ĐỐI THOẠI VỚI VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG
CHƯƠNG 6
MỘT CHÍNH ĐẢNG ĐƯỢC XÂY DỰNG BẰNG NHỮNG CON NGƯỜI TRẺ
Từ lý tưởng đến kỷ luật. Có một khoảng cách rất lớn giữa việc tin vào một điều và cùng nhau làm một việc.
Một người có thể yêu nước trong sự riêng tư của mình, nhưng một chính đảng không thể tồn tại bằng những tình cảm riêng tư.
Nó cần tổ chức, cần người phụ trách, liên lạc, tài chính, thông tin, tuyển người, huấn luyện, kỷ luật, và quan trọng hơn cả, cần một mức độ tin cậy giữa những con người đang cùng đứng trong một tổ chức bí mật. Đó là bước mà những người sáng lập Việt Nam Quốc dân Đảng phải đối mặt sau khi chuyển từ những nhóm nhỏ và mạng lưới trí thức sang một tổ chức chính trị có tham vọng hoạt động trên phạm vi rộng hơn. Câu chuyện từ đây không còn chỉ là “Họ tin điều gì?”, mà là “Họ có khả năng tổ chức niềm tin ấy thành sức mạnh đến đâu?”
1. MỘT ĐẢNG KHÔNG THỂ CHỈ SỐNG BẰNG LÝ TƯỞNG
Điều dễ nhất khi thành lập một tổ chức là tuyên bố mục tiêu, khó hơn nhiều là làm cho hàng trăm con người thực sự cùng hành động. Một tổ chức phải trả lời những câu hỏi tưởng như rất nhỏ ai được gia nhập, giới thiệu, chịu trách nhiệm, được biết thông tin, có quyền quyết định? Các địa phương liên lạc với trung ương bằng cách nào?
Tiền lấy từ đâu, tài liệu được truyền đi thế nào, nếu một người bị bắt, những người khác có bị lộ không, nếu có bất đồng, giải quyết bằng cách nào? Những câu hỏi ấy không hào hùng. Nhưng chính chúng quyết định một tổ chức có tồn tại được hay không. VNQDĐ bước vào chính thế giới đó.
Những điều lệ và chương trình của đảng trong những năm đầu cho thấy tổ chức này đã cố gắng xây dựng một cơ cấu có cấp bậc, nguyên tắc gia nhập, trách nhiệm và kỷ luật. Các nghiên cứu chuyên khảo cũng đặt cơ cấu tổ chức bên cạnh tư tưởng chính trị như một bộ phận trung tâm để hiểu VNQDĐ.
Điều đó đáng chú ý, vì nó cho thấy những thanh niên ấy đã hiểu một điều rất sớm muốn thay đổi lịch sử, lòng yêu nước phải được tổ chức.
2. ĐẰNG SAU MỘT ĐIỀU LỆ LÀ NHỮNG CON NGƯỜI
Đọc điều lệ rất dễ có cảm giác lạnh.
Điều khoản -Cấp tổ chức-Nhiệm vụ-Kỷ luật-Quyền hạn-Trách nhiệm.
Nhưng hãy thử hiểu bằng một cách khác, mỗi điều khoản là câu trả lời cho một vấn đề mà những người trẻ ấy đã gặp phải. Nếu quy định giữ bí mật, nghĩa là họ biết nguy cơ bị phát hiện là có thật. Nếu quy định về kỷ luật, nghĩa là họ hiểu rằng một cá nhân hành động tùy tiện có thể làm nguy hiểm đến cả mạng lưới. Nếu có phân công, nghĩa là họ đã bắt đầu nghĩ về một tổ chức lớn hơn nhóm bạn bè ban đầu. Nếu có cơ chế truyền đạt, nghĩa là họ đã hình dung một lực lượng không còn chỉ nằm trong một căn phòng ở Hà Nội. Đó là lúc lý tưởng bắt đầu mang hình hài của tổ chức.
3. NHƯNG TỔ CHỨC BÍ MẬT CÓ MỘT NGHỊCH LÝ
Đây là một trong những vấn đề thú vị nhất của VNQDĐ. Một tổ chức muốn giải phóng dân tộc phải cần sự tham gia của nhiều người, nhưng càng nhiều người biết, nguy cơ bị phát hiện càng lớn.
Muốn dân chúng tham gia thì phải mở, bảo toàn tổ chức thì phải kín, có kỷ luật thì phải tập trung, và có dân quyền thì phải có sự tham gia. Đó là một nghịch lý thực sự.
Không thể dùng tiêu chuẩn của một chính đảng hoạt động công khai trong một nhà nước pháp quyền hiện đại để đơn giản phán xét một tổ chức hoạt động bí mật dưới chế độ thuộc địa.
Nhưng cũng không nên vì hoàn cảnh ấy mà bỏ qua câu hỏi một tổ chức bí mật làm thế nào để bảo đảm rằng kỷ luật không biến thành sự phục tùng mù quáng? Đây là câu hỏi không chỉ thuộc về VNQDĐ. Nó thuộc về mọi tổ chức chính trị, và xa hơn nữa, thuộc về bài toán quan hệ giữa tổ chức – quyền lực – cá nhân.
4. TỪ NAM ĐỒNG ĐẾN MỘT MẠNG LƯỚI RỘNG HƠN
Nam Đồng thư xã là một không gian quan trọng của sách và tư tưởng, nhưng một nhà xuất bản không thể tự nó trở thành một chính đảng.
Phải có thêm một bước con người tìm đến nhau. Các nghiên cứu về VNQDĐ cho thấy tổ chức này mở rộng liên hệ ra nhiều địa phương và tìm cách kết nối với những nhóm chính trị khác trong thời kỳ 1927–1929. Quá trình ấy diễn ra trong một môi trường chính trị mà đến cuối năm 1928 đã xuất hiện nhiều nhóm cách mạng ở cả ba miền. Đây là thời kỳ mà bản đồ chính trị Việt Nam đang thay đổi rất nhanh. Không còn chỉ có một con đường duy nhất. Có những người theo khuynh hướng quốc gia. Có những người tìm đến chủ nghĩa cộng sản. Có những nhóm chịu ảnh hưởng của Tôn Trung Sơn. Có những người xuất phát từ tư tưởng cải cách. Có những người đang tìm cách kết hợp nhiều nguồn tư tưởng.
Thanh niên Việt Nam bước vào một thời kỳ mà chính trị trở thành một thế giới lựa chọn.
5. MỘT NGƯỜI TRẺ PHẢI CHỌN CON ĐƯỜNG NÀO?
Hãy thử tưởng tượng mình là một thanh niên Việt Nam năm 1928. Biết được nhiều thứ hơn thế hệ cha ông, biết thế giới đang thay đổi, biết Trung Hoa đã có cách mạng, nghe về nước Nga, biết những cuộc tranh luận về dân chủ, chủ nghĩa xã hội, dân tộc và thuộc địa.
Bạn nhìn thấy trong xã hội những người Pháp có quyền lực mà người Việt không có, cũng nhìn thấy sự nghèo khó của đồng bào. Bạn có thể chọn sống yên ổn. Đi tìm một nghề, lập gia đình, tránh xa chính trị hoặc bạn có thể bước vào một tổ chức. Nhưng một khi bước vào, cuộc đời sẽ không còn hoàn toàn thuộc về riêng mình. Đó là cái giá đầu tiên của lý tưởng. Lý tưởng làm cho đời người rộng hơn, nhưng cũng làm cho trách nhiệm nặng hơn.
6. VÀ ĐÂY LÀ ĐIỀU TUỔI TRẺ HÔM NAY CẦN SUY NGHĨ
Ngày nay, một người trẻ không nhất thiết phải lựa chọn giữa “sống bình thường” và “dấn thân cách mạng”. Hoàn cảnh đã khác hoàn toàn.
Nhưng một lựa chọn khác vẫn tồn tại sống chỉ để tiêu dùng những gì xã hội tạo ra, hay trở thành người góp phần tạo ra những giá trị mới? Một người trẻ có thể dành nhiều năm để xây dựng sự nghiệp cá nhân., hoàn toàn chính đáng.
Nhưng nếu tất cả năng lượng của một thế hệ chỉ xoay quanh kiếm tiền, mua nhà, du lịch, giải trí, hình ảnh cá nhân, sự nổi tiếng, những tranh cãi nhất thời, thì một câu hỏi vẫn cần được đặt ra ai sẽ nghĩ về những vấn đề lớn hơn, nghiên cứu giáo dục, làm khoa học, xây dựng doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh quốc tế, cải tiến pháp luật, bảo vệ môi trường, viết những cuốn sách mà hai mươi năm sau người khác vẫn cần đọc, nghĩ về Việt Nam của năm 2050? Không phải tất cả người trẻ đều phải làm tất cả những việc đó.
Nhưng một xã hội cần một tỷ lệ đủ lớn những người trẻ chịu nghĩ về những việc vượt quá lợi ích trước mắt của chính mình.
7. LÝ TƯỞNG CỦA HỌ CÓ GÌ KHÁC VỚI “ĐAM MÊ” HÔM NAY?
Ngày nay ta thường nói nhiều về “đam mê”. Hãy làm điều mình thích, thành công, lời ấy không sai. Nhưng chúng chủ yếu trả lời câu hỏi “Tôi muốn gì?”. Lý tưởng đặt thêm một câu hỏi “Tôi muốn đóng góp điều gì?” Hai câu hỏi ấy không loại trừ nhau.
Một người có thể vừa thành công trong nghề nghiệp, vừa đóng góp cho đất nước. Một nhà khoa học có thể theo đuổi công trình của mình và đồng thời mở ra năng lực mới cho quốc gia. Một doanh nhân có thể làm giàu và tạo việc làm, công nghệ, sản phẩm. Một giáo viên có thể làm thay đổi hàng nghìn cuộc đời mà không bao giờ xuất hiện trên truyền thông. Một nhà văn có thể giúp một thế hệ hiểu mình là ai.
Lý tưởng không nhất thiết phải là một khẩu hiệu chính trị, là khi thành công của cá nhân bắt đầu gắn với một giá trị lớn hơn cá nhân.
8. VNQDĐ VÀ BÀI TOÁN NIỀM TIN
Một tổ chức bí mật không thể tồn tại nếu những người bên trong không tin nhau. Đây là thứ rất khó xây dựng.
Tiền có thể kiếm. Tài liệu có thể in. Một khẩu hiệu có thể viết. Nhưng niềm tin phải được tích lũy. Một người giới thiệu một người khác.
Một người giao cho người kia một bí mật, chấp nhận chịu trách nhiệm cho một người khác.Từng mối quan hệ như vậy tạo nên mạng lưới. Nhưng mạng lưới càng lớn, bài toán niềm tin càng khó. Đó là lý do tổ chức không chỉ cần lý tưởng. Nó cần văn hóa tổ chức, trách nhiệm, kỷ luật, cơ chế xử lý bất đồng và cần khả năng phân biệt giữa trung thành với mục tiêu và phục tùng một cá nhân.
Đây là bài học có giá trị vượt xa câu chuyện VNQDĐ.
9. DÂN KHÍ KHÔNG CHỈ LÀ DÁM CHẾT
Khi đọc về những người trẻ VNQDĐ, chúng ta rất dễ bị cuốn vào hình ảnh cuối cùng của họ: những người bước lên đoạn đầu đài, nhưng nếu chỉ nhìn thấy cái chết, chúng ta sẽ bỏ qua một phần quan trọng hơn: họ đã sống như thế nào trước khi chết.
Họ đã học, tranh luận, tổ chức. đi gặp người này, người kia, tìm cách gây dựng lực lượng, thử nghiệm, thất vọng, hy vọng, nhiều lần phải lựa chọn. Đó mới là toàn bộ đời sống của một người trẻ có lý tưởng.
Vì vậy, Dân Khí không nên được hiểu đơn giản là “Dám hy sinh.” mà còn là dám học, dám nghĩ, dám chịu trách nhiệm, dám làm việc lâu dài và dám đứng về phía điều mình tin là đúng ngay cả khi chưa có ai bảo đảm thành công. Nếu chỉ dám chết mà không biết xây dựng, đó chưa phải sức mạnh hoàn chỉnh của một dân tộc.
10. NGƯỜI TRẺ HÔM NAY CÓ CẦN “LÝ TƯỞNG” KHÔNG?
Có lẽ câu hỏi nên đặt nhẹ hơn.
“Tuổi trẻ hôm nay có lý tưởng hay không?”, câu hỏi ấy dễ biến thành một lời phán xét, mà nên hỏi “Tuổi trẻ hôm nay đang dành những năm tháng đẹp nhất của mình cho những điều gì?”
Câu trả lời sẽ khác nhau, có người dành cho gia đình, dành cho khoa học, cho kinh doanh, cho nghệ thuật, cho cộng đồng, chỉ muốn sống bình yên. Tất cả đều có chỗ trong một xã hội tự do. Nhưng bên cạnh những lựa chọn ấy, một quốc gia muốn đi xa vẫn cần những người trẻ dám đặt câu hỏi lớn Việt Nam sẽ đứng ở đâu trong thế giới?
Chúng ta sẽ tạo ra giá trị gì, con người Việt Nam sẽ được giáo dục như thế nào, nhà nước sẽ phục vụ người dân ra sao? Làm thế nào để một dân tộc hơn một trăm triệu người có thể trở thành một xã hội có tri thức, có năng lực và có phẩm giá? Đó là những câu hỏi mà nếu tuổi trẻ không hỏi, lịch sử sẽ không tự trả lời thay chúng ta.
11. PHẢN ĐỀ: ĐỪNG BIẾN QUÁ KHỨ THÀNH MỘT CÂU CHUYỆN ĐẠO ĐỨC ĐƠN GIẢN
Cũng cần tránh một sai lầm khác.
Không phải cứ người trẻ ngày xưa là lý tưởng hơn người trẻ ngày nay.
Hoàn cảnh , cơ hội, thử thách khác nhau. Một người trẻ năm 1928 có thể phải đối diện với những nguy cơ mà người trẻ hôm nay không phải đối diện. Ngược lại, người trẻ hôm nay phải đối diện với những thách thức mà người năm 1928 không thể tưởng tượng: AI, biến đổi khí hậu., kinh tế số, cạnh tranh công nghệ, già hóa dân số, di cư nhân lực., chiến tranh thông tin., khủng hoảng niềm tin. thế giới đa cực.
Những thử thách ấy không thể giải quyết bằng lòng can đảm đơn thuần. Chúng đòi hỏi tri thức ở mức cao hơn. Vì vậy, nếu thế hệ hôm nay muốn tiếp nối tinh thần của những người mở đường, điều cần kế thừa không phải là phương thức hành động của họ, mà là khả năng nhìn thấy một vấn đề lớn hơn bản thân và dám dành một phần đời mình để giải quyết nó.
12. HƯNG QUỐC HỌC: BIẾN TUỔI TRẺ THÀNH VỐN CỦA QUỐC GIA
Từ đây, Hưng Quốc Học đặt ra một câu hỏi:
Một quốc gia mạnh bắt đầu từ đâu?
Không chỉ từ tài nguyên, từ vốn,từ quân đội, từ nhà nước. Nó bắt đầu từ con người. Một thế hệ trẻ có: Dân Trí để hiểu thế giới. Dân Khí để không đầu hàng hoàn cảnh. Dân Đức để biết tự giới hạn quyền lợi cá nhân. Dân Tài để tạo ra giá trị. Dân Lực để hợp tác và biến ý tưởng thành kết quả.
Nhưng còn một điều nữa: Dân Chí, là khả năng của một cộng đồng trong việc trả lời “Chúng ta muốn trở thành dân tộc như thế nào?” Nếu mỗi cá nhân chỉ có một ước muốn riêng mà không có bất kỳ ý thức nào về tương lai chung, quốc gia khó hình thành một hướng đi dài hạn.
Nhưng Dân Chí cũng không thể được áp đặt từ trên xuống. Nó phải được hình thành qua giáo dục, tranh luận, trải nghiệm, tự do suy nghĩ và sự tham gia của người dân. Đó là điểm khác biệt giữa lý tưởng của một nhóm và khát vọng của một dân tộc.
13. TỪ NHỮNG CĂN PHÒNG NHỎ ĐẾN CÂU HỎI LỚN CỦA MỘT DÂN TỘC
Có thể những căn phòng nơi những thanh niên ấy gặp nhau rất nhỏ, hưng câu hỏi họ đặt ra thì rất lớn. Một đất nước có thể được tự quyết không? Một dân tộc có thể tự đứng lên không? Một xã hội có thể thay đổi không? Những câu hỏi ấy khiến một số người trẻ bước ra khỏi đời sống riêng. Đó là điều đáng trân trọng.
Nhưng lịch sử không yêu cầu chúng ta phải sống lại năm 1927. Lịch sử chỉ hỏi Thời đại của các bạn đang đặt ra câu hỏi gì? và các bạn có đủ can đảm để trả lời không?
14. NHỮNG NGƯỜI MỞ ĐƯỜNG VÀ NGƯỜI ĐI SAU
Có thể những người VNQDĐ không xây dựng được quốc gia mà họ mơ ước, nhưng họ đã để lại một thứ không dễ đo bằng số liệu một chuẩn mực của sự dấn thân. Họ cho thấy một người trẻ có thể coi vận mệnh đất nước là một phần của đời mình. Thế hệ sau không cần lặp lại cách họ đã làm.
Thậm chí phải làm khác, phải chuẩn bị tốt hơn, hiểu thế giới sâu hơn, xây dựng thể chế tốt hơn, coi trọng năng lực hơn. Phải biết rằng lòng yêu nước không thể chỉ được đo bằng mức độ hy sinh, mà còn phải được đo bằng khả năng tạo ra một tương lai tốt hơn cho người đang sống và người sẽ sinh ra sau mình. Đó là bước trưởng thành của lòng yêu nước.
15. KẾT: MỘT THẾ HỆ ĐƯỢC ĐO BẰNG NHỮNG CÂU HỎI NÓ DÁM ĐẶT RA
Một thế hệ không chỉ được nhớ bởi những gì nó tiêu thụ. Nó còn được nhớ bởi những gì nó tạo ra. Không chỉ bởi những gì nó sở hữu, mà bởi những gì nó để lại. Không chỉ bởi những người nổi tiếng trong thế hệ ấy, mà bởi những con người âm thầm xây dựng những nền móng mà thế hệ sau tiếp tục sử dụng.
Những người trẻ VNQDĐ đã đặt một câu hỏi rất lớn trong hoàn cảnh của họ bao giờ người Việt Nam có thể tự quyết định vận mệnh của mình? Câu hỏi ấy đã khiến họ bước vào tổ chức, mà nó đưa họ vào thử thách, rồi thử thách đưa họ đến những lựa chọn ngày càng khắc nghiệt.
Và cuối cùng, nhiều người trong số họ đã trả giá bằng mạng sống.
Nhưng câu hỏi ấy không chết cùng họ, mà tiếp tục sống trong lịch sử Việt Nam.
Ngày hôm nay, câu hỏi có thể đổi khác Việt Nam muốn trở thành một quốc gia như thế nào trong thế kỷ XXI? Và câu hỏi ấy không thể chỉ giao cho nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học hay một nhóm nhỏ những người có quyền lực. Nó phải trở thành một phần của suy nghĩ của mỗi thế hệ. Đặc biệt là tuổi trẻ.
Bởi tuổi trẻ không chỉ là khoảng thời gian đẹp nhất của đời người. Tuổi trẻ còn là khoảng thời gian một con người có nhiều khả năng nhất để lựa chọn mình sẽ trở thành ai. Những người năm 1927 đã dùng tuổi trẻ của họ để mở một con đường.
Tuổi trẻ không cần đi lại con đường ấy, nhưng chúng ta cần tự hỏi nếu họ đã dám mơ về một Việt Nam chưa tồn tại, thì chúng ta hôm nay có dám mơ về một Việt Nam mà chính mình chưa từng thấy hay không? Khó hơn nữa chúng ta có dám dành những năm tháng của mình để biến giấc mơ ấy thành hiện thực hay không? Đó mới là câu hỏi mà những người mở đường gửi lại.
QUY LUẬT CỦA CHƯƠNG
Lý tưởng phải đi vào tổ chức. Tổ chức phải đi vào năng lực. Năng lực phải đi vào kết quả. Kết quả phải trở thành nền tảng cho thế hệ sau.
Và người trước để lại con đường; người sau phải để lại một con đường tốt hơn.
PHẢN ĐỀ CUỐI CHƯƠNG
Một tuổi trẻ chỉ có ước mơ mà không có năng lực sẽ dễ thất vọng.
Một tuổi trẻ chỉ có năng lực mà không có lý tưởng sẽ dễ thành công cho riêng mình nhưng khó tạo ra sức mạnh chung.
Một quốc gia trưởng thành cần cả hai: những con người có năng lực và những con người biết mình muốn dùng năng lực ấy để làm gì.
Chương 6 từ đây đã đặt được một đường dây cảm xúc mới cho toàn bộ phần sau: càng đi đến khủng hoảng và Yên Bái, ta càng thấy rõ rằng họ không chỉ là “những nhân vật lịch sử”, mà trước hết là những người trẻ từng có một tương lai riêng và đã lựa chọn đặt một phần tương lai ấy vào vận mệnh đất nước.
Hoàng Phong Nhã


20:39
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Đăng nhận xét