Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Cạnh tranh bằng sự thấu hiểu

Thảo Nguyên
Thứ Bảy,  30/5/2015, 23:15 (GMT+7)








Gói cho vay lãi suất ưu đãi 6,68%/năm trong 12 tháng của VIB đang nhận được sự chú ý của thị trường.
(TBKTSG) - Thời gian gần đây, trước áp lực cạnh tranh ngày càng lớn trong thị trường bán lẻ, các ngân hàng phải thường xuyên cải tiến dịch vụ và tạo ra những sản phẩm đột phá.
2015: năm trọng điểm của ngân hàng bán lẻ
Không hẹn mà gặp, trong mùa họp đại hội đồng cổ đông năm nay, lãnh đạo các ngân hàng khi nói về các lĩnh vực cần chú trọng cải tiến, đổi mới, sáng tạo đều đề cập đến mảng ngân hàng bán lẻ. Thị trường bán lẻ chỉ đang ở giai đoạn đầu phát triển và còn nhiều tiềm năng rộng lớn để các ngân hàng có thể khai thác khi mới chỉ có 1/3 dân số Việt Nam có tài khoản ngân hàng (theo World Bank) và nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân có xu hướng gia tăng khi mức sống ngày càng được cải thiện.
Vấn đề của các ngân hàng hiện nay là làm sao thay đổi cách nhìn của khách hàng về các gói sản phẩm bán lẻ, đặc biệt là với các sản phẩm vay, để các sản phẩm này trở nên dễ tiếp cận hơn với chất lượng dịch vụ tốt và chi phí ngày càng hợp lý hơn cho khách hàng. Đây là thách thức không nhỏ cho các ngân hàng, nhất là trong tình hình Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ ra đời vào cuối năm nay, kéo theo một loạt những quy định về mở cửa, hội nhập sẽ khiến các ngân hàng quốc nội phải cạnh tranh với nhiều ngân hàng trong khu vực, trong đó có rất nhiều ngân hàng có thế mạnh về bán lẻ.
Cạnh tranh bằng sự thấu hiểu khách hàng
Để thay đổi cách nhìn của khách hàng với các sản phẩm trong mảng bán lẻ, đặc biệt là gói cho vay, ngân hàng cần phải tìm hiểu tường tận những vướng mắc, băn khoăn khiến khách hàng chùn chân mỗi khi có ý định giao dịch với ngân hàng. Giám đốc kinh doanh của một ngân hàng TMCP ở TPHCM cho rằng những vấn đề của ngân hàng như lãi suất vay thả nổi sau thời gian ưu đãi, thủ tục cho vay rườm rà, giải ngân chậm... tồn tại quá lâu đã trở thành rào cản lớn.
Theo đó, thời gian qua, thị trường ngân hàng đã có nhiều cải tiến đáng kể. Nhiều ngân hàng đã mạnh dạn bổ sung nguồn nhân lực, cải tiến khâu tiếp thị - bán hàng. Đồng thời, hàng loạt các chương trình cho vay ưu đãi được giới thiệu ra thị trường; nhiều kênh tiếp cận khách hàng mới qua internet, mang xã hội được triển khai; mô hình dịch vụ liên tục được cải thiện... Gần đây nhất, thị trường đã xuất hiện nhiều gói cho vay có cách tính lãi suất dựa trên lãi suất tiết kiệm cộng một biên độ cố định. Đây là những động thái đáng ghi nhận trong việc nắm bắt, thấu hiểu và đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng của các ngân hàng.
Gói cho vay ưu đãi lãi suất 6,68%/năm nằm trong Chương trình khuyến mãi “Thời điểm vàng” kéo dài cho đến ngày 1-8-2015, áp dụng cho các khoản vay mua nhà, mua ô tô và vay tiêu dùng thế chấp có thời hạn từ 60 tháng trở lên. Thông tin chi tiết tại tổng đài miễn phí 18008180 hoặc www.vib.com.vn.
Trong số các sản phẩm cho vay hiện nay trên thị trường phải kể đến gói cho vay ưu đãi của ngân hàng VIB khi ngân hàng này áp dụng cách tính lãi suất dựa trên lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng cộng biên độ 3,9%/năm.
Khác với lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng được áp dụng khá nhiều trong thời gian qua là do các ngân hàng tự quyết, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng trong công thức tính lãi suất của VIB là do ngân hàng nhà nước quy định mức trần và công bố công khai. Mức lãi suất này cũng thấp hơn nhiều so với lãi suất tiết kiệm 13 tháng mà các ngân hàng đang áp dụng. Chính vì vậy, với gói cho vay 6,68%/năm trong 12 tháng đầu tiên thì với một khoản vay 5 năm, lãi suất bình quân suốt thời gian vay chỉ khoảng 9,09%/năm. Đây là bài toán tài chính rất tốt cho các khoản vay dài hạn, đặc biệt là các khoản vay mua nhà.
Trong 5 năm tới, sự hội nhập sẽ tạo ra một bức tranh khác cho ngành ngân hàng Việt Nam. Những con cá bé sẽ phải ở cùng hồ với nhiều con cá lớn, trong trường hợp đó, việc cạnh tranh về tiềm lực tài chính sẽ không phải là thế mạnh của ngân hàng Việt Nam, ngược lại có thể đẩy các ngân hàng đến chỗ khó hơn. Do vậy, sáng tạo trong thiết kế sản phẩm, trong tiếp thị bán hàng, cạnh tranh bằng sự thấu hiểu khách hàng mới chính là mấu chốt để các ngân hàng Việt Nam phát triển bền vững.

Công nghiệp xe hơi không như ta đang nghĩ

Đặng Đình Cung (*)
Thứ Sáu,  29/5/2015, 17:35 (GMT+7)








Trừ những nước công nghiệp đông dân như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp hay Đức, không có nước nào có thể nội địa hóa tất cả các thành phần của một chiếc xe hơi.Ảnh: Quốc Hùng
(TBKTSG) - Nhiều người tưởng rằng ngành công nghiệp xe hơi phải là thiết kế, sản xuất và kinh doanh xe hơi với tối đa nguyên liệu và thành phần được sản xuất trong nước.
Định nghĩa này chưa đủ rõ vì tùy ở định vị kinh doanh (marketing positioning) của công ty: xe vận tải, xe khách chuyên chở công cộng hay xe du lịch cá nhân. Nếu là xe vận tải thì có trọng tải bao nhiêu tấn, chở loại hàng gì? Nếu là xe khách hay xe du lịch thì bao nhiêu chỗ ngồi, bao nhiêu mã lực, vận tốc tối đa là bao nhiêu, sang trọng hạng nào?
Nhưng đó cũng chỉ là định nghĩa một thương phẩm (end product), nghĩa là một chiếc xe hơi khách hàng mua về để dùng ngay.
Trả lời một trong số những câu hỏi đó đã là định vị kinh doanh một mẫu xe. Từ đó mới dẫn tới quyết định đầu tư cả trăm triệu đô la Mỹ để thiết kế, xây dựng dây chuyền sản xuất và mạng phân phối cho mẫu xe và đặt ra vấn đề điểm tới hạn (critical threshold) của khoản vốn đầu tư nghĩa là lượng xe tối thiểu phải bán để có lãi.
Nếu sản xuất để bán dưới điểm tới hạn thì lãi vận hành sẽ không thể trang trải được tất cả các chi phí cố định và sẽ lỗ.
Theo kinh nghiệm quốc tế thì điểm tới hạn của một mẫu xe là hơn 100.000 chiếc mỗi năm, tương đương với tổng số thị trường tất cả các loại và mẫu xe hiện nay của cả nước ta.
Dù trong tương lai gần thị trường có tăng lên gấp hai gấp ba đi chăng nữa thì thị trường mỗi mẫu xe cũng sẽ dưới xa điểm tới hạn. Vượt điểm tới hạn cũng chưa chắc là sẽ làm ăn có lãi một cách vĩnh cửu.
Nếu chúng ta đọc báo cáo kinh doanh thường niên của các hãng xe từ một chục năm gần đây thì sẽ thấy ít hãng có lãi nhờ sản xuất để bán xe nguyên chiếc dưới nhãn hiệu của mình. Mà nếu có lãi thì tỷ số lãi trên doanh số hay trên vốn sở hữu cũng nhỏ, không đáng kể.
Hãng General Motors, lớn nhất nhì thế giới, cân bằng thu chi nhờ lãi tiền cho khách hàng vay để họ có thể mua xe của hãng. Từ ba thập niên nay, họ lỗ nặng ở hoạt động thuần túy sản xuất xe hơi. Thực tế là hãng này đã trở thành một công ty tín dụng. Như mọi công ty tín dụng, khi khủng hoảng kinh tế bùng nổ năm 2008 thì hãng này gặp nguy cơ phá sản. Nhà nước Hoa Kỳ và Nhà nước Canada đã phải quốc hữu hóa, xóa bỏ nợ và lập lại một công ty khác với kết cấu tài chính chuẩn hơn, rồi tư hữu hóa và đưa trở lại lên sàn niêm yết.
Dưới áp lực của thị trường, các tập đoàn xe hơi chọn những nơi nào có thể gia công mỗi thành phần của một xe hơi với giá thành rẻ nhất. Sau đó các tập đoàn này gom tất cả các thành phần đến một nhà máy lắp ráp đặt ở trọng tâm thị trường tiêu thụ xe của mình. Trừ những nước công nghiệp đông dân như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp hay Đức, không có nước nào có thể nội địa hóa tất cả các thành phần của một chiếc xe hơi. Khả năng đó cũng đang giảm dần với xu hướng “fabless” của các tập đoàn công nghiệp siêu quốc gia.
Tôi không biết dịch từ fabless sang tiếng Việt ra sao. Một công ty fabless là một công ty chỉ thiết kế, lắp ráp và kinh doanh thương phẩm dưới nhãn hiệu của mình chứ các khâu sản xuất thành phần thì họ gia công cho các công ty phụ trợ. Có hãng trao luôn khâu lắp ráp cho các công ty phụ trợ. Do đó mà có nhiều nước như Thái Lan, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ... tự mãn với một thương hiệu xe quốc gia nhưng thực ra là họ lắp ráp một mẫu xe do một tập đoàn siêu quốc gia thiết kế cho họ dựa trên một mẫu mang nhãn hiệu của tập đoàn này.
Ngành xe hơi thuộc vào loại ngành công nghiệp công nghiệp hóa và chúng ta phải có chân trong ngành đó. Nhưng không có nghĩa là chúng ta sẽ một mình tham gia vào tất cả các khâu của quy trình sản xuất và phân phối tất cả các loại xe.
Nguyên do cũng vẫn là điểm tới hạn của ngành xe hơi rất lớn. Thiết kế một mẫu xe, thiết kế một dây chuyền sản xuất, lập một mạng phân phối và bảo trì xe tốn kém về vốn và cần đến nhiều nhân lực chuyên môn. Các tập đoàn xe quốc tế phải trao tối đa các khâu sản xuất và phân phối cho các công ty khác gia công.
Nghề thiết kế, khai triển kỹ thuật và sản xuất một chủng loại thành phần cũng có điểm tới hạn cao. Sản xuất một loại thành phần riêng cho một tập đoàn xe hơi có khi không đủ để đạt điểm tới hạn. Ít khi nào một công ty phụ trợ làm ăn với một tập đoàn xe hơi duy nhất. Để vượt điểm tới hạn, có khi họ cung cấp cùng một mẫu thành phần cho nhiều hãng xe khác nhau. Có khi họ cùng nhau thành lập chung một công ty chuyên về một thành phần hay một loại thành phần xe hơi.
Nhiều người tưởng rằng xe của hãng A tốt hơn hay kém hơn xe của hãng B. Nhưng thực ra thì cả hai xe đều giống nhau vì có cùng một khung, cùng một động cơ, cùng một bộ số... do cùng một công ty phụ trợ cung cấp.
Có khi những thành phần đó phát nguồn từ cùng một dây chuyền sản xuất của cùng một nhà máy. Có khi hai xe cùng loại nhưng do hai hãng xe khác nhau bày bán, chỉ khác ở vẻ bề ngoài và trang trí bên trong.
Ngành xe hơi thuộc vào loại ngành công nghiệp công nghiệp hóa và chúng ta phải có chân trong ngành đó. Nhưng không có nghĩa là chúng ta sẽ một mình tham gia vào tất cả các khâu của quy trình sản xuất và phân phối tất cả các loại xe.
Trong ngành may mặc, chúng ta có nhà thiết kế thời trang tài ba, có khả năng kỹ thuật để sản xuất toàn bộ các mẫu quần áo mang nhãn hiệu của mình và có triển vọng nội địa hóa tới gần 100%. Trong ngành xe hơi, cách đây một nửa thế kỷ, có vài hãng lớn có thể nội địa hóa như thế. Bây giờ, dù lớn mạnh đến đâu chăng nữa họ cũng không thể tiếp tục làm như vậy nữa. Nước Algeria đã thất bại khi khai triển một ngành xe hơi quốc gia trong thập niên 1960.
Để đặt chân vào ngành xe hơi, chúng ta nên làm như các cường quốc công nghiệp khác, kể cả Hàn Quốc, nước cuối cùng đã tự xây dựng những tập đoàn xe hơi siêu quốc gia (Trung Quốc là một ngoại lệ): gia công phụ trợ cho các hãng xe siêu quốc gia.
(*) Kỹ sư tư vấn, Pháp

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2015

30/05/1990: Gorbachev dự hội nghị thượng đỉnh ở Washington

121231043853-frum-george-hw-bush-story-top
Nguồn:Gorbachev arrives in Washington for summit,” History.com (truy cập ngày 28/5/2015).
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Ngày 30 tháng 5 năm 1990, nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev đã bắt đầu chuyến thăm tới Washington, D.C. trong ba ngày để hội đàm với Tổng thống Mỹ George Bush (cha). Cuộc họp thượng đỉnh lần này tập trung vào các vấn đề của Đức và vị thế của nước này trong một châu Âu đang biến chuyển.
Khi Gorbachev đến dự hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai này của ông với Tổng thống Bush, tình hình của ông ở Liên Xô đang rất nguy hiểm. Bất chấp nhiều nỗ lực cải cách của Gorbachev, nền kinh tế của Liên Xô đang nhanh chóng tiến đến đỉnh điểm khủng hoảng. Sự kiểm soát của Nga đối với các quốc gia vệ tinh ở Đông Âu đã nhanh chóng suy yếu, và thậm chí một số nước cộng hòa Xô viết như Litva đã bắt đầu theo theo đuổi con đường độc lập.
Một số nhà quan sát Mỹ tin rằng trong nỗ lực cứu vớt chế độ đang khủng hoảng của mình, Gorbachev có thể phải cố gắng cầu cạnh những phần tử cứng rắn trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Dự đoán đó có vẻ bắt nguồn từ những động thái của Gorbachev tại hội nghị thượng đỉnh diễn ra trong tháng 5 năm 1990. Vấn đề chính tại hội nghị thượng đỉnh này là Đức.
Đến cuối năm 1989, Đảng Cộng sản ở Đông Đức đã nhanh chóng đánh mất quyền lực; Bức tường Berlin sụp đổ và những lời kêu gọi cho dân chủ và thống nhất đất nước với Tây Đức dấy lên ở khắp mọi nơi. Trước khi Gorbachev và Bush gặp nhau vào tháng 5 năm 1990, các nhà lãnh đạo ở Đông Đức và Tây Đức đã lên kế hoạch cho việc tái thống nhất đất nước. Điều này mang lại những câu hỏi về vai trò của một nước Đức thống nhất ở châu Âu.
Các quan chức Mỹ cho rằng Đức nên trở thành một thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Phía Liên Xô cực lực phản đối điều này, lo ngại rằng một nước Đức thống nhất và thân phương Tây có thể sẽ là một mối đe dọa đối với an ninh của người Nga. Gorbachev đã bộc lộ sự thiếu kiên nhẫn của ông với những lập luận từ phía Mỹ khi ông tuyên bố ngay trước hội nghị thượng đỉnh rằng “Phương Tây đã không suy tính cẩn thận,” và chỉ trích rằng các lập luận liên quan đến tư cách thành viên của Đức ở NATO là “một bản nhạc cũ chỉ chơi đi chơi lại một nốt.”
Hội nghị thượng đỉnh Gorbachev-Bush đã kết thúc sau ba ngày làm việc mà không đạt được một thỏa thuận rõ ràng nào về tương lai của nước Đức. Tuy nhiên, nhu cầu kinh tế cấp bách của Nga đã sớm mang lại một bước đột phá. Tháng 7 năm 1990, Bush hứa hẹn sẽ cung cấp cho Gorbachev một gói viện trợ kinh tế lớn và tuyên bố rằng quân đội Đức sẽ tiếp tục duy trì quy mô tương đối nhỏ. Gorbachev đã ngừng phản đối Đức gia nhập NATO. Cuối cùng, đến tháng 10 năm 1990, Đông Đức và Tây Đức chính thức tái thống nhất, và không lâu sau đó, Đức gia nhập NATO.

Chủ nghĩa hiện thực thương mại của Đức và vấn đề nước Nga

putin-merkel
Nguồn: Stephen F. Szabo (2014). Germany’s Commercial Realism and the Russia Problem, Survival: Global Politics and Strategy, Vol. 56, No. 5, pp. 117-128.
Biên dịch: Phạm Thị Thoa | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Việc Nga sáp nhập Crimea vào lãnh thổ và những nỗ lực của nước này nhằm phá vỡ sự ổn định tại Ukraine mô phỏng học thuyết địa chính trị truyền thống và tạo ra những liên tưởng tới một cuộc “Chiến tranh Lạnh Mới”. Tuy nhiên, phép liên tưởng này đã bỏ sót sự biến đổi trong tính chất của quan hệ quốc tế mà toàn cầu hóa gây ra, cũng như tác động của nó đến mối quan hệ của Berlin với các nước phương Tây cũng như với Moscow. Chúng ta đang sống trong kỉ nguyên của chủ nghĩa hiện thực thương mại (commercial realism) và Đức chính là mô hình cường quốc địa kinh tế đầu tiên thách thức loại hình cường quốc quân sự cũ mà Mỹ và Nga là hai nước điển hình.
Việc Nga sử dụng và đe dọa sử dụng lực lượng quân sự tại Ukraine chỉ là một phần trong giai đoạn mở đầu của một cuộc chơi sẽ kéo dài hơn rất nhiều; ở trong cuộc chơi đó, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế sẽ đóng vai trò quyết định. Những giả định của phương Tây trong việc đối xử với nước Nga và cả sự tin chắc của họ về lập trường của Đức trong thách thức lớn đối với trật tự châu Âu thời hậu Chiến tranh Lạnh này đều đã được chứng minh là sai. Berlin đã và đang là một chủ thể rất quan trọng trong việc định hình chính sách của châu Âu đối với Nga, thậm chí một số nhà nghiên cứu đã từng nhắc đến một Châu Âu của Nga-Đức (Russo- German Europe).Washington và các nước châu Âu ngày càng phụ thuộc vào Thủ tướng Đức Angela Merkel để thúc đẩy các nỗ lực hòa giải với Tổng thống Nga Vladimir Putin. Sự kiện máy bay MH17 của hãng Hàng không Malaysia bị bắn hạ trên không phận Ukraine mà nhiều người quy trách nhiệm cho lực lượng ly khai do Nga hậu thuẫn đã thúc đẩy các nhà lãnh đạo châu Âu phải có lập trường cứng rắn hơn với Nga. Chính sách cấm vận của châu Âu đối với Nga cũng được định hình với vai trò chi phối của bà Merkel và chúng cũng sẽ chỉ được mở rộng tới một chừng mực mà Đức cho phép.
Quan hệ của Đức với Nga là một tình huống nghiên cứu của chủ nghĩa hiện thực thương mại và có nhiều tác động đến vai trò trong tương lai của nước này ở châu Âu và ở phạm vi lớn hơn, cũng như đến sự phát triển của nền chính trị thế giới. Nếu không phải “tất cả là về kinh tế, đồ ngốc ạ” (It’s economy, Dummkopf) thì mối quan hệ này cũng gần như vậy. Mối quan hệ Đức- Nga có tới 90% là về lĩnh vực kinh tế bởi dù Đức là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới, nhưng để vận hành nền kinh tế dựa trên công nghiệp, nước này vẫn phụ thuộc rất nhiều vào các tài nguyên thiên nhiên nhập khẩu đặc biệt là năng lượng. Những diễn biến ở Ukraine có thể làm con số này thay đổi đôi chút nhưng khó có thể dẫn đến những biến đổi cơ bản trong tính chất dài hạn của mối quan hệ này. Ngay cả khi quan hệ Nga- Đức rạn nứt, Berlin sẽ vẫn tiếp tục theo đuổi chính sách địa kinh tế với Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác, thứ có thể có ý nghĩa quan trọng hơn đối với trật tự thế giới trong tương lai.
Đức đã trở thành một cường quốc kinh tế sau khi Tây Đức hồi sinh từ đống tro tàn của Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Trong bối cảnh sự ác cảm với quân sự lan rộng trong nước và các đồng minh phương Tây cũng không muốn nước này đóng vai trò lớn về quân sự, ảnh hưởng của Bonn đã được thực thi thông qua đồng Mark Đức (Deutschmark). Đây là một khác biệt rõ ràng với Anh và Pháp vì hai nước này vẫn tiếp tục nhấn mạnh sức mạnh quân sự và gắn chặt điều đó với lực lượng hạt nhân độc lập của họ. Chính sách ngoại giao kinh tế của Tây Đức đã đóng một vai trò chủ chốt trong việc thống nhất nước Đức và trong sự nghiệp phát triển nước này trở thành cường quốc nòng cốt của châu Âu.
Tuy nhiên, sự vươn lên của Đức thành một cường quốc địa kinh tế đã trở nên thuận lợi hơn nhờ sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh. Lúc này, nước Đức thống nhất không còn bị bó buộc bởi sự phụ thuộc an ninh vào Mỹ và thị trường Đông Âu cũng không còn nằm ngoài khả năng tiếp cận của các công ty Đức nữa. Những phương diện chiến lược rộng hơn từng hạn chế khía cạnh kinh tế trong chính sách của Đức đã suy yếu đi. Sau khi quân lính Nga rút khỏi lãnh thổ Đức, ngân sách quốc phòng của Berlin được cắt giảm liên tục và khu vực kinh tế tư nhân Đức được cho phép mở rộng thị trường ở Nga và Trung Quốc. Toàn cầu hóa đã đẩy nhanh những xu hướng đó. Đồng thời, nước Nga cũng thay đổi, phát triển một biến thể của kinh tế thị trường, tạo ra nhiều cơ hội cho các công ty Đức. Hàng trăm ngàn người Nga đã di cư sang Đức và các công ty năng lượng Nga đã trở nên đan cài chặt chẽ với guồng máy công nghiệp Đức.
Chủ nghĩa hiện thực thương mại là gì?
Mô hình hiện thực thương mại hay còn gọi là mô hình địa kinh tế của chính sách đối ngoại sở hữu các đặc điểm tiêu biểu sau.2 Các cường quốc địa kinh tế định nghĩa lợi ích quốc gia chủ yếu trên phương diện kinh tế. Điều này dẫn đến sự xa rời chủ nghĩa đa phương đúng nghĩa và tiến gần lại một hình thái của chủ nghĩa đa phương mang tính chọn lọc, bao gồm các cách tiếp cận song phương hướng tới các đối tác kinh tế chủ chốt. Kinh doanh và tài chính, đặc biệt là thương mại theo định hướng xuất khẩu đóng vai trò áp đảo trong định hình chính sách đối ngoại. Lợi ích kinh tế được ưu tiên hơn những lợi ích khác như thúc đẩy quyền con người hay giá trị dân chủ. Cuối cùng, các cường quốc địa kinh tế sử dụng ảnh hưởng kinh tế như một công cụ chính yếu để áp đặt ý muốn của mình lên các quốc gia khác.3
Loại quyền lực này đã tạo nên một sự chuyển đổi lớn trong chính sách đối ngoại Đức và có những tác động quan trọng. Đầu tiên, đại chiến lược mang tính tổng thể phải nhường chỗ cho các lợi ích kinh tế, đặc biệt là những lợi ích gắn với thị trường xuất khẩu và tài nguyên thiên nhiên, do đó làm giảm vai trò của các nhà lãnh đạo chính trị và quản lý hành chính trong chính phủ. Mô hình này làm giảm bớt ảnh hưởng của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng đồng thời lại tăng cường sức mạnh của Văn phòng Thủ tướng, Bộ Tài chính và Bộ các vấn đề Kinh tế và Năng lượng. Tính cộng sinh giữa thương mại và chính trị càng trở nên sâu sắc, ở đó giới kinh doanh Đức phải hợp tác với các nền kinh tế do nhà nước chi phối, tiêu biểu như Trung Quốc, Nga và các nước vùng Vịnh – ở tất cả các nước này, quan hệ thương mại tự do buộc phải có nền tảng là quan hệ chính trị. Ví dụ như, dù thương mại của Đức với Ba Lan lớn hơn với Nga thì quan hệ kinh tế với Nga có một bản chất chính trị khác biệt so với mối quan hệ với các thị trường mở cửa.
Thứ hai, cách tiếp cận địa kinh tế rõ ràng đã đánh giá thấp Moralpolitik (Chính trị đạo đức- ND), khái niệm coi Đức như một cường quốc quy chuẩn (normative power).4 Uy tín của Berlin như một đối tác kinh tế ổn định và đáng tin cậy là điều quan trọng hàng đầu. Theo cách tư duy này, sự lo ngại về rủi ro vốn đã là một đặc điểm cố hữu của văn hóa chính trị Đức càng được củng cố, từ đó tạo nên một “quốc gia nói không” – một nước Đức nói Không nhiều hơn- với Mỹ trong chiến tranh Iraq và với các đối tác châu Âu trong vấn đề Lybia và Syria.5
Sự phụ thuộc an ninh của Đức vào Mỹ đã giảm đi và bản chất của an ninh cứng (hard security) và việc sử dụng sức mạnh quân sự như một công cụ để gây ảnh hưởng cũng đã thay đổi. Bất chấp những hành động của Nga tại Ukraine bao gồm cả việc sáp nhập Crimea vào lãnh thổ Nga, chính sách an ninh của Đức cũng sẽ không có những thay đổi đáng kể. Chi tiêu quốc phòng sẽ không được tăng lên. Bộ trưởng Quốc phòng Ursula von der Leyen từng đề xuất rằng NATO cần phải hỗ trợ nhiều hơn cho những nước thành viên có khả năng phải đối mặt với sự xâm lược quân sự của Nga. Ngay lập tức, bà đã bị nhấn chìm trong sự phản đối mạnh mẽ từ công luận Đức, các nghị sĩ và Phó Thủ tướng Sigmar Gabriel, người chỉ trích rằng bà đã góp phần khiến cho căng thẳng leo thang (mặc dù sau đó, Gabriel đã cho thấy một lập trường cứng rắn hơn với Nga sau khi máy bay MH17 bị bắn hạ).
Trong khi hình ảnh của Moscow đi xuống một cách trầm trọng thì cả công luận và giới hoạch định chính sách Đức cũng không coi nước Nga là một mối đe dọa quân sự. Vai trò của NATO trong việc bảo vệ lãnh thổ Đức khỏi sự xâm lược hay triển khai lực lượng quân sự để thực hiện các nhiệm vụ của khối này nay rõ ràng đã bị Berlin xem nhẹ. Với lợi ích kinh tế, đặc biệt là thương mại là trọng tâm, vai trò cơ bản của quân đội Đức là bảo vệ sự tiếp cận với các nguồn nguyên liệu thô, đảm bảo những tuyến đường giao thông trên biển và các con đường giao thương quan trọng khác. Trong công thức của Edward Luttwak, “phương thức thương mại đang thay thế phương thức quân sự”.6 Trong khi người Đức tiếp tục nghĩ rằng họ chống quân phiệt, thậm chí theo chủ nghĩa hòa bình, và là ngoại lệ khi phản đối việc Mỹ, Pháp, Anh sử dụng vũ lực quân sự thì nền công nghiệp quốc phòng của nước này vẫn đang gặt hái những lợi nhuận khổng lồ từ lượng vũ khí xuất khẩu đứng thứ ba trên thế giới.7 Đây cũng là một sự thay đổi so với chính sách của Tây Đức hạn chế xuất khẩu vũ khí tới những khu vực xung đột, đặc biệt là Trung Đông.8
Toàn cầu hóa, với tất cả các tác động rộng rãi của nó, đã củng cố các xu hướng này. Đức đã bắt đầu bị kéo ra khỏi châu Âu kể từ khi thị trường mở rộng ra châu Á cũng như các nơi khác và khi Liên minh Châu Âu còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc cạnh tranh toàn cầu. Vào năm 2010, khu vực đồng euro bao gồm cả Đức chủ yếu chỉ xuất khẩu sang các nước trong khối. Đến năm 2013, 60% khối lượng xuất khẩu đó, bao gồm cả 2/3 khối lượng xuất khẩu của Đức, đã được chuyển ra khỏi khu vực đồng tiền chung.Mạng lưới thương mại đang thay thế các liên minh nhà nước trong “thế giới kẻ thắng – người thua” (Zero- Sum word) hiện nay. Trong thế giới này, cuộc cạnh tranh giành thị trường, công nghệ và tài nguyên thiên nhiên đang tăng tốc và các nền kinh tế mới nổi có sức ảnh hưởng đang ngày càng gia tăng tới chính sách đối ngoại của Đức.10

Hitler và Stalin: “Liên minh ma quỷ”?

b46c9873421137890a8dd3e1ff2d430d1c8288b6
Nguồn: John Lukacs, “Monster Together,” The New York Review of Books, 4/2015.
Biên dịch: Duy Đoàn | Biên tập: Nguyễn Huy Hoàng
Trong kho văn liệu khổng lồ về Stalin và Hitler trong suốt thời Thế chiến II, có rất ít điều được nói về mối quan hệ đồng minh của họ trong 22 tháng. Đó không chỉ là một chương lạ thường trong lịch sử cuộc chiến, mà ý nghĩa của nó xứng đáng nhận được nhiều sự chú ý hơn lâu nay.
Có hai yếu tố liên quan đến sự thờ ơ này. Một là sau khi Hitler quyết định xâm chiếm Nga mà thực hiện không thành, Stalin nổi lên như một trong những kẻ chiến thắng uy quyền của Thế chiến II. Yếu tố còn lại là việc các Thế lực phương Tây không mấy lưu tâm đến Đông Âu. Tuy vậy cuộc chiến nổ ra vào năm 1939 lại là do Đông Âu, kết quả của quyết định của người Anh (và Pháp) trong việc chống lại việc Đức chinh phục Ba Lan. Cơn địa chấn chính trị của Hiệp ước Xô-Đức vào ngày 23 tháng 8 năm 1939, chín ngày trước khi nổ ra cuộc chiến vào ngày 1 tháng 9, đã không ngăn được Anh và Pháp tuyên bố chiến tranh chống lại Đức vì đã xâm lược Ba Lan. Đây là một trong số ít – rất ít – những quyết định có ích cho họ vào thời điểm đó. Việc họ miễn cưỡng không muốn tiến hành nghiêm túc cuộc chiến chống Đức trong nhiều tháng tiếp theo lại là một câu chuyện khác.
Ba phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ năm 1939. Khá nhiều điều được viết về Hiệp ước Xô-Đức kể từ lúc ấy, phần lớn là của các cây bút và sử gia Đông Âu. The Devil’s Alliance (Liên minh của quỷ) là bản tường trình tốt của sử gia người Anh Roger Moorhouse về việc hiệp ước có ý nghĩa gì đối với Hitler và Stalin – và tệ hơn là đối với nạn nhân của hiệp ước đó. Có lẽ phần giá trị nhất của cuốn sách là phần nói về những hậu quả tức thời của hiệp ước năm 1939. Trước đó, Chủ nghĩa Quốc xã và Chủ nghĩa cộng sản đã là kẻ thù công khai của nhau một cách hiển nhiên và dữ dội. Từ những ngày thăng tiến chính trị đầu tiên của mình, Hitler đã mô tả Do Thái giáo và Chủ nghĩa cộng sản là hai kẻ thủ chính yếu của mình. Vào thời điểm đó, Stalin không hẳn là một kẻ theo ý thức hệ. Cũng như Hitler, Stalin là một người theo chủ nghĩa dân tộc; ông gần như không lưu tâm đến chủ nghĩa cộng sản quốc tế.

Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Molotov ký Hiệp ước Xô-Đức, với Bộ trưởng Ngoại giao Đức Joachim von Ribbentrop ngay đằng sau, kế bên Stalin, ngày 23 tháng 8 năm 1939 (Ảnh: Fine Art Images/Heritage Images/Getty Images)
Tháng 5 năm 1939, Hitler nhận ra rằng trong cuộc chiến của người Đức với phương Tây, Nga có thể đứng trung lập. Nhưng việc thực hiện điều đó không đơn giản; Nga phải có gì đó đổi lại. Trong suốt mùa hè năm đó, nhóm đại biểu Anh-Pháp đã tìm kiếm một dạng thoả thuận quân sự với Nga và chuyện không đi được tới đâu. Có một số viên chức và nhà ngoại giao cao cấp của Đức, đứng đầu trong số đó là Bộ trưởng Ngoại giao Joachim von Ribbentrop của Hitler, có khuynh hướng thiên hẳn về thỏa thuận Đức-Nga. Trong lúc đó, tại Moskva, Stalin đã bắt đầu có động thái: đầu tháng 5, ông sa thải Bộ trưởng Ngoại giao người Do Thái của mình, Maxim Litvinov, và thay thế bằng Vyacheslav Molotov (người giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong suốt cuộc chiến và một thời gian dài sau đó). Hitler hiểu điều đó có nghĩa là gì. Vào tháng 8, Ribbentrop bay đến Moskva để ký Hiệp ước Bất tương xâm giữa Liên Xô và Đức; bức ảnh Ribbentrop với cây bút trong tay cho thấy ở hậu cảnh Stalin mãn nguyện thấy rõ. Hitler hi vọng sự kiện gần như tuyệt diệu này có thể ngăn người Anh và người Pháp can dự vào cuộc chiến giành Ba Lan với ông. Điều đó đã không xảy ra, mặc dù Stalin không thất vọng vì điều đó.
Nghị định thư Bí mật phân chia Đông Âu giữa Đức và Liên Xô
Điều quan trọng hơn Hiệp ước Bất tương xâm là phần phụ lục của hiệp ước, một Nghị định thư Bí mật, vốn yêu cầu không gì khác hơn là phân chia Đông Âu, đặc biệt là Ba Lan, với một phần nước này sẽ bị Liên Xô thâu tóm. Ngoài ra, Đức công nhận “khu vực lợi ích” (“sphere of interest”) của Nga tại Estonia, Latvia, Phần Lan, một phần Litva và tỉnh Bessarabia ở Romania. Moskva phủ nhận chính sự tồn tại của Nghị định thư Bí mật này trong suốt thời gian dài, ngay cả khi Thế chiến II kết thúc đã lâu. Nhưng sự kiện đó vẫn tồn tại trong văn khố của Đức; và vào năm 1939 nó đã trở thành một hiện thực u ám và dễ sợ. Tận đến năm 1986, Molotov già nua (lúc đó đã hơn 90) vẫn phủ nhận chính sự tồn tại của sự kiện này trước một phóng viên Nga. Trên thực tế, nhiều hoàn cảnh của sự kiện này vẫn tiếp tục tồn tại xuyên qua cuộc thế chiến và cả những xung đột tiếp sau đó cho đến năm 1989.
Quân đội và nhân dân Ba Lan đã chiến đấu can trường chống lại người Đức trong suốt một tháng vào năm 1939 (gần lâu bằng Pháp với đội quân đáng kể của họ vào năm 1940). Nhưng 17 ngày sau khi Đức xâm lược, quân đội của Stalin đã xâm lăng Ba Lan từ phía đông. Vài ngày sau tại Brest, một điểm gặp gỡ lúc ấy nằm ngay trên phần do Liên Xô kiểm soát tại Ba Lan, có một cuộc duyệt binh chung nho nhỏ của binh lính và quân xa của Đức và Liên Xô. Chỉ hơn hai tháng sau, tức chưa đầy ba tháng sau khi Thế chiến II nổ ra, trận đánh duy nhất trên đất liền tại châu Âu là giữa Nga và Phần Lan, vốn là dân tộc không chấp nhận sự kiểm soát của Nga đối với đất nước họ. Người Anh thất kinh. Họ (và người Pháp) thậm chí suy xét, trong thoáng chốc, về việc can thiệp, nhưng việc này đã không xảy đến. Quân đội Hitler sớm xâm chiếm Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan, Bỉ – và sau đó là Pháp. Churchill và Anh quốc đã đứng một mình, trong suốt hơn một năm sau đó.
Cuối tháng 9 năm 1939, Ribbentrop bay tới Moskva lần nữa để thu xếp một số thoả thuận về đường biên giới, từ đó sẽ tiến hành Nghị định thư Bí mật kia. Xuyên suốt cuộc chiến, trong số những viên chức cấp cao của Đức, Ribbentrop là người mong muốn tìm kiếm và duy trì những thoả thuận Đức – Nga nhất. (Người đồng cấp của ông ở Liên Xô, Molotov, cũng thường có những mong muốn tương tự.) Ở khía cạnh này, chúng ta còn có thể chú ý đến những mong muốn hướng đến mối quan hệ song phương giữa Hitler và Stalin. Hitler cho rằng cần phải tiến hành những điều khoản trong mối quan hệ đồng minh với Stalin; về phần mình, Stalin thậm chí còn nhiệt tình hơn Hitler trong chuyện này. Một ví dụ là lời chúc tụng có lẽ không cần thiết của ông dành cho Hitler sau khi ký bản hiệp ước vào ngày 24 tháng 8 năm 1939: “Tôi biết dân tộc Đức yêu mến Führer (Quốc trưởng) của họ nhiều đến dường nào, do đó tôi nâng ly để chúc sức khoẻ cho ông ấy.” Đáng kể hơn đối với hồ sơ lịch sử và hệ trọng hơn đối với nhân dân Đông Âu là ý định của Liên Xô và hành vi xâm lăng của họ ngay sau khi ký Hiệp ước Xô-Đức.
Vào cái ngày diễn ra chuyến viếng thăm thứ hai của Ribbentrop đến Moskva, Nga bắt đầu gây áp lực lên các quốc gia Baltic. Nga đưa ra yêu sách đòi thay đổi những chính quyền tại Baltic, đầu tiên là tại Estonia, sau đó là những nước láng giềng Latvia và Litva. Quan trọng hơn, giờ đây Nga đã điều quân đến những nước đó, đặc biệt là đến các hải cảng của họ, làm suy giảm trầm trọng nền độc lập của những nước này. Chính quyền của những nước này chịu áp lực và đã phải tuân theo lệnh của Liên Xô, ngoại trừ Phần Lan. Hai tháng sau, Chiến tranh Mùa đông tại Phần Lan bắt đầu. Đội quân nhỏ bé của Phần Lan đã chiến đấu quật cường và dũng cảm, một thực tế mà ngay cả Stalin cũng phải thừa nhận; kết quả là xuất hiện một hiệp định trong đó Phần Lan từ bỏ một phần lãnh thổ cho Liên Xô nhưng vẫn duy trì nền độc lập cho phần lớn đất nước.
Tình hình tại Ba Lan còn xui rủi và kinh khủng hơn nhiều. Ở đó sự chiếm đóng của Liên Xô chí ít cũng tàn bạo và thảm khốc – nếu không muốn nói nhiều hơn – so với những phần đất Ba Lan bị Đức khuất phục. Nga trục xuất ít nhất một triệu người – bao gồm nhiều gia đình, mà không cho họ mang theo tài sản – tới Siberia, Kazakhstan và miền Bắc xa xôi của nước Nga, và gần như không ai có thể thăm lại quê nhà của mình lần nữa. Vào tháng 4 và tháng 5 năm 1940, khoảng 22.000 sĩ quan Ba Lan bị bắn chết gần Katyn. Hơn một triệu tù nhân và công nhân Ba Lan bị trục xuất tới Đức để chịu lao động cưỡng bức trong suốt thời chiến.
Đáng nói là nhiều việc làm thế này đã bắt đầu ngay sau khi Liên Xô chiếm được miền Đông Ba Lan vào tháng Chín năm 1939. Một số người Ba Lan, bao gồm người Do Thái, đã chào mừng binh lính Liên Xô, những tưởng rằng binh lính Liên Xô đến để giải phóng họ khỏi Đức Quốc xã. (Sau đó họ thất vọng với người Nga đến mức một số người Do Thái ở miền Đông Ba Lan đã nghĩ rằng tốt hơn là họ nên trốn sang khu vực của Đức Quốc xã, cho dù họ đã biết người Đức đối xử với dân Do Thái ra sao.) Từ năm 1939 đến 1941, có lẽ đa số dân Do Thái trên thế giới sống tại Đông Âu, hầu hết họ sống tại miền Đông Ba Lan, miền Tây Nga, Ukraina, và Belarus. Cuộc thanh trừng chung quyết của người Đức chưa được Hitler quyết định cho đến tháng 9 năm 1941 và trước tháng 1 năm 1942 vẫn chưa được thực hiện, nhưng theo nhiều cách khác nhau, số phận của họ đã được tiên đoán từ Hiệp ước Xô-Đức.
Stalin tìm cách ngăn Hitler xâm lược Liên Xô
Vào ngày 14 tháng 6 năm 1940, ngay cái ngày quân Đức diễu hành vào Paris, Moskva cuối cùng đã quyết định thi hành Nghị định thư Bí mật. Trong vòng một hai ngày, Nga tuyên bố tổng sáp nhập Estonia, Latvia và Litva vào Liên Xô. Thành viên chính phủ của những nước này hoặc bị cầm tù hoặc bị đày ải. Nhiều cựu viên chức ở đó bị xử tử, và ít nhất 25.000 người Baltic đã bị trục xuất tới Liên Xô. Hitler chở những người thuộc sắc tộc thiểu số Đức ở vùng Baltic đến Đức bằng tàu thuỷ của Đức.
Vào tháng 11 năm 1940, Molotov sang Berlin. Đây không phải là chuyến đi thành công của ông. Cung cách ngoại giao của ông cứng đờ như tính cách ông vậy. Nhìn thấy Đức chinh phục gần hết châu Âu, ông đề xuất việc gộp Bulgaria vào khu vực của Nga. Theo đó Liên Xô sẽ có sự hiện diện gần Bosphorus, với cái giá phải trả là Thổ Nhĩ Kỳ. Người Đức không đáp lại lời đề xuất này. Vào một ngày tháng 12 năm 1940, Hitler bắt đầu hoạch định một cuộc chiến chung cuộc với Nga.
Stalin phần nào chỉ trích hành vi của Molotov tại Berlin; ông cho là Bộ trưởng Ngoại giao của mình có lẽ đã quá cứng nhắc. Đây là lối cư xử điển hình của Stalin trong suốt sáu tháng tiếp theo. Ông không thể và sẽ không tin Hitler sẽ khởi sự một cuộc chiến chống lại mình trong khi Đức vẫn còn Anh quốc để xử lý.
Stalin đã thực hiện một số động thái để cải thiện tình hình của Nga. Ông thương thảo một hiệp ước giao hảo với Nam Tư, vốn chẳng được gì, vì Hitler đã xâm lược Nam Tư vào cái ngày ký hiệp ước này. Ông mời Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Matsuoka Yōsuke đến Moskva khi ông này trên đường quay trở về Nhật sau chuyến viếng thăm Berlin. Đáng ngạc nhiên là sau đó ông ký một Hiệp ước Bất tương xâm với Nhật. (Ngay sau khi Đức Quốc xã xâm lược Liên Xô vào tháng 6 năm 1941, Matsuoka khi trở về Tokyo đã đề nghị Nhật nên xâm lược Nga từ phía Đông. Giá trị của những bản Hiệp ước Bất tương xâm năm 1941 quả là nhỏ bé. Nhưng Matsuoka không được như ý, vì kẻ thù chính của Nhật lúc bấy giờ là Hoa Kỳ.)
Stalin ra lệnh phải có những cử chỉ thân thiện đối với Đức, bao gồm cả việc đẩy nhanh khâu vận chuyển các sản phẩm Liên Xô đến đó. Ông không một chút mảy may phản ứng lại lời cảnh báo của Churchill về viễn cảnh Đức sẽ tấn công Liên Xô. Trong suốt mười ngày trước cuộc xâm lăng của Đức Quốc xã – mặc cho mọi loại thông tin về mối đe doạ của Đức – Stalin đã cố gắng thực hiện những điều tốt nhất, hay có lẽ là những điều tệ nhất, để xác nhận lòng tin của mình vào Hitler và nước Đức. Tôi không biết một trường hợp đơn lẻ nào có hành vi thấp hèn đến thế (vì bản chất của nó là thế) mà xuất phát từ một chính khách của một đại cường quốc.
Cuộc tấn công của Đức thoạt đầu đã làm Stalin sốc đến câm lặng. (Những lời của Molotov sau khi Đức tuyên bố chiến tranh cũng đáng nói: “Chúng ta đáng bị điều này sao?”) Những mệnh lệnh đầu tiên của Stalin cho quân đội Liên Xô là đừng phản ứng gì cả. Phải mất nhiều giờ đồng hồ sau cuộc xâm lăng – cho đến trưa – thì ông mới ra lệnh cho quân đội phản kháng.
Việc Stalin đã run sợ ra sao trong suốt những ngày công kích đầu tiên của Đức Quốc xã vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Cuối cùng ông đã xốc lại được tinh thần của mình. Vào ngày 3 tháng 7 năm 1941 – mười một ngày sau cuộc xâm lăng của Đức – ông gọi nhân dân Liên Xô là một tập thể ái quốc. Tới thời điểm đó, một số binh lính Đức Quốc xã đã xâm nhập miền Tây Liên Xô được hơn một trăm dặm (hơn 160 km) và đang tiến đến Moskva. Roger Moorhouse kết lại phần dẫn nhập khiêm tốn của mình: lịch sử của Hiệp ước Xô-Đức “xứng đáng được giải cứu ra khỏi những dòng cước chú (tức ít được chú ý – NBT) và khôi phục lại vị trí đúng đắn của nó… Tôi chỉ có thể hi vọng rằng cuốn sách này sẽ góp được một phần nho nhỏ cho tiến trình đó.” Quả thật nó đã làm được điều đó.
Ý đồ của Hitler và Stalin
Dĩ nhiên vẫn còn đó những nghi vấn dành cho các sử gia. Một vấn đề là nhiều văn khố Liên Xô vẫn còn đóng cửa, và văn bản của họ thường là không đáng tin cậy trong mọi trường hợp. Một nghi vấn sâu xa hơn vẫn chưa giải quyết được nằm ở chỗ mục đích chính của Hitler vào năm 1941 là gì. Trước nhân dân và đồng minh của mình, ông đã có những giải thích rõ ràng và đơn giản. Ông chưa bao giờ thoải mái trong việc liên kết với Liên Xô. Ông kinh tởm chủ nghĩa cộng sản. Nhưng còn có một yếu tố khác, có lẽ mang tính quyết định, trong tâm trí của ông. Ở đâu đó ông đã buông lời nhận xét về điều này trước một số tướng lĩnh của mình. Những lời đó liên quan đến Anh quốc – và đằng sau đó là Hoa Kỳ. Một khi đã chinh phục Nga, buộc Stalin quy hàng hay phải rút đi những gì còn lại của quyền lực Liên Xô đằng sau vùng Ural để chạy sang Siberia, thì khi đó Churchill (và Roosevelt) có thể làm được gì? Họ phải đối diện với một kẻ khổng lồ Nazi-Á-Âu, với đội quân Đức lớn mạnh không còn phải chiến đấu trên hai mặt trận nữa.
Vấn đề của Stalin nghiêm trọng hơn nhưng lại đơn giản hơn. Vào đầu tháng 9 năm 1941, ông viết cho Churchill rằng Liên Xô đang “chịu mối đe doạ chết người.” Chuyện đó không xảy ra; và đến năm 1942, ông nhận ra là mình sẽ nhận được nhiều thứ từ mối quan hệ đồng minh với Anh và Hoa Kỳ hơn là với Đức. Nhưng chí ít cho tới tháng 6 năm 1941, Stalin và Molotov vẫn còn chuộng Đức của Hitler hơn là phương Tây.
Ở phương diện này có một chỗ dành cho một bản tiểu sử, hay một bản phác thảo tiểu sử, của một viên chức nham hiểm của Liên Xô mang tên Vladimir Dekanozov, người thân cận với Molotov trong suốt thời gian dài, một trong những kẻ thân Đức quan trọng trong hàng ngũ viên chức cao cấp của Liên Xô (và vào năm 1941 còn là Đại sứ tại Berlin). Có chứng cứ cho rằng khoảng cuối mùa xuân năm 1943, Molotov đã điều Dekanozov đến Stockholm với mục tiêu thiết lập mối liên hệ với Đức Quốc xã. Ribbentrop đã sẵn sàng gặp Dekanozov nhưng bị Hitler cấm không cho gặp. Vào cuối năm 1953, Khruschev đã ra lệnh xử tử Dekanozov.
Hai tuyên bố lịch sử đã xuất hiện bằng văn bản sau khi cuộc chiến kết thúc được một thời gian. Vào tháng 12 năm 1941, Churchill điều Bộ trưởng Ngoại giao Anthony Eden đến Moskva. Các lực lượng tiến công của Đức chưa tới được Moskva nhưng vẫn có thể nghe thấy tiếng súng ở bên ngoài bức tường của điện Kremlin. Stalin nói với Eden: “Vấn đề của Hitler là ông ta không biết nên dừng lại chỗ nào.” Eden: “Thế có ai biết không?” Stalin: “Tôi biết.” Hai từ này không hoàn toàn xa rời sự thật. Vào tháng 11 năm 1944, Churchill đến gặp De Gaulle tại Paris. De Gaulle nghiêm trách người Mỹ vì đã để Nga chiếm toàn bộ Đông Âu. Churchill bảo, vâng, Nga giờ đây là con sói đói khát. “Nhưng sau bữa ăn là đến giai đoạn tiêu hoá.”[1] Nga sẽ không thể tiêu hoá được phần lớn Đông Âu. Và quả đúng vậy.
John Lukacs là sử gia người Mỹ gốc Hungary. Cuốn sách mới nhất của ông là A Short History of the Twentieth Century, Harvard University Press, 2013. Đây là bài điểm sách cho cuốn The Devils’ Alliance: Hitler’s Pact with Stalin, 1939–1941 của Roger Moorhouse, Basic Books, 2014. Các tiểu mục do Nghiencuuquocte.net tự đặt.
——————–
[1] Điều đáng lưu tâm là cuộc trao đổi này không được ghi nhận trong hồi ký chiến tranh của Churchill mà là trong hồi ký của De Gaulle. Churchill nói ra điều này từ lâu trước khi có bài diễn thuyết “Bức màn sắt” vào năm 1946. (Chú thích của tác giả.)

Đời đời nhớ ông (Tố Hữu)


59 năm bài thơ khóc Stalin: ĐỜI ĐỜI NHỚ ÔNG

Tháng 5/1953, Tố Hữu viết bài thơ ĐỜI ĐỜI NHỚ ÔNG để bày tỏ tình cảm khi nghe tin Stalin từ trần. Đã 59 năm trôi qua kể từ khi bài thơ ra đời, cũng là số năm cho một người chuẩn bị về nghỉ hưu. Đây là bài thơ đặc biệt, đứng cuối cùng trong tập thơ Việt bắc (1954) của Tố Hữu, tuy nhiên những lần tái bản tập Việt bắc về sau thì không thấy bài thơ này nữa.
Trong chương trình văn học ở phổ thông mà mình được học những năm 1970 cũng không có bài này. Mình nhớ thời gian mình học phổ thông, mình thuộc loại học sinh lười học nhưng ngoan hiền dễ bảo (bây giờ còn hơn thế nữa, hi hi). Mình cũng nhớ trong chương trình văn học thời đó có rất nhiều bài thơ của Tố Hữu, gần 30 bài thì phải (*), không hiểu sao lại không có bài này.
Một lần ngồi uống bia với một giáo sư hàng đầu về Văn học, mình hỏi: thưa Thầy, vì sao những bài thơ Tố Hữu viết về Bác Hồ, về Lê-nin thì được đưa vào chương trình phổ thông, còn bài này ca ngợi Stalin thì bọn em không được học? Thầy từ tốn bảo: cậu đừng hỏi khó tớ!
Mình nhớ lúc mình và bà xã mình còn yêu nhau, đã có lần tụi mình giận nhau 2 tuần chỉ vì … thơ Tố Hữu. Bà xã mình vốn là người ái mộ thơ Tố Hữu một cách đặc biệt, một lần cắc cớ hỏi theo kiểu trắc nghiệm cảm xúc: Anh còn nhớ những bài thơ của Tố Hữu ở trường phổ thông? Cảm xúc của anh về những bài thơ này thế nào?... Đại loại thế. Mình ngây thơ, cho rằng cô ấy cũng hiểu và cảm thơ Tố Hữu như mình nên thật thà đáp: Anh chỉ nhớ tên một số bài thôi, chứ không có cảm xúc gì. Không ngờ cô ấy trừng mắt, đùng đùng bỏ ra về. May nhờ cả hai đứa đều yêu thơ của Xuân Quỳnh nên sau 2 tuần thì “sự cố thơ” được khắc phục. Từ đó đến nay mình tuyệt nhiên không dám nhắc lại chủ đề năm xưa…
Riêng bài ĐỜI ĐỜI NHỚ ÔNG thì mình có ấn tượng khá mạnh. Mình choáng với một số câu, nhất là những câu mình tô màu đỏ. Cũng chỉ biết là ấn tượng và choáng thôi chứ khó giải thích là ấn tượng gì và choáng như thế nào. Bà con cũng đừng hỏi khó mình nhé, he he.

ĐỜI ĐỜI NHỚ ÔNG

Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
Ông Xít-ta-lin bên cạnh nhi đồng 
Áo Ông trắng giữa mây hồng 
Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười 
Xít-ta-lin! Xít-ta-lin! 

Yêu biết mấy, nghe con tập nói 
Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin!

Hôm qua loa gọi ngoài đồng 
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao 

Làng trên xóm dưới xôn xao 
Làm sao, Ông đã... làm sao, mất rồi! 

Ông Xít-ta-lin ơi, Ông Xít-ta-lin ơi! 
Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không? 
Thương cha, thương mẹ, thương chồng 
Thương mình thương một, thương Ông thương mười 
Yêu con yêu nước yêu nòi 
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu! 

Ngày xưa khô héo quạnh hiu 
Có người mới có ít nhiều vui tươi 
Ngày xưa đói rách tơi bời 
Có người mới có được nồi cơm no 
Ngày xưa cùm kẹp dày vò 
Có người mới có tự do tháng ngày 
Ngày mai dân có ruộng cày 
Ngày mai độc lập ơn này nhớ ai
Ơn này nhớ để hai vai 
Một vai ơn Bác một vai ơn Người 
Con còn bé dại con ơi 
Mai sau con nhé trọn đời nhớ Ông! 

Thương Ông mẹ nguyện trong lòng 
Yêu làng, yêu nước, yêu chồng, yêu con 
Ông dù đã khuất không còn 
Chân Ông còn mãi dấu son trên đường 
Trên đường quê sáng tinh sương 
Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng 

Ngàn tay trắng những băng tang 
Nối liền khúc ruột nhớ thương đời đời!

(5-1953)

Một bức tượng của Stalin "được" Hội đồng thành phố quê nhà Gori (Gruzia)đưa từ Quảng trường trung tâm về "cất" trong một nhà kho.


(*)Những bài thơ của Tố Hữu mà thế hệ mình được học từ cấp 1 đến cấp 3 (Bà con thấy còn thiếu bài nào xin bổ sung giùm nhé): Lượm, Bầm ơi, Bà má Hậu giang, Con cá chột nưa, Từ ấy, Đi đi em, Đi, Mẹ Suốt, Ta đi tới, Hãy nhớ lấy lời tôi, Tiếng hát sông Hương, Ê-mi-ly con, Hoan hô chiến sĩ Điện biên, Sáng tháng Năm, Việt bắc, Với Lê-nin, Người con gái Việt nam,  Ba mươi năm đời ta có Đảng, Em ơi…Ba lan, Bài ca mùa xuân 61, Bài ca xuân 68, Bác ơi, Theo chân Bác…

Sao quê hương mình già nua đến vậy?

Các nhà đầu tư thế giới thường nghĩ về Việt Nam như một quốc gia trẻ trung, đang lên và chứa nhiều tiềm năng nhất trong số các thị trường mới nổi. Họ ấn tượng với con số tăng trưởng về dân số, về sự kiện là 58% người VN dưới tuổi 25, và theo nhãn quan của người Âu Mỹ, đây là phân khúc sáng tạo và cầu tiến nhất của bất cứ xã hội nào. Họ tìm đến VN mong những đột phá kỳ diệu và một vận hành năng động kiểu thung lũng Silicon (trung tâm IT của Mỹ ở phía nam San Francisco). Sau vài năm tung tiền mua tiềm năng và cơ hội, họ thường thất vọng và âm thầm bỏ đi. Tại sao?
Những giả thuyết ngây thơ
Họ đã không lầm về những số liệu tạo nên hình ảnh đó. Tuy nhiên, sự phân tích và biện giải về logic của họ vướng phải vài giả thuyết và tiền đề không chính xác. Một người có số tuổi còn trẻ không có nghĩa là sự suy nghĩ và vận hành của người đó cũng phải trẻ trung như số tuổi, nhất là khi họ lớn lên trong một xã hội khép kín, ít tiếp xúc với thế giới.
Tôi còn nhớ một đai gia IT nổi tiếng cũng đã từng kết luân trong một buổi hội thảo về kinh tế là số người sử dụng điện thoại di động ở VN đã tăng trưởng ấn tượng 36% mỗi năm trong 5 năm qua và lên đến 68 triệu người hay khoảng 80% dân số. Kết luận của anh chuyên gia trẻ này là tương lai về công nghệ thông tin của VN phải sáng ngời và sẽ vượt trội các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines…
Đây là những kết luận ngây thơ về thực tại của xã hội. Một người trẻ suốt ngày la cà quán cà phê hay quán nhậu sẽ không đóng góp gì về sáng tạo hay năng động; cũng như vài ba anh chị nông dân với điện thoai cầm tay không thay đổi gì về cuộc diện của nông thôn ngày nay (nông dân vẫn chiếm đến 64% của dân số xứ này).
Tôi thích câu nói (không biết của ai): Tất cả bắt đầu bằng suy nghĩ (tư duy). Suy nghĩ tạo nên hành động, hành động liên tục biến thành thói quen và thói quen tạo nên định mệnh. Định mệnh của cá nhân phát sinh từ tư duy cá nhân, định mệnh tập thể đúc kết bởi suy nghĩ của tập thể.
Tư duy, thói quen và định mệnh
Quên đi góc nhìn cá nhân, hãy tự suy nghĩ về tư duy thời thượng của xã hội này và từ đó, ta có thể nhận thức được những hành xử và thói quen của người dân VN. Bắt đầu từ tầng cấp lãnh đạo về kinh tế, giáo dục và xã hội đến lớp người dân kém may mắn đang bị cơn lũ của thời thế cuốn trôi; tôi không nghĩ là một ai có thể lạc quan và thỏa mãn với sự khám phá.
Những thói quen xấu về chụp giựt, tham lam, mánh mung, dối trá, liều lĩnh, sĩ diện… vẫn nhiều gấp chục lần các hành xử đạo đức, cẩn trọng, trách nhiệm, danh dự và hy sinh. Dĩ nhiên, đây là một nhận định chủ quan, sau một lục lọi rất phiến diện trên báo chí, truyền hình và diễn đàn Internet. Nhưng tôi nghĩ là rất nhiều người VN sẽ đồng ý với nhận định này.
Tôi nghĩ lý do chính yếu của những thói quen tệ hại này là bắt nguồn từ một tư duy già cỗi, nông cạn và nhiều mặc cảm. Tôi có cảm giác là ngay cả những bạn trẻ doanh nhân và sinh viên mà tôi thường tiếp xúc vẫn còn sống trong một thời đại cách đây 100 năm, dưới thời Pháp thuộc. Thực tình, nhiều bậc trí giả đã lo ngại là so với thời cũ, chúng ta đã đi thụt lùi về đạo đức xã hội và hành xử văn minh.
Tôi thường khuyên các bạn trẻ hãy đọc lại những tiểu thuyết của thời Pháp thuộc trước 1945. Họ sẽ thấy đời sống và các vấn nạn của một nông dân trong truyện của Sơn Nam vẫn không khác gì mấy so với một nông dân qua lời kể của Nguyễn Ngọc Tư. Bâng khuâng và thách thức của những gia đình trung lưu qua các câu chuyên của Khái Hưng rất gần gũi với những mẫu chuyện ngắn của nhiều tác giả trẻ hiện nay. Ngay cả những tên trọc phú, cơ hội và láu lỉnh trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng cũng mang đậm nét hình ảnh của những Xuân Tóc Đỏ ngày nay trong xã hội.
Ôm lấy quá khứ ở thế kỷ 21
Tóm lại, tôi có cảm tưởng chúng ta vẫn sống và vẫn tranh đấu, suy nghĩ trong môi trường cả 100 năm trước. Những mặc cảm thua kém với các ông chủ da trắng vẫn ám ảnh các bạn trẻ ngày nay. Chúng ta vẫn bàn cãi về những triết thuyết mà phần lớn nhân loại đã bỏ vào sọt rác. Trong lãnh vực kinh doanh, phần lớn các doanh nhân vẫn cho rằng bất động sản và khoáng sản là căn bản của mọi tài sản. Sản xuất gia công và chế biến nông sản vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Một doanh nhân Trung Quốc đã mỉa mai với tôi khi đến thăm một khu công nghiệp của VN, “Họ đang cố học và làm những gì chúng tôi đang muốn quên”.
Tôi đang ở tuổi 66. May mắn cho tôi, nền kinh tế toàn cầu đã thay đổi khác hẳn thời Pháp thuộc. Tôi không cần phải dùng tay chân để lao động, cạnh tranh với tuổi trẻ. Kinh doanh bây giờ đòi hỏi một sáng tạo chỉ đến từ trí tuệ và tư duy đổi mới. Thân thể tôi dù bị hao mòn (xương khớp lỏng lẻo, tai mắt nhấp nhem..). nhưng trí óc tôi và tinh thần vẫn trẻ hơn bao giờ hết. Thêm vào đó, nó không bị phân tâm bởi những hóc môn (hormones) về đàn bà hay những thứ lăng nhăng khác như các bạn trẻ. Do đó, hiệu năng và công suất của sự suy nghĩ trở nên bén nhậy hơn.
Người Mỹ có câu, “Những con chó già không bao giờ thay đổi” (old dogs never change). Do đó, tôi thường không thích trò chuyện với những người trên 40, nhất là những đại trí giả. Nhưng tôi thất vọng vô cùng khi về lại VN và gặp toàn những ông cụ non mới trên 20 tuổi đời: Nhút nhát, cầu an, thụ động, chỉ biết ăn nhậu, và đua đòi theo thời thế. Họ sống như các ông già đã về hưu, họ nói năng như một con vẹt, lập đi lập lại những giáo điều, khẩu hiệu đã hiện diện hơn trăm năm. Họ làm việc như một con ngựa bị bịt kín đôi mắt để chỉ nhìn thấy con đường một chiều trước mắt.
Nhiều người đỗ lỗi cho những thế hệ trứơc và văn hóa gia đình đã kềm kẹp và làm cho thế hệ trẻ này hay ỷ lại và hư hỏng. Cha mẹ vẫn giữ thói quen sắp đặt và quyết định cho các con đã trưởng thành (ngay khi chúng vào tuổi 30, 40..) về những cuộc hôn nhân, công việc làm, ngay cả nhà cửa và cách sinh họat. Hậu quả là một thế hệ đáng lẽ phải tự lập và lo tạo tương lai cho mình theo ý thích lại cuối đầu nghe và làm theo những tư duy đã lỗi thời và tụt hậu.
Trong khi thế giới đang hồi sinh với thế hệ trẻ tự tin tràn đầy năng lực cho những thử thách của thế kỷ 21, thì người trẻ VN đang lần mò trong bóng tối của quá khứ, với sự khuyền khích của các nhóm muốn giữ quyền lực và bổng lộc. Tôi tự hỏi, sao quê hương mình … già nua nhanh như vậy? Những nhiệt huyết đam mê của tuổi thanh niên bây giờ chỉ dành cho những trận đá bóng của Châu Âu? Tôi nhìn vào những nghèo khó của dân mình so với láng giềng chỉ là một tình trạng tạm thời. Nhưng tôi lo cho cái tư duy già cỗi của tuổi trẻ sẽ giữ chân VN thêm nhiều thập niên nữa. Cái bẫy thu nhập trung bình to lớn và khó khăn hơn mọi ước tính.
T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là gocnhinalan@gmail.com và Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.
T/S Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa 

Tại sao Stalin được dựng tượng, còn Hitler thì không?

stalin-statue
Nguồn: Peter Singer, “A Statue for Stalin?Project Syndicate, 09/01/2014.
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng
Hitler và Stalin là hai kẻ độc tài tàn nhẫn từng tiến hành những vụ thảm sát trên diện rộng. Nhưng trong khi người ta không thể hình dung ra một bức tượng Hitler ở Berlin hay ở bất cứ nơi nào khác trên nước Đức, thì những bức tượng Stalin lại được khôi phục trên những thị trấn ở khắp Gruzia (quê hương của Stalin), và một bức tượng khác sắp được dựng lên ở Moskva như một phần trong việc tưởng niệm tất cả các nhà lãnh đạo Liên Xô.
Sự khác biệt trong thái độ không chỉ giới hạn trong biên giới của các quốc gia mà Hitler và Stalin từng cai trị. Ở Mỹ, có một bức tượng bán thân của Stalin ở Đài tưởng niệm D-Day Quốc gia ở Virginia. Ở New York, tôi (Peter Singer) mới ăn tối tại một nhà hàng Nga có đồ dùng kiểu Xô viết, nữ phục vụ mặc đồng phục Liên Xô, và một bức tranh vẽ các nhà lãnh đạo Xô viết, trong đó nổi bật là Stalin. New York cũng có một Quán ba KGB. Theo tôi được biết, không có nhà hàng nào mang phong cách Đức Quốc xã ở New York; và cũng không có quán ba Gestapo hay SS nào.
Vậy tại sao Stalin lại tương đối được chấp nhận hơn so với Hitler?
Trong một cuộc họp báo hồi tháng trước, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã cố gắng biện minh. Khi được hỏi về kế hoạch dựng tượng Stalin của Moskva, Putin nhắc đến Oliver Cromwell, lãnh đạo phe Nghị viện trong cuộc Nội chiến Anh hồi thế kỷ 17, và hỏi: “Sự khác biệt thực sự giữa Cromwell và Stalin là gì?” Rồi Putin tự mình trả lời câu hỏi: “Chẳng khác gì,” và sau đó mô tả Cromwell là một “kẻ xảo quyệt” “có vai trò rất mơ hồ trong lịch sử nước Anh.” (Có một bức tượng Cromwell được dựng bên ngoài Viện Thứ dân [tức Hạ viện] ở London.)
“Mơ hồ” là lời mô tả hợp lý cho tính đạo đức trong những hành động của Cromwell. Tuy thúc đẩy quyền lực của nghị viện ở Anh quốc, chấm dứt nội chiến, và cho phép một mức độ khoan dung tôn giáo nhất định, Cromwell cũng ủng hộ phiên tòa xét xử và hành quyết vua Charles I, và hung bạo xâm chiếm Ireland để phản ứng lại mối đe dọa từ liên minh giữa người Công giáo Ireland và Hoàng gia Anh.
Nhưng không như Cromwell, Stalin phải chịu trách nhiệm trước vô số cái chết của những người dân thường, bên ngoài các cuộc chiến tranh và chiến dịch quân sự. Theo Timothy Snyder, tác giả cuốn Bloodlands (Những vùng đất đẫm máu, châu Âu giữa Hitler và Stalin), khoảng 2 đến 3 triệu người đã chết trong các trại lao động cưỡng bức (gọi là Gulag) và có lẽ khoảng 1 triệu người đã bị bắn chết trong cuộc Đại Thanh trừng cuối những năm 1930. Khoảng 5 triệu người chết đói trong nạn đói 1930-1933, trong đó có 3,3 triệu người Ukraina thiệt mạng vì một chính sách có chủ đích liên quan đến quốc tịch hay thân thế trung nông của họ, được gọi là kulak (tầng lớp địa chủ).
Ước tính của Snyder về tổng số nạn nhân của Stalin không tính đến những người sống sót sau những trại lao động cưỡng bức hay bị lưu đày trong nước dưới những điều kiện khắc nghiệt. Nếu tính cả họ thì có khoảng 25 triệu người phải chịu đựng nỗi thống khổ dưới chế độ độc tài của Stalin. Tổng số người chết mà Snyder quy trách nhiệm cho Stalin thấp hơn con số thường được trích dẫn là 20 triệu người, con số này được ước tính trước khi giới sử gia tiếp cận được văn khố của Liên Xô. Dù thế nào thì đó cũng là một con số khủng khiếp – tương đương số lượng người mà Đức Quốc xã sát hại (trong khoảng thời gian ngắn hơn).
Hơn nữa, các tài liệu lưu trữ của Liên Xô cho thấy chúng ta không thể nói rằng những vụ giết người của Đức Quốc xã là tồi tệ hơn vì chúng nhắm đến các nạn nhân dựa trên cơ sở chủng tộc hay sắc tộc của họ. Stalin cũng nhắm đến một số nạn nhân dựa trên cơ sở đó – không chỉ có người Ukraina, mà còn có cả những người dân tộc thiểu số của các nước có chung đường biên giới với Liên Xô. Những cuộc bức hại của Stalin cũng nhắm đến một số lượng lớn người Do Thái.
Không có phòng hơi ngạt nào, và cứ cho là động lực đằng sau những vụ sát hại của Stalin không phải là diệt chủng, mà là mối đe dọa hay sự đối lập, dù thật hay tưởng tượng, tới chế độ của Stalin. Nhưng điều đó cũng không thể biện minh cho quy mô của việc sát hại và tù đày đã diễn ra.
Nếu có bất cứ sự “mơ hồ” nào về lý lịch đạo đức của Stalin, thì nó có lẽ là vì chủ nghĩa cộng sản cũng có điểm đồng về những ước muốn cao thượng hơn như của chúng ta, là tìm kiếm sự bình đẳng cho tất cả và chấm dứt đói nghèo. Không thể tìm thấy khát vọng phổ quát nào như vậy trong chủ nghĩa quốc xã, thứ rõ ràng là không quan tâm đến những gì là tốt cho tất cả mà chỉ quan tâm đến những gì là tốt cho một nhóm chủng tộc, và chủ nghĩa quốc xã rõ ràng là được thúc đẩy bằng thái độ hận thù và khinh miệt với các nhóm dân tộc khác.
Nhưng chủ nghĩa cộng sản dưới thời Stalin lại đi ngược lại chủ nghĩa quân bình, vì nó trao quyền lực tuyệt đối cho một số ít, và phủ nhận mọi quyền lợi của số nhiều. Những người bênh vực danh tiếng của Stalin ghi nhận ông đã đưa hàng triệu người thoát khỏi đói nghèo; nhưng hàng triệu người đáng lẽ cũng đã được cứu thoát khỏi đói nghèo mà không cần phải sát hại và giam giữ hàng triệu người khác.
Một số người khác bảo vệ sự vĩ đại của Stalin dựa trên vai trò của ông trong việc đẩy lui cuộc xâm lược của Đức Quốc xã và cuối cùng là đánh bại Hitler. Nhưng cuộc thanh trừng những lãnh đạo quân đội trong cuộc Đại Thanh trừng của Stalin đã làm suy yếu nghiêm trọng Hồng Quân, việc Stalin ký Hiệp ước Bất tương xâm Xô-Đức năm 1939 đã mở đường cho sự khởi đầu của Thế chiến II, và sự mù quáng của Stalin trước mối đe dọa của Đức Quốc xã năm 1941 đã khiến Liên Xô không được chuẩn bị để chống lại cuộc tấn công của Hitler.
Đúng là Stalin đã đưa đất nước của ông đến thắng lợi trong chiến tranh, và đến một vị thế quyền lực toàn cầu mà nó chưa từng đạt được trước đó, một điều cũng là lý do khiến nó sụp đổ sau này. Hitler, ngược lại, đã để đất nước của mình tan rã, bị chiếm đóng, và bị chia cắt.
Mọi người đồng cảm với đất nước mình và ngưỡng mộ những người đã dẫn dắt nó ở thời kỳ đỉnh cao nhất. Điều đó có thể giải thích lí do tại sao người Moskva lại sẵn sàng chấp nhận một bức tượng Stalin hơn là người Berlin sẵn sàng chấp nhận một bức tượng Hitler.
Nhưng đó có thể chỉ là một phần lí do của thái độ đối xử khác biệt đối với hai kẻ giết người hàng loạt này. Nó vẫn còn khiến tôi bối rối trước nhà hàng mang phong cách Xô viết và Quán ba KGB ở New York.
Peter Singer là Giáo sư Đạo đức sinh học (Bioethics) tại Đại học Princeton và Giáo sư Danh dự tại Đại học Melbourne. Các cuốn sách của ông bao gồm Animal Liberation, Practical Ethics, One World, The Ethics of What We Eat (đồng tác giả với Jim Mason), Rethinking Life and Death, The Point of View of the Universe, đồng tác giả với Katarzyna de Lazari-Radek, và gần đây nhất là The Most Good You Can Do. Năm 2013, ông được Viện Gottlieb Duttweiler vinh danh là “nhà tư tưởng đương thời có ảnh hưởng nhất” thứ ba trên thế giới.

Nikita Khrushchev – Người bác bỏ chủ nghĩa Stalin

KOG_117561_00002_1_t222_112926
Nguồn: Historic figures, BBC (truy cập ngày 29/5/2015)
Biên dịch & Hiệu đính: Phạm Hồng Anh                                        
Khrushchev là người kế nhiệm Joseph Stalin lãnh đạo Liên bang Xô Viết từ năm 1955 tới 1964. Nhiệm kỳ của ông trải qua cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba.
Nikita Sergeyevich Khrushchev sinh năm 1894 trong một gia đình nghèo khó ở miền tây nam nước Nga. Ông gần như không được đi học. Ông gia nhập Đảng Bolshevik năm 1918 và chiến đấu trong Hồng Quân trong cuộc Nội chiến Nga.
Năm 1929, Khrushchev chuyển đến Moskva để tham gia Học viện Công nghiệp Stalin. Năm 1931, ông bắt đầu làm việc cho Đảng Cộng sản, dần thăng tiến qua các cấp bậc để trở thành bí thư thứ nhất của Đảng bộ thành phố Moskva năm 1938. Năm sau đó ông trở thành ủy viên Bộ chính trị – cơ quan ra quyết định tối cao của Đảng Cộng sản. Trong Thế chiến thứ hai, Khrushchev đảm nhiệm chức vụ chính ủy của quân đội.
Tháng 3/1953, Stalin qua đời. Không lâu sau đó Khrushchev trở thành tổng bí thư đảng, tuy nhiên ông cũng phải mất vài năm để củng cố địa vị của mình. Tháng 2/1956, ông trình bày một bài diễn văn bí mật tại Đại hội Đảng lần thứ 20 nhằm lên án Stalin. Sự việc này khiến Đảng Cộng sản và cả phương Tây dậy sóng, mặc dù Khrushchev không nhắc đến vai trò của mình trong chiến dịch khủng bố của Stalin.
Bài diễn văn này đã làm dấy lên phong trào ‘phi Stalin-hóa’ (de-Stalinisation, tức bài trừ sự sùng bái cá nhân Stalin – ND). Khrushchev cũng nỗ lực cải thiện đời sống người dân Liên Xô và nới lỏng tự do trong đời sống văn hóa và trí thức. Giữa thập niên 1950, ông phát động phong trào ‘Virgin Lands’ (nghĩa đen là “những vùng đất trinh nữ” – NBT) nhằm khuyến khích trồng trọt ở những vùng đất chưa được khai hoang tại nước Cộng hòa Kazakh (tức Kazakhstan). Ông cho đầu tư vào chương trình không gian vũ trụ của Liên Xô và thành quả là vệ tinh Sputnik I được phóng năm 1957. Đây cũng là thiết bị không gian đầu tiên bay theo quỹ đạo trái đất.
Trong quan hệ với phương Tây, nhiệm kỳ của Khruschev trải qua một loạt khủng hoảng – máy bay gián điệp U2 của Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô năm 1960, Bức tường Berlin được xây dựng năm 1961, và nghiêm trọng nhất là cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 đã đưa thế giới đến bờ vực của một cuộc chiến tranh hạt nhân. Bất chấp những vụ việc này, Khrushchev vẫn cố gắng theo đuổi chính sách cùng chung sống hòa bình với phương Tây. Sự thay đổi trong ý thức hệ này, cùng với việc Khrushchev chối bỏ chủ nghĩa Stalin, đã dẫn tới sự rạn nứt trong quan hệ với Trung Quốc Cộng sản vào năm 1960.
Điều đáng nói là Khrushchev đã không sẵn sàng nới lỏng sự kiểm soát của Liên Xô với các quốc gia vệ tinh ở Đông Âu. Năm 1956, một cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của chủ nghĩa cộng sản tại Hungary đã bị đàn áp đẫm máu.
Cho đến năm 1964, Khrushchev đã cô lập khá nhiều người giữ chức vụ cao ở Liên Xô và bị các đối thủ do Leonid Brezhnev đứng đầu buộc phải từ chức. Khrushchev qua đời ngày 11 tháng 9 năm 1971 tại Moskva.

Vài câu chuyện về Cải cách ruộng đất


Tuổi thơ xem đấu tố. Ảnh mang tính minh họa.
Tuổi thơ xem đấu tố. Ảnh mang tính minh họa.
Muốn blog cháy hãy viết về chiến tranh Nam Bắc, về cải cách ruộng đất với khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào.. đào tận gốc, trốc tận rễ”, “Nhân văn Giai phẩm”, những chuyện quá khứ đi vào lịch sử đầy máu, nước mắt, và chia rẽ dân tộc.
Nhưng né tránh, câu chuyện sẽ còn âm ỷ khôn nguôi, dù thế giới đã sang thế kỷ 21. Lãnh đạo quốc gia có tầm, có tâm, nên bạch hóa sai lầm quá khứ, lấy đó làm bài học cho hiện tại và hướng tới tương lai. Đó là một trong những chìa khóa cho phát triển đất nước.

Dư chấn thời thơ ấu kéo dài 60 năm chưa dứt
 
Nếu nói rằng tôi nhớ cuộc đấu tố địa chủ làng khi 3-4 tuổi có lẽ bạn đọc không tin, nhưng tôi từng tham dự và nhớ thật. Chẳng hiểu vì lý do gì mà mẹ tôi cho mấy chị em đi xem đấu địa chủ trên bãi đất rộng toàn cỏ gà, hồi đó là bãi tha ma, trước đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành ở xã Trường Yên (Hoa Lư, Ninh Bình).
Người xem đông nghịt, tôi nhớ cảnh người “địa chủ cường hào gian ác” bị trói chặt hai tay ra phía sau (giật cánh khuỷu?), quỳ dưới một ô đất 1mx1m đào sâu khoảng vài gang tay. Các bà đứng trên và chỉ tay vào mặt “Mày nhá, ngày xưa mày bóc lột tao, mày cướp đất nhà tao, mày hiếp tao…”. Người quì dưới cúi gằm mặt xuống đất. Cứ thế lần lượt hàng chục người lên xỉa xói.
Nội ngoại nhà tôi đều suýt làm…địa chủ. Ông ngoại từng đi lính đánh thuê cho Pháp, sang tận châu Phi mấy năm. Tiếc là ông đã mất, nếu không, tôi có một nguồn tư liệu quí về một thời toàn cầu hóa của nông dân Ninh Bình. Ông có hai vợ, nhà trên, nhà dưới, nhưng không hiểu sao tránh được địa chủ.
Ông nội từng làm Chánh tổng xã Trường Yên những cuối năm 1930, cũng thuộc hàng giầu có vì ông biết làm ăn, chỉ cho con cái đường đi nước bước. Cha tôi và mấy chú bác đi bộ sang Lào buôn bán từ tuổi thanh niên. Ông có hàng chục ngôi nhà ngói, nhưng Pháp càn đầu những năm 1940 và đốt hết. Vật dụng duy nhất còn lại là cái tràng kỷ bằng gỗ lim không cháy nổi. Hiện người con của bác họ vẫn dùng.
Có lẽ vì thế mà sau cách mạng, với mái nhà ngói bốn gian, và như một sự kỳ diệu, ông bà tôi chỉ bị tố là thành phần trung nông, vì ruộng vườn, nhà cửa chưa đủ ngưỡng địa chủ.
Hình như trước đó ông nội cho bớt nhà cửa cho người khác nên tránh được cuộc cải cách, hoặc do làng tôi làm không dứt điểm “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”. Tôi nhớ cái nhà sau chính là của ông bà tôi, nhưng người khác đã ở. Sau này lớn lên, tôi cũng không hỏi nữa, vì mỗi lần nhắc đến nhà cửa ruộng vườn, ông nội hay nổi đóa.
Bộ tràng kỷ của ông nội. Ảnh: HM
Bộ tràng kỷ của ông nội. Ảnh: HM
Lần đó đi xem đấu địa chủ về, mẹ tôi lại cho các con về thăm ông. Hình như ông tôi gọi mẹ tôi vào trong nhà, vụt cho mấy cái batoong đau lắm. Mẹ tôi giận ông nội mấy năm trời, mãi mới thôi. Có lẽ ông căm thù chuyện đấu tố vì ông bà suýt dính, và không muốn con trẻ dính vào giết chóc, hoặc muốn tuổi thơ được sống trong yên lành. Thời đó ông nội có chữ nhất nhì trong Tổng Trường Yên.
Lũ trẻ thuộc lòng và bắt chước đấu địa chủ vào giờ ra chơi ở trường, khi đi chăn trâu, hoặc ở sân làng. Làm súng trường bằng tầu chuối và bắn bằng mồm “bằng bằng”, bắt “tên địa chủ” là một cậu đồng niên nằm vật ra, nhắm mắt lại, rồi khiêng đi chôn. Dù chưa bao giờ thấy bắn địa chủ như thế nào, chôn người chết ra sao, nhưng ký ức tuổi thơ “đấu cường hào” không bao giờ quên, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua.
Viết mấy dòng để nói rằng, những gia đình có người thân bị quì dưới đất, bị trói, bị xỉ nhục, bị vu oan và giết oan, họ đã sống như thế nào mới qua những ngày đen tối.
Những thế hệ tài năng bị ruồng bỏ
Người tố giác, người thi hành án tử “kẻ thù của giai cấp” hầu hết đã về với ông bà tổ tiên. Nhưng hệ lụy để lại về lý lịch cho con cháu vô cùng khủng khiếp, đã làm hại nhiều tài năng và tinh hoa của đất nước.
Địa chủ ở làng quê là ai? Có phải tất cả đều độc ác hay không? Có người độc ác, có kẻ giết người, nhưng không phải tất cả. Cùng mảnh ruộng, người biết làm ăn, tính toán thì có của ăn của để. Nhưng người không biết phải chịu đói khát, đành đi làm thuê. Nhưng sau cách mạng, người giỏi hơn thành địa chủ, người kém hơn lên làm chủ, và kết quả thế nào, chẳng cần bàn cãi.
Giầu nghèo trong xã hội nào chả có, sự bất bình đẳng về thu nhập là câu chuyện của ngàn đời và sẽ còn mãi. Người tài năng, có hiểu biết sẽ giầu có hơn người ít kiến thức. Ở nông thôn, “địa chủ” đôi khi là tinh hoa của nền nông nghiệp. Tàn sát lớp người này đã thui chột nền nông nghiệp.
Nếu cha mẹ, ông bà đã chịu tội dù có oan uổng thì ra một nhẽ. Nhưng kiểu quản lý nửa cách mạng, nửa phong kiến “tru di tam tộc”, con cháu của lớp người bị cho là có tội không thể ngóc đầu lên được.
Anh chị Lương-Tâm và người bạn Canada thăm DC. Ảnh: HM
Anh chị Lương-Tâm và người bạn Canada thăm DC. Ảnh: HM
Hè vừa rồi tôi gặp vài người thuộc dòng họ nhà sách Mai Lĩnh nổi tiếng ở Hải Phòng đến DC chơi. Nói chuyện với khách mới biết nhà sách này từng rất giầu có và nổi tiếng vùng Bắc Bộ. Mai Lĩnh là tên ghép của làng Xuân Mai và núi Lĩnh ở Phúc Yên, thuộc dòng họ Đỗ Phúc Lương.
Cụ Đỗ Văn Phong sinh bẩy người con trai, sáu người làm kinh doanh khắp Nam Bắc thời đó. Người con thứ tư là ông Đỗ Như Phượng ở lại quê trông nom gia đình và có một người con là Đỗ Như Lân. Vì ở quê gọi tên cha mẹ theo con trai trưởng và ông Phong là thứ 4 nên gọi là ông Tư Lân.
Là một người hiền từ, biết làm ăn, được dân làng quí mến. Những năm 1939-1945, làng quê nghèo khổ chưa từng có, thấy ông làm ăn phát đạt vì biết qui hoạch ruộng vườn, cả làng nhờ ông Tư giúp đỡ, có người xin làm con nuôi ông cho khỏi bị chết đói, hoặc giúp cho công ăn việc làm.
Nạn đói 1945, chính ông Tư là người mở kho thóc nhà mình để phát chẩn cho dân nghèo, dùng tiền mua thuốc cứu giúp người bệnh. Trang trại Mai Lĩnh từng là cơ sở giúp cho cách mạng như ép dầu, cất tinh dầu giun, mua rượu cồn, vận chuyển lên chiến khu Việt Bắc. Quân Pháp từng đốt phá tan hoang cơ nhà Mai Lĩnh.
Nhưng cuộc bể dâu Cải cách ruộng đất đã đẩy ông Lân xuống bùn đen. Từ một người lương thiện, hết lòng vì dân làng, đóng góp cho cách mạng, nhưng sau một đêm ông Tư Lân biến thành kẻ thù giai cấp vì đã quá giầu.  Có lẽ làng Phúc Yên ngày ấy vẫn còn nhớ hình ảnh những nhân chứng mà ông Tư từng cưu mang đã buộc tội chính ông. Bị tịch thu toàn bộ gia sản, ông bị 15 năm tù đầy. Vợ con bị đẩy ra rìa làng.
Ông đã bị hành hạ về thể xác và tinh thần, cuối cùng đã chết trong tù năm 1955. Nhà sách Mai Lĩnh từ gia đình nổi tiếng ở Phúc Yên cuối cùng cũng bị xóa sổ sau cách mạng.
Con cháu phiêu bạt khắp nơi. Chị Lương (chị tên là Hiền Lương vì ông bố có thói quen đặt tên các con theo địa danh các tỉnh) ở Hải Phòng cưới  anh Tâm cũng con nhà tư sản. Họ học rất giỏi nhưng cuối cùng không được vào đại học chỉ vì lý lịch, cho dù đã sửa sai, nhưng tiếng xấu để lại không ai gột rửa. Nhân chuyện vượt biên những năm 1980 ở miền Bắc, anh chị rủ nhau đi tìm bến bờ khác.
Hiện họ sống ở Canada. Hôm gặp ở Washington DC, anh Tâm chị Lương nhắc mãi Blog Hiệu Minh. Người chị gái của chị Lương cũng vừa tới thăm DC với con gái hiện đang ở bên Anh. Vướng chuyện lý lịch, họ phải bươn chải suốt cuộc đời, bây giờ mới tạm ổn.
Mấy lời cuối
Viết những chuyện như trên có lẽ phải cần hàng ngàn cuốn sách. Cuộc chiến thời Pháp, Nhật, Mỹ và sau này với Trung Quốc đã khiến máu chảy thành sông ở mảnh đất nhỏ bé này. Nhưng máu do chính người Việt tạo ra cũng không ít.
Thời thực dân, luật pháp nằm trong tay kẻ mạnh, sưu cao thuế nặng ở quê, tội ác để lại không nhỏ. Vì thế khi cách mạng nổ ra, hàng chục triệu người đi theo với niềm tin “Công bằng, bác ái, và dân chủ, người cày có ruộng”, khỏi phải bàn cãi về vai trò của ĐCS. Tuy nhiên những gì họ xử lý sau chiến thắng lẫy lừng mới là điều cần bàn.
Chị gái của chị Hiền Lương. Ảnh: HM
Chị gái của chị Hiền Lương. Ảnh: HM
Sau 1954 là thế, nhưng sau 1975, Cải tạo công thương nghiệp cũng xóa đi một thế hệ tinh hoa biết làm ăn, và hệ lụy rất lớn về lý lịch để lại cho con cháu. Hàng triệu người bỏ tổ quốc ra đi. Nhiều người thành đạt nơi xứ người nhưng không thể đóng góp cho quê hương vì nhiều lẽ mà trong đó dư chấn của Cải cách ruộng đất mà họ cho là một trong những điều mất mát lớn.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội vừa khai trương hôm 8/9 triển lãm “Cải cách ruộng đất 1946-1957″ với mục đích “giúp công chúng tiếp cận với những tài liệu, hiện vật gốc và có cách nhìn thực tiễn, khoa học, khách quan về cuộc vận động cách mạng ruộng đất trong tiến trình lịch sử dân tộc”. Rất có thể triển lãm còn sơ sài, nhưng dầu sao, xã hội đã cởi mở và được quyền nói về những chuyện trong quá khứ.
Những bài học cải cách ruộng đất áp dụng một cách mù quáng từ Trung Quốc và Liên Xô bị trả giá bằng xương máu dân tộc này. Phải chấm dứt sự phụ thuộc vào ngoại bang kể cả ý thức hệ. Sự dốt nát không thể kéo qua hai thế kỷ.
Triển lãm cũng là sự mở đầu cho sự kết thúc một trang sử bi tráng, đầy máu và nước mắt. Lãnh đạo quốc gia có tầm, có tâm, cần bạch hóa sai lầm quá khứ, lấy đó làm bài học cho hiện tại và hướng tới tương lai.
Đã đến lúc đất nước phải thay đổi, lãnh đạo phải thay đổi và mỗi chúng ta phải thay đổi. Sự mù quáng về ý thức hệ sẽ đưa đến một cuộc cải cách khác, máu đổ và thiệt hại mang tầm quốc gia, đau đớn kéo dài hàng thế kỷ, mà một cậu bé 3-4 tuổi ở Trường Yên nhớ hằn sâu trong trí óc tuổi thơ dù đã sau 60 năm.
 Hiệu Minh. 9-9-2014. 
Trích từ Wiki
  • Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói về tình cảnh oan sai trong diễn văn đọc trước Mặt Trận Tổ Quốc, ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại Hà Nội:” Qua cuộc Cải cách ruộng đất ta thấy bao nhiêu các chiến sĩ cách mạng thành tích lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai huy chương kháng chiến bị kết án là phản động, cường hào gian ác và, sau khi nhận tội, bị tống giam hay bị hành hình. […] Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói được, chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được
  • Năm 2005, nguyên Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt nhìn nhận: Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế.

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

Cướp Có …Business Plan


Alan Phan
robbery
18 Mar 2015
(Tham vọng con người leo thang tuần tự: trước, họ tìm cách bảo vệ mình chống kẻ thù; rồi sau đó, họ tìm cách tiêu diệt kẻ thù – Men rise from one ambition to another: first, they seek to secure themselves against attack; and then they attack others – Niccolo Machiavelli )
Chuyện “cướp giật”, hay ở mức độ thấp hơn “trộm cắp”, đã tồn tại suốt lịch sử loài người. Lòng ham muốn những gì không phải của mình đã được các tôn giáo, hệ thống đạo đức, tín ngưỡng dân gian…qua những giáo chủ, triết gia…phân tích và cảnh báo gần như trong hầu hết mọi kinh sách. Pháp luật từ chế độ phong kiến đến tư bản tự do đặt “cướp giật và trộm cắp” vào những tội đồ cần trừng trị thẳng tay. Vài chục ngàn năm nay, dù sử dụng nhiều ngôn từ cao đẹp cho những hành động tương tự để hưởng chiến lợi phẩm từ các tranh chấp “cướp + cắp”, chưa lãnh đạo quần chúng nào trên vòm trời này dám công khai hóa chuyện xấu xa của mình và đàn em.
Cho đến những ngày gần đây, khi ngài Phó Ban Tuyên Giáo nào đó của chính quyền phán rằng thực ra, chuyện cướp giật tại các lễ hội, chỉ là một thể hiện việc chúng ta ăn cướp “có văn hóa” theo truyền thống dân tộc. Ông này đúng là một anh hùng của Việt Nam. Ông thừa can đảm đứng lên thẳng thắn loan báo cùng toàn cầu là chúng tôi có một đặc trưng là “văn hóa cướp”.  Và đây có lẽ là niềm tự hào số một của chúng ta?
Phát ngôn lịch sử này phải là phút “eureka” của xã hội này. Nó quan trọng hơn tất cả những câu châm ngôn, tư tưởng thâm sâu của các đỉnh cao trí tuệ mà chúng ta vẫn đọc hàng ngày qua các băng rôn đỏ la liệt trên đường phố.
Dĩ nhiên, nhiều người nhẩy vào ném đá vị anh hùng này. Riêng ông già Alan, rất thông hiểu tâm tư quan chức này nên xin được phép phân tích sâu rộng hơn về một sự thật mà nhiều người cố né tránh. Nhất là khi nhìn lại từ tổng quan của xã hội chúng ta ngày nay.
Tôi nhớ một bài viết về kinh doanh nói lên sự khác biệt giữa những người thành công và những người cực kỳ thành công (như Buffett, Gates…). Ngẫm lại, sự khác biệt giữa một phi vụ ăn cướp thành công và một hệ thống ăn cướp cực kỳ thành công cũng mang nhiều yếu tố và cá tính như vậy.
Trước hết, “cướp giật” là một quy trình không hề đơn giản.
Ngay cả một tên cướp mạt hạng muốn cướp chiếc xách tay của một bà cụ qua đường cũng phải suy nghĩ cẩn thận về những rủi ro: có công an hay bảo vệ nào gần nơi? có nhiều người trẻ sẵn sàng ra tay hành nghĩa? sẽ thoát chạy bằng lối nào cho nhanh? liệu túi xách có giá trị đáng cho cướp? ….
Còn muốn tổ chức đánh cướp một ngân hàng hay một cơ sở thương mại quy mô, đám tội phạm phải lên một kế hoạch khá công phu. Có quá nhiều thí dụ về loại cướp này qua các kịch bản của phim Hollywood hay Hong Kong.
Lên một mức cao hơn, ở Mỹ gọi là “có tổ chức” (organized crime) thì nên nghiền ngẫm cuốn truyện The Godfather (Bố Già) hay lịch sử của những băng đảng xã hội đen trên thế giới, từ Yakuza của Nhật, hội Tam Hoàng của Tàu, Al Capone của Mỹ hay Năm Cam của Việt Nam.
Với những người say mê nghiên cứu về “ăn cướp” thì tài liệu trong thư viện hay Internet rất đầy đủ để viết sách hay chém gió mỗi ngày.
Nhưng tất cả hiện hữu trong những vụ việc này chỉ là phần nổi của tảng băng. Đây là minh chứng của những người ăn cướp thành công. Muốn biết thêm về phần chìm của tảng băng, của những kẻ cướp “cực kỳ thành công”, chúng ta phải đào tìm sâu kỹ hơn như một nhà khảo cổ.
Với cái nhìn méo mó của một doanh nhân, tôi luôn liên tưởng đến những đế quốc “ăn cướp” cực kỳ thành công trong lịch sử đến những công ty đa quốc có một mô hình kinh doanh độc đáo với một kế hoạch hoàn hảo. Business plan của họ chứa đựng tất cả mọi chi tiết cần thiết từ sứ mệnh (mission statement), triết lý căn bản (underlying philosophy) đến đặc thù sản phẩm (products) chương trình tiếp thị (marketing), tổ chức quản trị và nhân sự (HR), cơ sở, vũ khí, công nghệ (facilities & technology), và sau cùng là nhu cầu tài chánh (financials), quản lý rủi ro và kỹ cương công ty (risks and corporate governnance).
Lấy Đức Quốc Xã làm thí dụ. Có thể khi khởi nghiệp, chỉ có Hitler và vài đồng chí, nhưng qua thời gian, họ đã thuần thục xây dựng một tổ chức vô cùng hùng mạnh thời bấy giờ. Mission của họ là phục hồi danh dự và kinh tế cho tổ quốc, con dê tế thần gây ra cảnh khổ là những bọn Do Thái tham lam, triết thuyết căn bản là truyền thống thượng tôn (superiority) của sắc tộc Aryans, và chương trình tiếp thị cho người dân là tự hào về quang vinh (glory) của Đức quốc trong quá khứ và tương lai. Dựa trên truyền thống kỷ luật và thành tựu về công nghệ khoa học của dân Đức tại châu Âu, Hitler và công ty đã tạo nhiều lợi thế cạnh tranh trên thương trường vì các đối thủ Anh, Pháp…đang bận rộn lo thu dẹp lại đống hoang tàn từ Thế Chiến I.
Các đế chế khác trong lịch sử cũng phát triển theo đường lối tương tự. Đế chế La Mã có mô hình tiến bộ đem về từ Hy Lạp là “dân chủ cộng hòa”; đế chế Ottoman bành trướng theo Hồi giáo và các kênh thương mại ; đế chế Mông Cổ có anh hùng sa mạc Genghis Khan với nghệ thuật võ biền làm sao sáng; đế chế Anh có “Thượng Đế và Hoàng Đế (God & Her Majesty)” dẫn đường cho quân đội đi “khai trí” dân mọi rợ khắp thế giới; đế chế Tàu thì có “Thiên tử thay Trời hành đạo”; Nhật có “Đại Đông Á” cho dân châu Á khởi dậy quật cường…
Thực ra, mọi đế chế trong lịch sử đều bành trướng dưới hai nội lực: sức mạnh quân sự (vũ khí và quân đội) và tài sản kinh tế (vàng, tiền, hàng hóa, khoáng sản…). Mục tiêu duy nhứt là duy trì và phát triển lợi thế này bằng cách…”cướp giật”. Tuy nhiên, không thể thẳng thắn với đám nạn nhân là chúng tôi đang đi ăn cướp, nhất là trong thời đại mà dư luận quần chúng và thế giới có thể gây thiệt hại cho đại sự. Do đó, chúng ta đã chứng kiến không biết bao nhiêu là PR về cái mission cao quý, cái triết thuyết thượng tôn, cái quang vinh của bánh vẽ…Ngay cả ngày xưa (theo huyền thoại) , khi ông vua Menelaus của Hy Lạp muốn chiếm thành Troy, ông vẫn phải dùng cái cớ là Bà Hoàng Helen đã làm mất danh dự Hy Lạp khi trốn theo người tình Paris về Troy. Không ai nhắc đến nguyên nhân chính là Hy Lạp muốn các tài sản kho báu của Troy và hoàng tử Paris chỉ là một teenager đang hứng tình.
Tôi không biết trong tương lai, quan niệm về chiến tranh của nhân loại sẽ thay đổi thế nào? Nhưng tôi đã yêu thích và đọc rất nhiều về bối cảnh các cuộc chiến trong quá khứ. Mặc cho những tô son trát phấn của các sử gia (trói gà không chặt, nên thích đẻ ra các giả thiết thời trang), chiến tranh trong cốt lõi chỉ là một vụ cướp đơn giản: phe tấn công muốn chiếm đoạt tài sản và phe phòng thủ muốn bảo vệ những gì mình có. Nghịch lý là 90% tài sản tranh chấp là sở hữu của đám vua chúa và quần thần; còn 90% dân ngu khu đen là những con tốt thí đánh đấm và sống chết theo mệnh lệnh (thích bào chữa là số phận). Ngay cả lý tưởng cao đẹp của trận chiến Nam-Bắc ở Mỹ vào 1861 cũng có nhiều mục tiêu khuất tất đằng sau mà những nhà nghiên cứu không tiện nói ra vì sợ bị dư luận ném đá.
Tóm lại, theo góc nhìn của “doanh nhân” già Alan, chiến tranh chỉ là một phi vụ M&A kiểu cưỡng ép. Nói thẳng như vậy thì có vẻ cực đoan và “cynical”; nhưng đó là thực tại của thế giới hiện nay, từ những xứ sở của dân chủ tự do đến các vũng bùn gọi là quốc gia “đang” phát triển hay mới nổi (hoặc sắp chìm).
May mắn thay, một điểm chung của các đế chế là “mặt trời luôn luôn lặn” dù ước muốn của người sáng lập hay kế vị là “muôn năm”. Lãnh tụ luôn thoái hóa theo quyền lực, sứ mệnh thiêng liêng chỉ lừa bịp được đa số vào một thời điểm, triết thuyết cho đế chế trở nên khôi hài kệch cỡm, tổ chức luôn đấu đá tranh dành trong nội bộ…và các đối thủ cạnh tranh luôn chờ đợi cơ hội…để trả thù hay chiếm đoạt (theo mô hình cướp mới).
Trong lịch sử cận đại, mô hình đế chế thành công nhất là hệ thống đảng Cộng Sản của thế kỷ 20. Từ một cuốn sách ít người quan tâm khi nhà triết học Đức, Marx, phát hành; các chính trị gia thủ đoạn và lỗi lạc như Lenin, Stalin, Mao…đã dùng nó như một chiêu PR tuyệt hảo, xây dựng một đế chế mà ở đỉnh cao của thành công đã bành trướng hơn nửa thế giới và sẵn sàng để thâu tóm thiên hạ với quyền lực của quân sự và tổ chức nội an. Tuy không còn tồn tại mạnh mẽ, nhưng nhóm lợi ích của Trung Quốc và Nga biết điều chỉnh kịp thời, mang thêm nhiều mặt nạ, mầu sắc… để đảng và đảng viên tiếp tục nắm quyền trong vài thập niên tới.
Suy nghĩ tận tường, Trung Quốc và Nga là thí dụ lịch sử cùa một hệ thống “cực kỳ thành công”. Không những sở hữu khoảng 70 tỷ US dollars (như nhận xét của Belkowsky và Bloomberg…) chỉ trong 14 năm cầm quyền, Tổng Thống Putin còn được coi như là nhân vật quyền lực nhất thế giới năm 2014. Bên Trung Quốc, nếu liệt kê hết danh sách các tư bản đỏ và quan chức có hơn tỷ nhân dân tệ, có lẽ chúng ta cần bề dầy của cuốn điện thoại niên giám.
Do đó, nhìn lại đằng sau những tôn vinh về thành tựu của Warren Buffett hay Bill Gates, họ chỉ là những người thành công, không thể ngồi chung mâm cơm với những người cực kỳ thành công như Putin hay Chu Vĩnh Khang.
Có lẽ tại vì họ chưa được dậy …”văn hóa cướp”??
Alan Phan