Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

CHƯƠNG 11 - BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG – NƠI QUYỀN LỰC NHÂN SỰ ĐƯỢC HÌNH THÀNH

 .

CHƯƠNG 11

BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG – NƠI QUYỀN LỰC NHÂN SỰ ĐƯỢC HÌNH THÀNH

Nếu Chương 10 đánh dấu thời điểm Lê Đức Thọ bước vào trung tâm quyền lực, thì Chương này phải trả lời một câu hỏi cụ thể hơn:

Quyền lực ấy được vận hành bằng cơ chế nào?

Tên gọi “Ban Tổ chức Trung ương” rất dễ làm người đọc hình dung đây chỉ là một cơ quan hành chính phụ trách hồ sơ cán bộ.

Thực tế quyền lực của công tác tổ chức lớn hơn nhiều.

Một tổ chức chính trị muốn tồn tại không chỉ cần đường lối. Nó cần người thực hiện đường lối.

Ai được đưa lên? Ai được giữ lại? Ai được điều chuyển? Ai được đào tạo? Ai bị đánh giá là không còn phù hợp? Ai được xem là có vấn đề về lập trường?

Những câu hỏi ấy biến công tác tổ chức thành một lĩnh vực quyền lực, và từ năm 1956, Lê Đức Thọ đứng ở một vị trí đặc biệt trong lĩnh vực đó.


1. MỘT CƠ QUAN KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NGƯỜI

Theo hồ sơ chính thức, Lê Đức Thọ giữ chức Trưởng Ban Tổ chức Trung ương từ năm 1956; ông đồng thời kiêm Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương từ tháng 11/1956 đến năm 1961.

Nhưng ngay từ đầu cần tránh một cách hiểu sai:

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương không đồng nghĩa với việc một cá nhân có quyền quyết định mọi vấn đề nhân sự.

Ban Tổ chức là một bộ phận trong cơ cấu lãnh đạo của Đảng.

Các quyết định quan trọng còn nằm trong hệ thống cấp ủy và các cơ quan lãnh đạo cấp trên.

Ngay trong những tài liệu về xây dựng Đảng sau này, các cơ quan tham mưu tổ chức được mô tả về bản chất là cơ quan tham mưu, giúp cấp ủy thực hiện công tác tổ chức, chứ không phải một trung tâm quyền lực đứng trên cấp ủy.

Đó là một nguyên tắc cần giữ khi đọc lịch sử.

Vì vậy, thay vì hỏi:

“Lê Đức Thọ có quyền quyết định nhân sự hay không?”

phải hỏi chính xác hơn:

Ông có quyền đề xuất gì, thẩm định gì, tham mưu gì, và những quyết định nào phải được cấp có thẩm quyền phê chuẩn?

Chính ranh giới ấy mới cho phép xác định quyền lực thực tế của ông.


2. BAN TỔ CHỨC KHÔNG CHỈ LÀ NƠI GIỮ HỒ SƠ CÁN BỘ

Trong một hệ thống chính trị dựa mạnh vào tổ chức, cán bộ là một nguồn lực chiến lược.

Một người được đưa vào vị trí nào sẽ ảnh hưởng đến:

  • cách một cơ quan hoạt động;
  • đường lối được triển khai ra sao;
  • thông tin được truyền lên cấp trên như thế nào;
  • ai có quyền tiếp cận người lãnh đạo;
  • ai được xem là đáng tin cậy;
  • và cuối cùng, ai có khả năng tác động đến quyết định.

Bởi vậy, công tác tổ chức không thể chỉ hiểu là “quản lý nhân sự”.

Nó là quá trình lựa chọn những con người sẽ vận hành quyền lực.

Chính quá trình đó làm cho quyền lực nhân sự khác với quyền lực hành chính thông thường.

Một quyết định kinh tế có thể tác động đến một lĩnh vực.

Một quyết định nhân sự có thể thay đổi người sẽ ra quyết định trong lĩnh vực đó.

Đó là lý do Ban Tổ chức Trung ương trở thành một vị trí đặc biệt quan trọng đối với Lê Đức Thọ.


3. TỪ “TỔ CHỨC” ĐẾN “CÁN BỘ”

Kinh nghiệm của Lê Đức Thọ trong lĩnh vực này không bắt đầu từ Hà Nội năm 1956.

Từ Nam Bộ, ông đã làm công tác tổ chức, rà soát cán bộ và củng cố các cấp ủy. TTXVN ghi nhận giai đoạn 1949–1954 ông là Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam; các tài liệu về hoạt động của ông ở Nam Bộ cũng cho thấy ông tham gia rà soát đội ngũ cán bộ và củng cố tổ chức đảng.

Nhưng quy mô đã thay đổi.

Ở Nam Bộ, ông hoạt động trong một hệ thống chiến tranh với mạng lưới tổ chức phân tán.

Ở Hà Nội sau 1954, công tác tổ chức diễn ra trong một nhà nước và một hệ thống chính trị đang được xây dựng trên quy mô miền Bắc.

Vì vậy, kinh nghiệm cũ có thể trở thành lợi thế.

Nhưng nó cũng tạo ra một vấn đề mới phương pháp tổ chức trong chiến tranh có thích hợp hoàn toàn với quản trị một xã hội trong thời bình hay không?

Đây là câu hỏi quan trọng hơn việc khen hay chê năng lực của một cá nhân. Chiến tranh đòi hỏi bí mật, kỷ luật, tốc độ và khả năng phát hiện nguy cơ.

Một xã hội trong thời bình lại cần thêm những thứ khác phản biện, thông tin nhiều chiều, quy trình ổn định và khả năng sửa sai trước khi sai lầm lan rộng.

Chính lịch sử cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức năm 1956 cho thấy sự khác biệt ấy không phải vấn đề lý thuyết.


4. QUYỀN ĐỀ XUẤT KHÁC QUYỀN QUYẾT ĐỊNH

Một cơ quan tổ chức có thể: thu thập thông tin về cán bộ; đánh giá hồ sơ; đề xuất điều động;

đề nghị bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm; tham mưu về đào tạo; theo dõi quá trình công tác; kiến nghị xử lý kỷ luật. Nhưng từ “đề xuất” đến “quyết định” là một khoảng cách quyền lực.

Người làm hồ sơ có thể ảnh hưởng rất mạnh đến quyết định.

Nhưng người ký quyết định mới là người có thẩm quyền chính thức đối với quyết định ấy.

Vì vậy, khi nghiên cứu Lê Đức Thọ, không thể chỉ tìm xem “Tên ông có xuất hiện trong hồ sơ nhân sự hay không?”

Mà phải hỏi Ông xuất hiện ở vị trí nào trong quy trình?

Đó là người lập hồ sơ? Người thẩm định? Người đề xuất? Người quyết định? Hay người tổ chức thực hiện quyết định của cấp trên?

Năm vai trò ấy có thể nằm trong cùng một chuỗi nhưng không phải là một.


5. QUYỀN LỰC LỚN NHẤT CÓ KHI KHÔNG NẰM Ở CHỮ KÝ

Có một dạng quyền lực tinh vi hơn quyền ký.

Đó là quyền định hình thông tin trước khi thông tin đến người quyết định.

Nếu một cán bộ được trình lên cấp trên với hồ sơ: “trung thành, có năng lực, có kinh nghiệm”

thì cơ hội của người ấy khác hẳn một hồ sơ ghi: “lập trường không vững, có vấn đề về quan điểm”.

Hai hồ sơ có thể nói về cùng một con người, nhưng cách lựa chọn thông tin đã tạo ra hai hình ảnh khác nhau.

Vì vậy, quyền lực tổ chức không chỉ nằm ở câu hỏi: Ai quyết định?

Mà còn nằm ở câu hỏi: Ai cung cấp dữ liệu để người quyết định dựa vào đó?

Đây là lý do Ban Tổ chức Trung ương có thể có ảnh hưởng lớn ngay cả khi không phải lúc nào cũng là cơ quan ra quyết định cuối cùng.

Nhưng cũng chính vì vậy, muốn quy trách nhiệm cá nhân cho Lê Đức Thọ trong từng trường hợp, phải có hồ sơ cụ thể.

Không thể suy ra từ vị trí.


6. HỒ SƠ CÁN BỘ CÓ THỂ TRỞ THÀNH MỘT HÌNH THỨC QUYỀN LỰC

Trong một hệ thống mà việc bổ nhiệm và điều động dựa mạnh vào đánh giá chính trị, hồ sơ cán bộ không còn là giấy tờ hành chính đơn thuần.

Nó trở thành lịch sử chính trị của một con người được viết lại dưới dạng hồ sơ.

Ai là người ghi, xác nhận, bổ sung, có quyền sửa,  có quyền sử dụng thông tin ấy?

Những câu hỏi này đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu những giai đoạn sau của sự nghiệp Lê Đức Thọ.

Bởi quyền lực nhân sự không nhất thiết phải biểu hiện bằng một mệnh lệnh trực tiếp.

Nó có thể hoạt động qua: phân loại → đánh giá → đề xuất → điều chuyển → bổ nhiệm → kiểm tra → kỷ luật.

Nếu một người bị loại khỏi vị trí mà không có quyết định công khai của chính người đứng đầu Ban Tổ chức, điều đó không có nghĩa Ban Tổ chức hoàn toàn không có vai trò.

Nhưng ngược lại, sự xuất hiện của hồ sơ qua Ban Tổ chức cũng không đủ để kết luận Lê Đức Thọ là người quyết định.

Đây là nơi phải giữ kỷ luật chứng cứ.


7. SAU SAI LẦM 1956, VẤN ĐỀ KHÔNG CHỈ LÀ “AI SAI?”

Hội nghị Trung ương lần thứ 10 năm 1956 đã thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.

Đáng chú ý, văn kiện không chỉ nói về một số cá nhân.

Nó phê phán cả phương pháp tổ chức và cách thức thực hiện: có nơi xử lý quá mức, giải tán tổ chức, bắt giữ tùy tiện, xử lý sai cán bộ và áp dụng những phương pháp vốn được dùng trong đấu tranh với đối phương vào công tác chỉnh đốn nội bộ.

Điều này rất quan trọng đối với việc nghiên cứu Ban Tổ chức Trung ương.

Bởi nó cho thấy vấn đề không chỉ là “Một vài người đã làm sai.”

Mà còn là Một cơ chế đã cho phép sai lầm đi qua nhiều tầng tổ chức mà không được ngăn chặn kịp thời.

Nếu chỉ truy tìm một cá nhân, chúng ta có nguy cơ bỏ qua cơ chế.

Nếu chỉ đổ lỗi cho “cơ chế”, chúng ta lại có nguy cơ xóa trách nhiệm cá nhân.

Lịch sử phải làm cả hai việc tái dựng cơ chế và xác định người chịu trách nhiệm trong cơ chế đó.


8. LÊ ĐỨC THỌ ĐẾN VỚI BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG TRONG MỘT THỜI ĐIỂM ĐẶC BIỆT

Điều này làm cho vị trí của ông năm 1956 có ý nghĩa lớn.

Ông không tiếp nhận một bộ máy đang vận hành bình thường.

Ông tiếp nhận một lĩnh vực đang chịu hậu quả của một cuộc khủng hoảng tổ chức.

Nguồn TTXVN cho biết khi ông được giao phụ trách Ban Tổ chức Trung ương, công tác tổ chức gặp nhiều khó khăn; nhiều cơ sở Đảng ở nông thôn bị nghi ngờ, nhiều cán bộ lãnh đạo bị bắt, tù đày hoặc bị nghi oan.

Theo nguồn này, Ban Tổ chức Trung ương dưới sự chỉ đạo của Lê Đức Thọ đã cử cán bộ về địa phương, xuống cơ sở để thực hiện sửa sai, minh oan cho cán bộ và khôi phục tổ chức.

Đây là một dữ kiện quan trọng.

Nhưng cần đọc nó đúng mức. Nó cho thấy ông có vai trò trong việc tổ chức sửa sai. Nó chưa đủ để chứng minh rằng ông là người duy nhất thiết kế toàn bộ chính sách sửa sai. Chủ trương sửa sai thuộc về lãnh đạo Trung ương.

Ban Tổ chức là một trong những cơ quan thực hiện nhiệm vụ đó. Lê Đức Thọ là người đứng đầu Ban.

Ba tầng này phải được tách riêng.


9. QUYỀN LỰC CỦA MỘT NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU BAN TỔ CHỨC NẰM Ở ĐÂU?

Nếu bỏ những cách diễn đạt chung chung, quyền lực thực tế của người đứng đầu Ban Tổ chức có thể được nghiên cứu qua năm câu hỏi:

Thứ nhất: Ai được đưa vào danh sách?

Đây là quyền lực lựa chọn.

Thứ hai: Ai được đánh giá thế nào?

Đây là quyền lực phân loại.

Thứ ba: Ai được trình lên cấp có thẩm quyền?

Đây là quyền lực định hướng quyết định.

Thứ tư: Ai được điều động và bố trí thực hiện?

Đây là quyền lực tổ chức bộ máy.

Thứ năm: Ai được theo dõi sau khi đã được bố trí?

Đây là quyền lực kiểm soát. Năm khâu này liên kết với nhau.

Một người không cần trực tiếp ký mọi quyết định vẫn có thể có ảnh hưởng lớn nếu có vai trò quan trọng ở nhiều khâu.

Nhưng để chứng minh ảnh hưởng ấy trong một trường hợp cụ thể, vẫn phải tìm hồ sơ cụ thể.


10. BAN TỔ CHỨC VÀ TRƯỜNG ĐẢNG: HAI CÔNG CỤ CỦA QUYỀN LỰC NHÂN SỰ

Tháng 11/1956, Lê Đức Thọ kiêm Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương cho đến năm 1961.

Hai chức vụ này đặt cạnh nhau đáng chú ý.

Một bên là lựa chọn và bố trí cán bộ.

Một bên là đào tạo cán bộ.

Một bên quyết định ai có thể được đưa vào vị trí.

Một bên góp phần hình thành những con người sẽ đảm nhận vị trí ấy.

Điều đó tạo thành một chu trình tuyển chọn → đào tạo → bố trí → đánh giá → điều chỉnh.

Nếu một người có ảnh hưởng đáng kể ở nhiều khâu, quyền lực của người đó có thể lớn hơn rất nhiều so với quyền ký của một chức vụ đơn lẻ.

Đây là một trong những lý do cần nghiên cứu Lê Đức Thọ không chỉ qua chức danh Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.


11. NHƯNG ĐỪNG BIẾN “QUYỀN LỰC TỔ CHỨC” THÀNH “QUYỀN LỰC TUYỆT ĐỐI”

Đây là giới hạn quan trọng.

Lê Đức Thọ vẫn hoạt động trong một hệ thống lãnh đạo tập thể.

Chính báo cáo sửa đổi Điều lệ được trình tại Đại hội III sau này nhấn mạnh nguyên tắc lãnh đạo tập thể, đồng thời thừa nhận rằng sau những sai lầm của năm 1956 cần khắc phục các biểu hiện độc đoán, mệnh lệnh và tăng cường sinh hoạt dân chủ trong Đảng.

Điều này có một ý nghĩa lịch sử rất rõ chính hệ thống lúc đó cũng nhận ra rằng quyền lực tổ chức có thể bị sử dụng theo cách làm suy yếu cơ chế tập thể.

Nhưng từ đó không thể suy ra rằng Lê Đức Thọ đã kiểm soát toàn bộ hệ thống.

Cũng không thể suy ra điều ngược lại rằng ông chỉ là người thi hành.

Phán định đúng phải nằm ở giữa hai cực ấy:

Ông là một trung tâm quyền lực quan trọng trong lĩnh vực tổ chức – cán bộ, nhưng quyền lực của ông nằm trong một cấu trúc lãnh đạo tập thể và phải được xác định bằng từng cơ chế, từng quyết định, từng trường hợp.


12. ĐIỀU GÌ LÀM LÊ ĐỨC THỌ KHÁC MỘT “NGƯỜI GIỮ CHỨC”?

Có một dấu hiệu đáng chú ý.

Lê Đức Thọ không chỉ phụ trách bộ máy tổ chức.

Tháng 9/1956, ông được giao phụ trách Ban sửa đổi Điều lệ Đảng để chuẩn bị Đại hội III. Nhiệm vụ của ban này là dự thảo Điều lệ mới và báo cáo về việc sửa đổi Điều lệ.

Điều này cho thấy vai trò của ông đã vượt ra ngoài việc quản lý nhân sự hàng ngày. Ông tham gia vào việc định hình quy tắc của tổ chức.

Đây là điểm cần phân biệt quản lý con người khác với thiết kế quy tắc quản lý con người.

Người làm việc thứ hai có ảnh hưởng sâu hơn đến cấu trúc quyền lực.

Nhưng một lần nữa, ông là người phụ trách ban soạn thảo, không phải người một mình quyết định Điều lệ.

Đại hội mới là nơi phê chuẩn Điều lệ sửa đổi.

Vì vậy:

vai trò soạn thảo cho thấy ảnh hưởng; không tự nó chứng minh quyền quyết định cuối cùng.


13. MỘT CƠ CHẾ TỐT PHẢI CÓ NGƯỜI KIỂM SOÁT NGƯỜI LÀM TỔ CHỨC

Đây là vấn đề lịch sử lớn hơn cá nhân Lê Đức Thọ.

Nếu Ban Tổ chức có quyền thu thập thông tin về cán bộ, thì phải có cơ chế kiểm tra thông tin.

Nếu có quyền đề xuất, phải có cơ chế phản biện đề xuất, đánh giá, phải có cơ chế khiếu nại hoặc kiểm tra đánh giá.

Nếu có quyền kỷ luật, phải có cơ chế xem xét quyết định. Nếu không, quyền lực nhân sự rất dễ tự khép kín.

Một người bị đánh giá xấu. Người đánh giá lại được cấp trên tin tưởng. Hồ sơ được chuyển lên. Cấp trên quyết định dựa trên hồ sơ. Sau đó chính Ban Tổ chức lại quản lý hồ sơ về quyết định ấy.

Nếu không có cơ chế độc lập kiểm tra, vòng tròn quyền lực sẽ khép kín.

Đây chính là một trong những bài học lớn có thể rút ra từ việc nhìn lại sai lầm tổ chức năm 1956.

Không phải chỉ hỏi: “Ai đã làm sai?”, mà phải hỏi “Tại sao hệ thống không phát hiện và sửa sai sớm hơn?”


14. PHÁN ĐỊNH LỊCH SỬ

Đến đây có thể xác định rõ hơn vị trí của Lê Đức Thọ. Ông không phải người tạo ra Ban Tổ chức Trung ương. Ông tiếp nhận một cơ quan đã tồn tại và được giao lãnh đạo nó trong một thời điểm khủng hoảng.

Nhưng ông có một lợi thế đặc biệt ông đã có nhiều năm kinh nghiệm tổ chức trong chiến tranh và Nam Bộ trước khi bước vào Trung ương.

Từ năm 1956, ông trở thành một trong những người có ảnh hưởng lâu dài nhất đối với công tác tổ chức – cán bộ của Đảng. Hồ sơ chính thức ghi ông giữ chức Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trong giai đoạn 1956–1968 và sau đó trở lại chức vụ này trong giai đoạn 1976–1980.

Điều đó đủ để khẳng định một điều công tác tổ chức – cán bộ không phải một đoạn ngắn trong sự nghiệp của Lê Đức Thọ; nó là một trong những trục quyền lực quan trọng nhất của cuộc đời chính trị của ông.

Nhưng chưa đủ để kết luận rằng ông “kiểm soát toàn bộ nhân sự”.

Muốn chứng minh điều đó, phải đi xuống từng cấp ai đề xuất → ai thẩm định → ai quyết định → ai thi hành → ai kiểm tra.

Đó sẽ là công việc của Chương 12.


ĐẶT LẠI VẤN ĐỀ

Chương 10 cho thấy Lê Đức Thọ bước vào trung tâm quyền lực.

Chương 11 cho thấy quyền lực ấy có một trong những nền tảng quan trọng nhất ở công tác tổ chức – cán bộ.

Nhưng quyền lực nhân sự không phải một cái công tắc có thể bật hoặc tắt. Nó là một chuỗi.

Một người có thể mạnh ở khâu đề xuất nhưng yếu ở khâu quyết định. Một người khác có thể không đề xuất nhưng có quyền phê chuẩn. Một người thứ ba có thể thi hành. Một người thứ tư kiểm tra.

Nếu không tái dựng chuỗi đó, mọi lời kết luận về “quyền lực của Lê Đức Thọ” đều dễ trở thành suy đoán.


VẤN NẠN

Có một câu hỏi bắt đầu xuất hiện từ đây nếu quyền lực của một người không nằm ở một chữ ký mà nằm trong cả quy trình nhân sự, làm thế nào xác định giới hạn quyền lực của người ấy?

Đây là câu hỏi khó hơn việc đếm chức vụ. Bởi quyền lực chính thức có thể nhìn thấy trên văn bản.

Quyền lực thực tế phải được tìm trong hồ sơ, quy trình, quan hệ, luồng thông tin và kết quả của những quyết định cụ thể.

Và chính vì vậy, Chương 12 sẽ không tiếp tục nói chung về Ban Tổ chức.

Nó sẽ đi vào câu hỏi cụ thể hơn:

Quyền lực nhân sự của Lê Đức Thọ được hình thành như thế nào, vận hành qua những khâu nào, và đến đâu thì nó gặp giới hạn?


KẾT LUẬN CHƯƠNG

Từ năm 1956, Lê Đức Thọ không chỉ là một nhà lãnh đạo có chức vụ cao.

Ông đứng ở một vị trí đặc biệt: người phụ trách công tác tổ chức – cán bộ trong một hệ thống mà nhân sự là một trong những phương tiện quan trọng để duy trì và thực hiện quyền lực chính trị.

Đó là quyền lực đáng kể,nhưng không phải quyền lực vô hạn.

Điều quan trọng nhất mà Chương này xác lập là Ban Tổ chức Trung ương có thể tạo ảnh hưởng rất lớn đến nhân sự mà không phải là nơi tự mình quyết định mọi nhân sự.

Và vì thế Muốn xác định quyền lực của Lê Đức Thọ, không thể chỉ nhìn vào chức Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; phải nhìn vào vị trí của ông trong toàn bộ chuỗi từ thông tin, đánh giá, đề xuất đến quyết định và thực thi.

Đây cũng là điểm mà trách nhiệm cá nhân bắt đầu trở nên có thể kiểm chứng.

Không phải “Ông đứng đầu Ban, nên mọi việc là của ông.”

Mà là “Trong việc này, ông đã làm gì, với quyền hạn nào, và quyết định cuối cùng thuộc về ai?”

Đó mới là cách đọc lịch sử một người nắm quyền.

Hoàng Phong Nhã 

Tài liệu tham khảo chính

  1. Hồ sơ Lê Đức Thọ – TTXVN/Nhân vật: các chức vụ trong công tác tổ chức, đặc biệt giai đoạn 1956–1968 và 1976–1980.
  2. Nghị quyết Trung ương tháng 9/1956 về chuẩn bị Đại hội III: xác định Lê Đức Thọ phụ trách Ban sửa đổi Điều lệ Đảng.
  3. Báo cáo sửa đổi Điều lệ Đảng tại Đại hội III: tài liệu quan trọng để nghiên cứu nguyên tắc lãnh đạo tập thể và những vấn đề tổ chức sau khủng hoảng 1956.
  4. Quân đội nhân dân – “Lê Đức Thọ, một nhân vật lịch sử với những trọng trách lớn”: các mốc ông được giao phụ trách sửa sai và trở thành Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.
  5. TTXVN – “Lê Đức Thọ – Nhà lãnh đạo… công tác tổ chức xây dựng Đảng”: tư liệu về hoạt động tổ chức của ông tại Nam Bộ và khi trở lại Trung ương.

Chương 12 vì thế có thể đi thẳng vào “Quyền lực nhân sự”, nhưng tôi đề nghị không viết theo kiểu “Lê Đức Thọ kiểm soát ai”, mà dựng từng cơ chế nhân sự: tuyển chọn → đào tạo → bổ nhiệm → điều chuyển → đánh giá → kỷ luật, rồi mới xem ông thực sự can thiệp được đến đâu.

0 comments:

Đăng nhận xét