nhưng phải ở mức độ nhất định để cung cấp đầy đủ thông tin mà dựa vào đó mọi người đều có thể thảo luận.
2. Tại sao RIA lại quan trọng?
Đằng sau những bước đánh giá tác động là một mục đích đa chiều. RIA đảm bảo việc phối hợp sớm trong nội bộ cơ quan chủ trì soạn thảo. RIA thể hiện tính công khai, cởi mở của cơ quan chủ trì soạn thảo sẵn sàng lắng nghe ý kiến của nhiều đối tượng liên quan từ bên ngoài và thể hiện cam kết của mình đối với vấn đề minh bạch hóa. Ngoài ra, bằng việc đưa ra bản phân tích toàn diện và kỹ lưỡng về các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp có thể có lên môi trường, kinh tế và xã hội, việc đánh giá tác động giúp nâng cao chất lượng của các đề xuất chính sách thông qua việc kiềm chế sự can thiệp của chính quyền ở mức đơn giản có thể. Cuối cùng, việc đánh giá tác động giải thích lý do tại sao hành động lập pháp đó là cần thiết và việc thực hiện theo đề xuất là một lựa chọn phù hợp[1].
2.1 Đánh giá tác động pháp luật - một xu hướng toàn cầu:
Từ năm 1980, RIA là một yếu tố trong sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật ban hành văn bản tốt, một trong những đặc tính nổi bật của quản lý công hiện đại. ở phần lớn các nước, RIA đã phát triển từ những phương pháp mang tính kỹ thuật hạn hẹp, chủ yếu nhằm cắt giảm chi phí, trở thành những kỹ thuật giải quyết vấn đề linh hoạt và tinh vi hơn nhằm tạo điều kiện để quá trình thảo luận công khai và có nhiều thông tin hơn về các vấn đề chính sách công có ý nghĩa quan trọng.
Cuộc vận động văn bản thông minh được tiến hành nhằm cải thiện hoạt động của quốc gia dưới sức ép đòi hỏi phải đem lại càng nhiều kết quả hơn với chi phí thấp hơn. Dưới sức ép này, đầu tư vào RIA trở nên rất lớn và ngày càng tăng[2].*
2.2 Đánh giá tác động pháp luật - một cơ chế học hỏi:
Ban hành văn bản pháp luật là một đặc tính xác định của quản lý đương đại. Hầu hết những mối quan tâm của chính phủ khi ban hành chính sách công - chất lượng môi trường, quyền của người tiêu dùng, định nghĩa quyền tài sản, kiểm soát các công nghệ mới, hội nhập vào thị trường toàn cầu - đều là những vấn đề cần được điều chỉnh bằng pháp luật. Sự thành công của quản lý đương đại phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động ban hành pháp luật. Các văn bản pháp luật là nguồn sức mạnh của hệ thống đầu tư và thương mại hiện đại. Điều này có nghĩa là việc quản lý chất lượng ban hành pháp luật đã trở thành một phần của quản lý công, cũng tương tự như quản lý tài chính và quản lý nguồn nhân lực.*
OECD (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế) đã kêu gọi các Chính phủ khi thực hiện chức năng ban hành văn bản pháp quy cần đảm đương vai trò bảo đảm chất lượng mang tính đón đầu. Chính phủ Canada gọi chương trình nghị sự này là điều chỉnh thông minh. Loại chương trình nghị sự này đòi hỏi sự học hỏi của cả khu vực công lẫn các chủ thể tham gia chủ yếu, là những người có quan hệ tương tác trong việc giải quyết vấn đề công -tư và trong trách nhiệm giải trình.*
Về mặt chức năngV, hiện nay người ta xem RIA là một quy trình trong đó: Những câu hỏi chính xác được đưa ra theo một khuôn mẫu chặt chẽ nhằm tạo điều kiện cho một cuộc tranh luận về chính sách mang tính rộng lớn và minh bạch hơn; Những tác động tiềm tàng có lựa chọn do hành vi hoặc bất tác vi của Chính phủ được xem xét một cách hệ thống và nhất quán; Thông tin được chuyển đến cho những người có thẩm quyền quyết định và những đối tượng chịu tác động.
Thực tiễn hiện nayT, RIA là phần mở rộng của hoạt động hoạch định chính sách hiện hành của nhiều Chính phủ, thể hiện ở việc nêu ra đúng câu hỏi, nghiên cứu tính phức tạp của vấn đề và các hậu quả của hành vi; duy trì sự đối thoại rộng rãi phong phú và hiệu quả hơn về các giải pháp lựa chọn. Điều đó có nghĩa RIA là một phương pháp tiếp cận dựa trên bằng chứng đối với quá trình ban hành quyết định. Quy trình nêu câu hỏi, nghiên cứu và trao đổi thông tin thông qua một phương pháp tiếp cận có tính hệ thống này là phần cốt lõi của Chính phủ luôn muốn nâng cao năng lực của mình để giải quyết các vấn đề đang đặt ra đối với công dân của mình.
Thực chất, RIA đã trở thành một trong những phương pháp mà thông qua đó khuyến khích sự tăng cường học hỏi của xã hội, góp phần gây dựng sự đồng thuận xã hội, giúp cho nhiều quyết định chính sách công khó khăn có thể được thông qua.
2.3 Đánh giá tác động pháp luật - xu hướng quản lý chặt chẽ việc ban hành chính sách và ban hành văn bản pháp luật:
*********** Mục tiêu thực hiện RIA của các Chính phủ là nhằm xác định rõ chiến lược mục tiêu về áp dụng pháp luật minh bạch và thống nhất, và xác lập một cách rõ ràng các chuẩn mực phân tích cho các loại văn bản pháp luật. Thực tiễn cho thấy, các văn bản pháp luật quan trọng cần phải ước định thành tiền mọi chi phí quan trọng ở mức tối thiểu để thực thi văn bản và lượng hoá được mọi lợi ích quan trọng mà văn bản đem lại. Các văn bản pháp luật quan trọng cũng phải xem xét nhiều giải pháp lựa chọn hơn và chứa đựng các thông tin chi tiết hơn về rủi ro. Chính phủ các nước thường xây dựng một quy trình RIA áp dụng riêng cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước mình. Nhiều nước ban hành luật về RIA hoặc văn bản cấp thấp hơn (ví dụ như nghị định) quy định về RIA, như ở Croatia.
Vấn đề đặt ra với các Chính phủ liên quan đến việc sử dụng RIA là: làm thế nào để RIA có thể được sử dụng một cách có hiệu quả nhất nhằm thúc đẩy quá trình học hỏi cách giải quyết vấn đề? Câu trả lời có thể tìm thấy trong quy trình RIA và các phương pháp kỹ thuật của RIA.
3. Các đề xuất chính sách cần phải có đánh giá tác động
Việc đánh giá một cách có hệ thống tác động của từng giải pháp chính sách được nêu ra để xem xét lựa chọn luôn được xem là cần thiết khi chuẩn bị một bản đề xuất chính sách, có thể là c ác đề xuất pháp luật mới hoặc sửa đổi các quy định hiện hành. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp đều nhất thiết phải chuẩn bị một bản đánh giá tác động chính thức.
Mỗi nước có thể có yêu cầu riêng về đánh giá tác động khi đề xuất pháp luật. Có nước chỉ yêu cầu bắt buộc thực hiện RIA đối với một số loại quy định; đối với các quy định khác thì cũng không cấm thực hiện RIA[3]. Trong trường hợp phải thực hiện RIA, thì các nước cũng thường chia làm 2 loại, là RIA đầy đủRIA đơn giản[4]. Cần phải thực hiện RIA đầy đủ nếu khi thực hiện RIA đơn giản cho thấy văn bản dự kiến ban hành: Có những tác động lớn và xấu đến năng lực cạnh tranh quốc gia; Có những tác động lớn và xấu đến các nhóm đối tượng không được hưởng các lợi ích xã hội hoặc dễ bị tổn thương; Có tác động lớn đến việc hủy hoại về môi trường; Có thể dẫn đến thay đổi đáng kể về các chính sách liên quan đến kinh tế thị trường, cạnh tranh hoặc người tiêu dùng; Có ảnh hưởng đến quyền của công dân; Tạo ra chi phí tuân thủ lớn; Tạo ra chi phí lớn cho Chính phủ hoặc bên thứ ba, hoặc cho một nhóm đối tượng hoặc một ngành, lĩnh vực.
4. Quy trình đánh giá tác động pháp luật
Quy trình RIA thường gồm bốn yếu tố: Xác định mục tiêu và phạm vi của RIA; Tham vấn công chúng gắn với RIA; Giám sát chất lượng thông qua thẩm định độc lập và các cơ chế khác; Các phương pháp thu thập dữ liệu.
