CHƯƠNG I
VŨNG LIÊM – SÀI GÒN: MỘT CON NGƯỜI ĐƯỢC HÌNH THÀNH
Có những con người chỉ có thể hiểu được khi đặt họ trở lại đúng nơi họ đã sinh ra.
Với Võ Văn Kiệt, nơi ấy là Vũng Liêm.
Không phải Sài Gòn của những năm ông đứng đầu thành phố. Không phải Hà Nội của những năm ông ở trung ương. Cũng chưa phải người đứng đầu Chính phủ, người được biết đến với những quyết định lớn của thời kỳ Đổi mới.
Đó là một vùng quê ở Vĩnh Long, giữa đồng bằng sông Cửu Long, nơi một cậu bé tên Phan Văn Hòa sinh ngày 23 tháng 11 năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo.
Các tiểu sử chính thức thống nhất ngày sinh 23/11/1922, tên khai sinh Phan Văn Hòa, quê Trung Hiệp, Vũng Liêm, Vĩnh Long. Một số tài liệu hồi ký chính thức xuất bản năm 2012 lại ghi ngày 28/11/1922; đây là một sai khác tư liệu cần được ghi nhận, thay vì âm thầm bỏ qua. Trong nghiên cứu này, chúng ta sử dụng ngày 23/11/1922 vì đây là ngày được các tiểu sử chính thức và nhiều nguồn tưởng niệm sau đó thống nhất.
Nhưng ngày sinh không giải thích được một con người. Câu hỏi đáng quan tâm hơn là điều gì đã thôi thúc một thanh niên Nam Bộ mới mười sáu tuổi bước vào hoạt động cách mạng?
Và câu hỏi quan trọng hơn nữa một người bước vào đời bằng con đường cách mạng bí mật, tổ chức và đấu tranh vũ trang sẽ được hình thành như thế nào trước khi trở thành một nhà quản trị quốc gia? Đó là câu hỏi đầu tiên của cuốn sách này.
1. Vũng Liêm trước khi có “Sáu Dân”
Võ Văn Kiệt sinh ra với tên Phan Văn Hòa. Cái tên Võ Văn Kiệt chỉ trở thành một cái tên lịch sử về sau.
Ở tuổi thiếu niên, ông chưa phải là “Võ Văn Kiệt” của những công trình lớn. Ông là một thanh niên của Vũng Liêm, trong một xã hội thuộc địa, nơi đời sống nông thôn chịu sự chi phối của chính quyền thực dân và tầng lớp quan lại, hào lý địa phương.
Các nguồn chính thức thường mô tả quê hương ông như một vùng đất có truyền thống yêu nước và chống áp bức. Cách mô tả ấy có giá trị trong việc ghi nhận ký ức chính trị của địa phương, nhưng đối với nghiên cứu lịch sử, không nên biến nó thành một lời giải thích duy nhất.
Bởi vì không phải cứ sinh ra ở một vùng đất có truyền thống đấu tranh thì một người nhất định sẽ trở thành nhà cách mạng. Giữa hoàn cảnh xã hội và lựa chọn của cá nhân vẫn còn một khoảng cách. Khoảng cách ấy chính là nơi cần nghiên cứu.
Năm 1938, khi mới 16 tuổi, Phan Văn Hòa tham gia phong trào Thanh niên phản đế. Năm 1939, ở tuổi 17, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến năm 1940, ông đã giữ vị trí Bí thư Chi bộ xã Trung Hiệp, Huyện ủy viên huyện Vũng Liêm và tham gia cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ.
Chỉ trong khoảng hai năm, một thiếu niên đã đi qua một quãng đường chính trị rất dài. Đây là điều cần dừng lại. Không chỉ kể 16 tuổi tham gia cách mạng, 17 tuổi vào Đảng, 18 tuổi lãnh đạo khởi nghĩa. Nếu kể như vậy, lịch sử lập tức biến thành một đường thẳng, nhưng lịch sử thật không bao giờ đơn giản như thế.
2. Mười sáu tuổi: bước vào chính trị
Năm 1938, Phan Văn Hòa tham gia Thanh niên phản đế.
Đó là thời kỳ tình hình chính trị Đông Dương thay đổi nhanh chóng. Những tổ chức quần chúng, phong trào chống thực dân, hoạt động bí mật và công khai đan xen nhau; sau khi chính phủ Mặt trận Bình dân ở Pháp sụp đổ, chính sách đàn áp tại Đông Dương cũng trở nên gay gắt hơn. Những hoạt động chính trị tiến bộ bị kiểm soát và nhiều cán bộ bị bắt.
Trong bối cảnh ấy, việc một thanh niên 16 tuổi bước vào một tổ chức chính trị không chỉ là chuyện của riêng cá nhân. Nó phản ánh một thế hệ.
Thế hệ ấy lớn lên trong một thế giới mà chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cộng sản, phong trào công nhân và những cuộc đấu tranh chống phát xít đang cùng tồn tại và cạnh tranh ảnh hưởng.
Một thanh niên Nam Bộ lúc đó không có điều kiện tiếp cận thế giới giống một trí thức Việt Nam được đào tạo ở Paris hay Hà Nội. Nhưng điều đó không có nghĩa anh ta đứng ngoài lịch sử thế giới.
Lịch sử đi vào làng quê thông qua báo chí, truyền miệng, tổ chức chính trị, những người hoạt động bí mật, những cuộc bắt bớ và đặc biệt là qua những bất công mà người dân trực tiếp trải nghiệm. Đây có thể là một trong những chìa khóa để hiểu thế hệ của Võ Văn Kiệt. Chính trị không đến với họ trước hết bằng lý thuyết. Chính trị đến bằng đời sống.
3. Từ thanh niên đến người của tổ chức
Tháng 11 năm 1939, Phan Văn Hòa được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Các tài liệu chính thức ghi rằng sau đó ông làm Bí thư Chi bộ và Huyện ủy viên huyện Vũng Liêm. Đây là bước chuyển quan trọng. Một thanh niên hoạt động phong trào trở thành một người của tổ chức, và điều này có ý nghĩa rất lớn khi chúng ta nghiên cứu Võ Văn Kiệt về sau.
Bởi vì người ta thường nhắc đến ông như một người “thực tế”, “dám làm”, “phá rào”, “dám chịu trách nhiệm”.
Nhưng trước khi trở thành người có khả năng hành động mạnh mẽ trong quản trị kinh tế, ông đã trải qua hàng chục năm trong một hệ thống đòi hỏi tổ chức; kỷ luật; bí mật; phục tùng quyết định chung; xây dựng lực lượng; vận động quần chúng; xử lý tình huống thực tế; và quan trọng nhất: sống trong điều kiện mà một quyết định sai có thể trả giá bằng tù đày hoặc tính mạng.
Đây là một nghịch lý rất đáng nghiên cứu.
Một con người sau này nổi tiếng vì khả năng tháo bỏ những rào cản của cơ chế lại được hình thành rất sâu trong một hệ thống có tính tổ chức và kỷ luật cao.
Không thể hiểu Võ Văn Kiệt nếu chỉ nhìn ông như một “nhà cải cách”.
Phải nhìn ông trước hết như một con người của tổ chức cách mạng, rồi mới hỏi vì sao trong một giai đoạn lịch sử nhất định, ông lại trở thành một trong những người thúc đẩy sự thay đổi của chính cơ chế mà mình đã được đào tạo trong đó.
4. Năm 1940: Võ Văn Kiệt và một cuộc khởi nghĩa chưa thể thắng
Tháng 11 năm 1940, Phan Văn Hòa mới 18 tuổi. Ông tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa Nam Kỳ tại Vũng Liêm. Nhưng đây là chỗ chúng ta cần thoát khỏi cách kể lịch sử chỉ nhìn từ kết quả cuối cùng.
Khởi nghĩa Nam Kỳ không phải một chiến thắng quân sự. Hơn nữa, đây là một cuộc khởi nghĩa mà ngay trong nội bộ lãnh đạo cách mạng đã tồn tại vấn đề về thời điểm phát động.
Tại Hội nghị Trung ương tháng 11 năm 1940, Trung ương nhận định điều kiện khởi nghĩa ở Nam Kỳ và trong cả nước chưa chín muồi, đồng thời đề nghị Xứ ủy Nam Kỳ hoãn khởi nghĩa. Phan Đăng Lưu được cử trở lại để truyền đạt quyết định, nhưng khi ông về tới Sài Gòn thì đã bị bắt; mệnh lệnh khởi nghĩa đã được truyền đi và không thể thu hồi.
Đêm 22 rạng sáng 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra ở nhiều địa phương Nam Bộ.
Vũng Liêm là một trong những nơi phong trào diễn ra mạnh.
Các tư liệu địa phương ghi nhận lực lượng khởi nghĩa đã đánh chiếm một số cơ sở của chính quyền thuộc địa tại quận Vũng Liêm, thu được vũ khí và phá hủy hồ sơ; sau đó quân Pháp phản công với lực lượng vượt trội, buộc nghĩa quân phải rút lui và phân tán.
Điều đáng chú ý là trong các nguồn về Vũng Liêm, vai trò lãnh đạo cấp huyện được gắn với Nguyễn Thị Hồng, Bí thư Quận ủy Vũng Liêm, trong khi Phan Văn Hòa/Võ Văn Kiệt là một trong những cán bộ tham gia lãnh đạo ở địa bàn. Chi tiết này quan trọng, vì nó giúp chúng ta tránh một sai lầm rất phổ biến đẩy một nhân vật về sau trở thành nổi tiếng lên vị trí trung tâm của mọi sự kiện thời trẻ.
Võ Văn Kiệt có mặt trong cuộc khởi nghĩa, nhưng ông không phải là người duy nhất làm nên cuộc khởi nghĩa Vũng Liêm, và lịch sử Vũng Liêm năm 1940 không nên bị biến thành câu chuyện riêng về Võ Văn Kiệt.
5. Bài học đầu tiên: một thất bại cũng là một trường học chính trị
Nam Kỳ khởi nghĩa thất bại.
Thực dân Pháp tiến hành đàn áp, bắt bớ và khủng bố những người tham gia.
Sau cuộc khởi nghĩa, theo sự phân công của tổ chức, Võ Văn Kiệt rời Vũng Liêm, chuyển về vùng U Minh thuộc Rạch Giá. Các nguồn chính thức ghi rằng từ năm 1941 đến 1945, ông tham gia Tỉnh ủy Rạch Giá, xây dựng lực lượng và bảo vệ căn cứ U Minh.
Đây là một bước ngoặt.
Vũng Liêm cho ông kinh nghiệm của một cuộc nổi dậy. U Minh cho ông một loại kinh nghiệm khác xây dựng lực lượng trong thời gian dài. Một cuộc khởi nghĩa có thể được quyết định trong một đêm, nhưng một căn cứ không thể xây dựng trong một đêm. Một lực lượng không thể hình thành trong một đêm. Niềm tin của dân chúng cũng không thể có được chỉ bằng khẩu hiệu.
Các tài liệu về giai đoạn U Minh cho biết công việc lúc đó bao gồm xây dựng lực lượng, huấn luyện cán bộ, xây dựng du kích, sản xuất vũ khí và bảo vệ căn cứ trong điều kiện thường xuyên bị đối phương truy quét.
Nếu nhìn từ lịch sử sau này, đây có thể là một trường học đặc biệt đối với Võ Văn Kiệt. Bởi vì ông không chỉ học cách đánh. Ông học cách tổ chức – huy động – bảo vệ – duy trì – thích ứng. Đó là những năng lực rất khác nhau.
Và nhiều năm sau, khi bước vào quản trị kinh tế, những năng lực ấy sẽ xuất hiện dưới một hình thức khác. Không còn là căn cứ, là du kích, là chiến tranh, mà là lương thực, điện, sản xuất, doanh nghiệp, ngân sách, giao thông, đô thị và đời sống dân chúng.
6. U Minh: một trường học khác với Vũng Liêm
Nếu Vũng Liêm dạy người thanh niên về khởi nghĩa, thì U Minh có thể đã dạy ông về tổ chức thực tiễn. Tất nhiên, không thể từ đó kết luận rằng chính U Minh đã trực tiếp tạo nên tư duy cải cách kinh tế của Võ Văn Kiệt sau này. Đó sẽ là cách suy diễn hồi cố.
Nhưng chúng ta có quyền đặt câu hỏi.
Một người từng sống nhiều năm trong điều kiện thiếu thốn, bị truy lùng, phải dựa vào dân, phải xây dựng lực lượng từ những nguồn lực rất hạn chế, liệu có hình thành một cách nhìn đặc biệt về quan hệ giữa mục tiêu và phương tiện, giữa mệnh lệnh và thực tế, giữa tổ chức và con người?
Câu hỏi này đáng để theo dõi suốt cuốn sách.
Bởi vì một trong những đặc điểm thường được nhắc đến khi nói về Võ Văn Kiệt sau này là ông quan tâm đến việc cái gì có thể làm được trong thực tế.
Nhưng khả năng ấy không nhất thiết xuất hiện đột ngột vào thời Đổi mới. Có thể nó được hình thành qua nhiều thập niên, nó bắt đầu từ những năm chiến tranh, còn bắt đầu sớm hơn, từ một cậu bé phải sống trong hoàn cảnh khó khăn.
Nhưng ở đây chúng ta phải giữ một nguyên tắc đặt câu hỏi về sự hình thành, nhưng không được biến giả thuyết thành sự thật.
7. Võ Văn Kiệt và những người cùng thế hệ
Đây là điểm cuốn sách này muốn khác với một tiểu sử thông thường. Không nên đặt Võ Văn Kiệt một mình. Ông thuộc về một thế hệ.
Cùng thời với ông có những người sau này trở thành những nhân vật rất khác nhau: Lê Duẩn, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Trường Chinh, Đỗ Mười, Nguyễn Cơ Thạch, và nhiều cán bộ Nam Bộ khác.
Họ không có cùng xuất phát điểm , trải nghiệm và quan trọng nhất họ không phải lúc nào cũng nhìn một vấn đề theo cùng một cách.Võ Văn Kiệt sinh năm 1922.Phạm Hùng sinh năm 1912.Lê Duẩn sinh năm 1907.Trường Chinh sinh năm 1907.Nguyễn Văn Linh sinh năm 1915. Đỗ Mười sinh năm 1917.
Như vậy, Võ Văn Kiệt thuộc lớp trẻ hơn một số nhân vật chủ chốt trong thế hệ lãnh đạo cách mạng.
Điều này có thể giúp giải thích một phần về vị trí của ông trong hệ thống sau này, nhưng cũng không nên biến tuổi tác thành lời giải thích cho tư tưởng. Đáng nghiên cứu hơn là kinh nghiệm chính trị khác nhau đã tạo ra những cách tiếp cận khác nhau như thế nào.
Lê Duẩn trưởng thành qua phong trào cách mạng Trung Kỳ và Nam Kỳ, rồi trở thành một trong những nhân vật trung tâm của cách mạng Việt Nam.
Phạm Hùng trưởng thành từ phong trào cách mạng Nam Bộ, trải qua tù đày và chiến tranh, sau này trở thành một trong những nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Nguyễn Văn Linh có một hành trình đặc biệt với Sài Gòn – Gia Định. Trường Chinh gắn với công tác lý luận, tổ chức và lãnh đạo ở cấp trung ương. Đỗ Mười có một con đường khác nữa, gắn với tổ chức, công nghiệp, quản lý kinh tế và lãnh đạo trung ương.
Nguyễn Cơ Thạch lại nổi bật trong lĩnh vực ngoại giao và tư duy đối ngoại.
Còn Võ Văn Kiệt trải qua một phần rất dài của cuộc đời chính trị trong không gian Nam Bộ, đặc biệt là Sài Gòn – Gia Định và Tây Nam Bộ. Chính sự khác biệt về trải nghiệm sẽ trở thành một trong những chủ đề chính của cuốn sách.
8. Một câu hỏi cần để dành
Có một điều rất dễ làm người viết lịch sử mắc sai lầm, là nhìn một con người ở tuổi 70 rồi quay lại giải thích người ấy ở tuổi 17. Như Võ Văn Kiệt sau này là người thúc đẩy cải cách. Vậy có thể nói rằng ngay từ tuổi trẻ ông đã là một “nhà cải cách”. Không. Đó là một kết luận quá sớm.
Ở tuổi 17, ông là một người cộng sản trẻ tuổi. Ông bước vào một tổ chức cách mạng với mục tiêu đấu tranh chống chế độ thuộc địa và giành chính quyền. Ông không phải một nhà kinh tế cải cách.Không có lý do để áp tư duy của thập niên 1990 lên một thanh niên của năm 1939. Đây chính là nguyên tắc quan trọng của cuốn sách.
Không dùng Võ Văn Kiệt của ngày hôm qua để giải thích Võ Văn Kiệt của ngày hôm nay; và cũng không dùng Võ Văn Kiệt của ngày hôm nay để viết lại Võ Văn Kiệt của ngày hôm qua. Muốn hiểu một con người, phải để họ sống trong đúng thời đại của mình.
9. Nhưng có một sợi chỉ xuyên suốt
Dù không được phép suy diễn hồi cố, vẫn có thể nhận ra một câu hỏi xuất hiện nhiều lần trong cuộc đời Võ Văn Kiệt làm thế nào để biến một mục tiêu chính trị thành một khả năng thực tế?
Năm 1940, vấn đề là làm thế nào biến ý chí khởi nghĩa thành khả năng giành chính quyền. U Minh, là làm thế nào biến một phong trào thành lực lượng có tổ chức. Chiến tranh, vấn đề là làm thế nào biến một địa bàn dân cư thành hậu phương và căn cứ.
Sài Gòn sau 1975, vấn đề sẽ là làm thế nào biến một nền kinh tế đang vận hành theo những điều kiện mới thành một hệ thống có thể tồn tại. Đổi mới, vấn đề là làm thế nào để những điều đang diễn ra trong đời sống được phản ánh vào chính sách.
Và về cuối đời, câu hỏi lớn hơn xuất hiện làm thế nào để những thay đổi không còn phụ thuộc vào một vài cá nhân? Đây chính là điểm mà cuốn sách sẽ quay lại nhiều lần.
Bởi vì “phá rào” có thể là một hành động cần thiết trong một thời điểm, nhưng một quốc gia không thể được quản trị lâu dài bằng những người liên tục phá rào. Nếu một người phải phá luật để làm điều đúng, thì vấn đề không chỉ nằm ở người phá rào.
Có thể cái cần sửa chính là cái rào, và nếu đã sửa cái rào, bước tiếp theo phải là xây dựng một hệ thống mà người kế nhiệm không cần phải phá nữa.
10. Từ Vũng Liêm đến Sài Gòn: con đường chưa kết thúc
Sau năm 1945, con đường của Võ Văn Kiệt tiếp tục qua Tây Nam Bộ, Bạc Liêu, Hậu Giang rồi Sài Gòn – Gia Định.
Đến những năm chiến tranh chống Mỹ, ông trở thành một trong những cán bộ quan trọng của cách mạng tại Nam Bộ. Năm 1960, ông được điều về Sài Gòn – Chợ Lớn và sau đó gắn bó lâu dài với địa bàn Sài Gòn – Gia Định. Các tài liệu chính thức ghi nhận ông giữ vai trò lãnh đạo tại khu vực này trong một thời gian dài, trực tiếp gắn với việc tổ chức lực lượng chính trị và vũ trang tại đô thị và vùng ven.
Nhưng đó là câu chuyện của những chương sau.
Điều chúng ta cần giữ lại ở cuối chương này không phải là hình ảnh một “nhà lãnh đạo xuất chúng” đã được định sẵn từ năm 1938.
Mà là hình ảnh một thanh niên16 tuổi bước vào phong trào. 17 tuổi bước vào tổ chức. 18 tuổi bước vào một cuộc khởi nghĩa. Sau thất bại, đi vào U Minh. Rồi đi vào chiến tranh. Từ chiến tranh đi vào Sài Gòn, và từ Sài Gòn nhiều năm sau đi vào bài toán quản trị quốc gia.
Con đường ấy không phải một đường thẳng. Nó có thắng lợi và thất bại.
Có những quyết định đúng, điều ông làm được và cũng có những điều ông không làm được. Chính vì vậy, Đối thoại với Võ Văn Kiệt không bắt đầu bằng câu hỏi “Ông có phải một nhà lãnh đạo tài giỏi hay không?” Câu hỏi ấy quá dễ.
Mà nên hỏi khó hơn là một con người được hình thành bởi chiến tranh, tổ chức và kỷ luật cách mạng đã thay đổi như thế nào khi phải đối diện với một đất nước sau chiến tranh, nơi đời sống thực tế bắt đầu đặt ra những câu hỏi mà những công thức cũ không còn trả lời được?
Muốn trả lời câu hỏi ấy, chúng ta phải đi tới Sài Gòn, nhưng trước khi tới Sài Gòn năm 1975, phải hiểu Sài Gòn trong con người Võ Văn Kiệt. Vì ông đã bước vào thành phố ấy từ chiến tranh, và nhiều năm sau, chính thành phố ấy sẽ trở thành nơi ông va chạm mạnh nhất với một vấn đề mới thực tiễn kinh tế không chịu đứng yên để chờ cơ chế.
Một con người không được hình thành chỉ bởi lý tưởng mà còn bởi cách họ đối diện với thực tế.
Võ Văn Kiệt của tuổi 18 chưa phải Võ Văn Kiệt của Đổi mới.
Nhưng những năm tháng đầu đời đã đặt ông vào một trường học đặc biệt thiếu thốn nguồn lực, áp lực sinh tồn, tổ chức chặt chẽ, phụ thuộc vào lòng dân và liên tục phải giải quyết những tình huống mà sách vở không thể giải quyết thay. Chúng ta chưa được phép gọi đó là “nguồn gốc của tư duy Đổi mới”. Chúng ta sẽ đặt nó vào hồ sơ theo dõi xem, qua những thập niên sau, cái gì được giữ lại, cái gì thay đổi và cái gì bị chính Võ Văn Kiệt vượt qua trong con người ông. Đó mới là đối thoại.
Hoàng Phong Nhã
Tư liệu gốc / hồi ký / phát biểu của Võ Văn Kiệt và người đương thời.
Tài liệu lưu trữ, nghiên cứu học thuật, sách chuyên khảo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO — CHƯƠNG I
1. Võ Văn Kiệt – Một nhân cách lớn; Nhà lãnh đạo tài năng; Suốt đời vì nước vì dân (Hồi ký).
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012.
Đây là nguồn hồi ký quan trọng để nghiên cứu chính lời kể, ký ức và cách những người đương thời nhìn lại Võ Văn Kiệt. Tuy nhiên, vì đây là tuyển tập hồi ký mang tính tưởng niệm chính thức, cần đối chiếu với các nguồn khác thay vì sử dụng như nguồn duy nhất.
2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long, Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Vĩnh Long (Ngày 23/11/1940).
Vĩnh Long, 2001.
Đáng chú ý vì sách có cả hồi ký “Một tuổi trẻ những năm 40” của Võ Văn Kiệt do Thép Mới ghi, cùng phần tự thuật của Nguyễn Thị Hồng về cuộc khởi nghĩa ở Vũng Liêm. �
Vinh Long Portal
3. Nguyễn Chiến Thắng, Chất ngọc Võ Văn Kiệt.
NXB Trẻ, 2022.
Nguồn này cung cấp nhiều chi tiết về tuổi trẻ và hoạt động của Phan Văn Hòa tại Vũng Liêm, nhưng những chi tiết hồi ức cá nhân cần được đối chiếu với tư liệu khác. �
Vinh Long Portal
4. Tư liệu của tỉnh Vĩnh Long về Khởi nghĩa Nam Kỳ 1940.
Đặc biệt là các tư liệu mô tả cơ cấu chỉ huy tại Vũng Liêm, nhiệm vụ của từng mũi khởi nghĩa và vai trò của Nguyễn Thị Hồng, Hồ Chí Thiện, Phan Văn Hòa cùng những cán bộ khác. �
Vinhlong Government +1
5. Tư liệu Thư viện tỉnh Vĩnh Long về tiểu sử Võ Văn Kiệt.
Nguồn này ghi ông được Tạ Uyên giới thiệu kết nạp Đảng tháng 11/1939; trong khởi nghĩa 1940 giữ vai trò Huyện ủy viên, Bí thư Chi bộ xã Trung Hiệp; sau đó được điều về U Minh và từ năm 1941 tham gia Tỉnh ủy Rạch Giá. �
Vinh Long Portal
6. Tư liệu chính thức về quá trình hoạt động tại U Minh, Rạch Giá.
Các nguồn địa phương ghi nhận giai đoạn 1941–1945 ông tham gia xây dựng lực lượng, bảo vệ căn cứ U Minh và hoạt động trong Tỉnh ủy Rạch Giá. �
Vinh Long Portal +1
Một nguyên tắc tôi đề nghị khóa cho toàn bộ cuốn sách
Cuối mỗi chương sẽ có:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
và nếu chương có tranh luận tư liệu, thêm:
GHI CHÚ VỀ NGUỒN VÀ NHỮNG ĐIỂM CÒN TRANH LUẬN
Như vậy, chúng ta không chỉ viết một cuốn sách về Võ Văn Kiệt, mà còn cho người đọc thấy chúng ta biết điều gì, dựa vào đâu để biết, và điều gì vẫn chưa đủ chứng cứ để kết luận.
Đây rất phù hợp với phương pháp Đối thoại mà ta đang xây dựng.
Từ Chương II trở đi tôi sẽ mặc định làm theo cấu trúc này, không cần anh phải nhắc lại mỗi chương.


04:09
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Đăng nhận xét