Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

CHƯƠNG 12 - QUYỀN LỰC NHÂN SỰ – LÊ ĐỨC THỌ THỰC SỰ CÓ THỂ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN ĐÂU?

CHƯƠNG 12

QUYỀN LỰC NHÂN SỰ – LÊ ĐỨC THỌ THỰC SỰ CÓ THỂ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN ĐÂU?

Nếu Chương 11 xác định Ban Tổ chức Trung ương là một trung tâm quan trọng của công tác tổ chức, thì Chương này phải đi thêm một bước:

quyền lực của người đứng đầu Ban nằm ở đâu trong quy trình nhân sự?

Câu hỏi này cần được đặt thật chính xác.

Lê Đức Thọ có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cán bộ, nhưng ảnh hưởng không đồng nghĩa với quyền quyết định. Ông có thể tham mưu, nhưng tham mưu không đồng nghĩa với quyết định.Ông có thể chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan mình phụ trách, nhưng không vì thế chịu trách nhiệm cá nhân về mọi quyết định của tập thể lãnh đạo.

Đây là ba ranh giới cần giữ xuyên suốt chương này.


1. VỊ TRÍ CỦA LÊ ĐỨC THỌ TỪ NĂM 1956

Theo hồ sơ TTXVN, năm 1956 Lê Đức Thọ trở thành Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; từ tháng 11/1956 đến năm 1961, ông kiêm Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Năm 1960, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tiếp tục làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

Như vậy, từ cuối thập niên 1950, ông có hai nguồn vị trí quan trọng.

Một là vị trí trong cơ quan lãnh đạo cấp cao.

Hai là vị trí trực tiếp phụ trách công tác tổ chức – cán bộ.

Hai vị trí này kết hợp với nhau tạo cho ông một ảnh hưởng đáng kể.

Nhưng cũng phải nói ngay giới hạn Ban Tổ chức Trung ương không phải là toàn bộ hệ thống quyết định nhân sự. Người đứng đầu Ban không vì thế trở thành người có quyền quyết định tất cả. Muốn biết ông thực sự có quyền đến đâu, phải nhìn vào quy trình.


2. QUY TRÌNH NHÂN SỰ: TỪ THÔNG TIN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH

Thay vì chia thành nhiều mục về “quyền biết”, “quyền đánh giá”, “quyền đưa vào danh sách”, “quyền tham mưu”, “quyền bố trí”, có thể gộp thành một quy trình duy nhất thông tin → đánh giá → đề xuất → quyết định → thực hiện → kiểm tra.

Đây là sáu khâu có quan hệ với nhau nhưng không đồng nhất.

Thông tin

Cơ quan tổ chức thu thập và tổng hợp thông tin về cán bộ.

Đánh giá

Thông tin được chuyển thành nhận định về năng lực, phẩm chất, kinh nghiệm, lập trường và mức độ phù hợp với vị trí.

Đề xuất

Từ đánh giá đó hình thành phương án nhân sự.

Quyết định

Cấp có thẩm quyền lựa chọn và phê chuẩn.

Thực hiện

Quyết định được đưa vào thực tế bằng điều động, bổ nhiệm, phân công hoặc thay đổi vị trí.

Kiểm tra

Sau khi bố trí, cán bộ tiếp tục được theo dõi và đánh giá.

Đây mới là cấu trúc cần dùng để nghiên cứu quyền lực của Lê Đức Thọ. Không cần lặp lại sáu khâu ấy dưới nhiều tên gọi khác nhau. Vấn đề là xác định ông đứng ở đâu trong từng khâu.


3. KHÂU ĐẦU TIÊN: QUYỀN LỰC ĐỐI VỚI THÔNG TIN

Một cơ quan tổ chức muốn tham mưu về cán bộ trước hết phải có thông tin về cán bộ.

Đây là quyền lực ít nhìn thấy nhất nhưng rất quan trọng. Một cán bộ được trình lên cấp trên với một hồ sơ nhất định. Những gì có trong hồ sơ sẽ ảnh hưởng đến cách người khác nhìn người ấy.

Nhưng cần phân biệt hai chuyện. Quyền quản lý thông tin không đồng nghĩa với quyền quyết định số phận của người có thông tin trong hồ sơ. Cơ quan tổ chức có thể cung cấp thông tin.

Người lãnh đạo có thể sử dụng thông tin ấy để quyết định.

Vì vậy, nếu một hồ sơ nhân sự có nội dung bất lợi cho một cán bộ, chưa thể lập tức kết luận Lê Đức Thọ là người tạo ra nội dung đó.

Phải xác định: ai lập; ai xác minh; ai sửa; ai duyệt; và ai sử dụng hồ sơ.

Đây là nơi mà nghiên cứu nhân sự phải quay về với chứng cứ cụ thể.


4. ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT: NƠI ẢNH HƯỞNG CÓ THỂ LỚN HƠN QUYỀN KÝ

Cơ quan tổ chức không chỉ lưu giữ hồ sơ.

Nó còn phải đánh giá cán bộ và tham mưu về việc bố trí.

Một số tài liệu hồi cố về công tác tổ chức dưới thời Lê Đức Thọ mô tả việc nghiên cứu cán bộ, đánh giá năng lực và tham mưu cất nhắc, điều động là những nhiệm vụ quan trọng của công tác tổ chức.

Điều đó cho thấy ảnh hưởng của Ban Tổ chức có thể xuất hiện trước khi quyết định cuối cùng được ban hành.

Đây là điểm cần đặc biệt chú ý.

Giả sử cấp có thẩm quyền cuối cùng lựa chọn một trong ba phương án.

Người chuẩn bị ba phương án không phải người quyết định,nhưng người chuẩn bị phương án đã có ảnh hưởng nhất định đến phạm vi lựa chọn.

Vì vậy, quyền lực thực tế có thể nằm ở khả năng định hình phương án, chứ không chỉ ở chữ ký cuối cùng.

Tuy nhiên, muốn nói Lê Đức Thọ đã tác động đến một trường hợp cụ thể, phải có hồ sơ chứng minh ông tham gia vào trường hợp đó. Không được suy ngược từ chức vụ.


5. QUYẾT ĐỊNH: RANH GIỚI GIỮA QUYỀN LỰC VÀ TRÁCH NHIỆM

Đây là chỗ cần tách rõ nhất.

Quyền lực trả lời câu hỏi Ông có khả năng tác động đến quyết định ở mức nào?

Trách nhiệm trả lời câu hỏi Ông phải chịu trách nhiệm đến đâu đối với quyết định hoặc hành động đó?

Hai khái niệm liên quan nhưng không giống nhau. Một người có thể có quyền tham mưu lớn nhưng không phải người quyết định cuối cùng.

Trong trường hợp ấy, trách nhiệm của người tham mưu đối với nội dung tham mưu khác với trách nhiệm của người có thẩm quyền đối với quyết định cuối cùng.

Ngược lại, nếu người đứng đầu vừa đề xuất, vừa quyết định, vừa chỉ đạo thực hiện, mức trách nhiệm cá nhân sẽ cao hơn.

Vì vậy, khi nghiên cứu Lê Đức Thọ, không nên hỏi chung:

“Ông có trách nhiệm về công tác nhân sự không?”

Câu hỏi đúng là:

Ông chịu trách nhiệm đối với khâu nào của một quyết định nhân sự?


6. TRƯỜNG NGUYỄN ÁI QUỐC: QUYỀN LỰC ĐỐI VỚI NGUỒN CÁN BỘ

Từ tháng 11/1956, Lê Đức Thọ kiêm Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương đến năm 1961; năm 1966 ông lại kiêm chức Hiệu trưởng trường này.

Điều này đáng chú ý vì đào tạo cán bộ là một khâu khác của quyền lực nhân sự. Ban Tổ chức xử lý đội ngũ đang tồn tại.

Trường Đảng góp phần hình thành đội ngũ tương lai, nhưng cũng không nên biến sự kiêm nhiệm này thành một kết luận quá mức rằng Lê Đức Thọ “tạo ra” toàn bộ đội ngũ cán bộ sau đó.

Ông phụ trách một cơ sở đào tạo. Cơ sở ấy hoạt động trong chương trình, đường lối và cơ cấu chung của Đảng.

Do đó, điều có thể khẳng định là ông có vị trí quan trọng trong đào tạo cán bộ; còn mức độ ảnh hưởng của ông đối với từng cán bộ cụ thể phải được nghiên cứu riêng.


7. QUYỀN LỰC NHÂN SỰ KHÔNG PHẢI QUYỀN LỰC ĐƠN NHẤT

Từ năm 1960, Lê Đức Thọ vừa là Ủy viên Bộ Chính trị, vừa là thành viên Ban Bí thư, đồng thời giữ chức Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Danh sách chính thức của Ban Bí thư khóa III ghi tên ông trong Ban Bí thư; danh sách Bộ Chính trị khóa III cũng ghi ông là Ủy viên chính thức.

Điều này làm cho ảnh hưởng của ông đối với công tác nhân sự mạnh hơn so với trường hợp một trưởng ban tham mưu thông thường.

Nhưng nó cũng làm cho việc phân định trách nhiệm phức tạp hơn.

Bởi từ đây có ít nhất hai vai trò Lê Đức Thọ với tư cách người phụ trách tổ chức và Lê Đức Thọ với tư cách thành viên tập thể lãnh đạo.

Nếu một quyết định được Bộ Chính trị thông qua, không thể tự động quy quyết định ấy thành quyết định của riêng Trưởng Ban Tổ chức.

Nếu Ban Tổ chức thực hiện một công việc trong phạm vi ông phụ trách, trách nhiệm của ông đối với hoạt động của cơ quan lại phải được xem xét ở mức trực tiếp hơn.

Đó là hai trường hợp khác nhau.


8. MỘT VÍ DỤ QUAN TRỌNG: SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ ĐẢNG

Tháng 9/1956, Trung ương quyết định thành lập Ban sửa đổi Điều lệ Đảng và giao Lê Đức Thọ phụ trách. Nhiệm vụ của Ban là dự thảo Điều lệ mới và báo cáo về việc sửa đổi Điều lệ. Sau đó, Bộ Chính trị mới duyệt các văn kiện trước khi đưa vào quy trình chuẩn bị Đại hội.

Trường hợp này giúp phân biệt rất rõ:

phụ trách soạn thảo ≠ quyết định cuối cùng.

Lê Đức Thọ có quyền tổ chức và định hướng công việc của Ban. Nhưng Điều lệ không phải văn bản do cá nhân ông tự ban hành.

Do đó, trách nhiệm của ông trước hết nằm ở:

  • chất lượng công việc được giao;
  • quá trình tổ chức soạn thảo;
  • nội dung ông tham gia xây dựng.

Còn trách nhiệm đối với quyết định cuối cùng phải được đặt trong cơ chế lãnh đạo tập thể và quy trình phê chuẩn.

Đây là một ví dụ điển hình cho nguyên tắc của toàn bộ chương.


9. QUYỀN LỰC THỰC TẾ: KHÔNG CHỈ NHÌN VÀO CHỮ KÝ

Một người có thể không ký quyết định cuối cùng nhưng vẫn có ảnh hưởng đáng kể.

Ví dụ, nếu người ấy:

  • xác định phương án;
  • lựa chọn người được giới thiệu;
  • cung cấp đánh giá;
  • giải thích hồ sơ;
  • đề nghị điều động;
  • hoặc trực tiếp tổ chức thực hiện, thì quyền lực thực tế của người ấy lớn hơn chức năng hành chính thuần túy.

Nhưng cũng cần tránh thái cực ngược lại. Ảnh hưởng không phải lúc nào cũng là quyền lực quyết định.

Muốn chứng minh quyền lực thực tế, phải tìm được dấu vết của sự can thiệp.

Một biên bản. Một sự đề xuất. Một chỉ thị. Một bút tích. Một quyết định. Một lời khai trực tiếp có thể kiểm chứng.

Hoặc một chuỗi hồ sơ cho thấy cùng một người liên tục đóng vai trò quyết định trong những trường hợp tương tự.

Không có những dấu vết ấy, kết luận phải dừng ở mức giả thuyết.


10. QUYỀN LỰC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA LÊ ĐỨC THỌ: TÁCH THÀNH HAI CỘT

Có thể tóm tắt ranh giới như sau:

Vấn đề Quyền lực Trách nhiệm
Thu thập thông tin Có ảnh hưởng qua cơ quan tổ chức Chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan và độ tin cậy trong phạm vi mình phụ trách
Đánh giá cán bộ Có quyền tham mưu, đánh giá trong phạm vi chức năng Chịu trách nhiệm về nhận định hoặc tham mưu nếu có bằng chứng ông trực tiếp đưa ra
Đề xuất nhân sự Có khả năng định hình phương án Chịu trách nhiệm về đề xuất của mình, nhưng không mặc nhiên chịu trách nhiệm thay người quyết định
Quyết định Phụ thuộc cấp có thẩm quyền và vị trí cụ thể Người quyết định chịu trách nhiệm chính về quyết định; thành viên tập thể có trách nhiệm theo mức độ tham gia
Thực hiện Ban Tổ chức có thể trực tiếp tổ chức thực hiện Người phụ trách chịu trách nhiệm về việc tổ chức thực hiện trong phạm vi quyền hạn
Kiểm tra Có vai trò theo dõi, đánh giá Có trách nhiệm nếu biết sai mà không xử lý trong phạm vi quyền hạn

Bảng này không nhằm biến lịch sử thành một công thức máy móc.

Nó chỉ giúp tránh một sai lầm thường gặp:

lấy quyền lực của một chức vụ để suy ra toàn bộ trách nhiệm của một cá nhân.


11. VẤN ĐỀ KHÓ NHẤT: KHI QUYỀN LỰC THỰC TẾ LỚN HƠN QUYỀN HẠN TRÊN GIẤY

Đây mới là vấn đề đáng nghiên cứu ở Lê Đức Thọ.

Một người có thể có quyền hạn chính thức tương đối rõ.

Nhưng qua uy tín, kinh nghiệm, quan hệ và vị trí trong tập thể lãnh đạo, ảnh hưởng thực tế có thể lớn hơn.

Đối với Lê Đức Thọ, những yếu tố này đáng được xem xét vì ông có kinh nghiệm tổ chức từ Nam Bộ, giữ chức Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trong nhiều năm và đồng thời là thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Nhưng đây là chỗ cần thận trọng nhất.

Uy tín không phải quyền hạn. Ảnh hưởng không phải mệnh lệnh. Quan hệ không phải quyết định.

Nếu không có chứng cứ cụ thể, không được chuyển ba thứ ấy thành nhau.


12. NĂM 1962: MỘT CHỨNG CỨ VỀ VAI TRÒ TỔ CHỨC

Một nghị quyết của Ban Bí thư ngày 16/2/1962 về chuẩn bị đề án cho Hội nghị Trung ương bàn về tổ chức và lề lối làm việc cho thấy Ban phụ trách được xây dựng trên cơ sở bộ máy Ban Tổ chức Trung ương; Lê Đức Thọ làm Trưởng ban và ban này phối hợp với các ban, đảng đoàn Trung ương cùng các cấp ủy địa phương để nghiên cứu.

Tài liệu này có giá trị vì nó cho thấy vai trò của ông không chỉ nằm ở quản lý hồ sơ cán bộ.

Ông còn được giao tổ chức nghiên cứu về cơ cấu và lề lối làm việc của toàn hệ thống. Nhưng ngay trong văn kiện, Ban này phải phối hợp với các cơ quan và cấp ủy khác. Điều đó một lần nữa cho thấy: quyền lực tổ chức của Lê Đức Thọ có phạm vi rộng, nhưng không phải quyền lực biệt lập.


13. ĐIỂM CẦN PHÂN BIỆT: NĂNG LỰC TỔ CHỨC VÀ QUYỀN LỰC NHÂN SỰ

Hai khái niệm này không nên tiếp tục nhập vào nhau.

Năng lực tổ chức là khả năng xây dựng, vận hành và điều chỉnh một bộ máy.

Quyền lực nhân sự là khả năng tác động đến việc lựa chọn, bố trí, điều chuyển, đánh giá và sử dụng con người trong bộ máy ấy.

Lê Đức Thọ có bằng chứng khá rõ về kinh nghiệm tổ chức.

Còn mức độ quyền lực nhân sự của ông phải được chứng minh qua từng giai đoạn và từng trường hợp.

Sự phân biệt này rất quan trọng cho những chương sau.

Bởi nếu cứ đồng nhất “giỏi tổ chức” với “kiểm soát nhân sự”, chúng ta sẽ đi quá xa so với chứng cứ.


14. PHÁN ĐỊNH VỀ QUYỀN LỰC

Đến đây có thể đưa ra một nhận định tương đối chắc:

Từ năm 1956, Lê Đức Thọ là một nhân vật có vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác tổ chức – cán bộ của Đảng.

Điều đó được chứng minh trước hết bằng chức vụ Trưởng Ban Tổ chức Trung ương và sau năm 1960 bằng việc ông đồng thời là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Nhưng mức độ quyền lực cụ thể của ông trong từng quyết định phải được xác định bằng hồ sơ.

Vì thế, chưa nên dùng những cách diễn đạt như: “Lê Đức Thọ kiểm soát toàn bộ nhân sự.”

Cách nói chính xác hơn là Lê Đức Thọ đứng ở một vị trí có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình lựa chọn và bố trí cán bộ, trong khi quyền quyết định cuối cùng tùy từng trường hợp vẫn thuộc về cấp có thẩm quyền theo cơ chế lãnh đạo của Đảng.

Đây là giới hạn cần giữ cho toàn bộ phần sau.


15. PHÁN ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM

Trách nhiệm phải được xác định khác với quyền lực.

Ở cấp cơ quan, với tư cách Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, ông chịu trách nhiệm lãnh đạo và tổ chức hoạt động của Ban trong phạm vi được giao.

Ở cấp tập thể, với tư cách thành viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư, ông chịu trách nhiệm chính trị theo mức độ tham gia vào các quyết định tập thể.

Ở cấp cá nhân, muốn quy trách nhiệm cho một quyết định cụ thể, phải chứng minh ông đề xuất, quyết định, chỉ đạo, phê chuẩn hoặc trực tiếp thực hiện quyết định đó ở mức nào.

Không thể chỉ dựa vào chức vụ.

Đây là nguyên tắc quan trọng hơn mọi kết luận về cá nhân Lê Đức Thọ.


16. ĐIỀU CẦN ĐỂ NGỎ

Chương này chưa thể trả lời câu hỏi Lê Đức Thọ đã dùng quyền lực nhân sự để nâng ai, loại ai, điều chuyển ai hoặc xử lý ai? Đó là câu hỏi của những hồ sơ cụ thể.

Và chính ở đây, nghiên cứu phải chuyển từ cấu trúc sang trường hợp.

Một quyết định nhân sự cụ thể sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn:

  • Ban Tổ chức đề xuất gì;
  • Lê Đức Thọ tham gia đến đâu;
  • cấp nào quyết định;
  • ai thực hiện;
  • và hậu quả đối với người được quyết định là gì.

Nếu không có hồ sơ, không nên lấp khoảng trống bằng suy đoán.


KẾT LUẬN CHƯƠNG

Quyền lực nhân sự của Lê Đức Thọ nằm trong một quy trình, không nằm trong một chức danh đơn lẻ.

Ông có vị trí quan trọng ở các khâu thông tin, đánh giá và tham mưu; đồng thời, do là thành viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư từ năm 1960, ông còn trực tiếp tham gia cơ chế lãnh đạo cấp cao.

Nhưng cần giữ một ranh giới:

quyền lực tham mưu không phải quyền quyết định; quyền quyết định không đồng nhất với trách nhiệm của toàn bộ hệ thống; và trách nhiệm cá nhân chỉ có thể xác định chắc chắn khi biết một người đã làm gì trong một quyết định cụ thể.

Đó là cơ sở để từ đây không nói chung về “quyền lực của Lê Đức Thọ” nữa, mà đi vào những quan hệ quyền lực cụ thể giữa ông và các nhân vật cùng ở trung tâm lãnh đạo.

Người đầu tiên cần đặt bên cạnh ông là Lê Duẩn.

Không phải để tìm một người “mạnh hơn”, mà để xác định quyền lực về đường lối, quyền lực về tổ chức và quyền lực về quyết định đã giao nhau như thế nào.

Hoàng Phong Nhã 

Tài liệu tham khảo chính

  1. TTXVN/NVSK – Hồ sơ Lê Đức Thọ: các chức vụ và mốc 1955–1968.
  2. Danh sách Bộ Chính trị khóa II và khóa III: xác định vị trí của Lê Đức Thọ trong cơ cấu lãnh đạo.
  3. Danh sách Ban Bí thư khóa III: xác định vị trí của Lê Đức Thọ từ Đại hội III.
  4. Nghị quyết Trung ương tháng 9/1956: xác định Lê Đức Thọ phụ trách Ban sửa đổi Điều lệ Đảng và quy trình chuẩn bị văn kiện.
  5. Nghị quyết Ban Bí thư số 45-NQ/TW ngày 16/2/1962: về Ban chuẩn bị đề án tổ chức và lề lối làm việc do Lê Đức Thọ làm Trưởng ban.

Bản này đã gộp toàn bộ các mục nói về “quy trình” thành một mục trung tâm, sau đó chỉ phân tích từng khâu khi cần. Phần quyền lực và trách nhiệm cũng được tách riêng, nên từ Chương 13 trở đi ta có thể dùng cùng một chuẩn: quyền lực = ông có thể làm gì; trách nhiệm = ông đã làm gì và phải chịu trách nhiệm đến đâu.

0 comments:

Đăng nhận xét