Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Kinh tế vi mô - Đường đẳng ích



Định nghĩa
Đường đẳng ích là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa hai hay nhiều sàn phẩm cùng tạo nên sức thỏa mãn như nhau cho người tiêu dùng. Biểu đồ dưới đây gồm một đường đẳng ích của hai hàng hóa, X và Y.
Với hai điểm bất kỳ nằm trên đường đẳng ích sẽ có cùng mức lợi ích. Do vậy, biểu đồ dưới đây chỉ ra rằng một cá nhân lựa chọn kết hợp tiêu dùng tại điểm A hay điểm B đều có cùng mức lợi ích như nhau. Một điểm nằm ở phía trên bên phải của đường đẳng ích có mức lợi ích cao hơn bất kỳ điểm nào nằm trên đường đẳng ích. Một điểm như vậy phải nằm trên một đằng đẳng ích khác có mức lợi ích cao hơn. Do đó, điểm C là điểm lựa chọn tốt hơn điểm A hay B (hay bất kỳ điểm nào khác nằm trên đường đẳng ích Uo). Các điểm nằm bên dưới bên trái của đường đẳng ích (chẳng hạn điểm D) sẽ cho mức lợi ích nhỏ hơn. Do vậy, cá nhân thích lựa chọn tiêu dùng tại điểm A nếu như lựa chọn tiêu dùng giữa điểm A và điểm D.
Các điểm lựa chọn tiêu dùng có các mức lợi ích khác nhau thì sẽ nằm trên các đường đẳng ích khác nhau. Vì thế, có vô số các đường đẳng ích giữa các lựa chọn kết hợp tiêu dùng giữa hai hàng hóa. Hai đường đẳng ích khác được thêm vào biểu đồ tương ứng với mức lợi ích nhận được tại điểm C và điểm D tương ứng.
Các đường đẳng ích có bốn thuộc tính như sau:
- Đường đẳng ích cao hơn được ưa thích hơn đường đẳng ích thấp hơn.
Người tiêu dùng thích lựa chọn điểm tiêu dùng ở đường đẳng ích có mức lợi ích cao hơn. Điều này phản ảnh mong muốn người tiêu dùng là thích tiêu dùng nhiều hơn đối với một hàng hóa.

-  Đường đẳng ích có độ dốc đi xuống.
Độ dốc của đường đẳng ích phản ảnh tỷ lệ thay thế hàng hóa này bởi hàng hóa khác. Trong hầu hết các trường hợp, người tiêu dùng thích cả hai. Vì vậy, nếu số lượng một hàng hóa giảm đi thì số lượng hàng hóa khác phải tăng lên để người  tiêu dùng đạt được cùng mức thỏa mãn. Vì lý do này, đường đẳng ích có dạng dốc xuống.

- Các đường đẳng ích không cắt nhau.
Để thấy tại sao có điều này, biểu đồ dưới đây minh họa điểm A và B trên U1, điểm B và C trên U2. A và B có cùng mức lợi ích (nằm trên U1) và B và C có cùng mức lợi ích (nằm trên U2). Ta suy ra A và C có cùng mức lợi ích, cho nên A và C phải nằm trên một đường đẳng ích. Lập luận trên có vẻ như mâu thuẫn với thuộc tính thứ nhất, đó là người tiêu dùng thích dùng nhiều hơn là dùng ít hơn. Điều này chỉ đúng khi A và C cùng nằm trên đường đẳng ích hay U1  trùng với U2. Do vậy, các đường đẳng ích không thể cắt nhau.
- Các đường đẳng ích lõm vào góc tọa độ.
Độ dốc của đường ngân sách phản ảnh tỷ lệ thay thế biên của hàng hóa bởi hàng hóa khác. Khi người tiêu dùng có nhiều hơn với cùng một sản phẩm thì mong muốn trên mỗi sản phẩm sẽ ít đi và mong muốn đối với sản phẩm ít hơn sẽ lớn hơn. Điều này cũng phản ảnh qui luật lợi ích biên giảm dần. Chính vì vậy, hình dạng của đường đẳng ích là dốc xuống và lõm vào góc tọa độ.

Tuy nhiên, quyết định lựa chọn tiêu dùng còn tùy thuộc vào thu nhập dùng để chi tiêu cho các hàng hóa và cá nhân cố gắng đạt được mức lợi ích cao nhất có thể trong phạm vi các ràng buộc (thu nhập và các yếu tố khác). Chúng ta hãy xem xét ràng buộc ngân sách ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm tiêu dùng mà ở đó cá nhân đạt được mục tiêu tiêu dùng.

Kinh tế vi mô- Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng



Trong mô hình lựa chọn tiêu dùng của cá nhân, các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn bao gồm:

-  Hành vi tiêu dùng
Người tiêu dùng luôn mong muốn tiêu dùng nhiều hàng hóa hơn là dùng ít hơn để tối đa hóa lợi ích. Một cá nhân sẽ không thể đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi ích nếu như cá nhân đó không có động lực về lợi ích (dùng nhiều hay ít cũng được).

- Sở thích tiêu dùng
Nhận thức được lợi ích tăng thêm (lợi ích biên) khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa. Sở thích của cá nhân bao gồm nhận thức về thị hiếu, chất lượng và giá trị lợi ích của sản phẩm tiêu dùng. Nói cách khác, cá nhân phải nhận thức được lợi ích khi tiêu dùng thêm sản phẩm hay phân biệt được lợi ích mang lại giữa các sản phẩm.

- Thu nhập tiêu dùng
Mọi cá nhân đều bị giới hạn bởi thu nhập tiêu dùng, thu nhập là nguồn năng lực mua sắm của cá nhân. Vì vậy, cá nhân sẽ phân bổ thu nhập này cho tổ hợp tiêu dùng các hàng hóa khác nhau. Một cá nhân có thu nhập cao hơn thì năng lực mua sắm sẽ cao hơn và vì vậy số lượng tổ hợp hàng hóa tiêu dùng sẽ nhiều hơn so với cá nhân có thu nhập thấp hơn.

- Giá cả hàng hóa
Giá cả của hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng hàng hóa tiêu dùng của cá nhân. Khi giá cả của một hàng hóa nào đó thay đổi (tăng lên hoặc giảm xuống) trong khi thu nhập không đổi sẽ tác động đến năng lực mua sắm hiện tại (hay thu nhập thực tế). Khi đó, lựa chọn tổ hợp hàng hóa tiêu dùng có thể bị thay đổi để cá nhân đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi ích.

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

TRẢ LƯƠNG GIÁO SƯ NHƯ THẾ NÀO?

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN
Bây giờ mà đặt vấn đề làm thế nào để giáo sư đại học đủ sống, thì có vẻ hơi kỳ cục. Phải thừa nhận rằng dù chưa sánh được với đồng nghiệp ở các nước giàu có như Mỹ, Nhật hay châu Âu, cuộc sống hiện nay của giáo sư đại học trong trường hợp điển hình ở Việt Nam không đến nỗi nào, nếu không muốn nói là khấm khá, so với bản thân nhiều năm trước cũng như so với các tầng lớp khác trong xã hội. Lương cơ bản đúng là chưa cao, nhưng giáo sư đại học có vô vàn những thứ thu nhập ngoài lương cho phép giải quyết các vấn đề của cuộc sống vật chất, đồng thời có dư để tích luỹ.
Hẳn có nhiều ý kiến đề nghị nâng lương (cơ bản) cho giáo sư đại học, một phần lớn lý do, vì e ngại về tính hợp pháp, ổn định, bền vững, của các nguồn thu nhập ngoài lương ấy. Nói cách khác, người ta mong muốn thấy giáo sư sống được một cách đàng hoàng bằng các công việc gắn với thiên chức xã hội, nghề nghiệp của nhà giáo đồng thời là nhà khoa học, tức là những công việc phù hợp với chuyên môn và được thực hiện chủ yếu trong khuôn khổ giảng đường, phòng thí nghiệm,…
Thực ra, chuyện giáo sư đại học làm việc cho các nơi khác ngoài trường đại học của mình ở đâu cũng có. Ở các nước có hệ thống quản lý thu nhập cá nhân tốt, thì chỉ cần trích nộp thuế theo đúng các quy định của luật thuế, các khoản thu nhập ngoài lương của giáo sư trở nên chính đáng và người có thu nhập hoàn toàn yên tâm. Ở Việt Nam, việc kiểm soát thu nhập còn chưa chặt chẽ, nhưng đang ngày một tốt hơn. Đến một lúc nào đó, tất cả các khoản thu nhập của công dân Việt Nam, trên nguyên tắc, đều phải chịu thuế; giáo sư đại học cũng chịu sự chi phối của nguyên tắc đó.
Điểm khác biệt giữa giáo sư nước ngoài và giáo sư Việt Nam về phương diện thu nhập, suy cho cùng, liên quan đến cách thức hay phương thức tạo ra các loại thu nhập. Ở các nước phát triển, dù công việc có thu nhập được thực hiện ở trường hay ở bên ngoài, giáo sư sử dụng năng lực chuyên môn của mình là chính. Chẳng hạn, ngoài việc giảng dạy và nghiên cứu, giáo sư luật còn có thể làm luật sư; giáo sư kinh tế có thể tư vấn về chính sách kinh tế vĩ mô hoặc vi mô; giáo sư tin học có thể tham gia thiết kế phần mềm cho các công ty;… Giáo sư Việt Nam, trong không ít trường hợp, phải chấp nhận (hoặc tìm cách) làm những việc ngoài chuyên môn để cải thiện nguồn thu nhập. Nói khác đi, giáo sư ở các xã hội phát triển có thể kiếm tiền bằng con đường thẳng, chính thống; còn giáo sư ở Việt Nam muốn có nhiều tiền, thì phải đi theo những ngóc ngách, ngã rẽ…
Vấn đề đích thực đối với Việt Nam, bởi vậy, là phải làm thế nào để giáo sư đại học có điều kiện cống hiến nhiều nhất bằng cách phát huy thứ chất xám tinh tuý của mình và được trả công tương xứng với sự cống hiến đó.
Tất nhiên, để có thể trả thù lao thoả đáng cho giáo sư, thì nhà trường phải có nguồn tài chính dồi dào. Tăng học phí là một trong những biện pháp tốt nhất để giải quyết bài toán ngân sách hóc búa đó; đây cũng là biện pháp đang được triển khai ở Việt Nam, theo một lộ trình tương đối chặt chẽ.
Nhưng có tiền rồi, thì lấy gì bảo đảm giáo sư sẽ làm việc tốt một khi được trả thù lao thoả đáng? Phải có một cơ chế cho phép đặt lên bàn cân một bên, là những đãi ngộ vật chất dành cho nhà giáo đồng thời là nhà khoa học và, bên kia, là trách nhiệm xã hội của người thụ hưởng. Nói cách khác, cần làm cho nhà giáo – nhà khoa học hiểu rằng muốn hưởng thù lao xứng đáng, thì phải thể hiện khả năng chuyên môn xứng đáng.
Để đạt được điều này, thì nhất thiết phải trao cho nhà trường quyền tự chủ trong việc xây dựng và thực hiện chế độ tiền lương. Thay vì áp dụng thang bảng lương công chức theo kiểu cào bằng, trường có thể ấn định mức lương cho giáo sư theo sự đánh giá về năng lực, hiệu quả công tác của từng người: giáo sư càng giỏi càng được trả lương cao và ngược lại. Kiểu trả lương mềm dẻo ấy rốt cuộc lại tạo được sức ép, có khi không phải của đồng tiền, mà là của sĩ diện, buộc giáo sư phải thường xuyên phấn đấu hoàn thiện về chuyên môn, để khỏi phải mang tiếng là “giáo sư lương thấp”.
SOURCE: BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ

GIẢI QUYẾT MỘT VẤN ĐỀ KINH TẾ – XÃ HỘI KHÔNG THỂ BẰNG NHỮNG BIỆN PHÁP TRÁI PHÁP LUẬT –

LS. TRẦN VŨ HẢI – CÔNG TY LUẬT HÀ NỘI

Luật Việt nam có thể suy diễn hoặc thực hiện một cách tùy tiện theo ý chí chủ quan của những quan chức Việt nam. Cơ quan, công chức Việt nam không nhất thiết phải tuân theo Luật được Quốc hội ban hành. Nhóm yếu thế (tức không có quan hệ với giới quan chức quan trọng) sẽ bị thiệt thòi khi các quan chức xử lý những công việc “nhạy cảm”, thường sẽ là nạn nhân “thí tốt” cho các biện pháp, chính sách do các quan chức ban hành.
Những ảnh hưởng của dịch vụ Trò chơi trực tuyến (Game online) hiện được dư luận rất quan tâm. Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TT&TT) với tư cách là cơ quan quản lý dịch vụ này đã tỏ ra sốt sắng giải quyết những bức xúc mà dư luận nêu, ngày 02/8/2010, Bộ TT&TT ra công văn số 2455/BTTTT-PTTH&TTĐT về tăng cường công tác quản lý đối với dịch vụ trò chơi trực tuyến gửi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Game online, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, UBND các tỉnh, thành phố, và các Sở TT&TT cùng các đơn vị chức năng của Bộ. Nội dung công văn này nêu rõ:
a. Yêu cầu các doanh nghiệp rà soát các hoạt động của mình, bảo đảm thực hiện đúng các điều kiện được quy định tại Thông tư liên tịch số 60/2006/TTLB-BVHTT-BBCVT-BCA ngày 01/6/2006; đặc biệt chú trọng các quy định về quản lý giờ chơi, người chơi; tiết giảm tối các nội dung có yếu tố đối kháng, các hình ảnh, âm thanh mô tả kèm theo;
b. Tạm dừng thực hiện quảng cáo trò chơi trực tuyến dưới mọi hình thức.
c. Từ ngày 01/9/2010 ngừng cung cấp dịch vụ internet cho các đại lý Internet ngoài thời gian mở, đóng cửa hàng ngày theo quy định của chính quyền địa phương. Sở TT&TT các địa phương tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến, các đại lý internet; xử lý nghiêm các sai phạm.
d. Tạm dừng thẩm định, phê duyệt các nội dung kịch bản trò chơi mới trong thời gian chờ Thủ tướng Chính phủ xem xét dự thảo quy chế mới.
Ngày 06/8/2010, Bộ TT&TT đã gặp gỡ với gần 40 Doanh nghiệp kinh doanh Game online và các nhà cung cấp đường truyền tại TP Hồ Chí Minh nhằm trao đổi một số giải pháp tình thế cấp bách về việc quản lý Game online. Trong cuộc gặp này, Bộ TT&TT cho rằng, các đại lý Internet (những cơ sở kinh doanh không có đại diện tại cuộc họp) là đối tượng chính gây nên ảnh hưởng xấu từ Game online. Từ quan điểm này, Bộ TT&TT nhấn mạnh giải pháp cắt đường truyền đến các đại lý Internet từ 23 giờ tối đến 06 sáng.
Về những động thái trên của Bộ TT&TT, chúng tôi xin bình luận như sau:
1. Trong hệ thống những cơ sở kinh doanh liên quan trực tiếp đến dịch vụ Game online, gồm các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Game online và các đại lý Internet, nhóm các đại lý Internet là nhóm yếu thế nhất, thu ít lãi nhất (chủ yếu lấy công làm lãi), vất vả nhất. Phải chăng vì là nhóm yếu thế nhất, nên được Bộ TT&TT “ưu ái” khi truy trách nhiệm về những vấn đề liên quan đến Game online?. Nếu quan chức nào thực sự nghĩ như vậy, theo chúng tôi họ đã thiếu đạo đức công chức khi hành xử đối với những nhóm yếu thế.
2. Thông tư liên tịch số 60/2006/TTLB-BVHTT-BBCVT-BCA ngày 01/6/2006 thực chất là một văn bản xác định dịch vụ liên quan đến Game online thuộc những ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định tại Điều 7 Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 1999 (Điều 6, khoản 2,3,4) và Luật Doanh nghiệp 2005 ( Điều 7, khoản 5) quy định“Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp không được quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh”. Như vậy, thông tư trên đã trái Luật Doanh nghiệp ngay từ khi ban hành. Đáng lẽ, Bộ TT &TT cần hiểu rõ điều đó, nếu cho rằng dịch vụ Game online phải quản lý chặt chẽ, nên đề nghị Chính phủ ban hành Nghị định quản lý dịch vụ Game online, không nên tự ý yêu cầu các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh thực hiện một văn bản trái Luật Doanh nghiệp. Theo chúng tôi, những quan chức liên quan của Bộ TT&TT cần tự kiểm điểm về việc không hiểu Luật Doanh nghiệp và từ nay nếu ban hành văn bản nào cũng nên tham khảo các văn bản pháp luật có liên quan, để tránh tiếng Bộ TT&TT là Bộ có luật riêng.
3. Việc Bộ TT&TT yêu cầu tạm dừng quảng cáo Game online là trái Pháp lệnh quảng cáo. Chưa có quy định nào của pháp luật cấm quảng cáo dịch vụ Game online, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này có quyền quảng cáo (hoặc không quảng cáo) những sản phẩm dịch vụ của họ được phép lưu hành, không cơ quan nào được quyền cấm đoán hoặc yêu cầu tạm dừng quảng cáo. Biên pháp này cũng không công bằng đối với những doanh nghiệp có sản phẩm mới được phép lưu hành, so với những doanh nghiệp có những sản phẩm đã chiếm lĩnh thị trường.
4. Việc yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet cắt đường truyền Internet từ 23 giờ đến 6 giờ sáng là trái với Bộ luật dân sự và Luật Thương mại. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet đều cam kết cung cấp dịch vụ 24/24 giờ, nếu những đại lý Internet không vi phạm hợp đồng và không vi phạm pháp luật dẫn đến cơ quan quản lý có thẩm quyền có văn bản yêu cầu cắt cung cấp dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet cắt đường truyền Internet là vi phạm hợp đồng và có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 28/2009/NĐ-CP ngày 20/3/2009 của Chính phủ.
Như vậy, Bộ TT&TT đã yêu cầu doanh nghiệp làm trái luật, gây thiệt hại cho các đại lý Internet. Thực tế, sau giờ đóng cửa và trước giờ mở cửa, đại lý Internet vẫn cần sử dụng Internet cho các công việc chuẩn bị kinh doanh, phục vụ khách hàng và cho nhu cầu của chính gia đình mình (phần lớn chủ đại lý Internet là cá nhân hoặc hộ gia đình). Khi bị cắt Internet, họ vẫn phải đóng đủ tiền như trước. Mặt khác, không có gì đảm bảo việc cắt Internet trong những giờ như trên sẽ làm giảm các tụ điểm truy nhập Internet trong đêm vì những đại lý này có thể lách bằng cách sử dụng một thuê bao Internet khác hoặc phát sinh những điểm truy nhập Internet lậu về đêm không kiểm soát nổi.
5. Việc tạm dừng thẩm định, phê duyệt các nội dung kịch bản trò chơi mới thực chất là một biện pháp hạn chế kinh doanh hoặc cấm kinh doanh có thời hạn, là biện pháp trái Luật Doanh nghiệp như đã phân tích ở trên. Biện pháp này vô hình đã làm lợi cho những doanh nghiệp đang có dịch vụ Game online trên thị trường, đóng cửa thị trường đối với những doanh nghiệp có ý định đầu tư vào ngành nghề này, tạo một môi trường kinh doanh bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp.
Đáng tiếc, Bộ TT&TT là cơ quan quản lý về thông tin và truyền thông đã tự mình tuyên truyền cho giới đầu tư kinh doanh trong và ngoài nước rằng: Luật Việt nam có thể suy diễn hoặc thực hiện một cách tùy tiện theo ý chí chủ quan của những quan chức Việt nam. Cơ quan, công chức Việt nam không nhất thiết phải tuân theo Luật được Quốc hội ban hành. Nhóm yếu thế (tức không có quan hệ với giới quan chức quan trọng) sẽ bị thiệt thòi khi các quan chức xử lý những công việc “nhạy cảm”, thường sẽ là nạn nhân “thí tốt” cho các biện pháp, chính sách do các quan chức ban hành.
SOURCE: DIỄN ĐÀN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM – VIBONLINE.COM.VN

Hoài nghi về khả năng của các nhà kinh tế học?

Các nhà kinh tế học không thể dự đoán chính xác được khủng hoảng kinh tế toàn cầu bởi thế giới này quá phức tạp. Tuy nhiên, nếu biết đoàn kết lại, họ có thể cảnh báo được nguy hiểm sắp xảy ra và biết phải làm gì khi thảm họa đến.

Còn những hạn chế nhưng thế giới không thể thiếu các nhà kinh tế học.
Hầu hết các nhà kinh tế học đều không dự đoán được cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ 1930 và đến giờ họ vẫn chưa thống nhất được về cách giải quyết khủng hoảng. Người ta bắt đầu hoài nghi về khả năng của các nhà kinh tế học.
Vào những lúc như thế này người ta càng trông đợi vào các nhà kinh tế học bởi họ từng tuyên bố sẽ không để nền kinh tế lập lại thời kỳ Đại suy thoái 1930. Thế nhưng, bảy thập kỷ sau Đại suy thoái, các nhà kinh tế học cũng vẫn chưa nhất trí được với nhau về bài học rút ra từ đó. Và những tuần gần đây, các cuộc tranh luận lại được đẩy lên.
Để chống lại sự suy giảm kinh tế, Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Ben Bernanke, Bộ trưởng Tài chính Timothy F. Geithner và Giám đốc Hội đồng kinh tế quốc gia Lawrence đang tìm một sự kết hợp chưa từng có giữa gói kích cầu lớn và một chính sách tiền tệ mạnh - điều này nằm ngoài phạm vi mà các nhà kinh tế học từng nghiên cứu.
Những trách cứ có phần gay gắt nhằm vào các nhà kinh tế học chính là vì họ quá tự tin, thiếu thực tế và có dính dáng đến chính trị. Họ chỉ mải tranh luận và điều đó làm cho hạn chế sự phát triển của các nghiên cứu.
Paul Wilmott, một chuyên gia tài chính, cho rằng: “Mô hình của các nhà kinh tế học thật tồi khi coi thường tầm quan trọng của yếu tố con người”. Với quan điểm như vậy, người ta đang cố gắng bỏ qua ý kiến của các chuyên gia, nhưng để vượt qua và không lặp lại khủng hoảng đòi hỏi sự thay đổi tư duy của một thế hệ.
Thực tế, các nhà kinh tế học vĩ mô, những người chuyên nghiên cứu về chu kỳ tăng trưởng trong kinh doanh đã từng có những đóng góp quan trọng. Chẳng hạn như nghiên cứu trong những năm 1970 đã giúp nhiều quốc gia thoát khỏi lạm phát kéo dài khi nhấn mạnh tầm quan trọng của một ngân hàng TW độc lập và đủ mạnh.
Có thể các học giả về những cuộc khủng hoảng giờ đã lạc hậu so với tài chính hiện đại. Tuy nhiên, Roger EA Farmer, trường Đại học California tại Los Angeles cho rằng “đây chính là cái” để cho những sáng kiến bật ra.
Ngay cả khi bạn nghi ngờ giá trị của các nhà kinh tế học, họ cũng không thể bị bỏ qua. Vì thế tốt hơn chúng ta nên hi vọng các chuyên gia sẽ cùng nhau hành động dù điều đó không hề dễ dàng bởi cuộc khủng hoảng này như muối xát vào những vết thương đã cũ.
Các nhà kinh tế học đang buộc phải quay lại với một vấn đề từng gây tranh cãi đó là khả năng Chính phủ có thể chi tiêu vượt mức (cụ thể là chính sách tài khóa) để kích cầu và tạo ra công ăn việc làm.
Trong những năm 1960, nhà kinh tế học theo trường phái kinh tế tự do Milton Friedman đã gần như thuyết phục giới chuyên môn rằng cuộc Đại suy thoái là do FED gây ra. Hẳn điều đó ngụ ý rằng một chính sách tốt hơn của FED sẽ ngăn chặn suy thoái tái diễn.
Tin vào sức mạnh của FED, các nhà kinh tế học hầu như đã ngừng nghiên cứu về việc sử dụng các chính sách tài khóa để chống lại suy giảm hoặc suy thoái kinh tế. Tuy nhiên giờ đây, chính sách tài khóa được đặt trở lại bàn thảo luận.
Các nhà kinh tế học đang tranh cãi về mức độ tác dụng của việc gia tăng chi tiêu Chính phủ. Một bên là nhóm các nhà kinh tế theo trường phái “bàn tay hữu hình” cho rằng tác dụng sẽ được tăng cấp số nhân nếu nền kinh tế hoạt động thấp hơn năng lực sản xuất.
Trong khi đó, nhóm các nhà kinh tế theo trường phái “bàn tay vô hình” thì cho rằng chi tiêu Chính phủ tăng có thể làm giảm công ăn việc làm tại khu vực tư nhân. Tuy vậy, ngay cả những người ủng hộ kế hoạch kích thích kinh tế này cũng không thể chắc chắn rằng nó sẽ có tác dụng.
Vậy điều gì sẽ xảy ra tiếp theo khi cuộc khủng hoảng này lùi về quá khứ, công việc của các nhà kinh tế học vĩ mô sẽ giúp nền kinh tế phát triển mạnh hơn, phòng cho những sai lầm của các chính trị gia, các lãnh đạo ngân hàng và các nhà kinh tế học trong tương lai.
Có lẽ việc đứng lên từ đống tro tàn của những thất bại sẽ biến họ trở thành những chuyên gia kinh tế vĩ mô tốt hơn.
(theo Dân trí)

Milton Friedman và tư duy kinh tế học đương đại

Có thể nói, không có một nhà kinh tế học nào khác kể từ thời của Keynes định hình lại cách nghĩ về kinh tế học như Milton Friedman (1912-2006). Bằng phạm vi của những chủ đề và tầm quan trọng trong những ý tưởng của ông, Friedman không những đã đặt nền tảng cho kinh tế học đương thời mà ông còn xây dựng nó trở nên vững chắc.
Milton Friedman sinh ngày 31/7/1912 tại Brooklyn, New York, Mỹ. Ông là con út, và là con trai duy nhất trong gia đình 4 con của bà Sarah Ethel (Landau) và ông Jeno Saul Friedman. Bố mẹ ông sinh ở Carpatho-Runthenia (sau trở thành một tỉnh của Áo - Hung; rồi thành một phần của Czechoslovakia , rồi lại thành một tỉnh của Liên Xô cũ). Họ di cư sang Mỹ lúc còn trẻ, gặp nhau ở New York. Khi ông được 1 tuổi, bố mẹ ông chuyển đến Rahway, New Jersey, một thị trấn nhỏ nằm cách thành phố New York khoảng 20km. Ở đó, mẹ ông mở một cửa hàng bán hàng khô, bố ông tham gia vào một công việc đầu cơ mạo hiểm, đây là một công việc mà tỷ lệ thất bại rất lớn và ông cũng là một trong số đó. Thu nhập gia đình ít mà độ rủi ro cao; thâm hụt tài chính trong gia đình xảy ra như cơm bữa. Tuy thường xuyên không đủ ăn nhưng không khí gia đình vẫn đầm ấm.
Ông được học bổng vào đại học Rutgets (hồi đó, nó là một trường tư nhỏ và vượt trội hơn các trường khác, nhận được một khoản tài trợ nhỏ của bang New Jersey, được biết đến như là một khoản học bổng). Ông tốt nghiệp Đại học Rutgets năm 1932, phần còn lại của học phí, ông kiếm được bằng cách làm nhân viên chạy giấy, nhân viên ở một cửa hàng nhỏ, đầu cơ liều lĩnh vào một số công ty và khoản làm thêm hè. Đầu tiên, ông theo học ngành Toán, định trở thành chuyên viên tính toán rủi ro. Ông đã làm một số bài thi về môn này, đỗ có, trượt cũng có. Tuy nhiên, ông trở nên quan tâm đến Kinh tế học, và thậm chí kết thúc khoá học với cả hai bằng.
Trong ngành Kinh tế học, ông có cơ may được hai người đàn ông ưu tú giúp đỡ, đó là Arthur F. Burns, sau này dạy trường Rutgers khi ông đang làm luận án Tiến sỹ tại Columbia; và Homer Jones, tốt nghiệp và dạy tại trường Đại học Chicago. Arthur Burns định hình cho sự hiểu biết của ông trong nghiên cứu môn Kinh tế học, giới thiệu cho ông những tiêu chuẩn khoa học cao nhất, và trở thành người có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp của ông sau này. Homer Jones giới thiệu cho ông những học thuyết kinh tế chính xác, làm cho môn Kinh tế học trở nên thú vị và xác đáng, và khuyến khích ông tiếp tục nghiên cứu cho đến khi tốt nghiệp đại học. Nhờ sự tiến cử của Arthur Burns, khoa Kinh tế học của trường đại học Chicago đã trao cho ông một xuất học bổng. Cùng lúc này, ông lại có một xuất học bổng của trường đại học Brown cho môn Toán học ứng dụng, nhưng ông đã quyết định giành cuộc đời mình cho Kinh tế học. Arthur Burns và Homer Jones ngày nay vẫn là những người bạn thân thuộc và được ông quý trọng nhất.
Mặc dù năm 1932-1933, năm đầu học tại Đại học Tổng hợp Chicago là năm khó khăn nhất đối với ông, nhưng nó vẫn mở ra một thế giới mới. Jacob Viner, Frank Knight, Henry Schultz, Lloyd Mints, Henry Simons và một nhóm sinh viên đã tốt nghiệp xuất sắc từ khắp nơi trên trái đất giới thiệu ông với toàn thế giới và tạo ra một bầu không khí sôi nổi theo kiểu mà ông chưa bao giờ thấy. Ông không bao giờ tìm lại được không khí này nữa. Năm 1933, ông nhận được bằng thạc sỹ kinh tế.
Về phía Milton Friedman, sự kiện quan trọng nhất đối với ông của năm này là ông gặp một người phụ nữ đã "hạ gục" ông, đó là Rose Director. Họ cưới nhau sau đó 6 năm, khi sự lo lắng về nơi ăn chốn ở đã bị xua tan và sau đó, họ sống rất hạnh phúc. Rose như một đối tác của ông trong mọi nghiên cứu từ lúc đó.
Nhờ vào tình bạn của Henry Schultz với Harold Hotelling, năm sau ông nhận được học bổng của trường Đại học Columbia . Năm học ở trường Columbia đã mở ra cho ông một chân trời mới. Harold Hotelling làm thống kê những học thuyết kinh tế của Jacob Viner: toàn bộ học thuyết là một khối thống nhất, logic với nhau, không sắp xếp như công thức trong cuốn sách dạy nấu ăn. Ông cũng giới thiệu Friedman môn toán kinh tế chính xác. Wesley C. Mitchell, John M. Clark và những người khác hướng ông theo kinh nghiệm và quan điểm về lý thuyết kinh tế khác xa với quan điểm kinh tế được dạy ở trường đại học Chicago. Ở đây cũng có một nhóm nghiên cứu sinh đặc biệt làm giáo viên rất hiệu quả.
Sau năm học ở trường Columbia, ông quay trở lại trường Chicago, bỏ ra 1 năm để hỗ trợ nghiên cứu của Henry Schultz, người mà sau này đã hoàn thành tác phẩm kinh điển của ông, "Nguyên lý và thước đo nhu cầu" (The theory and measurement of demand). Cũng vậy, Friedman có tình bạn bền vững với 2 nghiên cứu sinh, đó là George J. Stigler và W. Allen Wallis.
Allen là người đầu tiên đến với Chính sách Kinh tế xã hội mới ở Washington. Friedman theo chân ông và vào mùa hè năm 1935, làm việc ở Uỷ ban Nguồn lực quốc gia, chuyên nghiên cứu, phác thảo về ngân sách tiêu dùng. Đây là một trong hai yếu tố chủ yếu hợp thành cuốn sách sau này của ông mang tên: "Lý thuyết về chức năng của tiêu dùng" (Theory of the Consumption Function).
Từ năm 1941 đến 1943, tại cục dự trữ quốc gia, ông làm về chính sách thuế thời chiến, và năm 1943 đến 1945, tại trường đại học Columbia, trong một nhóm do Harold Hotelling và W. Allen Wallis lãnh đạo, ông làm người tính toán thống kê những mẫu thiết kế vũ khí, chiến lược chiến đấu và những thí nghiệm trong luyện kim. Khối lượng công việc thống kê toán của ông lên đến đỉnh điểm vào ngày chiến thắng phát xít Đức năm 1945.
Năm 1945, ông tham gia vào George Stigler tại Đại học Minnesota. Sau một năm ở đây, ông nhận lời vào dạy môn lý thuyết kinh tế tại đại học Chicago , một vị trí được Jacob Viners thành lập đầu tiên tại trường đại học Princeton . Ông giảng dạy ở đây cho đến lúc về hưu. Cùng thời gian đó, Arthur Burns, sau này là giám đốc nghiên cứu thuộc Hiệp hội kinh tế Mỹ thuyết phục ông làm thành viên Hiệp hội chịu trách nhiệm nghiên cứu về vai trò của tiền tệ trong kinh doanh.
Năm 1946, ông nhận bằng Tiến sỹ của trường đại học Columbia. Sự kết hợp của Trường đại học Chicago và Hiệp hội kinh tế mang lại hiệu quả rất lớn. Ở trường đại học Chicago, ông thành lập một "Khoa Tiền tệ và Ngân hàng", nơi cho phép tích luỹ nhiều nghiên cứu về tiền tệ của nhiều người hơn là dự án của một người đơn lẻ. Ông có cơ may được làm việc với một số thành viên của hội này mà ông có thể tự hào phát biểu rằng trong đó bao gồm tất cả những người cộng tác hàng đầu về nghiên cứu tiền tệ như là sự phát triển nổi bật trong ngành khoa học 2 thập kỷ trước. Tại Hiệp hội kinh tế, ông nhận được sự giúp đỡ của Anna J. Schwartz, người rất hiểu biết về lịch sử kinh tế, và rất chịu khó chú ý vào từng chi tiết nhỏ, bổ sung cho những định hướng trong lý thuyết của ông. Công việc của ông về lịch sử và thống kê tiền tệ đã bổ sung cho cả kinh nghiệm nghiên cứu lẫn phát triển lý thuyết của ông trong hiệp hội tại trường đại học Chicago.
Mùa thu năm 1950, ông đi Paris trong vòng 3 tháng để làm đại diện của chính phủ Mỹ cố vấn về quản lý kế hoạch Marshall. Nhiệm vụ chính của ông là nghiên cứu kế hoạch Schuman, dự báo thị trường chung. Đó là nguồn gốc cho sự quan tâm của ông về thả nổi tỷ giá hối đoái. Một tác phẩm của ông về vấn đề này là "Vấn đề về tỷ giá hối đoái linh hoạt" (The case for flexible exchange rates).
Năm 1951, ông đạt được huy chương John Bates Clark cho thành tựu nổi bật của các nhà kinh tế tuổi dưới 40. Một bước ngoặt của ông vào năm 1957, cuốn sách "Lý thuyết về chức năng tiêu dùng" (A theory of the comsumption function) đã đưa ra ý kiến của những người ủng hộ học thuyết của Keynes rằng cá nhân và hộ gia đình điều chỉnh mức chi tiêu cho tiêu dùng của họ để phản ánh thu nhập hiện thời. Friedman chỉ ra rằng tiêu dùng hàng năm của mọi người là thứ mà mọi người mong muốn kiếm ra.
Đầu thập kỷ 60, ông gia tăng sự quan tâm cho công chúng, năm 1964, ông phụng sự cho Thượng nghị sỹ Goldwater với tư cách là cố vấn kinh tế khi ông không thành công lúc tranh chức tổng thống, và năm 1968, ông là một thành viên trong Ban cố vấn kinh tế cho việc tìm kiếm thành công trong việc tranh cử tổng thống của Richard Nixon.
Năm 1960, ông viết cuốn "Chương trình ổn định tiền tệ" (A program for monetary stabitity). Năm 1962, ông viết cuốn "Lý thuyết về giá cả: bài viết tạm thời" (Price theory: a provisional text) và cuốn "Tư bản và tự do" (Capitalism and freedom) - cuốn sách này ông viết cùng vợ mình, Rose D. Friedman. Trong cuốn sách này, ông đưa ra nghiên cứu của mình về kinh tế thị trường từ cao xuống thấp. Ông tranh luận rằng, giữa mọi vật khác, một người lính tình nguyện, thả nổi tỷ giá hối đoái, bãi bỏ bằng tiến sỹ, phủ nhận thuế thu nhập, và bỏ giáo dục. (Friedman chống đối tích cực với nhóm đặc biệt của quân đội: đã một lần ông tuyên bố rằng nhóm này chỉ phục vụ cho một cá nhân trong Quốc hội). Mặc dù sách của ông bán không chạy lắm, rất nhiều người trẻ tuổi đã đọc vì qua nó, họ được tiếp thêm kiến thức để học kinh tế học. Ý tưởng của ông được cả thế giới biết đến với cuốn "Tự do lựa chọn" (Free to choose) mà vợ ông là đồng tác giả. Đây là cuốn sách bán chạy nhất vào năm 1980, được viết cùng với xê-ri phóng sự trên TV trong Hệ thống truyền thông công cộng. Cuốn sách làm tên tuổi Milton Friedman trở nên quen thuộc với mọi người.
Mặc dầu ông có nhiều tác phẩm viết về thuyết giá cả - học thuyết giải thích giá tác động thế nào đến thị trường cá nhân - Friedman được coi như là người thiết lập nên chính sách tiền tệ. Thách thức Keynes và phần lớn những lý thuyết đã được thiết lập trong thời gian đó, Friedman trưng ra bằng chứng phản lại lý thuyến về số lượng của tiền tệ - lý thuyết này phát biểu rằng giá cả không phụ thuộcvào sức cung tiền. Trong tác phẩm "Nghiên cứu lý thuyết về số lượng tiền tệ" (Studies in the quantity of money), xuất bản năm 1956, Friedman nói rằng trong dài hạn, việc tăng cung tiền đẩy giá tăng lên nhưng tác động rất ít hoặc không ảnh hưởng đến sản phẩm. Trong ngắn hạn, ông phản bác, việc tăng cung tiền dẫn đến tăng thất nghiệp và sản phẩm, và giảm cung tiền sẽ ảnh hưởng ngược lại.
Giải pháp của Friedman cho vấn đề lạm phát và dao động trong ngắn hạn của thất nghiệp và GNP thực được gọi là quy luật cung tiền. Nếu Cục dự trữ quốc gia yêu cầu tăng cung tiền cùng tỷ lệ với mức tăng GNP thực, lạm phát sẽ biến mất. Chính sách tiền tệ của Friedman đã được đặt lên hàng đầu khi năm 1963, ông và đồng tác giả Anna Schwartz tung ra tác phẩm "Lịch sử tiền tệ của Mỹ, 1867 - 1960" (Monetary history of the United States, 1867 - 1960). Cuốn sách đã nói rằng Đại suy thoái là kết quả của những quan điểm không đúng về chính sách tiền tệ của Cục dự trữ quốc gia. Tác giả đã đệ trình những quan điểm trên qua một bản thảo chưa được in ra, Cục dự trữ quốc gia phản ứng lại trong nội bộ với những quan điểm phê phán dài dòng. Sự phân hoá trong nội bộ còn thể hiện ở chỗ những thành viên của Cục điều tra liên bang không công bố tiếp biên bản cuộc họp ra công chúng. Thêm nữa, họ còn nhờ một người chống lại lịch sử (Elmus R. Wicker) viết một bài với hy vọng sẽ bôi xấu lịch sử tiền tệ.
Mặc dù rất nhiều nhà kinh tế học không đồng ý với ý kiến của Friedman về chính sách tiền tệ, nhưng ông vẫn có ảnh hưởng nhất định trong nghề nghiệp. Một tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm là ảnh hưởng của nó làm thay đổi trong cách đối xử của chính sách tiền tệ được viết trong cuốn "Kinh tế học" - một cuốn sách bán chạy nhất năm đó-   của một người ủng hộ học thuyết của Keynes là Paul Samuelson. Trong cuốn xuất bản năm 1948, Samuelson đã viết một cách tuỳ tiện rằng "một vài nhà kinh tế học coi chính sách tiền tệ của Cục dự trữ quốc gia như là một liều thuốc trị bách bệnh để điều chỉnh chu kỳ kinh doanh". Nhưng năm 1967, Samuelson lại nói rằng chính sách tiền tệ có "tầm quan trọng" đối với tiêu dùng. Và trong cuốn sách xuất bản năm 1985, đồng tác giả với William Nordhaus ở đại học Yale lại viết "Tiền tệ là công cụ quan trọng và hữu hiệu nhất của những người làm ra chính sách kinh tế vĩ mô" và thêm rằng "đây là thành phần quan trọng nhất" trong việc hình thành chính sách.
Trong năm 1963, ông cũng viết tác phẩm "Lạm phát, nguyên nhân và hậu quả" (Inflation: Cause and Consequences). Năm 1966, ông bắt đầu viết một mục về tình hình thời sự kinh tế cho tạp chí Newsweek, luân phiên 3 tuần một lần cùng Paul Samuelson và Herry Wallich. Tuy nhiên, những hoạt động này chỉ là việc phụ. Ông vẫn khăng khăng từ chối một công việc lâu dài ở Washington . Vấn đề trên hết được ông quan tâm vẫn là cống hiến cho khoa học.
Trong những năm sau đó, từ 1968 đến 1984, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm khác có tầm ảnh hưởng rất rộng rãi đến nền kinh tế Mỹ và thế giới.
Theo SAGA.VN