Bốn yếu tố trên ngày càng được coi là các yếu tố cấu thành then chốt của một chương trình RIA hiệu quả. Để có thể hỗ trợ cải thiện chính sách công thành công, bốn yếu tố này phải phối kết hợp với nhau trong một quy trình có tính hệ thống. Các RIA tạo được ảnh hưởng đối với chính sách là các RIA có quy trình được khởi đầu sớm, gắn với quy trình tham vấn tốt và đưa ra được các nhận định đánh giá đúng đắn về các tác động của chính sách được đề nghị.*
RIA luôn được đặc trưng bởi sự tìm kiếm một phương pháp hoàn hảo, là phương pháp có thể giúp đưa ra câu trả lời đáng tin cậy đối với các vấn đề mà thực tiễn điều hành chính sách công đang ngày càng khó khăn hơn đặt ra, nhưng phải làm điều đó theo cách thức khẩn trương, minh bạch và không tốn kém.
Quy trình RIA có thể được thực hiện thông qua 10 bước, giải quyết 3 nội dung lớn:
4.1. Xác định vấn đề cần điều chỉnh và dự kiến các rủi ro có thể xảy ra, bao gồm:* Xác định đúng vấn đề (bước 1); Dự kiến các rủi ro có thể xảy ra, cả về mức độ và phạm vi ảnh hưởng (các bên có liên quan) (bước 2); Đánh giá tình hình hiện tại và diễn biến có thể xảy ra nếu như không có sự can thiệp của chính sách /pháp luật (bước 3) Xác định mục tiêu điều chỉnh (bước 4).
4.2. Xác định danh mục các giải pháp và đánh giá các tác động của chúng, bao gồm: Tham vấn với các chuyên gia thuộc các nhóm đối tượng dự kiến bị ảnh hưởng lớn nhằm chuẩn hóa lại vấn đề và mục tiêu điều chỉnh, rủi ro, tình hình hiện tại và dự kiến diễn biến trong tương lai (bước 5); Lựa chọn giải pháp (bước 6); Lựa chọn phương pháp, mức độ và phạm vi đánh giá (bước 7); Thu thập thêm chứng cứ - số liệu chi tiết về lợi ích và chi phí của giải pháp đã lựa chọn, có thể tiến hành điều tra hoặc khai thác từ nguồn số liệu sẵn có (bước 8).
4.3. Phân tích, tham vấn và hoàn thiện kiến nghị, bao gồm:Tiến hành phân tích, so sánh các giải pháp và trao đổi giải pháp dự kiến lựa chọn cũng như đánh giá tác động của chúng với các bên có liên quan (bước 9); Hoàn thiện giải pháp và đánh giá tác động của chúng sau quá trình tham vấn cộng đồng (bước 10).
5. Những điểm cần lưu ý trong quá trình thực hiện RIA
5.1. Quy trình tham khảo ý kiến gắn với RIA ***********************************
Việc lấy ý kiến sớm thông qua các hình thức không chính thức với các nhóm đối tượng then chốt cần được thực hiện bằng quy trình tham vấn nhiều lớp dựa trên các chuẩn mực thống nhất, kết hợp với các phương pháp tiếp cận được thiết kế chu đáo nhằm hướng tới sự đối thoại mạnh mẽ hơn và thu thập dữ liệu chất lượng cao hơn.
5.2. Tăng cường chức năng giám sát của cơ quan giám sát RIA trung ương
*** Những nước có chất lượng RIA thấp hoàn toàn không có chế tài rõ ràng dành cho các nhà làm luật có lỗi trong việc không chuẩn bị báo cáo RIA đầy đủ, không tiến hành tham vấn theo quy định. Chính phủ một số nước đã thành lập cơ quan trung ương về kiểm tra, giám sát chất lượng RIA nhằm bảo đảm RIA trước khi trình lên các bộ trưởng phải đạt mức chất lượng tối thiểu. Cơ quan giám sát RIA này là cơ quan độc lập, cũng có thể là thuộc thủ tướng. Bộ, ngành nào không có khả năng tuân thủ cần phải giải thích trước chính phủ tại sao họ không thể đáp ứng chuẩn mực tối thiểu.
5.3. Sớm lên kế hoạch và xây dựng báo cáo RIA
Cần bắt đầu triển khai RIA sớm để lồng ghép kết quả của RIA vào trong các quyết định chính sách. Để thúc đẩy việc sớm triển khai xây dựng RIA, các báo cáo hàng năm về kế hoạch và ưu tiên lập pháp /lập quy là các phương tiện tiềm năng cho việc bắt đầu chuẩn bị RIA và cho việc xác lập thứ tự ưu tiên ban hành văn bản. ở nhiều nước, RIA được yêu cầu thực hiện rất sớm, ngay từ giai đoạn xây dựng chương trình làm luật; theo đó, mọi đề xuất xây dựng pháp luật đều phải kèm theo RIA đơn giản mới được xem xét để đưa vào chương trình xây dựng pháp luật.*
5.4. Việc đánh giá chuyên môn của các nhà khoa học
Trong thập kỷ vừa quaT, các vấn đề pháp luật ngày càng dựa vào khoa học kỹ thuật . Xu hướng này tạo áp lực lớn lên các nhà làm luật (những người thường không có đủ kỹ năng cần thiết để tiếp cận, hiểu nghĩa và áp dụng các kiến thức khoa học là nền tảng cơ sở của quyết định lập pháp /lập quy). ở một vài nước, tham khảo ý kiến chuyên môn của các nhà khoa học trở thành một chiến lược quan trọng để bảo đảm chất lượng văn bản pháp luật. Các cơ quan quản lý có thể nghiên cứu cách tiếp cận từ trên xuống nhằm bảo đảm rằng hoạt động đánh giá chuyên môn của các nhà khoa học được áp dụng và các nguồn lực khoa học khan hiếm được sử dụng có hiệu quả. Ví dụ, một nhóm thẩm định chuyên môn của các nhà khoa học có kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực cụ thể như đánh giá rủi ro hoặc chất lượng dữ liệu có thể đưa ra** kết quả thẩm định tốt hơn, với chi phí thấp hơn so với các nhóm đánh giá chuyên môn lâm thời được thiết lập trong hệ thống hành chính công.
5.5. Nâmg cao tính trách nhiệm của các bộ đối với các RIA thuộc thẩm quyền và sử dụng RIA trong quy trình lập pháp
Cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ chịu trách nhiệm chính và trực tiếp thực hiện RIA. RIA sẽ không còn ý* nghĩa nếu người trực tiếp soạn thảo không quan tâm, không tham gia vào việc thực hiện RIA hoặc cơ quan soạn thảo thuê hoàn toàn chuyên gia tư vấn bên ngoài thực hiện RIA cho mình. Tuy vậy, cơ quan soạn thảo có thể thuê tư vấn thực hiện một số công đoạn của RIA, như: tiến hành điều tra (nếu cần thiết), thu thập số liệu...
Một số nước yêu cầu các bộ trưởng phải xác nhận với tư cách cá nhân rằng các báo cáo MIA đáp ứng các chuẩn mực tối thiểu về chất lượng. Trong giai đoạn phát triển ban đầu của RIA, người ta vẫn quen cho rằng RIA là một phương pháp kỹ trị phù hợp cho các nhà phân tích, nhà kinh tế và các cán bộ cấp thấp chứ không đủ quan trọng để bộ trưởng phải chú ý. Khi RIA có vai trò chủ đạo và chất lượng của RIA trở thành vấn đề cần quan tâm ngay cả với chính phủ và quốc hội thì buộc các bộ trưởng và các quan chức cấp cao phải chịu trách nhiệm cá nhân về chất lượng của các RIA do bộ, ngành của họ chuẩn bị. Logic ở đây là nếu bộ trưởng phải chịu trách nhiệm cá nhân thì bộ trưởng thực sự phải đọc RIA và bảo đảm rằng RIA đáp ứng chuẩn mực quy định.
5.6. Các phương pháp thu thập dữ liệu và chuẩn mực chất lượng dữ liệu
**** Chính phủ cần xây dựng các chuẩn mực thu thập dữ liệu và chất lượng dữ liệu. Chiến lược thu thập dữ liệu cần bao gồm các vấn đề: xây dựng và sử dụng mối quan hệ công* tư; bảo vệ chống mất cắp dữ liệu; giảm chi phí thu thập dữ liệu. Các chuẩn mực chất lượng dữ liệu cần hướng tới việc đặt RIA trên nền tảng thông tin chất lượng cao, tăng cường độ tin cậy, tính minh bạch và ích lợi của RIA.
Công đoạn tốn kém và mất nhiều thời gian nhất của toàn bộ quy trình RIA là việc thu thập dữ liệu thích hợp và đáng tin cậy. Việc thu thập dữ liệu một thời từng là lãnh địa riêng của các nhà nghiên cứu thì ngày nay, tất cả các nhà làm luật đều phải làm trong quá trình thực hiện công việc hàng ngày của họ. Vì vậy, họ phải nắm được các kỹ năng và các mối liên hệ để xác định nhu cầu về dữ liệu, xác định nguồn dữ liệu. Việc lựa chọn dữ liệu nào cần thu thập và phương pháp thu thập dữ liệu không phải là những quyết định biệt lập trong quy trình xây dựng pháp luật bởi chúng ảnh hưởng đến toàn bộ quy trình.*
Nhà phân tích thường cần các dữ liệu rất cụ thể để gắn với các vấn đề mà văn bản pháp luật cụ thể đặt ra. Nghĩa là, phần lớn RIA đòi hỏi sự pha trộn của các thông tin đã có sẵn và các thông tin được tính toán để gắn với các tác động vi mô của kiến nghị lập pháp /lập quy về mặt lợi ích, chi phí hoặc rủi ro. Điều đó có nghĩa, việc thu thập một số thông tin gốc là cần thiết, hoặc thông qua các phương thức (phương pháp thống kê, phương thức lấy ý kiến nhân dân). Thông thường, sẽ cần có sự pha trộn giữa các phương thức chính thức và không chính thức. OECD lưu ý rằng: “Chương trình tham vấn được xây dựng và thực hiện tốt có thể đóng góp vào việc nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật bằng cách cung cấp nguồn dữ liệu hiệu quả mà không tốn kém làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, hỗ trợ”.
Việc định rõ từ trước các chuẩn mực chấp nhận dữ liệu cũng như quy trình kiểm soát chất lượng cho việc sử dụng dữ liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tránh RIA “rác”, tăng cường sự tín nhiệm và độ tin cậy của RIA. Chuẩn mực chất lượng dữ liệu quen thuộc nhất là tính minh bạch. Một số nước yêu cầu các dữ liệu và giả định cơ sở phải được thể hiện rõ ràng, dứt khoát trong báo cáo phân tích để người đọc có thể hiểu được dễ dàng các kết luận đã được rút ra như thế nào.
5.7. Phương pháp phân tích RIA
Hầu hết các hướng dẫn về RIA đều nhấn mạnh đến nội dung xác định vấn đề, mục tiêu điều chỉnh và coi đây là bước quan trọng nhất trong quá trình thực hiện RIA. Chỉ khi xác định được đúng vấn đề thì mới có thể tìm được giải pháp thích hợp; việc xác định sai vấn đề thường dẫn đến thất bại chính sách[5].
Việc lựa chọn phương pháp sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp và nội dung cụ thể của RIA, hay nói cách khác là phụ thuộc vào mục tiêu điều chỉnh của quy định dự kiến ban hành. Mức độ và phạm vi phân tích cần phù hợp với tác động của quy định dự kiến ban hành. Nếu quy định dự kiến ban hành có tác động lớn thì cần có sự phân tích kỹ, sâu hơn và mang tính định lượng hơn.
Ngoài ra, trong khi thực hiện RIA cũng cần lưu ý một số vấn đề sau: Các phương pháp thu thập dữ liệu và các chuẩn mực chất lượng dữ liệu; Sự tham gia của các tổ chức khác vào quá trình RIA; Giám sát việc tuân thủ kết hợp với báo cáo công khai về việc thực hiện RIA; Đào tạo, bồi dưỡng về RIA nhiều hơn; Hoàn thiện các tài liệu hướng dẫn bằng văn bản về RIA; Cung cấp sự trợ giúp giải quyết các vướng mắc kỹ thuật
II. Một số kiến nghị xây dựng Dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) của Việt Nam cần đưa quy trình đánh giá tác động vào các công đoạn đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định, giai đoạn soạn thảo và giai đoạn thực thi văn bản các văn bản này.
Có quan điểm cho rằng, nên tiến hành RIA với mọi văn bản quy phạm pháp luật vì nếu tiến hành RIA các quyết định của Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ cũng sẽ bảo đảm chất lượng tốt hơn. Trong trường hợp đó, có thể chỉ cần áp dụng quy trình RIA đơn giản (light RIA) mà không cần phải xây dựng RIA đầy đủ (full RIA). Nếu một hệ thống pháp luật đơn giản hơn, ít hình thức văn bản hơn thì việc áp dụng RIA cũng trở nên thuận lợi hơn.
1. Trong giai đoạn lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
Khi đề xuất xây dựng một dự luật, pháp lệnh cũng như trình dự luật, pháp lệnh, cần có Báo cáo đánh giá tác động của chính sách, của văn bảnđến phát triển kinh tế - xã hội - môi trường để giảm thiểu những rủi ro xuất phát từ các quy định, chính sách; giảm chi phí và tăng lợi ích của các dự thảo luật, pháp lệnh.Xây dựng báo cáo đánh giá tác động pháp luật cho mỗi dự thảo luật, pháp lệnh hay đề xuất luật, pháp lệnh là một trong những phương pháp tốt giúp cho việc đánh giá các đề xuất xây dựng luật được minh bạch và thuyết phục. Tuy nhiên, ở giai đoạn này chỉ nên có những đánh giá tác động có tính sơ bộ (RIA đơn giản).
2. Giai đoạn soạn thảo
Trong giai đoạn soạn thảo, việc đánh giá tác động giúp cho cơ quan soạn thảo, ban soạn thảo tránh được tình trạng đẽo cày giữa đường, giúp cho việc soạn thảo các đạo luật chất lượng hơn, bảo đảm các chính sách hợp lòng dân và có sự cân nhắc, lựa chọn các giải pháp hiệu quả, ít chi phí hơn.
Điều 31 Khoản 6 Dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo dự thảo luật, pháp lệnh trong việc đánh giá tác động của dự thảo, xây dựng báo cáo đánh giá tác động và đăng tải báo cáo này trên website của Chính phủ hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo. Tương tự, Điều 58 Khoản 5 quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và đăng tải báo cáo đánh giá tác động của văn bản trên website của Chính phủ hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo khi xây dựng dự thảo nghị định của Chính phủ.
Việc đăng tải, công bố các Báo cáo đánh giá tác động pháp luật sẽ là cơ sở quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền quyết định và xem xét thứ tự ưu tiên của một dự luật; ngoài ra, nếu công bố rộng rãi dự thảo Báo cáo RIA cho công chúng thì cũng là cơ hội tốt để hoàn thiện báo cáo.
Báo cáo RIA cuối cùng được chuyển đến các cơ quan liên quan: Bộ trưởng, cơ quan thẩm định, Chính phủ và sau cùng là Quốc hội (nếu là luật), Uỷ ban thường vụ Quốc hội (nếu là pháp lệnh). Các cơ quan này được mời sử dụng bản báo cáo RIA để thảo luận về dự thảo. Cơ quan thẩm tra của Quốc hội cũng sẽ sử dụng bản báo cáo RIA trong quá trình lập pháp. Các chứng cứ được trình bày trong bản báo cáo RIA sẽ giúp các bên tranh luận về các giá trị của đề xuất /hoặc dự thảo luật.
3. Giai đoạn sau khi ban hành văn bản
Điều 93 Dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) quy định cơ quan chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị định[6] có trách nhiệm đánh giá tác động của văn bản do mình soạn thảo sau hai năm văn bản có hiệu lực thi hành. Việc ấn định thời gian sau hai năm văn bản có hiệu lực thi hành phải tiến hành đánh giá RIA chưa phải là một giải pháp thỏa đáng; nhưng sau bao lâu là phù hợp thì phụ thuộc nhiều vào từng văn bản. Nếu mỗi RIA đều được thực hiện theo chuẩn mực, làm tốt thì có thể đánh giá văn bản sau 5 năm sau khi văn bản được thực thi[7].
Giải pháp có thể là cơ quan chủ trì soạn thảo tự quyết định thời điểm cần đánh giá RIA sau một thời gian thực thi; cũng có thể là yêu cầu từ chính cơ quan ban hành văn bản, hoặc Thủ tướng quyết định (cũng như có nước, Thủ tướng quyết định sẽ phải tiến hành đánh giá RIA cho một dự luật nào đó). Trường hợp quy định có tính chất ép buộc như trên cũng chỉ là biện pháp tình thế trong điều kiện RIA chưa thực sự được quan tâm. /.
[1]Chiến lược của Ủy ban châu Âu trong giai đoạn 2005-2009, COM (2005); Sách trắng về Nền hành chính Châu Âu, 2001, COM (2001).
[2] Chẳng hạn ở Anh, mỗi năm các nhà làm luật cho ra đời khoảng 200 RIA.

[3]Ví dụ: Ireland chỉ yêu cầu bắt buộc áp dụng RIA cho các luật và các quy định do Bộ trưởng ban hành theo ủy quyền của luật.* Ở Mỹ quy định một số tiêu chí chung mà bất kỳ quy định nào có một trong các tiêu chí đó đều phải thực hiện RIA. Ở Cộng hoà liên bang Đức, quyết định hành chính cũng có thể được đánh giá tác động. Đối với EU, một RIA chính thức là đòi hỏi bắt buộc đối với một số nội dung trong Chương trình Hành động của Ủy ban: tất cả các đề xuất lập pháp, đề xuất chính sách, sách trắng, chương trình chi tiêu và hướng dẫn đàm phán đối với các hiệp định quốc tế (có tác động về môi trường, xã hội và kinh tế) được đưa vào Chương trình hành động đều phải có RIA. Ngoài ra, trên cơ sở từng vụ việc, Ủy ban châu Âu có thể quyết định thực hiện việc đánh giá tác động đối với một đề xuất không nằm trong Chương trình Hành động của Ủy ban.

[4] Ví dụ: Hoa Kỳ yêu cầu phải thực hiện RIA đầy đủ đối với trường hợp chính sách mới đang đề xuất sẽ tạo ra tổng chi phí tuân thủ hàng năm lớn hơn 100 triệu USD hoặc tăng đáng kể chi phí tuân thủ cho một ngành, khu vực hoặc có tác động xấu đến cạnh tranh, việc làm, đầu tư, hiệu quả sản xuất và sáng tạo khoa học. Ở Ireland, RIA đơn giản áp đụng đối với các quy định mà có ảnh hưởng không lớn và RIA đầy đủ áp dụng đối với các quy định có ảnh hưởng lớn.
*[5]Ví dụ: Hướng dẫn của Vương quốc Anh năm 2005 yêu cầu (i) nêu vấn đề cần điều chỉnh là gì, tình hình xảy ra hiện nay và khung pháp luật có liên quan, và (ii) xác định những tác động tiêu cực nảy sinh, đâu là nguyên nhân và dự kiến diễn biến trong tương lai. Hướng dẫn về RIA của Mỹ yêu cầu mỗi cơ quan sẽ phải xác định cụ thể vấn đề cần điều chỉnh, đang xảy ra ở đâu, mức độ như thế nào,.... Hướng dẫn của châu Âu năm 2005 cũng nhấn mạnh đến việc xác định vấn đề và mục tiêu điều chỉnh.

*[6] Dự thảo Luật này được thiết kế theo hướng đơn giản hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nên chỉ còn lại một số hình thức văn bản, ví dụ: bỏ hình thức nghị quyết.

[7] Để tránh tình trạng ban hành quá nhiều văn bản, tồn tại những văn bản không còn ý nghĩa trong cuộc sống, bang Bắc Sông Ranh của Cộng hòa Liên bang Đức quy định các văn bản chỉ có hiệu lực trong 5 năm, và chỉ gia hạn hiệu lực của văn bản khi cần thiết.


TS. Nguyễn Thị Kim Thoa - Ths Nguyễn Thị Hạnh

Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi

Bảo hiểm tiền gửi tại Ba Lan và Mỹ: kinh nghiệm trong chính sách hỗ trợ tài chính

Bảo hiểm tiền gửi tại Ba Lan và Mỹ: kinh nghiệm trong chính sách hỗ trợ tài chính
Giao lưu kinh tế rộng rãi đã mang lại cơ hội kinh tế cho mọi cá nhân, tổ chức, quốc gia, song cũng dễ nảy sinh rủi ro, đặc biệt là đối với ngành ngân hàng. Đứng trước thực tế này, bảo hiểm tiền gửi ra đời với vai trò là một hợp thành trong mạng lưới bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, có nhiệm vụ quan trọng trong giám sát và xử lý rủi ro ngân hàng. Một trong các giải pháp được bảo hiểm tiền gửi (BHTG) lựa chọn trong xử lý rủi ro ngân hàng là hỗ trợ tài chính (HTTC).



*

Giao lưu kinh tế rộng rãi đã mang lại cơ hội kinh tế cho mọi cá nhân, tổ chức, quốc gia, song cũng dễ nảy sinh rủi ro, đặc biệt là đối với ngành ngân hàng. Đứng trước thực tế này, bảo hiểm tiền gửi ra đời với vai trò là một hợp thành trong mạng lưới bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, có nhiệm vụ quan trọng trong giám sát và xử lý rủi ro ngân hàng. Một trong các giải pháp được bảo hiểm tiền gửi (BHTG) lựa chọn trong xử lý rủi ro ngân hàng là hỗ trợ tài chính (HTTC). Giải pháp này không những giúp hạn chế đổ vỡ ngân hàng mà còn giúp cải tổ và khôi phục hoạt động kinh doanh của các ngân hàng mất khả năng thanh toán, đồng thời duy trì niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống. Vì vậy, với mong muốn chia sẻ kinh nghiệm triển khai hoạt động HTTC trong chính sách BHTG, chúng tôi xin giới thiệu về công tác HTTC tại Ba Lan, một quốc gia được coi là có hệ thống BHTG công khai, thực hiện thành công hoạt động HTTC và hỗ trợ của Tổng công ty BHTG Liên bang Mỹ (FDIC) - một tổ chức BHTG có lịch sử phát triển lâu dài và có hoạt động HTTC phát triển khá sớm; đồng thời đề xuất một số vấn đề trong HTTC.
1. Hoạt động HTTC tại Ba Lan
Là một quốc gia được coi là có hệ thống BHTG công khai, thực hiện thành công hoạt động HTTC, Quỹ bảo đảm ngân hàng Ba Lan (BFG) triển khai nghiệp vụ này ngay khi mới thành lập và chủ yếu được thực hiện theo hình thức cho vay có hoàn trả với các điều kiện vay ưu đãi.
Hoạt động HTTC của Quỹ bảo đảm ngân hàng được thực hiện thông qua Quỹ hỗ trợ (AF) với mục đích hỗ trợ cho việc cơ cấu lại các ngân hàng có nguy cơ mất khả năng thanh toán, đồng thời bảo vệ người gửi tiền, giảm thiểu tổn thất tiềm tàng của những ngân hàng này. Về nguyên tắc, AF sẽ cấp HTTC theo 2 phương thức:
§******** Cấp trực tiếp cho các ngân hàng gặp khó khăn để tự cơ cấu lại;
§******** Cấp cho các ngân hàng có tình trạng tài chính tốt có kế hoạch mua lại các ngân hàng gặp khó khăn.
Nguồn vốn cho HTTC được hình thành từ nguồn đóng góp bắt buộc của các ngân hàng. Các ngân hàng phải đóng góp cho Quỹ hỗ trợ hàng năm theo mức độ rủi ro và theo tỷ lệ quy định của Hội đồng Quỹ bảo đảm ngân hàng. Tỷ lệ đóng góp cao nhất đối với các tài sản nội bảng và các tài sản bảo đảm, bảo lãnh quy đổi theo mức độ rủi ro là 0,4%, còn đối với các tài sản ngoại bảng quy đổi theo mức độ rủi ro là 0,2%. Ngoài ra, Quỹ hỗ trợ được bổ sung hàng năm bởi các khoản vay được hoàn trả từ phía ngân hàng và từ việc bán các khoản nợ thu được trước đây. Hơn nữa, vốn cho Quỹ hỗ trợ còn được Ngân hàng nhà nước (NHNN) Ba Lan chia sẻ bắt đầu từ năm 1998 (trong năm 1998 là 30% giá trị Quỹ, năm 1999 và 2000 là 40%, từ năm 2001 con số này đã lên tới 50%). Khi tình hình kinh tế và ngành ngân hàng ổn định, nguy cơ các ngân hàng bị đổ bể giảm xuống, NHNN Ba Lan không cần phải cung cấp tài chính cho Quỹ hỗ trợ.
Year
Năm
Tỷ lệ đóng góp hàng năm (%)
Đóng góp từ các ngân hàng* (1)
Đóng góp từ NHNN Ba Lan (2)
Tổng (1)+(2)
Các khoản cho vay được hoàn trả
Các ngân hàng khác
PKO BP, Pekap SA, và BGZ SA
Triệu zlôti (tiền Ba Lan)
1995
0.40
0.20
173.8
0.0
173.8
0.0
1996
0.40
0.20
230.0
0.0
230.0
0.0
1997
0.40
0.20
261.2
0.0
261.2
0.0
1998
0.28
0.14
209.2
89.8
299.0
3.9
1999
0.24
0.12
203.4
135.6
339.0
46.2
2000
0.23
0.23
258.5
172.4
430.9
71.4
2001
0.14
0.14
158.6
158.6
317.1
148.4
2002
0.08
0.08
95.5
95.5
191.0
280.3
2003
0.10
0.10
122.6
122.6
245.2
647.2
2004
0.075
0.075
93.1
93.1
186.2
365.6
2005
0.05
0.05
*
*
*
*

*
Thông thường, bất kỳ một đề xuất HTTC nào cũng sẽ được BFG xem xét dựa trên một số nguyên tắc cơ bản sau:
§********************** Đối xử bình đẳng với các tổ chức xin vay trong việc tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ và minh bạch tiêu chuẩn, thủ tục trong quá trình giải ngân;
§********************** Hỗ trợ quá trình liên kết và quá trình tái cơ cấu ngân hàng thông qua việc trợ giúp các ngân hàng mạnh mua lại các ngân hàng có nguy cơ mất khả năng thanh toán;
§********************** Huy động nguồn tài chính từ các đối tác để bổ sung nguồn cho Quỹ hỗ trợ (AF), đặc biệt là từ các cổ đông và các chủ nợ của ngân hàng nhằm thực hiện chương trình tái cơ cấu;
§********************** Tối đa hóa hiệu quả của hoạt động hỗ trợ. Vì vậy, một số các yếu tố sẽ được quy định cụ thể trong các điều khoản và điều kiện của hợp đồng vay, ví dụ như tính đến các chi phí cho hoạt động hỗ trợ, lãi thu được từ khoản vay sẽ được chuyển toàn bộ vào quỹ hỗ trợ, hay yêu cầu các hoạt động đầu tư kinh doanh của tổ chức xin vay phải an toàn, hiệu quả;******
§********************** Thực hiện kịp thời hỗ trợ các ngân hàng theo đúng quy định về HTTC (BFG, 1995-2001).
Năm
Số lượng các khoản cho vay được giải ngân
Số tiền được giải ngân (nghìn euro)
1996
9
31 674,43
1997
28
84 260,84
1998
17
53 714,15
1999
11
69 649,42
2000
6
50 330,96
2001
6
183 623,44
2002
5
32 557,00
2003
14
184 113,75
2004
1
110 321,16
Tổng
97
800 245,15

Để một đề xuất hỗ trợ có thể được Quỹ bảo đảm ngân hàng Ba Lan xem xét thì trước tiên tổ chức xin hỗ trợ phải (1) đệ trình kết quả kiểm toán các báo cáo tài chính về hoạt động của mình; (2) phải có ý kiến đồng thuận của Uỷ ban giám sát ngân hàng về mục tiêu hỗ trợ; (3) Chứng minh được khoản yêu cầu hỗ trợ không lớn hơn tổng số tiền gửi được bảo hiểm tại ngân hàng; và (4) sử dụng các khoản tiền của ngân hàng để xử lý những tổn thất (BFG, 1995-2001 và Annual report 2004).

B¶ng 2. T×nh h×nh gi¶i ng©n c¸c kho¶n HTTC tõ AF. Nguån: (BFG, Annual report 2004).
*
Như vậy, một quyết định HTTC của BFG phải căn cứ trên cơ sở các chương trình cải cách đã được phân tích kỹ cũng như việc đánh giá tính khả thi của các phương án, việc triển khai phương án chấn chỉnh hoạt động của các ngân hàng được HTTC. Thời hạn dài nhất của khoản cho vay hỗ trợ là 10 năm với thời gian gia hạn không quá 1/2 thời gian cho vay (BFG, 2001. tr. 6).
Kết quả hoạt động cho thấy, số tiền cho vay hỗ trợ ngày càng tăng qua các năm, chỉ tính riêng đến năm 2001 đã có 73 khoản vay với tổng số tiền 1.816, 5 triệu PLN, chiếm 88,5% tổng nguồn vốn của Quỹ hỗ trợ được cho vay, trong đó 34 khoản vay đã được cấp cho các ngân hàng tự tiến hành chấn chỉnh hoạt động, 39 khoản vay đã được cấp cho các ngân hàng có tình trạng kinh doanh tốt để tiến hành sáp nhập với các ngân hàng có nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Hoạt động HTTC của BFG đã bổ sung cho hoạt động BHTG vì đã hạn chế tình trạng phá sản của các ngân hàng. Hơn 19 ngàn người thoát khỏi thất nghiệp, 523 ngân hàng đã tránh được tình trạng bị phá sản nhờ được BFG cung cấp HTTC (BFG, 2001, tr.8).
2. Hoạt động HTTC của Tổng công ty BHTG Liên bang Mỹ
Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang (FDIC) cung cấp HTTC cho các ngân hàng hoặc tổ chức tiết kiệm được bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc cấp cho các tổ chức mạnh mua lại tổ chức bị mất khả năng thanh toán qua giao dịch hỗ trợ ngân hàng mở (OBA). Mục tiêu của chính sách này nhằm duy trì hoạt động ngân hàng, ổn định tình hình tài chính quốc gia.
Thông thường, FDIC cấp hỗ trợ ngân hàng mở theo nguyên tắc chi phí thấp nhất, tức là giải pháp hỗ trợ phải đạt chi phí thấp nhất cho quỹ bảo hiểm so với tất cả các phương pháp xử lý có thể. Tuy nhiên, FDIC cũng có những “nhân nhượng” trong việc tuân thủ nguyên tắc chi phí thấp nhất khi sự đổ vỡ của ngân hàng xin hỗ trợ tác động nghiêm trọng tới các điều kiện kinh tế hoặc sự ổn định tài chính quốc gia hoặc rủi ro hệ thống ngân hàng. Trong trường hợp này, cơ quan ngân hàng liên bang liên quan hoặc FDIC phải khẳng định được rằng ngân hàng này không vi phạm luật, các quy định, các chỉ thị giám sát khác liên quan.*
Chính sách hỗ trợ của FDIC được phê duyệt từ năm 1950, song tới năm 1971 mới chính thức bắt đầu được triển khai. Mặc dù bản chính sách hỗ trợ đã được chỉnh sửa nhiều lần (1986, 1990) do số lượng, qui mô và tính phức tạp của các tổ chức gặp khó khăn, song về cơ bản, FDIC đánh giá một đề xuất HTTC cho một tổ chức được bảo hiểm căn cứ trên một số các tiêu chí quan trọng sau:
·********************** Đảm bảo số tiền mà FDIC hỗ trợ phải nhỏ hơn chi phí cho các giải pháp lựa chọn khác (chi phí tối thiểu);
·********************** Bản đề nghị hỗ trợ phải cung cấp đầy đủ số liệu về nguồn vốn, bao gồm cả vốn thanh khoản từ các nguồn khác ngoài FDIC, để đáp ứng các tiêu chuẩn về vốn theo qui định của cơ quan quản lý ngân hàng bang;
·********************** Số tiền hỗ trợ và nguồn vốn mới từ bên ngoài phải đảm bảo khả năng tồn tại trong tương lai của tổ chức được BHTG;
·********************** Đơn xin hỗ trợ phải đưa ra giới hạn cho tất cả các khoản mục tài chính trong bản đề xuất;
·********************** Hỗ trợ không được sử dụng để tạo cơ hội mang lại lợi nhuận cho các cổ đông;
·********************** Đề nghị hỗ trợ được xem xét trong điều kiện cạnh tranh với các tổ chức có đủ điều kiện khác;
·********************** Cung cấp đầy đủ các kết quả tài chính liên quan tới hoạt động kinh doanh của tổ chức;
·**********************
BiÓu ®å 1: C¸c giao dÞch OBA ®*îc FDIC thùc hiÖn so víi tæng c¸c giao dÞch xö lý (1980-1994).
Không hạn chế hoạt động chu toàn hợp thức[1] của FDIC và tất cả các bên được FDIC chấp thuận (FDIC, 2003, Resolutions Handbook và net 1).
Từ năm 1971 tới 1992, FDIC đã thực hiện thành công một số giao dịch hỗ trợ OBA cho các ngân hàng, đầu tiên đó là Ngân hàng First Penn vào năm 1980 với hình thức cho vay trực tiếp.
Hình thức mua tài sản có, cổ phiếu thường được FDIC thực hiện với Continental Illinois National Bank and Trust Company (1984), First City (1988).
FDIC thực hiện hình thức gửi tiền vào tổ chức có vấn đề đối với Banc Texas Group, Inc. (1987), Alaska Mutual Bank and United Bank of Alaska (1987-1988).
Trong giai đoạn từ 1980 tới 1992, FDIC đã cung cấp OBA cho 133 tổ chức trong tổng số 1617 tổ chức bị gặp khó khăn, tương đương với 8,2% trong tổng số. Từ 1987-1988 là thời gian có nhiều giao dịch OBA được thực hiện nhất, chiếm tới 75% tổng số giao dịch OBA.
Như vậy, hoạt động OBA tại FDIC đã mang lại một số hiệu quả nhất định trong việc xử lý các tổ chức tài chính mất khả năng thanh toán và có nguy cơ đổ vỡ, giảm thiểu sự bất ổn đối với cộng đồng và kêu gọi được nguồn tài chính từ các nhà đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng thấy rằng hỗ trợ OBA còn bộc lộ một số những tranh cãi:
§********************** Nợ bất thường vẫn được duy trì tại ngân hàng hoặc tổ chức tiết kiệm gặp khó khăn;
§********************** Khách hàng có khoản tiền gửi không được bảo hiểm và các chủ nợ cũng được bảo vệ bởi các giao dịch OBA, vì vậy sẽ làm giảm tính tuân thủ kỷ cương thị trường;
§********************** Tổ chức tài chính yếu kém được phép duy trì hoạt động và cạnh tranh với các tổ chức không được hỗ trợ;
§********************** Nhiều giao dịch OBA được sử dụng để xử lý các tổ chức lớn hơn, vì vậy có thể gây ra những “phản ứng bất lợi” từ nhiều các chủ nợ của các tổ chức tài chính nhỏ hơn.
Đến năm 1989, FDIC bắt đầu hạn chế dần giao dịch OBA. Trong thời gian từ 1989 đến 1992, FDIC chỉ thực hiện 7 giao dịch OBA. Mặc dù giải pháp HTTC cho phép tiếp tục duy trì các nghiệp vụ tại ngân hàng mất khả năng thanh toán, song do những vấn đề trong đàm phán giao dịch và hàng loạt những thay đổi về pháp lý hoặc hạn chế việc sử dụng OBA (ví dụ quy định về chi phí thấp nhất) hoặc mở rộng những giải pháp hiện có để giải quyết những đổ vỡ ngân hàng lớn (ví dụ, như ngân hàng bắc cầu), từ 1992 FDIC đã không sử dụng hình thức HTTC.
3. Một số kinh nghiệm từ hoạt động HTTC của tổ chức BHTG
Mặc dù chính sách HTTC của BHTG nói chung vẫn còn một số bất cập, bản thân tổ chức BHTG có thể phải đối mặt với một số những phản ứng ngược chiều từ công chúng, song từ thực tiễn hoạt động của hai tổ chức BHTG giới thiệu ở trên cho thấy, có thể rút ra một số kinh nghiệm nhằm giúp hoạt động HTTC trong chính sách BHTG đạt được những kết quả mong muốn:
3.1. Tổ chức BHTG phải xác định thời điểm HTTC. Thực tế kinh nghiệm từ Quỹ bảo đảm ngân hàng Ba Lan, FDIC và một số tổ chức BHTG khác trên thế giới cho thấy, hoạt động HTTC chỉ được thực hiện khi xác định rằng tổ chức tham gia BHTG bị mất khả năng thanh toán, tức là tổng giá trị tài sản có của tổ chức nhỏ hơn các khoản nợ phải trả.
3.2* Phải đảm bảo đủ nguồn tài chính cho hoạt động hỗ trợ. Để thực hiện tốt hoạt động HTTC trước tiên tổ chức BHTG phải có đủ vốn. Thực tế hoạt động tại Ba Lan cho thấy, nên thiết lập một Quỹ HTTC riêng biệt với quỹ chi trả BHTG. Nguồn tài chính cho quỹ này có thể xem xét từ việc đóng góp từ chính các tổ chức tham gia BHTG và tỷ lệ đóng góp căn cứ trên mức độ rủi ro nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay của các tổ chức tham gia BHTG, đồng thời góp phần đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn và hiệu quả;
3.3.* Xác định những tiêu chí cụ thể cho hoạt động HTTC. Việc quyết định thực hiện HTTC hay không cho một tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn cần phải dựa trên các đánh giá chính xác về tình hình tài chính và hoạt động. Một số gợi ý cho các tiêu chí đưa ra có thể là: việc lựa chọn giải pháp HTTC phải căn cứ trên cơ sở so sánh với các giải pháp khác về chi phí và hiệu quả kinh tế; xác định rằng tổ chức được hỗ trợ chắc chắn cải thiện được tình hình tài chính và hoạt động sau khi nhận hỗ trợ; và việc hỗ trợ không được sử dụng để mang lại lợi ích cho các cổ đông của tổ chức xin hỗ trợ,…
3.4. Cần đưa ra các nguyên tắc trong quá trình xét duyệt HTTC cho các tổ chức tham gia BHTG. Thông thường, các nguyên tắc thường tập trung vào các yếu tố như: đảm bảo chi phí thấp nhất; đảm bảo hoạt động hỗ trợ đạt hiệu quả kinh tế cao; đối xử bình đẳng với các ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn hỗ trợ; và đặc biệt tổ chức xin vay hỗ trợ phải có phương án cụ thể nhằm tái thiết lại hoạt động của mình;
3.5. Thực hiện kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay hỗ trợ. Nỗ lực khôi phục hoạt động của một tổ chức tham gia BHTG nhằm góp phần bảo đảm an toàn tài chính quốc gia đòi hỏi tổ chức BHTG phải có những can thiệp kịp thời trong qúa trình sử dụng vốn vay hỗ trợ của các tổ chức tài chính. Hoạt động kiểm tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên và chặt chẽ. Nội dung kiểm tra, giám sát có thể bao gồm:
§********************** Kiểm tra tính phù hợp trong việc sử dụng vốn vay với các mục tiêu, mục đích ghi trong hợp đồng vay;
§********************** Kiểm tra tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay;
§********************** Kiểm tra tiến trình thực hiện chương trình tái thiết hoạt động đã đưa ra (nếu có);
§********************** Kiểm tra việc cải thiện trong tình hình kinh tế và tài chính của tổ chức vay;
§********************** Tình hình thực hiện các cam kết khác ghi trong hợp đồng vay.
[1] Chu toàn hợp thức là hoạt động kiểm tra trực tiếp sổ sách và các giấy tờ của tổ chức bị đưa ra đấu giá và đánh giá giá trị thương hiệu kinh doanh tiền gửi của tổ chức đó.
*
(Bài viết đăng trên TCNCLP số 107, tháng 10/2007)

Lê Thị Hồng Hạnh

Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi

Tính chính đáng của đảng cầm quyền trong các thể chế chính trị tư bản

Trong các thể chế chính trị dân chủ tư bản, tính chính đáng của đảng cầm quyền là vấn đề hệ trọng của đời sống chính trị, liên quan trực tiếp đến hiệu lực thực thi quyền lực của đảng cầm quyền, đến thời gian tồn tại của đảng đó, và liên quan trực tiếp đến sự ổn định chính trị, phát triển của xã hội thời kỳ đảng cầm quyền đó đương nhiệm. Đây là vấn đề mà tất cả các đảng trong hệ thống đa nguyên, đa đảng đối lập luôn phải quan tâm, nhận thức đầy đủ trong quá trình cạnh tranh vươn tới quyền nắm, giữ và chi phối quyền lực nhà nước.



Trong các thể chế chính trị dân chủ tư bản, tính chính đáng của đảng cầm quyền là vấn đề hệ trọng của đời sống chính trị, liên quan trực tiếp đến hiệu lực thực thi quyền lực của đảng cầm quyền, đến thời gian tồn tại của đảng đó, và liên quan trực tiếp đến sự ổn định chính trị, phát triển của xã hội thời kỳ đảng cầm quyền đó đương nhiệm. Đây là vấn đề mà tất cả các đảng trong hệ thống đa nguyên, đa đảng đối lập luôn phải quan tâm, nhận thức đầy đủ trong quá trình cạnh tranh vươn tới quyền nắm, giữ và chi phối quyền lực nhà nước.
Tính chính đáng của đảng cầm quyền (hay liên minh các đảng cầm quyền) trong các chính thể dân chủ trong các nước tư bản thể hiện trên mấy vấn đề chủ yếu dưới đây:
Thứ nhất, tính chính đáng của một đảng cầm quyền trước hết được thể hiện ở tính hợp hiến, hợp pháp, tức là vai trò cầm quyền đó phải được thừa nhận bằng bằng đa số trong xã hội.
Trong các nền dân chủ chính trị tư bản chủ nghĩa, đảng cầm quyền là đảng nắm quyền đại diện cho ý chí chung của xã hội. Muốn ý chí của đảng trở thành ý chí của xã hội, đảng phải thắng cử trong các cuộc tranh cử một cách bình đẳng giữa các lực lượng, các đảng vào các cơ quan công quyền; đảng đó phải được xã hội thừa nhận bằng đa số trong các cuộc tranh cử vào cơ quan lập pháp (với chính thể quân chủ đại nghị và chính thể cộng hòa) hoặc giành đa số trong tranh cử giành quyền đứng đầu chính phủ (với chính thể tổng thống hoặc chính thể hỗn hợp cộng hòa - tổng thống). Đảng đa số trong tranh cử được xã hội coi là phù hợp với lẽ phải, đúng với chuẩn mực, là tương đồng với nội dung chính danh, chính đạo (theo quan niệm của đạo Khổng). Sự thừa nhận của xã hội với đảng cầm quyền bằng pháp luật là sự công nhận và thừa nhận đảng cầm quyền được làm những gì và không được làm những gì theo quy định pháp luật, “cũng ví như như sự thừa nhận về các giá trị đạo đức, khẳng định các chân giá trị văn hóa”. Chính sự thừa nhận của xã hội đối với đảng cầm quyền đã làm cho đảng cầm quyền có tính chính đáng. Sự thừa nhận của xã hội ở một góc độ nào đó thể hiện đảng đó cầm quyền là phù hợp với những chuẩn mực xã hội, thậm chí là chân lý .
Một nhà nước được đảng dựng lên thông qua đảo chính, bạo loạn, lật đổ không thể gọi là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, và đảng cầm quyền đó không thể được coi là một đảng cầm quyền chính đáng. Cũng chính vì điều này, ở một số nước, vì có những “vấn đề” trong bầu cử, nên sau bầu cử là cả một thời kỳ bất ổn, tranh chấp quyền lực kéo dài của các đảng đối lập với đảng cầm quyền, đòi người đứng đầu nhà nước phải từ chức. Trong hoàn cảnh đó, đảng mới cầm quyền chắc chắn phải đương đầu với những phản đối quyết liệt của các đảng đối lập, và* gắn liền với điều đó thường là tình trạng rối loạn, bất ổn định chính trị - xã hội. Do đó, trong nhiều trường hợp, để được coi là đảng cầm quyền hợp pháp, đảng đó thường phải tiến hành các sửa đổi hiến pháp, tuy nhiên, điều đó cũng không dễ dàng.
Tuy nhiên, tính chính đáng của một đảng cầm quyền (hay liên minh các đảng cầm quyền) nhờ đảng đó trở thành đảng thắng cử trong các cuộc tranh cử vào các cơ quan công quyền chỉ là tiêu chí đầu tiên, tiêu chí tối thiểu, và càng không phải là tiêu chí duy nhất để đánh giá tính chính đáng của đảng cầm quyền.*
Sự tín nhiệm bằng đa số xã hội, không chỉ biểu hiện ở đa số cử tri đi bầu so với tổng cử tri trong xã hội, mà còn là đa số so với số cử tri thực tế tham gia bầu cử. Tỷ lệ cử tri đi bầu càng cao, và tỷ lệ phiếu tán thành càng cao đối với một tổ chức hay cá nhân cũng đồng nghĩa với sự thừa nhận càng cao của xã hội, tính chính đáng của đảng đó càng cao. ở một số nước, người ta xem xét tính chính đáng về khía cạnh ủng hộ của cử tri, không thể không xem xét đằng sau cử tri là sự ủng hộ của các đại gia, các nhà tài phiệt, thậm chí phải kể đến sự ủng hộ của các thế lực bên ngoài, hoặc của người đứng đầu chính thể quân chủ đại nghị, mặc dù vị thế này không có một vai trò chính trị nào. Những thắng lợi từ bầu cử và từ các sự ủng hộ quan trọng khác là một trắc nghiệm đắc nhân tâm của xã hội với đảng, phản ánh sự lớn mạnh của đảng và uy tín của đảng trong xã hội. Trái lại, sự thất bại liên tiếp của đảng trong tranh cử là điều chứng tỏ uy tín của đảng giảm sút, đảng đang trên đà suy yếu, và có thể chết. Nếu như một đảng nào đó không chết hẳn, còn sống sót được là vì vài xu hướng khác. Bất cứ một đảng chính trị nào cũng có tham vọng vươn tới giành lấy chính quyền và bành trướng mở rộng quyền lực. Quan điểm này xuất phát từ mục đích căn bản trước hết của các đảng chính trị là vấn đề chính quyền. Nếu một đảng không đưa ra được mục đích giành lấy quyền lực nhà nước thì đảng đó khó có thể lôi kéo được quần chúng. Và nếu trong một thời kỳ dài, đảng luôn thất bại trong tranh cử, không vươn tới giành được quyền lực thì đảng đó cũng có khả năng mất dần những cử tri đã từng gắn bó với họ, cử tri sẽ dần mất hy vọng ở họ.
Chính vì lẽ đó, để đảng có được đa số xã hội công nhận, các ứng cử viên của đảng cũng như các ứng cử viên độc lập trong các nền dân chủ phương Tây phải bỏ ra nhiều công sức để tranh cử, qua đó để tổ chức công luận, tạo công luận, dẫn dắt công luận, lôi kéo cử tri để tạo ý chí của đa số. Đây là vẫn đề cốt yếu để đảng có thể thắng cử trong tranh cử.
Đối với mỗi đảng, để đề cử được một người thay mặt đảng ứng cử vào chức vụ đứng đầu nhà nước, nắm quyền hành pháp, người đó phải vượt qua cửa ải vận động, tranh cử trong nội bộ đảng để được đảng giới thiệu. Nhiều khi, cuộc chạy đua tranh cử trong đảng còn phức tạp hơn cả cuộc tranh cử giữa các đảng (như cuộc tranh cử để được đảng giới thiệu là ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ trong gần suốt nửa đầu năm 2008 ở Mỹ).
Tính chính đáng của đảng cầm quyền tất nhiên phải thể hiện ở sự tín nhiệm của đa số nhân dân. Sự tín nhiệm đó thông qua đa số lá phiếu của cử tri bỏ cho đảng. Song không có nghĩa cứ là đảng đa số là đảng tốt, còn đảng thiểu số là đảng xấu. Trong nhiều trường hợp, để đảng giành được đa số, lôi kéo được cử tri, đảng có thể hứa hẹn đủ điều, đánh bóng mình bằng những lời hứa hẹn tốt đẹp, chưa cần biết có thực hiện được lời hứa đó hay không. Do đó, có đảng giành được đa số nhưng chỉ là sự ngộ nhận của cử tri, hoặc do nhiều nguyên nhân khác.*
Thứ hai, các cuộc tranh cử trong bầu cử các cơ quan quyền lực công phải diễn ra thật sự dân chủ.
Tính chính đáng của đảng thắng cử phải được thể hiện trước hết trong các cuộc bầu cử dân chủ. Đây là tiêu chí rất quan trọng đối với một đảng được thừa nhận là có vai trò cầm quyền chính đáng trong điều kiện đa nguyên, đa đảng đối lập, cạnh tranh hay bán cạnh tranh. Tính dân chủ của các cuộc bầu cử đó thể hiện thực chất trọng yếu của dân chủ, đó là đảng cầm quyền phải có tính tính đại diện cao.
Tính dân chủ của các cuộc bầu cử đó thể hiện trên những vấn đề chủ yếu: cơ quan lập pháp và các vị trí đứng đầu chính quyền hình thành thông qua bầu cử phải được tiến hành thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu - dân chủ trực tiếp (hoặc dân chủ đại diện); các cuộc tuyển cử diễn ra tương đối đều đặn, không có một lực lượng chính trị nào có quyền chủ quan thay đổi tùy tiện; quy trình bầu cử (giới thiệu số lượng nhân sự, tranh cử, bầu cử…) được tuân thủ theo đúng pháp luật và không có yếu tố cưỡng bức, không ai có quyền áp đặt; các điều kiện tranh cử có công bằng hay không (như việc sử dụng thời lượng tranh cử trên truyền hình, đài phát thanh…); công dân, theo các tiêu chí quy định của pháp luật về tuổi đời, quốc tịch, cư trú… có quyền tự do ứng cử vào các chức vụ chính trị hay không; mọi người được tự do biểu đạt quan điểm về những người tranh cử; công chúng có quyền được thông tin và tìm đến thông tin về cuộc bầu cử…
Trong các xã hội dân chủ, nhà nước là công cụ của đảng cầm quyền. Do đó, tính chính đáng của đảng cầm quyền được thể hiện thông qua nhà nước và thông qua các quan chức điều hành nhà nước do đảng cầm quyền bố trí. Vì vậy, nhà nước phải là “một nhà nước hợp hiến”. Sự hình thành, tồn tại của các cơ quan quyền lực dân cử phải do đa số trong xã hội thừa nhận. Nói khác đi, tổ chức quyền lực nhà nước đó phải thể hiện được ý chí, nguyện vọng của của nhân dân, phải hợp pháp. Một đảng thắng cử phải là đảng đại diện cho ý chí của đa số, của xã hội. Một đảng thắng cử, nhưng là kết quả của cuộc tranh cử bất bình đẳng, chứa đựng các yếu tố gian lận trong bầu cử, trái pháp luật, và trong trường hợp nếu đảng giành quyền bằng đảo chính lật đổ đều không được thừa nhận là một đảng cầm quyền chính đáng và phải được cơ quan pháp luật xem xét. Nhiều đảng do vi phạm luật bầu cử, gian lận, mua phiếu bầu bị phát hiện đã bị mất quyền. Xét về bản chất, đảng gian lận để thắng cử trong bầu cử chỉ là đảng thiểu số. Bởi vậy, luật pháp có nước quy định: bất cứ một đảng nào, bất cứ một thành viên điều hành của một đảng phái chính trị nào phạm tội gian dối trong tuyển cử thì đảng đó có thể sẽ phải đứng trước phán xét của tòa án hiến pháp về giải tán đảng và các thành viên của đảng đó sẽ bị cấm tham dự các hoạt động chính trị trong một số năm (Hiến pháp Thái Lan 2007).
Trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, sự thừa nhận của xã hội có thể thực hiện bằng cách đảng đó lôi kéo được đại đa số xã hội đi theo, làm theo trong cuộc cách mạng giành chính quyền, nhờ có một đường lối đúng, đáp ứng được lợi ích của đa số xã hội mà không cần qua phổ thông đầu phiếu. Nhưng những nhân tố đảm bảo cho tính chính đáng của đảng sau khi đã giành được chính quyền bằng cuộc cách mạng (hoặc đảo chính lật đổ) không dừng lại ở đó, và cũng chỉ là tiêu chí đầu tiên để đảng đó vươn tới nắm quyền lực.
Thứ ba, tính chính đáng của đảng cầm quyền phải thể hiện ở tính hợp lý trong các quyết định của đảng về các chính sách công: phải đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội, phân bổ hợp lý các giá trị, tháo gỡ được những bức xúc, giải quyết được các xung đột lợi ích giữa các lực lượng, các cộng đồng, các giai* cấp, tầng lớp trong xã hội.
Tính chính đáng của đảng cầm quyền thông qua việc đảng đó là đảng đa số trong các cuộc tuyển cử bình đẳng, đúng pháp luật cũng chưa phải là thước đo duy nhất, và đây mới chỉ là những nhân tố biểu hiện các điều kiện cần, nhưng chưa đủ để đảm bảo uy tín về tính chính đáng của đảng cầm quyền.
Hiến pháp các nước tư bản đều quy định, bất cứ một đảng nào sau khi đã giành đa số trong bầu cử, đều có toàn quyền bố trí nhân sự của bộ máy nhà nước. Nói như vậy không có nghĩa là đảng có quyền bố trí cán bộ ở mọi vị trí quyền lực nhà nước, mà chỉ đối với các vị trí chính trị theo các quy định pháp luật - tức các vị trí là bộ trưởng hay tương đương trong bộ máy nhà nước, còn các vị trí khác chỉ là những chức danh hành chính, chuyên môn. Các chức danh này không bị xáo trộn theo sự thay đổi các đảng cầm quyền. Trên cơ sở đó, đảng cầm quyền thông qua thủ lĩnh của đảng, tổ chức đảng và đảng viên của đảng trong nghị viện, trong chính phủ và các tổ chức tư vấn, các ủy ban chuyên môn do đảng lập ra để giúp đảng thể chế hóa đường lối của đảng thành chính sách, pháp luật của nhà nước, nhằm thực hiện các mục tiêu của đảng cầm quyền.
Sau khi đã ở vị trí cầm quyền rồi, tính chính đáng của đảng phải được thể hiện ở tính hợp lý trong hoạch định, ban hành và thực thi các chính sách công của nhà nước, bởi các quyết sách của nhà nước chỉ là sự cụ thể hóa các chủ trương của đảng. Không phải mọi quyết định của đảng cầm quyền thông qua chính sách nhà nước đều mang tính hợp lý, bởi nó chứa đựng nhiều yếu tố chủ quan. Nói đến uy tín của đảng, theo quan niệm của cử tri, sở dĩ họ dành cho đảng lá phiếu bởi đảng là tổ chức chính trị của những người có cùng quan điểm về chính sách công phù hợp với nguyện vọng của họ. Và như vậy, tính hợp lý trong các chính sách của đảng phải được thể hiện ra ở chỗ nó phù hợp với ý chí xã hội, ý chí của đa số trên thực tế cả về mặt lợi ích và sự phát triển.
Hầu hết các dự luật trước khi được đưa ra tranh cãi tại nghị viện đã được các uỷ ban và giới lãnh đạo của đảng cầm quyền thảo luận trước. Vì là đảng đa số nên trong các phiên họp toàn thể của Quốc hội, việc thông qua các dự án của đảng dường như chỉ là hình thức để hợp pháp hoá các chính sách của đảng cầm quyền. Như vậy, các chính sách của đảng cầm quyền trước khi ban hành đã được nghiên cứu, cân nhắc. Tuy nhiên, dù nắm trong tay đa số biểu quyết, đảng đa số vẫn có sự chia sẻ nhất định về lợi ích trong việc thông qua các quyết sách. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là các quyết định của đảng cầm quyền đều đáp ứng được các yêu cầu của xã hội, của sự phát triển. Vì vậy, vấn đề ở đây là đảng đó cần phải làm gì để khắc phục tính chủ quan của đảng. Có nghĩa là nhà nước - công cụ của đảng - có phát huy được dân chủ trong hoạch định các chính sách hay không. Và để làm được điếu đó, nhà nước có dám cung cấp đầy đủ thông tin cho công chúng hay không, có dám lắng nghe các ý kiến phản hồi của dư luận, nhất là những phản hồi trái chiều với nhà nước? Không phải đảng cầm quyền nào cũng làm được và cũng không phải nhà nước nào cũng làm được tốt điều đó, bởi hướng tới nắm và thao túng quyền lực nhà nước là một tham vọng, là khát vọng không giới hạn của các đảng cầm quyền. Một đảng tham nhũng, quan liêu, coi thường luật pháp trong cầm quyền không thể coi là một đảng cầm quyền chính đáng. Một đảng cầm quyền mà đường lối đi ngược lòng dân, không được xã hội thừa nhận, trước sau đảng đó sẽ bị mất quyền.
Các vị trí chính trị là người của đảng đa số, người thay mặt đảng đảm tránh thực hiện mục tiêu của đảng trong vị trí quyền lực của mình. Vấn đề đặt ra đối với các vị trí này trong các xã hội dân chủ vẫn là phải “chính danh”, nghĩa là phải thực thi quyền lực theo đúng các quy định pháp luật: không được lạm quyền, chuyên quyền, không được vi phạm các chuẩn mực đạo đức, lối sống…Đây là những vấn đề luôn là mục tiêu săm soi của báo giới, của đảng đối lập nhằm làm mất uy tín của đảng cầm quyền.
Trên thực tế, khi đã trở thành đảng cầm quyền, không loại trừ khả năng đảng cầm quyền lợi dụng chức quyền một cách không chính đáng. Đó là những biểu hiện lạm quyền. Một nhà nước hoạt động hợp hiến, hợp pháp phải là một nhà nước hoạt động công khai, minh bạch. Các nhà nước phương Tây quy định khá chặt chẽ cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm giới hạn quyền lực nhà nước trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước phải hoạt động công khai, minh bạch, trong sạch và cho phép công dân giám sát những người đương chức, buộc những công bộc của dân phải có trách nhiệm. Ví như ở Mỹ, Điều 1, Khoản 5, Hiến pháp quy định: Tổng thống phải báo cáo hoạt động của chính phủ liên bang trước nghị viện, có quyền phủ quyết bất cứ dự luật nào của nghị viện thông qua, nhưng phải nói rõ lý do và phải được đăng trong các thông cáo, phải thường xuyên thông báo định kỳ thu chi liên quan đến công quỹ; các công chức nói chung và các nghị sĩ đảng phải có trách nhiệm công bố nguồn thu nhập. Duy trì thường xuyên một chính quyền có trách nhiệm là vấn đề khó khăn, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố cản trở xuất phát từ những tham vọng quyền lực của đảng. Nếu những vấn đề đó không được giải quyết thỏa đáng, có thể trở thành các vụ watergate, là những nguyên nhân dẫn đến xung đột, bất ổn định chính trị - kinh tế, đó có thể trở thành nguyên nhân của những làn sóng chính trị, bạo lực chống lại bộ máy chính quyền do đảng lập lên, có thể dẫn đến làm mất tín nhiệm đối với chính phủ, hoặc dẫn đến sự ra đi của người thay đảng nắm quyền, dẫn đến sự chết yểu nhanh chóng của một Chính phủ, hoặc phải cải tổ Chính phủ.
Một số đảng cầm quyền rất lâu, dù trong hoàn cảnh đa đảng đối lập, cũng vì đảng đó không chỉ là đảng lớn, mà quan trọng hơn, đó là một đảng mạnh theo đúng nghĩa của nó: là đảng thắng cử trong các cuộc tranh cử đúng pháp luật; đảng bao gồm những đảng viên có năng lực, có phẩm chất trong các vị trí công quyền; đảng luôn có những quyết sách đúng, thúc đẩy xã hội ổn định, phát triển, và do đó, đảng đó luôn được lòng dân, được dân ủng hộ.
Thứ tư, tính chính đáng của đảng cầm quyền phải được thể hiện trong vai trò của nhà nước - một nhà nước hiệu quả.*
Trong các nền chính trị tư bản, tồn tại nhiều tổ chức chính trị và chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp có vị trí độc lập giám sát, gây áp lực tới các hoạt động của đảng cầm quyền và nhà nước, nếu các chính sách công đi ngược lại lợi ích của xã hội, hoặc có những hành vi đi ngược lại các chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức. Đó là các tổ chức như các đảng đối lập (đảng thiểu số trong nghị viện hoặc không có chân trong nghị viện), các nhóm áp lực có tính thể chế, các nhóm khuếch trương, các nhóm áp lực của giới chủ, các nhóm công đoàn, các nhóm lợi ích …
Ở mỗi nước khác nhau, có thể có những tiêu chí khác nữa để đánh giá tính chính đáng của một đảng cầm quyền. Chẳng hạn, ở Nhật, tính chính đáng của đảng cầm quyền phải hội tụ được các tiêu chí: phải được đa số cử tri ủng hộ trong các cuộc tranh cử, phải được giới đại gia tài phiệt ủng hộ và phải được chính quyền Mỹ đồng tình.
***** *
*
Tìm hiểu tính chính đáng của một đảng cầm quyền trong các xã hội dân chủ tư sản là vấn đề không chỉ được quan tâm trong các hệ thống đa đảng đối lập, cạnh tranh, mà còn có ý nghĩa rất quan trọng cả trong các nền chính trị xã hội chủ nghĩa đang đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, trong điều kiện kiên định nguyên tắc nhất nguyên chính trị và chỉ có một đảng cầm quyền, không có cạnh tranh quyền lực.
TS. Đặng Đình Tân - Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi