Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Đi tìm giải pháp cho thị trường


SGTT.VN - Diễn đàn kinh doanh thường niên lần thứ 3 do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức với sự bảo trợ của Bộ Công thương và UBND TPHCM, đã khai mạc 8h30 sáng nay (19.4.2012) tại trung tâm hội nghị White Palace, TP.HCM. Đây là một trong những hoạt động thiết thực nhân kỷ niệm 17 năm thành lập báo Sài Gòn Tiếp Thị.
Bà Phó Nam Phượng, giám đốc trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư TP.HCM (ITPC), tặng hoa các nhà tài trợ cho diễn đàn kinh doanh lần 3. Ảnh: Trần Việt Đức
Gần 500 khách mời là các chuyên gia, đại diện các doanh nghiệp và cơ quan quản lý đã tham gia sự kiện này để cùng bàn về các giải pháp tạo lập thị trường ra sao để vượt qua khó khăn, từ nghệ thuật tìm kiếm nguồn vốn, cách thức phát triển thị trường cho đến phương thức kinh doanh và quản trị, tầm nhìn về chuỗi cung ứng… Các vấn đề được đặt ra nhằm tìm kiếm sự gắn kết giữa các thông điệp chính sách và thực tiễn kinh doanh trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn và nhiều biến động.
Phát biểu khai mạc diễn đàn, ông Nguyễn Xuân Minh, quyền Tổng biên tập báo Sài Gòn Tiếp Thị, chia sẻ: "Chúng ta có mặt tại diễn đàn này khi khủng hoảng tài chính như một cơn sóng thần quét qua nền kinh tế toàn cầu trong suốt bốn năm qua, và Việt Nam cũng không thể nằm ngoài sự khốc liệt đó. Trong bối cảnh đó, cộng đồng hơn 350.000 doanh nghiệp Việt Nam những năm qua đã phải chống đỡ với các khó khăn về vốn, thị trường, thời điểm này lại đối mặt với sức mua cạn kiệt. Những tác nhân đó khiến 79.000 doanh nghiệp phá sản năm 2011, theo số liệu của tổng cục thống kê. Riêng ba tháng đầu năm, 2.200 doanh nghiệp phải giải thể và 9.900 doanh nghiệp đăng ký ngừng hoạt động, theo báo cáo của bộ Kế hoạch đầu tư. Nền kinh tế từ chỗ nhập siêu chuyển sang xuất siêu trong quý I, là dấu chỉ sản xuất và xuất khẩu trong sắp tới có thể suy giảm. Vì vậy, giải pháp thị trường và giải pháp vốn đang là vấn đề nóng hiện nay.
Ông Nguyễn Xuân Minh, quyền Tổng biên tập báo Sài Gòn Tiếp thị phát biểu khai mạc diễn đàn. Ảnh: Trần Việt Đức
Khủng hoảng là cuộc sàng lọc khắc nghiệt nhưng cũng chỉ ra các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thực sự và khả năng thích ứng. Việc quy tụ đại diện của gần 500 doanh nghiệp, hiệp hội, chuyên gia, giới hoạch định chính sách tại sự kiện này là cơ hội để chúng ta cùng trao đổi các vấn đề thời sự trong đời sống kinh doanh, các vấn đề liên quan chính sách, cũng như kinh nghiệm quản lý và điều hành doanh nghiệp. Là tờ báo thời sự thị trường, báo Sài Gòn Tiếp Thị cam kết đồng hành với doanh nghiệp, làm cầu nối chuyển tải thông tin chính sách, ghi nhận thực tiễn kinh doanh, nhằm xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh".
Tại diễn đàn lần này, dự kiến có các tham luận của các chuyên gia kinh tế và các quan chức các Bộ ngành: TS.Võ Trí Thành - phó viện trưởng viện Kinh tế Trung ương: Kinh tế Việt Nam và thế giới năm 2012: góc nhìn chính sách. Ông Cao Sỹ Kiêm - nguyên thống đốc ngân hàng Nhà nước, chủ tịch hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam: Nguồn tài chính và vốn vay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. TS.Alan Phan - chủ tịch quỹ đầu tư Viasa: Quản lý đồng vốn và quản trị trong doanh nghiệp nhỏ. Bà Virginia Foote, chủ tịch công ty Bay Global Strategies, chủ tịch Hội đồng Thương mại Việt – Mỹ: Cách ứng xử với các rào cản thương mại khi làm ăn với Mỹ...
TS.Võ Trí Thành, phó viện trưởng Viện Kinh tế Trung ương trình bày tham luận: Kinh tế Việt Nam và thế giới năm 2012: góc nhìn chính sách Ảnh: Trần Việt Đức
TS Võ Trí Thành: Doanh nghiệp hãy bươn chải và trưởng thành
Mở đầu Diễn đàn, TS Võ Trí Thành, phó viện trưởng viện Quản lý Kinh tế trung ương, trình bày tổng quan về kinh tế Việt Nam và thế giới 2012 dưới góc nhìn chính sách.
Kinh tế thế giới vẫn tăng trưởng thấp: Ông Thành nhận định tình hình kinh tế thế giới năm nay rất khó dự đoán nhưng tình hình chung là vẫn sẽ tăng trưởng thấp và rủi ro bất định vẫn còn. Các dự báo tăng trưởng của WB đã phải thay đổi liên tục, từ 3,3% cách nay sáu tháng, đến đầu năm nay là 3% và vài ngày trước là 3,5%.
Sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ, châu Âu đánh tín hiệu lạc quan nhưng vẫn chưa hết khó khăn. Khủng hoảng nợ công châu Âu là câu chuyện rất lớn, phức tạp chứ không như ở Mỹ, chỉ là chuyện thâm hụt ngân sách liên bang với quy mô vài ngàn tỉ USD. Riêng Mỹ cũng còn đang đối mặt với vấn đề là nhiều bang đang trong tình trạng phá sản.
Bong bóng tài chính thế giới quá lớn và chưa thoát khỏi khủng hoảng, nên dòng vốn chu chuyển phức tạp, không chủ yếu vào đầu tư mà là để giải quyết thanh khoản. Các rủi ro còn kéo dài do mất cân đối giữa các nước phát triển và đang phát triển về luật chơi.
Kinh tế Việt Nam trì trệ, đình đốn: Rủi ro bất ổn vĩ mô lớn nhất của Việt Nam, theo ông Thành, hiện nay không phải ở lạm phát, thâm hụt thương mại, cán cân thanh toán hay dự trữ mà chính là hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam. Trong tháng 4, lạm phát tính theo tháng có thể giảm xuống còn 12%.
Gần 500 khách mời là các chuyên gia, đại diện các doanh nghiệp và cơ quan quản lý đã tham gia sự kiện này. Ảnh: Trần Việt Đức
Tuy đánh giá nền kinh tế chưa đến mức suy thoái vì tăng trưởng GDP trong quý I năm 2012 khoảng 4% nhưng thực sự nền kinh tế đang trong tình trạng trì trệ, đình đốn ở nhiều lĩnh vực, trên nhiều bình diện. Những chỉ dấu rõ nhất mà ông Thành dẫn chứng, đó là, chưa bao giờ Việt Nam thừa điện và trong quý I năm 2012, nhập khẩu xăng dầu giảm 20%. Bên cạnh đó, là những số liệu thống kê: sức mua giảm liên tục trong 7 tháng qua, tồn kho tăng liên tục. “Chưa bao giờ kinh tế Việt Nam khó khăn như bây giờ!”, ông Thành khẳng định.
Theo nhận định của ông Thành, đáy của sản xuất kinh doanh năm nay có thể là quý II. Tăng trưởng kinh tế năm nay sẽ không đạt mục tiêu 6%, sự đồng thuận ở mức 5,5%. Về trung hạn Việt Nam đang muốn ổn định lạm phát năm nay 5-6% nhưng rủi ro được cảnh báo là việc nới lỏng lãi suất không phù hợp thì lạm phát năm sau có thể quay về 13-14%.
Trong bối cảnh này, việc ổn định đồng tiền chặt chẽ, tái cấu trúc đầu tư công và khối doanh nghiệp nhà nước là cực kỳ khó khăn vì nó liên quan đến sự phân cấp trung ương và địa phương, về quyền lợi nhóm, về năng lực điều hành…, đòi hỏi cách thức quản trị, xử lý thông tin và hệ thống.
Sẽ có nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp: Ông Thành cho biết, trong tuần qua đã có ba cuộc họp ở cấp Chính phủ. Theo đó, sẽ có các giải pháp hỗ trợ như giảm, miễn thuế cho doanh nghiệp; tạo cơ hội cho doanh nghiệp tiếp cận với trái phiếu chính phủ, nguồn vốn ODA; xem xét bỏ lãi suất, giảm lãi suất, giám sát chặt chẽ hệ thống ngân hàng và xử lý ngân hàng yếu kém. Sau đó, trần lãi suất có thể được xóa bỏ. Hay mở ra việc khoanh nợ, cơ cấu nợ, tạo dựng quỹ ngân sách bão lãnh cho các doanh nghiệp hoạt động. Đồng thời, sẽ có hàng loạt chính sách nới lỏng về cho vay tiêu dùng, bất động sản.
Các cơ quan quản lý cũng đang xem xét mở room cho nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán hơn mức 49% hiện nay. Khoản chi cho xúc tiến đầu tư thương mại cũng sẽ tăng. Theo ông Thành, sẽ có những gói hỗ trợ cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chứ không phải gói giải cứu cho doanh nghiệp mạnh mẽ, toàn diện như trong năm 2009 do nguồn lực Nhà nước hiện không bằng 2009.
Ông Thành được phóng viên kinh tế các báo đài vây quanh đặt nhiều câu hỏi trong giờ nghỉ giải lao.
Ảnh: Trần Việt Đức
Thông điệp mà ông Thành đưa ra cho doanh nghiệp là hãy bươn chải và trưởng thành. Doanh nghiệp hãy thay đổi cách nhìn, nếu muốn thật sự làm ăn dài hạn và bài bản thì phải tập trung vào tất cả những ý tưởng mới về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và thân thiện với xã hội. Một vấn đề máu thịt: lòng tin của người tiêu dùng là sự sống còn của doanh nghiệp. Thứ hai, muốn cạnh tranh thì phải cố giữ lấy những nhân tố dễ dịch chuyển như thông tin, ý tưởng và người lao động có tư duy và tay nghề cao. Vàng và đất đai không phải là tương lai của thế giới vì những quốc gia không có nhiều tài nguyên vẫn phát triển.
Doanh nghiệp muốn cạnh tranh thì phải có sự kết nối vì cạnh tranh trên thương trường luôn khắc nghiệt nhưng biết kết nối (là mạng, là chia sẻ, là chuỗi giá trị) thì sẽ gia tăng sức mạnh.
Làm kinh doanh, doanh nghiệp phải hiểu bong bóng tài chính, phải hiểu cách chơi cả cái xấu xa và đẹp đẽ của nó để có thể phát triển.
Cần hiểu được giá trị công nghệ, công nghệ đang làm thay đổi tất cả, quả bóng công nghệ truyền thông có tích cực và mặt trái nhưng người giỏi sẽ biết sử dụng nó để tạo ra thị trường, bán cái mình có, tạo ra giá trị gia tăng. Chưa bao giờ chúng ta có thể tạo dựng thị trường bằng các công nghệ truyền thông như hiện nay.
"Qua khó khăn, nước mắt của chúng ta là thật, doanh nghiệp, chính phủ và ngân hàng sẽ hiểu nhau hơn", ông Thành bày tỏ.
Ông Cao Sỹ Kiêm: Giải pháp cần là kiểm soát lạm phát ở mức nào  
Theo ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên thống đốc ngân hàng Nhà nước, chủ tịch hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thì: Chưa bao giờ thị trường vốn của chúng ta có vấn đề méo mó, phức tạp như bây giờ. Suốt ba năm qua, ta trong tình trạng quay vòng của giảm phát, lạm phát rồi giảm phát. Quá trình đó đã gây ra những hệ lụy khiến thanh khoản ngân hàng, thanh khoản doanh nghiệp và toàn thị trường thiếu hụt trầm trọng, chi phí các loại tăng lên, tồn kho tăng lên, sức mua của thị trường giảm sút và cạn kiệt, số doanh nghiệp phá sản vì thế đang ngày càng tăng . "Giống như trước đây cao huyết áp, giờ giảm huyết áp", nếu không được cấp cứu kịp thời thì sẽ chết, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa", ông Kiêm so sánh.
Ông Cao Sỹ Kiêm với tham luận "Nguồn tài chính và vốn vay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa". Ảnh: Trần Việt Đức
"Vậy giải pháp cần là kiểm soát lạm phát ở mức nào?", ông Kiêm đặt câu hỏi. Theo ông, nếu năm tới có 9% vẫn còn rất cao so với thế giới. Vấn đề nữa là phải cứu sản xuất, làm sao để sự phá sản doanh nghiệp nằm ở ngưỡng có thể chấp nhận được. Nếu càng nhiều, lao động giảm theo, doanh nghiệp phá sản khiến người lao động thất nghiệp tăng lên gây ra tai họa cho cả xã hội.
Ông Kiêm cho rằng vấn đề vẫn phải chống lạm phát, lộ trình kéo xuống 4-5% ngang với măt bằng thế giới sẽ phải diễn ra như thế nào. Việc điều chỉnh chính sách và quan điểm chỉ đạo phải được đặt ra, chọn lại trọng tâm, vai trò chính là chính sách tài khóa, sắp xếp lại chi tiêu, dự án, tiết giảm tối đa chi phí sản xuất, hành chính, tiền qua kênh ngân sách cần đưa vào hoạt động thật sự và hiệu quả.
Ngân hàng là yếu tố tích cực. Bên cạnh đó, cần khôi phục thị trường chứng khoán, làm sống lại thị trường hàng hóa và sức mua. Điều này dựa vào cách thức chúng ta điều hành đồng tiền. Cần cứu sản xuất để giảm phá sản, tạo thêm thời cơ cho doanh nghiệp trụ lại và vượt qua để tìm ra nhân tố phát triển. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đang ở thời điểm khó khăn nhất, doanh nghiệp vượt qua thì nền kinh tế vượt qua.
Ông Kiêm cho rằng để làm được những việc này thì:
- Doanh nghiệp cần xác định lại công nghệ, nguồn nhân lực và xác định thị trường, ý thức cộng đồng trong doanh nghiệp và ngành hàng. Đây là bài học cổ điển nhưng đúng ở mọi thời điểm và có tác dụng rất mạnh đối với sự tồn tại của doanh nghiệp.
- Các cơ quan quản lý cần xem việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình là dịch vụ để chia sẻ, gánh vác và hợp tác với doanh nghiệp để cùng chạy, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có môi trường hoạt động thuận lợi.
- Một lần nữa, ông Kiêm nhấn mạnh yêu cầu kiên trì chống lạm phát, đảm bảo mục tiêu 8-9%, nếu xuống quá thấp hay quá cao đều tạo ra nguy hiểm. Cùng với đó, phí, thuế và lãi suất phải phải có giải pháp chính sách phù hợp. Liên quan đến việc này, cần giảm và miễn thuế để tạo khoảng không cho doanh nghiệp chống đỡ với khó khăn; giảm phí đầu vào cho doanh nghiệp chứ không cộng thêm vào; giảm chi phí cũng là cách để tăng sức mua.
- Cần phân bổ lại vốn, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, giải quyết các nút thắt của nền kinh tế trong dài hạn là hạ tầng, nhân lực và thị trường để vượt qua khó khăn mới phát triển bền vững.
Các chuyên gia, diễn giả trả lời các câu hỏi từ các doanh nghiệp tham gia diễn đàn. Ảnh: Trần Việt Đức
TS Trần Vinh Dự: M&A sẽ tích cực, doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ để tận dụng cơ hội
Đề cập về kinh nghiệm huy động nguồn đầu tư trong doanh nghiệp, TS.Trần Vinh Dự, tổng giám đốc TNK Investment dẫn số liệu của Stop Plux năm 2011, năm thị trường tài chính u ám nhưng hoạt động M&A doanh nghiệp tăng lên, chứng tỏ dòng vốn đang có sự khả quan nhất định.
Ông Dự nói: "Thị trường chứng khoán Việt Nam phục hồi từ đầu năm đến nay cho thấy tín hiệu khởi sắc. Nhiều doanh nghiệp đang được định giá thấp so với các chỉ số giá theo mặt bằng chung của khu vực cũng tạo ra sức hút nhất định. Các quỹ đầu tư vài năm gần đây đang chịu áp lực lớn về câu chuyện thoái vốn và năm 2012 sẽ có những đà cản cho sự tăng lên của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên các quỹ mới từ châu Âu đang tham gia vào Việt Nam cùng với các nhà đầu tư năng động khác đến từ Nhật và Hàn Quốc là tín hiệu đáng mừng. Theo tôi, xu hướng M&A sẽ diễn biến tích cực trên thị trường thời gian tới".
Vấn đề theo ông Dự, là doanh nghiệp cần quy trình huy động vốn ra sao, kế hoạch sử dụng đồng vốn ra sao, công ty sẽ thay đổi như thế nào. Trong tất cả các bước của lộ trình này thì vai trò của các cố vấn về luật và tài chính là hết sức quan trọng và không thể thiếu. Nhà đầu tư thường cảm nhận rủi ro rất khác so với cách nhìn của doanh nghiệp. Họ nhìn vào rủi ro và cơ hội ở thời điểm hiện tại chứ không phải trước đó. Họ còn cần đủ lòng tin vào doanh nghiệp.
Ông Dự cho rằng, doanh nghiệp khi tìm đến thị trường tài chính, nơi luôn có nhiều rào cản, nhưng lại thường nóng vội. Vì thế cần biết rằng dòng tiền sẽ luôn chảy về doanh nghiệp nào sử dụng nó hiệu quả nhất. Việc huy động này là một quá trình lâu dài. Sự chuẩn bị thật kỹ mới giúp giảm được thời gian huy động và giảm đi các thương vụ thất bại.
TS Alan Phan: Điểm yếu của doanh nghiệp tư nhân là "lười biếng" trong tìm kiếm vốn
TS.Alan Phan, chủ tịch quỹ đầu tư Viasa. 
TS Alan Phan, chủ tịch quỹ đầu tư Viasa, cho rằng điểm yếu của doanh nghiệp tư nhân là "lười biếng" trong tìm kiếm vốn, thường trông chờ vào "sổ đỏ" thế chấp khi vay vốn, mà không năng động, và không biết mình đang thật sự cần điều gì. Người đi vay thường biết rất ít về nhà đầu tư trong khi tiền vay là đòn bẩy. Theo ông, doanh nghiệp cần biết rõ nhu cầu của nhà đầu tư, tiêu chí mà họ muốn cho vay, ngành nghề họ ưa thích và phương thức hoàn trả, thoái vốn như vì thế nào. Doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang còn tư duy theo cách: đi kiếm miếng đất, xây nhà xưởng, rồi kế hoạch 10 năm tới, khi cần vốn thì dựa vào nhà xưởng, thiết bị… là những thứ có giá trị không cao trong giá trị doanh nghiệp hay giá trị thị trường.
Ông Lý Xuân Hải: Ngân hàng khó hợp tác với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng Á Châu. Ảnh: Trần Việt Đức
Từ kinh nghiệm của một người làm ngân hàng, ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng Á Châu (ACB), thừa nhận rằng việc đầu tư và cho vay không hiệu quả, tăng trưởng của doanh nghiệp thời gian qua đang dựa vào vốn của hệ thống ngân hàng thương mại, dựa vào tài nguyên… Thị trường khó khăn đang dồn các gánh nặng lên doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp tư nhân đang chiếm 95% số lượng doanh nghiệp, tăng trưởng liện tục hàng năm 30% và tạo ra sự tăng trưởng của nền kinh tế, và tạo ra động lực cho ngân hàng thương mại. Dù các ngân hàng thương mại xem đây là đối tượng khách hàng quan trọng nhưng có được sự hợp tác không dễ. Theo một khảo sát của ACB, 30-35% doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng, 30% cho rằng khó tiếp cận, 30% không hề tiếp cận được.
Theo ông Hải, vấn đề chính với các doanh nghiệp là lãi suất cao, không có khả năng tiếp cận, thủ tục khó khăn rườm rà tạo ra tâm lý e ngại. Ông Hải phân tích nguyên ngân của tình trạng này. Về phía ngân hàng, thì nhân viên không đủ kỹ năng, cách hành xử máy móc, đưa ra tiêu chuẩn như là tiêu chuẩn doanh nghiệp lớn, tư duy máy móc rằng doanh nghiệp lớn tốt hơn. Chào mời tín dụng mà không đưa ra giải pháp. Sản phẩm của ngân hàng không phù hợp mà "may một cái áo" cho tất cả các loại hình doanh nghiệp cùng mặc.
Về phía doanh nghiệp, ông Hải cho rằng doanh nghiệp thiếu sự minh bạch về thông tin tài chính, không thẳng thắn khi vay và thường tô hồng bức tranh của mình mà không cung cấp thông tin trung thực. Doanh nghiệp cũng không có định hướng chiến lược kinh doanh rõ ràng, cách quản lý tùy tiện mang tính gia đình, kinh doanh theo ngẫu hứng và cơ hội. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có điểm mạnh và uyển chuyển theo thị trường, thay đổi nhanh nhưng đó cũng chính là điểm yếu trong phát triển: tùy tiện trong đầu tư hay sử dụng đồng tiền. Trong khi, mỗi doanh nghiệp đều cần một ngành nghề kinh doanh cốt lõi.
Về cơ chế nhà nước, theo ông Hải, dù chúng ta cam kết không có sự phân biệt giữa các khối doanh nghiệp nhưng thực tế là có. Thiếu cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia để ngân hàng dễ dàng tiếp cận với khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp ngân hàng lượng hóa được năng lực và rủi ro trong doanh nghiệp. "Bản thân ngân hàng và doanh nghiệp tự tìm ra giải pháp chứ không thể chờ. Chữ tín là vấn để lớn trong cam kết tài chính", ông Hải nhấn mạnh.
Doanh nghiệp nên làm gì trong tình hình hiện nay?
Doanh nghiệp phải học làm quen với các cú sốc về thị trường, sốc chính sách, sốc với các biến động 
Trong phiên tọa đàm với các doanh nghiệp, TS Võ Trí Thành chia sẻ rằng nhiều biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp đang được đặt ra nhưng chắc chắn không có gói kích cầu như năm 2009 vì đây là giai đoạn cần cách thức chơi mới, phát triển mới. Thời điểm này thế giới còn đầy rủi ro thì doanh nghiệp phải học làm quen với các cú sốc về thị trường, sốc chính sách, sốc với các biến động. Cần tăng cường các công cụ phòng chống rủi ro nhưng không phải là để tạo thêm lợi nhuận mà là để giảm tính bất định, tăng tính xác định. Doanh nghiệp phải học không phải 6 hay 18 tháng mà phải theo một nguyên tắc là biết sống với nợ nần và luôn chứng minh về khả năng trả nợ.
Trong tình hình đó, TS Cao Sỹ Kiêm cho rằng, doanh nghiệp không được chờ đợi hay xem xét mà phải tranh thủ vượt lên. Ví dụ vốn đang khó nhưng vốn đâu chỉ bằng tiền, mà còn là tiềm năng, là con người, là môi trường, năng lực công nghệ hay cả sự vớt vát thất bại cũng có thể xem là yếu tố tích cực. Trong lúc này, nếu vượt qua được thì từng doanh nghiệp sẽ tự rút ra cho mình kinh nghiệm để vươn lên.
Chia sẻ với đề nghị của một doanh nghiệp: làm sao để giảm lãi suất để dòng tiền đi vào sản xuất, thậm chí phải chấp nhận lãi suất không thực dương, ông Kiêm cho rằng lãi suất dương thì dòng tiền mới đi vào thực chất, theo nguyên tắc thị trường phải có lãi suất dương thì doanh nghiệp và người dân mới chấp nhận. Năm 2009 chúng ta bù lãi suất, theo ông, đó là bài học. Về lãi suất, ông đưa ra ba giải pháp. Theo đó, nếu cần, khống chế trần cho vay sẽ hợp lý hơn; về lâu dài thì cần bỏ trần lãi suất, tự do hóa lãi suất.

Bà Virginia Foote
Với kinh nghiệm tư vấn cho các công ty Mỹ làm ăn với đối tác nước ngoài, bà Virginia Foote, chủ tịch công ty Bay Global Strategies, Chủ tịch hội đồng thương mại Việt – Mỹ, cho rằng chi phí không phải là vấn đề tiên quyết giải quyết các yếu tố liên quan đến các vấn đề thương mại. Các công ty Mỹ nghĩ đến cách cùng làm ăn như thế nào chứ không phải chỉ mua cái doanh nghiệp Việt Nam đang bán. Họ mong muốn nhận được sự yên tâm về tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh, các vấn đề về quản trị doanh nghiệp, họ muốn biết cả thói quen xấu gì bạn đã tạo ra cho chính mình. Các chính sách kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh tổng thể nhưng các vấn đề vi mô thì chính doanh nghiệp phải tự thân giải quyết. Doanh nghiệp không thể đổ lỗi mà chịu trách nhiệm với nó. Giai đoạn kinh tế đi xuống như thế này là cơ hội bỏ qua các thói quen xấu, tạo cơ hội kinh doanh và tìm kiếm các mối quan hệ mới.
TS Thành nói “khi thị trường hứng khởi mình phải biết sợ hãi”. Tổng cung tiền/GDP vẫn là 100%. Những thương vụ lớn nhất là bất động sản vẫn là doanh nghiệp Việt. Nhưng vòng quay đồng tiền quá thấp, hiện nay chỉ 0,8 lần trong khi trước đây là 2,5 lần. Nợ xấu có nguyên nhân lớn nhất là cho vay theo chỉ định, đối với nhà nước chỉ định này liên quan đến doanh nghiệp nhà nước nước. Ngoài ra, còn có vấn đề sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp tư nhân và ngân hàng.
Ông Nguyễn Quang Bình, giám đốc công ty CPI đề cập về việc lãi suất ngân hàng đang xuống 12-13% nhưng về thực chất vẫn là "lãi suất ngầm" và đặt câu hỏi thực tế này do dâu. Câu trả lời của ông Thành là, lãi suất phản ánh độ khan hiếm của vốn. Về lý thuyết hệ thống tài chính (lãi suất) bị kìm nén sẽ không phản ánh đúng, làm méo mó thị trường vốn, nguồn lực phân bổ không hiệu quả. Nền tài chính Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn, tự do lãi suất, chặn trần lãi suất… Ngân hàng dựa vào dòng tiền, các rủi ro, vậy cần có sự công bố minh bạch để gây sức ép cho ngân hàng về sự bất hợp lý.
Theo ông Huỳnh Bửu Quang, phó tổng giám đốc ngân hàng HSBC, chúng ta đang thiếu bài học quản lý rủi ro, thiếu sự được tư vấn về quản lý rủi ro. Tất cả những biện pháp hành chính nhằm tạo sự bình ổn thị trường tạm thời. Ngân hàng Nhà nước chắc chắn có những giải pháp căn cơ và phải mất khoảng thời gian, dù trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng doanh nghiệp đang muốn phải nhanh. Cơ chế thị trường thì lãi suất đầu vào giảm, đầu ra giảm nhưng phải đồng loạt. Tất cả các ngân hàng đều có cơ chế quản trị rủi ro nhưng quá trình phát triển nhanh của doanh nghiệp Việt Nam thời gian đang tạo ra những thách thức lớn. "Nền kinh tế còn non trẻ nên chắc chắc sau giai đoạn sàng lọc này sẽ có những chuyển đổi phù hợp", ông Quang kết luận.
Khơi thông thị trường cho doanh nghiệp
TS Nguyễn Thị Hồng Minh, nguyên thứ trưởng bộ Thủy sản. 
Bên cạnh những giải pháp về thị trường vốn đã đề cập, các giải pháp khai thông thị trường cho doanh nghiệp cũng được bàn luận thông qua kinh nghiệm xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường xuất khẩu, các rào cản thương mại và quản trị chuỗi cung ứng nhằm gia tăng năng lực xuất khẩu cho doanh nghiệp.
Theo TS Nguyễn Thị Hồng Minh, nguyên thứ trưởng bộ Thủy sản, bài học phát triển thị trường của ngành thủy sản cũng là bài học cho tất cả các ngành nông nghiệp Việt Nam. Từ kinh nghiệm của ngành thủy sản, bà Minh cho rằng khả năng thâm nhập thị trường của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi thương mại còn yếu. Cho đến nay không có doanh nghiệp nào có khả năng tiếp cận đến trực tiếp người dùng; một số vẫn đang tiếp cận thị trường thông qua thương hiệu của các doanh nghiệp khác. Sự phát triển đó chưa thật sự dựa được trên sức mạnh liên kết của cộng đồng với sự phối hợp và hỗ trợ của nhà nước "Doanh nghiệp hiện nay chỉ nghĩ đến vốn mà không nghĩ đến khâu tiếp cận thị trường lâu dài sẽ mãi mãi khó khăn và người nông dân vẫn nghèo", bà Minh nói.
Quản trị chuỗi cung ứng làm sao hiệu quả?
Ông Thiều Phương Nam, phó tổng giám đốc IBM Vietnam cho rằng thách thức của doanh nghiệp Việt Nam là phải đối mặt với việc quản trị chuỗi cung ứng trước thực tế các nhà cung cấp ngày càng đa dạng đa kênh, biến đổi về chi phí vận tải và các biến động kinh tế nói chung. Các mô hình tiếp thị truyền thống không còn phù hợp, vấn đề đặt ra là làm sao để tận dụng hiệu quả công cụ công nghệ để có thể tiếp cận mọi người mọi lúc. Người mua hàng ngày nay tiếp cận rất nhiều kênh thông tin công nghệ. Điều này đang làm thay đổi từ cách thức tìm vốn, sản xuất và phân phối các sản phẩm, làm cho công việc kinh doanh vốn phức tạp trở nên đơn giản hơn.
Để xây dựng thành công chuỗi cung ứng, cần tập trung vào các năng lực chủ đạo với công cụ phân tích thông tin khách hàng, sản phẩm và dịch vụ phù hợp. Cần biết chính xác chất lượng, số lượng và địa điểm của hàng hóa trong tất cả các khâu. Tạo ra chuỗi cung ứng linh hoạt để tối ưu hóa hàng tồn kho trên tất cả các kênh. Cần giải quyết được lượng thông tin lớn. Việc kết nối với khách hàng trở nên chặt chẽ để nâng cao hiệu quả và giảm chi phí.

Tuyết Ân – Mỹ Lệ (ghi)

Ba giải pháp cho thị trường bất động sản


Thị trường BĐS là một trong những thị trường quan trọng của nền kinh tế, liên quan trực tiếp đối với một lượng tài sản lớn và trực tiếp tác động đến nền kinh tế quốc dân.

Thị trường BĐS là một trong những thị trường quan trọng của nền kinh tế, liên quan trực tiếp đối với một lượng tài sản lớn và trực tiếp tác động đến nền kinh tế quốc dân.

Ông Nguyễn Trần Nam, Thứ trưởng Bộ Xây dựng đã đưa ra 3 giải pháp cho thị trường trong giai đoạn hiện nay:

- Trước hết, đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản - cần điều chỉnh cơ cấu kinh doanh, hướng mạnh vào phân khúc thị trường có khả năng thanh toán (đó là nhà ở với diện tích vừa phải với giá từ 500 triệu đến trên dưới 1 tỷ đồng). Tăng cường liên doanh liên kết để đầu tư dứt điểm từng phần của dự án để sớm thu hồi vốn. Đẩy mạnh áp dụng công nghệ, vật liệu mới để giảm chi phí đầu tư…;

- Đối với ngân hàng, cần bắt tay và cùng phối hợp với các doanh nghiệp bất động sản, xem xét cụ thể đối với các dự án đầu tư phát triển bất động sản thiết yếu cho dân sinh và phát triển kinh tế. Chỉ nên hạn chế cho những người vay để mua đi bán lại BĐS kiếm lời làm méo mó thị trường, còn những người có nhu cầu thực sự vẫn cần cho vay để cải thiện nhà ở;

- Hiệp hội BĐS kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước, nghiên cứu đề xuất hành lang pháp lý tạo điều kiện cho sự hình thành các định chế tài chính, tín dụng phi ngân hàng như: Quỹ đầu tư bất động sản, Tổ chức tái cho vay thế chấp nhà ở, Trái phiếu dự án, Quỹ tiết kiệm nhà ở, Hệ thống tiêu chí thẩm định các khoản cho vay nhà ở…và cải tiến, dỡ bỏ những rào cản đang hạn chế hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản và ngân hàng thương mại, mở rộng hướng thu hút nguồn vốn...

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam


Theo ông Nam, bất động sản là tài sản lớn của mỗi quốc gia, tỷ trọng BĐS trong tổng của cải xã hội ở các nước tuy mức độ có khác nhau nhưng thường chiếm trên dưới 40% lượng của cải vật chất của mỗi nước. Các hoạt động liên quan đến BĐS chiếm tới 30% tổng hoạt động của nền kinh tế. Thị trường bất động sản nước ta tuy còn non trẻ, còn nhiều hạn chế nhưng trong thời gian vừa qua đã có bước phát triển tích cực, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước.

Theo thống kê của Tổng cục thuế các khoản thu ngân sách có liên quan đến nhà, đất hàng năm thu bình quân khoảng 20.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 7% GDP. ở Những nước phát triển như Mỹ Nhật, Hàn Quốc.. tổng thu ngân sách từ thị trường bất động sản chiếm tới 20% GDP. Có thể nói sự phát triển của thị trường BĐS có tác động lan toả tới sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy nhiều nước trên thế giới coi lĩnh vực bất động sản là một trong những “đầu kéo” của nền kinh tế. Ngược lại, những biến động trên thị trường bất động sản ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Sự biến động của thị trường bất động sản Hoa kỳ và các nước gần đây, ảnh hưởng tới thị trường tiền tệ, tác động lan toả đến toàn bộ nền kinh tế thế giới, và hậu quả tác động này đến nước ta là một ví dụ.

Tị trường BĐS cũng là một thị trường có quan hệ mật thiết với nhiều thị trường như thị trường vật liệu xây dựng, thị trường lao động và đặc biệt là với thị trường tiền tệ. Theo phân tích đánh giá của các chuyên gia kinh tế, ở các nước phát triển, nếu đầu tư vào lĩnh vực BĐS tăng lên 1 USD sẽ thúc đẩy các ngành có liên quan phát triển từ 1,5 – 2 USD.

Với thị trường tiền tệ - tín dụng, thị trường bất động sản là đầu ra lớn nhất, vì vậy những biến động của thị trường bất động sản tác động trực tiếp ngay với thị trường tiền tệ - tín dụng và ngược lại, đối với thị trường bất động sản, thị trường tiền tệ - tín dụng là nguồn cung vốn chủ yếu cho hoạt động đầu tư tạo lập bất động sản, cho nên những biến động của thị trường tiền tệ - tín dụng, lập tức tác động mạnh tới thị trường bất động sản.

Lạm phát đã và đang tác động tới thị trường bất động sản dưới những tác động chủ yếu sau: Lượng cầu giảm do thu nhập thực tế của người tiêu dùng giảm; lãi suất huy động tiết kiệm cao kéo theo lãi suất cho vay hiện tại quá cao, công với hạn chế cho vay bất động sản đã khiến cho nguồn vốn cung cho thị trường và doanh nghiệp BĐS gần như bế tắc, giao dịch bất động sản rơi vào tình trạng trầm lắng… Bên cạnh đó, giá đầu vào của các vật liệu cơ bản như xi măng, sát thép, gạch ngói.. tăng cao từ 20%-30% so với cùng kỳ làm tăng chi phí đầu tư. Nhiều dự án đã bị kéo dài tiến độ hoặc bị đình hoãn, nhiều đơn vị thi công cũng tạm dừng thi công công trình do giá vật liệu tăng quá cao so với lúc nhận thầu. Nhiều chủ đầu tư phải thương lượng lại với khách hàng về giá bán và chi phí xây dựng phát sinh trục trặc, khiếu kiện… Không chỉ nhà đầu tư BĐS khó triển khai dự án mà ngay cả người có nhu cầu mua cũng khó thực hiện được mong muốn. Như vậy, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản không chỉ bị sức ép từ cả hai phía vốn đầu vào và tiêu thụ hàng hóa đầu ra mà còn chịu thêm áp lực về thời hạn giải chấp các khoản vay đến hạn.

Về phía ngân hàng và các tổ chức tín dụng, dưới góc độ liên quan với thị trường bất động sản, Lạm phát cũng tác động không nhỏ: Đối mặt với rủi ro trong việc xử lý tài sản thế chấp với loại tài sản là bất động sản hình thành trong tương lai (hiện chưa hình thành trong thực tế và cũng chưa đủ hành lang pháp lý), nhất là của các nhà đầu tư ngắn hạn.

Đầu vào thiếu nguồn vốn phù hợp để cho vay bất động sản với đặc thù là lượng vốn lớn và dài hạn trong khi nguồn vốn ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn. Thiếu hành lang pháp lý để hình thành các định chế tài chính nhằm huy động vốn phù hợp với việc cho vay đầu tư bất động sản như quỹ tín thác bất động sản, trái phiếu dự án…

"Hiệp hội Bất động sản Việt Nam là một Tổ chức Xã hội – Nghề nghiệp, một mái nhà chung tập hợp và nối vòng tay lớn giữa Doanh nghiệp BĐS (và các ngành liên quan), các nhà quản lý, các nhà khoa học và người tiêu dùng. Đây là lúc chúng ta cùng nhau hợp tác, chung sức vượt khó, nắm bắt và biến thách thức thành cơ hội đầu tư, tiếp tục phát triển Thị trường BĐS Việt Nam ổn định để phát triển bền vững, góp phần bình ổn kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam nhận định.

T.N (Tổng hợp
)

Thất bại không phải là mẹ thành công

Một nghiên cứu cho thấy khả năng xử lý thông tin của tế bào thần kinh hầu như không được cải thiện sau khi động vật mắc sai lầm.
Nhiều người cho rằng, câu ngạn ngữ "Thất bại là mẹ thành công" chỉ đúng khi chúng ta phân tích những nguyên nhân dẫn đến thất bại một cách khách quan, sáng suốt để rút ra bài học kinh nghiệm. Trên phương diện khoa học, các nhà khoa học Mỹ vừa chứng minh rằng, chỉ có một số loại thất bại có thể dẫn chúng ta tới thành công.
Các chuyên gia của Viện công nghệ Massachusetts theo dõi hoạt động của tế bào thần kinh trong thùy trước trán và hạch đáy trong não khỉ. Đây là hai vùng được cho là tham gia vào quá trình học tập của não. Nhóm nghiên cứu muốn biết hoạt động của tế bào thần kinh thay đổi thế nào sau khi những con vật học hỏi một kỹ năng nào đó.
Họ cho khỉ xem những bức ảnh có trái cây bên phải hoặc trái. Cứ sau khi nhìn thấy một bức ảnh, các chuyên gia hướng dẫn khỉ quay đầu sang bên tương ứng với vị trí của trái cây trong ảnh. Nếu trái cây nằm bên phải ảnh và khỉ quay đầu sang bên phải, chúng sẽ được thưởng.
Nhóm nghiên cứu nhận thấy mức độ chính xác trong phán đoán của khỉ tăng lên rõ rệt theo thời gian. Nhưng điều khiến họ ngạc nhiên hơn là các tế bào thần kinh xử lý thông tin tốt hơn và phối hợp với nhau nhịp nhàng hơn sau khi những con khỉ phán đoán đúng. Thực tế đó cho thấy tế bào thần kinh có thể phân biệt được hai tình huống mà khỉ đối mặt.
"Khi một con khỉ không chọn đúng phía của trái cây, mức độ phối hợp giữa các tế bào thần kinh không thay đổi. Nhưng cứ mỗi khi thành công, khả năng đoán đúng của chúng lại tăng lên trong lần tiếp theo", Earl K. Miller, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, cho biết.
Nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng, vô số hoạt động cực kỳ ngắn ngủi (diễn ra trong vài phần của giây) xảy ra trong não động vật khi chúng học hỏi kỹ năng mới. Nhưng các nhà khoa học chưa hiểu vai trò của những hoạt động thần kinh ngắn ngủi đó đối với hành vi động vật.
Nghiên cứu của Viện công nghệ Massachusetts cho thấy những tín hiệu thần kinh liên quan tới quá trình học tập có thể kéo dài vài giây. Khoảng thời gian đó đủ dài để tế bào thần kinh nhận được sự phản hồi từ môi trường bên ngoài và rút kinh nghiệm ở lần tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu của Miller và cộng sự giúp người ta giải thích tại sao đôi khi con người hay lặp lại sai lầm. Tuy nhiên, nó mâu thuẫn với nhiều nghiên cứu trước đây, theo đó con người học hỏi nhiều tri thức hơn từ thất bại, chứ không phải thành công.
“Có rất nhiều loại sai lầm. Khi bạn nói rằng bạn học hỏi từ thất bại, bạn cần phải hiểu đó là loại thất bại nào. Một số sai lầm giúp chúng ta trở nên chín chắn hơn, song nhiều thất bại cứ tái diễn nhiều lần dù bất chấp nỗ lực của chúng ta. Chúng tôi nghĩ rằng bản chất của thất bại quyết định việc bạn có thể đạt được thành công từ sai lầm hay không. Như thế, chỉ có một số loại thất bại có thể đưa chúng ta tới thành công”, Miller kết luận.
Theo Vnexpress

7 công việc cực “romantic”




Đối với một số người, sự lãng mạn là một bữa tối dưới ánh nến lung linh, là đoá hồng đỏ thắm, là những bộ quần áo gợi cảm hay những bài thơ tình đặc sắc… và với họ nếu được sống và làm những công việc cũng “romantic” thì không còn gì bằng.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu 7 công việc cho phép bạn được hưởng thụ một cuộc sống tràn ngập sự lãng mạn:
1. Sản xuất sôcôla
“Không những bản thân sôcôla đã rất gợi cảm, mà ngay cả quá trình sản xuất ra chúng cũng đem lại rất nhiều cảm xúc”, Tish Boil, tổng biên tập tạp chí Sôcôla, một tạp chí dành cho những nhà sản suất, bán và yêu thích món đồ ngọt lãng mạn này.
Ông cũng cho biết thêm: “Cơ thể bạn sẽ chuyển động nhịp nhàng uyển chuyển khi khuấy và đun nóng sôcôla”. Theo như Hiệp hội bán lẻ quốc gia, 47,1% khách hàng sẽ mua sản phẩm này trong mùa lễ Valentine sắp tới. Tặng Sôcôla được biết đến là một hành động thể hiện tình yêu và rất lãng mạn. Trên tất cả, khi nó tan chảy trong miệng làm lay động mọi giác quan theo một cách rất mềm mại và gợi cảm.
2. Tiểu thuyết gia chuyên viết truyện lãng mạn
Chẳng có gì lãng mạn hơn việc dành cả ngày để viết lên những câu chuyện tình yêu. Những nhà văn sẽ tạo ra những nhân vật với những cảm xúc mãnh liệt. “Đối với tôi, đây là phần quan trọng nhất trong công việc. Tôi đã yêu, yêu và yêu rất nhiều cùng với các nhân vật của mình”, Debra Salonen, tiểu thuyết gia.
Nghề này không chỉ rất lãng mạn mà còn tiểm ẩn nhiều lợi nhuận. Theo như hiệp hội các nhà văn quốc gia, các tiểu thuyết tình cảm tiêu thụ hơn 1,2 tỷ đô la năm 2004, chiếm 54,9 % các tiểu thuyết được bán ra.
3. Nhân viên bán đồ lót
Đối với một số đôi lứa, không gì lãng mạn hơn là những bộ đồ ngủ mềm mại và gợi cảm. Và những nhân viên bán hàng đóng vai trò quan trọng giúp cho các cặp đôi tìm được những bộ đồ ưng ý. Công việc này đòi hỏi bạn phải rất tinh tế nhưng nó cũng đem lại cho bạn nhiều niềm vui và cảm xúc.
Đây cũng là món quà được săn tìm nhiều nhất trong ngày lễ tình yêu của những người đang yêu và sẽ yêu. Theo như thống kê hàng năm, món đồ này mang lại 1,4 tỷ đô la trong lĩnh vực bán lẻ.
4. Chuyên gia tình cảm
L.A Hunter, chuyên gia tình cảm và tác giả cuốn Romeo's Playbook, sổ tay tình cảm dành cho các chàng trai, đưa gia các lời khuyên và một vài bí quyết nhằm đốt cháy tình yêu và thắt chặt thêm mối quan hệ. Nói theo cách khác, công việc của cô là dành cả ngày chỉ để nhóm lên ngọn lửa tình của những đôi tình nhân.
Hunters cho biết: “Tôi yêu thích sự lãng mạn, cái cảm giác yêu và được yêu thật là tuyệt vời và tôi muốn đem cảm giác này đến cho tất cả mọi người”.
5. Người bán hoa
Sự lãng mạn nở rộ trong những cửa hàng bán hoa. Từ những buổi tối của những đôi tình nhân đến những đám cưới hoa luôn là biểu tượng của sự lãng mạn, hạnh phúc. Theo ước tính, 2005 có khoảng 180 triệu bông hoa hồng được bán ra trong ngày lễ tình yêu 2005 và theo như hiệp hội bán lẻ quốc gia cho biết 52,3% đàn ông mua hoa trong ngày lễ tình yêu 2006.
Vì vậy, nếu bạn muốn thể hiện tình yêu của mình với một ai đó, còn chần chừ gì nữa mà không tặng ngay cho người ấy một bó hoa hồng thật to.
6. Người lên kế hoạch đám cưới
Nếu bạn muốn công việc của mình luôn ngập tràn trong sự lãng mạn thì đây quả là một công việc tuyệt vời. Theo như Ali Phillips, điều phối hôn lễ và chủ tịch công ty Engaging events ở Chicago, cho biết được ở quanh các đôi lứa chuẩn bị kết hôn và giúp đỡ họ rất lãng mạn.
Công việc này bao gồm rất nhiều khâu từ lên các cuộc họp giữa hai bên, với chủ khách sạn đến việc trang trí đám cưới và giải quyết tranh chấp giữa cô dâu và mẹ, và những việc này không lấy gì làm lãng mạn.
Nhưng trong buổi hôn lễ thực sự có những giây phút rất khó quên. Chẳng gì lãng mạn hơn được nhìn ngắm cô dâu bước gần lên bục hôn lễ trong chiếc áo cưới thướt tha, nghẹn thở chờ đến giây phút cô dâu và chú rể cùng thề nguyện.
7. Tu sĩ hành lễ
Nếu bạn thích thú với sự lãng mạn của những đám cưới, nhưng việc lên kế hoạch và tổ chức cho một đám cưới không thuộc khả năng của bạn, hãy xem xét trở thành một tu sĩ hành lễ. Universal Life Church Monastery là một tổ chức không giáo phái phong chức cho hơn 20 triệu tu sĩ và mở cửa cho tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo.
Công việc này sẽ đem lại cho bạn cảm giác sống trong những bản nhạc cưới lãng mạn và câu nói “tôi đồng ý bên anh ấy/cô ấy trọn đời”.
Theo DT

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Hewlett-Packard: Kế toán sai, mất toi 8,8 tỷ USD

Hewlett-Packard (HP) vừa dính vào một vụ bê bối kế toán lớn liên quan đến việc mua lại Autonomy, một công ty phần mềm Anh, sau khi công bố phải bỏ đi 8,8 tỷ USD trong vụ mua lại trị giá 11 tỷ USD hồi năm ngoái.
Hewlett-Packard: Kế toán sai, mất toi 8,8 tỷ USD
Hewlett-Packard: Kế toán sai, mất toi 8,8 tỷ USD
HP hôm 20/11 cho biết đó là “những lỗi kế toán nghiêm trọng”  và “trình bày sai hoàn toàn” tại Autonomy, trong đó công ty ở Anh phải chịu trách nhiệm với 5 tỷ USD. CEO Meg Whitman cho biết thông tin được một thành viên nhóm quản lý của Autonomy cung cấp sau khi Mike Lynch, sáng lập viên và cựu CEO của Autonomy, bị sa thải.

Ông Lynch đã rời HP sau khi kết quả kinh doanh của Autonomy khác biệt quá xa so với dự báo. Theo HP, Autonomy đã cố tình tạo ra các lỗi kế toán để che dấu chi phí thực tế. Chẳng hạn, trong một số trường hợp, Autonomy bán phần cứng với giá thua lỗ 10%, nhưng lại ghi vào sổ kế toán là doanh số phần mềm.



HP sính vính vì lỗi kế toán


Bằng cách đó, họ đã hô biến các khoản thua lỗ. Điều kỳ lạ là các công ty kiểm toán được thuê để thẩm định gồm Deloitte và KPMG lại không đưa ra cảnh báo nào. Tuy nhiên, không rõ HP có khởi kiện 2 công ty kế toán hay không. Vụ bê bối cũng liên quan đến nhiều nhà tư vấn danh tiếng như Frank Quattrone, nhà môi giới công nghệ nổi tiếng nhất, cùng với các ngân hàng như Goldman Sachs, UBS, Citibank, JPMorgan và Bank of America.


Bà Whitman dự kiến việc kiện tụng để lấy lại tiền cho cổ đông sẽ phải kéo dài nhiều năm, ở cả 2 nước Anh và Hoa Kỳ. Trong khi đó, ông Lynch cho rằng HP tung vụ này ra chỉ nhằm khiến người ta không chú ý tới kết quả kinh doanh “tồi tệ nhất trong lịch sử 70 năm”. Theo ông, HP đã nhờ hàng trăm chuyên gia thẩm định vụ mua lại, sau đó điều hành nó cả 1 năm trời, không lý gì lại không thể phát hiện một sai lầm lớn như vậy sớm hơn.


HP đã báo cáo phát hiện kế toán sai lên Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) và Cơ quan Điều tra Gian lận Nghiêm trọng (SFO) của Anh, đồng thời cho biết sẽ có hành động pháp lý để thu hồi tiền lại cho cổ đông. Vụ sai lầm kế toán khiến người ta nhớ lại vụ bê bối báo cáo tài chính xảy ra cách đây 1 thập niên tại WorldCom và Enron, với giá trị hàng tỷ USD. HP mua lại Autonomy vào mùa hè năm 2011 trong một nỗ lực tăng cường sự hiện diện trong thị trường phần mềm và bắt kịp các đối thủ như IBM.


Thương vụ là “đứa con tinh thần” của Léo Apotheker, CEO HP lúc đó, và bị những người trong ngành chỉ trích là một sai lầm cực kỳ tốn kém. Ngoài Apotheker, còn có Giám đốc Chiến lược Shane Robison. Cả 2 ông này hiện đều đã từ chức. Lúc đó, bà Witman cũng là thành viên hội đồng quản trị và đã bỏ phiếu thông qua thương vụ.


Với khoản mất mát này, toàn bộ lợi nhuận của hãng coi như bị thổi bay. Trong quý gần nhất, HP báo cáo lỗ ròng 6,9 tỷ USD, so với lợi nhuận 200 triệu USD cùng kỳ năm ngoái. Trong quý trước, HP cũng thông báo mất một khoản phí 8 tỷ USD liên quan đến vụ mua lại Electronic Data Systems năm 2008, cũng như chi phí liên quan đến cắt giảm nhân viên. Bà Whitman hồi tháng 10 nhận định doanh thu và lợi nhuận của công ty sẽ thấp hơn đáng kể, và phải mất vài năm mới có chuyển biến.


Từ khi đảm đương chức CEO vào năm ngoái, bà Meg Whitman bắt đầu xem xét lại các dòng sản phẩm và chiến lược tiếp thị toàn cầu. Kế hoạch 5 năm của bà nhằm cấu trúc lại công ty theo hướng thâm nhập nhiều hơn vào lĩnh vực phần mềm và dịch vụ, giảm bớt sự phụ thuộc vào việc bán máy PC và các thiết bị phần cứng như từ trước đến nay. Tuy nhiên, những nỗ lực của bà vẫn chưa phát huy hiệu quả. Cổ phiếu của HP ngay lập tức lao dốc gần 11%, xuống còn chưa tới 12USD, mức thấp nhất trong vòng 10 năm.

Theo Sài Gòn Đầu tư

Kết quả kiểm toán ngân hàng Tây Ban Nha: Mở đường cho cứu trợ tài chính

Theo báo cáo kiểm toán của Công ty Kiểm toán và tư vấn Oliver Wyman công bố ngày 28/9, các ngân hàng Tây Ban Nha sẽ cần tổng cộng 59,3 tỷ euro (tương đương 76,3 tỷ USD) để tồn tại trong bối cảnh suy thoái kinh tế nghiêm trọng của nước này.
Kết quả kiểm toán ngân hàng Tây Ban Nha: Mở đường cho cứu trợ tài chính
Kết quả kiểm toán ngân hàng Tây Ban Nha: Mở đường cho cứu trợ tài chính
Bản báo cáo được xem là bước quan trọng nhằm dỡ bỏ những rào cản đối với gói cứu trợ tài chính của Liên minh châu Âu (EU) dành cho Tây Ban Nha. Chính phủ Tây Ban Nha cho biết trong tổng số 59,3 tỷ euro trên, khoảng 40 tỷ sẽ từ EU, số còn lại do các ngân hàng tự huy động.

Cả dự toán ngân sách thắt chặt được đưa ra bởi Chính phủ của Thủ tướng Mariano Rajoy ngày 27/9 và kết quả kiểm toán hệ thống ngân hàng Tây Ban Nha là những bước cần thiết để Chính phủ nước này kêu gọi viện trợ từ châu Âu và khởi động chương trình mua trái phiếu từ phía Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB). Tháng 6 vừa qua, Tây Ban Nha đã có thỏa thuận với EU về một hạn mức tín dụng mà qua đó có thể cung cấp tới 100 tỷ euro trong quỹ cứu trợ của EU cho hệ thống ngân hàng. Như vậy so với hạn mức tín dụng trên, số tiền được tính toán theo báo cáo kiểm toán là rất ít. Cũng trong tháng 6, một cuộc kiểm toán sơ lược được tiến hành bởi các kiểm toán viên độc lập cũng đã có ước tính hệ thống ngân hàng Tây Ban Nha cần 62 tỷ euro để vượt qua khủng hoảng. Đầu tháng 9, ECB thông báo kế hoạch mua trái phiếu của các nước đang gặp khó khăn nhằm giảm chi phí vay vốn cho các nước này. Khi đã có kế hoạch ngân sách và kết quả kiểm toán, Tây Ban Nha đã có thể chính thức đề nghị ECB mua trái phiếu của Chính phủ Tây Ban Nha như đã thông báo.

Thư ký Nhà nước Tây Ban Nha về kinh tế Fernando Jimenez Latorre cho biết: “Cuộc kiểm toán đã được tiến hành rất nghiêm ngặt, chặt chẽ và minh bạch; đã dập tắt mọi mối hoài nghi liên quan đến sức khỏe của hệ thống ngân hàng”. Còn theo bà Christine Lagarde - Giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): “Kết quả kiểm toán sẽ giúp xây dựng một hệ thống ngân hàng vững mạnh, kịp thời làm lưu thông dòng tín dụng, kích thích tăng trưởng và gia tăng việc làm cho nền kinh tế”. Kết quả của cuộc kiểm toán khá gần với những kỳ vọng của thị trường và đã nhận được sự ủng hộ của Ủy ban châu Âu, ECB và IMF.

Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Tây Ban Nha Fernando Restoy nói rằng, cuộc kiểm toán có sự tham gia của 400 kiểm toán viên, được triển khai ở 14 ngân hàng - chiếm 90% trong hệ thống ngân hàng ở Tây Ban Nha. Cuộc kiểm toán đã xác định phần lớn số vốn cần thiết dành cho 4 ngân hàng mà trước đó đều đã phải nhận cứu trợ từ Chính phủ Tây Ban Nha, gồm: Bankia, CatalunyaCaixa, NovaGalicia và Banco de Valencia. Trường hợp bi quan nhất là Bankia - một trong những ngân hàng lớn nhất châu Âu được Nhà nước tiếp quản từ tháng 5/2012 với số vốn thiếu hụt là 24,7 tỷ euro, chiếm hơn 1 nửa tổng số 49 tỷ euro cần thiết cho cả 4 ngân hàng trên. Được biết, vào tháng 5, ngân hàng này cho biết cần 19 tỷ euro - con số ít hơn nhiều so với những gì báo cáo kiểm toán chỉ ra. Theo kết quả kiểm toán, hơn 60% các ngân hàng trong hệ thống, bao gồm cả những ngân hàng có tầm ảnh hưởng như Santander, BBVA và Caixabank, không cần đến vốn cứu trợ. Ngân hàng Trung ương Tây Ban Nha cho biết, nếu xem xét các hiệu ứng của giảm thuế và tiết kiệm chi phí từ những cuộc sáp nhập sắp tới, tổng số vốn cần thiết cho hệ thống ngân hàng có thể giảm từ 59,3 tỷ xuống chỉ còn 53,7 tỷ euro.

Tuy nhiên, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s lại ước tính các ngân hàng Tây Ban Nha cần đến 105 tỷ euro mới có thể duy trì hoạt động bền vững trong kịch bản kinh tế bi quan - gần gấp đôi con số do Chính phủ Tây Ban Nha đưa ra.

Kết quả kiểm toán cũng là cơ sở giúp Chính phủ Tây Ban Nha thiết lập một công ty, tạm gọi là “bad bank”. Đây là 1 điều kiện để các ngân hàng Tây Ban Nha có thể nhận cứu trợ của châu Âu. Công ty “bad bank” này sẽ mua lại các khoản nợ xấu của các ngân hàng bao gồm một số lớn các món nợ trong lĩnh vực bất động sản, giúp các ngân hàng đang gặp khó khăn có thể vượt qua khủng hoảng và tiếp tục hoạt động. Theo Bộ trưởng Kinh tế Luis de Guindos, “bad bank” sẽ tồn tại trong vòng 10-15 năm, sẽ mua lại các khoản nợ xấu nhưng với điều kiện các khoản nợ này phải có khả năng đem lại cho “bad bank” lợi nhuận trong dài hạn. Ngày 3/10, ông de Guindos tuyên bố “bad bank” sẽ có 55% cổ phần thuộc về các nhà đầu tư là các công ty trong khu vực tư nhân. Tuy nhiên, ngày 5/10, lãnh đạo một ngân hàng lớn ở Tây  Ban Nha nhận xét trong ngắn hạn, việc các nhà đầu tư khu vực tư nhân tham gia “bad bank” là không thực sự khả quan, trừ khi giá đưa ra là siêu hấp dẫn.

Tây Ban Nha đã thay thế Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha trở thành mối nguy hiểm chính tới sự sống còn của đồng euro. Bị ảnh hưởng dai dẳng bởi cuộc suy thoái sâu từ khủng hoảng nhà đất năm 2007, hệ thống ngân hàng Tây Ban Nha đã suy yếu nặng nề. Nợ xấu trong ngân hàng Tây Ban Nha đã lên cao nhất từ trước đến nay, ước tính trên 180 tỷ euro./.

Lãi giả - lỗ thật, hệ lụy và hướng giải quyết

Nhiều báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết được công bố, nhà đầu tư và cổ đông hồ hởi bởi bức tranh tài chính rất đẹp. Tuy nhiên, sự hồ hởi đó bị dội một gáo nước lạnh sau khi báo cáo được soát xét hoặc qua kiểm toán thì lãi nhiều thành lãi ít, thậm chí lãi khủng thành lỗ lớn.
Lãi giả - lỗ thật, hệ lụy và hướng giải quyết
Lãi giả - lỗ thật, hệ lụy và hướng giải quyết
Đâu là nguyên nhân khiến tình trạng này ngày một trầm trọng hơn và xử lý bằng cách nào? Kiến giải của một số chuyên gia về vấn đề này.

“Doanh nghiệp chỉ nên công bố báo cáo tài chính soát xét hoặc đã kiểm toán”

Ông Mạc Quang Huy, Phó tổng giám đốc CTCK Thăng Long

Tình trạng chênh lệch lợi nhuận giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán/soát xét của doanh nghiệp là hiện tượng không mới. Vấn đề này đã từng được cảnh báo từ vài năm trước. Nhưng hiện tượng này không những không giảm mà ngày càng trầm trọng, biểu hiện qua độ "vênh" giữa các con số ngày một lớn và nhiều trường hợp theo hướng bất lợi cho nhà đầu tư.
Thực tế cho thấy, các sai lệch giữa số liệu báo cáo trước và sau kiểm toán (hay soát xét) có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân khách quan như sự chưa hoàn thiện của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam; sự thiếu rõ ràng hoặc do trình độ nhận thức dẫn đến sự thiếu thống nhất trong cách hiểu và áp dụng các chuẩn mực kế toán, các quy định pháp lý giữa doanh nghiệp và các công ty kiểm toán.

Tuy nhiên, không loại trừ khả năng doanh nghiệp điều chỉnh số liệu cho các mục đích ngắn hạn của ban điều hành dưới áp lực của các cổ đông. Đây là một hạn chế chung của mô hình công ty đại chúng, khi lợi ích của ban điều hành với tư cách một người làm thuê không hẳn thống nhất với các cổ đông. Các khoản mục có khả năng can thiệp dễ nhất là các ước tính kế toán như các khoản lập dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá, khấu hao tài sản. Khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng thì các áp lực điều chỉnh báo cáo tài chính càng trở thành vấn đề lớn.

Cách tốt nhất để khắc phục lỗi chênh lệch là doanh nghiệp chỉ cần gửi một bộ báo cáo duy nhất, đó là báo cáo tài chính đã được soát xét hay báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Có như vậy, số liệu cũng tin cậy hơn và nhà đầu tư cũng đỡ rủi ro hơn khi tiếp cận thông tin.

"Cần có chế tài để doanh nghiệp có trách nhiệm với những con số công bố"

Ông Lê Đạt Chí, Trưởng bộ môn Đầu tư tài chính, Đại học Kinh tế TP. HCM

Sở dĩ có sự chênh lệch lợi nhuận trong báo cáo tài chính trước và sau soát xét của doanh nghiệp, trước hết do thị trường chưa có hình thức kỷ luật nào về sai sót này, nên doanh nghiệp không thấy có trách nhiệm phải làm thật chuẩn mực. Họ chỉ cố nộp báo cáo tài chính cho đúng hạn để tránh bị phạt, còn thông tin trong báo cáo tài chính liệu đã chuẩn xác chưa thì tính sau. Tuy nhiên, các doanh nghiệp quên mất rằng, thị trường có những hình thức kỷ luật của nó và nếu tình trạng "vênh" nhau này cứ lặp lại, nhà đầu tư sẽ không tin tưởng vào doanh nghiệp đó và tất nhiên sẽ loại bỏ cổ phiếu đó ra ngoài danh mục đầu tư.

Cũng không loại trừ trường hợp báo cáo tài chính của doanh nghiệp có nhiều khoản không rõ ràng, đắn đo không biết bút toán ra sao. Đến khi kiểm toán vào cuộc, những khoản không minh bạch này bị xuất toán trở lại. Cũng có lý do sai số là do báo cáo tài chính của các công ty con gây ra.

Nhưng có lẽ áp lực lợi nhuận từ phía cổ đông mới là lý do chính khiến doanh nghiệp cứ phải tìm cách làm sao nâng lợi nhuận lên. Đến khi kiểm toán rà soát, mới hay đó là khoản không đúng, chỉ là lợi nhuận ảo. Nếu cổ đông quan tâm đến dòng tiền để đánh giá doanh nghiệp như cách giới đầu tư nước ngoài vẫn làm, có lẽ doanh nghiệp không đến mức phải "thổi" lợi nhuận lên như thế.

Muốn cải thiện tình hình này, điều đầu tiên là doanh nghiệp phải nhìn nhận lại việc công bố thông tin. Thông tin đưa ra cần chuẩn xác, tránh sai sót để tạo niềm tin nơi nhà đầu tư. Về phía cơ quan quản lý, cần có giải pháp cũng như chế tài để doanh nghiệp thấy có trách nhiệm với những con số công bố trong báo cáo tài chính.


Nguồn tin:
ĐTCK

Tối đa hóa nguồn nhân lực: Biến áp lực thành cơ hội

Đào tạo, phát triển và sở hữu chức năng tài chính là điều quan trọng quyết định đến thành công của một DN, đặc biệt là trong môi trường kinh tế hiện nay. Điều này được khẳng định trong một báo cáo gần đây của Hiệp hội Kế toán công chứng Anh (ACCA) và hãng kiểm toán KPMG, có tên gọi là: “Tối ưu hóa nguồn nhân lực: Phương pháp quản trị tài chính hiệu quả”.
Tối đa hóa nguồn nhân lực: Biến áp lực thành cơ hội
Tối đa hóa nguồn nhân lực: Biến áp lực thành cơ hội
Báo cáo này nhấn mạnh việc sử dụng đúng nhân tài là một trong những thách thức lớn nhất mà các giám đốc tài chính phải đối mặt. Thập kỷ tiếp theo sẽ tạo ra cơ hội quan trọng cho các chuyên gia tài chính kiến tạo và duy trì giá trị lâu dài của mỗi tổ chức. Nhưng, thách thức này nằm trong tay các nhà tuyển dụng, những người có nhiệm vụ phát hiện và phát huy nhân tài.

Theo kết quả một cuộc khảo sát hồi năm ngoái của ACCA, chỉ có 20% các DN và tổ chức có một chiến lược phát triển nhân tài cho bộ máy tài chính của mình. Nhưng, đáng tiếc là trong những DN này, hầu hết các chiến lược này lại không hề mang tính chiến lược, không chính thức, đôi khi chiến lược phát triển của bộ máy tài chính mang tính tách biệt đối với các bộ phận khác, không phải là một phần của kế hoạch hợp nhất toàn công ty.

Trong báo cáo “Tối ưu hóa nguồn nhân lực: Phương pháp quản trị tài chính hiệu quả”, ACCA đưa ra 8 khuyến nghị quan trọng cho các CFO để thiết lập và duy trì nhân tài trong công ty:

Một là, cần định dạng nhân tài. Các DN và tổ chức cần xác định những dạng tài năng mà tổ chức cần có. Ví dụ, ngoài yếu tố kiến thức chuyên môn thì những chuyên gia tài chính cần có kỹ năng và kinh nghiệm trong việc định hướng chiến lược phát triển một cách đúng đắn cho DN.

Hai là, cần xác định nhu cầu tuyển dụng nhân tài. Các DN và tổ chức nên xác định cả nhu cầu ngắn hạn và dài hạn cho việc tuyển dụng nhân tài, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, phải ưu tiên các cá nhân có kiến thức và hiểu biết về thương mại và kinh doanh.

Ba là, cần xác định năng lực cần thiết, cân nhắc những yếu tố như năng lực chuyên môn, sự hiểu biết trong lĩnh vực kinh doanh và các kỹ năng ứng xử cần thiết khác.

Bốn là, cần phát triển mục tiêu. Trong bộ phận tài chính thì một số vai trò chủ chốt sẽ quan trọng hơn đối với tổ chức so với các vai trò khác. Tuy nhiên, đôi khi, những vai trò tưởng chừng như kém quan trọng cũng có thể có những đóng góp rất đáng kể.

Năm là, đề xuất và thiết kế những khóa huấn luyện toàn diện. Các DN hàng đầu thường có những chương trình huấn luyện hoặc các hoạt động phát triển toàn diện để các nhân viên có thể chọn lọc chương trình phù hợp cho mình. Các DN và tổ chức đang có xu hướng phối hợp cùng với các tổ chức giáo dục tài chính hoặc các viện tài chính nhằm cung cấp các lớp đào tạo bài bản và thường xuyên.
Sáu là, định hướng phát triển sự nghiệp. Các DN cần xây dựng lộ trình phát triển sự nghiệp dành cho các nhân viên tài chính đủ hấp dẫn, để có thể khiến họ phấn đấu và nỗ lực hết sức mình để đạt được.
Bảy là, có chính sách khen thưởng dựa trên thành tích. Chính sách này phải nằm trong tổng chiến lược phát triển của DN. Việc khen thưởng phải gắn liền với thành tích của cá nhân và tập thể.

Tám là, phải định kỳ kiểm tra. Toàn bộ đội ngũ nhân sự tài năng cần được đánh giá thường xuyên và liên tục nhằm đảm bảo rằng đội ngũ này đáp ứng được yêu cầu của một tổ chức ngày càng phát triển.
Hiện nay, các giám đốc DN đang phải đối mặt với ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế. Điều này gây kiệt quệ cho không ít những nỗ lực quản lý tài năng. Và đây là thời điểm cần chú trọng hơn đến việc quản lý đội ngũ nhân tài và khích lệ họ làm việc với hiệu suất cao, xây dựng lòng trung thành của họ đối với công ty. Một giám đốc nhân sự sắc sảo sẽ nhận ra được tầm quan trọng của việc sử dụng nhân tài để duy trì kế hoạch và tạo ra những giá trị lâu dài cho tổ chức.

Quản trị tài năng nên được hiểu rộng hơn là quản trị nhân lực. Đây chính là quản lý khát vọng và tạo ra đội ngũ tài năng đa dạng, cùng với tổ chức tạo ra những lợi ích trong kinh doanh. Có những cơ hội lớn lao trước mắt và kinh nghiệm của chúng tôi mách bảo rằng những tổ chức biết đặt tài năng vào đúng vị trí sẽ có được lợi thế cạnh tranh.

Lucia Real Martin, Giám đốc Khối thị trường mới nổi châu Á – ACCA

TS. Võ Trí Thành: Kinh tế Việt Nam chưa ra khỏi vùng nguy hiểm

Nền kinh tế Việt Nam vẫn trong giai đoạn khó khăn, nhưng vẫn phải tính đến câu chuyện ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo lạm phát tương đối thấp, khoảng 6 - 7% trong năm 2012.
TS. Võ Trí Thành: Kinh tế Việt Nam chưa ra khỏi vùng nguy hiểm
TS. Võ Trí Thành: Kinh tế Việt Nam chưa ra khỏi vùng nguy hiểm
TS. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương nhận định. Điều này liên quan đến mục tiêu của chính sách vĩ mô trong năm 2013 là kiên trì chính sách ổn định kinh tế vĩ mô bên cạnh hồi phục kinh tế.
8 tháng đầu năm, kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã xuất hiện những nhân tố tích cực. Có phải nền kinh tế Việt Nam đã qua được giai đoạn khó khăn nhất, thưa ông?
Kinh tế Việt Nam vẫn ở trong giai đoạn hết sức khó khăn, mặc dù dưới góc độ vĩ mô, có một số chỉ số được cải thiện đáng kể. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8/2012 tăng 4,1% so với tháng 7 và tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2011. Tính chung 8 tháng, IIP tăng 4,7%, thấp hơn 0,1% so với mức tăng 4,8% của 7 tháng đầu năm.
Lạm phát tính theo năm đã giảm rất nhanh từ mức đỉnh 22 - 23% của tháng 8 năm ngoái còn khoảng 5% của tháng 8 năm nay. Tỷ lệ hàng tồn kho quý I khoảng 34 - 35%, cuối tháng 7 còn 21%, như vậy đã là giảm, nhưng vẫn còn rất cao trong một số lĩnh vực.
Nhập khẩu (90% là thiết bị máy móc và nhiên liệu) có phần chững lại do sản xuất, kinh doanh khó khăn. Tính đến 20/7, tín dụng tăng rất chậm, mới đạt 1,03%.
Nhìn tổng thể, tín dụng gần như vẫn chưa ra được nền kinh tế. Tổng cầu có nguy cơ thấp trong nước và vẫn còn nổi lên 2 vấn đề cho thấy rủi ro kinh tế vĩ mô còn cao: một là, hệ thống tài chính ngân hàng với câu chuyện nợ xấu; hai là, thu ngân sách năm nay sẽ vô cùng khó khăn (7 tháng đầu năm mới đạt được trên dưới ½ dự toán), trong khi áp lực chi tiêu rất lớn.
Trong khi đó, tăng trưởng của thế giới có xu hướng còn chậm lại nữa với một số nền kinh tế vẫn có khả năng quay trở lại suy thoái. Ở khu vực, hai đầu tàu kinh tế là Ấn Độ và Trung Quốc năm nay sẽ có tăng trưởng giảm mạnh hơn nhiều so với dự tính cách đây 3, 4 tháng.
 
Như ông đã nói, chỉ số hàng tồn kho đã giảm nhưng còn rất cao. Đó có phải vẫn là vấn đề lớn nhất của kinh tế Việt Nam hiện nay? Đâu là hy vọng lớn nhất để giải quyết vấn đề này?
Điều này phản ánh tình hình khó khăn hiện nay của doanh nghiệp. Hy vọng những tháng cuối năm, tăng giải ngân đầu tư công, tín dụng vào nền kinh tế tăng phần nào, kích cầu tiêu dùng… có thể làm cho bức tranh tồn kho đỡ u ám hơn. Tuy nhiên, hàng tồn kho cũng đánh động chúng ta cần cải cách các thông số, cách thức tăng trưởng sao cho ổn định và có chất lượng hơn.
 
Giá xăng, một trong những nhân tố trọng yếu của lạm phát, lại vừa tăng và tiềm ẩn nhiều áp lực tăng tiếp. Vậy các biện pháp kích cầu cuối năm có phải cân nhắc đến rủi ro lạm phát tăng cao trở lại hay không? Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có thể và chỉ nên đạt được bao nhiêu?
Cách đây vài tháng, một số dự tính của cơ quan chính thức Việt Nam cho rằng, tăng trưởng chỉ khoảng 5,3 - 5,7%, tuy nhiên, 1 - 2 tháng trở lại đây, việc đạt được con số này cũng khó khăn hơn. Gần đây nhất, dự báo tương đối đồng thuận là tăng trưởng kinh tế khoảng 5 - 5,3%.
Như vậy, mức tăng trưởng này cùng với những điều chỉnh kinh tế, GDP có thể vào khoảng 5,6%, nhưng vẫn phản ánh những khó khăn của nền kinh tế Việt Nam. GDP rõ ràng không đạt được chỉ tiêu đề ra.
Việc giảm lạm phát về một con số trong năm nay không làm cho sản xuất kinh doanh quá khó khăn, nhưng để lạm phát khoảng 7% vẫn còn một số rủi ro nhất định. Thứ nhất, không có nỗ lực dàn đều đối với chính sách tài khóa, tiền tệ, đầu tư công mà chỉ dồn vào 3 tháng cuối năm thì khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế sẽ không thực hiện được.
Do vậy, có thể đó cũng là áp lực của lạm phát. Thứ hai, cũng có thể có những cú sốc từ bên ngoài, mặc dù kinh tế thế giới đang vào giai đoạn tăng trưởng thấp, một số nền kinh tế rơi vào suy thoái, nhưng không loại trừ biến động về chính trị xã hội có thể đẩy một số giá cả lên cao.
Thứ ba, rủi ro liên quan đến một số mặt hàng lương thực, thực phẩm hay xăng dầu, bởi thực phẩm chiếm một tỷ trọng khá cao trong cơ cấu CPI của Việt Nam.
Do vậy, cần phải tính đến câu chuyện ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo lạm phát tương đối thấp, khoảng 6 - 7% trong năm 2012. Điều này có liên quan đến mục tiêu của chính sách vĩ mô trong năm 2013 là kiên trì chính sách ổn định kinh tế vĩ mô bên cạnh hồi phục kinh tế.
Theo Hồng Dung

'Gánh vác' ngân hàng hợp nhất, vì sao lại là BIDV?

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bắt đầu quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại bằng quyết định cho phép ba ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất, Việt Nam Tín Nghĩa và Sài Gòn hợp nhất với sự tham gia của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV).
'Gánh vác' ngân hàng hợp nhất, vì sao lại là BIDV?
'Gánh vác' ngân hàng hợp nhất, vì sao lại là BIDV?
Mới vào giữa năm nay, những cổ đông cũ của ngân hàng Đệ Nhất đã quyết định chuyển nhượng phần lớn cổ phần cho một nhóm các nhà đầu tư. Cho đến lúc bấy giờ, Đệ Nhất là một ngân hàng nhỏ, ít tiếng tăm và tương đối sạch sẽ về mặt nợ nần. Đã có một thời, nhiều chủ đầu tư muốn mua Đệ Nhất, nhưng cuối cùng ngân hàng đã thuộc về nhóm nhà đầu tư tỏ ra có tiềm lực tài chính.

Đã có những khơi nguồn về việc hợp nhất ba ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB), Tín Nghĩa và Đệ Nhất kể từ việc chuyển nhượng kể trên. Các nhóm cổ đông lớn của SCB và Tín Nghĩa đều có quan hệ kinh doanh với nhau. Việc thỏa thuận để tạo ra một ngân hàng quy mô hơn không quá khó khăn đối với họ. Vướng mắc gay cấn trong mỗi cuộc sáp nhập bao giờ cũng là xác định giá trị doanh nghiệp, thì với cả ba, yếu tố này không thành vấn đề. SCB lớn hơn cả so với hai  ngân hàng còn lại xét về vốn điều lệ, mạng lưới, nhưng thâm niên, hiệu quả kinh doanh, hệ số nợ… gần như nằm ở cùng một cung bậc. Nếu cứ lấy hệ số chuyển đổi đơn thuần là 1:1, thì quá trình hợp nhất của cả ba sẽ diễn ra nhanh chóng.

Tuy nhiên việc sáp nhập không chỉ đơn thuần là gom ba thành một. Ở đây có sự góp mặt của cổ đông nhà nước thông qua BIDV. Điều gì đã khiến Nhà nước phải vào cuộc?

Sự sáp nhập lần này là sự thay đổi căn bản thứ hai trong lịch sử thành lập và hoạt động của SCB. Trước đây khi chuyển đổi từ Ngân hàng Quế Đô, SCB đã từng bị mất gần hết vốn, phải đổi mới cổ đông. Tín Nghĩa cũng có một lịch sử chông gai khi đi lên từ ngân hàng thương mại cổ phần Tân Việt. Sau những thử thách đầu những năm 2000, cả hai đã cố gắng để không lặp lại những sai lầm cũ. SCB đã có thời điểm được vào tốp 10 ngân hàng cổ phần hàng đầu, được IFC, Royal Bank of Scotland đặt vấn đề mua cổ phần và đã hoàn thiện hồ sơ, chuẩn bị niêm yết trên sàn TPHCM. 

Cơn lốc khủng hoảng tài chính toàn cầu nhanh chóng chứng tỏ ảnh hưởng nặng nề của nó, lĩnh vực bất động sản Việt Nam bị tác động và đó cũng là thời gian SCB, Tín Nghĩa không kiểm soát được dòng vốn đầu ra của mình. Tỷ lệ dư nợ cho vay bất động sản so với tổng dư nợ của cả hai vượt các quy định an toàn hoạt động. Chạy theo lợi nhuận, cả hai đã sử dụng phần lớn vốn huy động ngắn hạn cho vay dài hạn.

Thông cáo báo chí của NHNN ghi rõ: “Thời gian gần đây, ba ngân hàng này đã có những thiếu hụt thanh khoản tạm thời do mất cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và cho vay. Các dự án đầu tư  của ba ngân hàng  nhìn chung có hiệu quả nhưng nguồn vốn ngân hàng cho vay chủ yếu là trung và dài hạn, trong khi nguồn vốn huy động lại chủ yếu ngắn hạn. Có những thời điểm khách hàng rút tiền với khối lượng lớn khiến các ngân hàng trên có những lúc mất thanh khoản tạm thời”. Khi dòng tiền không quay về, họ vay liên ngân hàng để tài trợ tiếp cho khách hàng với hy vọng nuôi nợ để đòi nợ. Khi các quy định về giới hạn vay vốn liên ngân hàng trên tổng vốn huy động ra đời, SCB và Tín Nghĩa thực sự “khó thở”. Trong các cơn sốt tiền đồng những năm vừa qua, SCB gần như lúc nào cũng là con nợ ăn đong. Cuối cùng họ bắt buộc xin tái cấp vốn NHNN. Các đợt tái cấp vốn liên tiếp phải gia hạn.

Trên thực tế, khả năng mất vốn của các ngân hàng trên ở mức thấp vì tài sản thế chấp cho các khoản vay đều có giá trị không thể phủ nhận. Cầm cố vay tiền ở SCB và Tín Nghĩa là quyền sử dụng các khu đất, các tòa nhà, khách sạn, trung tâm thương mại ở TPHCM.

NHNN đã hỗ trợ tài chính nhằm đảm bảo thanh khoản cho ba ngân hàng. Song, sự hỗ trợ không thể kéo dài mà không đưa đến một kết cục giải quyết dứt điểm một số tác nhân có thể gây nên biến động bất thường của lãi suất, sự ổn định của thị trường tiền tệ. Nhà nước sẽ chuyển vốn hỗ trợ thành vốn góp và nắm giữ một tỷ lệ nhất định cổ phần của ngân hàng mới trên cơ sở hợp nhất cả ba. Tỷ lệ góp vốn của Nhà nước là bao nhiêu, với giá nào phụ thuộc vào công việc kiểm toán, đánh giá lại giá trị cổ đông. Danh mục nợ nần, tài sản thế chấp, tài sản cố định… sẽ là những địa chỉ đầu tiên được đụng đến. Sẽ có những chủ nợ lo lắng vì họ không nằm trong dạng được ưu tiên trả nợ. Giống như công cuộc củng cố, mua bán sáp nhập, xử lý ngân hàng yếu kém trước đây, quyền lợi của người dân gửi tiền được ưu tiên hàng đầu. “Người gửi tiền sẽ được trả đủ cả vốn lẫn lãi kể cả trong trường hợp họ có nhu cầu rút tiền trước hạn (lãi không kỳ hạn - NV) tại ba ngân hàng” - một quan chức NHNN khẳng định.   

BIDV nhiều năm trước đã từng tham gia xử lý Ngân hàng Nam Đô. Bây giờ lại là BIDV ký hợp đồng hợp tác toàn diện với ba ngân hàng cổ phần sẽ hợp nhất trong đợt này. Trong một thông cáo báo chí chính thức phát đi từ hội sở ngày 6-12-2011, BIDV nhấn mạnh sẽ hỗ trợ nguồn vốn, hợp tác kinh doanh tiền tệ, thanh toán với ngân hàng mới hình thành từ ba ngân hàng nói trên. Tất nhiên BIDV, đại diện quản lý phần vốn nhà nước góp vào ngân hàng mới, sẽ kiểm soát công việc quản trị điều hành thông qua giới thiệu các ứng cử viên vào hội đồng quản trị, ban giám đốc.

Xét cho cùng, đưa BIDV nhập cuộc là lựa chọn tối ưu của NHNN lúc này. Agribank phải cáng đáng dịch vụ tài chính cho cả khu vực nông nghiệp - nông thôn. Vietcombank và Vietinbank đã cổ phần hóa, có cổ đông nước ngoài, nên không thể gánh vác công việc mang tính chính sách nặng nề như tham gia sáp nhập, mua bán. Các ngân hàng cổ phần mạnh không chìa tay miễn phí để đỡ các ngân hàng yếu kém nếu thiếu chính sách ưu đãi cơ chế đi kèm. BIDV là sự trông cậy tốt nhất của Nhà nước trong bối cảnh tái cơ cấu ngân hàng hiện tại.

Cả thế giới cải tổ ngân hàng thế nào?

Hệ thống ngân hàng thế giới sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đang tiến hành cải tổ sâu rộng như một yêu cầu tất yếu.
Cả thế giới cải tổ ngân hàng thế nào?
Cả thế giới cải tổ ngân hàng thế nào?
4 xu hướng phát triển

Xu hướng phát triển của hệ thống ngân hàng thế giới trong những năm đầu thế kỷ 20 có thể tổng kết thành 4 xu hướng chủ đạo là:

- Phát triển hoạt động NHTM cung cấp các dịch vụ truyền thống. Việc phát triển cung cấp các dịch vụ truyền thống theo hướng xác định rõ định hướng phát triển đối với từng nhóm dịch vụ ngân hàng, trong đó tính liên kết giữa dịch vụ, kể cả giữa các dịch vụ ngân hàng và giữa dịch vụ ngân hàng với dịch vụ tài chính phi ngân hàng rất được chú trọng, nhằm tối ưu hóa năng lực cung ứng dịch vụ của các ngân hàng và tạo ra chuỗi dịch vụ tài chính hoàn chỉnh cho nền kinh tế.

- Phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư bao gồm các dịch vụ từ chứng khoán hóa tài sản, thực hiện các thương vụ mua lại, sáp nhập và cơ cấu lại công ty thông qua việc bao tiêu, bảo lãnh phát hành, sắp xếp CPH các công ty, chứng khoán hóa các khoản nợ.

- Phát triển mô hình ngân hàng đa năng. Ưu điểm lớn nhất của mô hình ngân hàng đầu tư là “khả năng bù trừ rủi ro” và “mở rộng cơ hội kinh doanh.” Một ngân hàng đầu tư có thể phân bổ chi phí vào nhiều đơn vị kinh doanh chiến lược và tạo ra nhiều lợi nhuận hơn nhờ vào việc cung cấp một tập hợp đầy đủ các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. Việc đa dạng hoá các hoạt động tới lượt nó sẽ giúp giảm thiểu rủi ro. Vì vậy, các ngân hàng lớn thường có xu hướng hoạt động như những ngân hàng đa năng, trong khi một số tổ chức nhỏ hơn lại tập trung vào việc phát triển thành những NHTM chuyên biệt hoặc ngân hàng đầu tư.

- Phát triển hoạt động ngân hàng xuyên biên giới. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc bùng nổ hoạt động ngân hàng cũng như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực này đã làm dấy lên nhu cầu tất yếu của việc phát triển hoạt động ngân hàng xuyên biên giới thông qua các hình thức như hợp tác, mua lại, sáp nhập và hiện diện thương mại.

Trước những xu hướng phát triển đó đòi hỏi phải có sự phát triển đồng bộ bao gồm cải cách toàn diện khuôn khổ thể chế, tăng cường năng lực điều hành chính sách và giám sát hệ thống ngân hàng của NHTW, tăng cường năng lực hoạt động, năng lực tài chính và quản trị rủi ro của các NHTM, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng. Nhưng sự phát triển của các nhân tố trên chưa theo kịp với sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn vừa qua. Đặc biệt là sự phát triển nóng của các công cụ, sản phẩm phái sinh mới đã vượt qua những tính toán thông thường và tiềm ẩn rủi ro đổ vỡ khi không được quản lý chặt chẽ.

3 nội dung cải tổ

Trong khi các xu hướng phát triển đó là tất yếu và tiếp diễn trong giai đoạn hiện nay xuất phát từ những yêu cầu của nền kinh tế, cải tổ hệ thống ngân hàng đã được tiến hành ở hầu hết các nước, thậm chí là với nỗ lực của các nhóm nước, tập trung vào 3 nội dung chính sau:

Một là, sửa đổi bổ sung các quy định tài chính theo hướng nâng cao vai trò của các cơ quan giám sát đối với hoạt động ngân hàng và giám sát chặt chẽ các hoạt động phái sinh. Tại Hội nghị G20 tổ chức ở London (Anh) ngày 2/4/2009, các nhà lãnh đạo các nước G20 đã thống nhất cho rằng, trước mắt cần phải: (i) Quản lý và giám sát chặt chẽ các tổ chức tài chính, thiết lập những quy tắc mới nhằm giám sát các quỹ đầu cơ (hedge funds), kiểm soát các công ty xếp hạng tín dụng để tránh những trường hợp mâu thuẫn quyền lợi hay thiên vị, có sự móc ngoặc giữa cơ quan đánh giá và giới đầu tư; (ii) Tăng cường các quy định, quy chế quốc tế đối với các ngân hàng và các định chế tài chính khác, buộc các ngân hàng giữ nhiều vốn hơn để đề phòng khả năng tái diễn thua lỗ, giám sát tiền lương, tiền thưởng, hoàn thiện các tiêu chuẩn kế toán quốc tế, trong đó có việc trích lập dự phòng và đánh giá rủi ro, tiêu chuẩn hóa các sản phẩm phái sinh; (iii) Các ngân hàng từ thương mại đến đầu tư sẽ bị thanh tra chặt chẽ hơn nhằm phát hiện sớm, phòng ngừa các hoạt động tín dụng, đầu tư chứa đựng quá nhiều rủi ro, minh bạch hóa các hoạt động kinh doanh, chống che giấu nghiệp vụ hay lý lịch thân chủ; (iv) Đưa ra quy định mới và chế tài nghiêm ngặt đối với các nước có chính sách thuế thông thoáng có thái độ bất hợp tác trong việc giám sát tài chính quốc tế.

Hai là, nâng cao chất lượng công tác quản lý rủi ro và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng chủ động khởi xướng và triển khai các biện pháp quản lý rủi ro theo những định hướng của mình, chứ không chỉ quản lý rủi ro theo kiểu tuân thủ các quy định như thường lệ. Bên cạnh đó, phương pháp quản lý tài sản nợ còn được triển khai để đánh giá chính xác hơn tài sản do các tổ chức tín dụng nắm giữ nhằm ngăn chặn lặp lại thất bại trong việc chứng khoán hóa các khoản nợ dưới chuẩn như nhiều nước phương Tây đã gặp. NHTW Ấn Độ, Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc và Nhật Bản cũng đã đưa ra những hướng dẫn để các ngân hàng tuân theo những nguyên tắc quan trọng nhằm đẩy mạnh việc quản lý tài sản một cách chặt chẽ.

Hiệu quả hoạt động vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu đối với các tổ chức tín dụng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Yêu cầu này liên quan đến một số vấn đề như quản lý chi phí hoạt động, giảm bớt các thủ tục và rút ngắn thời gian xử lý giao dịch. Việc củng cố tích hợp các giải pháp công nghệ theo một nền tảng chung là yếu tố quan trọng đem lại hiệu quả trong hoạt động.

Ba là, tái cơ cấu vốn và đòn bẩy tài chính. Đòn bẩy tài chính được coi là một trong những nguyên nhân chính của hầu hết các cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây, trong đó có cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Tại Mỹ, theo quy định, ở các NHTM, tỷ lệ đòn bẩy thường bị khống chế ở mức 12 lần, nhưng ở các ngân hàng đầu tư, tỷ lệ này thường trên 20 lần. Theo một số tính toán, đầu năm 2008, 5 “đại gia” phố Wall (Goldman Sachs, Merrill Lynch, Lehman Brothers, Bear Stearns và Morgan Stanley) đều có tỷ lệ đòn bẩy tài chính xấp xỉ hoặc hơn 30 lần. Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi 2 “đại gia” bất động sản Freddie Mac và Fannie Mae với đòn bẩy tài chính hơn 60 lần là những nạn nhân đầu tiên của cuộc khủng hoảng.

Trong thời gian tới, hệ thống ngân hàng cần có sự cơ cấu lại đòn bẩy tài chính để nâng cao mức độ an toàn trong hoạt động ở một số khía cạnh: hạn chế tối đa việc sử dụng đòn bẩy vào các tài sản không có tính thanh khoản, đưa ra những quy định rõ ràng về tỷ lệ đòn bẩy cần khống chế, các cơ chế kiểm soát việc sử dụng đòn bẩy tài chính cần được tuân thủ, các nguyên tắc quản trị ngân hàng hiện đại cần được áp dụng triệt để.

Nguyễn Thùy Linh, Viện Chiến lược Ngân hàng - NHNN

Thị trường chứng khoán: Bài học từ những sai phạm

Báo cáo theo dõi hoạt động và diễn biến tại Công ty Chứng khoán SME (SMES) hơn hai năm nay cho thấy, những sai phạm của SME là một quá trình dài.
Thị trường chứng khoán: Bài học từ những sai phạm
Thị trường chứng khoán: Bài học từ những sai phạm
Các công ty chứng khoán đang phải trải qua những ngày tháng khó khăn nhất trong lịch sử hơn 12 năm tồn tại của thị trường chứng khoán Việt Nam. Sự sụt giảm của kinh tế thế giới và khó khăn trong nước, cộng thêm sức ép của lộ trình tái cấu trúc đang tăng dần, khiến cho những khiếm khuyết của khối kinh doanh chứng khoán như những “ung nhọt” đến lúc bục vỡ.
Sau trường hợp của Công ty Chứng khoán Hà Thành (HASC) cách đây hơn 1 năm khi nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị công ty là ông Trương Duy Sơn đã lặng lẽ bỏ lại sau lưng khoản nợ 100 tỷ đồng, đầu tháng 8 năm nay, thị trường chứng khoán Việt Nam lại rúng động khi nghe tin hai lãnh đạo cao nhất của Công ty Chứng khoán SME bị bắt tạm giam do có những dấu hiệu vi phạm về triển khai hợp đồng hợp tác đầu tư với một số đối tác.
 
Khi lãnh đạo phớt lờ quy định
Báo cáo theo dõi hoạt động và diễn biến tại Công ty Chứng khoán SME (SMES) hơn hai năm nay cho thấy, những sai phạm của SME là một quá trình dài.
Ngay từ tháng 8/2010, khi kiểm tra toàn diện hoạt động của SME, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã yêu cầu SME không được phép sử dụng những hợp đồng hợp tác đầu tư và phải tất toán hết. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với SME và yêu cầu công ty ngừng ký mới các hợp đồng cung cấp các sản phẩm tài chính hỗ trợ giao dịch chứng khoán khi chưa có văn bản hướng dẫn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Tháng 10/2011, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước lại tiếp tục kiểm tra toàn diện hoạt động của SME và đã có công văn yêu cầu SME bổ sung thuyết minh chi tiết có xác nhận của kiểm toán về các khoản phải thu, phải trả, tình trạng hiện tại của các khoản nợ quá hạn và khoản phải thu quá hạn trong phần thuyết minh báo cáo tài chính kiểm toán 6 tháng đầu năm 2011.
Để bảo vệ nhà đầu tư và khách hàng tại SME, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đề nghị 2 sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm Lưu ký chứng khoán (VSD) tăng cường quản lý, giám sát hoạt động với SME.
VSD đã đình chỉ tạm thời lưu ký chứng khoán của SMEs từ 7/11/2011 đến 7/1/2012 do SME thường xuyên vi phạm nghĩa vụ thành viên lưu ký và để xảy ra tình trạng mất thanh khoản giao dịch chứng khoán. Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã thông báo đưa cổ phiếu của SME vào diện kiểm soát. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã làm việc với công ty kiểm toán để làm rõ một số nội dung liên quan đến trách nhiệm của công ty kiểm toán đối với một số vụ việc liên quan đến SME...
Trước tình hình tài chính của SME có vấn đề (chủ yếu liên quan đến khoản nợ của công ty), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã cảnh báo và thực hiện thu hồi giấy chứng nhận đăng ký lưu ký chứng khoán cũng như rút nghiệp vụ môi giới chứng khoán của công ty.
Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, có nhiều nguyên nhân khiến SME liên tục có những hành vi vi phạm. Ngoài nguyên nhân khách quan là sự khó khăn của thị trường chứng khoán trong một thời gian dài còn phải kể đến các nguyên nhân chủ quan như: sự yếu kém trong quản lý rủi ro, hệ thống kiểm soát nội bộ không được thực thi đầy đủ và sự dễ dãi trong việc thẩm định các khoản vay và cho vay của các đối tác liên quan tới SME...
Tăng cường quản lý rủi ro
Trên thực tế, các công ty chứng khoán đều nhận thức rất rõ vai trò của quản lý rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, từ nhận thức tới việc tuân thủ các quy định là một khoảng cách rất xa.
Theo ông Phạm Hồng Sơn, Vụ trưởng Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước), cả hai trường hợp sai phạm bị phát hiện kể trên đều cho thấy thực trạng yếu kém về quản trị công ty tại các công ty chứng khoán này. Điều này dẫn tới tình trạng người điều hành thao túng hoạt động công ty. Dù cả hai công ty đều có quy trình kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro nhưng việc thực thi và tuân thủ các quy trình này rất kém.
Để tăng cường minh bạch đối với hoạt động công ty chứng khoán, ngay trong tháng 8, sau khi tất cả các công ty chứng khoán công bố báo cáo tài chính soát xét quý 2/2012 và báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính có soát xét tại thời điểm 30/6/2012, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ tiếp tục phân loại và đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc công ty chứng khoán.
Ủy ban Chứng khoán sẽ tập trung thanh tra, kiểm tra về an toàn tài chính và khả năng thanh toán của các công ty chứng khoán. Đồng thời tăng cường quản lý, giám sát về vốn, hành nghề, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, tuân thủ pháp luật của các công ty chứng khoán. Trong năm nay, sẽ ban hành và áp dụng bộ tiêu chuẩn CAMELS để phân loại công ty chứng khoán và các quy định mới về quản trị rủi ro, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của công ty chứng khoán, giảm thiểu rủi ro cho thị trường, nhà đầu tư.
Một quy chế hướng dẫn công ty chứng khoán thực hiện quản lý rủi ro trong khuôn khổ công ty chứng khoán vừa được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hoàn thành và trình Bộ Tài chính ban hành. Trong đó, điểm quan trọng nhất là công ty chứng khoán phải có ủy ban quản lý rủi ro. Hội đồng Quản trị với vai trò chịu trách nhiệm cao nhất đối với hoạt động quản lý rủi ro, sẽ phải xây dựng một hệ thống quản lý rủi ro thích hợp cho công ty, gồm: quy trình hoạt động, văn hóa quản lý rủi ro, kế hoạch phân bổ vốn cần thiết để triển khai hệ thống quản lý rủi ro.
Mặt khác, Hội đồng Quản trị cần phải tính đến quy định về chỉ tiêu an toàn tài chính và các quy định liên quan khác trong việc lên kế hoạch phân bổ vốn.
Cũng trong quy chế này, vai trò, trách nhiệm của các vị trí quan trọng trong công ty chứng khoán cũng được đề cập.
Mục đích của quy chế này để công ty chứng khoán phải quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế cũng như hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra. Hàng năm, công ty chứng khoán phải xây dựng và ban hành chính sách quản lý rủi ro làm cơ sở cho hoạt động quản lý rủi ro thường xuyên.
Chính sách quản lý rủi ro phải phản ánh chính xác mục tiêu của chiến lược hoạt động của công ty, khả năng chịu đựng rủi ro và bản chất của những rủi ro mà công ty phải đối mặt.
9 yếu tố cần phải được xem xét khi xây dựng chính sách rủi ro: chiến lược hoạt động của công ty, khả năng chịu đựng rủi ro của công ty, các công cụ tài chính chịu rủi ro, chất lượng của các thủ tục kiểm soát nội bộ, khả năng giám sát rủi ro và tính hoàn thiện của hệ thống quản lý rủi ro và các thủ tục liên quan, mức độ chuyên nghiệp về quản lý rủi ro, hoạt động quản lý rủi ro trong quá khứ, chính sách khen thưởng, quy định pháp lý...
Theo Lan Hương

Sau kiểm toán: Cổ phiếu PVX khiến nhà đầu tư bị sốc

Trong tuần qua, những thông tin sửng sốt về Tổng CTCP xây lắp dầu khí Việt Nam (mã PVX-HNX), nhất là thông tin bắt giữ 4 cán bộ công ty con của PVX, gây cú sốc cho nhà đầu tư.
Sau kiểm toán: Cổ phiếu PVX khiến nhà đầu tư bị sốc
Sau kiểm toán: Cổ phiếu PVX khiến nhà đầu tư bị sốc
Vậy đâu là những nguyên nhân chính gây ra chuyện PVX đột ngột lỗ “khủng” và công ty con xảy ra chuyện tệ hại?
Với khối lượng niêm yết lên tới 400 triệu cổ phiếu, thanh khoản luôn đứng vào hàng nhất nhì trên HNX, cổ phiếu PVX nhanh chóng lọt vào danh sách cổ phiếu được chọn để thực hiện margin. Tuy nhiên, nhiều thông tin công bố trong tuần qua quá bất ngờ cho không ít nhà đầu tư.
Nhiều thông tin xấu
Thứ nhất là tin Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, Bộ Công an, vừa khởi tố vụ án cố ý làm sai trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng tại Công ty Cổ phần Thi công cơ giới và lắp máy dầu khí (PVC-ME), thuộc PVX và bắt tạm giam 4 đối tượng bao gồm Bùi Trọng Chinh, nguyên Phó giám đốc, Đinh Bá Lượng, nguyên kế toán trưởng, Phạm Thị Hải Hà, thủ quỹ và Lê Thái Nam, nguyên chỉ huy trưởng công trường Ethanol Phú Thọ công ty PVC-ME, giám đốc Công ty Cổ phần Kết cấu đường ống (gọi tắt là PME1). Các dự án do PVC-ME thực hiện trải dài trên diện rộng từ Bắc, Trung và Nam bộ, cả đất liền và trên biển.
Thông tin thứ hai Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) chính thức đưa bổ sung PVX vào danh sách cổ phiếu không đủ điều kiện giao dịch ký quỹ (margin) từ ngày 12/9. Cổ phiếu PVX không được giao dịch ký quỹ do lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tính đến 30/6/2012 bị âm hơn 334 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ âm gần 468 tỷ đồng tại báo cáo tài chính hợp nhất bán niên soát xét năm 2012. Trước đó, nhiều công ty chứng khoán đã loại cổ phiếu PVX ra khỏi danh mục hỗ trợ giao dịch ký quỹ của mình.
Thứ ba là theo báo cáo tài chính, quý 2/2012, PVX đột ngột báo lỗ ròng 544,08 tỷ đồng (riêng công ty mẹ lỗ ròng 260,73 tỷ đồng), trong khi quý 1/2012 vẫn lãi ròng 7,5 tỷ đồng, mặc dù quá thấp với con số lãi ròng năm 2011 lên tới 299,4 tỷ đồng (công ty mẹ lãi ròng 195,97 tỷ đồng).
Sau soát xét, khoản lỗ của công ty mẹ PVX tăng từ 293,01 tỷ đồng lên 498,12 tỷ đồng. Bên cạnh đó, PVX còn có các khoản công nợ tiềm tàng lên đến 558 tỷ đồng.
Theo kiểm toán, tại thời điểm 30/6/2012, PVX còn có các khoản bảo lãnh cho 10 công ty con vay vốn tại 5 ngân hàng đã bị quá hạn tổng cộng lên đến 558 tỷ đồng, điều này đồng nghĩa với việc PVX phải thanh toán cho các tổ chức cho vay một khoản tiền bằng với giá trị như bảo lãnh cộng với toàn bộ nghĩa vụ phải trả lãi, lãi phạt và nghĩa vụ tài chính khác phát sinh.
Tuy nhiên, PVX đang đàm phán về việc gia hạn trả nợ cũng như thời gian bảo lãnh và chưa trích lập dự phòng trên báo cáo tài chính đối với các khoản bảo lãnh này.
Lỗ lớn do đầu tư tràn lan
“Đại gia” PVX thuộc loại tổng công ty “đẻ” công ty con nhanh kỷ lục. Tại thời điểm 31/12/2010 mới có 10 công ty con và công ty liên kết, đến ngày 14/9/2012 (theo website của tổng công ty), số lượng này tăng vọt lên tới 29 công ty thành viên và 15 công ty liên kết, hầu hết là hoạt động trong ngành bất động sản và xây dựng bình thường (không phải xây dựng chuyên ngành dầu khí) nhưng tất cả mọi cái tên công ty đều được gắn chữ “dầu khí” và hoạt động trải dài từ Bắc tới Nam.
Một trong những nguyên nhân khiến PVX có kết cục ngày hôm nay là do chiến lược đầu tư dàn trải, sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư tài chính dài hạn vào các công ty con, công ty liên kết và các dự án mang lại hiệu quả kém. PVX hiện đang mất cân đối về tài chính, đặc biệt là vốn để đầu tư, sử dụng vốn của các dự án không đúng mục đích, không theo kế hoạch được phê duyệt.
Báo cáo tài chính soát xét bán niên 2012 của công ty mẹ PVX cho thấy, doanh thu thuần và doanh thu tài chính không đủ bù đắp khoản tăng thêm kếch xù của chi phí tài chính (tới 106,73 tỷ đồng) và chi phí quản lý tăng thêm trên 116 tỷ đồng.
Theo giải trình của PVX, khoản chi phí tài chính tăng vọt sau soát xét là do PVX đã bổ sung trích lập dự phòng cho 5 công ty con (PVC-MT, PVC-Mekong, PVC-ME, PVC-Land và PVC-SG) nửa đầu năm 2012, tổng số tiền lên tới 230,8 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ lại được hoàn nhập 23,9 tỷ đồng.
Nguyên nhân thứ hai là do PVX sa lầy vào bất động sản. Những công ty con của PVX có đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, chứng khoán đang gặp khó khăn về tài chính, điển hình là Công ty PVC HN với vốn điều lệ là 300 tỷ đồng, nhưng đã đầu tư vào dự án khu đô thị Nam An Khánh hơn 116 tỷ đồng song hiện vẫn chưa tìm được đối tác để chuyển nhượng.
Đặc biệt, trong các đơn vị thành viên của PVC có tới 3 công ty (PVC ME, PVC Metal và PVC SG) đang hoạt động không hiệu quả, việc chuyển nhượng cổ phần của PVX tại các đơn vị này ở thời điểm hiện nay là rất khó khăn, do đó, 3 công ty này có nguy cơ phá sản, bắt nguồn từ nguyên nhân đầu tư mở rộng sang lĩnh vực bất động sản.
Nguyên nhân thứ ba là Công ty mẹ PVX chỉ làm “đầu nậu” trong thực hiện các dự án. PVX dùng tên tuổi, năng lực tài chính của chính mình để đấu thầu dự án (với vai trò tổng thầu) rồi chuyển toàn bộ hợp đồng cho các công ty con hoặc công ty liên kết.
Do vậy, PVX chỉ hoạt động với vai trò quản lý trung gian, công tác thi công trực tiếp được giao cho các công ty con thực hiện thông qua hợp đồng kinh tế giữa tổng thầu (PVX) với các nhà thầu phụ là các đơn vị thành viên của PVX với giá trị thấp hơn để thu phí quản lý của các công ty con.
Nguồn thu chủ yếu của PVX từ các khoản chênh lệch giữa giá nhận thầu và giá giao thầu, cổ tức và lợi nhuận được chia từ các đơn vị thành viên và công ty liên kết. Do đó, khi các công ty con và liên kết làm ăn “bết bát” thì “đầu nậu” PVX cũng đột ngột sụt giảm mạnh lợi nhuận.
Theo Hoàng Lộc
VnEconomy

Giảm stress bằng thôi miên




Bên cạnh những phương pháp giảm stress truyền thống như tập thể dục thể thao, tìm trò chơi giải trí, hiện tại, thuật thôi miên, một phương pháp giảm stress hoàn toàn mới của giới công chức văn phòng đang ngày càng trở nên phổ biến ở Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm, đông bắc Trung Quốc.
Các khách hàng đến tìm kiếm sự giúp đỡ từ dịch vụ này thường ở độ tuổi 30-40. Họ có trình độ văn hóa, thu nhập cao. Những người này đều đã có thành công nhất định trong xã hội. Tuy nhiên, hầu như mọi người đến trung tâm tư vấn tâm lý đều bị áp lực công việc đè nặng. Họ dễ lo lắng, căng thẳng và hay ốm vặt.Zhang Lihua thuộc Trung tâm tư vấn tâm lý Trường Xuân là một trong những người hành nghề giảm stress bằng thuật thôi miên. Bà bảo Li, một khách hàng ở đây, nằm lên giường, thả lỏng toàn thân và chìm vào tiếng nhạc dịu nhẹ. Sau đó, Zhang nhẹ nhàng thầm thì vào tai bệnh nhân những câu đại loại “hãy thư giãn toàn thân, từ từ nhắm mắt lại. Mắt bạn sẽ cảm thấy nặng hơn… nặng hơn”… Dưới sự chỉ dẫn của nhà thôi miên, Li từ từ chìm vào giấc ngủ.
Zhang Lihua giải thích rằng thuật thôi miên lợi dụng tính ám thị của con người để giúp họ loại bỏ mọi suy nghĩ lo lắng và hoàn toàn cảm thấy thư giãn thông qua lời nói của nhà thôi miên.
Giá trọn gói của phương pháp điều trị này không phải là rẻ, khoảng 25-60 USD cho mỗi buổi. Tuy nhiên, nhiều người vẫn tìm đến đây để tận hưởng những cảm giác nhàn nhã, thanh bình nhờ một nhà thôi miên
( theo Chinanews, TuoiTre)

Thôi miên khác gì giấc ngủ thường?




Các bác học Nga V. M. Bêkhtêtrop và L. P.. Pavlôp đã chứng minh được rằng giấc ngủ thôi miên chẳng có gì là siêu nhiên cả, mặc dù nó khác với giấc ngủ bình thường. Điều khác nhau đó là gì? Trong giấc ngủ say bình thường con người không tiếp thụ những gì diễn ra xung quanh. Khi đắm mình vào giấc ngủ thôi miên, con người không phản ứng lại những kích thích bên ngoài, không trả lời các câu hỏi của những người có mặt, nhưng lại tiếp thu tất cả những gì thuộc về bác sĩ thôi miên.. Người bị thôi miên nghe thấy giọng nói của bác sĩ và chỉ trả lời riêng ông ta. Hơn nữa, mỗi lời nói của bác sĩ đều gây ra trong ý thức của người đó những ấn tương rõ rệt có thể biến thành các ảo tưởng và ảo giác. Chẳng hạn, có thể ám thị người bị thôi miên rằng trong nhà đang có hoả hoạn, và anh ta hốt hoảng “trông thấy ngay” ngọn lửa dữ dội. Như vậy, có thể nói rằng, thôi miên – đó đồng thời là giấc ngủ, là ám thị, thêm nữa, các sự kiện đã chứng tỏ rằng trạng thái thôi miên làm tăng thêm tính tri giác đối với những kích thích nằm dưới ngưỡng cảm thụ được của con người ở trạng thái tỉnh táo.
Cho đến nay còn tồn tại một quan niệm sai lầm về ý nghĩa của màu mắt người thôi miên. Tuy nhiên, khi thôi miên có thể thậm chí không cần nhìn vào mắt. Người ta chỉ cần nhìn vào một quả cầu nhỏ bằng kim loại mạ kền hay một vật sáng nào là đủ. Những tế bào thần kinh “chịu trách nhiệm” về thị giác bị mệt mỏi, trong não xuất hiện quá trình ức chế bảo vệ, quá trình này được truyền đi khắp vỏ hai bán cầu não và gây nên giấc ngủ thôi miên.
Cơ sở của trạng thái thôi miên là sự ức chế phần lớn các tế bào não và sự bảo vệ vùng minh mẫn ở vỏ não mà thông qua đó mối quan hệ giữa bác sĩ với bệnh nhân được duy trì. Những vùng như thế là các “điểm canh gác”, chúng tồn tại cả trong giấc ngủ bình thường. Cho dù giấc ngủ có say thế nào đi nữa, một số tế bào riêng biệt của não vẫn không ngừng công việc của mình. Qua những tế bào này, cơ thể giữ được mối liên hệ nào đó với bên ngoài. Các “điểm canh gác” phản ứng lại với các tín hiệu không cho phép “ngủ quên”.
Giáo sư K. K. Piatônôp đã dẫn ra một ví dụ rất lý thú về mối liên hệ như vậy. Trong thời kỳ chiến tranh vệ quốc vĩ đại, người ta đưa thương binh đến một quân y viện, nhưng bác sĩ phẫu thuật lại đang ngủ rất say sau mấy đêm ngày thức trắng. Người ta lắc, phun nước vào mặt ông, nhưng con người quá mệt mỏi ấy vẫn không tỉnh dậy. Sau đó người ta nói nhỏ, nhưng thật rành rọt : “Bác sĩ ơi! Người ta đưa thương binh đến đấy. Họ cần được sự giúp đỡ của đồng chí!”.
Và bác sĩ phẫu thuật tỉnh dậy ngay. Nhưng ở người bị thôi miên các “điểm canh gác” hoàn toàn khác. Đó không phải như một người lính gác cho biết là cần phải tỉnh giấc mà tựa như chiếc máy điện thoại nối mạch với người bị thôi miên nhận các mệnh lệnh – từ ngữ và thực hiện chúng mà không hề phán xét hay đánh giá ý nghĩa của các mệnh lệnh đó. Mỗi một từ có tác dụng như một mệnh lệnh bắt buộc hay được tiếp thu một cách tin cậy.
( theo sách Bên cạnh điều bí ẩn)