Đôi nét về Adam Smith - ông tổ của kinh tế học hiện đại

Đã bao giờ các bạn nghe đến "Bàn tay vô hình" chưa? Hay tác phẩm cổ điển "Sự giàu có của các quốc gia" – đến nay hơn 200 năm vẫn còn được tái bản? Nói đến kinh tế thị trường, chúng ta không thể không nhắc đến Adam Smith. Vậy Adam Smith là ai?

Vào thế kỉ XVIII châu Âu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp, tích lũy tư bản. Sự chuyển biến phương thức sản xuất đã làm cho học thuyết kinh tế chủ nghĩa trọng thương không còn thích hợp và thay vào đó là Kinh tế chính trị học tư sản ra đời. Nó là nền tảng khoa học của kinh tế thị trường ngày nay. Một trong những đại biểu tiên phong xây dựng hệ thống ấy là Adam Smith.
Adam Smith (1723-1790) sinh ở Kircaldy, Scotland, là con của một viên kiểm soát thuế vụ. Bố ông mất trước khi sinh ông một vài tháng, còn mẹ ông thọ đến 90. Năm 1737, vào tuổi 14, Adam Smith đã vào trường ĐH Glasgow, sau đó tiếp tục theo học ĐH Oxford và trở thành nhà lý luận kinh tế chính trị học cổ điển nổi tiếng của Anh.
Từ thời thanh niên, Smith biểu lộ dấu hiệu mà giới chuyên gia nghiên cứu tâm thần gọi là "hội chứng giáo sư". Người viết tiểu sử của ông mô tả ông là một học sinh có năng lực, mặc dù có "sự cao hứng khó hiểu", sau này trong cuộc đời học thuật thường chuyển qua những lúc cao hứng mộng tưởng thường làm rối loạn bạn đồng nghiệp (ví dụ họ nhìn thấy ông mỉm cười trong buổi lễ nhà thờ). Một trong những lúc mộng tưởng vào sáng sớm, ông đi bộ đến 15 dặm trong bộ đồ ngủ trước khi chuông nhà thờ ở làng bên "đánh thức" ông. Trong một dịp khác, trong khi đi bộ với một người bạn, người ta kể rằng tự nhiên ông tranh luận sôi nổi trong khi không có không có người khác ở gần, đến mức rơi xuống hố thuộc da! Người ta còn kể ông đãng trí làm rơi bánh mì bơ vào nước sôi, sau đó ông cho rằng xưa nay mình chưa hề pha chén chè nào tệ đến như thế.

Mặc dù không phải là người điển trai, sự có duyên của ông khiến bạn bè và sinh viên yêu mến. Có thể người ta tàn nhẫn mô tả ông là "hỗn độn những gì nhô ra". Một chân dung ông bằng đá chạm cho thấy môi dưới của ông trề ra, chiếc mũi to đùng và đôi mắt ốc nhồi. Vả lại trong suốt đời ông gặp rắc rối vì nỗi khổ sở của bệnh thần kinh, đầu ông lắc lư, bị ảnh hưởng của chứng mất ngôn ngữ.

Tuy nhiên tất cả những điều này không làm giảm khả năng tri thức của ông. ông tự mô tả mình là "một gã nịnh đầm không có gì ngoài sách vở". Ở ĐH Glasgrow và sau này ở Offord, Smith giảng về thần học tự nhiên, luân lý học, luật học và kinh tế chính trị học. Sinh viên từ Nga và châu âu sang Anh để nghe ông giảng.

Ông là học trò của Frances Hutcheson là bạn của David Hume, và là người quen biết với Quesney. Một trong số các bạn ông có Joseph Black một người tiền phong về ngành hóa học, James Watt là nhà phát minh ra máy hơi nước, Robert Foulis là nhà sáng lập ra Viện hàn lâm Kiểu mẫu Anh quốc (The British Academy of Design). Adam Smith còn quen thân với Andrew Cochran, một nhà buôn, nguyên viện phó của Đại học Glasgow, người sáng lập ra Câu lạc bộ Kinh tế chính trị (Political Economy Club).

Trong tác phẩm rất quan trọng của ông, "The theory of moral setiments", xuất bản lần đầu tiên năm 1759. Tác phẩm này là nỗ lực nhận định nguồn gốc đánh giá luân lí hay thừa nhận và phản đối luân lý. Trong sách ấy Smith nhận thức con người nhưng một sinh vật tư lợi mặc dù có khả năng đánh giá luân lý trên cơ sở những cân nhắc khác với tính ích kỷ. Ông cho rằng sự đánh giá luân lý thường được tiến hành bằng cách duy trì tư lợi trong sự vâng lời và đặt chính mình trong quan điểm người thứ ba, người quan sát vô tư. Trong cách này, người ta tiếp cận khái niệm đồng cảm luân lý chứ không phải là khái niệm ích kỷ, và luân lý thực sự vượt qua sự ích kỷ. tác phẩm "The theory of Moral sentiments" và các vấn đề trong sách ấy thu hút sự quan tâm ngay lập tức và mang lại danh tiếng cho tác giả. Nhưng nhiều sử gia tư tưởng kinh tế có khuynh hướng xem điều đó là không nhất quán với tầm quan trọng mà sau này Smith đặt tính tư lợi như một động lực trong "The wealth of nations" (xuất bản năm 1776). Quan điểm am hiểu có khuynh hướng xem tác phẩm "The wealth of nations" như một sự triển khai lô gic của tác phẩm "The theory of moral sentiments", mặc dù vậy chưa phải là cách đánh giá nhất trí.

Xét về phương pháp luận của Adam Smith, K. Marx đã nhận xét: một mặt, Adam Smith quan sát các mối liên hệ bên trong, các phạm trù kinh tế. Mặt khác, Adam Smith lại đặt mối liên hệ đó như mối liên hệ bề ngoài của hiện tượng... và do đó, Adam Smith xa lạ đối với khoa học.
Phương pháp luận nghiên cứu của Adam Smith đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các học thuyết kinh tế tư sản sau này.
Ông được coi là "Cha đẻ của lý luận kinh tế thị trường".
Theo NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC

BƯỚC ĐI MẠNH MẼ CỦA DÂN CHỦ


Nguồn ảnh: www.samaracanada.com
TS. Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn: Tuần Việt Nam,
đăng ngày 20/9/2013,
truy cập đường link gốc tại đây
Dân chủ trong thế kỷ XXI phải là dân chủ thực chất. Dân chủ chẳng những chấp nhận sự khác biệt, mà còn lấy sự khác biệt, tính đa dạng trong nhân cách để làm nền tảng cho sự phát triển.

Cội nguồn của khái niệm dân chủ bắt nguồn từ thời cổ đại ở Aten (Hy Lạp). Dân chủ theo gốc tiếng Hy Lạp là ''demokratia", nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.[1] Abraham Lincoln cũng tuyên bố dân chủ là một chính quyền của dân, do dân và vì dân (a government of the people, by the people, for the people), đối lập với chế độ độc tài.[2]
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập như hiện nay, cũng giống như nhiều vấn đề chính trị - pháp lý khác, vấn đề dân chủ cũng có nhiều thay đổi trong cách quan niệm. Nhiều nhà khoa học cho rằng trong thế kỷ XXI, chúng ta đã và sẽ chứng kiến những thay đổi quan trọng liên quan đến vấn đề dân chủ như sau:



Thừa nhận và tôn trọng sự  đa dạng và lợi ích của thiểu số nhằm  đạt được lợi ích đa phương
Theo dự  đoán của nhiều nhà khoa học nước ngoài thì trong suốt thế kỷ thứ XXI nhân loại sẽ nếm trải những biến đổi mạnh mẽ của làn sóng thứ ba (cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự xuất hiện nền kinh tế tri thức) và làn sóng ấy sẽ làm biến đổi căn bản các thể chế chính trị quốc gia và quốc tế.
Nguồn ảnh: www.barnesandnoble.com
Khi nói về  dân chủ thế kỷ XXI, tác giả Robert A. Dahl trong cuốn sách nổi tiếng "A preface to democratic theory" đã khẳng định một nguyên lý: Nền dân chủ thực chất nhất chính là nền dân chủ xuất phát từ sự bình đẳng, sự bình đẳng mà pháp luật ở quốc gia nào cũng hướng tới. Đó là sự tôn trọng tính đa dạng của các nhóm lợi ích, nhiệm vụ của dân chủ không phải là đè bẹp ý chí của những thiểu số đó mà là tìm ra trong số những nhóm lợi ích đó tiếng nói chung.[3]
Alvin Toffler - một nhà tương lai học nổi tiếng cũng cho rằng: Làn sóng chính trị sẽ không dừng lại ở cấp quốc gia. Trong những thập kỷ sắp đến, toàn bộ "bộ máy luật pháp toàn cầu" từ Liên hợp quốc đến Hội đồng thành phố, sẽ đối mặt với sự đòi hỏi không chống lại được về việc phải cấu trúc lại; mà nguyên tắc đầu tiên của chính phủ làn sóng thứ ba là quyền lực thiểu số. Không phải đa số mà là thiểu số được quan tâm đến.[4]

Nguồn ảnh: www.achievement.org
Alvin Toffler lập luận rằng, các nhà cai trị làn sóng thứ hai (làn sóng văn minh công nghiệp) luôn luôn tự cho là phát ngôn nhân danh đa số, vì tính hợp pháp của họ phụ thuộc vào nó, ông cũng thừa nhận rằng trong suốt kỷ nguyên nền văn minh làn sóng thứ hai, cuộc chiến đấu cho nguyên tắc đa số đã có ý nghĩa nhân đạo và giải phóng.
Ngày nay, khi xuất hiện làn sóng thứ ba, người nghèo không còn chiếm đa số và họ trở thành thiểu số, do đó nguyên tắc đa số không còn là một nguyên tắc hợp lý nữa, nó cũng không còn nhân đạo hoặc dân chủ nữa; vấn đề cần hoàn thiện là phải hiện đại hóa toàn bộ hệ thống để tăng cường vai trò của các nhóm thiểu số khác nhau nhằm cho phép họ tạo thành đa số[5].
Alvin Toffler lập luận như vậy là có căn cứ vì: thế kỷ XX trở về trước dường như nguyên tắc đa số luôn ngự trị và nó luôn có nghĩa là sự thay đổi tốt hơn cho người nghèo, nhưng suy nghĩ kĩ lại sẽ thấy dân chủ đa số thực chất là dân chủ ở cấp độ thấp, là mức độ phát triển thuần túy và sơ khai về dân chủ. Nguyên tắc 50% + 1 rõ ràng là một công cụ đơn thuần về lượng, cái gì để đảm bảo cho chất lượng quan điểm của một người?
Alvin Toffler, Nguồn ảnh: allhistorymatters.com
Dân chủ  trong thế kỷ XXI phải là dân chủ thực chất. Dân chủ chẳng những chấp nhận sự khác biệt, mà còn lấy sự khác biệt, tính đa dạng trong nhân cách để làm nền tảng cho sự phát triển. Mọi sự khác biệt đều có quyền tồn tại. Thế nên những khác biệt là bình đẳng với nhau và dân chủ như môi trường nuôi dưỡng và bảo tồn các bộ phận thiểu số trong xã hội, là sự khoan dung và chấp nhận lẫn nhau giữa thiểu số và đa số. Các đặc trưng sắc tộc, các luật tục địa phương, các cộng đồng thiểu số, các nền văn hóa độc đáo không lặp lại, các thổ ngữ, văn tự…đều là những giá trị cần được dân chủ tôn trọng và bảo tồn bằng những đặc lệ.
Hơn nữa, bản chất của dân chủ là chấp nhận sự đa dạng hợp lý, dân chủ không xua đuổi, không áp đặt các ý kiến, dân chủ thu nhận tất cả những khác biệt ấy. Để làm gì? Để dung hợp hoặc tìm ra tiếng nói chung, hoặc đi tới giải pháp tối ưu nhất nhằm đem lại lợi ích đa phương. Tính linh hoạt của dân chủ trong việc tìm lợi ích đa phương đó sẽ là giải pháp tối ưu, và là thách thức lớn đối với việc thực hành dân chủ.
Khả năng tự hoàn thiện và tiến bộ không ngừng của nền dân chủ chính là nhờ sự chấp nhận tính đa dạng của các ý kiến, nó sử  dụng tính đa dạng ấy như cơ chế phản biện. Chính vì vậy, năng lực tự phê phán, tự so sánh đối chiếu và luôn thay mới sẽ tự làm mới vấn đề dân chủ, và có lẽ đó cũng là xu hướng của dân chủ trong thế kỷ XXI.
Phân công, phân cấp hợp lý
Yếu tố có tác động không nhỏ đến tính chất và mức độ dân chủ trong tương lai là sự phân cấp, phân công hợp lý. Phân cấp hay phân công là việc giao quyền quyết định vào đúng chỗ của nó. Một số vấn đề không thể giải quyết ở cấp địa phương, và ngược lại cũng có những vấn đề không thể giải quyết ở cấp quốc gia và có cả những vấn đề đòi hỏi sự hành động ở nhiều cấp đồng thời cùng một lúc.
Nguồn ảnh: Sgtt.vn
Nếu mức độ phân cấp quá mức sẽ dẫn  đến hiện tượng tản quyền, cát cứ. Alain Touraine, một nhà xã hội học người Pháp trong cuốn "Phê  phán tính hiện đại", đã nhận xét: "Nếu đất nước bị chia nhỏ thành những tộc người xa lạ và đối địch với nhau, hay đơn giản hơn, nếu những bất công lớn đến mức người dân không có ý thức về một lợi ích chung, thì dân chủ sẽ không có nền tảng”[6]. Nhưng nếu quá ít quyền quyết định dành cho cấp dưới là một sự nguy hại; nhu cầu cần thiết là phải có sự phân cấp lại cho hợp lý quyền quyết định nếu một hệ thống quá nặng nề về tập quyền.
Dân chủ bán trực tiếp
Nhược điểm cố hữu của dân chủ trực tiếp là ở  phản ứng tình cảm, nhất thời và phụ thuộc nhiều vào vấn đề thông tin. Thiếu thông tin, nóng vội, thiếu suy nghĩ khi quyết định trực tiếp, đó cũng là sự nguy hiểm. Nhưng dân chủ trực tiếp cũng có ưu điểm của nó. Aritxtốt thừa nhận rằng: "Số đông ít hủ bại hơn số ít, chẳng khác nào nhiều nước thì độ bẩn sẽ ít hơn so với ít nước. Cá nhân dễ bị hãm trong sự nóng giận hay sự cuồng nhiệt, do đó mà phán đoán của cá nhân dễ bị thiên lệch. Đối với số đông, khó mà nghĩ rằng, trong một lúc họ đều có thể cuồng nhiệt và sai lầm hết”[7].
Nhược điểm của dân chủ gián tiếp ở chỗ khi không có sự thống nhất ý chí trong các cử tri ở khu vực bầu cử, thì đại biểu được bầu lên sẽ đại diện cho ý chí của ai? Do vậy, sự nhất trí bị phá vỡ thì cũng làm phá sản luôn khái niệm đại diện.
Tính đại diện trong tương lai cũng cần được xem lại. Đại biểu do dân bầu càng ngày càng phải giải quyết nhiều công việc, và nhìn chung các đại biểu ngày càng hiểu biết ít hơn về các việc mà họ  phải quyết định. Khi năng lực của đại biểu dân cử kém, mà lại bảo thủ, đóng kín, khi đó người dân đương nhiên sẽ ít cảm thấy  được đại diện đầy đủ. Người đại biểu muốn giải quyết được công việc buộc phải dựa vào sức mạnh, nguồn lực từ bên ngoài.
Hay nói cách khác, nếu muốn thực sự là đại diện cho dân, cho tiếng nói của dân thì không còn cách nào khác họ buộc phải dựa vào bộ máy giúp việc và chuyên gia cố vấn (hình thức này mới là chủ đạo trong tương lai). Như vậy, dân chủ về mặt hình thức là gián tiếp nhưng hóa ra lại có cả những yếu tố trực tiếp, từ chỗ chỉ cần người đại biểu đại diện cho nhân dân thuần túy tới việc người đại biểu phải chủ động huy động sức mạnh, trí tuệ của nhân dân, tranh thủ sự tư vấn của các nhóm chuyên gia để đại diện cho dân. Dân chủ bán trực tiếp (semi-direct/hybrid democracy) là dân chủ không khép kín, nó sẽ bao gồm những thiết chế để đảm bảo sự giám sát có hiệu quả, lâu dài từ phía thiểu số.
Pháp luật với tính chất là hiện thân của lẽ phải, sự công bằng là công cụ, phạm vi, đảm bảo của dân chủ
Dân chủ  không thể không đặt trong mối liên hệ với pháp luật. Chính pháp luật công bằng, nhân đạo, hợp lẽ phải là điều kiện, là đảm bảo để có dân chủ. Dân chủ không tự trên trời rơi xuống mà là kết quả đấu tranh lâu dài của nhân dân, là kết quả của quá trình nhận thức, là tất yếu của tiến bộ xã hội.
Muốn cho pháp luật thực sự là động lực cho dân chủ thì  pháp luật phải được minh bạch hóa, phải gần dân, và quan trọng nhất pháp luật phải là hiện thân của sự công bằng. Một qui định pháp luật không rõ ràng, không minh bạch, không đúng đắn sẽ là cơ hội cho người ta vi phạm, lợi dụng dân chủ. Nếu pháp luật xây dựng trên nền tảng khép kín, chủ quan, khi thực hiện thì bưng bít, không minh bạch vô hình chung nó sẽ trở thành công cụ của thiểu số áp đặt lên đa số. Chỉ có minh bạch hóa mới có thể góp phần ngăn chặn được nguy cơ pháp luật trở thành công cụ phục vụ lợi ích của một nhóm người thiểu số nào đó.
Tóm lại, dân chủ là khát vọng, mong ước của con người bất luận con người đó là ai, ở đâu. Trong thế kỷ XXI, dân chủ không còn thuần túy hiểu theo nghĩa chỉ có đa số mới được bảo vệ, mà đó là sự thừa nhận và tôn trọng sự đa dạng và bảo vệ lợi ích của thiểu số nhằm đạt được lợi ích đa phương.
Hình thức của dân chủ cũng không còn đơn thuần là dân chủ trực tiếp hay gián tiếp, mà là giải pháp tích hợp ưu điểm và hạn chế nhược điểm của cả hai hình thức này, đó là hình thức dân chủ bán trực tiếp. Dân chủ chỉ có thể được thực thi và trở thành một giá trị phục vụ cộng đồng khi có sự phân công, phân cấp hợp lý và khi được đảm bảo bởi một hệ thống pháp luật đại diện cho những giá trị nhân văn, lẽ phải và sự công bằng.
TS. Nguyễn Minh Tuấn
--------------------------------
Chú thích:
[1] Nhiều tác giả, Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, Bản dịch ra từ tiếng Việt có sửa chữa và bổ sung của Nxb Tiến bộ và Nxb Sự thật, tr. 86. Nhiều nước qui định nguyên tắc này ở trong Hiến Pháp. Chẳng hạn ở Đức, Điều 20 Khoản 2 Câu 1 LCB qui định: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Ở Việt Nam, Điều 2 Câu 2 Hiến pháp 1992 qui định: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.”
[2]Donald (1996), Lincoln. Simon and Schuster, 1996, pp. 460–466.
[3]Robert A.Dahl. A preface to Democratic Theory, The University of Chicago Press, Chicago, 1956, tr. 34.
[4] Alvin Toffler, Làn sóng thứ ba (The third wave), Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr. 314.
[5]Alvin Toffler, sách đã dẫn, tr. 339.
[6]Alain Touraine (2003), Phê phán tính hiện đại, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr. 216.
[7]Amartya Sen, Phát triển là quyền tự do, CIEM (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương) và Nxb thống kê, Hà Nội, 2002, tr. 216.

Sửa Hiến pháp đừng bít lối vào TPP



KỲ 1: CÁC NƯỚC CHE ĐẬY, VIỆT NAM LẠI...TRƯNG RA

TS. Võ Trí Hảo
Nguồn: Tuần Việt Nam,
đăng ngày 26/9/2013,
truy cập đường link gốc tại đây

Các quốc gia thành viên WTO đã khôn khéo phân biệt đối xử với DN ngoại quốc bằng các hàng rào thuế quan tinh vi. Trong khi đó, Việt Nam lại trưng bày "vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước" ra vị trí mặt tiền, rồi ra sức thuyết phục họ công nhận mình là nền kinh tế thị trường.

Gia nhập WTO là một cột mốc quan trọng của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên sau 7 năm, dường như chúng ta chưa khai thác được hết các lợi ích mà tư cách thành viên WTO mang lại. Bởi hầu hết các nước của WTO, bao gồm cả G7, chưa công nhận VN là nền kinh tế thị trường, bất chấp nỗ lực thuyết phục của lãnh đạo cấp cao của VN trong các cuộc tiếp xúc song phương[1] .


Để kết luận một nền kinh tế vận hành theo quy luật thị trường không, các quốc gia phân tích nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố khuôn khổ pháp lý cho nền kinh tế vận hành, mà đầu tiên là Hiến pháp.

Chỉ cần nhìn vào Điều 15 Hiến pháp 1992 hiện hành (và Điều 51 Khoản 1 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992), sẽ thấy VN phân loại về mặt pháp lý các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế ngay từ trong Hiến pháp và tuyên bố "kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo". Như vậy, ai giữ vai trò chủ đạo, ai thắng trong cuộc chơi không còn được quyết định bởi quy luật cạnh tranh tự do của thị trường nữa, mà quyết định bởi nhà nước.






Để "tuân thủ" Hiến pháp, nhà nước phải có nghĩa vụ bảo đảm vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước. Muốn vậy, nhà nước không còn cách nào khác là phải ưu tiên, ưu đãi các DNNN. Nếu không, ai thắng ai thua trong cuộc cạnh tranh sẽ do thị trường quyết định.

Thị trường thì khách quan, vô cảm, nên DNNN có thể thắng, có thể thua, có thể chủ đạo hoặc không chủ đạo. Nếu DNNN và thành phần kinh tế nhà nước, vào một lúc nào đó, không giữ được vai trò chủ đạo thì nhà nước đã... vi phạm Hiến pháp.

Bởi vậy, mặc dù không còn duy trì một đạo luật riêng cho DNNN mà thành phần này được điều chỉnh chung trong Luật doanh nghiệp 2005, nhưng ưu tiên ưu đãi vẫn có vô vàn cách. Chẳng hạn, bảo lãnh vay vốn, ưu đãi đất đai, luân chuyển công chức cao cấp giữ các chức vụ quản lý trong DNNN thông qua đó loby chính sách cho các DN này. Rồi bắt buộc các hội thảo sử dụng ngân sách nhà nước phải mua vé máy bay của Vietnam Airlines cho đại biểu tham gia, v.v...

Điều đặc biệt, dường như DNNN không được phép phá sản theo quy luật thị trường, bởi phá sản thì cơ quan chủ quản có thể bị kỷ luật, nên họ phải cứu bằng mọi cách.

Vậy có thể dùng Hiến pháp ra lệnh cho quy luật kinh tế? Và quy luật kinh tế có phải là đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp?

Ông trời đâu có vâng lệnh người; các quy luật kinh tế khách quan đâu có phải là đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp và cũng không biết "giữ thể diện" cho nhà nước với những scandal như Vinashines, Vinalines...

Lùi xa hơn một chút, từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 1992, luôn khẳng định "vai trò chủ đạo" của thành phần kinh tế tập thể, nhưng nó đã teo tóp từ lâu. Trong thời kỳ bao cấp, cả dân tộc dành 100% nguồn lực cho kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, nhưng hai thành phần kinh tế này có giữ vai trò chủ đạo được không?

Hãy nhìn vào khả năng bảo toàn vốn, tìm kiếm lợi nhuận, đóng góp cho GPD, góp phần cho tình trạng tham nhũng, khả năng tạo công ăn việc làm giữa hai khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, sẽ dự đoán được quy luật kinh tế đang vận động theo hướng nào.



Bảng: Đóng góp của kinh tế nhà nước tại TPHCM giảm dần đều theo thời gian



Thành phần2006-2010201120122013
Kinh tế nhà nước26,6%18,7%18,0%17,3%
Kinh tế ngoài nhà nước50,6%58,3%58,5%58,9%
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài22,8%23,0%23,5%23,8%

(Nguồn: Cục Thống kê TPHCM, dẫn theo Văn Nam, Đóng góp kinh tế nhà nước giảm dần, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 22/9/2013).



Đáng tiếc, tư duy dùng Hiến pháp ra lệnh cho quy luật kinh tế vẫn được tiếp tục duy trì, lựa chọn làm Phương án 1 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Điều 51 Khoản 1 viết: "Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo" (khái niệm "kinh tế tập thể" đã biến mất - VTH).

Quyền lập hiến thuộc về Quốc hội Việt Nam, nhưng quyền công nhận nền kinh tế thị trường thuộc về các quốc gia khác. Mỗi chủ thể đều có ý chí riêng của mình.

Tuy nhiên, điều đáng bàn ở đây, là nghệ thuật che đậy sự phân biệt đối xử. Các quốc gia thành viên WTO đã khôn khéo phân biệt đối xử với DN ngoại quốc bằng các hàng rào thuế quan tinh vi. Trong khi đó, Việt Nam lại trưng bày "vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước" ra vị trí mặt tiền, rồi ra sức thuyết phục họ công nhận mình là nền kinh tế thị trường.

Đặc biệt, hiện nay Việt Nam đang tích cực đàm phán gia nhập TPP, thì việc trưng bày "vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước" trong Hiến pháp, sẽ làm cho Việt Nam gặp không ít bất lợi.

(Còn tiếp)



TS. Võ Trí Hảo (Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM)



[1] Hiện nay chỉ có ASEAN và Ucraina, Nga, Trung Quốc, Venezuela, Nam Phi công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, các thành viên chủ chốt của WTO vẫn chưa công nhận.





------------------------

 Sửa Hiến pháp đừng bít lối vào TPP:

KỲ 2: "Ai cho tiền thì bảo vệ người ấy"


TS. Võ Trí Hảo

Nguồn: Tuần Việt Nam,

đăng ngày 26/9/2013,

truy cập đường link gốc tại đây








Còn chức năng đứng về người lao động lại càng khó tròn vai, bởi "ăn cây nào rào cây ấy", ai cho tiền hoạt động thì bảo vệ người ấy; Công đoàn thời kỳ Đổi mới chưa bao giờ đứng ra tổ chức đình công để đấu tranh quyết liệt quyền lợi cho công nhân.



BTA có rồi, nhưng Quy chế ưu đãi phổ cập (GSP)[1] không thành hiện thực có căn nguyên từ Hiến pháp.

1. Một lý do được chỉ ra là quyền tự do gia nhập hội đã có, nhưng quyền tự do lập hội cho người lao động lại chưa có.

Trong quá trình đàm phán Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA), đoàn đàm phán đã nỗ lực yêu cầu Hoa Kỳ dành cho phía VN Quy chế ưu đãi phổ cập (GSP). Quy chế này nhằm khuyến khích sự phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển bằng cách ưu đãi miễn thuế nhập khẩu 5.000 mặt hàng[2] (trong đó chủ yếu là các hàng thủ công nghiệp, mây tre, cói ngô...).

Ban đầu, phía Hoa Kỳ không chấp nhận, vì quy chế GSP đòi hỏi quốc gia hưởng quy chế GSP phải bảo đảm cho người lao động, tầng lớp công nhân quyền tự do lập hội, bao gồm quyền tự do lập công đoàn.

Công đoàn, quyền tự do lập hội, công nhân, đình công, quyền lợi người lao động
Theo báo Lao động, từ năm 1995 đến 7/2013, có hơn 5.000 cuộc đình công, có cuộc huy động đến 10.000 NLĐ, không có cuộc nào do Công Đoàn lãnh đạo. Ảnh minh họa

Quyền tự do lập công đoàn, giúp "công nhân, người lao động tụ tập với nhau, tự lập hội để nói chuyện với giới chủ", để giúp họ tự bảo vệ mình, mà không phải trông chờ từ nhà nước. Theo ông Nguyễn Đình Lương - nguyên Trưởng đoàn đàm phán BTA, quyền tự do thành lập công đoàn là một trong những chuẩn mực quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), mà Việt Nam là một thành viên[3] .

Trước nỗ lực của phía Việt Nam, cuối cùng phía Hoa Kỳ ghi nhận vào BTA: "phía Hoa Kỳ sẽ xem xét dành GSP cho Việt Nam". Thế nhưng, "thắng lợi" của nỗ lực này không có cơ hội thành hiện thực. Vì phía Hoa Kỳ chưa xem xét GSP chừng nào quyền tự do lập công đoàn của người lao động Việt Nam chưa được bảo đảm, chừng nào Điều 10 Hiến pháp còn duy trì vai trò độc tôn của Công đoàn Lao động Việt Nam (viết hoa, số ít).

Sự độc tôn của công đoàn như vậy là đã điều chỉnh quyền lập hội, lập công đoàn của người lao động theo "cơ chế mậu dịch" của thời kỳ bao cấp. Nghĩa là chỉ có quyền "gia nhập, hoặc không gia nhập, đóng phí hay không đóng phí" mà thôi, chứ không còn quyền chọn lựa ai đó đại diện cho mình.

Ngắn gọn, người lao động không có quyền lập công đoàn, mà chỉ có quyền gia nhập một tổ chức mà Điều 10 Hiến pháp đã thiết kế sẵn.

Người lao động tưởng như đã thoát được "gạo mậu dịch" song còn những thứ "mậu dịch, bao cấp" khác thì có lẽ vẫn chưa thể.

2. Duy trì tính chất "á nhà nước" của Công đoàn nhằm giải quyết những vấn đề gì gì?

Hiện nay, Công đoàn Lao động Việt Nam hưởng quy chế rất đặc biệt, quy chế á nhà nước.

Theo quy chế này, Công đoàn Lao động đứng về phía nhà nước, giúp nhà nước quản lý người lao động, thực hiện một số hành động nhân danh quyền lực nhà nước (ban hành thông tư liên tịch), đặc biệt hưởng ngân sách, giống như một cơ quan nhà nước.

Dùng ngân sách như cơ quan nhà nước, nhưng lại không phải là cơ quan nhà nước. Bởi ở mặt khác, tổ chức này lại khoác chiếc áo của một tổ chức xã hội, nên không cần được sự ủy thác của toàn dân thông qua bầu cử phổ thông, không có nghĩa vụ trả lời chất vấn trước Quốc hội, không phải chịu trách nhiệm trước những người đóng thuế.

3. Chức năng, vai trò thay đổi qua từng thời kỳ lịch sử

Trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh, Công đoàn đã có công lao lớn giúp Đảng giành được chính quyền, giúp công nhân đấu tránh chống lại sự bóc lột của giới chủ, đặc biệt là chống lại giới chủ người Pháp. Điều đó cần được tri ân.

Bước sang thời kỳ bao cấp, khái niệm "giới chủ" không còn, mà người sử dụng lao động chính là chính quyền dưới hình thức hợp tác xã, xí nghiệp nhà nước, cơ quan nhà nước. Nên Công đoàn thời kỳ này thay đổi chức năng, không còn nhiệm vụ đấu tranh chống lại người sử dụng lao động, mà phải cổ vũ, ủng hộ người sử dụng lao động, trở thành cánh tay nối dài giúp nhà nước quản lý người lao động.

Bước sang thời kỳ đổi mới, "giới chủ" tái xuất hiện, nhưng chức năng, vị thế của Công đoàn vẫn được tiếp tục duy trì như thời kỳ bao cấp. Công đoàn mới không được quyền thiết lập, công đoàn truyền thống không ra tay giúp công nhân. Những xung đột với giới chủ không còn phương thức hòa bình để giải quyết, công nhân đi đến đình công tự phát ở Bình Dương, Hải Phòng trong những năm 2008-2009, có nơi leo thang đến đập phá nhà máy giống như thời Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Tính chất á nhà nước, làm cho chức năng quản lý nhà nước của Công đoàn thiếu chính danh, thiếu trách niệm giải trình trước Quốc hội và toàn dân. Còn chức năng đứng về người lao động lại càng khó tròn vai, bởi "ăn cây nào rào cây ấy", ai cho tiền hoạt động thì bảo vệ người ấy; Công đoàn thời kỳ Đổi mới chưa bao giờ đứng ra tổ chức đình công để đấu tranh quyết liệt quyền lợi cho công nhân.

Duy trì vai trò độc tôn, hạn chế quyền tự do lập công đoàn của người lao động không chỉ làm ảnh hưởng quyền lợi của tầng lớp thợ thuyền, mà về mặt đối ngoại lại cản trở hội nhập quốc tế.

Trước thềm đàm phán TPP, nhân dịp sửa đổi Hiến pháp, chúng ta nên xem xét cải tổ cơ chế "bao cấp bảo vệ người lao động", cải tổ hệ thống "cửa hàng mậu dịch bốn cấp" (Công đoàn ở TW, tỉnh, huyện, cơ sở). Sao cho những người lao động thực sự được bảo vệ quyền lợi chính đáng.



TS Võ Trí Hảo (Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM)