Knowledge

Knowledge
Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

23/03/1919: Mussolini thành lập Đảng Phát xít Ý

Bundesarchiv_Bild_146-1969-065-24,_Münchener_Abkommen,_Ankunft_Mussolini
Nguồn: “Mussolini founds the Fascist party,” History.com (truy cập ngày 21/03/2015).
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Benito Mussolini, cựu binh Thế chiến I và nhà xuất bản của nhiều tờ báo Xã hội, đã rời bỏ Đảng Xã hội Ý và thành lập Fasci di Combattimento, một tổ chức dân tộc chủ nghĩa đặt theo tên của các cuộc cách mạng nông dân Ý trong thế kỷ 19. Thường được gọi là Đảng Phát xít, tổ chức cánh hữu mới của Mussolini ủng hộ chủ nghĩa dân tộc Ý, có đồng phục là áo sơ mi đen, và phát động một chương trình khủng bố và đe dọa chống lại những đối thủ cánh tả của nó.
Tháng 10 năm 1922, Mussolini đưa quân Đức hành quân qua Roma, và Vua Emmanuel III, người chẳng mấy tin vào chính phủ nghị viện Ý, đã đề nghị Mussolini thành lập một chính phủ mới. Ban đầu, Mussolini, người được bổ nhiệm làm Thủ tướng đứng đầu một nội các có ba phần tư thành viên thuộc Đảng Phát xít, đã hợp tác với Quốc hội, nhưng sau đó với sự hỗ trợ của lực lượng cảnh sát tàn bạo của mình, Mussolini nhanh chóng trở thành nhà độc tài của nước Ý. Năm 1924, cuộc nổi dậy của phe Xã hội bị dập tắt, và tháng 1 năm 1925, một nhà nước Phát xít chính thức được tuyên bố, với Mussolini là Il Duce, hay “Nhà lãnh đạo.”
Mussolini đã kêu gọi các đồng minh phương Tây trước đây của Ý ký kết các hiệp ước mới, nhưng cuộc xâm lược tàn bạo vào lãnh thổ Ethiopia năm 1935 của ông ta đã kết thúc mọi hi vọng liên minh với các nước dân chủ phương Tây. Năm 1936, Mussolini tham gia cùng Adolf Hitler, Quốc trưởng Đức Quốc xã, hỗ trợ lực lượng dân tộc chủ nghĩa của Francisco Franco trong Nội chiến Tây Ban Nha, đem đến một hiệp ước hợp tác trong chính sách ngoại giao giữa Ý và Đức Quốc xã năm 1937. Dù cuộc cách mạng phát xít của Hitler được mô hình hóa theo sự trỗi dậy của Mussolini và Đảng Phát xít Ý, Phát xít Ý và Il Duce đã tỏ ra là thế lực yếu nhất trong phe Trục trong Thế chiến II.
Tháng 7 năm 1943, do những nỗ lực chiến tranh thất bại và trước cuộc đổ bộ của phe Đồng minh vào lãnh thổ Ý, một cuộc nổi dậy đã nổ ra trong nội bộ Đảng Phát xít. Hai ngày sau thất bại ở Palermo, ngày 24 tháng 7, Đại Hội đồng Phát xít (cơ quan chính trong chính phủ Mussolini) đã bác bỏ chính sách của Mussolini do Hitler soạn thảo, và đến ngày 25 tháng 7, Il Duce bị bắt giữ. Thống chế Pietro Badoglio lên đứng đầu chính phủ Ý, và đến tháng 9, Ý đầu hàng vô điều kiện trước phe Đồng minh. Tám ngày sau đó, lính biệt kích Đức giúp Mussolini trốn khỏi nhà tù ở dãy núi Abruzzi, và sau đó Mussolini trở thành lãnh đạo bù nhìn của miền Bắc nước Ý do quân Đức kiểm soát. Với sự sụp đổ của phát xít Đức tháng 4 năm 1945, Mussolini bị quân đội Ý bắt giữ, và đến ngày 29 tháng 4, ông cùng người tình là Clara Petacci bị xử bắn, sau một phiên tòa quân sự  chóng vánh. Thi thể của họ sau đó được đem đến Milan và bị treo ngược giữa quảng trường để thị chúng.

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Chim sẻ bổ dương


Chim se bo duongY học cổ truyền coi chim sẻ là một trong những vị thuốc có công dụng bổ thận tráng dương độc đáo. Theo các sách dược thiện cổ, chim sẻ nướng là một trong những món ngự dụng (món ăn của vua chúa).
Sách Bản thảo thập di cho rằng, thịt chim sẻ có khả năng “bổ thận tráng dương, ích tinh tủy”. Sách Nhật hoa tử bản thảo thì cho rằng thịt chim sẻ làm ấm lưng và gối, thông tiểu tiện. Sách Thực vật bản thảo hội toản khen thịt chim sẻ có công năng nâng cao khả năng tình dục, giúp người ta có con, tráng dương ích khí… bồi bổ cho người già. Trong Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh viết: “Chim sẻ vị ngọt, tính ấm, không độc, thêm tinh tủy, tráng dương ích khí, mạnh lưng gối, chỉ bạch đới, băng huyết, khiến cho có con”. Trong Lĩnh Nam bản thảo, Hải Thượng Lãn Ông cũng viết: “Tước điểu tục gọi con chim sẻ; ngọt ấm, không độc, bồi tinh tủy; mạnh dương, bổ khí, khỏe gối lưng; trừ đới, khỏi băng, khiến hay đẻ”. Tương truyền, loại thuốc trứ danh “Giáp linh tập” (trong thành phần có thịt chim sẻ) cũng đã từng là một trong những quý phẩm ngự dụng của vua Càn Long.

Theo y học cổ truyền, thịt chim sẻ vị ngọt mặn, tính ấm, có công dụng bổ ngũ tạng, tráng dương, ích khí, được dùng để chữa suy nhược cơ thể, tạng phủ hư tổn, gầy yếu khó thở, nhất là người cao tuổi thận khí suy nhược, lưng đau gối mỏi, tiểu tiện nhiều lần về đêm, phụ nữ sau sinh mỏi mệt, đau lưng, khí hư, nam giới liệt dương, suy giảm khả năng tình dục.
Tiết chim sẻ vị ngọt, tính ấm, có công dụng dưỡng âm, bổ huyết, cường dương, được dùng cho những người yếu mệt, yếu sinh lý, hay hoa mắt chóng mặt, nhức đầu do thiếu máu và suy nhược.
Trứng chim sẻ ngọt mặn, tính ấm, có công dụng bổ thận tráng dương, ích tinh tủy và làm sáng mắt, được dùng cho nam giới liệt dương, thiểu tinh, thận lạnh, nữ giới huyết khô, băng lậu, đới hạ.
Để đạt được hiệu quả bổ thận tráng dương tốt nhất, cổ nhân thường phối hợp dùng chim sẻ với một số vị thuốc và chế biến thành những món ăn - bài thuốc độc đáo như:

- Chim sẻ 5 con, chim bồ câu 1 con làm thịt, bỏ lòng, chặt nhỏ, sấy khô, tán thành bột mịn; đỗ trọng 120 g sao tồn tính, tán nhỏ cùng với 5 g muối rang. Trộn đều hai loại bột, luyện với mật ong làm thành viên bằng hạt ngô. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g với ít rượu vào lúc đói.

- Chim sẻ 12 con làm thịt, bỏ ruột, chặt miếng, ninh nhừ với 6 g đông trùng hạ thảo và 2 lát gừng tươi, ăn trong ngày.

- Chim sẻ 5 con làm thịt, bỏ ruột, tẩm rượu, chặt nhỏ; kỷ tử 20 g, thỏ ty tử 10 g, phúc bồn tử 10 g, ngũ vị tử 6 g. Tất cả đem sắc, rồi lấy nước này nấu cháo với thịt chim, khi chín nêm thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

- Chim sẻ 3-5 con làm thịt, bỏ lông và nội tạng rồi đem hầm cùng với thỏ ty tử 10 g, kỷ tử 10 g, hạt hẹ 10 g, ba kích 10 g (các vị thuốc cho vào túi vải buộc kín miệng), khi nhừ bỏ bã thuốc, nêm gia vị, ăn nóng.

- Chim sẻ 20 con nhổ bỏ lông, sấy khô. Đương quy 50 g, kỷ tử 50 g, long nhãn 50 g, xuyên khung 20 g, thỏ ty tử 40 g, ba kích 50 g, nhục thung dung 50 g, dâm dương hoắc 100 g, đại táo 100 g, nhục quế 10 g. Tất cả đem ngâm với 5 lít rượu trắng, sau 1 tháng là có thể dùng được, mỗi ngày uống 15-20 ml. Đây là loại rượu tráng dương rất độc đáo.

- Chim sẻ 5 con, thịt lợn nạc 250 g, một chút rượu vang, bột gạo và gia vị vừa đủ. Chim sẻ làm thịt, bỏ lông và nội tạng rồi đem băm nhuyễn cùng với thịt lợn, trộn đều cùng với rượu vang, bột gạo và gia vị nặn thành những chiếc bánh nhỏ, đem rán vàng, ăn nóng cùng rau thơm.

- Chim sẻ 5 con, gạo tẻ 100 g, 3 củ hành trắng. Chim sẻ làm thịt, bỏ lông và nội tạng, dùng dầu ăn rán vàng rồi cho vào nồi cùng với gạo tẻ và một chén rượu trắng nấu thành cháo, khi chín bỏ hành, thêm đủ gia vị, ăn nóng.

- Chim sẻ 3-5 con, làm thịt bỏ lông và nội tạng, rửa sạch để ráo nước, xát lên mình chim một lớp muối rồi ướp trong 2 giờ. Dùng một lượng bột tiều hồi, hạt tiêu, sa nhân và nhục quế vừa đủ nhét vào trong bụng chim rồi đem nướng chín, ăn nóng.

Chim sẻ - một vị thuốc chữa bệnh

Theo hai danh y Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông, chim sẻ vị ngọt, tính ấm, không độc, tráng dương, ích khí, mạnh lưng gối... Nó có thể giúp chữa một số chứng bệnh như liệt dương, xuất tinh sớm, ho kéo dài.

Sau đây là vài bài thuốc từ chim sẻ:
1. Chữa liệt dương
- Chim sẻ 5 con, chim bồ câu non 1 con, đậu đen 120 g, muối rang 4 g, mật ong vừa đủ. Thịt chim sấy khô, nướng vàng, tán bột, đậu đen sao tồn tính, tán nhỏ. Các thứ trên trộn đều với muối, luyện với mật ong làm thành viên bằng hạt ngô, uống ngày 2 lần, mỗi lần 15 viên. Bài thuốc này cũng có tác dụng với những người bị thiếu máu, hoa mắt, chóng mặt, choáng váng.
- Chim sẻ làm sạch, luộc chín, ăn nhạt.
- Trứng chim sẻ luộc chín, bóc vỏ rồi nuốt chửng, ăn ngày 3 lần, mỗi lần 1 quả.
2. Chữa xuất tinh sớm:
Chim sẻ 2 con, dây tơ hồng 10 g, câu kỷ tử 10 g. Chim sẻ làm sạch, bỏ nội tạng, rửa sạch, chặt miếng rồi nấu cùng các thứ trên. Uống nước và ăn hết thịt chim.
3. Chữa quáng gà, chóng mặt, nhức đầu do thiếu máu và suy nhược:
Lấy tiết đầu của chim sẻ, hứng trực tiếp vào chén rượu hoặc mật ong, khuấy đều rồi uống ngay, ngày 1 lần trong 15 ngày liền.
4. Chữa ho kéo dài:
Chim sẻ một con, đường trắng vừa đủ. Chim sẻ làm sạch, bỏ nội tạng, rửa sạch, cho đường trắng vào bụng chim, lấy bột mì nhào dẻo bọc chim rồi hấp chín để ăn, ngày 2 lần. Trẻ dưới 1 tuổi chỉ ăn một nửa liều trên.
BS Ngọc Anh, SK&ĐS

Thịt chim sẻ chỉ thích hợp cho những người thể chất thiên về dương hư hoặc mắc các chứng bệnh thuộc thể dương hư. Biểu hiện là mệt mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, sợ lạnh, tay chân lạnh, dễ bị cảm lạnh, hay vã mồ hôi vô cớ, ăn kém, chậm tiêu, đại tiện lỏng nát, suy giảm ham muốn tình dục, liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, lưng đau gối mỏi, phòng sự hay bị vã mồ hôi và toát lạnh… Không nên dùng cho người thể chất thiên về âm hư, hoặc mắc các chứng bệnh rối loạn tình dục thuộc thể âm hư hỏa vượng (người gầy, nóng trong, mặt đỏ, lòng bàn tay và bàn chân nóng, trong ngực rạo rực không yên, hay có cảm giác sốt nóng về chiều, đổ mồ hôi trộm, miệng khô họng khát, hay hoa mắt chóng mặt, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ). Theo kinh nghiệm của cổ nhân, vào mùa xuân và hạ không nên ăn thịt chim sẻ cùng gan lợn và cũng không nên ăn cùng với đồ biển trong cả bốn mùa.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Một doanh nghiệp Việt “rót” 23 triệu USD mở hai nhà máy tại Cuba

Huyền Trâm – Diễn Đàn Đầu Tư – 27 April 2015
thaibinh-whyg-1430120033012
Hai nhà máy dự kiến đi vào hoạt động từ năm 2017, cung ứng sản phẩm cho thị trường Cuba và xuất khẩu sang các nước thuộc châu Mỹ.
Ông Trần Thanh Tú, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Thái Bình cho biết thông tin trên tại Hội nghị nhà cung ứng với chủ đề “Hợp tác và phát triển bền vững cùng Thái Bình trong giai đoạn hội nhập mới” diễn ra chiều ngày 24/4.
Với kinh nghiệm phân phối 12 nhóm ngành hàng vào Cuba và có mặt ở 16 tỉnh thành đất nước này, công ty đã giới thiệu những cơ hội thị trường cho doanh nghiệp Việt Nam khi Mỹ chính thức bình thường hóa quan hệ với Cuba bằng hàng loạt biện pháp tháo dỡ những rào cản thương mại.
“Với những diễn biến kinh tế, chính trị đang thay đổi từng ngày tại đất nước Cuba, tôi cho rằng thời cơ để quốc đảo này chuyển mình đã đến, một vận hội mới đang mở ra đi cùng với nhiều cơ hội và thử thách”, ông Trần Thanh Tú, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty Thái Bình, cho biết.
Ông Tú đã đưa ra các phương án hợp tác dành cho ba đối tượng nhà cung cấp khác nhau gồm nhà cung cấp truyền thống, nhà cung cấp tiềm năng và các đối tác quan tâm đến thị trường này.
Dịp này, công ty Thái Bình cũng chính thức giới thiệu dự án khởi công xây dựng hai nhà máy mới với tổng vốn 23 triệu USD tại Cuba, gồm nhà máy bột giặt và nhà máy tã lót – hai mặt hàng chiến lược mà người tiêu dùng Cuba rất tin dùng sản phẩm của Việt Nam.
Được biết, 2 nhà máy của Thái Bình sẽ được đặt tại Đặc khu kinh tế Mariel cách thủ đô Havana 43 km. Nhà máy bột giặt có công suất 50.000 tấn/năm với vốn đầu tư 5 triệu USD, do liên doanh giữa Thái Bình, Công ty TNHH Vico và Công ty Suchel (công ty Cuba). Sản phẩm sẽ cung cấp cho thị trường Cuba và xuất khẩu sang các nước thuộc châu Mỹ. Dự kiến nhà máy đi vào hoạt động vào quý II/2017.
Nhà máy tã lót, băng vệ sinh có vốn đầu tư 5 triệu USD, công suất 120 – 180 triệu sản phẩm/năm với chủ đầu tư là Thái Bình và CTCP Kywy, dự kiến đi vào hoạt động vào quý I/2017.
Tại hội nghị, ông Bernabe Garcia Valido, Tổng lãnh sự Cuba tại TP.HCM cho biết, các chính sách kinh tế hiện đang được áp dụng ở Cuba trong việc chấp thuận các loại hình kinh doanh theo phương thức đầu tư nước ngoài liên quan đến các dự án lợi ích quốc gia bao gồm các dòng vốn đầu tư cao chảy vào các mục tiêu phát triển quốc gia hoặc có tác động kinh tế xã hội mạnh mẽ trong nước. Các chính sách thương mại, lao động, tài chính, tín dụng, thuế… để đảm bảo mong đợi ngoại thương Cuba trong phát triển xuất khẩu, thay thế cho nhập khẩu trong thời gian ngắn nhất.
Đánh giá cao những nỗ lực khai phá và làm chủ thị trường mới cho sản phẩm Việt Nam, ông Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ tịch công ty GIBC cho biết: “Việc thành công của công ty Thái Bình là minh chứng cho sức mạnh của doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam trong việc tiếp cận các cơ hội đang mở ra trong quá trình hội nhập toàn cầu.”
Tuy nhiên, ông Trai cũng cho rằng những kết quả bước đầu đạt được này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và cơ hội tại Cuba và khu vực Châu Mỹ La tinh. Kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Cuba còn khá thấp, chỉ đạt 206 triệu USD năm 2014 và còn nhiều tiềm năng đẩy mạnh.
Thị trường Cuba hiện tương tự thị trường Việt Nam cách đây hơn 30 năm và sau khi được mở cửa họ sẽ kêu gọi đầu tư nước ngoài mạnh mẽ. Các công ty Việt Nam nên tranh thủ chính sách ưu ái trong quan hệ hai nước dành cho nhau

29/04/1975: Chiến dịch di tản “Gió lốc” của quân đội Mỹ bắt đầu

640px-Saigon-hubert-van-es
Nguồn: “Operation Frequent Wind begins,” History.com (truy cập ngày 28/4/2015).
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Vào ngày này năm 1975, Chiến dịch Gió lốc (Operation Frequent Wind), cuộc di tản lớn nhất bằng trực thăng trong lịch sử, bắt đầu được tiến hành để di dời những người Mỹ cuối cùng khỏi Sài Gòn.
Quân đội miền Bắc Việt Nam đã bắt đầu phát động cuộc tấn công cuối cùng của họ từ tháng 3 năm 1975, và các lực lượng quân đội miền Nam Việt Nam đã phải rút lui trước những bước tiến nhanh chóng của quân đội miền Bắc, liên tục thất thủ tại Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, và Xuân Lộc.
Khi quân đội miền Bắc Việt Nam bắt đầu tấn công vùng ngoại ô Sài Gòn, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng Hòa Graham Martin đã ra lệnh mở chiến dịch Gió lốc.
Trong vòng 19 giờ đồng hồ, 81 máy bay trực thăng đã chở hơn 1.000 người Mỹ và gần 6.000 người Việt Nam ra các tàu sân bay ở ngoài khơi. Hạ sĩ Charles McMahon con và Chuẩn hạ sĩ Darwin Judge thuộc Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ là hai binh sĩ cuối cùng của Mỹ tử trận trong khi làm nhiệm vụ ở Việt Nam, khi họ bị trúng pháo của quân đội Bắc Việt lúc đang canh gác tại sân bay Tân Sơn Nhất trong buổi di tản.
7 giờ 53 phút sáng ngày 30 tháng 4, chiếc trực thăng cuối cùng đã cất cánh và bay ra biển. Cũng trong buổi sáng hôm đó, những chiếc xe tăng của quân đội miền Bắc đã húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập. Đại tá Bắc Việt Bùi Tín chấp thuận sự đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh, người tiếp quản chức Tổng thống từ tay Trần Văn Hương (chỉ nắm quyền một ngày sau khi Nguyễn Văn Thiệu rời khỏi Sài Gòn). Chiến tranh Việt Nam chấm dứt.

21/04/1975: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức

???????????
Nguồn: “Thieu flees Saigon as Xuan Loc falls,” History.com (truy cập ngày 19/4/2015).
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Ngày 21 tháng 4 năm 1975, Xuân Lộc, tiền đồn cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa có thể ngăn chặn cuộc tấn công trực tiếp của quân đội Bắc Việt vào Sài Gòn, thất thủ trước lực lượng cộng sản.
Từ tháng 3, quân đội Bắc Việt đã tiến hành một cuộc tấn công lớn để chiếm đóng thành phố tỉnh lỵ Ban Mê Thuột ở Tây Nguyên. Quân đội miền Nam Việt Nam phòng ngự rất yếu ớt và nhanh chóng bị áp đảo trước quân đội miền Bắc. Bất chấp lời hứa sẽ tiếp tục viện trợ cho miền Nam Việt Nam trước đó nếu xung đột leo thang, Mỹ đã không làm gì (để cải thiện tình hình).
Trong nỗ lực tái phân bố lực lượng để phòng thủ tốt hơn, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho quân đội của mình ở Tây Nguyên rút về phía Nam (miền duyên hải Trung bộ). Cuộc rút quân ban đầu tưởng chừng trật tự đó đã sớm trở thành một cơn rối loạn lan rộng khắp lực lượng quân đội miền Nam. Họ rời bỏ Pleiku và Kontum với rất ít giao tranh và bị quân đội miền Bắc dồn dập tấn công từ hướng Tây và hướng Bắc. Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng cũng nhanh chóng liên tiếp thất thủ trước các đợt tấn công. Quân đội Bắc Việt tiếp tục tiến công dọc theo duyên hải phía Nam, đánh bại quân đội miền Nam trong mỗi cuộc giao tranh.

Mặt trận Xuân Lộc 4/1975. Nguồn: Wikipedia.org
Khi các lực lượng Bắc Việt tiến gần tới các cửa ngõ dẫn vào Sài Gòn, bộ chính trị ở Hà Nội đã chỉ đạo Đại tướng Văn Tiến Dũng tiến hành “Chiến dịch Hồ Chí Minh,” cuộc tấn công cuối cùng vào Sài Gòn. Đại tướng Dũng đã bắt đầu chuẩn bị lực lượng cho trận đánh cuối cùng.
Sư đoàn 18 của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã dũng cảm phòng thủ ở Xuân Lộc, cách Sài Gòn hơn 60 km về phía Đông Bắc, và quân đội miền Nam Việt Nam đã gây nhiều tổn thất cho ba sư đoàn (Sư đoàn 6, 7, và 341 thuộc Quân đoàn 4) của quân đội miền Bắc. Tuy nhiên, quân đội miền Nam đã thất bại trước sự áp đảo của quân đội miền Bắc. Với việc Xuân Lộc thất thủ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức và chuyển giao quyền lực cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Nguyễn Văn Thiệu sau đó đã rời Sài Gòn, bay đến Đài Loan vào ngày 25 (với tư cách là đặc sứ của Việt Nam Cộng Hòa đến phúng điếu Tưởng Giới Thạch, qua đời hôm mùng 5 tháng 4), sau đó tới Anh định cư, (và cuối cùng tới Massachusetts, Mỹ sinh sống cho đến khi qua đời năm 2001.)
Đến ngày 27 tháng 4, quân đội Bắc Việt đã bao vây hoàn toàn Sài Gòn và bắt đầu điều động lực lượng cho cuộc tấn công cuối cùng của họ. Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh chấm dứt. Khi những chiếc xe tăng của quân đội miền Bắc húc đổ cổng Dinh Độc Lập ở Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố đầu hàng, chấm dứt Chiến tranh Việt Nam.
Các chú thích trong ngoặc đơn là của người dịch

Những thách thức đối với Đảng Cộng sản Việt Nam trong năm 2015

04b3
Nguồn: Truong-Minh Vu, “2015 Challenges for the Communist Party of Vietnam,” The Diplomat, 01/02/2015.
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Trương Minh Huy Vũ
Các chuyên gia hàng đầu về Việt Nam đã đánh giá Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI diễn ra hồi đầu tháng trước là một sự kiện mang tính bước ngoặt, bởi qua đó đội ngũ lãnh đạo mới của Việt Nam trong 5 năm tới đã được hình thành. Quả thực, nhân sự chính là vấn đề trọng tâm của gần 197 Ủy viên Trung ương và dự khuyết tại Hà Nội lần này.  Trong khi các chuyên gia trong và ngoài nước tập trung chủ yếu vào kết quả cuộc bỏ phiếu tín nhiệm Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ý nghĩa cơ bản của nó lại chưa nhận được sự quan tâm thích đáng. Thật ra, việc đánh giá cán bộ phản ánh quan điểm của giới tinh hoa chính trị về việc thực hiện sự lãnh đạo của Đảng và báo hiệu cho đường lối tương lai của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Kể từ năm 2011, lãnh đạo Đảng đã thể hiện sự sẵn sàng linh hoạt trong những nguyên tắc kiên định của mình. Dấu hiệu đầu tiên được thể hiện một năm sau Đại hội Đại biểu Toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI. Để đối phó với sự bất ổn kinh tế, Đảng đã thay đổi định hướng phát triển của mình theo hướng “tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội” (Kết luận số 02-KL/TW ngày 16/03/2011 của Bộ Chính trị). Trước đó, chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011, ưu tiên tăng cường chính sách tài khóa và tiền tệ.
Thứ hai, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành một nghị quyết về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.” Những biện pháp này nhằm tạo ra một cơ chế kiểm soát và đối trọng trong Đảng với mục tiêu giải quyết những thách thức mà Đảng phải đối mặt. Ngoài các chính sách đánh giá và tự đánh giá, những thay đổi trong giới lãnh đạo Đảng cũng được thể hiện thông qua một cơ chế biểu quyết cho phép người tham gia bỏ phiếu ủng hộ cho những vị trí được Quốc hội hay Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua.
Đào tạo các nhà lãnh đạo tương lai là một sự thay đổi mới khác trong Đảng. Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua một kế hoạch quy hoạch cán bộ cao cấp cấp chiến lược. Đây là lần đầu tiên vấn đề xây dựng nguồn cán bộ trước mắt và sau này được đặt làm trọng tâm. Cán bộ Trung Ương có năng lực được luân chuyển nhiệm vụ quản lý ở cấp địa phương. Về vấn đề đào tạo, trong hai năm qua, một số cán bộ đã được gửi ra nước ngoài để học sau đại học hoặc tiến sĩ. Năm khóa tập huấn đã được tổ chức với 400 người được cơ cấu lên vị trí lãnh đạo chủ chốt tham gia đến từ nhiều cơ quan Đảng khác nhau.
Cho dù có một số thay đổi, Đảng vẫn tiếp tục trung thành với các nguyên tắc cốt lõi. Một trong số đó là duy trì vai trò của Đảng là nhân tố chính trong hệ thống chính trị. Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Đổi mới chính trị không phải là làm thay đổi chế độ chính trị, thay đổi bản chất của Đảng ta, Nhà nước ta mà là đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy, kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức công tác, lề lối làm việc, cải cách hành chính, chống tệ quan liêu, lãng phí, tham nhũng gây phiền hà cho dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan trong hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia.”
Nguyên tắc thứ hai là giữ vững nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cuộc tranh luận nội bộ cho thấy có nhiều quan điểm song song cùng tồn tại. Một trong số đó là quản lý nền kinh tế theo quy luật thị trường, cho phép cạnh tranh để tăng hiệu quả của nền kinh tế. Theo quan điểm này, các doanh nghiệp nhà nước sẽ phải cạnh tranh về vị thế như mọi người chơi khác trên thị trường mà không có những đặc quyền chính trị. Quan điểm thứ hai là duy trì vai trò của chính phủ trong những lĩnh vực chủ chốt bằng cách định hướng phát triển cho những tập đoàn lớn. Đây không hẳn là vấn đề về mức độ can thiệp của chính phủ mà là về trọng tâm và chất lượng của sự can thiệp đó. Quan điểm chủ đạo cho rằng các doanh nghiệp nhà nước là công cụ cho sự ổn định nền kinh tế vĩ mô, cho phép chúng hoạt động hiệu quả. Có vẻ như các chuyên gia của Đảng đang cố gắng xác định những công cụ mà chính phủ có để quản lý nền kinh tế, và làm như vậy có nghĩa là duy trì đặc quyền của Nhà nước trong việc quản lý và phân bổ tài nguyên quốc gia.
Nguyên tắc thứ ba nằm trong việc duy trì một chính sách ngoại giao đa phương-đa dạng. Vụ giàn khoan HD-981 và áp lực của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông đã làm dấy lên suy đoán rằng Việt Nam sẽ từ bỏ chính sách quốc phòng “ba không” của họ và tìm cách hình thành một liên minh quân sự với Mỹ và các đồng minh của nước này. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ suy đoán này là sai lầm. Theo Nghị quyết số 28 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Ban Chấp Hành Trung ương Đảng tiếp tục tập trung vào nguyên tắc “đối tác và đối tượng.” Theo đó, những lực lượng cản trở sự phát triển của Việt Nam được coi là đối tượng, và những ai ủng hộ nó được coi là đối tác. Trung Quốc sẽ không được coi là đối tác hay đối tượng đơn thuần, mà là nửa đối tác nửa đối tượng.
Với những người có quan điểm bi quan (hay cực đoan) thì học thuyết sơ cứng của Đảng là một trở ngại cho cải cách trong tương lai và là gót chân Achilles có thể khiến Đảng mất đi ý nghĩa chính trị của nó trong nền chính trị Việt Nam. Với những người lạc quan, sự uyển chuyển đúng lúc là chìa khóa giúp Đảng Cộng sản Việt Namm vượt qua những thách thức mang tính then chốt. 2015 là năm quan trọng đối với sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, các nền tảng để xây dựng phát triển bền vững vẫn đang còn là một dấu hỏi. Là lực lượng lãnh đạo chính chị của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đang tìm cách cân bằng các yếu tố ảnh hưởng đến chế độ, bao gồm vai trò nhà nước, trị trường, người dân, các không gian dân sự và công cộng. Về quan hệ đối ngoại, thách thức là phải duy trì sự cân bằng trong quan hệ giữa các nước lớn trong bối cảnh đang diễn ra một sự chuyển dịch quyền lực khu vực.
Vậy nên, năm 2015 sẽ không chỉ là một thử nghiệm để xem liệu cách tiếp cận “uyển chuyển trong kiên định” có thể tiếp tục quản lý các thách thức sắp tới một cách hiệu quả hay không. Nó còn là một thử nghiệm cho các nhà lãnh đạo Bộ Chính trị đương nhiệm trong việc thể hiện những dấu ấn cuối cùng trong nhiệm kỳ này và bổ sung các yếu tố quan trọng cho đội ngũ lãnh đạo kế cận trong việc cạnh tranh và thành công trên cương vị của mình những năm kế tiếp.
Trương Minh Huy Vũ là nhà phân tích chính trị và ngoại giao, tập trung vào khu vực Đông Nam Á, và là giảng viên Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đã xuất bản nhiều bài báo trên nhiều tạp chí học thuật và chính trị, bao gồm Revista Brasileira de Política Internacional, East Asia Policy, E-International Relations, Global Asia và ASIEN. Bài viết thể hiện quan điểm của riêng tác giả.

Trung Quốc: “Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là cải tạo Đảng Cộng sản!”

pb-110701-china-communist-da-06.photoblog900
Tác giả: Trương Hiền Lượng | Giới thiệu & lược dịch: Nguyễn Hải Hoành
Lời giới thiệu của Dịch giả: Trương Hiền Lượng (张 贤 亮 , 1936-2014) là nhà văn, nhà thư pháp, nhà sưu tầm cổ vật, tác gia cấp I Nhà nước Trung Quốc (TQ), đảng viên Đảng Cộng sản TQ, tốt nghiệp đại học. Do có lý lịch gia đình “phản động”, năm 18 tuổi phải đi cải tạo lao động ở vùng núi Ninh Hạ. 1957 đăng báo bài thơ Đại Phong Ca, bị chụp mũ phái hữu, bị bắt giam và đưa đi cải tạo 22 năm, có thời gian phải đi ăn xin. Tháng 9/1979 được xoá án. Năm 1980 làm biên tập viên một tạp chí văn học, vào Hội Nhà Văn TQ. Từ 1981 chuyên sáng tác văn học và kiêm kinh doanh, có tài liệu nói ông sở hữu tài sản cỡ 100 triệu Nhân dân tệ (tương đương 12 triệu USD).
Trương Hiền Lượng từng làm Chủ tịch Hội Nhà văn Khu Tự trị Ninh Hạ, Ủy viên đoàn Chủ tịch Hội Nhà văn TQ và 6 khóa liền là Uỷ viên Trung ương Chính Hiệp TQ (tương đương TƯ Mặt trận Tổ quốc VN). Được Đài truyền hình Phượng Hoàng bình chọn là 1 trong 10 nhân vật tài trí lớn của Trung Quốc năm 2007 (tài ở đây là tài sản). Viết nhiều tác phẩm: truyện vừa như Nụ hôn đầu tiên, Nòi giống Rồng…, truyện dài: Phong cách đàn ông; Một nửa đàn ông là đàn bà; Quen với cái chết …, tuỳ bút, tản văn. Một số tác phẩm đã dịch ra 30 ngôn ngữ, có tiếng vang quốc tế. Một nửa đàn ông là đàn bà đã dịch ra tiếng Việt, rất được hoan nghênh, được coi là tiểu thuyết TQ đầu tiên đề cập thành công vấn đề sex.
Dưới đây là một phần trong bài “Tất cả bắt đầu từ sự giải phóng con người” của Trương Hiền Lượng viết nhân dịp TQ kỷ niệm 30 năm cải cách mở cửa [1978-2008]; bài gồm 6 phần, rất dài, ở đây chỉ lược dịch phần cuối cùng. Đầu đề bài dịch và các phần trong dấu [ ] là của người dịch.
***
…… Điều không ngờ là chưa đầy nửa năm sau, cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi “Bốn bức thư” được đăng trên tạp chí Văn nghệ Ninh Hạ [tiền thân của tạp chí Sóc Phương]. Tiếp đó tôi được bình phản [sửa lại án sai] và được “triệt để phục hồi danh dự”.
Ngày nay chúng ta nói công cuộc cải cách mở cửa khởi đầu từ sự kiện 23 hộ nông dân xóm Tiểu Cương tỉnh An Huy lấy máu viết bức huyết thư yêu cầu “Chia ruộng, làm riêng”, từ đó khởi động công cuộc cải cách mở cửa trong lĩnh vực kinh tế; nhưng theo ý kiến tôi thì tất cả bắt đầu từ sự giải phóng con người!
Năm 1976, Mao Trạch Đông qua đời; sau khi Bè Lũ Bốn Tên bị hạ bệ, trước tiên đã giải phóng những cán bộ bị đánh đổ trong Cách mạng văn hóa, sửa lại các “Vụ án oan, án giả, án sai” trong Cách mạng văn hóa, tiếp đó tiến hành sửa sai và xem xét lại các phần tử phái hữu và những người bị hãm hại trong mấy đợt phong trào chính trị. Cuối 1978, trong một ngày giá rét, rốt cuộc đã tháo “mũ địa chủ, phú nông, phản động, xấu” trên phạm vị nông thôn toàn quốc. Đây là một việc lớn trải rộng trên mảnh đất 9,6 triệu cây số vuông, làm thay đổi số phận hàng trăm triệu người.
Một loạt biện pháp nói trên tuy tiến hành khẩn trương song lại không trống giong cờ mở, vì vậy ngày nay những người trung niên, thanh niên không có ấn tượng sâu sắc, nhưng trên thực tế, nói về quy mô, số người, phạm vi diện tích đất và tính triệt để của sự giải phóng thì sự kiện thủ tiêu “Hệ thống phân biệt thân phận” và “Chế độ phân biệt thân phận”[1] đều đã vượt quá bất cứ đợt giải phóng nô lệ nào trong lịch sử loài người!
Đồng thời trên chân trời Trung Quốc mới đã xuất hiện tia sáng ban mai của ý thức nhân quyền. Bắt đầu từ đây mới có ngày hôm nay, sau ba chục năm.
“Hệ thống phân biệt thân phận” sụp đổ trong nháy mắt, “Chế độ phân biệt thân phận” nhanh chóng tan rã. Chỉ khi hàng trăm triệu dân thoát khỏi sự trói buộc của “thân phận” và “thành phần” thì mới có thể động viên được toàn thể quần chúng nhân dân tiến vào cải cách. Thử hỏi, nếu trong hàng trăm triệu dân nông thôn vẫn có sự khác biệt này nọ về “thân phận”, những chiếc “mũ” vẫn đội trên đầu hàng trăm triệu người, địa vị của con người ở nông thôn vẫn bất bình đẳng, thì sao mà có thể “Chia ruộng, làm riêng” và “Khoán hộ” được?
Nói về mặt kỹ thuật thao tác cũng không thể làm được! Chưa điều tra, tôi đã dám cả quyết nói: trong số 23 hộ nông dân viết bức huyết thư kia, khẳng định không có hộ nào là người của “thành phần địa chủ, phú nông, phản động, xấu” cả. Những phần tử ấy hồi đó còn bị loại ra ngoài. Kinh tế Trung Quốc cất cánh bắt đầu từ sự trỗi dậy của xí nghiệp hương trấn. Bạn có thể đi điều tra xem thế hệ thứ hai, thứ ba của các phần tử “địa chủ, phú nông, phản động, xấu” có tác dụng thế nào trong các xí nghiệp hương trấn; nhiều người trong số họ là cốt cán của các xí nghiệp hương trấn. Họ bò dậy từ mặt đất, giũ bỏ bùn đất trên mình, trí lực và năng lực tích lũy bao năm nay lập tức phát tiết ra, như vậy mới làm nên sự vẻ vang của xí nghiệp hương trấn.
Kinh tế dân lập cũng phồn vinh như thế. Từ những “người làm ăn giỏi”, “hộ cá thể”, “hộ mười nghìn đồng” sớm nhất cho tới các nhân vật trên bảng xếp hạng nhà giàu của tạp chí Forbes, hãy xem trong đó có bao nhiêu người “thân phận” xấu, “thành phần cao”. Nếu không trước hết phá bỏ “Chế độ phân biệt thân phận” thì Trung Quốc ngày nay [năm 2008] có thể trở thành nền kinh tế lớn thứ tư thế giới được chăng?
Những kẻ “tiện dân không thể tiếp xúc” đã thực sự trở thành những đứa “con của Thượng Đế” mà Gandhi nói. Họ là kẻ hưởng ích lợi sớm nhất của cải cách mở cửa, qua đó cũng là lớp người tiên phong của cải cách mở cửa.
Trước năm 1978, ban biên tập một tạp chí nào đó khi thấy bản thảo của bạn có thể dùng được thì họ đều phải gửi thư xin ý kiến đơn vị sở tại của bạn, dĩ nhiên trước hết phải kiểm tra “thân phận” của bạn. Sở dĩ tôi được cầm bút trở lại là nhờ việc đến năm 1978 khi gửi bài cho tòa soạn thì không cần phải chứng minh “thân phận” nữa.
Chỉ khi nào thoát khỏi “chế độ phân biệt thân phận” thì các nhà trí thức và hậu duệ đời thứ hai của họ từng bị chụp đủ loại mũ như “địa chủ, phú nông, phản động, xấu”, “học giả phản động”, “quyền uy học thuật phản động”, “9 cái thối cũ” mới có quyền phát ngôn, mới trở thành quân chủ lực của phong trào giải phóng tư tưởng!
Ngày nay các nhà bình luận văn học có thể nói “Văn học thời kỳ mới” của Trung Quốc chưa có tính nghệ thuật cao, thậm chí có thể báng bổ nó là một đống “rác rưởi văn học”, nhưng chính là “Văn học thời kỳ mới” đã mở ra bộ mặt phồn vinh của văn học hôm nay. Lớp nhà văn “8x” ngày nay không thể tưởng tượng nổi hồi ấy chúng tôi cần có lòng dũng cảm lớn thế nào để đột phá hết “vùng cấm” này đến “vùng cấm” khác. Chúng tôi đã mở đường cho thế hệ tiếp sau. Các nhà văn “Thời kỳ mới” từng là người phát ngôn thay cho dân chúng Trung Quốc. Chúng tôi đã nói ra những điều người dân muốn nói mà không dám nói, muốn nói mà nói không được hay. “Văn học thời kỳ mới” của Trung Quốc có thể không có địa vị cao lắm trong lịch sử văn học thế giới, song tác dụng thúc đẩy nó từng phát huy trong lịch sử Trung Quốc thì quyết không thể bị ai mạt sát. Trong tương lai, bạn đọc và các nhà bình luận văn học sẽ coi cái “văn học thời kỳ mới” theo cách gọi của Trung Quốc là một chương vẻ vang nhất của văn học Trung Quốc thế kỷ XX cho tới thế kỷ XXI.
Tôi có thể nói rằng, trong số các nhà văn Trung Quốc, tôi là kẻ phải mang vác gánh “thân phận”, “thành phần” nặng nhất, trải qua nhiều đau khổ nhất; cho nên tôi nhạy cảm nhất đối với “Chế độ phân biệt thân phận”. Sau khi tiểu thuyết “Cây xanh” của tôi xuất bản năm 1984, có đồng nghiệp châm biếm nói câu “đi trên thảm đỏ” trong tiểu thuyết ấy quá “dung tục” [tục khí]. Bạn thử nghĩ xem, đôi chân tôi hai lần bước qua đống người chết, đôi chân suốt hai chục năm chưa từng được xỏ bít tất ấy của tôi nay được đi lên tấm thảm đỏ trong tòa nhà Đại lễ đường Nhân dân Trung Quốc lẽ nào lại không có cảm giác đặc biệt ư? Thử hỏi các nhà văn cùng lứa tuổi với tôi, tuy chúng tôi đều bò dậy từ trong gian khó nhưng có ai suốt hai chục năm trời cả đến đôi bít tất cũng chưa được xỏ vào chân mình? Có điều, đôi chân nay được đi bít tất của tôi không hề tự mãn vì được “đi lên thảm đỏ” tham gia hoạt động chính trị, đôi chân ấy không hề làm nhụt nhuệ khí và dũng khí của tôi.
Trước khi đăng tiểu thuyết “Cây xanh”, năm 1983 tôi đã “đi lên thảm đỏ”. Một lần, trưởng ban Mặt trận Thống nhất hồi ấy là ông Diêm Minh Phục mời hơn chục vị Ủy viên Chính Hiệp thuộc giới văn học nghệ thuật mới bổ sung đến Trung Nam Hải tọa đàm. Phần lớn các vị ấy hiện nay đều đã qua đời. Lớp người hiện còn khỏe như tôi thì cái già cũng đã xồng xộc đến rồi, nhớ được còn có Phùng Ký Tài, Hà Sĩ Quang, Diệp Văn Linh. Các Ủy viên “chia ngôi chủ khách ngồi xuống”  trong một phòng họp to đẹp bề thế (nay nhớ lại thấy cũng bình thường) của Trung Nam Hải. Tôi vừa bò ra từ nông trường lao động cải tạo không lâu, đối với tôi ba chữ Trung Nam Hải là nơi có thể mong mỏi mà không thể đến được, tương tự như những nơi “hoàng cung”, “triều đình”, ấy thế mà hôm nay tôi nghiễm nhiên chiếm được một chiếu ở đây, sự khác nhau một trời một vực có ý nghĩa thật sự đó khiến tôi vô cùng xúc động.
Trước tiên Trưởng ban Diêm nói mấy lời khách sáo: Mời các vị nói thoải mái và làm quen với nhau, sau đó lắng nghe với tinh thần hạ mình trọng dụng hiền tài phát biểu của mỗi vị. Nhờ thái độ khiêm tốn hòa nhã của Trưởng ban Diêm nên mọi người không thấy có gì gò bó lắm. Hồi ấy, vấn đề bức thiết nhất trong giới văn nghệ là “Dẹp loạn, khôi phục trật tự” và “Sửa sai các vụ án oan, án giả, án sai”, đa số các phát biểu đều triển khai xung quanh đề tài này, hăng hái phản ảnh các hiện tượng chưa chấp hành chính sách, quan niệm còn chịu ảnh hưởng xấu của tư tưởng “Hai phàm là” tồn tại trong đơn vị và địa phương mình. Trưởng ban Diêm ghi chép lại tất cả các ý kiến ấy và đôi lúc xen vài câu hỏi. Đến lượt tôi, Trưởng ban Diêm hòa nhã gật đầu nói: “Xin được nghe đồng chí Trương Hiền Lượng có ý kiến gì muốn nói.”
Không ngờ tôi vừa mở miệng đã nói:
“Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là cải tạo Đảng Cộng sản!”
Tôi hoàn toàn không để ý tới vấn đề chấp hành chính sách, là vấn đề khẩn cấp bức thiết nhất, mà trực tiếp nói toạc ra cái cốt lõi của vấn đề. Tôi nói:
“Chúng ta muốn xây dựng hiện đại hóa XHCN mà lại vẫn dựa vào một Đảng có nông dân chiếm đa số thì sẽ không thể nào hoàn thành được nhiệm vụ đó. Cải tạo Đảng Cộng sản chủ yếu là thay đổi cơ cấu đảng viên của Đảng Cộng sản, phải cải tạo một Đảng nông dân chiếm đa số thành một Đảng trí thức chiếm đa số. Chúng ta phải ra sức hấp thu các nhà trí thức vào Đảng. Chỉ khi nào trí thức đã chiếm đa số trong Đảng thì chúng ta mới có khả năng xây dựng hiện đại hóa XHCN được.”
Nét mặt những người dự họp đều hiện lên vẻ kinh ngạc. Tôi để ý thấy trưởng ban Diêm cũng có cảm giác bất ngờ. Hồi ấy mà nói “cải tạo Đảng Cộng sản” không những có nghĩa là xa rời đạo lý [li kinh bạn đạo] mà thực ra có thể gọi là cách nói “đại nghịch bất đạo”.
Tiếp đó tôi nói:
“Những người cộng sản chúng ta có ý chí cải tạo xã hội, cải tạo thế giới và thế giới quan của con người, tại sao lại không thể cải tạo chính mình? Chúng ta cần phải có dũng khí cải tạo chính mình. Chỉ khi nào chúng ta không ngừng tự thân cải tạo mình thì chúng ta mới có sức mạnh và năng lực để cải tạo thế giới và xã hội.”
Không cần khích lệ, cũng không cần chuẩn bị trước gì cả, chỉ cần cho tôi một diễn đàn là tôi sẽ nói dõng dạc, trôi chảy, không sợ gì hết. Từ đó trở đi đã 25 năm liền tôi liên tục giữ chức vụ Ủy viên Chính Hiệp toàn quốc các khóa 6, 7, 8, 9, 10, cho tới nay do quá tuổi nên rút ra. “Kẻ tiện dân không thể tiếp xúc” biến thành “con của Thượng Đế” và hướng lên “Thiên đường”.
Tôi nghĩ rằng lời phát biểu của mình ở Trung Nam Hải được nói trót lọt và tôi không bị quở trách thì đã được coi là may mắn. Không ngờ hai tháng sau, một hôm tôi nhận được điện thoại của đồng chí Lưu Đức Nhất Vụ trưởng Vụ Văn nghệ Ban Tuyên truyền Khu tự trị Ninh Hạ chúng tôi, mời tôi đến Ban Tuyên truyền “nói chuyện”. Khi đến phòng làm việc của anh thì thấy anh có vẻ rất thần bí rút từ ngăn kéo ra một tập giấy tờ, huơ qua trước mặt tôi và nói: “Bài phát biểu của anh tại hội nghị Chính Hiệp đã được đồng chí Hồ Diệu Bang [Tổng Bí thư ĐCSTQ hồi đó] viết lời phê đấy.” Anh chỉ cho tôi liếc qua một tí thôi, tôi cũng chỉ thấy đấy là một văn kiện đầu đỏ [tức văn kiện quan trọng] gì đấy gửi cho trường Đảng các cấp; lời phê liên quan tới phát biểu của tôi có một câu là: “Lời của tác giả này đáng chú ý ……” Tôi đang ngạc nhiên vì sao đồng chí Hồ Diệu Bang không gọi tôi là “tác gia” [nhà văn] mà gọi là “tác giả”, thì anh Lưu đã nhét tập giấy đó vào ngăn kéo và khóa lại.
Song cho dù thế nào đi nữa, trí thức vào Đảng đã trở thành phong trào của năm ấy, Tân Hoa Xã có đưa tin về việc này. Tại các trường đại học như ĐH Phúc Đán, ĐH Giao thông Tây An, Học viện Phát thanh Bắc Kinh, mỗi lần được mời đến các nơi ấy nói chuyện tôi đều lớn tiếng kêu gọi: “Bất kỳ ai có chí muốn thay đổi Trung Quốc thì đều phải tranh thủ vào Đảng Cộng sản Trung Quốc! Vì chỉ có vào Đảng Cộng sản thì bạn mới có vị thế [nguyên văn: vị năng và thế năng] để thay đổi Trung Quốc. Nền dân chủ của Trung Quốc sẽ bắt đầu cất bước từ dân chủ trong Đảng!”
Nền dân chủ của Trung Quốc sẽ bắt đầu cất bước từ dân chủ trong Đảng — câu nói ấy ngày nay đã được chứng thực. Hai chục năm trôi qua, Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng tiến với thời gian đã từ một Đảng cách mạng chuyển biến thành một Đảng cầm quyền. Chẳng những trí thức đã chiếm đa số trong Đảng mà rất nhiều chủ lực quân của nền kinh tế thị trường là các doanh nhân dân lập ưu tú cũng đã vào Đảng. Đây là một thay đổi căn bản, chứng minh Đảng Cộng sản Trung Quốc có dũng khí “tự cải tạo” không biết sợ. Quý trọng sinh mạng, nhân quyền và tự do — những giá trị quan cơ bản ấy của loài người đã dần dần thay cho những lý tưởng rỗng tuếch thoạt nhìn cực kỳ thu hút nhân tâm mà thực ra là phản khoa học. Con người ta cần có lý tưởng, song phải là lý tưởng phù hợp quy luật khoa học.
Thế nhưng trong hình thái xã hội mới, làm thế nào để dọn dẹp lại nền văn hóa truyền thống đã bị hủy hoại gần hết, làm thế nào để hấp thu các giá trị phổ quát của xã hội loài người, để xây dựng một kiến trúc thượng tầng thích hợp với cơ sở kinh tế của chúng ta, để tạo dựng tinh thần nhân văn phù hợp trào lưu hiện đại — đây vẫn là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn.
Đồng thời lại xuất hiện các tầng lớp xã hội dưới hình thức khác, hơn thế lại thể hiện rất rõ ràng và nổi bật: đã hình thành một sự phân biệt “thân phận” và “thành phần” có tính ẩn giấu. Chúng ta cần làm gì để xây dựng được một cơ chế hoàn toàn mở giữa các tầng lớp xã hội và có thể trên mặt thể chế, chứ không phải lại dùng cách thuyết giáo rỗng tuếch để ngăn ngừa Đảng cầm quyền biến thành tầng lớp đặc quyền, trên phương diện chế độ bảo đảm “không phân biệt tầng lớp, không phân biệt xuất thân, không phân biệt tài sản, lựa chọn từ trong nhân dân ra những người ưu tú” đưa họ vào tập đoàn lãnh đạo, và kịp thời bãi miễn, triệt hoán những quan chức vô đức, vô tài lại vô sỉ — điều đó còn đòi hỏi chúng ta phải cố gắng nhiều nữa.
Cơn bão táp giải phóng tư tưởng ba mươi năm trước thực ra bắt đầu từ sự giải phóng con người. Mác nói: Chỉ có giải phóng toàn nhân loại thì bản thân giai cấp vô sản mới được giải phóng. Nhưng sau khi giành được chính quyền rồi thì giai cấp vô sản quyết không tái sử dụng thủ đoạn bạo lực để “giải phóng” những người khác; mục đích của “cách mạng vô sản” quyết không phải là vĩnh viễn duy trì địa vị “vô sản” của mình, mà là thông qua nhiều hình thức kinh tế, kể cả chế độ cổ phần, để làm cho chính mình và tất cả mọi người đều “hữu sản” (Chủ nghĩa cộng sản “là sự phục hồi chế độ sở hữu cá nhân trên một hình thức cao hơn” — Mác).[2] Từ xưa, Hê-ghen đã nhận định: “Nói cho đến cùng, nhân quyền chính là quyền tài sản.” Chỉ khi nào toàn dân đều “hữu sản” thì đông đảo nhân dân mới được hưởng nhân quyền và sự tôn trọng. Bởi vậy “cùng giàu” mới là mục tiêu chúng ta phải phấn đấu, mà trong tình hình mấy trăm triệu nông dân Trung Quốc còn chưa giành được quyền sở hữu ruộng đất thì nhiệm vụ của chúng ta còn rất nặng nề./.
Nguyễn Hải Hoành  lược dịch.
Bản gốc tiếng Hoa: 张贤亮撰文纪念改革开放三十年:一切从人的解放开始
—————
[1] Trong tiếng TQ, từ thân phận có thể hiểu là lý lịch. tư cách, địa vị xã hội (ND).
[2] Chúng tôi chưa tra cứu được nguồn gốc câu này, nhưng trong Tuyển tập C.Mác—Ph.Ăng-ghen, NXB Sự Thật, Hà Nội 1980, tập I, tr. 562 có câu “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu tài sản xã hội mà chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” (ND).

Trung Quốc với AIIB

AIIB_logo-2
Tác giả: Trương Minh Huy Vũ & Phạm Sỹ Thành
Ngân hàng Đầu tư hạ tầng châu Á (AIIB) là một cơ hội để Trung Quốc xây dựng vai trò lãnh đạo của mình. Tuy nhiên, AIIB cũng thử thách năng lực điều phối các vấn đề mang tính quốc tế của Trung Quốc.
Những câu hỏi về quản trị và điều phối
Trước hết, cho đến nay, dường như nội bộ Trung Quốc vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn về mục tiêu, vai trò và cách thức vận hành của AIIB. Những tuyên bố trái chiều phát đi từ Trung Quốc về việc quốc gia này có giữ quyền phủ quyết trong AIIB hay không đã cho thấy điều đó. Hay như những tranh luận về việc AIIB nên là một định chế đa phương, đóng vai trò như một ngân hàng phát triển của khu vực hay là một định chế do Trung Quốc chi phối và phục vụ cho các nhu cầu của Trung Quốc.
Những ghi nhận từ cuộc tranh luận nội bộ của nước này cho thấy vẫn đang có sự giằng co giữa các ý kiến khác nhau về cả mục tiêu, lẫn phương thức quản trị mà AIIB hướng đến. Nghiên cứu của một học giả Trung Quốc chỉ ra: có ý kiến cho rằng AIIB cần phục vụ chương trình kinh tế (và chính trị) của Trung Quốc, tăng cường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ liên quan tới phát triển cơ sở hạ tầng cùng với chiến lược “Một vành đai, một con đường”. Theo đó, những quốc gia không tôn trọng Trung Quốc hay có những vấn đề chính trị-an ninh với nước này sẽ nhận được ít vốn hơn.
Với những dự án có chu kỳ vốn dài, lãi suất thấp, có nghi ngại AIIB và cả Quỹ con đường tơ lụa 40 tỉ đô la Mỹ của Trung Quốc sẽ là một “ngân hàng vốn rẻ” để dùng cho các mục đích chính trị dựa trên các dự án đầu tư của Trung Quốc. Từ hai mục đích chính: (1) gia tăng ảnh hưởng chính trị và thực thi chính sách (2) lấy tài nguyên đổi cơ sở hạ tầng, Trung Quốc không tiếc tiền đổ vào các dự án đầu tư, đồng thời cung cấp cả công nhân và máy móc thiết bị (lạc hậu).
Hậu quả tất yếu là các dự án này không đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường và an ninh xã hội. Như trường hợp Myanmar với ba dự án: nhà máy thủy điện Myitsone trị giá 3,6 tỉ đô la Mỹ (2011); mỏ đồng Letpadaung trị giá 1 tỉ đô la Mỹ (2014) và đường ống dẫn dầu khí đốt Shwe trị giá 5 tỉ đô la Mỹ (2014) – đóng vai trò chiến lược trong việc giảm phụ thuộc của Trung Quốc vào đường vận chuyển qua eo Malacca. Cả ba dự án này đều gây tác động tiêu cực tới môi trường và xã hội địa phương, gây nên làn sóng phản đối rất lớn trong nội bộ Myanmar. Thậm chí dự án đường ống Shwe còn dẫn đến xung đột giữa các nhóm thiểu số và quân đội. Hai dự án thủy điện và mỏ đồng hiện đã bị hủy, còn dự án Shwe vẫn đang được xem xét cùng với hàng loạt dự án gây tranh cãi khác của Trung Quốc.
Tiếp theo, về mặt mô hình, AIIB đối diện với một loạt vấn đề liên quan đến quản trị. Chẳng hạn, cơ cấu quản trị nội bộ của AIIB sẽ tạo ra sự phân cấp quyền lực như thế nào? Theo gợi ý của ông Lâu Kế Vĩ, Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc, đây có thể là một mô hình quản trị ba cấp giống như mô hình quản trị của một công ty hiện đại, với quyền lực cao nhất thuộc về ban quản trị (có vai trò như hội đồng quản trị của công ty). Nhưng quyền lực và cơ cấu của ban quản trị như thế nào đến nay vẫn chưa được làm rõ. Bởi lẽ, để xác định được điều này, AIIB cần tự mình đề xuất được một mô hình phân chia quyền lực và lợi ích có khả năng làm hài lòng các bên liên quan chủ chốt. Các lý thuyết quản trị công ty hiện đại chỉ ra rằng sự tồn tại của cơ cấu quản trị chỉ thực sự phát huy được hiệu quả khi cơ cấu quản trị đó phù hợp với cơ chế quản trị. Nói cách khác, sự tồn tại của một mô hình phân cấp ba tầng nấc phải dựa trên việc xác định được vai trò, quyền hạn và lợi ích của từng cấp trong đó.
Ở góc độ này, AIIB đang vấp phải hai vấn đề cần làm rõ: (i) cơ chế góp vốn (để hình thành nên quyền và lợi sau này) sẽ như thế nào; và (ii) quyền bỏ phiếu sẽ được xác định ra sao? Về cơ chế góp vốn, Trung Quốc có thể sử dụng dự trữ ngoại tệ hơn 3.800 tỉ đô la Mỹ của mình hoặc phát hành các trái phiếu đặc biệt để huy động vốn cho AIIB. Nhưng các quốc gia khác (đặc biệt là các nước đang phát triển) không có được khả năng tài chính như vậy để đóng góp vốn. Nếu Trung Quốc lại cho các quốc gia này vay vốn đề đóng góp vào AIIB thì quyền lực thực sự của các quốc gia (cổ đông) nhỏ là hầu như không đáng kể, và lợi ích của họ có thể dễ dàng bị bỏ qua trong quá trình định hình các quyết sách.
Ý tưởng về quyền bỏ phiếu được xác định dựa trên quy mô GDP đã nhanh chóng bị bác bỏ khi mà cách thức này đem lại cho Trung Quốc tới 60% quyền bỏ phiếu trong AIIB. Bản thân Trung Quốc đã tuyên bố quốc gia này chỉ cần nắm giữ 30% quyền bỏ phiếu, nhưng con số này vẫn còn rất lớn nếu so với 25% của cả Nhật Bản và Hoa Kỳ trong ADB. Điều này sẽ làm giảm tính hấp dẫn của AIIB với tư cách một ngân hàng phát triển đa phương của khu vực, được điều hành vì các mục tiêu phát triển chung.
…và về “sức mạnh mềm”
Một thử thách tiếp theo với Trung Quốc trong việc vận hành AIIB là làm sao đảm bảo được tính minh bạch, các quyết sách ít can thiệp đến chính trị của các quốc gia nhận đầu tư. Trong lĩnh vực này Trung Quốc chưa có nhiều kinh nghiệm vận hành như Nhật Bản hay Hoa Kỳ bởi bản thân Trung Quốc chưa từng lãnh đạo hay thể hiện tiếng nói trong các vấn đề quản trị của khu vực và toàn cầu một cách thuyết phục.
Trong một tuần cao điểm dồn dập tin tức về AIIB, có nguồn tin được cho là từ một chuyên gia cao cấp của Trung Quốc tiết lộ Bắc Kinh sẽ từ bỏ quyền phủ quyết. Điều này đem lại hình dung một AIIB do Trung Quốc khởi xướng, nhưng không do Trung Quốc chi phối và bá quyền. Điều này phản bác hoàn toàn lập luận của các nhà quan sát phương Tây khi nói AIIB sẽ được dùng như một “ngân hàng chính trị hay theo đuổi phương châm đổi cơ sở hạ tầng để lấy tài nguyên”. Chưa tới ba ngày sau, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh phủ nhận quan điểm trên. Tuy vậy, bà cũng không nói liệu Trung Quốc sẽ tiếp tục theo đuổi quyền phủ quyết hay không.
Cuối cùng, thử thách lớn nhất mà Trung Quốc phải đối diện khi kêu gọi các nước tham gia AIIB là tình thế lưỡng nan khi có sự tham gia của các nước phương Tây có trình độ phát triển cao về tài chính tiền tệ như Anh, Thụy Sỹ, Luxembourg, Úc… Sự tham gia của các nước này vào ban quản trị (nếu có) rõ ràng đem lại một hy vọng lớn cho tính minh bạch, sự hiệu quả, năng lực giải trình cao cho quá trình ra quyết sách của AIIB.
Nhưng nó sẽ đặt Trung Quốc trở lại với tranh luận nội bộ ban đầu của mình: vậy thì cuối cùng AIIB sẽ là một định chế đa phương phục vụ các mục tiêu khu vực hay một định chế được Trung Quốc lèo lái nhằm phục vụ các mục tiêu của mình?
Nếu để AIIB tự diễn tiến thành một cơ chế hợp tác đa phương và hoạt động theo cơ chế bình đẳng để nhấn mạnh sự khác biệt với mô hình IMF mà Mỹ “bá quyền”, Trung Quốc có thể sẽ đánh mất một trong những sáng kiến quan trọng nhất của mình. Nếu buộc AIIB phải phát triển theo ý muốn của mình, Trung Quốc sẽ khiến AIIB mất đi tính hấp dẫn ban đầu và gây phản tác dụng, đồng thời làm giảm động lực của các thành viên vốn ủng hộ sự vận hành của các cơ chế dựa trên các chuẩn mực của luật lệ quốc tế.
Như vậy, việc thành lập AIIB và ngay cả việc các nước ồ ạt tham gia là một tin tốt. Ngay khi Trung Quốc dưới sự điều hành của thế hệ lãnh đạo thứ năm mong muốn định hình trật tự thế giới mới, thì thông qua quá trình tham gia sâu rộng hơn vào cơ chế hợp tác đa phương, chính thế giới sẽ giúp điều chỉnh và kéo Trung Quốc trở về thực tế hơn so với các mục tiêu tham vọng của mình.
TS Trương Minh Huy Vũ công tác tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM. TS. Phạm Sỹ Thành là Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Trung Quốc thuộc VEPR, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nhật – Trung – Hàn và vận mệnh chung của Đông Bắc Á

0,,18332694_303,00
Nguồn: Christopher R. Hill, “Northeast Asia’s Shared Destiny”, Project Syndicate, 26/3/2015.
Biên dịch: Lê Hoàng Giang | Hiệu đính: Phạm Trang Nhung
Cuộc gặp của các ngoại trưởng Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản tại Seoul vào tuần trước để bàn luận về khả năng hợp tác trong một số lĩnh vực, từ chống chủ nghĩa khủng bố đến ô nhiễm không khí, là cuộc họp đầu tiên của họ sau gần ba năm. Nhưng, ngoài việc đồng ý sẽ tổ chức một hội nghị thượng đỉnh giữa ba bên vào “thời điểm thuận tiện sớm nhất”, vấn đề chủ chốt mà cả ba nước phải đối mặt vẫn chưa được giải quyết: Liệu các nước này có thể giải quyết – hay ít nhất là tạm gác lại – những tranh chấp lãnh thổ và lịch sử giữa họ để theo đuổi lợi ích chung hay không?
Trung Quốc chắc chắn hy vọng là có, ít nhất là khi xét đến Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (Asia Infrastructure Investment Bank – AIIB) do họ khởi xướng, một nỗ lực được che đậy qua loa nhằm thúc đẩy và kích thích ngành công nghiệp xây dựng của Trung Quốc. Nhưng trong vấn đề này, Nhật Bản và Hàn Quốc tỏ ra khá dè dặt, họ chỉ lịch sự đồng ý rằng sẽ cân nhắc lời mời tham gia vào AIIB của Trung Quốc. Cả hai nước đều nhận thức rõ ý nghĩa của việc tham gia vào một sáng kiến sẽ làm suy yếu Ngân hàng Phát triển Châu Á và thậm chí cả Ngân hàng Thế giới, mặc dù Hàn Quốc đã tuyên bố nước này có ý định gia nhập.
AIIB được hình dung như là một ngân hàng phát triển đi ngược lại xu thế chung, triển khai các dự án cơ sở hạ tầng mà không phải qua nhiều thủ tục hành chính và không cân nhắc đến các yếu tố xã hội hay môi trường. Nhưng để AIIB đạt được những mục tiêu đầy tham vọng đã đề ra, trong đó bao gồm tái xây dựng Con đường Tơ Lụa cổ đại giao thương với châu Âu, thì Trung Quốc sẽ phải vượt qua nhiều trở ngại hơn là sự miễn cưỡng của những nước láng giềng. Trung Quốc sẽ phải đấu tranh với sự thiếu kiên nhẫn ngày càng gia tăng của chính người dân nước mình trước những viễn cảnh hoành tráng.
Đối với công chúng Trung Quốc, những nỗ lực tập thể to lớn không quan trọng bằng những thứ như là vỉa hè hay xe bus cho con cái họ đến trường an toàn. Khi quá trình đô thị hóa lộn xộn của Trung Quốc dần dần biến những đoạn đường ngắn gọn, giản đơn thành những hành trình phiêu lưu kéo dài và đầy mạo hiểm, thì việc giải quyết những yêu cầu đó ngày càng đòi hỏi thêm sự quan tâm chú ý từ phía chính phủ.
Giới chức Trung Quốc cũng đang phải gắng sức chịu đựng những thôi thúc đầy xung đột về tình trạng an ninh quốc gia đang gia tăng của họ. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã không coi trọng hầu hết những mối quan hệ của mình trong khu vực, đơn phương có những hành động gia tăng căng thẳng với các nước láng giềng. Trung Quốc có thể cải thiện những mối quan hệ này – nhưng chỉ khi nước này xử lý được những vấn đề lịch sử là nguồn gốc của nhiều cuộc xung đột hiện nay.
Xét đến mức độ sâu rộng của những vấn đề này, những cuộc thảo luận ba bên đã bị trì hoãn kéo dài giữa Trung Quốc với Nhật Bản và Hàn Quốc không chỉ cần tập trung vào hợp tác phát triển hay thậm chí là phòng chống khủng bố. Những cuộc thảo luận này còn phải hướng đến xây dựng được ý thức rằng cả ba nước đều có chung một vận mệnh, dù bên ngoài có vẻ xung khắc với nhau đến mức nào. Quả thực là tương lai của cả ba nước sẽ gắn kết chặt chẽ với nhau không kém gì quá khứ của họ. Các nhà lãnh đạo của các nước này càng nhận ra điều này và có trách nhiệm về tương lai chung sớm bao nhiêu thì cơ hội cho họ thoát ly dứt điểm khỏi những xung đột và hiềm khích lịch sử càng lớn bấy nhiêu.
Mỗi một nước sẽ đều phải đóng một vai trò nhất định trong nỗ lực này. Đối với Nhật Bản, điều cấp bách nước này phải làm là tiếp tục đóng vai trò như một động cơ phát triển trong khi xây dựng một nền kinh tế hậu công nghiệp ngày càng phụ thuộc vào các nước kia, xét đến cơ cấu dân số đang già đi và thu hẹp lại của nước này. Các thương hiệu có tính biểu trưng của Nhật Bản cũng đã trở nên quốc tế hóa hơn bao giờ hết.
Trong khi đó, giống như nhiều hệ thống chính trị khác trên thế giới, hệ thống chính trị của Nhật Bản phải dung hòa được những nhu cầu nội địa với việc xây dựng quan hệ ngoại giao – một việc không hề dễ dàng, khi mà chủ nghĩa dân tộc đang lên tại Nhật cũng đã khơi dậy những nghi ngại từ các nước láng giềng. Nhật Bản cũng phải đáp ứng được kì vọng của những đồng minh ở xa, đặc biệt là Hoa Kỳ, để có thể đảm nhiệm vai trò lớn hơn và bền vững hơn trong quản trị toàn cầu.
Còn Hàn Quốc, như thường lệ, bị mắc kẹt ở giữa. Trong lịch sử, cứ khi nào Trung Quốc và Nhật Bản không hành hạ lẫn nhau thì lại quay sang hành hạ Triều Tiên. Nếu xét việc những trải nghiệm đó ảnh hưởng đến người Triều Tiên sâu sắc đến nhường nào, thì có thể tha thứ cho việc đôi khi người Triều Tiên dường như ghi tâm khắc cốt quá mức về những lỗi lầm quá khứ, đặc biệt là những lỗi lầm mà người Nhật đã gây ra trong Thế Chiến II.
Nhưng không nên để cho thù hằn lịch sử sâu sắc che khuất đi thực tế là Hàn Quốc đang phải đối mặt với nhiều thách thức giống như Nhật Bản. Do cũng phải đối mặt với suy thoái nhân khẩu học, Hàn Quốc cũng đang cố gắng chuyển mình thành một nền kinh tế hậu công nghiệp được quốc tế hóa hơn. Về phần này thì cả hai nước có thể giúp được cho nhau rất nhiều.
Vai trò của Trung Quốc lại phức tạp hơn – phần nào vì nước này rõ ràng đang cạnh tranh với Hoa Kỳ để giành ảnh hưởng trong khu vực. Quả thực, dù ủng hộ cuộc gặp giữa ba nước nhưng Hoa Kỳ dường như cũng lo ngại rằng sự hợp tác thành công [giữa ba nước đó] sẽ làm suy yếu khả năng của Hoa Kỳ trong việc kiềm chế một Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh và bảo vệ những lợi ích của mình tại châu Á.
Hoa Kỳ không cần phải lo lắng. Trung Quốc hiểu rằng họ sẽ được lợi nhiều hơn từ một nền kinh tế Hoa Kỳ năng động và thịnh vượng so với từ quyền đánh bắt cá trên biển Đông hay quyền kiểm soát những hòn đảo hay bãi đá không người ở trên biển Hoa Đông.
Rõ ràng là điều này cũng có lợi cho những đồng minh của Hoa Kỳ là Nhật Bản và Hàn Quốc. Họ biết rằng Hoa Kỳ đã cho họ đòn bẩy ảnh hưởng trong quan hệ với Trung Quốc, không chỉ trong việc can ngăn thái độ ngày càng liều lĩnh của Trung Quốc trong các vấn đề an ninh mà còn trong việc xúc tiến các liên kết kinh tế và đầu tư cùng có lợi với người láng giềng khổng lồ này.
Tóm lại, sự hợp tác giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc có vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo tương lai chung của cả ba nước trong dài hạn. Nhưng sự hợp tác này sẽ chỉ có hiệu quả nếu các nước tập trung vào đúng vấn đề – và đó không phải AIIB.
Điều mà ba nước này, cùng với Hoa Kỳ, nên tập trung vào là tìm cách làm giảm mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên. Để làm được điều này, các nước phải hướng đến một vấn đề đã bị bỏ ngoài cuộc thảo luận gần đây nhất: hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD của Mỹ để bảo vệ Hàn Quốc khỏi những vụ phóng tên lửa của Bắc Triều Tiên bất hảo.
Sự tồn tại của hệ thống THAAD đang gây nên sự sợ hãi tại Trung Quốc. Nhưng việc thảo luận về hệ thống này có lý do đúng đắn. Trong khi truyền thông Hàn Quốc còn đang dự đoán xem liệu các ngoại trưởng Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã thảo luận về hệ thống lá chắn này chưa, thì một nhà ngoại giao Bắc Triều Tiên đã tự hào thông báo rằng nước ông ta đã thành công trong việc gắn thiết bị hạt nhân vào tên lửa.
Sự khoe khoang diễn ra vào thời điểm như vậy có lẽ không phải do chủ đích. Nhưng dù vậy thì đó cũng vẫn là một lời nhắc nhở hữu ích về cách Bắc Triều Tiên nhìn nhận quan hệ trong khu vực – và giải thích vì sao mà “thời điểm thuận tiện sớm nhất” để tổ chức cuộc họp thượng đỉnh ba bên là cấp bách hơn bao giờ hết.
Christopher R. Hill là cựu Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ về Đông Á. Ông cũng từng là cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Iraq, Hàn Quốc, Macedonia và Ba Lan, đặc phái viên Hoa Kỳ tại Kosovo, từng tham gia đàm phán Hiệp định Hòa bình Dayton, và là đàm phán viên chính của Hoa Kỳ với Bắc Triều Tiên từ năm 2005 đến 2009. Hiện tại ông đang là Hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế Korbel thuộc ĐH Denver, và là tác giả của cuốn sách Outpost (NXB Simon & Schuster, 2014).

Liệu Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á có thành công? -

asian-infrastructure-investment-bank-800x534
Nguồn: Kenneth Rogoff, “Will China’s Infrastructure Bank Work?”, Project Syndicate, 06/04/2015.
Biên dịch: Phạm Trang Nhung | Biên tập: Phạm Hồng Anh
Khi Trung Quốc khởi xướng một định chế tài chính quốc tế mới trị giá tới 50 tỉ USD là Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB), phần lớn các cuộc tranh luận đều tập trung vào những nỗ lực vô vọng của nước Mỹ nhằm ngăn chặn các nền kinh tế phát triển khác tham gia vào ngân hàng này. Có quá ít người chú ý đến việc tìm hiểu xem tại sao việc cho vay phát triển đa phương lại thất bại nhiều như thế, và liệu chúng ta có thể làm gì để tăng cường hiệu quả của hoạt động này hay không.
Có lẽ thành tựu nhất quán nhất của các cơ chế (viện trợ) phát triển đa phương là chúng đóng vai trò như các ngân hàng “tri thức” giúp các khu vực chia sẻ kinh nghiệm, các quy chuẩn chung, và tri thức kĩ thuật với nhau. Ngược lại, thất bại lớn nhất của chúng là việc cấp vốn cho các dự án hoành tráng đem lại lợi ích cho giới tinh hoa hiện thời, nhưng lại không cân nhắc đến các ưu tiên về môi trường, xã hội và phát triển một cách thích đáng.
Việc xây đập nước là một ví dụ lịch sử điển hình. Nhìn chung, người ta có xu hướng đánh giá quá cao các lợi ích kinh tế của những dự án cơ sở hạ tầng lớn ở các quốc gia vốn có thực trạng quản lý yếu kém và tham nhũng nặng nề, cũng như đánh giá thấp chi phí xã hội dài hạn của việc trả nợ – cho dù những khoản lợi nhuận thu được có trở thành hiện thực như triển vọng đặt ra hay không. Rõ ràng là AIIB đang đi theo chiều hướng rủi ro này.
Tuy vậy, các nước đang phát triển ở châu Á lại có nhu cầu cực kì lớn về cơ sở hạ tầng, và đã đến lúc Trung Quốc đóng vai trò lớn hơn trong các thể chế cho vay quốc tế. Hơn thế nữa, lập luận chính thức của người Mỹ rằng Trung Quốc nên đầu tư vào các thể chế hiện có như Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á, bởi vì một ngân hàng do Trung Quốc đứng đầu nhiều khả năng sẽ tồn tại các vấn đề về quản trị thì sặc mùi đạo đức giả. Quản trị tốt ư? Liệu Mỹ có sẵn sàng từ bỏ đặc quyền truyền thống của nước này trong việc lựa chọn Chủ tịch Ngân hàng thế giới hay không?
Tương tự, Mỹ lo ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng AIIB để tăng cường lợi ích về kinh tế và chính trị của mình. Nhưng bất kì ai thậm chí chỉ hơi quen thuộc với cách tiếp cận của nước Mỹ trong vấn đề cho vay đa phương đều biết rằng chẳng có quốc gia nào khôn ngoan hơn họ trong việc tận dụng quyền lực và ảnh hưởng của mình để giành lấy lợi ích chiến lược.
Khi tầm quan trọng của Trung Quốc trong trật tự thế giới ngày càng tăng, nước này cần có không gian để từng bước tiếp cận với vai trò lãnh đạo kinh tế toàn cầu. Nói thẳng ra, một ngân hàng cơ sở hạ tầng ở quy mô tương đối nhỏ có vẻ là một khởi  đầu khá tốt.
Bên cạnh đó, Trung Quốc hiện đang đổ tiền vào các nước đang phát triển, thường là qua các kênh không hề minh bạch. Nếu xét đến việc AIIB sẽ giúp bình thường hóa một phần viện trợ phát triển của Trung Quốc, và đặt nó dưới sự giám sát của các nước thành viên phát triển của ngân hàng mới này, thì sự tồn tại của ngân hàng này có thể xem là một bước đi tích cực.
Với xu hướng thử nghiệm và cải thiện liên tục của Trung Quốc, người ta thậm chí có thể kì vọng rằng nước này sẽ rút ra các bài học và vận dụng chúng vào việc cho các nước đang phát triển vay tiền. Biết đâu những ngân hàng đang tồn tại có thể học được điều gì đó thì sao.
Nhìn chung thế giới nên chào đón sáng kiến của Trung Quốc, nhưng câu hỏi thực sự là các nước đang phát triển ở châu Á cần loại viện trợ nào. Bất kì ai đã từng làm việc ở một quốc gia đang phát triển đều hiểu rằng: đối với tăng trưởng kinh tế, các thể chế yếu kém và kĩ năng quản trị tồi thường chính là những chướng ngại lớn hơn nhiều so với sự thiếu vốn. Và cho dù một dự án trên giấy tờ có vẻ tốt đẹp đến đâu thì trên thực tiễn cũng thường khiêm tốn hơn nhiều. Các chi phí luôn vượt xa mức dự tính ban đầu, và các nhà hoạch định thường đánh giá kĩ năng và tiền vốn cần thiết cho việc bảo trì và sửa chữa thấp đến mức khó chấp nhận được.
Theo tôi, thành tích của Ngân hàng Thế giới nằm ở chỗ tổ chức này có vai trò tích cực nhất khi giúp đỡ các quốc gia thông qua những cơ sở hạ tầng phát triển “mềm”: hỗ trợ về kĩ thuật và đóng vai trò như một ngân hàng tri thức toàn cầu. Trong khi đó, vai trò chính của ngân hàng này là cung cấp hỗ trợ về mặt tài chính lại có kết quả ít ấn tượng hơn. Ví dụ, ở chính Trung Quốc, tiền của Ngân hàng Thế giới có vẻ chẳng quan trọng lắm về mặt định lượng, nhưng nhìn chung Trung Quốc vẫn ghi nhận rằng ngân hàng này đã cung cấp những định hướng và thông tin hữu ích.
Trên thực tế, hoàn toàn có cơ sở chắc chắn để lập luận rằng viện trợ phát triển sẽ hiệu quả hơn nếu ở dạng viện trợ không hoàn lại, thay vì các khoản vay nhất định phải trả lại. Nếu vậy, các con số viện trợ có lẽ sẽ ít ấn tượng hơn, nhưng kết quả về lâu dài sẽ tốt hơn. Hơn thế nữa, thế giới hiện đang chìm ngập trong vấn đề thanh khoản, và thậm chí kể cả khi chính phủ không có đủ tiền, họ vẫn có thể thiết lập các quan hệ đối tác công-tư (PPP) để thực hiện các dự án thực sự có hiệu quả cao. Chính phủ có năng lực còn khan hiếm hơn nhiều so với tiền mặt.
Không may là, còn lâu người ta mới biết được liệu mô hình phát triển cơ sở hạ tầng của Trung Quốc có được nhân rộng trên toàn cầu hay không. Chính quyền trung ương vững mạnh của Trung Quốc đã đàn áp mọi sự phản đối của những người dân bị mất chỗ ở để giành chỗ cho những con đường, cây cầu và đập nước mới, và suốt nhiều năm qua đã ngó lơ các quan ngại về vấn đề môi trường và quyền lợi của công nhân. Đáng chú ý là những điểm này khá tương đồng với (cách làm của) Liên Xô cũ.
Một vài nước đang phát triển ở châu Á vận hành theo cách khác. Chẳng hạn, ở nước Ấn Độ dân chủ, người ta mất tám năm để xây lại sân bay Mumbai, bởi vì tòa án buộc chính phủ phải tôn trọng quyền của các chủ sở hữu đất ở khu vực ngoại ô.
Nếu xét đến di sản của các khoản vay và dự án đầy rẫy vấn đề do các ngân hàng cơ sở hạ tầng mà phương Tây điều hành cấp vốn, cũng là hợp lý khi đặt vấn đề xem xét sự cần thiết của việc thành lập một ngân hàng khác nếu các thể chế hiện hành không được cải tổ. Tuy nhiên, nếu AIIB xem bản thân mình chủ yếu là một ngân hàng tri thức, chứ không phải một công cụ cấp vốn, thì ngân hàng này có thể mang lại giá trị gia tăng thật sự. Chúng ta nên đánh giá AIIB qua cách ngân hàng này lựa chọn và hỗ trợ các dự án, chứ không phải qua số tiền mà nó cung cấp.
Kenneth Rogoff là giáo sư về Kinh tế và Chính sách công tại Đại học Havard, là chuyên gia kinh tế của Quỹ Tiền tệ Quốc tế từ năm 2001 đến 2003 và từng được trao giải thưởng về Kinh tế Tài chính của Ngân hàng Đức (Deutsche Bank) vào năm 2011. Cuốn sách mới nhất của ông là “This time is Different: Eight Centuries of Financial Folly,” viết chung với Carmen M. Reinhart.

Nhật Bản nên ảnh hưởng lên AIIB từ bên trong

AIIB
Nguồn: Tomoo Kikuchi & Takehiro Masutomo, “Japan should influence the Asian Infrastructure Investment Bank from within”, East Asia Forum, 18/03/2015.
Biên dịch: Đào Quỳnh Trang | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Nhật Bản nên nghiêm túc xem xét việc gia nhập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB) do Trung Quốc khởi xướng, bất chấp sự phản đối trong nước.
AIIB lần đầu tiên được đề xuất bởi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào năm 2013. Và đến tháng 10 năm 2014, Bắc Kinh đã thu nạp được 21 thành viên sáng lập. Việc đàm phán chi tiết hơn về cơ cấu quản trị của Ngân hàng dự kiến sẽ được hoàn thành khi ngân hàng chính thức đi vào hoạt động vào cuối năm 2015.
Một nhà cựu ngoại giao cấp cao của Nhật Bản dự đoán rằng AIIB có thể thất bại do các thể lệ kém và các dự án không sinh lời. Ông so sánh AIIB với các ngân hàng cho vay dưới chuẩn (subprime lender), cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các doanh nghiệp có kết quả hoạt động yếu kém nhưng có nhu cầu vốn cao.
Tuy nhiên, điều này không hẳn đã đúng. Nhật Bản cần nhận thức rằng họ chưa có đủ ảnh hưởng chính trị để ngăn chặn ngân hàng mới này. Hoa Kỳ được cho là đã gây sức ép lên các nước đồng minh để họ không tham gia vào sáng kiến này của Trung Quốc. Tuy nhiên, sau khi Indonesia và New Zealand quyết định tham gia AIIB, Australia vốn ban đầu còn do dự thì nay đã sẵn sàng tham gia và Hàn Quốc cũng đang nghiêm túc cân nhắc làm theo.
Nhật Bản dè dặt trong việc tham gia AIIB một phần vì nó có khả năng làm giảm tầm ảnh hưởng của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), vốn có người đứng đầu luôn là người của Bộ Tài chính hoặc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản. Cho đến nay, Nhật Bản và Mỹ là hai cổ đông lớn nhất của ADB.
Mỹ và Nhật Bản đã nên nỗ lực thông qua Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) để đáp ứng các lợi ích của Trung Quốc, và làm giảm sự thống trị của Nhật Bản trong ADB. Do không phản ánh được tiếng nói của các nền kinh tế mới nổi, các tổ chức này có nguy cơ bị gạt ra lề trong dài hạn.
Khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra năm 1997, Nhật Bản đã đề xuất thành lập Quỹ Tiền Tệ châu Á nhưng gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ phía Washington.
Sau đó, các nước châu Á đã tăng cường hợp tác tài chính xuyên biên giới. Các thị trường tài chính khu vực đang phát triển nhưng vẫn còn quá kém để có thể trở thành một kênh phân phối hiệu quả các khoản tiết kiệm dư thừa đến những nơi cần đầu tư phát triển trong phạm vi toàn châu Á.
Đến giờ, khi mà AIIB chuẩn bị được thành lập, Nhật Bản có thể và nên cố gắng tạo ảnh hưởng của mình từ bên trong. Singapore, nền kinh tế tiên tiến duy nhất trong số các thành viên sáng lập AIIB, hy vọng rằng có thể cùng với Nhật Bản tạo nên một số ảnh hưởng lên cơ cấu quản trị của AIIB.
Các mô hình xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc thông qua hỗ trợ phát triển không chỉ tạo nên phản ứng tiêu cực ở Châu Phi mà còn dẫn tới sự gián đoạn của các dự án như đập Myitsone ở Myanmar. Không phải là thành viên của OECD nên Trung Quốc không bị ràng buộc bởi các điều kiện nghiêm ngặt của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển của Tổ chức này.
Do đó, Nhật Bản có thể hỗ trợ bằng cách giúp xây dựng các thông lệ tốt nhất cho AIIB trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tái định cư cho người dân, tạo việc làm và bảo vệ nhân quyền.
Môi trường kinh tế vĩ mô xung quanh AIIB cũng cần được kiểm tra. Mục tiêu lớn hơn của Trung Quốc là giảm dư thừa công suất trong nước, tăng tính thanh khoản của đồng Nhân dân tệ ở nước ngoài, thúc đẩy chính sách “đi ra ngoài” của các doanh nghiệp nội địa, và sử dụng lượng dữ trữ ngoại hối khổng lồ của mình để mua các tài sản ở nước ngoài.
Dòng vốn FDI ra nước ngoài của khối doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc đang rất đáng lo ngại vì lợi nhuận trung bình mà nó đem lại thấp hơn so với khối doanh nghiệp tư nhân và thậm chí thấp hơn đáng kể so với chi phí vốn bỏ ra, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng. Các dự án đầu tư của AIIB vào lĩnh vực này có thể nhân rộng những thông lệ không hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc ra bên ngoài.
Trung Quốc đã nhanh nhẹn trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ sở hạ tầng rất lớn và cấp bách ở các nước đang phát triển, thay vì các quy trình dự án kéo dài mà các chủ cho vay khác yêu cầu.
Nhưng các chính quyền địa phương tại các quốc gia châu Á có thể yêu cầu tài trợ cho các dự án để mở rộng lợi ích chính trị của họ. Phương pháp tài trợ của Trung Quốc, cùng với các động cơ vô đạo đức của các đối tượng nhận đầu tư, có thể không có lợi cho việc chuyển vốn phục vụ phát triển bền vững trong khu vực
Việc Nhật Bản gia nhập AIIB cũng sẽ thúc đẩy lĩnh vực kinh doanh cơ sở hạ tầng của Nhật Bản thông qua việc tiếp cận với các thông tin và nguồn lực trong AIIB.
Kể từ năm 2010, Chính phủ Nhật Bản đã đẩy mạnh việc xuất khẩu dịch vụ cơ sở hạ tầng trọn gói, trong đó các doanh nghiệp nội địa sẽ tham gia tất cả các khâu, từ thiết kế cho đến tài trợ vốn.
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã cam kết tiếp tục nỗ lực này và tăng giá trị xuất khẩu liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng gấp 3 lần, đạt 30 nghìn tỷ yên (khoảng 247 tỷ USD) hàng năm trước năm 2020, tập trung chiến lược vào các nhà máy điện và đường sắt cao tốc.
Về mặt tài chính, Tập đoàn Japanese Exchange Group hướng đến mục tiêu trở thành trung tâm cơ sở hạ tầng của châu Á. Trong khi đó, các Ngân hàng thương mại của Nhật Bản đang mở rộng ra khắp khu vực châu Á và gia tăng sức mạnh trong việc tài trợ vốn cho các dự án.
Các nhà lãnh đạo thế giới tại Hội nghị Thượng đỉnh G20 ở Brisbane năm 2014 đã công nhận nhu cầu về cơ sở hạ tầng ở các quốc gia đang phát triển là một nguồn mới của tăng trưởng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Dựa trên ước tính của ADB, nhu cầu cơ sở hạ tầng ở châu Á trong giai đoạn 2010-2020 sẽ là 8.000 tỷ USD, vượt ngoài khả năng của ADB. Việc AIIB được thành lập có thể được xem như là bằng chứng cho rằng Trung Quốc cuối cùng đã trở thành một “thành viên toàn cầu có trách  nhiệm”.
Trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc ngày càng xấu đi. Nếu đặt các vấn đề về lịch sử và lãnh thổ sang một bên thì AIIB đem lại một cơ hội to lớn cho hai cường quốc lớn nhất châu Á cùng hợp tác trong lĩnh vực kinh tế nhằm cung cấp các hàng hóa công đến toàn bộ châu Á.
Tomoo Kikuchi là nghiên cứu viên cao cấp và Takehiro Masutomo là trợ lý nghiên cứu tại Trung tâm về châu Á và Toàn cầu hóa, Trường Chính sách Công Lý Quang Diệu tại Đại học Quốc gia Singapore.

AIIB và chủ nghĩa đa phương châu Á

GFX_AIIB
Nguồn: Joseph E. Stiglitz, “Asia’s Multilateralism”, Project Syndicate, 13/04/2015.
Biên dịch: Trương Thị Thanh Hiền | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đã sẵn sàng tổ chức các cuộc họp thường niên của mình, nhưng tin tức quan trọng trong quản trị kinh tế toàn cầu sẽ không xuất phát từ Washington trong những ngày sắp tới. Thật vậy, tin tức đó đã xuất hiện từ tháng trước, khi Vương quốc Anh, Đức, Pháp và Ý cùng với hơn 30 quốc gia khác trở thành các thành viên sáng lập của Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (AIIB). Với số vốn 50 tỉ USD, AIIB, được khởi xướng bởi Trung Quốc, sẽ giúp đáp ứng các nhu cầu lớn về cơ sở hạ tầng của châu Á vốn nằm ngoài khả năng tài trợ của các dàn xếp thể chế hiện nay.
Người ta nghĩ rằng sự thành lập AIIB, và quyết định ủng hộ nó của nhiều chính phủ, là lý do để tán thưởng rộng rãi. Và đối với IMF, Ngân hàng Thế giới và nhiều thể chế khác cũng vậy. Tuy nhiên, thật đáng ngạc nhiên là quyết định tham gia của các quốc gia châu Âu giàu có đã làm dấy lên sự giận dữ của các quan chức Mỹ. Thật vậy, một nguồn tin không rõ tên của Mỹ đã cáo buộc Vương Quốc Anh là “thường xuyên thỏa hiệp” với Trung Quốc. Hoa Kỳ đã bí mật gây áp lực lên các quốc gia trên thế giới để họ tránh xa thể chế này.
Thực tế, sự phản đối của Mỹ đối với AIIB mâu thuẫn với các ưu tiên kinh tế mà họ đã tuyên bố ở châu Á. Đáng buồn thay, đó có vẻ như là một ví dụ khác cho thấy sự thiếu tự tin của Mỹ về ảnh hưởng toàn cầu của mình đã lấn át luận điệu lý tưởng của họ – và lần này điều đó có thể phá hoại một cơ hội quan trọng để củng cố nền kinh tế đang phát triển của châu Á.
Bản thân Trung Quốc là một minh chứng cho việc mức độ đầu tư vào cơ sở hạ tầng có thể đóng góp vào sự phát triển. Tháng trước, tôi đã đến thăm các vùng xa xôi trước đây của nước này hiện nay đã thịnh vượng nhờ sự kết nối mà những khoản đầu tư như vậy mang lại – và do đó đã thúc đẩy dòng chảy tự do hơn của dân cư, hàng hóa và các ý tưởng.
AIIB sẽ mang lại những lợi ích tương tự cho các khu vực khác của châu Á, đào sâu thêm sự mỉa mai trong phản đối của Hoa Kỳ. Chính quyền Tổng thống Barack Obama đang ủng hộ các lợi ích của thương mại; nhưng ở các quốc gia đang phát triển, sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng là rào cản nghiêm trọng đối với thương mại hơn là các loại thuế quan.
Một nguồn quỹ như AIIB có lợi thế toàn cầu rất quan trọng: hiện nay, thế giới đang trải qua tình trạng tổng cầu không đủ. Thị trường tài chính cho thấy không đủ sức thực hiện nhiệm vụ xoay vòng tiền tiết kiệm từ những nơi mà thu nhập vượt quá mức tiêu dùng đến những nơi cần đầu tư.
Khi còn là Chủ tịch cục Dữ trữ Liên Bang Hoa Kỳ, Ben Bernanke đã nhầm lẫn khi mô tả vấn đề này là “sự dư thừa tiết kiệm toàn cầu.” Tuy nhiên trong một thế giới với nhu cầu về cơ sở hạ tầng lớn như vậy, vấn đề không phải là dư thừa tiết kiệm hay thiếu các cơ hội đầu tư tốt. Vấn đề là một hệ thống tài chính chỉ giỏi thao túng, đầu cơ và nội gián, nhưng lại thất bại trong nhiệm vụ cốt lõi của nó: điều tiết dòng tiền tiết kiệm và đầu tư ở quy mô toàn cầu. Đó là lý do tại sao AIIB có thể mang lại sự cải thiện dù nhỏ nhưng rất cần thiết cho tổng cầu toàn cầu.
Vì vậy chúng ta nên hoan nghênh sáng kiến của Trung Quốc nhằm đa phương hóa dòng vốn. Thực vậy, nó lặp lại chính sách của Mỹ trong giai đoạn hậu Thế Chiến II, khi Ngân hàng Thế giới được thành lập để đa phương hóa nguồn vốn dành cho phát triển, vốn chủ yếu đến từ Hoa Kỳ (một động thái cũng đã giúp tạo ra nhóm nhân viên dân sự quốc tế và những chuyên gia về phát triển hàng đầu).
Sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới đôi khi bị chi phối quá mức bởi ý thức hệ áp đảo; ví dụ, các chính sách Đồng thuận Washington về thị trường tự do được gán cho những nước nhận hỗ trợ thật sự đã dẫn đến phi công nghiệp hóa và làm giảm thu nhập ở vùng châu Phi hạ Sahara. Tuy nhiên, nhìn chung, sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đã hiệu quả hơn so với khi sự hỗ trợ đó không được đa phương hóa. Nếu những nguồn vốn này được chuyển thông qua cơ quan viện trợ của chính Hoa Kỳ, việc hoạch định chính sách sẽ chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi trong tư duy phát triển (hoặc không có sự suy nghĩ thấu đáo) từ chính quyền này đến chính quyền khác của Hoa Kỳ.
Các nỗ lực mới để đa phương hóa dòng vốn hỗ trợ (bao gồm cả sự hình thành của Ngân hàng Phát triển Mới của các quốc gia BRICS tháng Bảy năm ngoái) tương tự có thể góp phần đáng kể vào sự phát triển toàn cầu. Cách đây vài năm, Ngân hàng Phát triển Châu Á đã ủng hộ các ưu thế của chủ nghĩa đa nguyên mang tính cạnh tranh. AIIB mang đến một cơ hội để thử nghiệm ý tưởng đó trong lĩnh vực tài chính với mục đích phát triển.
Có lẽ sự phản đối của Mỹ đối với AIIB là ví dụ về một hiện tượng kinh tế mà tôi vẫn thường quan sát được: các công ty muốn cạnh tranh lớn hơn ở khắp mọi nơi ngoại trừ trong ngành của chính họ. Quan điểm này đòi hỏi một cái giá rất đắt: nếu như có một thị trường cạnh tranh hơn về các ý tưởng, thì Đồng thuận Washington vốn khiếm khuyết có thể đã không bao giờ trở thành một sự đồng thuận.
Sự phản đối của Mỹ đối với AIIB không phải là chưa từng có tiền lệ; thực tế, nó hơi giống với sự phản đối thành công của Hoa Kỳ đối với Sáng kiến Miyazawa Mới (New Miyazawa Initiative) hào phóng của Nhật Bản cuối những năm 1990, với đề nghị hỗ trợ 80 tỉ USD cho các quốc gia trong cuộc khủng hoảng Đông Á. Sau đó, cũng như hiện nay, không có vẻ gì là Hoa Kỳ sẽ cung cấp một nguồn tài trợ thay thế. Họ chỉ đơn giản là muốn sự bá quyền. Trong một thế giới ngày càng đa cực, họ vẫn muốn duy trì vị trí G-1. Sự thiếu hụt nguồn tiền, kết hợp với việc khăng khăng giữ những ý tưởng đầy thiếu sót về cách ứng phó với khủng hoảng của Mỹ, đã gây nên sự suy thoái kinh tế ngày càng sâu sắc và kéo dài hơn.
Tuy nhiên, sự phản đối của Hoa Kỳ đối với AIIB vẫn là điều khó hiểu bởi chính sách cơ sở hạ tầng ít chịu ảnh hưởng bởi hệ tư tưởng và các nhóm lợi ích đặc biệt hơn so với các lĩnh vực hoạch định chính sách khác, chẳng hạn như những lĩnh vực bị chi phối bởi Hoa Kỳ tại Ngân hàng Thế giới. Ngoài ra, yêu cầu bảo vệ môi trường và xã hội khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng có thể được giải quyết hiệu quả trong một khuôn khổ đa phương (như AIIB).
Vương Quốc Anh, Pháp, Ý, Đức và các quốc gia đã quyết định tham gia AIIB nên được tán dương. Người ta hy vọng rằng các quốc gia khác, ở cả Châu Âu và Châu Á, cũng sẽ tham gia, giúp thực hiện tham vọng rằng cải thiện cơ sở hạ tầng có thể nâng cao mức sống ở các nơi khác của khu vực, như đã diễn ra ở Trung Quốc.
Joseph E. Stiglitz từng nhận giải Nobel về kinh tế học và là Giáo sư giảng dạy tại Đại học Columbia. Ông từng là Chủ tịch Hội đồng tư vấn về kinh tế dưới thời Tổng thống Bill Clinton, là cựu Phó Chủ tịch và kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới. Cuốn sách mới nhất của ông, với đồng tác giả là Bruce Greenwalk, có tựa đề “Tạo dựng một Xã hội Học tập: một cách tiếp cận mới về Tăng trưởng, Phát triển, và Tiến bộ xã hội” (Creating a Learning Society: A New Approach to Growth, Development, and Social Progress.)
f

Thomas Clarkson – Người đấu tranh giải phóng nô lệ

clarkson-medium
Nguồn: Historic figures, BBC (truy cập ngày 27/4/2015)
Biên dịch & Hiệu đính: Phạm Hồng Anh
Clarkson (1760-1846) là một nhà hoạt động hàng đầu chống lại buôn bán nô lệ và vận động bãi bỏ chế độ nô lệ ở Anh và thuộc địa của Anh.
Thomas Clarkson sinh ngày 28 tháng 3 năm 1760 tại Wisbech, Cambridgeshire. Ông là con trai của một mục sư kiêm thầy giáo tại một trường dạy ngôn ngữ cổ (grammar school) ở địa phương.[1] Năm 1779, Clarkson theo học Đại học Cambridge. Ở đây ông đã giành giải nhất trong cuộc thi viết luận bằng tiếng Latinh, bàn luận về vấn đề liệu có hợp pháp không nếu ép người khác làm nô lệ trái với ý muốn của họ.
Trong chuyến đi từ Cambridge tới London vào tháng 6 năm 1785, điều làm Clarkson suy ngẫm không phải là cuộc thi viết luận hay là sự nghiệp tại nhà thờ đầy hứa hẹn đang chờ ông, mà đó là chế độ nô lệ. Clarkson rời yên ngựa và ngồi xuống bên lề đường làng Wadesmill, Hertfordshire, ông cảm thấy phải có người làm gì đó để chấm dứt chế độ nô lệ xấu xa này. Và đó cũng trở thành động lực trong suốt 61 năm còn lại trong cuộc đời ông. Ông dịch bài luận đoạt giải của mình ra Tiếng Anh và xuất bản năm 1786. Bài luận đã thu hút đông đảo sự chú ý và tạo điều kiện cho ông gặp gỡ nhiều người theo chủ nghĩa bãi nô khác, trong đó có Granville Sharp.
Năm 1787, Clarkson và Sharp đóng vai trò chủ chốt trong việc thành lập Hội đồng Bãi bỏ chế độ Buôn bán nô lệ Châu Phi. Rất nhiều thành viên trong số họ là người của phong trào Hội Ái hữu Tôn giáo (Religious Society of Friends). Hội đồng đứng ra thuyết phục William Wilberforce (thành viên nghị viện) ủng hộ mục đích bãi nô. Nhiệm vụ của Clarkson là thu thập thông tin để Hội đồng trình bày trước nghị viện và công chúng. Ông đã dành thời gian và công sức di chuyển khắp nước Anh, nhất là các bến cảng ở Liverpool và Bristol, tổng hợp các chứng cứ về buôn bán nô lệ từ các nhân chứng, đặc biệt từ các thủy thủ làm việc trên các con tàu buôn bán nô lệ.
Clarkson cũng mua sắm những công cụ sử dụng trên các con tàu chở nô lệ, như còng tay, xiềng xích và dấu sắt nung để làm ví dụ minh họa. Năm 1789, ông tới Paris để thuyết phục chính phủ mới của Pháp bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ nhưng bất thành. Từ năm 1791 đến 1792, anh trai của Clarkson là John tham gia thiết lập một khu định cư cho những cựu nô lệ ở Sierra Leone, phía tây Châu Phi.
Sau hàng năm trời những người như anh em Clarkson, Sharp, Wilberforce và nhiều người khác nỗ lực không ngừng, đến năm 1807 chế độ buôn bán nô lệ bị xóa bỏ tại các thuộc địa của Anh. Năm 1808, Clarkson xuất bản cuốn sách có tên “Lịch sử Bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ Châu Phi” (History of the Abolition of the African Slave Trade). Mặc dù tài sản đã bị thâm hụt, ông vẫn tiếp tục vận động đấu tranh xóa bỏ hoàn toàn chế độ nô lệ. Năm 1833, nghị viện Anh thông qua đạo luật Bãi bỏ chế độ nô lệ, trả lại tự do cho tất cả nô lệ ở thuộc địa.
Clarkson nghỉ hưu tại Ipswich và qua đời ở đây vào ngày 26 tháng 9 năm 1846.
—————–
[1] Grammar school trong hệ thống giáo dục của Anh trước cuối thời Nữ hoàng Victoria là những trường chuyên dạy các ngôn ngữ cổ, chẳng hạn như tiếng Latinh. Đến cuối thời Victoria (1837-1901) các trường này được tổ chức lại, đóng vai trò như các trường cấp 2 (secondary school) trong hệ thống giáo dục.

28/04/1977: Phiên tòa xét xử Phái Hồng quân kết thúc

2268
Nguồn: “Red Army Faction trial ends,” History.com (truy cập ngày 27/4/2015).
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Vào ngày này năm 1977, ở Stuttgart, Tây Đức, phiên tòa dài ngày xét xử các nhà lãnh đạo tổ chức khủng bố Băng đảng Baader-Meinhof, hay còn gọi là Phái Hồng quân (Red Army Faction – RAF), kết thúc với việc Andreas Baader, Gudrun Ensslin, và Jan-Carl Raspe bị kết tội giết 4 người và mưu sát 30 người khác. Các bị cáo đều phải lãnh án tù chung thân, hình phạt nặng nề nhất của Đức.
Phái Hồng quân được thành lập bởi những nhà cách mạng cực tả Andreas Baader và Ulrike Meinhof năm 1968. Ủng hộ cuộc cách mạng cộng sản ở Tây Đức, Phái Hồng quân đã sử dụng chiến thuật khủng bố để chống các nhà lãnh đạo chính phủ, quân đội, và doanh nghiệp, trong nỗ lực lật đổ chủ nghĩa tư bản tại quê hương của mình. Baader bị tống giam năm 1970 nhưng sau đó trốn thoát, còn Meinhof bị bắt năm 1972. Năm 1976, Baader bị bắt trở lại, Meinhof treo cổ tự tử trong buồng giam.
Trong suốt phiên xét xử Baader và những kẻ đồng phạm, một số thành viên RAF vẫn tiếp tục thực hiện chương trình bạo lực và ám sát của họ. Năm 1976, hai du kích phe Baader-Meinhof đã tham gia vụ không tặc của người Palestine nhằm vào một máy bay phản lực của Air France, Pháp, kết thúc bằng cuộc tấn công của người Israel nhằm vào sân bay Entebbe ở Uganda. Hai tên du kích người Đức nói trên đã bị hạ.
Tháng 4 năm 1977, Baader và những người khác phải nhận án tù chung thân. Sáu tháng sau, những kẻ khủng bố người Palestine đã cướp một chiếc máy bay của hãng hàng không Lufthansa, Đức, tới Somalia và yêu cầu thả tự do các thành viên Phái Hồng quân. Ngày 17 tháng 10, lính đặc nhiệm Tây Đức đã tấn công chiếc máy bay đó ở Mogadishu, thả những người bị bắt giữ và giết chết những tên không tặc. Ngày hôm sau, Baader và ba người khác được tìm thấy đã bị bắn chết trong tù, nghi là tự tử.
Bạo lực do Phái Hồng quân gây ra vẫn tiếp diễn cho đến năm 1992, khi tổ chức này chính thức chấm dứt chiến dịch khủng bố của mình. Sau này người ta điều tra ra rằng lực lượng công an mật của Đông Đức đã giúp đào tạo, vũ trang, và bảo vệ cho Phái Hồng quân trong suốt những năm 1970.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

Luận về tháng 4 Đen, 40 năm ngày Quốc Hận: 40 Năm Phục Hồi Hậu Chiến Việt Nam So Với Đức, Với Nhựt, Với Nam Hàn.


2015 MAR 14 market-economy.jpg BB 300
Đôi Lời Chia Sẻ 
Tuần cuối cùng của Tháng Tư Đen, gia đình chúng tôi, có truyền thống là toàn gia đình ăn chay. Ăn chay là ăn toàn rau xanh, không thịt cá thế thôi, không màu mè tương chao, đậu hủ, giả cầy, giả cá gì cả ! Ăn để nhớ cái đau thương của đời tỵ nạn. Ăn chay – nói theo phong tục Việt Nam – nghĩa là ăn qua loa, ăn để mà sống. Cơm khoai, bánh mì, rau xanh xà-lách, trái cây,…tóm lại,  végétarien. Gia đình chúng tôi cố giữ phong tục một gia đình Việt Nam ly hương để không quên quê hương nguồn gốc. Truyền thống, phong tục, trong nhà chúng tôi cố giữ cái Đạo Việt, giữ cái Bàn thờ Tổ Tiên.
Đối với chúng tôi, Tôn giáo, Đức Tin phần tâm linh, là Đạo (con đường giữ người) cá nhơn. Truyền thống gia đình, là văn hóa lễ nghĩa chung. Truyền thống đất nước là nguồn gốc chung, là Đạo (Con đường xử thế) Việt. Vì lẽ ấy Bàn Thờ Tổ Tiên phải có. Bàn thờ Tổ Tiên để nhớ nguồn gốc, thờ phượng Cha mẹ, Tổ Tiên, Đất Nước.
Hằng năm hai lần, trong gia đình chúng tôi, Bàn Thờ Tổ Tiên được thắp sáng. Lần đầu, từ ngày 15 tháng 12 dương lịch là ngày mất của Cha chúng tôi, từ nay là Ngày Hiệp Kỵ dòng họ Gia đình, đến ngày mồng 10 tháng giêng âm lịch mới tắt.
Lần thứ hai là thắp sáng từ ngày 30 tháng ba là Ngày Huế thất thủ – quê quán gốc của dònghọ Phan – đến ngày 30 tháng tư là Ngày Sài gòn mất và đất nước tiêu tùng. Một năm hai lần, một lần Vọng Nhớ Tổ tiên, Nguồn gốc, Cha mẹ – Ơn Đất Nước, Ơn Tổ Tiên. Một lần Nhớ Ngày Tang Dân tộc Ơn Đất Nước Nghĩa Đồng Bào.  Đó là Tứ Ơn : Đất Nước, Tổ Tiên, Đồng Bào và Trời Đất-Tôn Giáo.
Chúng tôi dạy con dạy cháu truyền thống Việt Nam, giữ Tứ Ơn :  Trước nhứt Đất Nước Việt Nam, thứ đến Tổ Tiên Việt Nam, Đồng Bào Việt Nam, còn Ơn cuối cùng, Ơn thứ tư là Ơn Tâm Linh-Tôn Giáo  tùy cá nhơn con cháu, Phật Chúa đều quý cả vì đó là Đạo, vì đó là Con đường xử thế, con đường giữ mình hằng ngày. Như vậy, Con người Việt gồm có Ba Ơn của Đạo Việt, và Đức Tin Tôn giáo cá nhơn để tu thân giữ mình.
Chúng ta, người Việt tỵ nạn Cộng sản từ 40 năm nay, sống đất người, hội nhập ít nhiều đất người, ngày nay sanh sống rải rác khắp nơi trên thế giới, tùy phong, tùy tục, nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục, sống sao cho hạp lòng người, sống sao cho phải đạo mình, đó thôi !  Có nơi có may mắn, tụ họp đông đủ được một cộng đồng, tạo lập được những nơi sanh hoạt giữ nề giữ nếp Việt, phong Việt, tục Việt,  Việt văn, Việt hóa. Nhưng cũng có vài nơi  xa xôi, vắng vẻ, nhưng nhờ đất lành chim đậu, vẫn dễ dàng để người Việt chúng ta sanh sống, sanh con đẻcái.
Sanh hoạt hằng ngày có vẻ như người bản xứ nhưng về nhà vẫn cố  giữ tục, giữ hồn người Việt. Hồn Người Việt là Tứ Ơn. Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã truyền dạy Giáo dân Phật Giáo Hòa Hảo. Chúng tôi tuy Tôn giáo Tin Lành, đọc Thánh Kinh, giữ lời Chúa, nhưng rất ngưỡng mộ lời dạy Đức Thầy, lấy Tứ Ơn làm kim chỉ nam giữ Đạo Việt, giữ hồn người Việt. Lời Chúa là Tâm Linh giữ Đạo, giữ Đức. Tôn giáo là Đức Tin, là lòng dạ cá nhơn, là lương tâm cá thể chỉ là một trong Tứ Ơn. Ba Ơn còn lại Ơn Tổ Tiên-Cha mẹ, Ơn Đất Nước- Quê hương, Ơn Đồng Bào ấy là linh hồn Việt.
Chúng tôi thường (ngưởng) ngưỡng mộ hai dân tộc và cách sống của họ : thứ nhứt là dân tộc Nhựt, ngày ra đường họ mặc âu phục làm việc, tổ chức làm việc rất Âu Mỹ. Tối về nhà, trong gia đình họ là người Nhựt, kimono, ngủ sàn. Dù Đạo Phật hay Đạo Chúa, nhưng vẫn thờ vái, cúng bái, tin tưởng những Kami, tổ tiên truyền thống…Sanh hoạt văn minh Âu Tây, nhưng linh hồn  văn hóa thì vẫn Nhựt Bổn.
Dân tộc thứ hai là dân Do Thái. Đạo Do Thái, có từ ngàn xưa, Thờ Chúa, Đấng Yê-Hô-Vah, giữ Đạo theo lời Chúa, nhưng có những tục lệ nề nếp để nhớ Ơn Xưa. Ngày nay dù 70 năm đã qua, người Do Thái vẫn hằng năm tưởng niệm Shoah Holocaust về những người Do Thái Âu Châu từng bị Nazi Đức sát hại.
Việt Nam ta, ngày Quốc Hận 30 tháng 4, đồng nghĩa với Shoah Do thái, thế mà có người – tuy là cựu nạn nhơn – vẫn đòi bỏ lên bỏ xuống ! Thay tên, đổi họ, mắc cở, hổ thẹn.     
Ngày mai, chế độ độc tài Công sản đương quyền thế nào cũng phải bị thay thế phải nhường quyền cho một chế độ Dân Chủ Pháp Trị. Mong rằng:
Ngày Quốc Hận cũng phải được duy trì và trân trọng.
Ngày Tang, ngày Đau, ngày Buồn ấy, sẽ là ngày Tổng hợp cho những cái đau thương của đất nước. Ngày Hiệp Kỵ cho những nạn nhơn của những cái tang tóc đau buồn đã qua :  Cải cách Ruộng đất, Mậu Thân Huế, Hoàng Sa, Trường Sa, các nạn nhơn của những cuộc pháo kích bừa bãi, những nạn nhơn đã bỏ mình, nạn nhơn của những cuộc chạy nạn, trong nước : đại lộ kinh hoàng năm 72, đường 19 năm 75, nạn nhơn của cuộc vượt biên khổng lồ  trên biển hay ở biên giới, nạn nhơn của những trại tập trung sau ngày mất nước, hay nạn nhơn của cả cuộc chiến Việt Cộng-Tàu Cộng  năm 1979… để Nhớ, để không Bao giờ Quên, không Bao giờ Lặp lại. Tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư để hằng năm Xá Tội Vong Nhơn, Tha Tội Lẫn Nhau.
Những Gương Sáng Xứ Người, sau 40 Năm Hòa Bình:
Thử nhìn lại, tổng kê tình hình Việt Nam, kết quả xây dựng của 40 năm hậu chiến.
Để làm việc ấy, đầu tiên chúng ta thử nghiên cứu hai bài học với ba gương sáng :
Bài học thứ nhứt, trường hợp hai quốc gia bại trận sau Thế chiến 2. Cả hai, sau năm 1945 hoàn toàn kiệt quệ. Nhựt  Bổn lãnh hai quả bom nguyên tử tàn phá tan tành hai thành phố Hiroshima và Nagasaki. Đức thì cả nước đổ nát, Berlin thủ đô, Dresden, Hambourg, những thành phố hoàn toàn bị thiêu rụi.
Bài học thứ hai, trường hợp Nam Hàn, Đại Hàn Dân Quốc, một quốc gia có một quá trình lịch sử tương tự Nam Việt  Nam, Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Đất nước Triều Tiên hay Hàn Quốc, cũng là một bán đảo, cũng hình chữ S, cũng bị chia hai, một bên chiếu theo vĩ tuyến 38, một bên thì vĩ tuyến 17. Cũng hai miền Nam Bắc, cũng hai chế độ hoàn toàn tương phản nhau. Hai Miền Bắc, Bắc Việt với Bắc Hàn, độc tài Cộng sản gia đình Con Ông Cháu Cha Đảng Trị và Kinh tế chỉ huy. Đối lại,  hai miền Nam, Nam Hàn và Nam Việt, chế độ Cộng Hòa Tự Do Dân Chủ Pháp Trị Hiến Định với nền kinh tế Tư Bản Chủ Nghĩa, thị trường Tự Do. Cả hai Nam Hàn và Nam Việt đều bị hai Miền Bắc Cộng sản xua quân cưởng chiếm, cả hai đều toàn dân nổi dậy tự vệ chiến đấu.
Nam Hàn may mắn hơn được cả Liên Hiệp Quốc ký Nghị Quyết ủng hộ. Nam Việt ta vô phước hơn, chỉ Huê kỳ và vài đồng minh chịu giúp đở mà thôi.
Nam Hàn có phước, Trung Cộng còn yếu ớt, chưa phải địch thủ của Huê Kỳ. Nam Việt ta vô phước, Trung Cộng đã được Huê Kỳ đi đêm tạo thế để chống Liên Sô, cho vào Liên Hiệp Quốc bằng cách hất cẳng Trung Hoa Tự Do Đài Loan ra. Nam Việt ta càng vô phước hơn, khi  Huê kỳ đi đêm với Trung Cộng, trước để xé cặp bài trùng Liên Sô Trung Cộng, sau để biệt lập Liên Sô hầu đem đến sự sụp đổ của Bức Tường Bá linh vào năm 1989, nhưng phản phé đồng minh Nam Việt trong chiến thuật be bờ, báo hại cả tới 3 triệu dân Nam Việt phải đành ly hương tỵ nạn. Nam Việt Nam làm con vật hy sanh trên bàn phé quốc tế.   
Nhựt bị chiếm đóng bởi Quân đội Mỹ, mặc dù Nhựt Hoàng vẫn được duy trì. Nhục nhã thay ! Các samourai oai phong, hào hùng ngày nào,  nay làm công làm thợ cho ngoại nhơn, các thiếu phụ, nữ nhơn đài các Nhựt phải làm Geisha để khách Mỹ  mua vui !
Đức tình trạng còn bi thảm hơn, bị xé làm bốn mảnh do bốn cường quốc phe thắng trận chiếm đóng. Ngay cả thủ đô Berlin, cũng bị chia làm bốn khu vực. Nhục nào cho bằng ! Hận nào cho bằng ! Dòng giống Aryen, các hiệp sĩ Teutons, các  anh hùng Walkyries hào hùng từ nay phải chăm chỉ phục vụ các thứ dân loại hạng hai, dòng giống lai căng kém văn hóa !
Việt Nam  năm 1975, trái lại, phe miền Bắc, phe Công sản quốc tế thắng phe Tự do Tư bản Chủ Nghĩa. Trên đất Việt, theo lý thuyết và nguyên tắc chánh trị không còn bóng ngoại quốc, chỉ có người Việt cai quản người Việt.
Tại Âu Châu, ngay sau Thế chiến vừa chấm dứt, lập tức một bức màn sắt rủ xuống phủ kín phía Đông Âu, trùm kín các quốc gia do Liên Sô Cộng sản và Hồng quân giải phóng với lý thuyết quản trị và cai trị kiểu (Công)  Cộng sản độc tài, kinh tế chỉ huy tem phiếu Đảng trị. Phía Tây Âu trái lại vẫn tiếp tục giữ nền sanh hoạt Tư bản Tự do, tư nhơn tư hữu, kinh thương, công nghiệp tự do, tự do đi lại, tự do ngôn luận, hàng hóa thông thương dư giả, giá cả theo nhịp cung cầu. Về mặt chánh trị, chế độ dân chủ hiến định pháp trị, bầu cử tự do mỗi người một lá phiếu, luật pháp phân minh, tam quyền phân lập…Nói tóm lại hoàn toàn dân chủ, công minh, rõ ràng, đa nguyên, đa đảng, quyền công dân, quyền con người được tôn trọng.
Tại Á châu, Nhựt hoàn toàn bị quân đội Mỹ chiếm hẳn, Đại Hàn, phần đất Nhựt thuộc, bị chia làm hai theo vĩ tuyến 38. Phần Bắc do quân đội Liên Sô giải giới và chiếm đóng. Phần Nam thì nằm dưới chế độ do quân đội Mỹ quân quản. Chiến tranh lạnh ở Á Đông nhanh chóng thành Chiến tranh nóng. Quân Công sản Bắc Hàn cùng với quân Trung (Công) Cộng âm mưu xâm lược miền Nam Đại Hàn. Ba năm (25/06/1950 – 27/07/1953) : Nam Hàn được Liên Hiệp Quốc ủng hộ, Mỹ và đồng minh đưa trên 1 triệu quân tham chiến. Phía Nam Hàn và đồng minh thiệt hại 400 ngàn người với riêng 57 ngàn người (chết) phe đồng mình chết. Phe Công sản Liên Sô và Trung Cộng đưa vào cũng cả triệu quân nhưng thiệt hại nặng nề hơn vì chiến thuật biển người thí quân của Trung Cộng, trên 800 ngàn quân Trung Cộng chết và bị thương. Phần dân chúng thì đã có trên 2 triệu nạn nhơn của cả hai miền. Thủ đô Séoul Hán Thành hoàn toàn bị thiêu rụi.
40 năm sau:
40 năm sau, 1993, tuy không Thống Nhứt được nhưng Nam Hàn hay Đại Hàn Dân Quốc- DaeHan Minguh đã là một con Rồng lớn về Công nghệ. Với diện tích 99 ngàn cây số vuông, với 49 triệu dân, Nam Hàn là quốc gia phồn thịnh đứng hàng thứ 12 trên thế giới. (Tồng) Tổng số thu hoạch đầu người là 26 ngàn Mỹ kim (so sánh Việt Nam 2 ngàn Mỹ kim). Chúng ta ai ai cũng biết một vài thương hiệu nổi tiếng như Samsung, như Huyndai, … hai đại công nghiệp Đại Hàn : Tin học và Xe Hơi…Chưa kể ngành đóng tàu của Đại Hàn, năm 2014, đứng hàng đầu quốc tế, Hyundai dẫn đầu về đóng tàu.
Gương sáng ấy đáng để Việt Nam suy nghĩ và học theo không?
Cũng tại Á Châu, Nhựt Bổn ngày nay là một cường quốc kinh tế, đứng hàng thứ ba trên thế giới, sau Huê Kỳ và Trung Cộng. Nhựt Bổn, sau khi bị hai quả bom nguyên tử tàn phá hai thành phố lớn, phải đầu hàng đồng minh do Huê kỳ lãnh đạo. Chỉ năm năm đầu khó khăn, quét dọn tổ chức, chấp nhận sự tủi nhục của quân quản ngoại nhơn. Nhưng qua năm thứ sáu,  từ năm 1950 đến 1960 trong vòng 10 năm, nền kinh tế Nhựt vực dậy như một phép lạ. Chỉ 19 năm sau, năm 1964, Nhựt đã đủ sức để tổ chức Thế Vận Hội Thể Thao quốc tế. Thành công ấy vỏn vẹn tất cả chỉ chưa đầy 20 năm ! Chưa đầy 20 năm, các hãng xưởng chẳng những đã phục hồi sản xuất, mà còn biến thành những thương hiệu số một, số hai quốc tế, Fujitsu, Toyota, Mitsubishi, Honda, SeiKo, …sản xuất xe hơi, sản xuất máy móc, sản xuất tin học, máy chụp hình, TV, radio, hoá học, Y tế, …Tuy nước Nhựt đất hẹp người đông, nhưng nông nghiệp được chánh phủ tài trợ để cố gắng độc lập lương thực (40% tự túc lương thực)… Nước Nhựt là Đảo, là Biển ! Vì vậy cần phải có tàu để đánh cá tìm lương thực ! Giàn tàu đánh cá Nhựt lớn nhứt thế giới. Lo lương thực nhưng cũng phải lo làm ăn ! Giàn tàu thương nghiệp cũng đứng hàng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Hy lạp thôi ! Muốn có tàu thuyền, muốn có ngành hành hải lớn,  phải có xưởng đóng tàu ! Nhựt lúc ấy đã đứng hàng đầu về ngành đóng tàu.
Tóm lại, 1945, nước Nhựt là một đống tro tàn, đất Nhựt bị quân đội Huê Kỳ chiếm đóng ! 40 năm sau, 1985, Nhựt là cường quốc kinh tế số một ở Á Châu, cường quốc kinh tế số hai sau Huê Kỳ. Gương sáng cho Việt Nam!
Đức, trường hợp còn đặc biệt hơn nữa. Nếu Nam Hàn ngày nay vẫn chỉ là phân nửa của bán đảo Triều Tiên. Người dân Triều Tiên thì vẫn còn bị chia cắt. Đức sau 45 năm chia cắt đã thống nhứt lại được và sau một thời gian hy sanh khó khăn gian khổ, đã chiếm lại vị thế số một cường quốc kinh tế Âu châu.
Đức, sau khi thất trận đã bị xé làm bốn mảnh : bốn quốc gia thắng trân chiếm đóng bốn vùng. Nhưng vừa sau khi thắng trận xong, căn nhà Đức chưa yên ổn, thì nước Đức lại bị chia làm hai. Chiến tranh lạnh Đông Tây. Chiến tranh lạnh giữa hai chế độ, hai ý thức hệ, hai phương pháp quản trị nước, hai quan niệm kinh tế khác nhau, thậm chí tuy cùng ngôn ngữ, cùng gốc văn hóa, nhưng hai vùng Đông Đức – Tây Đức lại đã biến thành hai nền văn minh, hai văn hóa khác nhau với hai suy nghĩ khác nhau. Chúng tôi nói dông dài về Đức để thông cảm và hiểu rõ cái khác biệt của những dân tộc bị lịch sử chia cắt và không cùng sống chung một nền tảng chế độ quản trị và suy nghĩ.
Cũng như Việt Nam, cũng như Triều Tiên, Đức sau khi bị chia cắt, hai miền sống riếng biệt nhau, tạo ra hai nhơn tố con người khác nhau. Không chỉ riêng về quan niệm quản trị kinh tế : bên tự do tạo con người phóng khoáng, sáng tạo, đầy nhơn bản tánh, biết đùm bọc, biết thương yêu nhau, biết tạo một xã hôi liên đới hổ tương nhau. Trái với phía dân chúng sống dưới chế độ cộng sản xã hội chủ nghĩa. Mặc dù chế độ Cộng sản được đặt tên là Cộng, mặc dù có tên gọi là Xã hội, như tất cả đều rất vị kỷ. Sống sanh hoạt tập thể, nhà tập thể, ăn tập thể, nhưng con người cứ phải co rúm trong cái vị kỷ sanh tồn của bản thân. Giành nhau sắp hàng, để lo mua miếng ăn, miếng uống, tem phiếu, chia phần giành giựt. Càng cố gắng chia phần đồng đều, lại càng canh chừng, dòm ngó, xem ai hơn ai. Ăn gian, mánh mung, nói láo, tố cáo, rình rập… chế độ cộng sản tạo ra những con người hoàn toàn ích kỷ vì phải sống còn. Đó chỉ là nói về con người ! Còn về phần cơ cấu tổ chức, vì tất cả là của chung, con chung không ai khóc, nên nhà nước vẫn xìu xìu ển ển … Cả nước sống cho qua ngày. Ngày nay, bốn nước Cộng sản còn lại trên thế giới, Tàu Trung Cộng, tuy đệ nhứt thiên hạ thế giới về kinh tế, tuy đang xưng hùng, xưng bá ở Vùng-Á Đông, Biển Đông, nhưng dân chúng vẫn còn nghèo. Bắc Hàn thì khỏi nói, là một anh chàng nguy hiểm, có sức mạnh nguyên tử, sức mạnh quân đội, có thể gây nguy hiểm cho toàn vùng và cả thế giới, nhưng dân chúng có những năm từng thiếu nguồn lương thực phải đi ăn xin, cứu đói. Còn Cu Ba ! Cu Ba đang được Mỹ bỏ cấm vận, vì kiệt quệ tài chánh. Dân Cu Ba, cũng như dân Việt Nam sống nhờ kiều hối của dân tỵ nạn Cu Ba gởi về bơm máu. Và cuối cùng là Việt Nam!
Xin trở về trường hợp nước Đức để lấy tấm gương sáng. Nước Đức thoạt đầu bị chia thành bốn vùng do bốn quân đội bốn quốc gia thắng trận chiếm đóng. Ba vùng, Pháp Anh Mỹ, cùng chế độ quản trị chánh trị kinh tế, nên sau hai năm hoàn toàn phối hợp thành một. Nhờ chương trình Marshall, tên của vị Tướng Huê kỳ tạo một sức mạnh kinh tế để tái kiến trúc Âu châu, chẳng những để phục hồi nước Đức  và dân Đức mà còn giúp đở cả các quốc gia Âu châu từng bị tàn phá bởi chiến tranh. Sau Thế chiến 2, vai trò Huê kỳ ảnh hưởng mạnh đến những thành tựu về mặt sức mạnh kinh tế, chánh trị và quân đội của Tây Âu. Thế chiến vừa xong, Âu Châu lại bị chia thành hai khối  Đông Tây. Một bức Màn Sắt trừu tượng phủ khắp bầu trời các quốc gia Đông Âu, đại diện bởi Bức tường thực thể xây bằng gạch và giây kẻm gai cùng mìn và vọng gát chạy dài trên cả ngàn cây số để chỉ chia rẻ người dân Đức. Ngay từ năm 1948, ba năm sau hòa bình, dân chúng Đức đã phải sống trong chia rẻ.
Phía Tây, Tây Đức, thành lập một quốc gia Liên bang Đức, Tự do, Hiến Định, Pháp trị, Đa nguyên Đa Đảng. 40 năm sau, 1985, Tây Đức là cường quốc số một Âu Châu.
Thời điểm ấy, Huê Kỳ là số một về kinh tế, về quân sự. Và hai quốc gia bại trận Nhựt và Đức lại là số 2 và số 3 thế giới !
Quý vị chắc ai cũng biết tên các thương hiệu Đức và chắc ai cũng mê chọn những món hàng của Đức về phẩm chất : từ xe hơi, Mercedes, Audi, BMW, VW, đến hóa học BASF, dược phẩm Bayer, đến cơ khí…Siemens, Krupp…máy bay với tập đoàn Airbus cùng với các quốc gia láng giềng là Pháp, Ý Tây Ba Nha…
Năm 1989, bức tường Bá linh sập, nước Đức thống nhứt. Tây Đức ôm gánh nặng phục hồi Đông Đức. Tất cả bao khó khăn, dân Tây Đức đều gánh chịu. Chỉ sau vài năm, ngày nay Đức phục hồi vị trí số một Âu Châu. Tổng Sản lượng ngày nay là 3,500 Tỷ Mỹ kim, đứng hàng thứ tư thế giới ;
Thử làm Bảng sắp hạng.
Năm 2013: Tổng sản lượng
1/ USA 13, 340 tỷ Mỹ Kim,  2/ Trung Cộng 9, 300 Tỷ MK, 3/ Nhựt Bổn 5,000 Tỷ MK, 4/ Đức 3,500 Tỷ MK, 5/ Pháp 2,700 Tỷ MK, 6/ Vương Quốc Anh 2,400 Tỷ…
So sánh Việt Nam  57/ 170 Tỷ MK
Và Tổng sản lượng đầu người – thứ hạng thế giới
9/ USA 53 ngàn MK, 16/ Đức 45 ngàn MK, 24/ Nhựt 38,500 MK, 20/ Pháp 44 ngàn MK… 81/ Trung Cộng 7 ngàn MK và Việt Nam 1,900 MK đứng hàng thứ 134.
Tất cả có 184 quốc gia được sắp hạng.
Như vậy, năm 2013, Tàu đứng hàng thứ hai thế giới về Tồng Sản Lượng, đất nước giàu có nhưng dân Tàu vẫn nghèo với 7000 dollars bình quân mỗi người.
Thử chia cho 12 tháng, lượng tháng sản xuất  khoảng 503 dollars tháng. Các bạn nghĩ thế nào ? Với con số ấy? Còn riêng về Việt Nam miễn bàn nếu lấy 1900 MK chia làm 12 = 158 MK tháng. Mỗi đầu người Việt Nam bình quân tạo chưa đầy 160 MK cho đất nước.
Do đâu có sự cách biệt giữa Việt Nam với Đức, Nhựt Bổn, Đại Hàn như vậy ?
Con người?
Tiềm năng, sức mạnh của một quốc gia chính là con người.
Người Việt Nam, gốc văn hoá khác chi Nhựt (Và) và Đại Hàn. Cùng Văn hóa gốc Hán, Tam giáo, Khổng, Lão và Phật.
Cũng bị hoạn nạn. Nhựt tiêu tùng sau hai quả Bom nguyên tử, bị Mỹ quân quản. Nhục nào cho bằng !
Đại Hàn bị chia cắt, chiến tranh Quốc Cộng, gia đình phân chia hai miền. Khổ đau nào cho bằng !
Họ là người Á đông như người Việt Nam ! Họ biết làm lụng cam khổ, họ biết nương tựa gia đình, nương tựa xóm làng, láng giềng, bà con ! Nước Nhựt ngày nay là con Rồng Kinh tế đệ nhứt Á Châu ! Nam Hàn ngày nay là Con Hổ Kinh tế một trong những con Hổ Kinh tế Á châu với Hong Kong, Đài Loan, Singapore ! Hãy nhìn xem và lấy đó làm gương, các con Hổ Kinh tế ấy lẫn cả Con Rồng Kinh tế vẫn là những quốc rất ít tài nguyên thiên nhiên. Toàn là đất hẹp người đông, chen chúc nhau mà sống. Tài nguyên của họ là CON NGƯỜI.
Cả nước Đức cũng vậy, Đức ở Âu Châu, Đức Thiên Chúa giáo, gốc Tin lành Cơ Đốc Luther, đông hơn Thiên Chúa La mã. Dân tộc Đức sở dĩ phát triển mạnh hơn các dân tộc láng giềng là nhờ vào những đức tánh cần cù, chịu khó, và đặc biệt kỹ luật, biết vâng lời chấp hành kỹ luật lệnh trên.
Dân tộc Nhựt và dân tộc  Đại Hàn cũng vậy. Nhẫn nại, kỹ luật, kỹ thuật, tổ chức, ngăn nắp, sạch sẽ.
Còn người Việt Nam chúng ta thì sao ? Người Việt Nam có đầy đủ đức tánh của một dân tộc nếu được đặt trong một môi trường tốt thì sẽ phát triển tốt. Bằng chứng, chỉ trong vòng 40 năm có mặt ở Hải ngoại, các con em hậu duệ Việt Nam đã  hội nhập dễ dàng vào xã hôi của quê hương thứ hai.
Chỉ cần hai thế hệ, con người Việt Nam đã biến thành những công dân tốt cho xứ sở thứ hai.
Thế thì tại sao ở quê nhà, trong tình trạng đất nước hiện nay, người Việt Nam quốc nội đã không phục hồi lại được xứ sở ? Hỏi là trả lời. Phải chăng, người Việt Nam bị những « rào cản » chận đứng mọi sáng kiến, mọi ý chí, mọi con đường để phát triển, xây dựng cá nhơn, xây dựng xóm làng, xây dựng xứ sở đất nước. Rào cản nào ?
Chế độ Chánh trị:
Với một chế độ chánh trị chỉ biết kềm kẹp, đàn áp con người. Một chế độ chánh trị chỉ biết dạy con người biến thành những con vật, chỉ biết tuân lệnh. Cầm quyền bằng  nói láo, cầm quyền bằng hăm dọa, cầm quyền bằng bao tử, bằng tem phiếu, xin cho thử hỏi làm sao người dân Việt có thể phát triển nổi?
Một đất nước mà lòng tự hào được đo lường bởi sự hy sanh. Một đất nước mà tự hào đỉnh cao trí tuệ là do dám giết giặc. Một đất nước mà gương sáng là một câu chuyện (bịa) rằng một thằng bé tự tẩm xăng đốt. Không biết tôn trọng mạng sống của mình là không biết quý trọng cái ơn của cha mẹ đã dày công dạy dổ nuôi nấng mình thành người. Không biết trọng mạng sống của mình, cả mạng sống của tha nhơn, sẳn sàng bắn vào đầu, đập vào óc người, sẳn sàng chôn sống 5000 thường dân vô tội ở Huế. Ai ra lệnh thảm sát 5000 thường dân Huế ? Không ai cả, chế độ dạy quân đội Việt Cộng giết người. Lúc hoang mang, hỗn quân hỗn quan, sợ quá giết người thôi là chuyện dỉ nhiên. Giết vì sợ, giết vì lo cho ngày mai, giết vì mất hy vọng, sợ rằng, e rằng. Việt Cộng đâu có chánh sách chiêu hồi đãi ngộ, kêu cánh chim tìm về tổ ấm như chế độ Miền Nam Việt Nam, đã đãi ngộ người trở về.
40 năm cầm quyền! Năm nay, những người bạn Pháp du lịch về Việt Nam vẫn còn thấy trẻ con ăn xin, bán vé số…Chúng tôi thường nói với bạn bè người ngoại quốc đi du lịch Việt Nam : « Hãy đo lường nền văn minh Việt Nam phát triển  bằng cách đứng vào lúc 11 giờ sáng ở chợ Sài gòn, hay chợ Bình Tây để xem trong một chu vi 10 thước vuông thì sẽ đếm xem có bao nhiêu trẻ con có mặt và ăn xin hay bán vé số! Ở Pháp giờ ấy không có con nít ngoài đường. Trẻ con đều phải đi học cả».
40 năm vẫn còn người buôn gánh bán bưng, vẫn còn cu li – cửu vạn vác vay, vác  mướn, vẫn còn hàng quán ngồi xệp bên vỉa hè, vệ đường.
Các cán bộ Nhà nước Cộng sản khi xuất ngoại du lịch hay công tác có nhìn xem các đời sống các quốc gia như Đức như Nhựt không ? Có so sánh với nước ta không ?  Có thẹn với lòng không ? Có mắc cở với gia đình, với con tim mình, với bà con cô bác, rằng mình đã đi lầm đường không ? Có bao nhiêu cán bộ biết ngồi khóc bên hè phố Sài gòn như Dương Thu Hương ? Bao nhiêu cán bộ bỏ Đảng bỏ xứ, bỏ chức, bỏ phận, vứt lon, vứt lá, huy chương quân hàm để sống đời tỵ nạn trong một căn nhà nhỏ tại một ngoại ô Paris như Bùi Tín ? Bao nhiêu ? Đếm chưa đầy bàn tay, ít quá ! Bao nhiêu ? Ít quá ! Là thảm trạng của Việt Nam. Không tiến được, không mở mắt được. Bịt miệng, bịt mắt, bịt tai, Cả nước Việt Nam ! Ba con khỉ bịt mắt, bịt tai bịt miệng để sống qua ngày ! Mãi mãi người Việt Nô Lệ.
Kết Luận
40 năm, rồi sẽ 50 năm, rồi sao nữa?
Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, 40 năm nô lệ giặc Cộng. Gia tài của mẹ một lũ khù khờ, bịt mắt, bịt miệng, bịt tai. Không Thấy, Khống Nghe, Không Nói !
Ngó gương người, 40 năm người Đức Nhựt dựng lại Nước.
Nhìn lại ta, 40 năm Đảng Việt Cộng chỉ biết trị dân và Bán Nước.   
Chừng nào còn Đảng Việt Cộng, thì người Việt vẫn còn nô lệ. Muốn phát triển, muốn có Tự do, có Độc lập, có Dân chủ phải Thoát Cộng.
Tất cả những vấn nạn hiện tại hay tương lai, như Hán Hóa, như mất hải đảo, mất Biển Đông đều do Đảng Công sản cầm quyền tạo thành.
Thoát Cộng sẽ giải quyết tất cả. Môt chế độ dựng lên bằng kiểu cướp chánh quyền, bằng tuyên truyền láo khoét, bằng giáo dục dỏm, bằng bằng cấp mua, bằng ngoại giao xin cho, thì phải dẹp bỏ. Dẹp bỏ xong cái chế độ ấy, người Việt Nam mới tìm thấy lại những sự thật. 
40 năm quá dài ! Đủ rồi ! Mong rằng tất cả người dân Việt thấy được sự thật  để mà vứt bỏ mầm nguy hại nầy!
Mong lắm!
Hồi nhơn Sơn, tháng Tư đen thứ 40.
Viết cho ngày Quốc Hận.
Phan Văn Song