ĐỐI THOẠI VỚI MAI CHÍ THỌ
Từ người đứng đầu an ninh đến bài toán quyền lực, quản trị và Đổi mới.
Ta sang Chương 3, và lần này cần làm rõ hơn một điểm mà hai chương trước mới đặt ra: “từ yêu nước đến cộng sản” không phải một bước nhảy, mà là một quá trình lựa chọn tổ chức, tư tưởng và kỷ luật chính trị.
Tôi cũng sửa một lỗi cần lưu ý trong các nguồn hồi cố: có nguồn ghi Phan Châu Trinh, có nguồn nhầm sang Phan Bội Châu trong sự kiện năm 1926. Vì vậy bản thảo dưới đây chỉ dùng mốc phong trào truy điệu Phan Châu Trinh năm 1926, phù hợp với hồ sơ tiểu sử chính thức.
CHƯƠNG 3
TỪ YÊU NƯỚC ĐẾN CỘNG SẢN – PHAN ĐÌNH KHẢI ĐÃ LỰA CHỌN ĐIỀU GÌ?
Năm 1926, Phan Đình Khải mới khoảng mười lăm tuổi.
Ông tham gia phong trào bãi khóa và lễ truy điệu Phan Châu Trinh tại Nam Định. Đến năm 1928, ông hoạt động trong tổ chức học sinh dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Định. Tháng 10 năm 1929, ông được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng.
Ba mốc này thường được kể như một đường thẳng:
yêu nước → giác ngộ cách mạng → trở thành cộng sản.
Nhưng lịch sử không đơn giản như vậy.
Năm 1926, Phan Đình Khải tham gia một phong trào yêu nước.
Năm 1928, ông bước vào một tổ chức chính trị.
Năm 1929, ông lựa chọn một tổ chức cộng sản.
Giữa ba mốc ấy là một quá trình mà chúng ta cần phục dựng, chứ không nên dùng kết quả cuối cùng để giải thích ngược lại điểm khởi đầu.
1. Yêu nước chưa đồng nghĩa với cộng sản
Phong trào truy điệu Phan Châu Trinh năm 1926 là một trong những sự kiện chính trị lớn tác động đến thanh niên Việt Nam.
Phan Châu Trinh đại diện cho một khuynh hướng cải cách và khai hóa xã hội khác với con đường cách mạng cộng sản.
Vì vậy, một thanh niên tham gia phong trào tưởng niệm ông trước hết cho thấy người ấy đã tham dự vào đời sống chính trị và phong trào yêu nước, chứ chưa thể dùng sự kiện đó để chứng minh người ấy đã lựa chọn chủ nghĩa cộng sản.
Đây là một ranh giới quan trọng.
Nếu không giữ ranh giới này, toàn bộ tuổi trẻ của Lê Đức Thọ sẽ bị kể lại từ điểm kết thúc.
Ta biết ông sau này trở thành một lãnh đạo cộng sản.
Rồi ta nhìn ngược về năm 1926 và gọi mọi hoạt động khi ấy là “bước đầu của con đường cộng sản”.
Cách kể ấy có thể đúng về diễn tiến, nhưng chưa chắc đúng về nhận thức của chính người trẻ tuổi lúc đó.
Một người có thể hành động vì độc lập dân tộc trước khi xác định mình theo một học thuyết chính trị cụ thể.
Đó là điều cần giữ lại.
2. Nam Định đưa Phan Đình Khải vào một thế giới chính trị rộng hơn
Sau phong trào năm 1926, Phan Đình Khải tiếp tục tham gia hoạt động học sinh.
Các nguồn tiểu sử ghi nhận năm 1928 ông hoạt động trong Học sinh Hội dưới sự lãnh đạo của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Nam Định.
Đây là bước chuyển đáng chú ý.
Một cuộc bãi khóa là một hành động tập thể. Một tổ chức chính trị lại là một cấu trúc khác. Trong tổ chức có người giới thiệu. Có cấp trên. Có nhiệm vụ. Có phân công. Có nguyên tắc hoạt động. Có kỷ luật. Và có cả một quan niệm về mục tiêu cuối cùng.
Điều này có nghĩa rằng Phan Đình Khải không chỉ được đặt trước câu hỏi:
“Đất nước có độc lập hay không?”
Ông bắt đầu phải đối diện với câu hỏi khác:
“Độc lập bằng con đường nào, dưới sự lãnh đạo của ai và bằng tổ chức nào?”
Đây mới là bước chuyển chính trị quan trọng.
3. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng Châu năm 1925 và trở thành một trong những tổ chức quan trọng trong quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
Đối với thế hệ thanh niên cuối thập niên 1920, Hội không chỉ cung cấp một khẩu hiệu về độc lập.
Nó cung cấp một hệ thống tổ chức và một cách nhìn về cách mạng.
Điểm này giúp giải thích vì sao năm 1928 có ý nghĩa khác năm 1926.
Năm 1926, Phan Đình Khải tham gia một phong trào yêu nước.
Năm 1928, ông tham gia một tổ chức chịu ảnh hưởng ngày càng rõ của tư tưởng cách mạng vô sản.
Đây là sự thay đổi về mức độ tổ chức và định hướng chính trị.
Nhưng ta vẫn chưa nên nói rằng đến năm 1928 mọi lựa chọn tư tưởng của ông đã hoàn toàn ổn định.
Một thanh niên mười bảy tuổi có thể bước vào một tổ chức trước khi hiểu đầy đủ toàn bộ lý luận mà tổ chức ấy theo đuổi.
Muốn biết ông hiểu đến đâu, tin đến đâu và lựa chọn vì lý do nào, cần có những nguồn trực tiếp hơn.
Các nguồn tiểu sử chính thống hiện có chủ yếu ghi lại mốc hoạt động và tổ chức, chứ không cung cấp đầy đủ những ghi chép cá nhân của Phan Đình Khải về quá trình tư tưởng này.
Đó là một khoảng trống cần ghi nhận, không nên lấp bằng suy đoán.
4. Năm 1929 – phong trào cộng sản phân hóa
Tháng 6 năm 1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ.
Sau đó xuất hiện An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Cuối năm 1929, phong trào cộng sản ở Việt Nam tồn tại trong tình trạng nhiều tổ chức riêng biệt. Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản, dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phan Đình Khải gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng vào tháng 10 năm 1929.
Điều này đáng chú ý vì ông gia nhập vào một phong trào đang hình thành và còn phân hóa, chứ không phải một đảng đã có cơ cấu ổn định như những thập niên sau.
Đây là điểm cần đặt lại khi nhìn về quá khứ.
Năm 1929, Phan Đình Khải chưa thể biết trước toàn bộ lịch sử của tổ chức mà mình gia nhập.
Ông không thể biết rằng chưa đầy một năm sau sẽ có một đảng cộng sản thống nhất.
Càng không thể biết rằng tổ chức ấy sau này sẽ trở thành trung tâm quyền lực của một nhà nước thống nhất.
Vì vậy, việc ông gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng phải được xem trước hết là một lựa chọn chính trị của một thanh niên trong bối cảnh năm 1929, chứ không nên giải thích nó bằng quyền lực của Đảng trong những thập niên sau.
5. Từ lựa chọn tư tưởng đến lựa chọn tổ chức
Điều quan trọng không chỉ là Phan Đình Khải “tin vào chủ nghĩa cộng sản”.
Câu hỏi cụ thể hơn là:
Ông đã lựa chọn tham gia một tổ chức cộng sản.
Hai việc ấy có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất.
Một người có thể đồng tình với một số tư tưởng nhưng không gia nhập tổ chức.
Một người khác có thể gia nhập tổ chức trước khi hiểu đầy đủ lý luận.
Một người đã gia nhập có thể tiếp tục thay đổi nhận thức trong quá trình hoạt động.
Trong trường hợp Phan Đình Khải, nguồn tư liệu hiện có cho phép xác định khá rõ mốc gia nhập, tổ chức, và nhiệm vụ ban đầu; nhưng ít cho phép phục dựng từng bước suy nghĩ nội tâm của ông.
Do đó, chương này không nên trả lời thay ông câu hỏi:
“Tại sao ông trở thành cộng sản?”
Mà nên ghi nhận:
Đến tháng 10 năm 1929, Phan Đình Khải đã lựa chọn đứng trong một tổ chức cộng sản và chấp nhận hoạt động theo kỷ luật tổ chức ấy.
Đó là điều chứng cứ cho phép nói chắc hơn.
6. Một chi tiết quan trọng: ông được giao tổ chức người khác
Sau khi gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng, Phan Đình Khải được giao làm Bí thư chi bộ học sinh và phụ trách công tác thanh niên, học sinh.
Chi tiết này có giá trị đặc biệt. Bởi nó cho thấy ông không chỉ là một người mới gia nhập.
Ông đã được giao một nhiệm vụ tổ chức. Từ đây xuất hiện một đặc điểm sẽ theo ông trong nhiều thập niên làm công tác với con người.
Nhưng cũng cần tránh nhìn quá xa.
Không thể nói rằng việc ông được giao làm bí thư chi bộ học sinh năm 1929 đã chứng minh ông vốn có “tài năng tổ chức” ở mức độ nào đó.
Có thể đó là kết quả của năng lực cá nhân, là do quá trình hoạt động trước đó, do nhu cầu của tổ chức, là sự kết hợp của nhiều yếu tố.
Chứng cứ hiện có xác nhận nhiệm vụ được giao.
Còn mức độ năng lực và nguyên nhân của việc được giao nhiệm vụ cần những tư liệu khác.
7. 1930: một tổ chức mới và một con người mới
Đầu năm 1930, các tổ chức cộng sản được thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phan Đình Khải từ một đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng trở thành thành viên của đảng cộng sản thống nhất.
Nhưng chỉ vài tháng sau, cuộc đời ông chuyển sang một giai đoạn hoàn toàn khác.
Ngày 7 tháng 11 năm 1930, ông bị chính quyền thuộc địa bắt. Đến tháng 1 năm 1931, ông bị tòa án thuộc địa kết án tù khổ sai chung thân; sau kháng án, mức án được giảm xuống mười năm và ông bị đưa đi Côn Đảo.
Khoảng cách thời gian rất ngắn:
tháng 10 năm 1929 – gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng;
đầu năm 1930 – Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời;
tháng 11 năm 1930 – bị bắt;
năm 1931 – bị kết án và đày Côn Đảo.
Một thanh niên vừa bước vào đời sống chính trị đã rất nhanh bước vào đời sống tù đày.
Và chính nhà tù sẽ trở thành trường học chính trị thứ hai của ông.
8. Nhà tù không chỉ là nơi chịu đựng
Các tài liệu chính thống cho biết tại Côn Đảo, Lê Đức Thọ được tín nhiệm làm Bí thư chi bộ nhà tù và tham gia Ban Thường vụ chi ủy.
Chi tiết này cần được đọc theo hai lớp.
Chứng cứ
Ông bị bắt, bị kết án và đày Côn Đảo; tại đây ông được giao trách nhiệm trong tổ chức Đảng của tù nhân.
Diễn giải
Nhà tù trở thành một môi trường trong đó ông tiếp tục hoạt động chính trị và thực hành vai trò tổ chức.
Điều này quan trọng bởi từ đây, tổ chức không còn chỉ là một hoạt động của tuổi trẻ.
Nó trở thành phương thức tồn tại chính trị của ông.
Nhưng cũng không nên dùng câu “nhà tù tôi luyện nên người lãnh đạo” như một kết luận tự động.
Nhà tù có thể tạo ra kinh nghiệm.
Nhưng kinh nghiệm đó được biến thành năng lực như thế nào vẫn phải khảo sát qua những việc ông làm sau khi ra tù.
9. Điều gì thực sự thay đổi ở Phan Đình Khải?
Nếu chỉ nhìn ba chương đầu, ta có thể thấy bốn bước:
Địch Lễ: một gia đình có nền tảng Nho học.
Nam Định: một môi trường đô thị và chính trị mới.
1926–1928: tham gia phong trào yêu nước và hoạt động có tổ chức.
1929–1931: lựa chọn tổ chức cộng sản rồi bước vào tù đày.
Đây là một quá trình chính trị hóa.
Nhưng chưa phải quá trình hình thành một nhà lãnh đạo quyền lực.
Đến năm 1931, Phan Đình Khải vẫn là một người hoạt động cách mạng trẻ tuổi.
Quyền lực mà ông sau này sở hữu còn ở rất xa phía trước.
Chính vì vậy, không nên đem Lê Đức Thọ của những năm 1950–1980 quay lại giải thích Phan Đình Khải của năm 1929.
10. Đặt lại vấn đề: ông lựa chọn điều gì?
Đến đây, có thể trả lời một phần câu hỏi của chương.
Phan Đình Khải không chỉ lựa chọn lòng yêu nước. Ông đã lựa chọn một tổ chức chính trị, và tổ chức ấy gắn với một hệ tư tưởng cách mạng cụ thể.
Sau khi gia nhập, ông chấp nhận kỷ luật tổ chức và nhiệm vụ tổ chức.
Nhưng còn một câu hỏi lớn hơn: Ông đã hiểu chủ nghĩa cộng sản lúc ấy đến đâu?
Ông có quan niệm thế nào về đảng, về đấu tranh giai cấp, về bạo lực cách mạng, về quyền lực chính trị?
Và quan trọng nhất: những quan niệm ấy thay đổi thế nào qua nhà tù, qua chiến tranh và qua quá trình ông bước lên các vị trí lãnh đạo?
Chúng ta chưa thể trả lời trong năm 1929.
Nhưng chính câu hỏi ấy sẽ trở thành sợi dây xuyên suốt cuốn sách. Bởi một người trẻ tuổi lựa chọn một học thuyết là một chuyện.
Một người đã có quyền lực sử dụng học thuyết ấy để tổ chức xã hội lại là một chuyện khác.
Khoảng cách giữa hai con người ấy chính là khoảng cách mà cuốn sách này phải lần theo.
Hoàng Phong Nhã
Tài liệu tham khảo chương 3
- Hồ sơ nhân sự Lê Đức Thọ, Đại hội Đảng – tư liệu về các mốc 1926, 1928, 1929 và quá trình hoạt động sau này.
- Tư liệu Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, “Đảng Cộng sản Việt Nam” – bối cảnh hình thành ba tổ chức cộng sản và Hội nghị hợp nhất năm 1930.
- Lịch sử Biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2 – diễn biến Hội nghị hợp nhất và quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ, tiểu sử Lê Đức Thọ – các mốc bắt giữ năm 1930, án tù và hoạt động tại Côn Đảo.
- Thông tấn xã Việt Nam, hồ sơ Lê Đức Thọ – các mốc hoạt động từ 1926 đến 1945.
Ghi chú phương pháp
Các nguồn hiện có chủ yếu là nguồn chính thống Việt Nam, vì vậy chúng có giá trị tốt để xác lập niên biểu và chức vụ, nhưng không đủ để tự nó trả lời câu hỏi về động cơ tư tưởng của Phan Đình Khải.


03:35
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Đăng nhận xét