Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2015

THÁNH STEPINAC

Bản dịch của Trần văn Kha

 

 



Trích dịch từ bài “The Spectacular Case of Archbishop Stepinac And A Total Catholic State” trong sách
“Vatican Imperialism In The Twentieth Century”

by Avro Manhattan

 

Exodus 22:20.  - Ai dâng đồ cúng bất cứ thần nào không phải Jehovah mà thôi thì đều phải tiêu diệt

Exodus 22:20.  - One who sacrifices to any gods but Jehovah alone is to be devoted to destruction

 

Tuân theo lời dạy của Thiên Chúa lòng lành vô cùng, Tổng giám mục Stepinac đã có công giết 850.000 người vì Chúa, được Giáo Hoàng John Paul II sửa soạn phong cho làm Thánh (năm 1999) gần 40 năm sau khi chết. Ngài “đau đớn” được Chúa gọi về cho lên thiên đàng, tháng 2, 1960. 

 

-------------------------------



 

(Quý vị nào yếu tim, Xin đừng đọc bài này)

 

Chính sách của Hitler đem lại cho ông ta rất nhiều lợi lộc. Nam-tư không những cương quyết trung lập: vào ngày 25, tháng 3, 1941, nước này ký một hiệp ước với ông ta, và như vậy bước thẳng vào phe Quốc Xã. Hai ngày sau, 27 tháng 3, 1941, một cuộc đảo chánh chống Quốc Xã, do tướng Mirkovich lãnh đạo, lật đổ chính phủ Nam-tư thân Quốc Xã. Trong khi toàn thể nước Nam-tư ăn mừng biến cố đó, thì Zagreb, thủ đô Nam-tư, đón nhận tin ấy trong sự im lặng lạnh lùng bất thường; những truyền đơn đầy hăm dọa, được thấy trước cửa nhà những người Serbs ở Zagreb, và một bầu không khí căng thẳng chờ đợi sự bất thường làm tê liệt Croatia. Vào ngày 6 tháng 4, 1941, Hitler tấn công Croatia. Giấc mộng của Pavelich, cho đến lúc bấy giờ được đánh dấu bằng những ám sát chính trị, cuối cùng gần thành sự thật.





 

Tổ chức Gia-tô bí mật rộng rãi của ông, đảng Ustashi, đã chuẩn bị trong nhiều năm cho ngày đó, được huy động. Pavelich, nhảy ra ánh sáng, kết hợp ngay với Hitler. Ustashi của ông chiến đấu mạnh mẽ ở hậu tuyến của Quân Đội Nam-tư. Những người Croats trong Quân Đội đồng thời thực hiện những hoạt động của đạo quân thứ năm tới mức độ làm cho không một việc gì được thực thi đúng theo chương trình. Những sĩ quan Croats chạy sang với người Đức, rồi tiết lộ cho họ biết những tin tức quan trọng về những căn cứ không quân, v.v… Những đơn vị Dân Quân Croats tước võ khí của Quân Đội Nam-tư. Sự rối loạn rộng rãi gây ra bởi những người Gia-tô Croats trở thành một trong những yếu tố chính giúp cho sự chiếm đóng Nam-tư của Đức được thực hiện mau chóng.  (Nước Nam-tư hồi đó có nhiều chủng tộc khác nhau, Croats Gia-tô, Hồi, Do-thái, Chính Thống Serbs). 

Việc phát động một lực lượng phản bội rộng rãi bên trong Nam-tư không thể thực hiện được nếu không có sự hợp tác tích cực của Giáo Hội Gia-tô. (The promotion of such a large treacherous body within Yugoslavia would have been impossible without the active cooperation of the Catholic Church.- Page 355). Những băng đảng khủng bố của Pavelich, Ustashi, đã được khuyến khích về mặt đạo đức và ủng hộ tiền bạc bởi Giáo Hội. Thực ra, thì cái xương sống của họ là những linh mục, tu sĩ và cả tổng giám mục. Những tu viện được sử dụng như là hành dinh bí mật của Ustashi từ rất lâu trước khi Quốc Xã tấn công. Những hoạt động quốc gia và quân sự bí mật được che dấu dưới cái vỏ ngoài tôn giáo. Giáo hội Gia-tô ở Croatia, Herzegovina và Dalmatia, trong nhiều năm đã triệu tập cái gọi là Hội Nghị Thánh Thể mà trong thực chất là để dùng vào những mục tiêu chính trị cực đoan (giống như những hội nghị tổ chức ở Pozega cuối thập niên 40, dưới cái tên giả mạo Hội Nghị Mary). Những phong trào khủng bố bán quân sự khác nhau, bất hợp pháp, cũng được che đậy dưới danh nghĩa tôn giáo. Đa số những tổ chức này đều kết hợp với những tổ chức Gia-tô dưới quyền giám sát trực tiếp của ban Hành Động Gia-tô, ban này được kiểm soát chặt chẽ bởi hàng giáo phẩm Croatia – tỉ dụ như “Brotherhood of the Crusaders”, với 540 hội đoàn và 30.000 đoàn viên; như “Sisterhood of the Crusaders”, với 452 hội đoàn và 19.000 hội viên; những “Hiệp Hội Sinh Viên Gia-tô” (Catholic Student Associations), Domagoj và những tổ chức khác.

Đa số đoàn viên của những tổ chức tôn giáo ấy rất tích cực trong công tác phá hoại và khủng bố, và một số rất nhiều đã tham gia vào công việc phản bội là tước vũ khí của Quân Đội Nam-tư tiếp theo sau sự tấn công của Hitler.


Vào ngày 10 tháng 4, 1941, quân đội Hitler tiến vào thủ đô Croatia. Cũng trong ngày ấy lãnh tụ của phong trào bất hợp pháp Ustashi tuyên bố Croatia là Nước Độc Lập, thành lập chính phủ Ustashi đầu tiên, và ngay sau đó, theo đúng truyền thống của nước chư hầu, tuyên bố chiến tranh với Đồng Minh.




  Hitler chào đón Pavelic; Pavelić greeted by Hitler on 9 June 1941 upon his arrival at the Berghof for a state visit, link: http://en.wikipedia.org/wiki/Ante_Paveli%C4%87

 

Vào ngày 12 tháng 4, trong khi sự chiến đấu vẫn còn đang tiếp diễn giữa quân Đức và quân đội Nam-tư trong vùng núi Bosnia, Tổng giám mục Stepinac tới thăm lãnh tụ Ustashi, và thúc giục tất cả người Croats ủng hộ Quốc Gia Gia-tô. Cũng trong ngày đó các báo ở Zagreb in những lời tuyên bố loan báo tất cả những người Chính Thống Serbs cư ngụ trong thủ đô Gia-tô mới phải ra khỏi thành phố trong vòng 12 giờ. Bất cứ ai chứa chấp một người Chính Thống sẽ bị hành hình. (Anyone found harboring an Orthodox would be executed. Page 356).

Ngày 13 tháng 4 Ante Pavelich từ nước Ý trở về Zagreb. Ngày 14 tháng 4, Tổng giám mục Stepinac đích thân tới gặp Pavelich để ca tụng về sự thành công một đời người của ông ta.



 Cardinal Archbishop of Zagreb


Aloysius Stepinac


“Thượng Đế, ấn định số phận của các quốc gia và kiểm soát con tim của của các vị Vua (một lãnh tụ Crusaders đã viết), đã cho chúng ta Ante Pavelich và thúc đẩy lãnh tụ của một dân tộc anh em và đồng minh, Adolf Hitler, sử dụng quân đội chiến thắng của ông để giải tán những kẻ áp bức chúng ta và giúp cho chúng ta thành lập Quốc Gia Độc lập Croatia. Vinh quang cho Thượng Đế, lòng biết ơn của chúng ta với Adolf Hitler, và sự trung thành vô hạn của chúng ta với lãnh tụ Ante Pavelich”. 

(God, who directs the destiny of nations and controls the hearts of Kings [wrote a leader of the Crusaders], has given us Ante Pavelich and moved the leader of a friendly and allied people, Adolf Hitler, to use his victorious troops to disperse our oppressors and enable us to create an Independent State of Croatia. Glory be to God, our gratitude to Adolf Hitler, and infinite loyalty to chief Ante Pavelich.- Page 356).


Một vài ngày sau (28 tháng 4, 1941) Stepinac cho công bố một thư mục vụ yêu cầu tất cả hàng giáo phẩm Croatia ủng hộ và bảo vệ Quốc Gia Gia-tô Mới Croatia.

Vào lễ Phục Sinh 1941, Stepinac tuyên bố từ nhà thờ Zagreb sự thành lập Quốc Gia Độc Lập Croatia, như vậy là Giáo Hội và Vatican long trọng chấp nhận việc làm của Pavelich. Sau khi hứa sự hợp tác chân thành của toàn thể hàng giáo phẩm, Tổng giám mục long trọng ban phép lành cho Pavelich như là người lãnh đạo dân tộc Croatia: “Trong khi thân mật chào mừng ông như là lãnh tụ của Quốc Gia Độc Lập Croatia, chúng tôi cầu nguyện Chúa Tể các Vì Sao ban phép lành thánh thiện cho ông, người lãnh đạo dân tộc chúng ta”. (While we greet you cordially as head of the Independent State of Croatia, we implore the Lord of the Stars to give his divine blessings to you, the leader of our people.- Page 357).

Cũng nên nhớ rằng Pavelich cũng là người đã bị kết tội tử hình vì những ám sát chính trị: một lần bởi Tòa Án Nam-tư vì những hành động khủng bố, được hoạch định và thi hành từ nước Áo, Ý và Hung; lần thứ hai bởi Pháp, vì đã ám sát vua Alexander và Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp, ông Barthou.




Ngay từ ngày đầu, Croatia được tổ chức để cho phù hợp với chữ và tinh thần của đạo Gia-tô. Tất cả các đảng phái chính trị đều bị dẹp bỏ. Các đảng viên cộng sản, xã hội và tự do đều bị bắt, bỏ tù hay cho đem vào trại tập trung. Giảng dạy đạo Gia-tô đều bị bắt buộc trong các trường. Các nghiệp đoàn đều hủy bỏ. Tự do ngôn luận và tự do báo chí trở thành kỷ niệm của quá khứ. Đạo Gia-tô được tuyên bố là đạo duy nhất của quốc gia.

(From the very first day, Croatia was made to conform to the letter and spirit of Catholicism. All political parties were suppressed. Communists, socialists and liberals were arrested, imprisoned and sent to concentration camps. Catholic teaching became compulsory in all schools. Trade unions were abolished. Freedom of speech and the Press became memories of the past. Catholicism was declared the only religion of the state.- Page 359).
 

Trong khi Pavelich thi hành những thay đổi đó với sự hợp tác chặt chẽ của đội quân xung kích, Tổng giám mục Stepinac giúp cho công tác của ông ta được dễ dàng bằng sự động viên toàn thể Giáo Hội Croatia, toàn thể hàng giáo phẩm, và toàn thể tín đồ. Không có một dịp nào qua đi mà Stepinac không ra mặt lên tiếng ca tụng, gửi gấm và ban phép lành cho nước Croatia Mới, vị lãnh Tụ Vĩ Đại của Croatia và những người phát-xít bảo hộ ông, Hitler và Mussolini.

Ngày 31 tháng 10, 1922, người phát-xít độc tài đầu tiên Mussolini được lên ngôi ở nước Ý (link:http://en.wikipedia.org/wiki/Benito_Mussolini). Biến cố ấy được cử hành long trọng mỗi năm với những cuộc diễu binh do chính Mussolini đi duyệt. Tổng giám mục Stepinac, tuy vẫn ở Croatia, cũng hàng năm làm lễ cho biến cố đó ở Rome với những lời ca tụng tình tứ và những lời cầu nguyện đặc biệt cho Công Tước.
Những lời ca tụng của Tổng giám mục còn được ban bố rộng rãi nhiều hơn nữa cho phát-xít Croatia trong những ngày lễ tôn giáo, chính trị và cả quân sự nữa. Khi Sabor hội họp, vào tháng 2, 1942, Stepinac long trọng kêu gọi Thánh Ma (Holy Ghost) soi sáng cho bộ lông mày khỉ đột của Pavelich và những con dao sắc bén của băng đảng ông ta. Khi gần tới ngày sinh nhật của Pavelich, Tổng giám mục tổ chức một lễ cầu nguyện cực kỳ long trọng, một lễ tạ ơn đặc biệt và ra lệnh cho tất cả nhà thờ cầu nguyện cho Pavelich. Khi đoàn Hải Quân cỡ bỏ túi của Pavelich ra khơi di chuyển tới Biển Đen, để cùng với đồng minh Đức chiến đấu chống lại Nga Sô-viết, những buổi lễ được tổ chức ở Zagreb, với sự tham dự của hàng giáo phẩm, do Stepinac chủ tọa và bởi đại diện của Pius XII, Bác sĩ Ramiro Marcone, Sứ Thần Giáo Hoàng.
Hàng giáo phẩm Croat noi theo gương lãnh tụ của họ với một sự tích cực nhất; nghĩa là Tổng giám mục Saric, bạn thân của Jure Francetic, Chỉ huy đoàn quân “Lê Dương Đen”, đã thành kính sử dụng cách chào Ustashi (nghĩa là phát-xít) ở nơi công cộng và nơi tư gia; hay Giám mục Akshamovich, giáo phận Djakovo, vị này đã được Pavelich tự tay gắn cho huy chương vì “Ngài Giám mục đã ngay từ đầu hợp tác với những giới chức Ustashi”. 
Việc chỉ huy chính trị-tôn giáo như vậy đã quấn chặt vào nhau không thể tách rời được, những người lãnh đạo chính trị và tôn giáo bắt đầu tích cực thi hành một sự sửa đổi tàn nhẫn và tận gốc, với mục đích làm cho Croatia trở thành một Quốc Gia Gia-tô kiểu mẫu một trăm phần trăm.
Việc này đòi hỏi không phải chỉ thay đổi nội dung xã hội văn hóa và chính trị của Croatia, nhưng mà là loại trừ tận gốc những cái gì ở ngoài Gia-tô. Nghĩa là tất cả những người không phải của Giáo Hội Gia-tô, và như thế là tất cả những người không phải giống dân Croat. Đó là điều kiện tiên quyết để thiết lập một nước Croatia Gia-tô độc thần. Do đó cần tiêu diệt hết những giống dân đó. Công việc ấy không phải dễ dàng, vì một phần lớn nước Croatia mới gồm có những nhóm người với chủng tộc và tôn giáo khác nhau, hoàn toàn ở ngoài Croat Gia-tô.
(This implied not only transformation of the Croatian social, cultural and political fabric, but radical extirpation of whatever was alien to Catholicism. This included all individuals not belonging to the Catholic church and therefore not of Croat racial stock. That was a prerequisite for the erection of a monolithic Catholic Croatia. Hence the need for their total elimination. That was not an easy task, for a large portion of the new Croatia was composed of racial-religious groups, wholly foreign to Croat-Catho- licism.- Page 359-60).
Thực thế, trên tổng số dân 6.7000.000, chỉ có 3.300.000 là Croats. Phần còn lại gồm có, 700.000 người Hồi, 45.000 Do-thái, và một nhóm dân thiểu số. Cuối cùng là hơn 2.000.000 dân Serbs Chính Thống.
Việc thâu nhận vào Croatia mới nhiều giống dân không Gia-tô là do những tham vọng đất đai của tình thần quốc gia Croat. Việc này thành hình bởi quan niệm một “Croatia Lớn Hơn” (Greater Croatia), bắt nguồn từ cuối thế kỷ trước, khi một người Gia-tô Croat, Ante Starcevic, thành lập một đảng chính trị cực đoan, Đảng Luật Pháp Croat, đảng này rồi được Ante Pavelich nâng lên thành  một chương trình quốc gia Croat. Trong khi Starcevic là lý thuyết gia, Pavelich trở thành người thực thi ý thức hệ đặc biệt chủng tộc và tôn giáo của Đảng căn cứ vào một quan niệm như thế. Điều này có nghĩa là sát nhập vào Croatia độc lập những đất đai đang trong vòng tranh chấp, và do đó những thành phần không Gia-tô. Việc này đương nhiên trở thành một chướng ngại lớn nhất cho việc Gia-tô hóa hoàn toàn Quốc Gia Croat mới. Vì thế mà chính sách tiêu diệt mau chóng tất cả những sắc dân không Gia-tô được áp dụng. 
Một chính sách như thế, được lạnh lùng hoạch định bởi Pavelich với sự hỗ trợ của hàng giáo phẩm, được thực thi ngay sau khi Quốc Xã xâm chiếm Nam-tư và được tuyên bố bởi những người lãnh đạo Croat có trách nhiệm. Bác sĩ Milovan Zanich, Bác sĩ Mirko Puk, Bác sĩ Victor Gutich, các linh mục Croat, đã không ngần ngại tuyên bố rằng nước Croatia mới sẽ loại trừ hết những người Serb trong hàng ngũ của họ, để có thể trở thành một trăm phần trăm Gia-tô “trong vòng mười năm”. Bác sĩ Mile Budak, Bộ Trưởng Giáo Dục và Tín Điều của Pavelich, trong một cuộc họp công khai ở Gospic, ngày 22 tháng 7, 1941, đã chính thức công bố kế hoạch:
“Chúng tôi sẽ giết một phần những người Serbs [đó là lời của ông], chúng tôi sẽ di chuyển một phần khác, và những người còn lại bắt buộc phải theo đạo Gia-tô La-mã. Phần cuối cùng này sẽ bị đồng hóa bởi những thành phần Croat”.     
(We shall kill one part of the Serbs [were his words], we shall transport another, and the rest of them will be forced to embrace the Roman Catholic religion. This last part will be absorbed by the Croatian elements.- Page 360).
Những đường lối nhanh nhất và căn bản nhất để thực thi kế hoạch đó: di chuyển tập thể những người Serbs ra khỏi vùng tranh chấp. Những người Serbs này, một phần ba bị đuổi về Serbia, một phần ba bị “thuyết phục” để theo đạo Gia-tô và phần còn lại sẽ “giải quyết” bằng những phương tiện khác. “Thuyết phục” trở thành bắt buộc phải đổi đạo, và “những phương tiện khác” là tiêu diệt thân thể.
Như vậy có nghĩa là tiêu diệt hoàn toàn Giáo Hội Chính Thống, và thực ra, đó là đường lối chính thức của Quốc gia Gia-tô Croat mới, đã được Bác sĩ Mirko, Bộ Trưởng Tư Pháp và Tôn Giáo Croat áp dụng, khi ông tuyên bố trong Quốc Hội:
“Tôi cũng sẽ nói tới cái gọi là Chính Thống Giáo Serb [ông nói]. Về vấn đề này tôi phải long trọng tuyên bố rằng Quốc Gia Độc Lập Croat không thể và sẽ không công nhận Giáo Hội Chính Thống Serb”.
(I shall also make reference to the so-called Serbian Orthodox Church [he said]. In this regard I must emphatically state that the Independent Croatian State cannot and will not recognize the Serbian Orthodox Church.- Page 360).
Bộ Trưởng Tư Pháp và Tôn Giáo Croat có thể thẳng thắn nói thế, vì sau ông là hàng giáo phẩm Croat. Tiêu biểu cho tinh thần đã gây xúc động vào thời đó cho hàng giáo phẩm là những lời sau đây, do Cha Petar Pajic viết, trong cơ quan của Tổng giám mục Sarajevo:
“Cho đến bây giờ, Thượng Đế nói qua những thông điệp của giáo hoàng… Và? Họ bịt tai lại… Bây giờ Thượng Đế quyết định dùng những phương pháp khác. Người sẽ sửa soạn những phái đoàn. Những phái đoàn Âu Châu. Những phái đoàn thế giới. Những phái đoàn đó sẽ được chỉ huy, không phải bởi những tu sĩ, nhưng bởi những cấp chỉ huy quân đội, do Hitler cầm đầu. Những lời giảng sẽ được nghe thấy, với sự phụ giúp của đại bác, súng máy, xe tăng và máy bay ném bom. Ngôn ngữ của những bài giảng này sẽ là quốc tế…”
(Until now, God spoke through papal encyclicals… And? They closed their ears… Now God has decided to use other methods. He will prepare missions. Europeans missions. World missions. They will be upheld, not by priests, but by army commanders, led by Hitler. The sermons will be heard, with the help of cannons, machine guns, tanks and bombers. The language of these sermons will be international.- Page 361).
Đó có phải chỉ là nghệ thuật biện luận không? Đó là căn bản cụ thể mà chương trình ba phần của Pavelich-Stepinac căn cứ vào để đồng thời hành động khắp mọi nơi, tiếp theo sau sự thiết lập Quốc Gia mới. Việc thực thi là một công việc giản dị, trực tiếp, tàn bạo, được điều khiển dưới bóng đoàn quân xung kích Gia-tô của Pavelich, đảng Ustashi. Nó bao gồm từ những sắc lệnh giản dị – tỉ dụ như sắc lệnh được ban bố bởi Bộ Trưởng Giáo Dục Công Cộng chỉ bốn ngày sau khi Hitler tấn công (ngày 10 tháng 4, 1941), sắc lệnh này ngăn cấm không cho những người của Giáo Hội Chính Thống Serb vào Đại Học trừ khi họ từ bỏ đức tin Chính Thống trước ngày 10 tháng 4, 1941 – cho đến việc đưa một số lớn đi đày, như đã được Ustashi thực thi ở Zagreb ngày 4 và 5 tháng 7, 1941; cho đến việc tàn sát đàn ông, đàn bà và trẻ con, như những vụ tàn sát ở Kljuch, ngày 31 tháng 7, 31 tháng 8, ngày 1 và 9, 1941, khi toán “Ustashi Bay” (Flying Ustashi) hành hình cấp tốc 2.000 người Serbs.
(Tất cả những tội ác mô tả ở chương này là chính xác. Tác giả đã lấy những tin tức đó từ những tài liệu do những nguồn tin chính trị rất khác nhau cung cấp; những tài liệu chính thức của chính phủ cộng sản Nam-tư dưới thời Tito; những tài liệu trong văn khố của Cựu Hoàng Peter nước Nam-tư, lúc ấy cư ngụ ở bên Anh.; những tài liệu của Giáo Hội Chính Thống; những giấy tờ của Bác sĩ M. Zekulich, được Giáo Hội Chính Thống và Tướng Mihailovich giao phó cho trách nhiệm, năm 1942, tiếp xúc với Đồng Minh, với sứ mạng đặc biệt thông báo cho họ những sự tàn sát của Ustashi. Cũng như từ những tin tức do Bác sĩ Zekulich và Tướng Mirkovich, vị Tướng này là người đã lật đổ chính phủ Nam-tư khi nước này ký hiệp ước với Hitler, và đã đua Nam-tư gia nhập khối Đồng Minh (1941). 
Không thỏa mãn với việc làm ấy, tác giả đã đích thân liên lạc với nhiều người Serbs Chính Thống những người này đã chứng kiến những tàn sát của Ustashi, và cả những nạn nhân sống sót. Tháng 5, 1951, tác giả, Bác sĩ Zekulich, và Tướng Mirkovich đã triệu tập một cuộc họp đặc biệt ở London, có sự tham dự của những nạn nhân Ustashi cư ngụ ở bên Anh, và nhờ có họ những tài liệu khác được thêm vào, tất cả đều được xác nhận bởi những tên người, địa điểm và ngày tháng).
(All the crimes described in this chapter are authentic. The author has drawn them from documents supplied by sources as politically varied as they could be: official documents of the government of communist Yugoslavia under Tito; documents in the archives of ex-King Peter of Yugoslavia, then residing in England; documents of the Orthodox Church; papers of Dr. M. Zekulich, who was charged jointly by the Orthodox Church and by General Mihailovich in 1942 to contact the Allies, with the special mission of informing them of the Ustashi massacres. Also from information supplied by Dr. Zekulich and by General Mirkovich, the man who overthrew the Yugoslav government when it signed a treaty with Hitler, General Mirkovich then brought Yugoslavia into the Allied camp (1941).
Non content with this, the author personally contacted numerous Orthodox Serbs who had been eye-witnesses of the Ustashi massacres, and even victims who had escaped. In May, 1951, the author, Dr. Zekulich, and General Mirkovich held a special meeting in London, attended by victims of the Ustashi residing in England, from which further documentation was added, all authenticated by names, places, and places.- Note 14, Page 377-78).
Những việc đưa đi đầy tập thể và hành quyết tập thể, phần lớn ở những tỉnh hay làng nhỏ là những kế hoạch nghiên cứu kỹ.
Tháng 4, 1941, trong một làng ở Gudovac, 200 dân quê Serbs đã bị Ustashi giết chết, tiếp theo sau một số lớn hơn ở những làng thuộc tỉnh Stari Petrovac, ở quận Nova Gradisca, và ở Glina. Tại đó vào những ngày đầu tháng 5, 1941, Ustashi ở Karlovci, Sisak và Petrinja tập họp tất cả đàn ông từ 15 tuổi trở lên, cho lên xe lớn chở ra ngoài tỉnh và giết hết. Riêng tại quân này thôi, khoảng 120.000 người Serbs đã bị hành quyết như thế trong một thời gian ngắn. (In this district alone about 120.000 Serbs were thus exterminated within a short period.- Page 361).
Những tàn sát khủng khiếp đó không phải là những trường hợp riêng biệt. Đó là một thành phần chính sách được nghiên cứu kỹ lưỡng của chính phủ. Và được thi hành không gián đoạn, vừa ở những quận ngoại thành vừa ở những trại tập trung được thiết lập cho mục đích đó – như ở những trại Jasenovac, Stara Gradiska, Gospic, mà tại đó hàng mười ngàn người Serbs đã bị thủ tiêu.
Như đã thành lệ, thủ tục thật giản dị. Giới chức Ustashi kêu gọi những nhóm người Serbs với lý do tuyển mộ cho quân đội hay làm việc công cộng. Một khi được tập trung, thì họ bị bao vây bởi những toán võ trang Ustashi, được đem ra khỏi làng và hành quyết. Có khi điểm tập trung là một nhà thờ Chính Thống Serb – như ở thành phố Glina. Trong những vùng núi thuộc miền Upper Dalmatia, như Bosnia và Herzegovina, đàn bà và trẻ con được đưa tới những địa điểm ở xa rồi tàn sát. Ở Brcko, thành phố Dzafer Kulenovic của Phó Thú Tướng, những người tù bị hành quyết ở trên cầu rồi vứt xác xuống sông. Nhiều khi việc hành quyết được thực hành tại nhà của những nạn nhân, với những vũ khí thô sơ nhất. Một vài người Ustashi chuyên môn trong việc thanh toán nạn nhân bằng cách đập bể sọ bằng rìu hay cả bằng búa. Những tàn bạo khó tin nhưng chính xác đã xảy ra mỗi khi Ustashi xuất hiện. Tỉ dụ như ở Dubrovnik, Dalmatia, những người lính Ý đã chụp hình một Ustahi đeo hai “vòng cổ”. Một cái  là một xâu những tròng mắt, cái kia là lưỡi của những người Serbs bị giết. (At Dubrovnik, Dalmatia, for instance, Italian soldiers took pictures of an Ustashi wearing two “necklaces”. One was a string of cut-out eyes, the other of torn-out tongues of murdered Serbs.- Page 362).
Một vài những điều khủng khiếp nhất, lạ lùng thay, lại được thi hành bởi những thành phần trí thức. Một trường hợp ghê gớm nhất thuộc loại này chắc chắn là của Peter Brzica. Peter Brzica là một sinh viên luật khoa, đã theo học đại học Franciscan ở Siroki Brijeg, Herzegovina, một thành phần của tổ chúc Gia-tô Krizari (Thập Tự Quân, The Crusaders). Vào đêm 29 tháng 8, 1942, ở trại tập trung Jasenovac, lệnh hành quyết được ban hành. Những người chịu trách nhiệm đánh cá với nhau, xem ai giết được nhiều tù nhất. Peter Brzica cắt cổ được 1.360 người tù bằng con dao đồ tể đặc biệt. Anh ta được tuyên bố trúng giải cuộc thi đua, và được bàu làm Vua Cắt Cổ, và được thưởng một chiếc đồng hồ vàng, một bộ đồ ăn bằng bạc, một con heo sữa quay và rượu. Sự đồi bại kinh dị ấy được kể lại bởi một vị bác sĩ chứng kiến có mặt ở trại khi sự việc xảy ra. Tên ông: Bác sĩ Nikola Kikolic, ông ta cũng là dân Croat. (Peter Brzica cut the throats of 1,360 inmates with a special butcher’s knife. He was declared the prizewinner of the competition, elected King of the Cutthroats, and rewarded with a gold watch and a silver service, a roasted suckling-pig and wine. This astonishing depravity was reported by a doctor eyewitness who was in the camp when the event took place. His name: Dr. Nikola Kikolic, himself a Croat.- Page 362).
Đồng thời với tất cả những việc đó, sự tàn sát Giáo Hội Chính Thống và ép buộc đổi đạo cũng được thực thi không kém phần tàn bạo. Rất nhiều những đoàn quân chịu trách nhiệm thi hành những công việc đó được điều khiển bởi những tu sĩ Gia-tô và thường là thày dòng, những người này đã tuyên thệ chiến đấu bằng dao và súng cho sự “chiến thắng của Đấng Christ và nước Croatia”, và thực ra, một số đó (tỉ dụ như Miroslav Filipovitch Majstorovich, linh mục dòng Franciscan) còn trở thành những người chỉ huy các trại tập trung.
Tu sĩ  Gia-tô chỉ huy các đoàn Ustashi võ trang tới đóng cửa các nhà thờ Chính Thống và tịch thu hồ sơ Chính Thống. Tỉ dụ như ở Banja Luka, một sĩ  quan ra lệnh rằng tất cả những hồ sơ Chính Thống về cưới hỏi, rửa tội, chôn cất, phải được giao nộp ngay cho những giáo khu Gia-tô. Các tu sĩ Gia-tô tịch thu nhà cửa của giám mục Serb ở Pakrac, khóa cửa và niêm phong nhà thờ (ngày 12, tháng 4, 1941).
Nhiều nhà thờ Chính Thống được sửa lại thành phòng ăn – tỉ dụ như nhà thờ ở Prnjavor, ngày 10 tháng 7, 1941. Những nhà thờ khác được biến đổi thành nhà thờ Gia-tô, nếu những nhà thờ ấy không bị giật sập hoàn toàn – tỉ dụ như ở những tỉnh Lika, Banija và Kordun, đã có 172 nhà thờ bị phá hủy hoàn toàn. Đa số những tu viện Chính Thống cũng chịu chung số phận. Ở Fruska Gora, 15 tu viện Chính Thống Serb và nhà thờ được giao cho những tu sĩ Gia-tô dòng Franciscan, những tài sản của nhà thờ ở Orahovica, Pakrac, Lepavina và nhiều nơi khác cũng thế.
Tu viện ở Vrdnik-Ravanica, mà tại đó có hài cốt của Vua Lazar, vị vua này đã chỉ huy và chết trong trận chiến lịch sử ở Kosovo chống lại người Thổ năm 1389 để bảo vệ đạo Gia-tô, cũng bị chiếm, cũng như Sremski Karlovci, nguyên là thủ phủ của vị đứng đầu Chính Thống giáo. Tại đó nhà thờ vĩ đại trước hết là bị hôi của, rồi bị đóng, sau khi tất cả những của cải vật chất đã được giám mục Gia-tô chiếu cố. (There the great cathedral was first plundered of all valuables, then closed, after all its physical properties had been taken over by the Catholic bishop.- Page 363).
Song song với tất cả những việc đó, là bắt đầu trong toàn thể Croatia, một cuộc chạy đua thực sự giữa các giám mục Gia-tô và tu sĩ, để coi xem ai đem được nhiều nhất những người Chính Thống trở lại với “đức tin”. Tinh thần của phong trào thi đua ấy được thấy rõ trong tờ truyền đơn kiểu mẫu, phát hành năm 1941, bởi tờ báo của giáo xứ Djakovo, với lời lẽ như sau:
“Chúa Jesus Christ bảo rằng chỉ có một đồng cỏ và một người chăn chiên. Những người dân của đức tin Đông-Thổ, nghe lời khuyên bằng hữu… Giám mục ở Djakovo đã tiếp nhận hàng ngàn người dân vào Giáo Hội Gia-tô Thánh Thiện, và những người dân đó đã nhận được những chứng thư lương thiện do các giới chức quốc gia cung cấp. Hãy theo những anh em của các bạn, và trình diện càng sớm càng tốt để đổi đạo sang Giáo Hội Gia-tô”.
(The Lord Jesus Christ said that there shall be one pasture and one shepherd. Inhabitants of the Greek-Eastern faith, hear this friendly advice… The Bishop of Djakovo has already received thousands of citizens in the Holy Catholic Church, and these citizens have received certificates of honesty from State authorities. Follow these brothers of yours, and report as soon as possible for rechristening into the Catholic Church.- Page 363).
Với những tỉ dụ tàn sát hàng ngày trước mắt họ, nhiều người đã nghe theo “lời khuyên bằng hữu”. Đổi đạo cá nhân hay tập thể trở thành một biến cố thường xuyên. Đa số những đổi đạo tập thể được loan báo trên Báo Chí Croatia. Katolicki List, cơ quan ngôn luận của tòa Giám mục Zagreb, do Stepinac kiểm soát, trong số 38 năm 1941, đã loan báo, “tất cả làng ở Budinci đã đổi đạo sang Đức Tin Gia-tô. Một giáo xứ trên 2.300 linh hồn đã được thiết lập ở trong làng”. Sự sửa soạn để đổi đạo đã được điều hành bởi một người Franciscan ở Nasice, Cha Sidonije Scjolz.
Ustaska Velika Zupa số 1372, ngày 27 tháng 4, 1942, mô tả những đổi đạo tập thể ở vùng phụ cận Osijeck, do Cha Peter Berkovic chủ tọa:
Công việc của người bao gồm từ giai đoạn sửa soạn cho những thành phần Đông Chính Thống đổi sang Gia-tô cho tới khi họ thực sự đổi đạo, và như vậy trong các quận Vocin, Cacinci và Ceralijie, người đã đổi đạo cho hơn 6.000 người.
(His work covers the period from preparation of the members of the Eastern Orthodox Church for conversion to Catholicism until they were actually converted, and thus in the counties of Vocin, Cacinci, and Ceralijie he converted more than 6,000 persons. Page 363).
Ante Djuric, tu sĩ ở Divusa, một nhân viên hành chánh Ustashi, buộc những chủ gia đình phải đến trình diện với thày giáo sở tại, với một con tem 10 đô-la như là thuế để xin đổi sang đạo Gia-tô cho chính họ và gia đình họ, nếu không thì bị tịch thu nhà cửa và mất sở làm.
Cha phó ở Ogulin, Canon Ivan Mikan, bắt phải nộp 180 dinars cho mỗi vụ đổi đạo ép buộc, thành ra chỉ trong một làng Serb ở Jasenak, ông đã thu được 80.000 dinars (tương đương với 400 đô-la). Những cải đạo tập thể được thực hiện ra sao đã được tờ báo của Ustashi, Nova Hrvatska, ngày 25 tháng 2, 1942,  tiết lộ cho biết: “Việc cải đạo đã được thực hiện một cách thật long trọng bởi cha phó ở Petrinja, Michael Razum. Một đại đội Ustashi đã hiện diện trong buổi lễ trang trọng đó.
Việc cải đạo, hay trở lại đạo, như người ta gọi thế, thường được cử hành long trọng không phải bằng nước nhưng cũng bằng máu nữa.
Linh mục Ivan Raguz, là một tỉ dụ, công khai thúc giục giết tất cả dân Serbs, kể cả con nít, để “cả những hạt giống của những con vật đó không còn lại”, trong khi cha phó Bodizar Brale, ở Sarajevo, tham dự vào việc thanh toán dân Serb với súng cầm tay, chủ trương “thanh toán dân Serbs không nhân nhượng”. Brale về sau được chỉ định vào Chủ Tịch Đoàn Tinh Thần những Tổng giám mục ở Sarajevo. (Priest Ivan Raguz, for instance, publicly urged the killing of all Serbs, including children, so that “even the seed of these beasts is not left”, while curator Bodizar Brale, from Sarajevo, who took part in Serbian liquidation with gun in hand, advocated “liquidation of the Serbs without compromise”. Brale was later appointed to the Presidency of the Spiritual Board of the Archbishop of Sarajevo.- Page 364).
Những việc cải đạo tập thể ấy không chỉ bị ép buộc vì sợ hãi hay những tàn sát hiện tại, nhưng cũng vì, như ở Ba-lan sau Thế Chiến Một, những việc cải đạo đã trở nên dễ dàng bởi sự tiêu diệt có tính toán các tu sĩ Chính Thống. Hàng trăm tu sĩ Chính Thống, kể cả giám mục, đã bị Ustashi giết chết.
Đêm 5 tháng 6, 1941, theo lệnh người cầm đầu Ustashi, Gutic, Giám Mục Chính Thống ở Banjaluka Platon,  miền Tây Bosnia, cùng với nhiều tu sĩ Chính Thống khác, một vài người trong số đó là Đại Diện Dân Cử Hạ Viện, đã bị Ustashi áp tải ra bên ngoài thành phố. Tại đó râu của vị giám mục già bị vặt hết, người ta đốt lửa trên cái ngực trần của Ngài, rồi, sau một hồi hành hạ lâu dài, Ngài và đồng liêu của Ngài bị giết bằng rìu và xác của họ đem vứt xuống sông Vrbanja.
(On the night of June 5, 1941, on orders of the Ustashi chief, Gutic, the Orthodox Bishop of Ganjaluka Platon, in Western Bosnia, together with several Orthodox priests, some of whom were former members of the House of Representatives, was taken to the ourkirts of the town by the Ustashi. There the old bishop’s beard was first torn out, a fire lit on his naked chest, then, after prolonged torture, he and all his companions were killed with hatchets and their bodies thrown into the Vrbanja River.- Page 364).
Dositej, Giám Mục Chính Thống của Zagreb, thủ đô của Quốc Gia Độc Lập Croatia, mà tại đó Tổng giám mục Stepinac có nhà riêng, đã phát điên vì tra tấn trước khi chết. Hai giám mục Chính Thống nữa cũng bị tàn sát y như thế.
Rất nhiều những linh mục và tu sĩ Gia-tô, một vài người trong số đó dù không dính dáng gì tới những tổ chức Ustashi, cũng tham gia vào việc giết người bằng chính tay họ. Tên tuổi của một số người đó còn được lưu giữ trong hồ sơ của Giáo Xứ Chính Thông Đông Serb ở bên Mỹ và Canada.
Hậu quả của chính sách đó là toàn thể gia đình, toàn thể dân làng, và cả những tỉnh nhỏ đã đổi đạo sang Gia-tô trong những buổi lễ tập thể do linh mục Ustashi làm chủ lễ, “chứng kiến” bởi những đơn vị võ trang Ustashi, họ bị hăm dọa, nếu từ chối, thì bị trục xuất. Điều này có nghĩa là tài sản và tính mạng của họ không được bảo đảm. Vì vậy, hàng ngàn người xin đổi đạo. Sau khi cải đạo tập thể, những người “Gia-tô mới” phải tập họp đi tới nhà thờ Gia-tô địa phương, và theo đúng luật lệ hiện hành họ được những đơn vị võ trang Ustashi đi theo bảo vệ, vừa đi vừa hát về cái hạnh phúc là cuối cùng, họ đã trở thành những đứa con của Giáo Hội chân thật. 
Thế chưa phải là hết. Tại tất cả những làng mà người Serbs đã “trở lại đạo”, dân làng, bị các linh mục Gia-tô ép buộc, phải gửi những điện tín ca tụng Tổng giám mục Stepinac, Ngài được thông báo mọi sự cải đạo tập thể đã thực hiện trong mỗi giáo xứ ở Croatia. Nhiều điện tín như thế đã được in trên báo Ustashi, Nova Hrvatska, cũng như trên tờ báo giáo xứ chính thức của Stepinac Katolicki List. Trong số báo ra ngày 9 tháng 4, 1942, Nova Hrvatska in bốn điện tín như thế, tất cả đều gửi cho Stepinac, mà trong đó có tường trình về những cải đạo tập thể. Một trong những điện tín ấy được viết như sau:
“2.300 người, tụ tập ở Slatinski Drenovac, từ những làng Drenovac, Pusina, Kraskovic, Prekorecan, Miljani va Gjurisic, hôm nay đã chấp nhận sự bảo vệ của Giáo Hội Gia-tô La-mã và gửi những lời chúc mừng sâu đậm nhất tới Người đứng Đầu”.
(2,300 persons, assembled in Slatinski Drenovac, from the villages of Drenovac, Pusina, Kraskovic, Prekorecan, Miljani and Gjurisic, accepted today the protection of the Roman Catholic Church and send their profound greetings to their Head.- Page 365). 
Những nhân viên của hàng giáo phẩm Gia-tô tham gia vào việc cải đạo ấy, tuy nhiên, không giới hạn hành động của họ vào việc sử dụng sự sợ hãi mất hết của cải và cả tính mạng nữa. Mỗi khi gặp sự chống đối, họ ra lệnh và, thực ra, chính họ đã đích thân hành quyết rất nhiều những người Chính Thống cứng đầu. Khi chống đối tập thể, thì trừng phạt tập thể, và thường thường là giết chết.

Một linh mục Dòng Tên, Bác sĩ Dragutin Kamber, một người Ustashi có tuyên thệ, là một tỉ dụ, đã ra lệnh giết khoảng 300 người Serbs Chính Thống ở Doboj, và đưa 250 người khác ra tòa án quân sự, mà đa số đã bị đem bắn bỏ; trong khi Cha Bác sĩ Branimir Zupanic, một bạn thân của Ante Pavelich, đã ra lệnh giết 400 người, vừa đàn ông, đàn bà, và con nít chỉ ở một làng thôi, Ragolje.

Cha Srecko Peric, của tu viện Gorica gần Livno, khi giảng đạo trong Nhà Thờ ở Gorica, đã hô hào giết người tập thể: “Giết hết người Serbs [đó là lời ông]. Trước hết giết chị tôi vì đã lấy một người Serb, rồi tất cả người Serbs. Khi các anh làm xong công việc đó, đến nhà thờ này xưng tội và tôi sẽ giải tội cho các anh”. (Kill all Serbs [were his works]. First of all, kill my sister, who is married to a Serb, and then all Serbs. When you finish this work, come here to the church and I will confess you and free you from sin.- Page 365). 

Tiếp theo đó là một sự tàn sát 5.600 người Serbs Chính Thống chỉ riêng ở quận Livno mà thôi (10 tháng 8, 1941).

Nhưng thành tích cao nhất thì do Miroslav Filipovic nắm giữ, đó là một Ustashi từ trước Chiến Tranh và là một tu sĩ dòng Franciscan. Trong làng Drakulic, Cha đã tự tay giết một đứa bé, và đồng thời hô hào một đơn vị Ustashi với những lời như sau: “Ustashi, tôi đã cải đạo cho những người đồi bại đó nhân danh Thượng Đế. Các bạn noi theo gương tôi”. (Ustashi, I rechristen these degenerates in the name of God. You follow my example.- Page 365).

(Trong sách “The Vatican Holocaust”, trang 72, tác giả đã kể cũng câu chuyện đó như sau:

“Sự tàn bạo chính trị và tôn giáo của ông ta (cha Filipovic) có thể được xét đoán bởi sự kiện là, trong lúc nói chuyện với một tiểu đoàn Ustashi võ trang ở làng Drakulic, ông ta đã tự tay giết một đứa bé Chính Thống Giáo”.

His political and religious ruthlessness can be judged by the fact that, while adressing a battalion of the armed Ustashi in the village of Drakulic, he killed an Orthodox child with his own hands.-)

Hậu quả tấm gương của Cha Filipovic: 1.500 người Serbs Chính Thống đã bị giết trong một ngày. Filipovic được vinh thăng Chỉ Huy trại Jasenovac, một trại trập trung của Ustashi có thể đứng ngang hàng với Dachau (Trại tập trung Đức Quốc Xã) về sự khủng khiếp. Với khả năng đó, Filipovic, và với sự hợp tác của Cha Zvonko Brekalo, Zvonko Lipovac và Cha Culina, là người trách nhiệm về cái chết của 40.000 đàn ông, đàn bà và con nít, ở trại tập trung Jasenovac dưới quyền cai trị của Cha.

Những việc làm đó phải chăng là của một vài linh mục mất trí hành động theo ý kiến cá nhân, bị mù quáng bởi cuồng tín tôn giáo, miệt thị thẩm quyền giáo hội của họ, hay coi thường thẩm quyền của người đứng đầu họ, Tổng Giám mục Stepinac?

Câu trả lời là, không phải thế.

(Chúng tôi xin mở một dấu ngoặc, để viết về việc cải đạo tập thể ở Việt Nam, dưới triều đại Gia-tô toàn trị Ngô đình Diệm, “Tại địa phận Vĩnh Long có rất nhiều làng xin được cải đạo tập thế, đến nỗi thiếu cả kẻ chăn chiên. Theo Ngô đình Thục thì tại Viễn Đông, ngoài Phi-luật-tân ra, Việt Nam sẽ là quốc gia đi đến việc cả nước theo đạo”. “Việt Nam Máu Lửa…” của Hoành Linh Đỗ Mậu, trang 563).

Tại sao? Tổng giám mục Ngô đình Thục đã ra lệnh cho bắn pháo binh về làng Phật Giáo. Muốn khỏi chết, không bị bắn pháo binh về làng, thì chỉ có việc xin “trở lại đạo” cả làng! Xin coi chi tiết trong “Yoga” của tác giả, các trang 86-87).

Những lời nói và việc làm của hàng giáo phẩm Croatia và, sau họ, của Vatican, là những bằng chứng hùng hồn nhất, rằng những tàn sát của Ustashi là một thành phần có tính toán trước của chính sách tiêu diệt những người dân không Gia-tô bị kẹt trong vòng kiểm soát của Croatia Gia-tô.

Một trong những việc làm khủng khiếp nhất của tất cả những tàn sát dữ dội là, dù rằng bị thúc đẩy bởi lý tưởng, họ thường đem thả lỏng con thú nằm ẩn núp, hình như ngủ, sâu trong tim con người. Mỗi khi có hỗn loạn xảy ra, thế là bản chất thú vật của con người, sôi sục vì ham mê, nhảy ra công khai để làm cho những giấc mơ xấu xa nhất, ấp ủ kín đáo nhất trong nhiều năm, trở thành sự thật. Những con ma bí mật, bị chế phục, bị cản trở, lẩn trốn vì sợ hãi hay trừng phạt, vì tập tục hay luật pháp, nhảy ra phía trước, gây nên, như những cơn gió lốc không kìm hãm đuợc, những sự phá hoại tình cảm mà nhiều khi những người rất bình thường cũng bị lôi kéo để phạm phải những công việc không thể tưởng tượng được không phải bởi những người khác mà còn bởi chính họ.

(One of the most awful features of all violent commotions is that, even when inspired by ideals, they often set free the hidden beast lying, seemingly dormant, deep in the heart of man. Whenever anarchy is let loose, then the human brute, burning with passion, springs to the fore to make its most abominable dreams, nursed in the utmost secrecy for years, comme true. Hidden phantasmagorias, repressed, thwarted  concealed through fear of either punishment, convention, or laws, shoot to the surface, provoking, like irresistible whir-winds, such emotional devastation that often perfectly normal individuals are driven to commit deeds unimagined not only by others but even by themselves.- Page 365-66).

Những khích động mạnh mẽ nhất cho những thác loạn ấy, trong qua khứ và trong hiện tại, đã là sự cuồng tín tôn giáo và chính trị.

Ở Croatia, việc này, đã được đồng hóa với Giáo Hội, chủng tộc và Quốc gia, chẳng bao lâu nữa đương nhiên làm méo mó khả năng tinh thần của một vài cá nhân tới mức độ tưởng là không thể được, và rồi biến họ thành những con thú người, như là trường hợp của nhiều người trong số họ.

Những linh mục Gia-tô, bị ham mê không kém gì người thế tục, cũng không thể thoát khỏi chỉ vì đầu tóc hay áo thày tu của họ. Mỗi khi bị lôi cuốn vào dòng thác, những khả năng bình thường của họ bị loại trừ, sự xúc động mù quáng làm cho họ phạm những tội ác dã man mà họ đã làm.

Chỉ vì tình trạng yếu đuối nội tâm của bản chất con người, chỉ vì sức mạnh không thể cưỡng được của cuồng tín tôn giáo, giới tu sĩ Gia-tô Croat điên khùng ấy, vì vậy phải coi là đáng thương hại và, thực ra, với lòng từ bi, thay vì nguyền rủa.

(Owing to the innate frailty of human nature, to the irresistible power of religious fanaticism, these insane Croat Catholic clergy, therefore, should be regarded with pity and, indeed, compassion, rather than with execration.- Page 366).
Nhưng sự khoan hồng đó, tuy nhiên, không thể áp dụng cho những người tính toán và chủ trương những tội ác ghê tởm ấy. Một thoáng tình thương đối với những người chủ mưu đã bình tĩnh tính toán và khai thác một cách lạnh lùng những ham mê khủng khiếp nhất của con người cho những mục tiêu tôn giáo và chính trị không phải là rộng lượng, mà là chấp nhận những việc họ làm, và do đó thác loạn.
(No such leniency, however, can be entertained for those who calculatingly promoted such crimes. The flimsiest shred of mercy for the master-minds which calmly planned them and callously exploited the most abhorrent human passions to further religious and political designs would not be generosity, but approval of what they did, and hence perversion-. Page 366).

Sự khủng bố Croat đã là con đẻ của những người chủ mưu đó, đồng hóa phần lớn với những nhân vật mặc áo tu sĩ. Sự khủng bố đã được lạnh lùng xúi giục từ những dinh thự của hàng giáo phẩm Croat. Hàng giáo phẩm đó không chỉ biết việc gì đang xảy ra: Họ âm thầm và công khai chấp thuận và, thực ra, khuyến khích bất cứ người nào tham gia vào công việc khủng khiếp ấy.
Những bạo động do các linh mục chủ trương, những tội ác do các linh mục ra lệnh và nhiều khi do chính linh mục đích thân làm, không bao giờ bị kết tội bởi các giám mục hay bởi người lãnh đạo của họ, Đức ông Stepinac. Không một người nào trong hàng ngũ tu sĩ Gia-tô bị cất chức trong khi Quốc Gia Độc lập Croatia còn tồn tại. Tổng giám mục Stepinac và không một giới chức nào của Giáo Hội Gia-tô đã ra lịnh cấm đoán những bài viết độc ác, những bài diễn văn thù hận và cả sự giết người nữa. 

 Stepinac trước tòa n tháng 9/1946; Stepinac was arrested on September 18, 1946 and his trial started on September 30, 1946,
link: http://en.wikipedia.org/wiki/Aloysius_Stepinac
 
Nhưng không có gì chứng minh tốt hơn rằng hàng giáo phẩm Gia-tô đã hoạch định tất cả những việc đó với một sự tính toán lạnh lùng, là thái độ của họ đối với những đứa trẻ Chính Thống sống sót, sau khi cha mẹ chúng bị thủ tiêu. Dưới sự bảo hộ của Caritas, một tổ chức Gia-tô do giáo hội điều khiển, tất cả những đứa trẻ đó đều được đưa vào những nhà công cộng do tu sĩ Gia-tô hay các chị Gia-tô (Catholic sisters) trông nom, hay, trong nhiều trường hợp, với những gia đình tư nhân Gia-tô; điều này được làm với mục đích chính xác là trồng vào đầu óc những trẻ nhỏ đó “đức tin chân thật”, như là điều kiện tiên quyết để cho chúng sống. Tiến trình đồng hóa tôn giáo bắt đầu ngay tức khắc. Được rửa tội lại với những tên Croat, chính thức đổi đạo sang Gia-tô, lớn lên trong vòng bao vây của Gia-tô Croat, những đứa trẻ đó mất liên hệ mau chóng với qua khứ chủng tộc và tôn giáo của chúng, chẳng bao lâu sẽ bị cuốn hút vào Giáo Hội Gia-tô. Sự cuốn hút hoàn toàn đến nỗi sau khi Croat Độc Lập sụp đổ nhiều đứa trẻ không biết đường về. Những dấu vết về nguồn gốc của chúng bị người ta cố ý thủ tiêu. Một số đông trẻ con bị đưa sang nước Ý và bị cả những Ustashi chạy trốn đưa sang Á-căn-đình. (The absorption was so complete that even after the collapse of Independent Croatia many could not be returned. Traces of their origin were very often wilfully made to disappear. A not-inconsiderable number were taken to Italy and even to the Argentine by fleeing Ustashi.- Page 368).


Pius XII là người chịu trách nhiệm cũng như, nếu không phải là hơn, chính Tổng giám mục Stepinac. Giáo Hoàng, chúng ta nên nhớ, là giới chức cao cấp nhất của tất cả hàng giáo phẩm trên thế giới. Những chính sách có tầm vóc lớn lao phải đệ trình cho chính Ngài trước khi đem ra thi hành.

Croatia là một nước chư hầu của Đức Quốc Xã. Trong những năm 1940-42 Vatican rất thân thiện với Hitler, đại sứ quốc xã ở Vatican được tiếp đãi trong thời gian đó như là một nhân vật quan trọng hơn những nhà ngoại giao đồng minh. Thêm vào đó, những người lãnh đạo chính trị và tôn giáo Croat đến và đi giữa Rome và Zagreb tự do y như chính những người Đức và Ý.

GH Pius XII & Hitler

 

Pius XII, không những thế, biết những gì đang xảy ra ở Croatia, không phải chỉ nhờ vào các giáo phẩm trong bộ máy hành chánh của Giáo Hội Gia-tô, họ thông báo đầy đủ cho Ngài về những biến cố ở Croatia, nhưng cũng nhờ có thêm những nguồn tin rất đáng tin cậy. Ante Pavelich rất mộ đạo gửi tới cho Ngài những báo cáo thường xuyên về sự tiến triển của việc Gia-tô hóa nước Croatia mới, trong khi chính Stepinac cung cấp cho Đức Thánh Cha những con số về những người cải đạo bắt buộc. Trong một tài liệu chính thức, đề ngày 8 tháng 5, 1944, Đức ông Tổng giám mục Stepinac thông báo cho Đức Thánh Cha biết tới ngày đó, đã có 244.000 người Chính Thống Serbs “xin đổi đạo sang Giáo Hội của Thượng Đế”.
 
 Tượng Stepinac gần Zagreb; Bust of Stepinac at the village of Rozga near Zagreb.


Trong khi Tổng giám mục thánh thiện nhất và Giáo Hoàng thánh thiện hơn nữa cám ơn Thượng Đế vì sự gia tăng mau chóng của đàn chiên Croat, những chống đối về việc ép buộc đổi đạo và tàn sát bắt đầu dâng cao vì những tin tức đầu tiên lọt ra ngoài.
Những cái cuời của nghi ngờ và tin rằng đó chỉ là những chuyện bịa đặt chống Gia-to dần dà nhường chỗ cho ghê tởm, mà hậu quả là những lời cầu cứu vội vã được gửi, càng ngày càng khẩn cấp, cho Stepinac, Pius XII và Đồng Minh. Những lời cầu cứu như thế đến từ mọi nơi. Nhiều lời được viết bởi những người Croats Gia-tô, họ lớn tiếng tỏ sự bất bình thẳng với Vatican, hay tỏ vẻ chống đối dữ dội với Tổng giám mục Stepinac. Một trong những lời chống đối đáng kể được gửi cho Stepinac bởi Prvislav Grizogono. Grizogono nguyên là Bộ Trưởng của Vương Quốc Nam-tư; đặc biệt hơn nữa đó lại là người Croat; và đáng kể hơn nữa, một người Gia-tô mộ đạo và lương thiện. Những lời của ông, vì vậy, đã được cân nhắc kỹ lưỡng. Nhưng không có gì kết tội giáo hội của ông một cách hùng hồn hơn là thư của ông:

“Thưa Ngài:

Tôi viết những lời này cho Ngài như là một người với một người, như là một người Gia-tô với một người Gia-tô.

Kể từ ngày đầu tiên của Quốc Gia Độc Lập Croatia, những người Serbs đã bị tàn sát (Gospich, Gudovac, Bos, Krajina, v.v.) và sự tàn sát ấy tiếp tục cho đến ngày nay.

(Your Grace:

I write this to you as man to man, as a Christian to a Christian.

Since the first day of the Independent Croatian State, the Serbs have been massacred [Gospich, Gudovac, Bos, Krajina, etc.] and this massacring has continued to this day.- Page 370).

Người viết sau đó kể ra một chuỗi dài những tội ác đã phạm với chi tiết. Sau đó ông kết luận:

“Tại sao tôi viết thư này cho Ngài? Và đây tại sao: Trong tất cả những tội ác chưa từng nghe thấy, ghê tởm hơn là tà giáo, Giáo Hội Gia-tô của chúng ta đã tham dự bằng hai cách. Trước hết, một số đông linh mục, tu sĩ, thày dòng, và tổ chức thanh niên Gia-tô đã tích cực tham gia vào tất cả những tội ác đó, nhưng kinh khủng hơn cả là những linh mục Gia-tô đã trở thành những cấp chỉ huy trại tập trung và đoàn võ trang, và như vậy đã ra lệnh hay dung dưỡng những tra tấn khủng khiếp, giết người, và tàn sát một dân tộc đã rửa tội. Không một tội ác nào có thể làm được, nếu các giám mục của họ không cho phép, và nếu tội ác đã làm, thì phải đưa các giám mục ra trước Tòa Án của Giáo Hội và lột áo tu. Nhưng việc này không xảy ra, như vậy những giám mục đã tán thành ít ra bởi sự thừa nhận.

Giáo Hội Gia-tô đã dùng đủ mọi cách để Gia-tô hóa bắt buộc những người Serbs còn lại… Tỉnh Srem tràn ngập bởi truyền đơn của Giám mục Akshamovich, in tại nhà in của ông ở Djakovo. Ông kêu gọi những người Serbs, trong những truyền đơn đó, nếu muốn giữ mạng sống và của cải, thì phải theo đức tin Gia-tô.

Điều gì sẽ xảy ra cho chúng ta những người Croats, nếu người ta tin rằng chúng ta đã tham gia vào tất cả những tội ác đó cho tới cùng?

Một lần nữa bổn phận của Giáo Hội là lên tiếng; trước hết, vì đó là Giáo Hội của Đấng Christ; thứ hai, vì nó mạnh.
Tôi viết cho Ngài về điều đó, về những tội ác khủng khiêp, để cứu linh hồn tôi, và tôi để việc đó cho Ngài để Ngài tìm cách cứu linh hồn Ngài.
Ký tên, Prvislav Grizogono,
Nguyên Bộ Trưởng Quốc Vương Nam-tư.
Viết tại Zemun, ngày 8 tháng 2, 1942”.
(Why do I write this to you? Here is why: In all these unprecedented crimes, worse than pagan, our Catholic Church has also participated in two ways. First, a large number of priests, clerics, friars, and organized Catholic youth actively participated in all these crimes, but more terrible even Catholic priests became camp and group commanders, and as such ordered or tolerated the horrible tortures, murders, and massacres of a baptized people. None of this could have been done without the permission of their bishops, and if it was done, they should have been brought to the Ecclesiastical Court and unfrocked. Since this did not happen, then ostensibly the bishops gave heir consent by acquiescence at least.
The Catholic church has used all means to Catholicize forcefully the remaining Serbs… The province of Srem is covered with the leaflets of Bishop Akshamovich, printed in his own printing shop at Djakovo. He calls upon the Serbs, through these leaflets, to save their lives and property, recommending the Catholic faith to them.
What will happen to us Croats if the impression is formed that we participated in all these crimes to the finish?
Again it is the duty of the Church to raise its voice, first, because it is a Church of Christ; second, because it is powerful.
I write to you this, about such terrible crimes, to save my soul, and I leave it to you to find a way to save yours.- Page 370
Signed, Prvislav Grizogono,
Former Minister of the Kingdom of Yugoslavia.
At Zemum, February 8, 1942.
Thế chưa phải là hết. Bác sĩ Grizogono gửi một thư khác cho Bác sĩ Ujchich, một Tổng giám mục Gia-tô ở Belgrade (Thủ đô Nam-tư). Trong thư đó ông kêu gọi Tổng giám mục yêu cầu Giáo Hoàng dùng quyền hành của Ngài và ra lệnh cho giáo phẩm Croat ngưng ngay những việc tàn sát.
Tổng giám mục Belgrade đã trả lời, nói rằng ông đã chuyển lời kêu gọi tới Vatican. Trong thư trả lời Bác sĩ Grizogono, Tổng giám mục viết như sau:
“Tôi xin cám ơn lá thư của Ngài. Chúng tôi đã nhận được những tin tức tàn sát từ nhiều nguồn tin khác nhau. Tôi đã chuyển tiếp tất cả mọi tin tức về Vatican, và tôi nghĩ rằng mọi việc rồi sẽ được giải quyết”.
(I thank you for your letter. The information about the massacres we have already received from many different sources. I have forwarded everything to the Vatican, and I believe that everything will be done.- Page 371).
Tổng giám mục Stepinac, người đứng đầu hàng giáo phẩm Croat và Giáo Hoàng Pius XII, người đứng đầu Giáo Hội Gia-tô Toàn Cầu, vẫn im lặng. Sự im lặng của họ đã làm cho 850.000 người, đàn ông, đàn bà và con nít, bị tàn sát bởi những tín đồ Gia-tô với sự thỏa thuận ngầm của họ.
(Archbishop Stepinac, the head of the Croatian hierarchy and Pope Pius XII, the head of the Universal Catholic Church, remained silent. Their silence cost the lives of 850,000 men, women and children, massacred by Catholics with their tacit consent.- Page 371).
Khi Ủy Hội Tội Phạm Chiến Tranh đưa ra những bằng chứng không thể chối cãi về vai trò của Tổng giám mục Stepinac trong chính phủ bù nhìn Croatia, chính phủ Nam-tư, muốn tránh việc khuấy động cái tổ ong bò vẽ tôn giáo-chính trị, yêu cầu Vatican rút Stepinac về.
Tháng 10, 1945, Vatican gửi Giám mục J.P. Hurley, từ Florida tới Belgrade, để điều tra, với chức vụ như là Khâm Mạng Giáo Hoàng. Tờ trình rất chi tiết gửi lên Giáo Hoàng tìm đường đi tới văn khố Vatican và không bao giờ được biết đến. Giáo Hoàng Pius XII, kiến trức sư của chiến lược Vatican hậu chiến, đã quyết định khác. Như trong trường hợp Ba-lan, và bây giờ trong trường hợp Nam-tư, những lợi ích cá nhân phải hy sinh cho nhu cầu của đường lối chính trị Vatican. Stepinac được lệnh của Giáo Hoàng từ chối không ra đi và chờ cho bị bắt.
Việc không tránh khỏi đã xảy ra, và vào ngày 18 tháng 9, 1946, Stepinac bị bắt giữ. Sau mười ngày luận án với sự hiện diện của Báo Chí thế giới, Tòa Án – mà tại đó tất cả những giới chức xử án đều là người Croat Gia-tô – kết tội Đức Ông, ngày 11 tháng 10, mười sáu năm tù.
Vatican khai trừ tất cả những ai dính dáng đến vụ xử án, được mô tả mau chóng như là sự phá hoại tôn giáo một cách ghê tởm. Stepinac, nhà chính trị, âm mưu, người lãnh tụ quyền thế, trở thành Stepinac người bị hành hạ, tu sĩ thần thánh, một người dân chủ thánh thiện. Báo Chí thế giới, những lãnh tụ tôn giáo và chính trị, và cả các Bộ Ngoại Giao, kể cả những Bộ Ngoại Giao của Anh và Mỹ, chính thức phản đối chống lại “một sự hành hạ chưa từng nghe nói” như thế. Nhiều Giáo Hội Tin-lành lên tiếng công khai bảo vệ Stepinac “bị hành hạ”, vì đã đương đầu với những thế lực ma quỷ để bảo vệ tự do tôn giáo. Một làn sóng thông cảm và ủng hộ Giáo Hội Gia-tô tràn ngập Thế Giới Âu Châu.
Việc Stepinac bị “hành hạ” đem lại ngay những lợi ích chính trị đầu tiên. 
Chiến Tranh Lạnh, vừa mới bắt đầu, nhận thêm được một sự kích thích. Sự thù ghét vì xúc động do việc xử án gây ra làm gia tăng lý tưởng thù hận trong toàn thể Âu Châu. Sự tái võ trang ở mức độ vĩ đại đã có thêm lý do chứng minh. Nước Mỹ, mà vào năm 1946, chỉ một năm sau sự sụp đổ của Hitler, đã chi gần một tỉ đô-la vào sản xuất vũ khí, gấp rút chuẩn bị chiến tranh. Những xưởng máy chiến tranh của Mỹ bắt đầu hoạt động trở lại; những đồng minh của Nga-sô mở rộng. Vào lúc mà Tổng giám mục, nhờ có một trong những tỉ dụ đáng xấu hổ nhất do kỹ thuật hối lộ Mỹ-Vatican bằng đô-la, được trả tự do sớm hơn (Tháng 12, 1951), thế giới đã chia rẽ về chính trị và quân sự. Nước Mỹ, “nước bảo vệ văn minh Gia-tô”, trở thành kho vũ khí của phương Tây; Liên Bang Sô-viết kho vũ khí của phía Đông. (By the time that Archbishop Stepinac, through one of the most shameless examples of American-Vatican dollar blackmail technique, was prematurely set free (Dec., 1951), the world had already been politically and military split asunder. The U.S.A., the defender of Christian civilization”, had become the arsenal of the West; soviet Russia the arsenal of the East.- Page 374).


Sau 5 năm ở tù, Tổng giám mục Stepinac được trả tự do có điều kiện (tháng 12, 1951), và một trong những lời tuyên bố đầu tiên của Ngài với Báo Chí là Ngài “không cảm thấy có tội”. (Giết người để mở mang nước Chúa không có tội, mà còn được lên Thiên Đàng, sau khi chết?!)

Năm sau Giáo Hoàng Pius XII phong cho Ngài lên chức Hồng y – một sự khiêu khích có tính toán. Hồng y Stepinac được chính phủ Nam-tư cho phép Ngài đi về Rome, nhưng Ngài từ chối, bảo rằng “tôi sẽ ở lại Nam-tư cho tới khi Tòa Thánh quyết định khác”.

Tháng 12, 1952, chính phủ Nam-tư cắt đứt liên lạc ngoại giao với Vatican, kết tội rằng Vatican tiếp tục xen vào việc nội bộ của nước này.

Pavelich và những người đi theo, trong khi đó, gia tăng nỗ lực để làm sống lại Ustashi ở nước ngoài, với sự hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp của người Croatians, Vatican và một vài nhóm người Mỹ và một số quốc gia Âu Châu. Ở Á-căn-đình, mà tại đó “chính phủ Croat lưu vong” vẫn hoạt động, Pavelich được sự giúp đỡ tiền bạc và che chở của hàng giáo phẩm Á-căn-đình và một vài nhóm quân sự, những người này từ chối không cho dẫn độ Pavelich ra khỏi nước. Năm 1957 Pavelich bị tấn công và bị thương vì hai viên đạn.

Năm 1958 Giáo Hoàng Pius XII đau đớn được Chúa gọi về. Năm sau thì đến lượt Pavelich (Tháng 12, 1959). Một năm sau nữa, Hồng y Stepinac (tháng 2, 1960). Như vậy, trong vòng hai năm ngắn ngủi, ba người thủ vai chính trong cơn ác mộng Gia-tô Croatian biến khỏi sân khấu... 

Những yếu tố quân sự, chính trị và tôn giáo và những nhân vật gây ra nước Croatia Gia-tô toàn trị đã chết và mất hẳn. Nhưng bài học cần phải nhớ do sự xuất hiện một quốc gia mà ở đó sự toàn trị tôn giáo và chính trị của đạo Gia-tô được thi hành thì không bao giờ được phép quên. Bởi vì nó đã xảy ra trong thời đại của chúng ta, khi Giáo Hội Gia-tô – thời đó, và bây giờ, tự coi như bị kỳ thị tôn giáo – lớn tiếng đòi hỏi tự do trong khi Giáo Hội đó đồng thời triệt hạ cũng chính sự tự do đó mà họ la lối đòi hỏi, ở một Quốc Gia bé nhỏ mà họ đã thiết lập cái thứ tự do của họ, tự do Gia-tô, nghĩa là tự do cho chính họ để tiêu diệt bất cứ cái gì và bất cứ ai dám chống lại vòng tay ôm của họ.

(The military, political and religious factors and persona-lities which had generated the totalitarian Catholic Croatia had passed away and gone. Yet the lesson to be learned from the emergence of a state where the religious and political totalitarianism of Catholicism was made to work should never be forgotten. For it happened in our times, when the Catholic Church – then, as now, posing as a victim of religious intolerance – was clamoring for freedom while at the same time suppressing that same freedom for which she was vociferating so loudly, in a tiny State where she had set up her kind of freedom, Catholic freedom: i.e. freedom for herself to eliminate whatever and whoever dared to resist her embrace.- Page 377).



*   *   *

 

Chú Thích.-

1.- Khi dịch bài này tôi cứ có cảm giác là những chuyện tàn sát ghê tởm như thế không có thật. Đã xảy ra ở một thời đại xa xôi nào, thời Trung Cổ. Chứ không phải ở thời đại của chúng ta.

2.- Cái quan niệm “tôn giáo nào cũng dạy người ta làm lành” mà tín đồ Gia-tô Việt Nam muốn cho chúng ta tin hoàn toàn sai với sự thật.

3.- Stepinac bị Ủy Hội Tội Ác Chiến Tranh xử phạt 16 năm tù ở vì tội diệt chủng, đã được Giáo Hoàng Pius XII phong chức Hồng y (năm 1952), và mới đây (năm 1999) còn được Giáo Hoàng John Paul II sửa soạn phong cho làm thánh.

Giáo Hoàng luôn luôn nhắc nhở đến lý trí, vậy xin thử dùng lý trí để tìm hiểu việc phong thánh này:

a) Nếu Thiên Chúa đồng ý với việc phong thánh, thì Thiên Chúa đã đồng lõa với tội ác mà người phạm tội đã bị Tòa Án thế gian xử phạt 16 năm tù ở. Không lẽ là đồng lõa Thiên Chúa lại được tha bổng? Không lẽ Thiên Chúa cũng bị bỏ tù? Khi phong thánh cho một tội phạm chiến tranh, một tên đồ tể, Giáo Hoàng đã làm cho Thiên Chúa trở thành đồng lõa với tên đồ tể!

b) Nếu Thiên Chúa không đồng ý, thì với quyền năng vô biên như vẫn được mô tả, tại sao Thiên Chúa không ngăn chặn được tội ác? Tại sao lại im lặng?

Những thắc mắc trên cho thấy, Thiên Chúa là do người ta chế tạo ra để nô lệ tín đồ và thủ lợi.

4.- Làm Giáo Hoàng sướng thật. Ngài cũng chỉ là người như tất cả mọi người, nhưng bất cứ Ngài nói gì, làm gì, dù vô lý đến đâu, cũng được tín đồ khúm núm, sợ hãi, răm rắp nghe theo.

5.- Những tàn sát ở Việt Nam để ép buộc dân ở những làng xa thành phố phải đổi đạo, do chế độ Gia-tô Ngô đình Diệm chủ trương, cũng không kém phần tàn bạo, đưa đến sự tự thiêu của Hòa Thượng Quảng Đức, và sự sụp đổ của triều đại này. Thế rồi 100 năm sau, khi bụi thời gian đã lắng xuống, thì cũng không có gì đáng phải ngạc nhiên, nếu một Giáo Hoàng nào đó, do sự đề nghị của Giáo Hội Gia-tô Việt Nam tay sai, lại phong thánh cho Ngô đình Diệm.

          

Trần văn Kha




 



 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét