Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017

Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Tâm


Thanh-Thanh-Tam200b.jpg
Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Tâm. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương<br /> Hình của Soạn giả Nguyễn Phương
Thanh Thanh Tâm cũng là một nữ diễn viên gây nên hiện tượng thu hút khán giả một cách kỳ lạ khi Thanh Thanh Tâm và Vũ Linh hát chung trên sân khấu. Thêm một lần gây cơn sốt vé xem hát khi Thanh Thanh Tâm đóng tuồng cặp với Minh Vương trên sân khấu đoàn hát Huỳnh Long. Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Tâm tên thật là Nguyễn Thị Thanh Thanh, sanh ngày 06 tháng 01 năm 1963 tại Saigon, con của nam nghệ sĩ tài danh Nam Hùng và nữ nghệ sĩ huy chương vàng giải Thanh Tâm Thanh Thanh Hoa.
Thân sinh của cô Thanh Thanh Tâm, hai nghệ sĩ Nam Hùng và Thanh Thanh Hoa nổi tiếng trên các sân khấu Phước Chung, đoàn Tân Hương Hoa, đoàn Thủ Đô, đoàn Thanh Minh Thanh Nga, đoàn Tiếng Hát Dân Tộc, đoàn Thái Dương 4, đoàn cải lương Saigon 1, đoàn Thanh Nga…Nghệ sĩ Nam Hùng sáng rỡ trên sân khấu, vũ đạo tuồng Tàu rất đẹp, anh nguyên là con nuôi và là đệ tử chân truyền của bậc minh sư Phùng Há, nghệ sĩ Nam Hùng chuyên diễn kép độc mùi, tài nghệ được giới nghệ sĩ và báo chí kịch trtường đánh giá sáng chói như các nghệ sĩ chuyên diễn kép độc Trường Xuân, Sáu Nhỏ, Minh Viễn...
Thần Đồng
Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa là nữ diễn viên chánh, một thời hát cặp với kép chánh Út Trà Ôn trên sân khấu Thủ Đô. Khi về cộng tác với đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga, nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa phải nhường một bước cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga vì Thanh Nga là con của bầu gánh hát, trẻ đẹp và ngôi sao sân khấu đang lên, các soạn giả đưa tuồng hát vào đoàn Thanh Minh Thanh Nga đều phân vai tuồng chánh cho Thanh Nga, sau đó mới đến nữ nghệ sĩ khác.
Thanh Thanh Tâm theo cha mẹ sống trong đoàn hát nên Thanh Thanh Tâm thường nghe tiếng đàn giọng ca của các nghệ sĩ trưởng bối trong đoàn, cô thường ngồi bên cánh gà xem hát, sau nhiều năm nghệ thuật ca múa thẩm thấu vào tâm hồn của bé Thanh Thanh Tâm. Năm lên 4 tuổi Thanh Thanh Tâm được báo chí kịch trường tặng cho danh hiệu Thần Đồng khi cô ca tân nhạc trên sân khấu đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga tại rạp Hưng Đạo, Sàigòn.
Năm lên 8 tuổi, Thanh Thanh Tâm đã được phân vai nhát những vai đào con trên sân khấu đoàn Tiếng Hát Dân Tộc.
Năm 9 tuổi, Thanh Thanh Tâm được cha mẹ cho học chử ở trường Ba Đình quận 8, nhưng khi cô đang học thì Ban kịch Kim Hoàng Như Mai mời cô đóng vai em bé trong vở Mưa Bão Kịch truyền hình. Thanh Thanh Tâm cũng đã được hãng phim Alfa Thái Thúc Nha mời đóng một vai bé con trong phim Người Cô Đơn và phim Phận Má Hồng. Hãng phim Thẩm Thúy Hằng mời Thanh Thanh Tâm đóng một vai trong phim Sóng Tình do Bùi Xuân Dung làm đạo diễn.. Thẩm Thúy Hằng cũng muốn đưa Thanh Thanh Tâm cùng qua Thái Lan đóng một vai trong phim Mẹ, một phim của hãng Thẩm Thúy Hằng cộng tác với hãng phim Thái Lan. Hộ Chiếu, vé phi cơ đã xong nhưng lúc đó tình hình sôi động trong những ngày cuối tháng tư năm 1975 nên chuyến xuất ngoại của diễn viên nhí Thanh Thanh Tâm bất thành.
Cặp diễn viên Thanh Thanh Tâm – Vũ Linh

Thanhthanhhoa200.jpg
Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương Hình của Soạn giả Nguyễn Phương
Năm 1978, Thanh Thanh Tâm được tuyển vào học trường Nghệ Thuật diễn xuất, khóa đầu tiên của đoàn hát Trần Hữu Trang, Thanh Thanh Tâm đã được học với các thầy Phùng Há, Kim Cúc, Ngọc Hùng, Thu Vân nên diễn xuất sắc vai Trần Quốc Toản tuồng Trần Quốc Tỏan ra quân. Cô cũng thành công qua các vai tuồng Mùa Xuân Cho Em, Đời Cô Lựu….Năm 1981 cô thành hôn với con trai của đạo diễn Lưu Chi Lăng, Năm 1982, cô sanh đứa con gái đầu lòng, đặt tên Lưu Thị Ca Dao.
Năm 1983, nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Tâm về đoàn hát Trần Hữu Trang 1, hát chia vai với nữ nghệ sĩ Phượng Liên qua những vở tuồng như : Đêm Phán Xét, Kiều Nguyệt Nga, Rạng Ngọc Côn Sơn, Chuyện Cổ Bát Tràng, …
Năm 1987, Thanh Thanh Tâm được chuyển qua đoàn hát Trần Hữu Trang 2, thành phần diễn viên có Vũ Linh, Thanh Thanh Tâm, Thanh Hằng, Hồng Tơ, Linh Trung, Minh Châu, Lê Thiện, Chí Linh, Vân Hà…Thanh Thanh Tâm hát chung với Vũ Linh qua các kịch bản : Nước Mắt Bạo Lực, Tình Yêu Tên Cướp, Hòn Vọng Phu, Xa Phu Đi Xứ, Những Đứa Con Oan Nghiệt, thời gian nầy cặp nghệ sĩ Thanh Thanh Tâm và Vũ Linh có một sức hút khán giả đông đến kỳ lạ. Vé hát được bán hết vé từ xuất đàu cho đến cuối tuần. Trước đây thứ hai hàng tuần các rạp hát đều nghĩ hát một ngày nhưng riêng đoàn Trần Hữu Trang 2 với cặp diễn viên ăn khách bậc nhất lúc đó là Thanh Thanh Tâm và Vũ Linh thì vào tối thứ hai ở bất cứ rạp hát nào đoàn hát cũng được mở màn hát với số khán giả đông nghẹt.
Đây là một hiện tượng kỳ lạ, khi Thanh Thanh Tâm hay Vũ Linh hát với một diễn viên nào khác thì không thu hút khán giả mãnh liệt như khi hai nghệ sĩ nầy hát chung với nhau trong một tuồng. Khán giả hình thành những fan để hoan hô, ủng hộ nồng nhiệt Thanh Thanh Tâm và Vũ Linh, đến độ khán giả la ó, phản đối không cho Vũ Linh hay Thanh Thanh Tâm « Hát CẶP » với nghệ sĩ nào khác. Tình trạng si mê cặp thần tượng Thanh Thanh Tâm – Vũ Linh kéo dài trong hai năm.
Năm 1988, Thanh Thanh Tâm và chồng cô ly dị nhau. Bé Ca Dao sống với mẹ.
Xinh đẹp, diễn xuất hay
Cuối năm 1989, nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Tâm ký hợp đồng hát cho đoàn tuồng cổ Huỳnh Long. Nam nghệ sĩ đóng chung với Thanh Thanh Tâm trên sân khấu Huỳnh Long là nghệ sĩ Minh Vương qua hai tuồng Vị Án Phi Giao và tuồng Sở Vân. Các fan ủng hộ Thanh Tâm lập tức hoan hô, ủng hộ Thanh Thanh Tâm và Minh Vương, tình trạng si mê thần tượng Thanh Thanh Tâm và Minh Vương đến cuồng nhiệt lại tái diễn, chỉ cần có Thanh Thanh Tâm hát chung với Minh Vương thì hát ở bất cứ rạp hát nào, hát tuồng gì thì cũng đông nghẹt khán giả. Đêm nào cũng có những fan ủng hộ cặp diễn viên thần tượng Thanh Thanh Tân – Minh Vương đến rạp hát, vổ tay hoan hô cuồng nhiệt. Họ lên sân khấu, vào hậu trường  tặng hoa, tặng quà… và họ cũng không cho Thanh Thanh Tâm hay Minh Vương hát với nghệ sĩ khác.
Thanh Thanh Tâm đoạt huy chương vàng đầu tiên của giải Trần Hữu Trang.

nunghesiThanhThanhTam200.jpg
Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Tâm. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương<br /> Hình của Soạn giả Nguyễn Phương
Năm 1990, Thanh Thanh Tâm được mời cộng tác với đoàn Sân Khấu Tài Năng, gồm những nghệ sĩ vang danh một thời trên các sân khấu cải lương Saigon. Sau đó cô trở về cộng tác với đoàn hát Huỳnh Long đến năm 1992.Thanh Thanh Tâm có đôi mắt rất buồn. Nét mặt thanh tú, một nét đẹp sang cả, Thanh Thanh Tâm khi diễn xuất thì có chiều sâu nội tâm nhân vật. Khi diễn các vở tuồng dã sử hay tuồng Tàu, điệu múa nhuần nhuyễn và đúng phong cách tuồng Tàu hay loại tuồng cổ nên Thanh Thanh Tâm hát vai tuồng nào cũng hay, cũng đẹp.
Điều đó giải thích tại sao lại có những nhóm khán giả si mê thần tượng Thanh Thanh Tâm và Vũ Linh đến độ họ hoan hô, náo loạn cả khán phòng và hậu trường sân khấu. Có bạn trong đoàn hát thì nói là Thanh Thanh Tâm và Vũ Linh được Tổ đải, được ăn lộc Tổ.
Qua 10 năm, Thanh Thanh Tâm đã hát trên hai sân khấu Nhà hát Trần Hữu Trang và đoàn Huỳnh Long. Cô đã thu nhiều tuồng vidéo cải lương rất hay như tuồng Tây Thi, Đêm Lạnh Chùa Hoang, Người Gọi Đò Bên Sông, Khi Người Điên Biết Yêu, Từ Thức Lên Tiên, Lôi Vũ, Hòn Vọng Phu, Xa Phu Đi Xứ, Sở Vân…
Gia đình hạnh phúc
Về gia đình, năm 2000, Thanh Thanh Tâm kết hôn với một người chồng ngoài nghề hát. Cô sanh được một con trai. Chồng cô luôn giúp đở và khuyến khích cô khi Thanh Thanh Tâm có dịp xuất hiện trên sân khấu. Riêng Thanh Thanh Tâm, ngoài những giờ bận rộn với sàn tập, sàn diễn, cô luôn luôn chăm sóc chồng con, tự tay nấu nướng những món thích khẩu cho chồng. Thanh Thanh Tâm đã tổ chức và trực tiếp biểu diễn nhiều vở tuồng nổi tiếng ngày xưa như Mưa Rừng, Sông Dài, với hảo ý cùng với các bạn góp sức vực dậy sân khấu cải lương.
Thanh Thanh Tâm đã cùng với cha mẹ Nam Hùng, Thanh Thanh Hoa và Má kế Tô Kim Hồng tổ chức live shop để gợi lại thời vàng son của sân khấu cải lương mà cha mẹ cô đã có một thời là những ngôi sao sáng.
Thanh Thanh Tâm ngoài đời chẳng mang chút nào cái hào quang lộng lẩy của ngôi sao. Thanh Thanh Tâm giống như người phụ nữ bình thường, giản dị mà đa đoan. Người ta ngạc nhiên khi thấy ở Thanh Thanh Tâm luôn song hành những gì tưởng như trái ngược, cô rất giản dị mà sang cả, dịu dàng mà quyết đoán, hồn nhiên mà già dặng. Sự có mặt của Thanh Thanh Tâm trên sàn diễn cũng như ở ngoài đời với các bạn bè hay người ái mộ, sự có mặt của Thanh Thanh Tâm luôn luôn mang theo một cái gì tươi trẻ và nồng ấm.
Tôi được biết Thanh Thanh Tâm rất giàu nghị lực, có hiếu với cha mẹ và đặc biệt yêu thương tổ ấm gia đình. Cô thành công trên sân khấu không khó, muốn thành công trong hạnh phúc riêng thì Thanh Thanh Tâm đã phải hết lòng hết sức phấn đấu mới đạt cho được hạnh phúc trọn vẹn.
Thưa quí thính giả, chương trình cổ nhạc kết thúc, Nguyễn Phương xin hẹn vào giờ nầy tuần sau. 

Nghệ sĩ Trương Hoàng Long, người gốc Hoa hát cải lương

nghesiTruongHoangLong200.jpg
Nghệ sĩ Trương Hoàng Long. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương.
Họ rất vui mừng và hãnh diện khi có con cháu là nghệ sĩ cải lương tài  giỏi. Nghệ sĩ Trương Hoàng Long tên thật là Lý Thành Long, sanh năm 1945, quê quán ở xã Đôn Châu, quận Trà Ôn, tỉnh Trà Vinh, ông nội của anh là người Hoa, từ bên Tàu sang Việt Nam sinh sống. Cha anh cũng nối nghề thương mãi trong giới thương buôn người Hoa nhưng ông mê xem hát cải lương và thường tham gia những tổ chức dờn ca tài tử ở địa phương.
Nhạc sĩ Bảy Bá
Ông rất mê tiếng đờn tranh của nhạc sĩ Bảy Bá, xin thọ giáo ông thầy nhạc sĩ trẻ Bảy Bá nhưng ông không có khiếu âm nhạc nên ông nghĩ đến việc cho con ông học đờn.
Nghệ sĩ Bảy Bá vì có máu giang hồ, anh không thể ở Đôn Châu, một làng quê bé nhỏ yên tỉnh nên ông đi lưu lạc lên Saigon, tìm nơi phồn hoa đô hội, tìm cách sinh sống trong giới ca nhạc sĩ ở SÁI Thành hoa lệ. Nhạc sĩ Bảy Bá được mời đàn cho quán cổ nhạc Đức Thành Hưng sau chợ Sàigòn. Anh cũng đờn cho Đài Phát Thanh Pháp Á. Sau đó nhạc sĩ Bảy Bá được đoàn Việt Kịch Năm Châu thu nhận vào Ban cổ nhạc đờn cho gánh hát Năm Châu khi đoàn hát đi lưu diễn ở HàNội.
Nhạc sĩ Bảy Bá đờn cho đoàn hát và anh cũng soạn tuồng nổi danh với nghệ danh là soạn giả Viễn Châu.
Năm 15 tuổi, em Lý Thành Long mê ca hát quá nên được cha dẫn lên Saigon ký thác cho bạn đồng hương Bảy Bá dạy ca cổ. Em được cha đóng tiền học và tiền ăn ở tại nhà của nhạc sĩ Bảy Bá, em siêng năng, dễ dạy, được Bảy Bá xem như con ruột nên anh tận tâm chỉ dạy cho em ca rành rẽ ba Nam, sáu Bắc, bảy Bài và vọng cổ.
Năm 1960, Nhạc sĩ Bảy Bá đặt nghệ danh cho Lý Thành Long là Trương Hoàng Long và giới thiệu với soạn giả Điêu Huyên cho em đi hát với đoàn cải lương Sài Thành để tiếp tục học về diễn xuất và vũ đạo tuồng cổ.
Trên sân khấu đoàn cải lương Sài Thành, Trương Hoàng Long ca cổ nhạc chắc nhịp, hơi rông, hát thành công trong các vai kép ba, kép nhì trong hai năm.
Sau đó Trương Hoàng Long đi hát đoàn Thái Dương – Út  Trà Ôn, đoàn hát Thành Được - Út Bạch Lan, đoàn Xuân Liên Hoa của đội nghệ sĩ Thanh Điền – Thanh Kim Huệ…Trương Hoàng Long diễn xuất rất đặc sắc trong vai Võ Đại Lang, tuồng Ai Bán Ân Tình tức tuồng Võ Tòng Sát Tẩu, vai Hoàng Tử Vương Trúc trong tuồng Tiếng Hát Rừng Hoang. Đó là hai vai tuồng mà Trương Hoàng Long được khán giả yêu mến nhiều nhất.
Giọng ca chân phương
Năm 1968, nghệ sĩ Trương Hoàng Long theo đoàn hát Kiên Giang của ông bầu Hoàng Mật đi lưu diễn một thời gian dài ở miền Trung. Lúc đó trong đoàn hát Kiên Giang, Trương Hoàng Long kết bạn thân thiết với các nghệ sĩ Trường Ninh, Minh Viễn, Thanh Hiền, Hữu Lộc, soạn giả Hoa Phượng, họa sĩ Phan Phan và chuyên viên ánh sáng Chín Siểng. Những người bạn nghệ sĩ nầy bồi dưỡng cho khả năng diễn xuất ngày một tinh tế của nghệ sĩ Trương Hoàng Long.
Nghệ sĩ Trương Hoàng Long cộng tác với đoàn Kiên Giang, một đoàn hát bực trung nên Trương Hoàng Long được nhiều dịp hát vai kép chánh và được hát tuồng của soạn giả Hoa Phượng nên anh tiến bộ rất nhanh. Anh nổi tiếng qua các tuồng Đời Luận Anh Hùng, Giữa Chốn Bụi Hồng, Tần Nương Thất…
Tuy nhiên nghệ sĩ Trương Hoàng Long thành công nhiều nhất không phải là vai kép mùi hát cặp với đào mùi, mà anh thành công trong các vai từ sồn sồn đến vai lão, mà phải là vai lão mùi, vai lão hiền, trung thần nghĩa khí chớ không phải các vai lão độc, lẵng hay lão ác, vai nịnh.
Nghệ sĩ Trương Hoàng Long có giọng ca chân phương, trầm ấm, khoẻ khoắn với âm vực rất rộng, nghe sang sảng như chuông ngân nhưng gương mặt của anh rất hiền, có vẻ trung hậu, mắt luôn nhìn thẳng, thái độ trầm tỉnh, từ tốn. Đó là phong cách của Trương Hoàng Long ở cuộc đời thường nên đã ảnh hưởng đến phong cách trình diễn của anh trên sân khấu.
Nhân đây, tưởng cũng nên nhắc qua những trường hợp của các nghệ sĩ người gốc Hoa như các anh Ba Xây( tên Tất Xây), Hoài Trúc Phương,… các anh cũng có giọng ca chân phương, trầm ấm và diễn xuất rất hay nhưng lại không được Tổ đải như nghệ sĩ Út Trà Ôn. Các nghệ sĩ gốc Hoa: Ba Xây, Hoài Trúc Phương, Trương Hoàng Long đều thủ diễn các vai lão trung thần, thuộc dạng kép nhì hoặc kép ba chớ không thể trở thành kép mùi được. Đó là chuyện khó hiểu, chưa có người quan tâm phân tích và lý giải.
Quá trình nghệ thuật
Sau năm 1975, nghệ sĩ Trương Hoàng Long trở về quê hương Trà Ôn một thời gian. Đến năm 1976, Trương Hoàng Long hát chánh cho đoàn cải lương Tiền Giang trong suốt 10 năm, từ năm 1976 đến năm 1986.
Ở sân khấu đoàn cải lương Tiền Giang, Trương Hoàng Long có những vai diễn thành công như vai Trương Định trong vở tuồng Bình Tây đại nguyên soái của soạn giả Nguyễn Thành Châu do nữ nghệ sĩ tiền phong Phùng Há đạo diễn, Trương Hoàng Long được huy chương vàng diễn viên trong Hội Diễn Sân Khấu Cải Lương toàn quốc năm 1980.
Năm 1986, Trương Hoàng Long về hát cho đoàn hát Phước Chung, anh thủ vai Thạch Sanh, vai chánh trong tuồng Thạch Sanh Lý Thông.
Năm 1988, Trương Hoàng Long cũng đã để nhiều ấn tượng tốt qua các vai lão trong tuồng Bài Ca Tìm Mẹ, Trả Lại Tình Xưa, Võ Tòng Sát Tẩu, Xác Quỷ Tình Người…
Sau đó, sân khấu cải lương ngày bị thu hẹp đất diễn, nhiều rạp hát đổi thành vũ trường, quán ăn ca nhạc hoặc thành những địa điểm dành cho đám cưới, tiệc tùng, còn lại ít rạp hát cải lương và khán giả ngày một thưa vắng, nghệ sĩ Trương Hoàng Long cũng như các nghệ sĩ bạn xoay qua kiếm sống bằng cách đóng các vai tuồng trong các video cải lương.
Trong địa hạt băng tuồng cãi lương, Trương Hoàng Long cũng có những vai tuồng đáng nhớ như vai Ba Mơ trong tuồng Đắng Cay Đời Mẹ, vai Sáu Hảo trong tuồng Nợ Nước Mắt, vai Nguyễn Trung Thành trong tuồng Tần Nương Thất, vai Xuân Lão tuồng Lâm Sanh Xuân Nương, vai thầy giáo trong Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, vai Hoàng Phủ Khánh trong tuồng Mạnh Lệ Quân….
Nối tiếp niềm đam mê của cha truyền lại, Trương Hoàng Long đã thành một nghệ sĩ tài năng như cha của anh mong muốn, như ông thầy Bảy Bá kỳ vọng khi truyền nghề cho anh và chính bản thân của Trương Hoàng Long khi đeo đuổi hơn bốn chục năm theo nghệ thuật sân khấu cải lương, anh rất vui và sống huy hoàng trong thời hoàng kim của sân khấu cải lương và hiện nay anh tuy vẫn theo nghiệp Tổ nhưng trong lòng anh quá nuối tiếc một thời vàng son đã qua chưa biết đến kiếp nào mới phục hồi trở lại.
Trên sân khấu cải lương xưa, khi nhân vật chánh bị chết vì tà ma ngoại đạo thì có thần tiên giáng trần, hóa phép cứu sống. Ngày nay cũng là sân khấu cải lương, cái thời mạt vận của cải lương tới đã lâu, sắp chết rồi, chẳng biết có ông Tiên bà Thánh nào có giáng trần để hóa phép cứu sống  cải lương chăng?
Chương trình cổ nhạc xin dứt, Nguyễn Phương hẹn tái ngộ vào giờ này tuần sau

Nữ nghệ sĩ Hương Thủy

huongthuy-200.jpg
Nữ nghệ sĩ Hương Thủy. Hình do soạn giả Nguyễn Phương cung cấp. Photo: RFA
Nữ nghệ sĩ Hương Thủy tên thật là Nguyễn Thị Thu Thảo, sinh năm 1971 tại Saigon, nhà ở đường Hoàng Diệu, quận 4. Song thân là ông Nguyễn Văn Phát và bà Nguyễn Thị Bảy. Cô Thu Thảo là em út trong gia đình, cô có hai anh Nguyễn Minh Hùng, Nguyễn Khanh và một chị Nguyễn thị Liên, các anh chị đều làm việc ở các xí nghiệp.
Thu Thảo học văn hóa ở trường Vĩnh Hội. Năm lên 10 tuổi, Thu Thảo theo cha mẹ về sống nơi quê ngoại, xã Bình Hòa Phước, Long Hồ, Vĩnh Long. Năm 1984 gia đình cô Thu Thảo trở về sống ở đường Hoàng Diệu, quận 4. Thu Thảo tiếp tục học văn hóa và xin cha mẹ cho em học đàn tranh với cô giáo Hường ở trong xóm. Cô Hường là giáo viên dạy đàn tranh ở Nhạc Viện thành phố. Sau sáu tháng theo học đàn tranh, Thu Thảo được cô giáo Hường khuyên nên theo học hát vì cô Hường thấy Thu Thảo có khả năng ca diễn nhiều hơn khiếu chơi đàn. Được sự đồng ý của song thân của Thu Thảo, cô Hường giới thiệu cho Thu Thảo vào học trường nghệ thuật sân khấu 2 ở đường Cống Quỳnh. Thu Thảo đăng ký học thêm về ca diễn của thầy nghệ sĩ Ngọc Ẩn ở đường Cao Đạt.

Khởi đầu từ đoàn hát Xuân Lộc

Năm 1986, Thu Thảo được thầy Ngọc Ẩn đặt cho nghệ danh là Hương Thủy và gởi gấm Hương Thủy cho hai nghệ sĩ Thanh Tú và Trang Bích Liễu, bầu đoàn hát cải lương Xuân Lộc, đăng ký ở tỉnh Long Khánh.
Đoàn Xuân Lộc tỉnh Long Khánh gồm có các nghệ sĩ Thanh Tú, Trang Bích Liễu, Vương Ngọc, Cẩm Tú, Cát Phương, Tú Thanh(con của Thanh Tú), Phương Thảo, hề nữ Kim Hoàng, Hương Thủy. Vào đoàn hát, Hương Thủy vai hát đầu tiên là vai Lưu Cẩm Chiêu tuồng Lâm Sanh Xuân Nương, hát tại rạp Cẩm Mỹ, nông trường cao su Long Khánh.
Hương Thủy được khán giả nhiệt liệt khen ngợi ngay suất hát đầu tiên, được hai nghệ sĩ - bầu gánh Thanh Tú và Trang Bích Liễu nhận làm con nuôi và cho hát các vai đào nhì tuồng Qua Cầu Thiên Mã, Lửa Hồng Đông Đô, Thạch Sanh Lý Thông.
Năm 1987, bầu gánh hát Hương Bình quận Tân Bình là nghệ sĩ Minh Cường mời Hương Thủy về hát chánh. Lúc đó ở thành phố có bốn đoàn cải lương quận đang hát rất ăn khách. Đó là đoàn cải lương Hương Bình quận Tân Bình với cặp đào kép chánh Minh Cường – Hương Thủy; đoàn cải lương Hoa Lan quận 6 với các diễn viên Tấn An, Xuân Lan, Linh Cường, Kim Chi(con gái của danh hề Kim Quang); đoàn cải lương quận 8 với cặp đào kép chánh Kiều Minh Trang – Minh Trung và cô đào trẻ đang lên Ngọc Huyền; đoàn cải lương Thủ Đức với cặp diễn viên chánh Ngân Linh và Phượng Hoa.
Nữ nghệ sĩ Hương Thủy hát ở đoàn Hương Bình quận Tân Bình với các nghệ sĩ Minh Cường, Trần Phương Thảo, Hoàng Mộng Ngọc, Bạch Thúy, Hương Xuân, hề Minh Nga, hát vai đào chánh qua các tuồng: 17 Năm Trường Hận, Thằng Gù Đi Hái Trái Mơ, Truy Ngư, Lưu Bình Dương Lễ, Hòn Vọng Phu.

Nổi danh từ Trung vô Nam

Năm 1989, các đoàn cải lương quận huyện đều bị giải tán, nghệ sĩ bầu gánh Minh Cường mang đoàn Hương Bình về đăng ký ở tỉnh Sông Bé, đổi tên bảng hiệu là đoàn cải lương Bình Dương. Hương Thủy vẫn hát chánh trên sân khấu đoàn hát Bình Dương.
Hương Thủy là diễn viên có sức thu hút khán giả rất mạnh nên nhiều bầu gánh hát tranh nhau mời cô về cộng tác.
Đến năm 1990. Hương Thủy muốn phát triển khả năng ca diễn nên cô nhận ký hợp đồng với đoàn cải lương Kiên Giang 289 do nghệ sĩ Ngọc Loan Anh làm bầu, về hát cho tỉnh Kiên Giang, gồm có các nghệ sĩ Ngọc Loan Anh, Minh Phương, Mộng Trinh, Ngọc Loan Em, Chí Long, Phương Hoài Thanh, hề Minh Tùng. Nữ nghệ sĩ Hương Thủy đã hát qua các tuồng Bụi Mờ Vó Ngựa, Kiếm Sĩ Áo Chàm, Đưa Em Về Quê Mẹ, Lan và Điệp…
Nữ nghệ sĩ Hương Thủy rất sáng sân khấu, khi hóa trang vào các vai tuồng cổ trang cũng như tuồng xã hội nữ nghệ sĩ Hương Thủy đều rất xinh đẹp, sang trọng. Giọng ca vọng cổ thật êm, quyến rũ và Hương Thủy ca bài bản cổ nhạc nào cũng đúng điệu thức, nghe rất hay.
Thưa quý thính giả, vừa rồi là giọng hát của nữ nghệ sĩ Hương Thủy.
Năm 1991, nữ nghệ sĩ Ngọc Loan Anh giao đoàn hát Kiên Giang 289 cho nghệ sĩ Minh Phương điều khiển, cô về làm việc ở nhà văn hóa Kiên Giang. Nghệ sĩ Minh Phương mang đoàn ra tỉnh Tuy Hòa đăng ký với tên bảng hiệu Đoàn Tiếng Hát Minh Phương. Nữ nghệ sĩ Hương Thủy hát chánh, nổi danh qua các vai Nhạc Linh San tuồng Giọt Tình Cay Đắng, vai Liên Hoa tuồng Máu Nhuộm Bến Đò Xưa, vai Bạch Thiên Nga tuồng Máu Nhuộm Sân Chùa. Khán giả từ kinh thành Huế và các tỉnh lần vô Nam đến Tuy Hòa đều ngợi khen giọng ca và lối diễn xuất của nữ nghệ sĩ Hương Thủy.
Năm 1992, đoàn Tiếng Hát Minh Phương lưu diễn miền Bắc, Hương Thủy không theo đoàn. Khi nghe tin nầy có ba đoàn hát đến tranh nhau ký hợp đồng mời Hương Thủy cộng tác. Đó là đoàn Kim Thanh của ông bầu Phi Bằng, đoàn Cao Vân Lầu của bầu Thanh Tài và đoàn Tiếng Hát Vương Linh của bầu gánh kiêm nghệ sĩ Vương Linh ở Đà Nẳng.
Vì khán giả miền Trung rất ái mộ Hương Thủy nên cô chọn ký hợp đồng hát cho đoàn Tiếng Hát Vương Linh Đà Nẳng. Đoàn có thành phần diễn viên Vương Linh, Hương Thủy, Thanh Thanh Tuấn, Tú Quyên, Linh Thanh, Châu Kiệt, Yến Oanh, Thanh Vân, Diễm Lan, hề Vũ Quốc.
Nữ nghệ sĩ Hương Thủy sáng chói trong vai đào chánh của đoàn Tiếng Hát Vương Linh, qua các vai Bạch Trang Đài tuồng Cuồng Đao Kiếm Khách, vai A Khắc Mỹ Xuyên tuồng Mạc Phong Sơn Đẩm Máu, vai Phương Liên tuồng Tình Yêu Tướng Cướp, vai Mộng Thu tuồng Nữ Sát Tinh, vai Hằng Nga tuồng Thằng Cuội Cung Trăng.
Đến năm 1993, Hương Thủy về cộng tác với đoàn hát Cao Văn Lầu của tỉnh Minh Hải. Đoàn Cao Văn Lầu có các diễn viên Thanh Tài, Thanh Tuấn, Hương Thủy, Ngân Linh, Vương Minh, Nhật Linh, Lan Châu, hề Bảo Chi, các nữ diễn viên Lan Châu, Lan Huệ, Ý Trinh, Tiểu My, Hương Thảo, Hoàng Long. Đóng vai đào chánh trong các tuồng Hồi Trống Kinh Hoàng, Lời Thề Bên Suối, Y Ban và Nàng Tiên. Nữ nghệ sĩ Hương Thủy chinh phục được khán giả hậu giang cũng như đã từng chinh phục khán giả miền Trung qua sắc đẹp sang trọng, lối diễn xuất sắc và giọng ca truyền cảm của Hương Thủy.
Năm 1994, nghệ sĩ kiêm bầu gánh Thanh Tài đưa đoàn Cao Văn Lầu về tỉnh Tiền Giang đăng ký, lấy bảng hiệu đoàn cải lương Tiền Giang, Hương Thủy vẫn được mời làm đào chánh đoàn hát Tiền Giang.
Đoàn cải lương Tiền Giang khai trương bảng hiệu tại rạp Vĩnh Lợi Mỹ Tho vào giữa tháng 4 năm 1994. Đoàn hát gồm có các nghệ sĩ Hương Thủy, kép chánh Chiêu Tuấn, Vương Kiệt, Linh Anh, Linh Kiều, Thanh Dũng, Thanh Tài. Đoàn cải lương có sự cộng tác của Hương Thủy trở thành đoàn cải lương ăn khách nhất ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Khi được hỏi vì sao Hương Thủy không ký hợp đồng về hát ở các đoàn hát ở Saigon như đoàn Trần Hữu Trang hay các nhóm nghệ sĩ Thắng Sáng Niềm Tin, Làn Điệu Phương Nam. Hương Thủy trả lời:
Cháu là người ham nghề nên bao giờ cũng muốn học hỏi thêm, mong được thành danh cho vui lòng cha mẹ và bảo đảm được cuộc sống của mình. Về thành phố hát ở nhóm Thắp Sáng Niềm Tin, Làn Điệu Phương Nam, Trần Hữu Trang thì mỗi tháng chỉ diễn được vài suất hát, lại còn phải bon chen, không bảo đảm được sinh kế bằng nghề hát. Theo đoàn tỉnh, tuy có cực khổ nhưng hát ở tỉnh, ở nông thôn, gần gũi khán giả, cháu được khán giả ái mộ, giúp đỡ cháu nhiều nên cháu hát để phục vụ lại khán giả, vừa có dịp hát được nhiều, số thu nhập cũng bảo đảm được cuộc sống và còn giúp đỡ được cho cha mẹ già.
Cháu chỉ mong sao Saigon trở lại cái thời hoàng kim của sân khấu, nếu ở Saigon mà hát được nhiều suất như ở tỉnh thì cháu sẽ về đó hát để gần gũi cha mẹ cháu.
Thưa quý thính giả, chương trình cổ nhạc kết thúc, Nguyễn Phương xin hẹn tái ngộ vào giờ này tuần sau.

Soạn giả Quy Sắc

Soạn giả Quy Sắc tên thật là Nguyễn Phú Quý, sanh năm 1924, quê quán tại tỉnh Thủ Dầu Một, nay là tỉnh Bình Dương. Anh Quý có bằng Thành Chung chương trình Pháp ở Saigon, năm 1943 khi quân đội Nhựt Bổn đến Sàigòn, anh nghĩ học trở về Thủ Dầu Một, làm giáo viên ở trường Tiểu Học của tỉnh.

Từ một giáo chức

Đầu năm 1955 tôi gặp anh Quý trong nhà của ông Bầu Nghĩa, gần Sở Cảnh Sát Công Lộ ở đường Trần Hưng Đạo, đối diện với Sở Chửa Lửa đô thành Saigon. Anh Quý là gia sư, dạy học kèm cho Juliette Nga lúc đó cháu Nga được 13 tuổi.
Anh Quý biết tôi cũng học chương trình Pháp, từng làm công chức Sở Bưu Điện Saigon trước khi gia nhập đoàn hát hành nghề soạn giả nên sau những giờ dạy cho cô Juliette Nga học, anh thường trò chuyện cùng tôi. Anh muốn biết cuộc sống của soạn giả cải lương có thu nhập như thế nào, thuận lợi và khó khăn ra sao?
Tôi cho anh biết lương của soạn giả nếu có tiền bản quyền tác phẩm được trình diễn thì cao hơn lương của công chức hay giáo chức rất nhiều. Tuy nhiên nếu gánh hát nghĩ hát hay hát không ăn khách, nghệ sĩ và soạn giả phải lãnh phân nửa hay một phần tư số lương do đó cuộc sống bấp bênh chớ không như công chức, giáo chức có lương ổn định. Anh hỏi nếu tình trạng lương phạn như vậy, tại sao tôi bỏ không làm việc ở Sở Bưu Điện mà lại đi theo đoàn hát?
Tôi nói: khi mới bắt đầu thì vì tôi ham vui mà theo gánh hát nhưng sau này tôi khám phá ra niềm vui lớn nhất của tôi là sáng tác được một vở tuồng thành công. Khi khán giả và nghệ sĩ tán thưởng tác phẩm của tôi sáng tác thì đó là phần thưởng tinh thần rất quý giá. Không phải có nhiều tiền mà mua được cái phần thưởng đó. Thêm nữa khi theo nghề soạn giả, bắt buộc tôi phải đọc nhiều sách, học thêm nhiều vấn đề mà khi ở trường, tôi chưa được biết qua. Và sau hết là mình có thể thông qua các diễn viên để biến những sự suy nghĩ, những tưởng tượng của mình thành nhân vật và sự việc xảy ra trên sân khấu.
Anh Quý cũng đồng quan niệm như tôi. Anh cho biết anh làm giáo chức vì có ông chú họ sáng lập trường tư thục tại Saigòn. Ông chú của anh Quý chạy lo giấy tờ hợp lệ về sư phạm để cho anh được phép đứng lớp dạy học trò. Dạy trường của chú ít giờ quá, mỗi giờ lương chỉ được 50 đồng nên anh Quý phải dạy chạy tandem thêm nhiều trường khác mới đủ sống. Anh Quý đã dạy ở trường Phan Sào Nam, Giám đốc là ông Trần Văn Từ. Anh Quý còn dạy thêm ở trường Lê Tấn Thành ở đường Nguyễn Thái Học, nhà văn Quốc Ấn làm Giám Đốc, ông Lê Tấn Thành là sáng lập viên. Ông Lê Tấn Thành là anh hai của nữ nghệ sĩ Bảy Nam, cậu ruột của kỳ nữ Kim Cương.
Ngoài ra anh Quý còn nhận đến nhà dạy kèm cho học trò. Các học trò được anh Quý đến dạy kèm tại nhà có Juliette Nga, con của ông bà Bầu Nghĩa, có con trai của bác sĩ Hớn ở đường Nguyễn Thái Học, con trai của dân biểu Sanh…

Một soạn giả tài danh

Nhờ dạy cho Juliette Nga, anh Quý quen với ông Bầu Nghĩa, vào hậu trường sân khấu, xem hát và nghĩ đến việc sáng tác kịch bản cải lương. Tên soạn giả Quy Sắc bắt đầu từ đó. Quy Sắc hợp soạn với nhà thơ Kiên Giang tuồng Người Vợ Không Bao Giờ Cưới, vở tuồng đã đem đến huy chương vàng giải Thanh Tâm cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga trong năm 1958.
Cậu Ba Đức, con của ông Năm Mạnh thay cha làm chủ hãng dĩa nhựa Asia, mời hai nghệ sĩ Hữu Phước và Út Bạch Lan thu thanh dĩa vọng cổ. Nghệ sĩ Hữu Phước giới thiệu soạn giả Quy Sắc với cậu Ba Đức.
Dĩa nhựa đầu tiên Quy Sắc viết cho Hữu Phước là dĩa Nắm Xương Tàn, kế đó Quy Sắc viết cho Út Bạch Lan bài vọng cổ Kiếp Hồng Nhan. Hữu Phước và Út Bạch Lan ca thu dĩa hai bài ca vọng cổ đó cho hãng Asia, cả hai dĩa hát nầy đều được thính giả ưa thích, dĩa được bán rất chạy, phải tái bản luôn.
Sau đó nữ danh ca vọng cổ Thanh Hương được mời về ca cho hãng dĩa Asia, soạn giả Quy Sắc viết bài Vọng cổ Cô Bán Đèn Hoa Giấy. Dĩa hát thành công lớn, tên tuổi của danh ca Thanh Hương qua bài vọng cổ Cô Bán Đèn Hoa Giấy được thính giả nhiệt liệt ái mộ. Báo Tiếng Dội kịch trường tổ chức trưng cầu ý kiến độc giả, nữ nghệ sĩ Thanh Hương qua bài ca vọng cổ Cô Bán Đèn Hoa Giấy được bầu là đệ nhất nữ danh ca vọng cổ. Phía nam ca sĩ thì nghệ sĩ Út Trà Ôn được bầu là đệ nhất nam danh ca vọng cổ.
Sau thành công lớn của bản vọng cổ Cô Bán Đèn Hoa Giấy, soạn giả Quy Sắc được hãng dĩa Asia ký contrat soạn giả độc quyền của hãng dĩa Asia, tiền thưởng contrat một năm là 5000 đồng, tiền bản quyền mỗi dĩa vọng cổ là một ngàn đồng, tuồng hát trên sân khấu mỗi tuồng cắt làm tám mặt dĩa, tiền bản quyền dĩa vọng cổ và in bài ca Quy Sắc nhận được tám ngàn đồng.
Tài chánh thu nhập hàng tháng của soạn giả Quy Sắc cao hơn rất nhiều so với số lương tháng của một giáo viên nên ông thầy giáo Nguyễn Văn Quý từ giã nhà trường và các học trò của ông, mang nghệ danh Quy Sắc để gắn bó trọn đời với sân khấu và nghệ sĩ.
Soạn giả Quy Sắc sáng tác nhiều tuồng cải lương được trình diễn trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga, Kim Chưởng như tuồng Người Vợ Không Bao Giờ Cưới hợp soạn với Kiên Giang, tuồng Khi Rừng Mới Sang Thu hợp soạn cùng soạn giả Loan Thảo, vở Trăng Thề Vườn Thúy hợp soạn với soạn giả Mộc Linh, tuồng Nghiệp Giáo.
Tuồng Khi Rừng Mới Sang Thu của hai soạn giả Quy Sắc và Loan Thảo là bản tình ca diễm lệ của nữ chúa Tọa Mã Sơn do nữ nghệ sĩ Mỹ Châu thủ diễn, vì lầm yêu Hoàng Phi Hải do Minh Phụng diễn, một trang mã thượng phong lưu nhưng lại là một tên gián điệp của triều đình khiến cho Tọa Mã Sơn bị quân triều đình tàn phá. Những người trung thành và yêu nữ chúa như chàng Gù, như đầu mục Tạ Tử Lăng do Thanh Sang diễn, đều trung liệt đến hơi thở sau cùng. Chủ đề của vở tuồng mang tính ẩn dụ, cảnh báo những ai tôn thờ tình yêu một cách mù quáng, xem nặng tình yêu hơn sự nghiệp thì dễ trở thành nạn nhân của những mưu đồ bẩn thỉu của bọn bán nước cầu vinh. Tình tiết sôi động hấp dẫn, văn chương trong sáng, đậm chất thơ, bài ca cổ nhạc đặt để đúng với tâm trạng của nhân vật , lại được các giọng ca ngâm tuyệt vời của các nghệ sĩ danh ca Mỹ Châu, Minh Phụng, Lệ Thủy, Thanh Sang, Diệp Lang, Kim Ngọc biểu diễn, góp phần thành công không nhỏ cho tác phẩm của hai tác giả Quy Sắc và Loan Thảo.
Soạn giả Quy Sắc là một trong những soạn giả cải lương có nhiều thành công lớn trong địa hạt dĩa nhựa cũng như trên sân khấu, có thu nhập rất cao, cuộc sống sung túc ổn định.

Biến cố 30 tháng 4

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đổ ụp đến, các hãng dĩa bị nhà nước tịch thu, các gánh hát bị giải tán. Các soạn giả cải lương của miền Nam bị cấm hành nghề 10 năm để cải tạo tư tưởng và học đường lối mới của cách mạng, tất cả các tuồng sáng tác trước 1975 không được hát lại, nguồn thu nhập của tất cả các soạn giả và nghệ sĩ bỗng bị cắt ngang, nghệ sĩ và soạn giả lâm vào cảnh thiếu đói trong khi đó trong tay không có nghề nào khác để kiếm sống ngoài cái nghề đờn hát trên sân khấu. Soạn giả Quy Sắc cũng như bao nhiêu bạn đồng nghiệp của anh phải bán tháo báo đổ những tư trang vật dụng đắt giá để sống cầm hơi. Khi có lịnh mở khóa giáo dục sáng tác kịch bản cải lương, các soạn giả Saigon cũ được triệu tập đi học. Ba tháng mãn khóa, trưởng khóa tuyên bố kết quả: không chọn được đề cương một tuồng nào chớ đừng nói chi kịch bản.
Sau đó vài tháng Sở Văn Hóa lại mở khóa giáo dục tư tưởng, xây dựng hình tượng con người mới…vân vân, rồi mãn khóa, rồi lại mở khóa, rồi mãn khóa, cứ như vậy mà mãi mãi không có soạn giả nào được chấp thuận có đề cương đúng theo đường lối cách mạng. Các soạn giả bị tẩy rửa tư tưởng tự do tư sản, bị nhồi nhét đường lối mới, tư tưởng mới như vậy suốt trong mười năm, cho đến năm 1986, ông Nguyễn Văn Linh tuyên bố cởi trói văn nghệ sĩ thì tất cả các soạn giả cũ đều già khú, không thể trở thành con người mới hay soạn giả mới. Soạn giả Quy Sắc là một trong những người bị dìm trong cái chánh sách đưa đến cái chết dần chết mòn, khó bề phản kháng.
Thưa quý thính giả, chương trình cổ nhạc xin chấm dứt, Nguyễn Phương xin hẹn vào giờ nầy tuần sau.

Giải Thanh Tâm và nữ nghệ sĩ Thanh Nga

Thanhnga-wikipedia-200.jpg
Cố nghệ sĩ Thanh Nga Photo courtesy of wikipedia
Trước hết tôi xin trình bày về giải Thanh Tâm nổi tiếng thời thập niên 1960, và vài nét về nữ nghệ sĩ Thanh Nga là nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm đầu tiên. Thật ra thì giải Thanh Tâm khởi đầu từ năm 1958 và lần đầu tiên ấy chỉ phát cho một người, đó là nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Sau đó giải được phát liên tục hằng năm, và cho đến năm cuối 1967 phát cho 4 nghệ sĩ gồm 2 nam là Bảo Quốc – Phương Bình và 2 nữ là Mỹ Châu và Ngọc Bích.
Như vậy giải Thanh Tâm hoạt động đúng 10 năm. Và cho đến năm Mậu Thân 1968 thì đình chỉ luôn cho tới bấy giờ. Và theo như nhận định của nhiều người, thì giải này sẽ không
bao giờ sống lại bởi hai lý do chính:
1) Tình trạng cải lương ngày một xuống dốc và cho đến ngày nay thì chưa thấy có dấu hiệu nào khôi phục trở lại.
2) Chủ giải là ông Trần Tấn Quốc, tức ký giả Thanh Tâm thì đã qua đời. Khó có ai đủ tư cách đứng lên dựng lại giải.

Sự ra đời của giải Thanh Tâm

Số là thời thập niên 1940-1950 ở Sài Gòn có tờ nhựt báo Tiếng Dội do ông Trần Tấn Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Sau nhiều năm mở trang kịch trường nói về hoạt động nghệ thuật cải lương, được độc giả yêu thích nghệ thuật sân khấu hoan nghinh và ủng hộ. Báo bán khá chạy, mỗi ngày một tăng, nhờ con số độc giả cải lương phần nhiều là giới nữ mà vốn ít khi đọc báo. Do vậy mà đến năm 1958 ông Quốc nghĩ đến chuyện cần phải có một giải thưởng cho bộ môn nghệ thuật này, bởi lúc ấy trường Quốc Gia Âm Nhạc đã không có lớp dạy về cổ nhạc cải lương, và các cơ quan văn hóa chính quyền cũng chưa chính thức ra một giải thưởng nào về bộ môn nghệ thuật này.
Thế là ông Trần Tấn Quốc loan báo trên tờ Tiếng Dội, rằng ông cũng như tờ báo chủ trương một giải thưởng nghệ thuật lấy tên “Thanh Tâm”, tức bút hiệu viết báo của ông. Cái buổi đầu tiên nầy rất đơn giản, ban tổ chức chỉ có mỗi một mình ông Quốc đảm trách, và ban tuyển chọn, tức ban giám khảo cũng chỉ có 5 người: Bà Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nhiêu là 3 nghệ sĩ kỳ cựu, ông Trần Tấn Quốc (chủ giải), và ông Nguyễn Hoàng Minh (ông Minh là công chức tham gia ban tuyển chọn với tư cách khán giả ái mộ).
Năm người chấm giải Thanh Tâm 1958 đầu tiên trên đây thì các nghệ sĩ tiền phong Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nhiêu và ký giả Trần Tấn Quốc đã qua đời. Riêng ông công chức Nguyễn Hoàng Minh tham gia ban tuyển chọn thì về sau không thấy xuất hiện lần nào nữa.
Năm đầu tiên giải phát cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga được tổ chức tại Bồng Lai tửu quán, một nhà hàng Tàu ở ngay trung tâm Thủ Đô Sài Gòn.
Lúc bấy giờ rất nhiều người trong giới báo chí cũng như giới cải lương đã thắc mắc nói rằng phát giải tổ chức ở nhà hàng sang trọng như vậy, ông Quốc lấy tiền đâu để tổ chức chớ, bởi tờ Tiếng Dội đâu phải là tờ báo giàu, thì tiền đâu đãi đằng thiên hạ ở tửu lầu Bồng Lai?

Lúc ấy có nhiều người cố tình tìm hiểu sự việc nhưng chẳng hề có câu trả lời, bởi nếu có ai đó hỏi thì ông Quốc chỉ cười trừ mà thôi chớ chẳng đi vào vấn đề. Cũng có người nói tiền ấy là của đoàn Thanh Minh, nhưng lý lẽ này đã không vững, bởi thời điểm ấy bầu gánh đoàn Thanh Minh là nghệ sĩ Năm Nghĩa bị bệnh trầm kha, thuốc thang mỗi ngày, hát đêm nào đủ tiền phát cho đào kép, công nhân và chủ nợ là mừng rồi.
Đang nợ nần thì có ai đâu tiền vay bạc hỏi thêm để đi làm cái chuyện mà theo quan niệm lúc ấy chẳng có gì thiết thực, người ta chưa có một ý niệm nào về một giải thưởng cho cải lương, giải Thanh Tâm chỉ nổi tiếng ở những năm về sau mà thôi. Bởi vậy sau này có hai lập luận, kẻ thì nói Thanh Nga nổi tiếng nhờ giải Thanh Tâm, người thì bảo giải Thanh Tâm nổi tiếng nhờ Thanh Nga, không biết cái nào đúng. Có người nói rằng cả hai lập luận trên đều đúng vậy!
Như đã nói giải Thanh Tâm 1958 phát cho Thanh Nga ở Bồng Lai tửu quán đã gây bất ngờ cho giới sân khấu cải lương, cho mọi giới, bởi một rừng ký giả các báo tham dự, vì tờ báo nào ở thời điểm đó cũng được giấy mời. Lâu lắm mới có dịp được mời đi ăn cao lâu thì đâu có báo nào bỏ qua. Ngoài ra còn có các cơ quan truyền thông của chính quyền cũng hiện diện như Đài Phát Thanh Sài Gòn và Nha Điện Ảnh đến quay phim (lúc bấy giờ chưa có truyền hình).
Mấy ngày sau đoạn phim quay cảnh giải Thanh Tâm được cho vào cuốn phim Thời Sự Việt Nam, để rồi dân chúng Thủ Đô Sài Gòn và luôn cả các tỉnh trên toàn quốc, từ thành thị đến thôn quê thiên hạ phần đông đều biết rằng Thanh Nga lãnh giải Thanh Tâm.
Điều cần nói rõ thêm là khi xưa, thời Đệ Nhất Cộng Hòa khán giả đi coi chiếu bóng, lúc đèn vừa tắt thì tất cả được yêu cầu đứng lên chào cờ, và kế đó thì phim thời sự được chiếu trước, sau đó mới tới phim chính. Phim thời sự không những được chiếu ở hầu hết các rạp chiếu bóng trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, mà còn được mấy chục xe chiếu bóng lưu động của Ty Thông Tin các tỉnh hằng đêm chạy đến các bãi đất trống ở vùng quê, chiếu miễn phí cho bà con nông thôn xem.
Nhờ được vô cuốn phim thời sự này mà tên tuổi Thanh Nga nổi như cồn (lúc ấy cô mới 17 tuổi), cũng như nhờ vậy mà giải Thanh Tâm được nhiều người biết đến. Do phát giải Thanh Tâm lần đầu tiên quá long trọng, lại tổ chức ở tửu lầu, nên đã gây ấn tượng tốt đẹp cho những người đang hoạt động trong lãnh vực sân khấu cải lương.
Giới thiệu 2 câu vọng cổ dĩa hát “Hồi Chuông Thiên Mụ” do Thanh Nga ca.
Chương trình hôm nay đã hết, xin hẹn lại kỳ tới. Tôi là Ngành Mai xin kính chào tất cả quý thính giả Đài Á Châu Tự Do.

Đoạn cuối của vở hát “Nửa Đời Hương Phấn”

Xưa nay khán giả cải lương từng coi qua nhiều tuồng, hầu như ai cũng nhìn nhận rằng tuồng nào cũng hay ở màn chót, do vậy mà chỉ trừ những trường hợp đặc biệt nào đó thì người ta mới bỏ ra về nửa chừng, chớ ai cũng muốn coi đến lúc vãn hát để xem kết cuộc ra sao. 
 
 
Nghệ sĩ Hữu Phước và Út Bạch Lan trong
Nghệ sĩ Hữu Phước và Út Bạch Lan trong &quot;Nửa Đời Hương Phấn&quot; cailuongvietnam
Riêng vở tuồng Nửa Đời Hương Phấn thì màn chót không những hay, mà còn gây ấn tượng sâu sắc trong lòng của khán giả, về tới nhà rồi mà vẫn còn ngậm ngùi thương xót nhân vật nữ với cuộc đời truân chuyên, khổ lụy.

Nhân vật nữ chánh, cô Hương trong tuồng đã làm rơi nước mắt hằng bao khán giả, nhiều người nữ trẻ đã khóc, mấy bà già cũng khóc, đàn ông con trai cũng xót xa ứa lệ.

Thuở ấy có một cô gái nọ vừa coi hát, lại vừa cầm khăn tay lau nước mắt và thốt lên: “Hoàn cảnh chị Hương sao giống em quá!” Có nhiều người nữ đã đi coi tuồng Nửa Đời Hương Phấn đến cả chục lần.

Cho ra đời vở tuồng Nửa Đời Hương Phấn, hai soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng đã nghiễm nhiên đi vào chỗ đứng khá cao trong hàng soạn giả cải lương, dù tuổi đời cả hai lúc ấy chỉ ngoài 20.

Tôi còn nhớ vào năm 1965 tức 5 năm sau vở hát Nửa Đời Hương Phấn được tái diễn tại rạp Hưng Đạo, hát ban ngày lúc 3 giờ chiều ngày Thứ Bảy, nhưng vé đã bán hết từ chiều Thứ Sáu.

Thời điểm này vé cải lương thượng hạng 80 đồng, nhưng xuất hát ấy nhà tổ chức đã bán 100 đồng.

Đến chiều Thứ Bảy ngoài số khán giả đã mua vé, đông đảo khán giả khác đến mua vé chợ đen hạng ba cũng 100 đồng, và thương hạng thì 200 đồng. Hoặc số người không mua được vé, họ đưa 50 đồng tiền cửa thì được vô đứng coi.

Khán giả đứng tràn ngập ra đến cửa, và trong hậu trường thì khán giả coi cọp đông nghẹt đến nghẽn lối đi. Hơi người nóng hừng hực, hơi mát của máy lạnh không thấm vào đâu.

Thật là một buổi hát thu đạt kết quả tài chánh và kết quả tinh thần ngoài sức tưởng tượng, đã cho thấy sự ăn khách của vở hát.
 

Thầy tuồng bị xem là “tớ tuồng”

Cải lương ngày xưa, dù cho ai có tính cao ngạo đến đâu cũng phải nhìn nhận soạn giả hay người thầy tuồng là linh hồn của một đoàn hát.
Ngành Mai, Thông tín viên RFA
2013-01-04
Vở Con gái chị Hằng của soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng, với Tám Vân - Thanh Nga - Hữu Phước.
Vở Con gái chị Hằng của soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng, với Tám Vân - Thanh Nga - Hữu Phước.
Photo courtesy of conhacvietnam.com

Cha đẻ của tác phẩm

Thầy tuồng bỏ ra nhiều công phu đôi ba tháng, hoặc 5, 6 tháng và có khi cả năm, để chọn từng câu văn, từng chi tiết phổ biến thành một ca kịch phẩm để cho một nhóm nam nữ nghệ sĩ diễn đạt lại trong vòng 3 tiếng đồng hồ, dưới sự theo sát và chỉ dẫn từng cá nhân của người cha đẻ ra soạn phẩm.
Công trình tim óc nhọc nhằn đó không ngoài mục đích làm sống gánh hát, tức nhiên làm sống chủ nhân và tất cả nghệ sĩ trong đoàn, nên ngày xưa vai trò quan yếu của ông thầy tuồng mặc nhiên được đặt để ở hàng đầu, và được sự nể trọng của mọi người trong đoàn hát.
Cái uy quyền của các cụ soạn giả tiền bối như: Mộc Quán, Nguyễn Công Mạnh, Mười Vảng và kế đó là quý ông Nguyễn Thành Châu, tức nghệ sĩ Năm Châu, ông Huỳnh Thủ Trung tức Tư Chơi mà nhứt là ông Hai Trung tự Mộng Vân thì quả thật là tuyệt đối.
Ông Mộng Vân quê quán ở Bạc Liêu, là bầu gánh hát Mộng Vân kiêm soạn giả, ông được hầu hết người trong giới nể trọng. Rất nhiều kịch bản thời xưa do ông soạn cho nhiều đoàn trình diễn, mỗi khi ông đến thăm đoàn hát nào thì bầu gánh và cả nhóm nghệ sĩ đã đón rước ông thật rình rang, long trọng không kém cuộc đón rước Thần về làng.
Những lúc ông tập tuồng (dĩ nhiên là tuồng của ông viết) được loan báo trên tấm bảng đen khởi sự tập 9 giờ, sau ba hồi chuông báo hiệu, các nghệ sĩ có tuồng kể cả đào kép chánh đều phải lo chuẩn bị hội tụ đủ mặt trên sân khấu luôn trước giờ ấn định, dù cho là hàng gạo cội trong đoàn mà trễ một vài phút thôi cũng bị cúp lương rồi.
Còn mấy lúc sau này, tức thập niên 1960 trở về sau, trừ một số rất ít soạn giả tên tuổi, chớ phần nhiều thì vai trò của soạn giả không còn được coi như gọi là thầy tuồng nữa, mặc nhiên đã bị xuống cấp, bị một số đào kép chánh đè xuống hàng thứ yếu. Vai tuồng nào họ không thích, họ ngang nhiên quăng trả lại cho thầy tuồng ngay bữa ráp đầu tiên, không thì họ làm áp lực với bầu gánh, rồi bầu gánh áp lực lại thầy tuồng phải sửa vai tuồng lại theo ý muốn của họ. Như vậy thầy tuồng đã trở thành “tôi tớ” của đào kép chánh rồi!
Còn nói đến chuyện tập tuồng mỗi buổi sáng thì thầy tuồng phải đến sân khấu trước hơn ai hết, và đào kép chánh phần đông đến trễ hơn ai hết, bao nhiêu người có mặt buộc lòng phải lóng nhóng ngồi chờ họ. Chỉ trừ một số ít như trên đã nói như Hà Triều, Hoa Phượng, Hoàng Khâm, Yên Ba, Loan Thảo, Mộc Linh là còn được đào kép chánh nể nang thôi, như soạn giả Hoa Phượng thì không đào kép chánh nào dám ra mặt phản đối.
Tuồng nầy đã kiểm duyệt rồi, các anh chị em không được sửa một chữ, biết không? Nếu đồng ý thì nhận, bằng không thì trả lại ngay”!
Soạn giả Hoa Phượng
Có lần tôi thấy một buổi trao vai tuồng cho các nghệ sĩ có vài trò mà trong đó có kép chánh Hùng Cường, một nghệ sĩ gạo cội, thì Hoa Phượng tay cầm cuốn tuồng, tay kia vừa vỗ lên vừa nói: “Tuồng nầy đã kiểm duyệt rồi, các anh chị em không được sửa một chữ, biết không? Nếu đồng ý thì nhận, bằng không thì trả lại ngay”! Rồi ông cầm cuốn tuồng đi đi lại lại không nói thêm lời nào nữa, cả sân khấu cũng lặng yên. Độ vài phút không thấy ai hó hé gì, ông mới vui vẻ trao vai tuồng cho từng người và gương mặt người nào cũng hân hoan.
Soạn giả Hoa Phượng liên danh với Hà Triều (Hà Triều – Hoa Phượng) từng soạn các tuồng cải lương nổi tiếng như Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Khi Hoa Anh Đào Nở... Hoa Phượng cũng từng hợp soạn với soạn giả Ngọc Điệp cho ra đời vở tuồng Tuyệt Tình Ca, tức Ông Cò Quận 9. Thành tích như Hoa Phượng thì nghệ sĩ nể trọng là lẽ đương nhiên, ông mới đúng là “thầy tuồng”, chớ nhiều soạn giả khác thì thuộc về “tớ tuồng” thôi!

Gian nan thầy tuồng

con-gai-chi-hang-250.jpg
Từ trái sang: Thanh Nga - Hữu Phước - Thành Được trong vở Con Gái Chị Hằng. Photo courtesy of conhacvietnam.com Từ trái sang: Thanh Nga - Hữu Phước - Thành Được trong vở Con Gái Chị Hằng. Photo courtesy of conhacvietnam.com
Thời gian cải lương còn hoạt động hầu như lúc nào cũng nghe nói thiếu tuồng mới, vậy mà có thiếu thật hay không chớ! Đây là sự thật của vấn đề mà soạn giả cải lương phải chấp nhận do bởi họ yêu nghề viết tuồng.Khi còn nằm trong bản thảo, kịch bản văn học sân khấu cải lương chưa đi trọn cái kiếp, có nghĩa chưa thể được gọi là tuồng, mà phải được dàn dựng, phải được diễn trên sân khấu thì mới gọi là tuồng. Nói một cách khác là nhân vật do soạn giả tạo thành, được đặt tên phải thoát ra khỏi những dòng chữ trên giấy, nói năng ca hát... chừng ấy mới gọi là tuồng. Do đó không thể biết được tuồng hay, dở khi nó còn trong giấy.
Đã không ít những tuồng khi viết xong, đã chịu nằm chết trong học tủ, trong ngăn kéo của soạn giả cả chục năm, có khi suốt cả đời chẳng ai ngó tới. Những nhân vật mà soạn giả đã lao tâm, khổ trí tạo ra đã không có cơ hội chào đời, không có dịp xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu. Tại sao vậy? Tại sao các đoàn hát than thiếu tuồng, mà tuồng soạn giả viết xong phải nằm một chỗ chờ chết?
Sau đây là tâm sự của một soạn giả mà người ta nêu lên, coi như một câu trả lời: “Mình đã chán cái cảnh mang kịch bản đi chào hàng lắm rồi! Đến các đoàn hát lớn thì đã có soạn giả thường trực đầy uy thế trong đoàn “trấn ải”. Len lỏi đến các đoàn hát nhỏ thì đa số chỉ thu băng thu đài, chép lại rồi phân rôle đem ra diễn, chả tốn hao gì. Đến phòng văn nghệ các đài thì càng lắm gian nan. Muốn các anh các chị chiếu cố đến mình cũng cực lắm”!
Trên thực tế cho thấy nhiều đoàn cứ lôi tuồng cũ, mấy mươi năm về trước, đem sửa chữa, đánh bóng lại, rồi trình diễn với một tựa tuồng mới. Trong khi đó biết bao nhiêu vở hát viết xong phải nằm chờ.
Mình đã chán cái cảnh mang kịch bản đi chào hàng lắm rồi! Đến các đoàn hát lớn thì đã có soạn giả thường trực đầy uy thế trong đoàn “trấn ải”.
Một soạn giả
Từ nhiều năm nay cải lương xuống dốc thê thảm, gần như tê liệt hoàn toàn, và điều đó ai cũng biết. Nhưng tìm cách nào để sống trở lại thì vẫn chưa có giải pháp. Nhưng hễ có ai chê bai sân khấu thì y như rằng, người ta sẽ đổ lỗi cho soạn giả.
Thời kỳ cải lương thịnh hành, người làm nghệ thuật sân khấu kiếm ăn được, vậy mà các soạn giả phải trải qua 6 cái “sợ”. Do đó mà khi cải lương ngất ngư, nói theo soạn giả Yên Lang là như cái “thi hài biết thở”, thì thử hỏi có thầy tuồng nào hăng hái viết kịch bản. Vậy 6 cái sợ ấy là gì?
Đầu tiên kịch bản đưa vào đoàn hát, soạn giả phải sợ bầu gánh trước nhất, kịch bản dù hay dù dở mà ông hoặc bà bầu nhà ta lắc đầu hay ngâm tôm ở đó nghiên cứu thì kể như dẹp. Kế đến là sợ các diễn viên chánh có vai không vừa ý là bắt đầu chê kịch bản này nọ, kế tiếp đó là sợ đạo diễn chưa bằng lòng kịch bản, rồi đề nghị sửa tới sửa lui mãi, tinh thần soạn giả cũng đủ bèo nhèo như cái mền rách rồi. Muốn vượt khỏi ba điều sợ này thì phải chịu mẻ tiền bản quyền.
Sau khi kịch bản được thông qua cho đào kép tập dượt, soạn giả lại còn phải trải qua ba điều sợ nữa. Thứ nhất là sợ khán giả xem không đông thì mọi việc đều đổ trút vào soạn giả, cho rằng tuồng không hay, tuồng không ăn khách. Thứ nhì là sợ các đồng nghiệp trong cái thế chen lấn mần ăn khó khăn sẽ có đủ trò làm người viết tuồng không yên tâm được. Thứ ba là sợ những kẻ tự cho mình cái quyền phê phán rồi nhận xét, tạo dư luận theo cảm tính cá nhân, khoác lên bằng thứ lập luận chê khen cũng bằng tình cảm riêng tư.
Chỉ mới có 6 cái sợ đó cũng đã làm giảm sút lòng tự tin tự hào của soạn giả rồi, còn nói chi đến trọng trách cao cả nữa chứ!

Người đẹp Bình Dương có liên hệ gì đến tỉnh Bình Dương?

Nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng.
Nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng.
File photo

Không xuất thân ở Bình Dương

Kể từ giữa thập niên 1950 cho đến sau này, khán giả hâm mộ hát bóng, cũng như rất nhiều người trong mọi giới đã không lạ gì với cái tên Thẩm Thúy Hằng, và người đời cũng đặt biệt danh cho nàng là người đẹp Bình Dương. Mới nghe qua thiên hạ tưởng đâu rằng Thẩm Thúy Hằng nếu không xuất thân ở tỉnh Bình Dương thì cũng có liên hệ gì đó đến cái đất địa cách Sài Gòn khoảng hơn 30 cây số về hướng Bắc, trừ phi những người từng biết căn cội của người nữ tài tử điện ảnh nổi tiếng là đẹp này.
Kể ra thì bên lãnh vực điện ảnh cũng có rất nhiều nữ tài tử, và luôn cả những người nổi tiếng, đóng nhiều phim Việt Nam, phim ngoại quốc, nhưng lại không có biệt danh, trừ trường hợp kỳ nữ Kim Cương đã sẵn có biệt danh bên địa hạt sân khấu từ lâu, ngoài ra chẳng thấy ai hết. Tóm lại trong làng điện ảnh chỉ duy nhứt Thẩm Thúy Hằng là có cái biệt danh “người đẹp Bình Dương”, một mỹ từ mà có lẽ không một người nữ nào lại chẳng muốn.
Thế nhưng, số đông thiên hạ đâu có biết Thẩm Thúy Hằng chẳng có liên hệ dính dáng gì đến vùng đất nổi tiếng có nhiều trái cây, sầu riêng măng cụt, chôm chôm như Lái Thiêu, hoặc là có nhiều đồn điền cao su như Lai Khê, Bến Cát của tỉnh Thủ Dầu Một, tức Bình Dương. Như vậy do đâu mà Thẩm Thúy Hằng lại mang biệt danh “người đẹp Bình Dương”?
Thật ra thì chẳng có mấy ai lại bỏ công tìm hiểu làm chi vấn đề “bao đồng” như thế, có ích lợi gì đâu chớ, mà chỉ những người hâm mộ nghệ thuật, muốn lưu lại cho thế hệ sau về lịch sử sân khấu, màn ảnh, cũng như sự thăng trầm ba chìm bảy nổi các bộ môn nghệ thuật nước nhà thì mới tìm hiểu ghi lại thành tài liệu lịch sử cho sau này.
Theo như tôi tìm hiểu thì nữ mình tinh Thẩm Thúy Hằng sinh quán ở miền Tây, tỉnh Long Xuyên, lên Sài Gòn đang học lớp Đệ Tứ ở trường Huỳnh Thị Ngà thì được hãng phim Mỹ Vân tuyển chọn đóng vai chánh cuốn phim có tên “Người Đẹp Bình Dương” để rồi sau đó người ta dùng nhân vật chính và địa danh trong cuốn phim để đặt biệt danh cho nàng. Có điều là Bình Dương trong cuốn phim kia lại không phải là Thủ Dầu Một, một trong 20 tỉnh của Nam Kỳ Việt Nam, mà là một địa danh ở... bên Tàu.
Năm 1957 nghệ sĩ Năm Châu, tức soạn giả Nguyễn Thành Châu hợp tác với hãng phim Mỹ Vân, đã dựa vào câu chuyện trong một cuốn sách của Tàu viết kịch bản cho phim, và dùng địa danh cùng nhân vật nữ chánh đặt tựa cho phim “Người Đẹp Bình Dương”. Đây là cuốn phim đầu tiên của minh tinh Thẩm Thúy Hằng, đã đưa nàng lên đài danh vọng, lại đồng thời được khán giả, thiên hạ đặt cho cái biệt danh nghe rất dễ thương.
tham_thuy_hang_250.jpg
Nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng. File photo. Photo: RFA
Vấn đề này về sau một ký giả kịch trường có hỏi Năm Châu tại sao lại lấy tên phim là Người Đẹp Bình Dương, để cho thiên hạ lầm lẫn với Bình Dương Thủ Dầu Một? Năm Châu trả lời, lúc ấy thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, ông viết truyện phim dựa vào câu chuyện nhân gian bên Tàu, và lúc quay cuốn phim “Người Đẹp Bình Dương thì tỉnh Thủ Dầu Một chưa đổi tên. Thế nhưng, khi phim kiểm duyệt xong ra mắt khán giả, thì lại đúng vào lúc có sắc lệnh của chính phủ đổi tên nhiều tỉnh chứ không riêng gì Thủ Dầu Một. Thấy cũng chẳng hại gì, thì thôi để vậy luôn.
Cũng cần biết thêm lúc tỉnh Thủ Dầu Một đổi tên, thì cùng lúc nhiều tỉnh khác cũng đổi tên mới như: Bà Rịa đổi tên Phước Tuy, Cần Thơ đổi tên Phong Dinh, Long Xuyên mang tên mới An Giang, và Vĩnh Bình thì tên mới của Trà Vinh... Còn các tỉnh vẫn giữ nguyên tên cũ là Biên Hòa, Tây Ninh, Gia Định...
Vào thời thập niên 1950 phim Việt Nam rất hiếm, lâu lâu mới có một cuốn phim Việt ra đời, nên rất được khán giả ủng hộ. Lúc bấy giờ đối với khán giả bình dân thì phim Việt dù dở cũng thành hay, do bởi người ta nghe được tiếng nói, thay vì phải đọc phụ đề Việt ngữ của các phim ngoại quốc mà đa số người coi đã không đọc kịp.

“Đẹp như Thẩm Thúy Hằng”

Cái may mắn của nữ tài tử Thẩm Thúy Hằng thì ngoài việc gia nhập làng điện ảnh ở thời kỳ mà phim Việt Nam rất hiếm, lại cũng chẳng phải tranh đua tài nghệ với ai. Ngoài ra cô còn có sắc đẹp lộng lẫy mà hầu như khán giả nào cũng công nhận, bởi nếu như người ta muốn khen một cô gái đẹp nào đó là thường hay nói “đẹp như Thẩm Thúy Hằng” vậy!
Thời gian làm tài tử cho nhiều hãng phim, người ta chỉ thấy Thẩm Thúy Hằng đóng cặp với nam tài tử cùng nghề, nhưng đến khi làm chủ hãng Việt Nam Film thì người đẹp Bình Dương nhắm vào thương mại nhiều hơn, và cô đã nhờ soạn giả Năm Châu viết cho kịch bản cuốn phim “Chiều Kỷ Niệm”, đồng thời mời kép cải lương Thanh Tú đóng cặp với cô.
Dạo đó các nhà làm phim không biết bắt mạch từ đâu mà lại ùn ùn chạy đi tìm đào kép cải lương tên tuổi mời về đóng phim, mà lại còn giao cho các vai trò nòng cốt, khiến cho các tài tử chuyên nghiệp mặc nhiên xuống giá, nếu không muốn thất nghiệp thì phải bằng long chấp nhận đứng chung sân quay với đào kép cải lương và chịu lãnh vai trò thấp hơn.
Thực trạng trên đã gây bất mãn cho một số tài tử điện ảnh chuyên nghiệp, và trong lúc cuốn phim còn đang quay thì họ tung tin rằng đào kép cải lương đóng phim “rất ư là cải lương”, hoặc loan truyền rằng ai đó cho biết cải lương bị chết đứng rồi, giờ đây chạy sang điện ảnh làm sao khá nổi chớ!
Riêng Thẩm Thúy Hằng trong lúc đang quay cuốn phim “Chiều Kỷ Niệm”, mà tài tử chánh là kép Thanh Tú đóng cặp với cô, thì có người hỏi ngay rằng:
“Tại sao lại chọn kép cải lương cho đóng phim mà lại là vai chánh nữa, bộ không sợ mất tiếng hãng phim hay
sao?”
Thẩm Thúy Hằng trả lời:
“Lấy tiếng cũng phải lấy tiền chớ!”
tth-250.jpg
Nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng cùng chồng là TS Nguyễn Xuân Oánh. File photo. Photo: RFA
Rồi cô còn nói thêm rằng đào kép cải lương tên tuổi đương nhiên họ có một số khán giả, giờ đây họ đóng phim tức nhiên số khán giả từng ái mộ họ sẽ mua vé đi coi. Sản xuất phim là làm thương mại rồi, cái tiếng rất cần nhưng tiền cần hơn!
Thế là người hỏi đành chịu thua thôi, và đào kép bên cải lương ào ạt nhảy vào lãnh vực điện ảnh, thao túng sàn quay, khiến cho một số tài tử bên điện ảnh chịu thất nghiệp, bởi các vai nòng cốt bị cải lương nắm hết. Những người bỏ tiền ra làm phim như Thẩm Thúy Hằng mời Thanh Tú cộng tác, cũng như Cosunam mời Thanh Nga là họ đã nhắm vào con số khán giả cải lương đông đảo từng ủng hộ thần tượng của họ.
Người ta nói làm nghệ thuật điện ảnh không nên lầm lẫn với cải lương, ai mà không đồng ý như vậy chớ, nhưng đâu có ai bỏ tiền ra làm nghệ thuật mà lại chẳng muốn cơ lợi vào. Lấy tiếng đã đành nhưng cũng phải lấy tiền nữa, vì lẽ đó nên Thẩm Thúy Hằng không thể bỏ qua được Thanh Tú, Phùng Há, Năm Châu, Kim Cúc, dầu những người này lên màn ảnh họ vẫn còn các điệu bộ của sân khấu, như người ta đã xem qua phim “Chiều Kỷ Niệm”. Ấy thế mà phim này Thẩm Thúy Hằng đã lời trên 10 triệu bạc, trong vòng tuần lễ đầu trình chiếu ra mắt tại hai rạp ở Thủ Đô Sài Gòn. Tại sao? Vì phim “lô canh” mà không được khán giả bình dân ủng hộ thì chết đi một cửa tứ. Phim của Thẩm Thúy Hằng mà lời được là do phần lớn khán giả cải lương ào tới xem coi thần tượng sân khấu của họ lên màn ảnh ra sao. Họ chẳng cần biết tên của Huy Cường, của Đoàn Châu Mậu, của Tony Hiếu là ai cả!
Và đến Kim Cương cũng thế, quay cuốn phim “Mưa Trong Bình Minh” kỳ nữ đã mời cải lương chi bảo Bạch Tuyết về giao vai chánh, và hãng thì lấy tên Kim Cương. Như vậy khán giả thoại kịch, cải lương, truyền hình và điện ảnh cùng đi coi phim chớ không hề phân biệt là bên nào, phía nào. Kỳ nữ xuất thân từ cải lương nên biết rõ khán giả của môn nghệ thuật này đông đảo hơn bất cứ môn nào, do đó mà làm ăn khá tậu khách sạn ở Vĩnh Long, mua xe hơi, biệt thự... Có cái nhìn thực tế như vậy mới làm giàu.
Sau 1975, Thẩm Thúy Hằng vẫn tiếp tục đóng phim, đóng kịch, nhưng rồi lại vắng mặt một thời gian khá dài. Mãi đến năm 1990 mới xuất hiện trở lại cho biết là sẽ cộng tác với hãng phim Ấn Độ, vì cô muốn đi đến đất Phật. Muốn theo chân Đường Tăng đến đất Phật, vừa đóng phim vừa đi thăm những nơi nào mà Đường Tăng đã đi qua, nơi nào ông đến thỉnh kinh, và cô cũng muốn tự mình tìm học những kinh Phật nào mà cô chưa biết đến.
Ngoài ra hãng phim Ấn Độ còn hứa sẽ thỏa mãn yêu cầu của cô là đi thăm viếng ở bất cứ nơi nào trên đất Ấn Độ còn dấu tích của Phật Thích Ca như Cội Bồ Đề, Vườn Trúc Lâm, Kỳ Viên Tự, những vùng thánh địa...
Được biết nữ nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng là người thuộc khá nhiều kinh Phật, và cô đã nuôi mộng “theo chân Đường Tăng” đi Ấn Độ từ nhiều năm, chứ không phải đợi đến khi xem bộ phim Tây Du Ký rồi mới muốn đến đất Phật. Sự hứa hẹn đáp ứng yêu cầu của hãng phim Ấn Độ, khiến cô rất vui mừng, sẽ thực hiện được ước mơ... theo chân Đường Tăng đi Ấn Độ!
Nữ nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng còn cho biết trong phim Tây Du Ký. Tề Thiên Đại Thánh đã cân đẩu vân rất nhanh, nhưng là nhanh đối với phương tiện cổ điển ngày xưa, chớ bây giờ cô ngồi máy bay phản lực bay một vèo là đến đất Phật, có lẽ Tề Thiên Đại Thánh cũng khó nhanh hơn...
Có điều là khi xưa Đường Tăng đến Ấn Độ rồi thành Phật Bồ Tát, còn Thẩm Thúy Hằng thì chưa thành Phật, mà về nước tiếp tục sống với ông Nguyễn Xuân Oánh cho đến ngày ông qua đời. Và người ta không biết người đẹp Bình Dương khi về già ra sao...?

Tuồng cải lương trúng giải, soạn giả có được dự thi tiếp?

Một cảnh diễn của đoàn nghệ thuật sân khấu Văn Lang.
Một cảnh diễn của đoàn nghệ thuật sân khấu Văn Lang.
Courtesy Ðoàn NTSK Văn Lang
Câu đầu đề bài nói chuyện hôm nay là câu hỏi của giới soạn giả chuyên nghiệp, lẫn thầy tuồng mới vào nghề, và cũng là câu hỏi của giới mộ điệu muốn góp ý vào việc phát giải cho tuồng cải lương năm tới. Đồng thời cũng là thắc mắc của người soạn giả vừa đoạt giải Phụng Hoàng đã gọi về ban tổ chức.

Câu hỏi quá sớm

Nhựt báo Người Việt, tờ báo lớn nhứt ở hải ngoại, tòa soạn ở miền Nam California Hoa Kỳ. Số báo ra ngày Thứ Ba 31 tháng Mười Hai 2013 cuối năm vừa qua, có loan tin ban tổ chức giải Phụng Hoàng và Hội Đồng Thẩm Định, mở phiên họp chung thẩm về vở tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ” của soạn giả Trần Văn Hương, dự tranh giải Phụng Hoàng về tuồng cải lương hay nhứt trong năm 2013. Và sau khi thảo luận hội đồng quyết định trao giải Phụng Hoàng, gồm văn bằng và huy chương vàng cho soạn giả Trần Văn Hương, người viết vở tuồng” Thu Sầu Nhả Tơ”, mà nội dung diễn tả cuộc đời tình ái nhạc sĩ Cao Văn Lầu, cha đẻ bản Dạ Cổ Hoài Lang, tiền thân của bản vọng cổ ngày nay.
Sau khi báo phát hành đã tạo ra bầu không khí phấn khởi cho giới mộ điệu cải lương, họ đã bàn tán sôi nổi vấn đề, nhiều người hỏi thăm lẫn nhau về giải thưởng, rằng chừng nào phát giải, lễ phát giải tổ chức ở đâu, có diễn trở lại tuồng Cao Văn Lầu cho những ai chưa xem, có dịp được đi coi tuồng trúng giải?
Riêng soạn giả Trần Văn Hương đã gọi điện thoại về ban tổ chức giải Phụng Hoàng bày tỏ sự vui mừng. Ông nói rằng sau khi báo đăng thì có quá nhiều người gọi điện thoại chúc mừng, hỏi thăm huyên thiên các vấn đề liên quan, bạn bè thân hữu cùng giới nghệ sĩ cũng hỏi thăm, ai cũng khuyến khích ông viết thêm tuồng cải lương mới.
Soạn giả Trần Văn Hương cũng đặt một số câu hỏi với ban tổ chức, mà trong đó có câu hỏi đáng lưu ý nhứt, đó là: “Được trúng giải rồi, sang năm sau nếu như viết thêm tuồng mới khác thì có được tham dự giải Phụng Hoàng lần nữa hay không”?
Câu hỏi quá sớm, lại là vấn đề quan trọng nên chưa thể trả lời được, bởi đó là việc mà Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại phải có phiên họp thảo luận vấn đề trước khi quyết định. Cũng như ban tổ chức giải Phụng Hoàng của năm sau chưa hình thành thì đâu thể trả lời được. Tuy nhiên, với tư cách cá nhân thì quan điểm của người soạn thảo thể lệ thì có thể tóm tắt như sau: “Việc dự thi tuồng cải lương hay nhứt trong năm, thì mục tiêu của Hội Cổ Nhạc là nhắm vào tuồng hay, chớ không nhắm vào người viết tuồng giỏi. Nói một cách khác giải Phụng Hoàng “chấm điểm tuồng cải lương” chớ không phải “chấm điểm soạn giả”. Do đó mà việc dự tranh tuồng mới trong tương lai của soạn giả từng trúng giải sẽ không trở ngại”.
ThuSauNhaTo-1-250.jpg
Một cảnh trong vở &quot;Thu Sầu Nhả Tơ&quot;. Courtesy Người Việt. Photo: RFA
Có những câu hỏi khác như Hội Đồng Thẩm Định đặt trên tiêu chuẩn nào để chấm điểm cho tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ” được trúng giải, thì câu trả lời của một thành viên trong hội đồng là việc chấm điểm dựa trên 3 tiêu chuẩn, mà nội dung câu chuyện, tình tiết của tuồng được coi như yếu tô quan trọng, bởi hầu như người yêu thích cải lương, ai cũng muốn biết về cuộc đời của ông Sáu Lầu người sáng tác bản vọng cổ.
Hầu như ai cũng có nhận định rằng phát giải Phụng Hoàng cho tuồng cải lương, sẽ khuyến khích thêm nhiều người có năng khiếu soạn tuồng, họ sẽ tập sự viết tuồng để tham gia các kỳ thi. Biết đâu trong tương lai các soạn giả mới vào nghề sẽ cho ra đời tuồng cải lương hay và mới lạ không kém các tuồng từng đi vào lòng khán giả. Và rồi họ sẽ nổi danh đâu thua gì các soạn giả cải lương của ngày xưa vậy.
Phiên họp chung thẩm của giải Phụng Hoàng, bên cạnh Hội Đồng Thẩm Định là các quan sát viên. Những nhân sĩ có uy tín trong cộng đồng được mời vào thành phần này, trong số có nhân sĩ Nguyễn Văn Lực ở vùng San Diego. Tôi đã tiếp xúc với ông Nguyễn Văn Lực và có đặt câu hỏi:
Vở tuồng cải lương “Thu Sầu Nhả Tơ” của soạn giả Trần Văn Hương, tham dự giải Phụng Hoàng và đã đoạt giải. Xin ông cho thính giả đài Á Châu Tự Do biết nhận xét của nhân sĩ thế nào về quyết định chung thẩm của hội đồng: Trao giải Phụng Hoàng gồm văn bằng và huy chương vàng về soạn tuồng cải lương cho soạn giả Trần Văn Hương?
Nhân sĩ có nghĩ rằng sau khi vở tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ” trúng giải Phụng Hoàng, sẽ là động lực cho nhiều soạn giả khác viết tuồng dự thi, có nghĩa là trong trương lai sẽ còn nhiều tuồng mới được ra đời và bà con yêu thích cổ nhạc cải lương sẽ hoan nghinh, ủng hộ?

Hoàn cảnh ông Sáu Lầu khi về già

Kể từ lúc truyền thông báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình loan tin cuộc đời nhạc sĩ Cao Văn Lầu được đưa lên sân khấu, thì rất nhiều người muốn biết rõ hơn hoàn cảnh của ông Sáu Lầu khi về già ra sao? Có làm giàu nhờ bản vọng cô do mình sáng tác?
Do vậy mà hôm nay tôi xin trình bày thêm những gì mà tôi biết về ông Sáu Lầu.
images299544_CVLau-305.jpg
Nhạc sĩ Sáu Lầu. File photo
Cách đây gần nửa thế kỷ, một sự việc mang ý nghĩa tốt đẹp đã diễn ra trong giới nghệ sĩ và nhiều thành phần liên quan đến hoạt động cải lương. Đó là việc thiết lập “Hộp Thơ Sáu Lầu” để trợ giúp người nhạc sĩ cha đẻ bản vọng cổ, mà khi về già đã phải chịu vất vả trong cuộc sống nghèo nàn túng thiếu ở Bạc Liêu.
Số là khoảng cuối năm 1965, ký giả kịch trường Nguyễn Kiên Giang có dịp đi Bạc Liêu, ghé thăm một gánh hát đang diễn ở rạp Chung Bá, vô tình nghe tiếng kèn trống từ một nhà có đám tang. Ông rảo bước đến phía trước nhìn vào thấy một ông già đầu bạc, vóc dáng gầy gò trong bộ đồ bà ba đen đang đánh phèn la.
Một người đi đám nói với nhà báo Kiên Giang:
- Anh biết ai không? Ông Sáu Lầu đó, tại Bạc Liêu này đám tang nào cần có âm công đều nhờ giàn kèn của ông Sáu Lầu.
Thật vậy, ông Sáu Lầu năm đó đã 74 tuổi mà phải đi kiếm tiền để sống trong một dàn kèn đám ma. Cái nghề đờn thổi đám ma phải có mặt cạnh quan tài từ ngày đầu tiên tẩn liệm xác chết, cho tới lúc đưa đám tới nghĩa địa mới xong phận sự.
Sau đó thì ký giả Kiên Giang viết lên bài báo nhằm đánh động tâm tư những người nhờ bản vọng cổ mà làm giàu, có cuộc sống huy hoàng sung túc, lên xe xuống ngựa thì cũng nên “uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây”.
Bài báo đã có tác dụng rõ rệt, bởi chỉ vài ngày sau thì có những cuộc họp của giới cải lương. Rồi thì một “Tiểu Ban Vận Động Trợ Giúp Nhạc Sĩ Sáu Lầu” được hình thành, do nhạc sĩ Hai Khuê làm trưởng tiểu ban. Tiếp đó thì “Hộp Thơ Sáu Lầu” được thiết lập, đặt tại nhà của nhạc sĩ Hai Khuê ở đường Cao Thắng, Sài Gòn.
Nhiều tờ báo có trang kịch trường cũng nhập cuộc, đã kêu gọi các nghệ sĩ sân khấu, các ca sĩ của hãng dĩa, đài phát thanh, các chủ gánh hát, các chủ nhà xuất bản bài ca, và mọi người có lòng hãy hưởng ứng bằng cách gởi thư an ủi, gởi tặng vật và tiền bạc để gia tăng quỹ nầy.
Tôi không nhớ rõ “Hộp Thơ Sáu Lầu” gây quỹ được bao nhiêu (hình như mấy chục ngàn). Tiểu ban vận động đã tổ chức một buổi hát, đồng thời cử người đi Bạc Liêu rước nhạc sĩ Sáu Lầu lên Sài Gòn trao tiền. Nhạc sĩ xúc động cám ơn...

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Trí thức cận thần và trí thức độc lập

Giáp Văn DươngBlog cá nhân
06:05' CH - Thứ ba, 08/04/2014
Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên "Trí thức cận thần" để đi trên con đường mới - con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân - thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành "đất nước cận thần" và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.
Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.
Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.
Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.
Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?
Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.


>>Xem thêm: Hai cách nghĩ, hai cách hành xử trước thực tế mới - trường hợp Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa Yukichi(Nguyễn Đức Mậu)

Trí thức độc lập
Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.
Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.
Ảnh minh họa.

Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương "độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân".
Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền.
Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.
Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: "Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới".
Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.
"Trí thức cận thần"
Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".
Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một "trí thức cận thần": Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.
Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.
Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.
Do hành xử như một "trí thức cận thần", không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.
Bài học cho hậu thế
Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.
Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường "trí thức cận thần" của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.
Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.
Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường "trí thức cận thần", để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.
Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành "đất nước cận thần", và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.
Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.
________________________
Ghi chú:
1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ "trí thức cận thần" chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.
2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dung cụm từ này trước đó hay chưa.
3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với "trí thức cận thần", đó là "trí thức phò chính thống", do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh tế.
4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.
Fukuzawa là nhà giáo dục và học giả có thể nói là người ở bên ngoài chính quyền Nhật Bản có ảnh hưởng nhất trong giai đoạn cuộc Canh Tân Minh Trị, lật đổ chế độ Tokugawa năm 1868. Ông lãnh đạo cuộc đấu tranh học tập những ý tưởng của phương Tây nhằm xây dựng "một nước Nhật Bản hùng mạnh và độc lập".
Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và biện minh cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ.
Trong tác phẩm Phúc ông Tự truyện viết năm 1901, trước khi mất ít lâu, Fukuzawa tuyên bố việc xoá bỏ mọi đặc ân phong kiến của triều đại Minh Trị và chiến thắng chế độ phong kiến Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật năm 1894-1895 để hình thành một nhà nước Nhật Bản hiện đại chính là ước mơ suốt cuộc đời ông.
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 trong một gia đình Công giáo, quê làng Bùi Chu (nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An).
Từ nhỏ ông đã được Giám mục Ngô Gia Hậu (Gauchier) dạy tiếng Pháp cùng với các môn khoa học thường thức của Tây phương. Ông lại được cho đi du học ở nhiều nơi như Singapore, Malaisia, Pháp, La Mã... Trong những chuyến đi đó, ông đã tìm tòi và lĩnh hội được nhiều tri thức khoa học mới, trong lòng nung nấu đem những điều mình đã học hỏi được về phục vụ cho lợi ích nước nhà.
Tháng 5 năm 1863 ông đã soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước.
Sau ba bản điều trần trên, Nguyễn Trường Tộ liên tục gửi nhiều bản khác lên Triều đình Huế (có 58 di thảo gửi cho Triều trình, liên tục trong vòng 10 năm). Những bản điều trần của ông là những đề nghị tâm huyết nhằm góp phần xây dựng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng phong bế, lạc hậu và tạo nên sự thay đổi lớn lao bên trong, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhìn vào nội dung các bản điều trần, chúng ta nhận thấy Nguyễn Trường Tộ đã đi trước, và vượt lên trình độ của các tầng lớp trí thức nho sỹ đương thời.
Song thật tiếc, những dòng tâm huyết ấy lại không được chấp nhận do hạn chế của thời đại.
Blog cá nhân

Bỏ biên chế

Năm 2003, tôi là lứa cuối cùng thi công chức và có biên chế trong ngành giáo dục.
Lúc đó, tôi mới đi du học, vừa trở lại trường thì nhận được tin vui: Chuẩn bị thi công chức để vào biên chế. Đây sẽ là lứa giảng viên cuối cùng có biên chế của nhà trường, còn sau đó, giảng viên chỉ có hợp đồng làm việc dài hạn.
Khỏi phải nói là tôi và bạn vui như thế nào. Cảm giác mình là người may mắn. Mấy bạn lứa sau có chút ghen tỵ và thoáng chút buồn. Các thầy quản lý, tuy ngoài miệng vẫn nói hợp đồng làm việc dài hạn và biên chế là như nhau, không có phân biệt gì. Nhưng khi riêng tư, các thầy cũng chia vui cùng chúng tôi.
Ngày cầm quyết định trong tay mà thấy rộn ràng. Cảm giác một cái gì đó chắc chắn, một cái gì đó ổn định ùa đến. Có biên chế, nghĩa là có công ăn việc làm ổn định, nghĩa là có hộ khẩu, nghĩa là chính thức trở thành giảng viên một đại học lớn. Lúc đó lại đã lập gia đình và có con đầu lòng. Cơ sở hạ tầng coi như xong. Giờ chỉ cần tập trung vào công việc là cuộc đời sẽ ổn. 
Biên chế đối với tôi lúc đó thực sự là một cái gì đó rất ý nghĩa. Nhưng chỉ 6 tháng sau tôi lại khám phá ra một ý nghĩa khác hẳn. Không phải là sự ổn định an toàn, mà là sự phiền phức quá mức cần thiết. Nếu lần đi du học trước, tôi chỉ có hợp đồng làm việc với nhà trường, việc xin đi du học khá dễ dàng. Thì lần này, vì là người nhà nước, vì có biên chế, nên việc đi học hóa ra vô cùng phức tạp.
Cơ quan quản lý tôi bây giờ không phải là nhà trường nơi tôi làm việc, mà là Vụ tổ chức cán bộ của Bộ giáo dục. Muốn đi học, phải có 8 chữ ký, từ cấp trường, cấp vụ đến cấp thứ trưởng. Tôi ở Hà Nội còn đỡ, chứ lên bộ, thấy các anh chị ở Miền Trung, Miền Nam ra ăn chực nằm chờ xin chữ ký con dấu rất tội.
Lúc đó, tôi bắt đầu manh nha nhận ra một mặt trái của biên chế: người sử dụng lao động và người quản lý lao động là khác nhau. Trường muốn có giáo viên giỏi, nhưng giáo viên đó, được đãi ngộ ra sao (thể hiện qua việc cho đi học), thì lại ở đâu đó trên cao quyết. Tự do phát triển của mỗi cá nhân, và qua đó, là tự do của thị trường (lao động), tự do học thuật bị hạn chế.
Rồi việc học cũng xong. Nhưng câu chuyện về biên chế lại một lần nữa xuất hiện khi tôi phải đưa ra lựa chọn: Tiếp tục làm giảng viên đại học, hay phiêu lưu cùng những dự định của riêng mình?
Tôi đã chọn phiêu lưu cùng những dự định của riêng mình, một phần vì cơm áo gạo tiền, nhưng phần quan trọng hơn vì những câu hỏi về ý nghĩa sống của bản thân tôi đến lúc đó vẫn chưa có lời giải đáp.
Phải thú thật, rằng khi rời trường, ngoài thầy cô bạn bè thì một trong những điều tôi tiếc chính là biên chế. Lúc đó, tôi có 8-9 năm đóng bảo hiểm xã hội. Học hành cũng đã xong xuôi. Vậy mà chọn từ bỏ để đi một con đường khác, quả thật không dễ.
Sau này nhìn lại, tôi phát hiện ra rằng, việc bỏ biên chế khó vì biên chế không nằm trên một tờ giấy, mà biên chế nằm ở trong đầu. Bỏ biên chế tức là bỏ quan niệm có một công việc ổn định suốt đời ở trong đầu mình. Cái cảm giác ổn định, yên tâm lại có phần quan trọng vì là người nhà nước đó, rất quyến rũ.
Chính vì đã đi qua những cung bậc này rồi, nên tôi rất thông cảm với những người phải đối mặt với việc có nên bỏ biên chế hay không.
Nhưng cũng nhờ bước ngoặt này mà tôi bước ra một đời sống mới, sôi động và tràn đầy sức sống. Vì thế, khi thấy những bạn trẻ, học xong chỉ nhăm nhắm chạy vào nhà nước bằng mọi giá, thì tôi lại cảm thấy rất thương. Cuộc sống sôi động là thế, nhiều thử thách là thế, mà cũng nhiều cơ hội là thế, mà lại không khám phá. Nếu chọn vào nhà nước để cống hiến thì không nói làm gì. Nhưng nếu chỉ để có được sự yên ổn thì quả thực sai lầm.
Có lần, một bạn trẻ hỏi tôi, vì sao người ta nói ở nước ta có một nghịch lý: Ai cũng có việc nhưng không ai làm việc, không ai làm việc nhưng ai cũng có lương; ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống; không ai đủ sống nhưng ai cũng sống; ai cũng sống nhưng không ai hài lòng; không ai hài lòng nhưng ai cũng giơ tay đồng ý?
Tôi trả lời vắn tắt: Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc là vì biên chế. Không làm việc nhưng vẫn có lương cũng là vì biên chế. Lương không đủ sống vì không ai làm việc nên năng suất lao động thấp, biên chế lại ăn lương ngân sách, ngân sách chỉ có vậy, nên lương chỉ có vậy. Lương chỉ có vậy nên chỉ làm như vậy, tất nhiên sẽ không ai hài lòng. Không hài lòng nhưng vẫn phải đồng ý vì nếu không sẽ mất biên chế. Thế là chẵn một vòng tròn luẩn quẩn khép kín.
Tôi cũng nói thêm với các bạn rằng, mấu chốt của một nghề nghiệp có ý nghĩa là người làm việc phải sống được bằng lương và phải cảm thấy tự hào về nghề nghiệp của mình. Nhưng với thang bậc lương từ ngân sách như hiện nay, không ai sống được bằng lương, nên để có thêm thu nhập thì phải “chân trong chân ngoài”, phải “vẽ thêm việc”, phải “cấu véo”, phải “hành là chính”. Trong hoàn cảnh đó người ta rất dễ đánh mất mình, đánh mất lòng tự trọng.
Đó là lý do vì sao tôi luôn ủng hộ việc bãi bỏ biên chế, bãi bỏ chế độ làm việc không thời hạn ở khu vực công, để chuyển qua chế độ hợp đồng nhằm tăng sức cạnh tranh, ở tất cả các ngành nghề.
Tôi quan sát thấy, trên thực tế, với mỗi quốc gia, chỉ cần rất ít những người có biên chế trọn đời. Đó là ai? Đó là những Thẩm phán của Tòa án Tối cao, những người cần được tránh mọi sức ép từ bên ngoài, trong đó có sức ép về việc làm, để giữ được tiếng nói độc lập trong việc bảo vệ công lý, thẩm định các đạo luật...
Nhóm này thường không đến mười người. Ngoài ra, ở một số nước, các giáo sư đại học rất giỏi cũng thường có biên chế, nhưng đó là biên chế với nhà trường. Mục đích là để họ tránh sức ép mất việc mà bảo vệ tự do học thuật.
Còn lại, khu vực công có thể chuyển sang làm việc ở chế độ hợp đồng hết, ngay cả các vị trí lãnh đạo cấp cao.
Ngoài ra, việc bãi bỏ biên chế này còn giải quyết được một vấn đề rất đặc thù khác của Việt Nam. Đó là những cán bộ có năng lực yếu kém, nhưng vì có biên chế nên không thể đuổi việc, vì người sử dụng lao động, người quản lý lao động và người trả lương là khác nhau. Do đó, chỉ có thể sắp xếp lại và luân chuyển. Còn nếu không chuyển được thì đành phải dồn vào một chỗ để chờ ngày nhận sổ hưu.
Năng suất lao động của Việt Nam hiện rất thấp. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng tôi tin có một nguyên nhân quan trọng, là vì hiện có quá nhiều người ăn lương ngân sách, quá nhiều người bám vào biên chế, chấp nhận mức lương èo uột không đủ sống, và coi điều đó như một sự thành công. Nếu không thay đổi thì tình hình có thể sẽ ngày càng ảm đạm khi ngân sách càng ngày càng cạn kiệt.
Bộ trưởng Giáo dục đã phất lá cờ “bỏ biên chế” trong ngành mình. Những nơi nào khác sẽ hưởng ứng?
Giáp Văn Dương