CHƯƠNG 12
THÀNH VIÊN LIÊN KẾT VÀ BẠN HỮU CỦA VIỆT NAM
1. Mở cửa với thế giới nhưng không đánh mất mình
Một cộng đồng Việt Nam toàn cầu muốn tồn tại lâu dài không thể chỉ nhìn vào những người có nguồn gốc Việt Nam.
Người Việt sống trong một thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn, thị trường, giáo dục và các mối quan hệ xã hội không còn bị giới hạn bởi biên giới quốc gia.
Một doanh nghiệp Việt có thể được thành lập bởi người Việt nhưng hoạt động với người Nhật, người Đức, người Mỹ và người Singapore.
Một phòng nghiên cứu có thể có nhà khoa học Việt Nam cùng làm việc với các nhà khoa học từ nhiều quốc gia.
Một trường học có thể dạy tiếng Việt cho người Việt và đồng thời đón những người không có nguồn gốc Việt muốn học tiếng Việt.
Một dự án văn hóa Việt có thể được xây dựng bởi người Việt cùng những người yêu thích và nghiên cứu văn hóa Việt.
Một quỹ khoa học có thể nhận đóng góp từ nhiều quốc gia.
Một Nhà Việt Toàn cầu có thể trở thành nơi gặp gỡ của người Việt và bạn bè quốc tế.
Nếu Việt Hiến chỉ dành không gian cho người Việt, cộng đồng sẽ tự thu hẹp nguồn lực của mình.
Nhưng nếu Việt Hiến xóa bỏ căn tính Việt để mở cửa với tất cả, nó sẽ mất chính lý do tồn tại.
Vì vậy, nguyên tắc phải là:
Mở cửa với nhân loại nhưng bảo tồn căn tính Việt.
Đây không phải hai mục tiêu đối nghịch.
Một cộng đồng càng tự tin về căn tính của mình càng có khả năng bước vào thế giới với tâm thế bình đẳng.
2. Một cộng đồng không cần biến người khác thành người Việt
Một người Nhật có thể là bạn của Việt Nam mà vẫn là người Nhật.
Một người Pháp có thể nghiên cứu Việt Nam mà vẫn là người Pháp.
Một người Mỹ có thể hợp tác lâu dài với cộng đồng Việt Nam mà không cần nhận mình là người Việt.
Một người Đức có thể đóng góp cho một dự án khoa học của người Việt mà không cần thay đổi căn tính của mình.
Điều đó hoàn toàn bình thường.
Việt Hiến không cần một nguyên tắc:
“Muốn đồng hành với người Việt thì phải trở thành người Việt.”
Ngược lại, Việt Hiến cần khẳng định:
“Không cần biến người khác thành người Việt để họ có thể đồng hành với người Việt.”
Đó là dấu hiệu của một cộng đồng trưởng thành.
3. Nhưng cũng không thể xóa bỏ căn tính Việt
Chiều ngược lại cũng quan trọng.
Việt Hiến không thể nói:
“Ai cũng giống nhau, vì vậy không cần phân biệt căn tính.”
Bởi vì Việt Hiến được xây dựng cho Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu.
Cộng đồng này có:
một lịch sử;
một ký ức;
một ngôn ngữ;
một nền văn hóa;
những biểu tượng riêng;
những mối quan hệ gia đình;
những truyền thống;
một ý thức cộng đồng được hình thành qua nhiều thế hệ.
Do đó:
Bình đẳng về phẩm giá không có nghĩa xóa bỏ căn tính.
Và:
Bảo tồn căn tính không có nghĩa coi mình cao hơn người khác.
Hai nguyên tắc ấy phải tồn tại đồng thời.
4. Bốn khái niệm không được nhập làm một
Việt Hiến cần phân biệt rõ bốn khái niệm:
Một — Đồng Bào
Là phạm trù về cội nguồn, căn tính và sự gắn bó.
Đây là vấn đề đã được Chương 10 xác lập.
Hai — Thành viên Cộng đồng
Là tư cách tham gia tự nguyện vào Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu.
Đây là vấn đề của Chương 11.
Ba — Thành viên liên kết
Là tư cách tham gia cộng đồng dành cho những người không nhất thiết mang căn tính Việt, nhưng muốn tham gia lâu dài và có cấu trúc vào các hoạt động, mạng lưới hoặc chương trình của cộng đồng.
Bốn — Bạn hữu của Việt Nam
Là một quan hệ thiện chí, hợp tác hoặc đồng hành, không nhất thiết tạo thành tư cách thành viên.
Đây là ranh giới căn bản:
Thành viên liên kết là một tư cách.
Bạn hữu là một quan hệ.
Không được biến hai khái niệm này thành hai bậc cao thấp của con người.
5. Không có thứ bậc phẩm giá
Một người Việt không có phẩm giá cao hơn người Nhật.
Một thành viên chính thức không có phẩm giá cao hơn thành viên liên kết.
Một thành viên liên kết không có phẩm giá cao hơn một người bạn của cộng đồng.
Một nhà tài trợ lớn không có phẩm giá cao hơn một sinh viên.
Một người giữ chức vụ không có phẩm giá cao hơn người không giữ chức vụ.
Việt Hiến tiếp tục nguyên tắc của Chương 5 và Chương 6:
Phẩm giá là bình đẳng.
Sự khác nhau chỉ có thể xuất hiện ở:
tư cách;
quyền hạn;
trách nhiệm;
phạm vi đại diện;
điều kiện tham gia;
chức vụ;
nhiệm vụ.
Vì vậy:
Khác tư cách không có nghĩa khác phẩm giá.
6. Thành viên liên kết là gì?
Thành viên liên kết là người không nhất thiết có nguồn gốc Việt Nam nhưng tự nguyện đăng ký tham gia một cách có cấu trúc vào Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu hoặc một hệ thống thuộc Việt Hiến.
Họ có thể là:
chuyên gia quốc tế;
nhà khoa học;
giáo viên;
doanh nhân;
nhà đầu tư;
nghệ sĩ;
sinh viên;
nhà nghiên cứu;
người phối ngẫu của người Việt;
người được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa Việt;
người có quan hệ lâu dài với cộng đồng;
hoặc bất kỳ người nào đáp ứng điều kiện tham gia phù hợp.
Không cần phải chứng minh “độ Việt”.
Cũng không cần phải tuyên bố mình là người Việt.
Điều quan trọng là:
Họ tự nguyện tham gia và tôn trọng các nguyên tắc của cộng đồng trong phạm vi hoạt động của mình.
7. Vì sao phải có tư cách thành viên liên kết?
Bởi vì quan hệ xã hội hiện đại không chỉ có hai trạng thái:
Người trong — người ngoài.
Giữa hai phạm trù ấy có một không gian rất lớn của:
hợp tác;
học thuật;
kinh doanh;
văn hóa;
giáo dục;
khoa học;
công nghệ;
xã hội dân sự;
đầu tư;
tình bạn;
gia đình;
nghiên cứu;
phát triển cộng đồng.
Nếu không có tư cách liên kết, những người thực sự gắn bó với cộng đồng sẽ phải đứng ngoài hệ thống.
Nếu cho họ toàn bộ quyền quản trị nền tảng, ranh giới đại diện sẽ bị xóa.
Thành viên liên kết giải quyết chính khoảng giữa ấy.
8. Bạn hữu của Việt Nam là gì?
“Bạn hữu của Việt Nam” không phải là một quốc tịch.
Không phải một chức vụ.
Không phải một tư cách pháp lý quốc tế.
Không phải một loại công dân.
Không phải một danh hiệu chính trị.
Đó trước hết là một cách cộng đồng ghi nhận một quan hệ:
một cá nhân, tổ chức hoặc cộng đồng có quan hệ thiện chí, hợp tác, gắn bó hoặc đóng góp đáng kể với Việt Nam, người Việt hoặc các mục tiêu phù hợp với Việt Hiến.
Một người có thể là bạn hữu mà không trở thành thành viên.
Một tổ chức có thể là đối tác của cộng đồng mà không cần trở thành thành viên.
Một giáo sư có thể hợp tác với cộng đồng trong một dự án rồi kết thúc quan hệ.
Không phải mọi quan hệ đều cần biến thành thủ tục thành viên.
9. Bạn hữu không phải là người phải đồng ý
Đây là một nguyên tắc cần được ghi rõ.
Một người có thể:
yêu thích văn hóa Việt;
nghiên cứu Việt Nam;
hợp tác với người Việt;
đồng hành với một chương trình cộng đồng;
nhưng vẫn có thể có quan điểm riêng về lịch sử, văn hóa, kinh tế hoặc các vấn đề xã hội.
Không nên có quy tắc:
“Bạn hữu phải đồng ý với cộng đồng.”
Một người bạn tốt không nhất thiết luôn nói điều dễ nghe.
Trong khoa học, phản biện là một phần của tri thức.
Trong xã hội, bất đồng là một phần của tự do.
Vì vậy:
Bạn hữu không phải người phải đồng ý.
Và:
Phản biện hợp pháp không làm một người trở thành kẻ thù.
10. Không dùng “Bạn hữu” để phân loại chính kiến
Việt Hiến phải tránh việc biến danh xưng này thành công cụ:
“người ủng hộ”;
“người không ủng hộ”;
“người thân”;
“người chống”.
Một người có thể hợp tác trong một lĩnh vực và bất đồng trong lĩnh vực khác.
Quan hệ cộng đồng phải được đánh giá theo:
hành động cụ thể — cam kết cụ thể — đóng góp cụ thể — trách nhiệm cụ thể.
Không dựa trên:
suy đoán về lòng trung thành hay quan điểm chính trị.
11. Người Việt có thể là bạn hữu của chính cộng đồng không?
Có.
Bởi vì “Bạn hữu của Việt Nam” không phải một danh hiệu chỉ dành cho người nước ngoài.
Một người Việt có thể:
không phải thành viên;
nhưng có quan hệ hợp tác;
hỗ trợ một chương trình;
đóng góp tri thức;
kết nối cộng đồng;
và vẫn có thể được ghi nhận là người đồng hành hoặc bạn hữu.
Điều đó càng cho thấy:
Bạn hữu là quan hệ, không phải căn cước.
12. Thành viên liên kết có quyền gì?
Thành viên liên kết phải có quyền thực chất, không phải chỉ là một danh xưng.
Tùy quy chế và chương trình, họ có thể:
tham gia hoạt động cộng đồng;
tham gia mạng lưới chuyên môn;
đề xuất sáng kiến;
tham gia dự án;
tham gia nghiên cứu;
tham gia giáo dục;
tham gia hoạt động văn hóa;
hợp tác kinh doanh;
tham gia chương trình công nghệ;
tham gia đào tạo;
sử dụng một số dịch vụ cộng đồng;
tiếp cận thông tin trong phạm vi phù hợp;
đóng góp ý kiến;
tham gia các hội đồng chuyên môn;
được xem xét giao trách nhiệm phù hợp;
khiếu nại về quyền và lợi ích của chính mình;
rút khỏi tư cách liên kết.
Những quyền này phải được xác định rõ theo từng loại chương trình.
13. Thành viên liên kết có quyền biểu quyết không?
Câu trả lời phải được phân tầng.
Trong hoạt động chuyên môn
Có thể có quyền biểu quyết nếu quy chế của hội đồng hoặc dự án quy định.
Trong một dự án
Có thể có quyền quyết định trong phạm vi được giao.
Trong một tổ chức độc lập
Có thể có quyền biểu quyết theo điều lệ của tổ chức đó và pháp luật sở tại.
Trong các vấn đề nền tảng của Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu
Không mặc nhiên có quyền biểu quyết chỉ vì là thành viên liên kết.
Điều này không phải là:
“Người liên kết thấp hơn.”
Mà là:
Quyền quyết định phải gắn với phạm vi đại diện.
14. Thành viên liên kết có được ứng cử không?
Cũng phải phân biệt.
Một thành viên liên kết có thể được giao hoặc ứng tuyển vào:
hội đồng khoa học;
ban công nghệ;
hội đồng tư vấn;
ban giáo dục;
dự án kinh doanh;
dự án văn hóa;
vị trí chuyên môn;
nếu đáp ứng tiêu chuẩn.
Nhưng quyền ứng cử vào các cơ quan có chức năng đại diện nền tảng cho cộng đồng Việt Nam phải tuân theo những tiêu chuẩn riêng do Việt Hiến quy định.
Không thể lấy nguyên tắc:
“Bình đẳng”
để suy ra:
“Mọi người mặc nhiên có mọi quyền trong mọi cơ quan.”
Bình đẳng đòi hỏi tiêu chuẩn phải:
hợp lý;
công khai;
không tùy tiện;
không phân biệt phẩm giá;
phù hợp với chức năng của chức vụ.
15. Người ngoài có thể giữ chức vụ chuyên môn rất cao
Đây là điều Việt Hiến phải khẳng định để tránh tự làm nghèo mình.
Một chuyên gia AI người Mỹ có thể đứng đầu một dự án AI của cộng đồng.
Một nhà khoa học Đức có thể chủ trì một chương trình nghiên cứu.
Một giáo sư Nhật có thể đứng đầu hội đồng học thuật.
Một chuyên gia tài chính Singapore có thể tư vấn một quỹ đầu tư.
Một kiến trúc sư Pháp có thể chủ trì thiết kế Nhà Việt Toàn cầu.
Không có lý do gì phải loại họ chỉ vì nguồn gốc.
Nhưng:
Chức vụ chuyên môn không tự động biến thành quyền đại diện cho toàn thể cộng đồng Việt Nam.
Đây là sự khác nhau giữa:
năng lực chuyên môn
và
quyền đại diện cộng đồng.
16. Quyền đại diện không thể mua bằng tiền
Một nhà tài trợ lớn có thể giúp xây một trung tâm cộng đồng.
Một doanh nghiệp có thể đóng góp cho quỹ khoa học.
Một người có thể tài trợ học bổng cho hàng nghìn sinh viên.
Nhưng:
Tiền không mua được quyền đại diện.
Không có công thức:
Đóng góp nhiều → nhiều phiếu.
Không có:
Tài trợ lớn → chức vụ cao.
Không có:
Đầu tư lớn → quyền kiểm soát cộng đồng.
Nguyên tắc của Chương 6 phải tiếp tục được bảo vệ:
Tiền có thể tạo ra năng lực đầu tư; tiền không tạo ra phẩm cấp con người.
Và:
Đóng góp không mua quyền lực.
17. Tổ chức cũng không được sở hữu quyền biểu quyết của con người
Một tập đoàn có 10.000 thành viên không thể tự động có 10.000 phiếu trong Đại hội Đồng Bào.
Một tổ chức có nhiều tiền không thể mua thêm phiếu.
Một doanh nghiệp lớn không thể tự biến mình thành “đại diện của người Việt”.
Quyền biểu quyết nền tảng, khi được Việt Hiến trao cho thành viên, phải gắn với cá nhân thành viên đủ điều kiện, chứ không phải tài sản của tổ chức.
Điều này bảo vệ nguyên tắc:
Cộng đồng lớn hơn mọi tổ chức.
18. Một người có thể đồng thời có nhiều vai trò
Một người có thể đồng thời là:
người Việt;
thành viên cộng đồng;
thành viên liên kết trong một mạng lưới chuyên môn;
bạn hữu của Việt Nam;
thành viên một doanh nghiệp;
cố vấn một dự án;
giáo viên trong một chương trình;
đối tác của một tổ chức.
Không có gì mâu thuẫn.
Nhưng mỗi vai trò phải có:
quyền;
nghĩa vụ;
phạm vi;
trách nhiệm;
riêng.
Do đó:
Một con người có thể có nhiều quan hệ; nhưng không một quan hệ nào tự động trao toàn bộ quyền lực.
19. Đối tác khác với bạn hữu
Cần thêm một ranh giới nữa.
Bạn hữu
Là quan hệ xã hội, văn hóa hoặc thiện chí.
Đối tác
Là quan hệ hợp tác cụ thể giữa hai bên.
Một trường đại học có thể là:
đối tác giáo dục
mà không phải “bạn hữu”.
Một công ty có thể là:
đối tác công nghệ
mà không cần danh xưng bạn hữu.
Một cá nhân có thể là:
bạn hữu
nhưng không có hợp đồng hợp tác.
Điều này giúp Việt Hiến không biến mọi quan hệ thành danh hiệu.
20. Cộng đồng phải tạo giá trị cho cả người liên kết
Nếu Việt Hiến chỉ nói:
“Hãy tham gia để giúp cộng đồng Việt Nam.”
thì chưa đủ.
Cộng đồng phải trả lời:
“Tham gia cộng đồng đem lại điều gì cho chính bạn?”
Một thành viên liên kết có thể nhận được:
mạng lưới nghề nghiệp;
cơ hội nghiên cứu;
cơ hội kinh doanh;
tri thức;
thị trường;
đối tác;
đào tạo;
trải nghiệm văn hóa;
cơ hội đóng góp;
cơ hội phát triển nghề nghiệp;
cơ hội làm việc với những người có năng lực.
Đây chính là nguyên tắc đã được xác lập từ Phần I:
Cộng đồng không giữ người bằng nghĩa vụ; cộng đồng thu hút người bằng giá trị.
Một cộng đồng muốn có bạn bè quốc tế cũng phải đáng để thế giới kết nối.
21. Lợi ích hai chiều
Một quan hệ cộng đồng bền vững không thể chỉ là:
“Người khác giúp người Việt.”
Mà phải là:
Người Việt tạo giá trị cho thế giới và thế giới tạo giá trị cho người Việt.
Ví dụ:
Một chuyên gia quốc tế truyền đạt công nghệ.
Người Việt cung cấp:
năng lực;
thị trường;
dữ liệu hợp pháp;
nghiên cứu;
nhân lực;
mạng lưới;
ý tưởng.
Một doanh nghiệp Việt tìm thị trường nước ngoài.
Đối tác quốc tế nhận được:
sản phẩm;
dịch vụ;
nhân lực;
sáng kiến;
cơ hội đầu tư.
Đó là:
hợp tác tạo giá trị cùng có.
22. Người bạn của Việt Nam không phải người phục vụ Việt Nam
Cũng cần tránh một tư duy sai lầm.
Một người nước ngoài hợp tác với người Việt không phải vì thế trở thành người có nghĩa vụ phải phục vụ cộng đồng Việt Nam.
Quan hệ bình đẳng không phải quan hệ ban ơn.
Một giáo sư quốc tế đóng góp tri thức và nhận lại:
sự tôn trọng;
cơ hội nghiên cứu;
cộng tác;
học thuật;
mạng lưới.
Một doanh nghiệp quốc tế hợp tác với doanh nghiệp Việt vì:
lợi ích kinh doanh;
thị trường;
đổi mới;
chuỗi cung ứng.
Một nghệ sĩ hợp tác với cộng đồng vì:
sáng tạo;
giao lưu văn hóa.
Đó là những quan hệ lành mạnh.
Bạn hữu không phải người phục vụ.
23. Thành viên liên kết và căn tính Việt
Một người trở thành thành viên liên kết không tự động trở thành “Đồng Bào”.
Đây là nguyên tắc phải giữ tuyệt đối nhất quán với Chương 10.
Một người có thể:
tham gia rất sâu
nhưng vẫn nói:
“Tôi không phải người Việt.”
Cộng đồng phải tôn trọng điều đó.
Ngược lại, một người có nguồn gốc Việt có thể nói:
“Tôi không muốn nhận mình là người Việt.”
Cũng phải tôn trọng.
Không được dùng tư cách thành viên để ép căn tính.
Thành viên là lựa chọn tham gia.
Căn tính là lựa chọn của con người.
24. Không có “độ thuần Việt”
Việt Hiến không công nhận:
phần trăm máu Việt;
màu da Việt;
khuôn mặt Việt;
tên Việt;
tiếng Việt lưu loát;
như những tiêu chuẩn để xếp hạng phẩm giá hoặc quyền con người.
Cũng không có:
“Người Việt thuần chủng.”
Đối với thế hệ thứ ba, thứ tư và những thế hệ sau, căn tính có thể thay đổi hình thức.
Một người có thể nói tiếng Việt ít hơn ông bà.
Một người có thể sử dụng tiếng Việt và tiếng Anh.
Một người có thể có cha Việt, mẹ Nhật.
Một người có thể lớn lên tại Pháp.
Một người có thể có nhiều căn tính.
Tất cả điều đó không làm họ trở thành con người “thấp hơn”.
25. Thành viên liên kết và thế hệ trẻ đa văn hóa
Đây là một trong những nhóm mà Việt Hiến phải đặc biệt quan tâm.
Một thế hệ trẻ có thể:
sinh tại Mỹ;
học ở Đức;
làm việc tại Singapore;
có mẹ Việt;
cha Pháp;
nói tiếng Anh tốt hơn tiếng Việt.
Nếu cộng đồng nói:
“Em không đủ Việt.”
thì cộng đồng đã tự đẩy một phần tương lai của mình ra ngoài.
Nhưng nếu cộng đồng nói:
“Em là người Việt hoàn toàn vì chúng tôi quyết định như vậy.”
thì cũng xâm phạm quyền tự nhận diện.
Cách đúng là:
Cho họ không gian để tự lựa chọn, tìm hiểu, trải nghiệm và xây dựng căn tính của mình.
Việt Hiến có thể mở:
lớp tiếng Việt;
trại hè;
chương trình lịch sử;
chương trình văn hóa;
mentoring;
dự án cộng đồng;
nghiên cứu;
nghệ thuật;
công nghệ;
nhưng không ép:
“Tham gia thì phải nhận mình là người Việt.”
26. Bạn hữu và văn hóa Việt
Văn hóa Việt có thể trở thành một cây cầu quốc tế.
Một người Nhật học tiếng Việt.
Một người Mỹ nghiên cứu Truyện Kiều.
Một người Pháp nghiên cứu kiến trúc Việt.
Một người Đức nghiên cứu lịch sử Việt Nam.
Một người Hàn Quốc hợp tác trong điện ảnh Việt.
Một người Singapore tham gia dự án thương mại của doanh nghiệp Việt.
Họ không cần trở thành người Việt.
Nhưng họ có thể trở thành:
những chiếc cầu đưa văn hóa Việt đi xa hơn.
Và cộng đồng phải biết trân trọng điều đó.
27. Bạn hữu và khoa học
Khoa học đặc biệt không nên bị giới hạn bởi căn tính.
Một công trình khoa học lớn có thể cần:
Ý tưởng Việt + chuyên gia quốc tế + vốn + công nghệ + dữ liệu + phòng thí nghiệm + thị trường.
Đó chính là mô hình:
Ý tưởng + Nhân tài + Vốn + Công nghệ + Mạng lưới + Thị trường = Đổi mới.
Một cộng đồng mạnh không phải cộng đồng tự làm mọi thứ.
Mà là cộng đồng biết:
kết nối đúng người với đúng vấn đề.
28. Bạn hữu và kinh doanh
Trong kinh doanh, nguyên tắc càng rõ:
Không cần cùng dân tộc để cùng tạo ra giá trị.
Một doanh nghiệp Việt có thể liên kết với doanh nghiệp:
Mỹ;
Đức;
Nhật;
Hàn Quốc;
Singapore;
Pháp;
Úc;
Canada;
và cùng xây dựng chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhưng cộng đồng không được dùng danh nghĩa “người Việt” để tạo:
độc quyền;
ưu đãi trái quy tắc;
loại bỏ đối thủ;
ép thành viên mua hàng;
ép doanh nghiệp phải tham gia.
Nguyên tắc:
Mạng lưới Việt là cầu nối thị trường, không phải hàng rào độc quyền.
29. Bạn hữu và xã hội sở tại
Người Việt sống ở một quốc gia không thể xây cộng đồng như một hòn đảo.
Cộng đồng phải có quan hệ với:
chính quyền sở tại trong phạm vi pháp luật;
trường học;
doanh nghiệp;
viện nghiên cứu;
tổ chức xã hội;
cộng đồng dân cư;
các nhóm văn hóa;
các hiệp hội nghề nghiệp.
Những người bạn quốc tế chính là một phần của hệ thống cầu nối đó.
Vì vậy:
Hội nhập không phải đóng cửa bên trong rồi chỉ giao tiếp với thế giới bên ngoài khi cần.
Hội nhập là:
sống trong xã hội sở tại, đóng góp cho xã hội sở tại và đồng thời duy trì mạng lưới Việt Nam toàn cầu.
30. Ranh giới về quyền chính trị
Đây là điểm cần đặc biệt rõ.
Một người nước ngoài có thể:
tham gia một hội đồng khoa học;
lãnh đạo một dự án;
cố vấn;
hợp tác;
đóng góp ý tưởng.
Nhưng những quyền chính trị của họ tại quốc gia sở tại phụ thuộc vào pháp luật của quốc gia đó.
Việt Hiến không thể tạo ra:
quyền bầu cử quốc gia;
quyền ứng cử quốc hội;
quyền giữ chức vụ nhà nước;
quyền cư trú;
quyền nhập quốc tịch;
cho một người.
Những quyền đó thuộc phạm vi pháp luật của quốc gia có thẩm quyền.
Việt Hiến chỉ điều chỉnh:
những quan hệ thuộc phạm vi tự quản cộng đồng mà Việt Hiến có thể hợp pháp thiết lập.
31. Ranh giới về quyền lực cộng đồng
Tương tự, thành viên liên kết không được mặc nhiên có quyền:
quản lý toàn bộ tài sản cộng đồng;
đại diện cho toàn thể người Việt;
thay đổi Việt Hiến;
tự bổ nhiệm mình;
kiểm soát hệ thống bầu cử;
quyết định thay cộng đồng những vấn đề vượt quá phạm vi được giao.
Nhưng người Việt cũng không được mặc nhiên có những quyền ấy chỉ vì họ là người Việt.
Quyền lực cộng đồng phải dựa trên:
Việt Hiến + tư cách + ủy quyền + chức năng + nhiệm kỳ + trách nhiệm giải trình.
32. Không được biến “căn tính” thành công cụ quyền lực
Đây là nguyên tắc tối hậu của chương này.
Một người không thể nói:
“Tôi là người Việt nên tôi có quyền lãnh đạo.”
Cũng không thể nói:
“Tôi có huyết thống Việt nên tôi có quyền sở hữu cộng đồng.”
Và cũng không thể nói:
“Tôi là người nước ngoài nên tôi không được tham gia bất kỳ việc gì.”
Cả ba đều sai.
Căn tính:
cho biết chúng ta có thể thuộc về đâu.
Tư cách:
cho biết chúng ta tham gia như thế nào.
Chức vụ:
cho biết chúng ta được giao trách nhiệm gì.
Quyền đại diện:
cho biết chúng ta được phép quyết định thay ai và trong phạm vi nào.
Bốn điều này không được nhập làm một.
33. Phản đề: Nếu mở cửa quá rộng, liệu cộng đồng có bị thao túng?
Có nguy cơ.
Nhưng giải pháp không phải nghi ngờ tất cả người ngoài.
Giải pháp là thiết kế thể chế.
Cộng đồng phải kiểm soát bằng:
đăng ký minh bạch;
xác thực tư cách;
công khai quyền hạn;
kiểm soát xung đột lợi ích;
kiểm toán;
giới hạn quyền truy cập;
bảo vệ dữ liệu;
nhiệm kỳ;
bầu cử minh bạch;
quyền khiếu nại;
cơ chế xem xét;
chế tài đối với hành vi gian lận hoặc phá hoại.
Nói cách khác:
Bảo vệ cộng đồng bằng pháp quyền, không bằng sự nghi kỵ.
Người phản biện không phải người phá hoại.
Người nước ngoài không phải đối thủ.
Người bất đồng không phải kẻ thù.
Hành vi vi phạm mới là vấn đề cần xử lý.
34. Phản đề: Nếu người liên kết có năng lực hơn thì sao?
Nếu một người không có nguồn gốc Việt Nam có năng lực chuyên môn rất cao, cộng đồng phải biết sử dụng năng lực đó.
Không có lý do gì một cộng đồng toàn cầu lại tự giới hạn mình.
Nhưng năng lực chuyên môn và quyền đại diện là hai vấn đề khác nhau.
Một nhà khoa học có thể đứng đầu phòng thí nghiệm.
Một luật gia có thể lãnh đạo nhóm nghiên cứu pháp lý.
Một kỹ sư có thể điều hành dự án công nghệ.
Nhưng việc đại diện cho căn tính và quyền nền tảng của cộng đồng phải tuân theo cơ chế đại diện phù hợp.
Nguyên tắc:
Mở cửa về năng lực — rõ ràng về đại diện.
35. Phản đề: Nếu một người Việt không muốn là người Việt?
Việt Hiến phải tôn trọng.
Không được:
ép nhận mình là Đồng Bào;
dùng gia phả để cưỡng ép căn tính;
dùng cộng đồng để gây áp lực;
tước phẩm giá;
gán nhãn phản bội.
Một người có nguồn gốc Việt nhưng không muốn nhận căn tính Việt có thể không tham gia cộng đồng.
Đó là quyền của họ.
Việt Hiến không cần một cộng đồng đông bằng mọi giá.
Một cộng đồng bền vững phải là cộng đồng:
được lựa chọn, không bị cưỡng ép.
36. Phản đề: Nếu một người tự nhận mình là người Việt nhưng không có nguồn gốc Việt?
Cũng không nên lập tức biến vấn đề này thành một “tòa án căn tính”.
Căn tính cá nhân có thể hình thành từ:
gia đình;
nuôi dưỡng;
văn hóa;
ngôn ngữ;
trải nghiệm;
gắn bó;
tự nhận diện.
Chương 10 đã xác lập rằng không có một tiêu chí đơn lẻ nào đủ để đo “độ Việt”.
Nhưng:
Tự nhận căn tính không tự động tạo quyền đại diện.
Đây là ranh giới cần giữ.
Một người có thể tự nhận mình có căn tính Việt.
Nhưng quyền quản trị cộng đồng phải phát sinh từ:
tư cách thành viên và cơ chế đại diện hợp pháp.
37. Phân biệt căn tính và đại diện
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của toàn bộ Phần III.
Căn tính
Tôi là ai?
Thành viên
Tôi tham gia cộng đồng với tư cách nào?
Chức vụ
Tôi được giao trách nhiệm gì?
Đại diện
Tôi được cộng đồng ủy quyền quyết định điều gì và thay mặt cho ai?
Một người có thể có căn tính Việt nhưng không phải đại diện.
Một người có thể là thành viên nhưng không giữ chức vụ.
Một người có thể giữ chức vụ chuyên môn nhưng không đại diện cho toàn cộng đồng.
Một tổ chức có thể hợp tác với cộng đồng nhưng không đại diện cho toàn thể người Việt.
Do đó:
Căn tính không phải giấy phép đại diện.
38. Mô hình các vòng quan hệ
Có thể hình dung hệ thống Việt Hiến như sau:
Vòng 1 — CỘI NGUỒN
Đồng Bào / căn tính Việt
↓
Vòng 2 — THAM GIA
Thành viên Cộng đồng
↓
Vòng 3 — LIÊN KẾT
Thành viên liên kết
↓
Vòng 4 — ĐỒNG HÀNH
Bạn hữu
↓
Vòng 5 — HỢP TÁC
Đối tác
Nhưng cần nhớ:
Đây không phải các vòng tròn cao thấp về con người.
Đây chỉ là:
các loại quan hệ khác nhau với cộng đồng.
Một người có thể đồng thời nằm trong nhiều vòng.
39. Một nguyên tắc đặc biệt cho “Bạn hữu danh dự”
Nếu cộng đồng muốn có danh xưng:
Bạn hữu danh dự của Việt Nam
thì phải có tiêu chuẩn rõ ràng.
Có thể dựa trên:
đóng góp khoa học;
giáo dục;
văn hóa;
nhân đạo;
kết nối cộng đồng;
hợp tác lâu dài;
hỗ trợ thế hệ trẻ;
đóng góp cho các dự án có giá trị.
Nhưng danh xưng đó:
không tạo quyền biểu quyết;
không tạo quyền sở hữu tài sản;
không tạo quyền đại diện;
không tạo đặc quyền pháp lý.
Danh dự phải là:
sự ghi nhận, không phải quyền lực.
40. Quyền rời khỏi cộng đồng
Tất cả các quan hệ tự nguyện phải có cửa ra.
Thành viên liên kết có quyền chấm dứt tư cách.
Bạn hữu có quyền chấm dứt quan hệ.
Đối tác có thể chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận.
Không được có:
“Đã vào thì không được ra.”
Một cộng đồng không thể gọi mình là tự do nếu không cho con người quyền rời khỏi nó.
Nguyên tắc:
Quyền tham gia phải đi cùng quyền không tham gia và quyền rời khỏi.
41. Một cộng đồng đáng tham gia
Đây là mục tiêu sâu hơn của Chương 12.
Việt Hiến không nên cố giữ thành viên bằng:
nghĩa vụ;
áp lực;
mặc cảm;
khẩu hiệu;
lòng trung thành cưỡng ép.
Thay vào đó:
Cộng đồng phải trở nên đáng tham gia.
Đáng tham gia vì:
có tri thức;
có cơ hội;
có mạng lưới;
có niềm tin;
có văn hóa;
có công bằng;
có minh bạch;
có cơ hội đóng góp;
có khả năng giúp con người trưởng thành.
Một người nước ngoài tham gia vì họ nhận được giá trị.
Một người Việt tham gia vì họ tìm thấy:
cơ hội;
tình đồng bào;
tri thức;
sự phát triển;
mạng lưới;
một không gian để đóng góp.
Đó là cộng đồng sống.
42. Cộng đồng càng mở, căn tính càng phải rõ
Đây là một nghịch lý quan trọng.
Nếu cộng đồng mở cửa nhưng không có căn tính, nó sẽ tan vào môi trường chung.
Nếu cộng đồng có căn tính rõ nhưng đóng cửa, nó sẽ bị cô lập.
Do đó:
Căn tính là nền móng; hội nhập là không gian; hợp tác là cây cầu.
Cộng đồng phải biết mình là ai để có thể nói chuyện bình đẳng với người khác.
43. Quy luật vận hành của xã hội
Từ chương này có thể rút ra một quy luật:
Cộng đồng mạnh không phải vì có ít người khác biệt, mà vì có khả năng biến khác biệt thành hợp tác.
Công thức:
CĂN TÍNH
→ TỰ TIN
→ MỞ CỬA
→ THU HÚT NĂNG LỰC
→ LIÊN KẾT
→ HỢP TÁC
→ TẠO GIÁ TRỊ
→ TĂNG UY TÍN
→ THU HÚT THÊM NGƯỜI
→ CỘNG ĐỒNG MẠNH HƠN
Ngược lại:
MẤT CĂN TÍNH
→ MẤT PHƯƠNG HƯỚNG
và:
ĐÓNG CỬA
→ GIẢM NGUỒN LỰC
→ GIẢM CƠ HỘI
→ SUY YẾU
Do đó, Việt Hiến phải lựa chọn con đường:
Giữ căn tính — mở hợp tác — trọng dụng năng lực — kiểm soát quyền lực.
44. Bài học Việt Hiến
Việt Hiến không xây dựng một cộng đồng:
“người Việt chống lại người khác.”
Việt Hiến xây dựng một cộng đồng:
“người Việt có năng lực để hợp tác bình đẳng với người khác.”
Đó là sự khác biệt rất lớn.
Mục tiêu không phải:
“Chúng ta phải có càng nhiều người Việt càng tốt.”
Mà là:
“Chúng ta phải tạo ra một mạng lưới đủ giá trị để người Việt và bạn bè quốc tế đều muốn hợp tác.”
Cộng đồng không lớn lên bằng việc đóng cửa.
Cộng đồng lớn lên bằng:
Năng lực → Niềm tin → Giá trị → Hợp tác → Uy tín → Mạng lưới.
45. Dự thảo điều khoản Việt Hiến
Điều 1 — Nguyên tắc mở
Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu tôn trọng và khuyến khích sự tham gia, hợp tác và đồng hành của những cá nhân, tổ chức và cộng đồng không có nguồn gốc Việt Nam trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng về phẩm giá và tôn trọng pháp luật áp dụng.
Điều 2 — Thành viên liên kết
Thành viên liên kết là người không nhất thiết mang căn tính Việt Nam nhưng tự nguyện tham gia Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu hoặc các mạng lưới, chương trình thuộc hệ sinh thái Việt Hiến theo tư cách được quy định.
Điều 3 — Bạn hữu
Bạn hữu của Việt Nam là cá nhân, tổ chức hoặc cộng đồng có quan hệ thiện chí, hợp tác, gắn bó hoặc đóng góp phù hợp với Việt Nam, người Việt hoặc các mục tiêu của Việt Hiến.
Điều 4 — Không phải cấp bậc
Tư cách thành viên liên kết và quan hệ bạn hữu không phải là cấp bậc về phẩm giá và không tạo ra sự phân biệt về giá trị con người.
Điều 5 — Quyền tham gia
Thành viên liên kết được tham gia các hoạt động, chương trình, mạng lưới và dự án phù hợp với tư cách của mình theo Việt Hiến và quy chế công khai.
Điều 6 — Quyền chuyên môn
Thành viên liên kết và bạn hữu có thể đảm nhận vai trò chuyên môn, tư vấn, nghiên cứu, giáo dục, khoa học, công nghệ, kinh doanh, văn hóa hoặc các vai trò khác phù hợp với năng lực và pháp luật áp dụng.
Điều 7 — Quyền quản trị nền tảng
Tư cách thành viên liên kết hoặc quan hệ bạn hữu không mặc nhiên tạo quyền biểu quyết hoặc ứng cử vào các cơ quan đại diện nền tảng của Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu. Những quyền này chỉ phát sinh theo tư cách, điều kiện và cơ chế đại diện được Việt Hiến quy định.
Điều 8 — Không mua quyền lực
Không cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức hoặc nhà tài trợ nào được dùng tiền bạc, tài sản, đóng góp hoặc quan hệ để mua quyền biểu quyết, quyền đại diện hoặc quyền kiểm soát cộng đồng.
Điều 9 — Không đồng nhất căn tính
Tư cách thành viên liên kết không làm phát sinh căn tính Việt Nam; việc một người tự nhận hoặc không tự nhận căn tính Việt Nam thuộc quyền tự nhận diện của cá nhân theo các nguyên tắc của Việt Hiến.
Điều 10 — Không ép buộc căn tính
Không cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan cộng đồng nào được cưỡng ép một người nhận hoặc từ chối căn tính Việt Nam.
Điều 11 — Tự do phản biện
Việc một thành viên liên kết hoặc bạn hữu bày tỏ quan điểm khác biệt hoặc phản biện hợp pháp không tự thân là căn cứ để coi người đó là đối thủ hoặc chấm dứt quan hệ.
Điều 12 — Trách nhiệm
Mọi cá nhân và tổ chức tham gia hoạt động cộng đồng phải tôn trọng Việt Hiến, quy chế áp dụng, quyền của người khác và pháp luật sở tại trong phạm vi hoạt động của mình.
Điều 13 — Chấm dứt quan hệ
Tư cách thành viên liên kết hoặc quan hệ bạn hữu có thể được chấm dứt theo quy định hoặc thỏa thuận minh bạch; việc chấm dứt không được xâm phạm các quyền con người căn bản.
Điều 14 — Quyền đại diện
Không cá nhân, tổ chức hoặc nhóm nào được tự nhận là đại diện cho toàn thể Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu nếu không có cơ chế ủy quyền hoặc căn cứ hợp pháp tương ứng.
46. Công thức thể chế của Chương 12
Có thể cô đọng toàn bộ chương thành:
CỘI NGUỒN → CĂN TÍNH → THÀNH VIÊN → LIÊN KẾT → BẠN HỮU → ĐỐI TÁC → HỢP TÁC → GIÁ TRỊ
Nhưng quyền lực phải đi theo một đường khác:
TƯ CÁCH → ĐIỀU KIỆN → ỦY QUYỀN → PHẠM VI → NHIỆM KỲ → TRÁCH NHIỆM → GIÁM SÁT
Hai đường này không được nhập làm một.
Một người có thể có quan hệ rất rộng nhưng quyền lực vẫn phải có giới hạn.
Một người có thể có chức vụ rất cao nhưng quyền lực vẫn phải có nhiệm kỳ.
Một người có thể có đóng góp rất lớn nhưng không được mua quyền lực.
Một người có thể có căn tính rất sâu nhưng không tự động trở thành đại diện.
47. Đối thoại
— Nếu người nước ngoài được tham gia sâu như vậy, cộng đồng còn là cộng đồng Việt Nam không?
— Vẫn là cộng đồng Việt Nam.
— Vì sao?
— Vì căn tính của cộng đồng không được xác định bằng việc loại bỏ người khác.
— Vậy điều gì làm nó là Việt Nam?
— Cội nguồn, văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ, ký ức, căn tính và những nguyên tắc mà cộng đồng lựa chọn gìn giữ.
— Còn người nước ngoài?
— Họ có thể đồng hành.
— Có thể lãnh đạo không?
— Có thể lãnh đạo những việc họ được trao trách nhiệm và có đủ năng lực.
— Có thể đại diện cho toàn thể người Việt không?
— Không mặc nhiên.
— Vì sao?
— Vì năng lực không đồng nghĩa với quyền đại diện.
Người học hỏi:
— Còn nếu người đó đóng góp nhiều tiền?
Người thầy trả lời:
— Tiền có thể xây một ngôi nhà. Nó không mua được cộng đồng.
— Nếu người đó nổi tiếng?
— Danh tiếng có thể tạo ảnh hưởng. Không tạo quyền sở hữu Việt Hiến.
— Nếu người đó phê bình chúng ta?
— Hãy nghe lý lẽ trước khi hỏi người ấy là ai.
Người học im lặng.
Người thầy nói:
“Một cộng đồng tự tin không sợ người khác nói thật.”
48. Dụ ngôn — Cây cầu và dòng sông
Có một ngôi làng nằm bên một dòng sông lớn.
Người trong làng yêu quê hương mình.
Họ sợ người ngoài làm mất bản sắc.
Vì vậy họ xây một bức tường quanh làng.
Năm đầu tiên, họ thấy yên tâm.
Năm thứ năm, ít người bên ngoài đến.
Năm thứ mười, người trẻ bắt đầu bỏ đi vì không còn cơ hội.
Một người già trong làng nói:
“Chúng ta đã nhầm.”
Họ phá bức tường và xây một cây cầu.
Người ngoài bắt đầu đến.
Nhưng trưởng làng nói:
“Hãy nhớ, cây cầu không phải là con đường để chúng ta bỏ làng.”
“Cây cầu là con đường để chúng ta gặp thế giới mà vẫn có thể trở về.”
Từ đó, người trong làng học nghề từ người ngoài.
Người ngoài học văn hóa của làng.
Hai bên trao đổi hàng hóa.
Thanh niên đi xa học tập.
Nhiều người trở về mang theo tri thức.
Ngôi làng không biến mất.
Nó trở nên giàu có hơn.
Bởi vì họ hiểu một điều:
Bức tường bảo vệ sự sợ hãi.
Cây cầu bảo vệ khả năng gặp gỡ.
Căn tính phải là nền móng của cây cầu, không phải lý do để phá cầu.
49. Tuyên ngôn của Chương 12
Việt Hiến mở cửa với nhân loại nhưng bảo tồn căn tính Việt.
Người không có nguồn gốc Việt Nam vẫn có thể trở thành thành viên liên kết, bạn hữu, đối tác và cộng sự của cộng đồng.
Không ai cần trở thành người Việt để được tôn trọng.
Không người Việt nào phải từ bỏ căn tính để hội nhập.
Thành viên liên kết là một tư cách; bạn hữu là một quan hệ.
Khác tư cách không có nghĩa khác phẩm giá.
Năng lực không có quốc tịch.
Tri thức không có biên giới.
Tình bạn không cần cùng huyết thống.
Đóng góp không mua quyền lực.
Căn tính không tạo đặc quyền.
Chức vụ không tạo phẩm cấp con người.
Quyền đại diện phải được ủy quyền và giới hạn.
Phản biện không phải thù địch.
Mở cửa hợp tác không đồng nghĩa mở vô điều kiện mọi quyền quản trị.
50. Kết luận
Một Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu trưởng thành không phải là một pháo đài.
Nó phải là một ngôi nhà có cửa mở.
Cửa mở để:
tri thức bước vào;
bạn bè bước vào;
công nghệ bước vào;
cơ hội bước vào;
vốn bước vào;
những ý tưởng mới bước vào.
Nhưng ngôi nhà vẫn có nền móng.
Nền móng ấy là:
cội nguồn, căn tính, phẩm giá, tự do, bình đẳng, pháp quyền và trách nhiệm.
Người Việt có thể đi xa.
Người nước ngoài có thể đến gần.
Hai bên không cần trở thành một để có thể hợp tác.
Đó chính là ý nghĩa của một cộng đồng toàn cầu.
Không phải:
“Tất cả phải trở thành người Việt.”
Mà là:
“Người Việt đủ mạnh để hợp tác bình đẳng với tất cả.”
Không phải:
“Người ngoài phải đứng ngoài.”
Mà là:
“Người ngoài có thể bước vào bằng thiện chí, năng lực và sự tôn trọng.”
Không phải:
“Ai đóng góp nhiều thì có nhiều quyền.”
Mà là:
“Ai được trao trách nhiệm thì phải chịu trách nhiệm tương xứng.”
Không phải:
“Căn tính quyết định phẩm giá.”
Mà là:
“Căn tính tạo nên sự khác biệt; phẩm giá tạo nên sự bình đẳng.”
Và cuối cùng:
“Giữ rõ mình là ai — mở rộng với người khác — hợp tác bằng năng lực — đối xử bình đẳng về phẩm giá — và trao quyền theo đúng phạm vi đại diện.”
Đó là nguyên tắc để Việt Hiến có thể vừa Việt, vừa toàn cầu.
Hoàng phong nhã
TÀI LIỆU THAM KHẢO
United Nations — Universal Declaration of Human Rights (1948).
Tham khảo các nguyên tắc về phẩm giá bình đẳng, tự do lập hội, quyền tham gia xã hội và giới hạn quyền. Universal Declaration of Human Rights — United Nations
Council of Europe — European Convention on Human Rights.
Điều 11 về tự do hội họp và lập hội là nguồn so sánh hữu ích cho quyền tham gia các tổ chức tự nguyện. European Convention on Human Rights — Council of Europe
Peggy Levitt & Nina Glick Schiller, “Conceptualizing Simultaneity: A Transnational Social Field Perspective on Society,” International Migration Review, 38(3), 2004, pp. 1002–1039.
Nguồn quan trọng để nghiên cứu những quan hệ xã hội xuyên quốc gia và việc cá nhân có thể duy trì nhiều mối liên hệ xã hội cùng lúc.
Steven Vertovec, Transnationalism, Routledge, 2009.
Tham khảo về mạng lưới xuyên quốc gia, di cư và những hình thức liên kết vượt qua biên giới quốc gia.
Alejandro Portes, “Social Capital: Its Origins and Applications in Modern Sociology,” Annual Review of Sociology, 24, 1998, pp. 1–24.
Hữu ích cho việc nghiên cứu vốn xã hội, mạng lưới và nguy cơ mạng lưới trở thành cơ chế loại trừ nếu thiếu kiểm soát.
Benedict Anderson, Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism, Verso.
Nguồn lý thuyết để nghiên cứu căn tính cộng đồng và sự hình thành cộng đồng vượt khỏi những quan hệ trực tiếp.
Nguyễn Văn Bông, Luật Hiến pháp và Chính trị học.
Nguồn tham khảo về hiến trị, quyền lực, tổ chức chính trị và sự tham gia của con người; khi vận dụng cho Việt Hiến cần phân biệt rõ mô hình nhà nước với mô hình tự quản cộng đồng xuyên quốc gia.


15:36
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Đăng nhận xét