Những kiến thức cơ bản theo các chuẩn mực Luật pháp quốc tế về Biển, Đại dương
Chương I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỂN, ĐẠI DƯƠNG THẾ GIỚI
I. HÌNH THÁI HỌC ĐẠI DƯƠNG THẾ GIỚI
1. Phân bố lục địa và nước trên Trái Đất
Hành
tinh của chúng ta gồm một số lớp vỏ bao bọc. Lớp vỏ khí được gọi là khí
quyển, lớp vỏ nước - thủy quyển, lớp vỏ rắn - thạch quyển. Toàn bộ sự
sống tồn tại trong các lớp vỏ đó gọi là sinh quyển. Hệ thống vật chất
phức tập gồm tất cả những quyển đó gọi là vỏ địa lý của Trái Đất.
Đại dương Thế giới là một hợp phần của thủy quyển, chiếm 94,20% toàn bộ tổng thể tích thủy quyển.
Về mặt diện tích, trong số 510 triệu km2 diện tích bề mặt Trái Đất, thì đại dương thế giới chiếm 361 triệu km2 (71%). Phần lục địa chỉ chiếm 149 triệu km2 (29%).
Một
nhân tố quan trọng hình thành nên những đặc điểm của tự nhiên trên hành
tinh chúng ta là sự phân bố không đồng đều của lục địa và đại dương
trên mặt địa cầu. Ở nam bán cầu, trong khoảng 35o đến 70o vĩ nam (V.N) đại dương chiếm 95,5% mặt Trái Đất, phần lục địa chỉ là 4,5%. Ở bắc bán cầu, trong đới giữa 40 và 70o
vĩ bắc (V.B), lục địa chiếm ưu thế hơn đại dương, ở đây lục địa chiếm
tới 56% diện tích. Nhưng nhìn chung, cả ở bắc bán cầu và nam bán cầu đại
dương đều chiếm ưu thế. Ở bắc bán cầu tỷ lệ diện tích giữa đại dương và
lục địa tuần tự là 60,7% và 39,3%, ở nam bán cầu là 80,9% và 19,1%.
2. Đại dương Thế giới và các biển
Đại
dương Thế giới là tập hợp những thủy vực đại dương và biển của Trái Đất
với đặc điểm quan trọng nhất là trải rộng liên tục. Tuy nhiên sự tồn
tại của các lục địa rải rác trên mặt đại dương thế giới không thể không
làm cho những phần nào đó của đại dương thế giới khác với những phần
khác về một số phương diện và cho phép người ta phân chia thành các đại
dương, các biển và những bộ phận nhỏ hơn nữa. Khi phân chia những bộ
phận của đại dương có tính đến những dấu hiệu như địa hình đáy, sự hiện
diện của các quần đảo, các hệ thống hải lưu độc lập, hoàn lưu khí quyển,
phân bố nhiệt muối, các điều kiện sinh học.
Hệ
thống phân chia các bộ phận của Đại dương Thế giới do các nhà khoa học
lớn đề xướng đã thay đổi nhiều lần trong lịch sử gồm: Thái Bình Dương,
Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương với một số đặc trưng hình
thái riêng (bảng 1).
Các đại dương
|
Diện tích
|
Thể tích (106 km3)
|
Độ sâu trung bình (m)
|
triệu km2
|
%
|
Thái Bình Dương
|
178,7
|
49,5
|
707,1
|
3.957
|
Đại Tây Dương
|
91,6
|
25,4
|
330,1
|
3.602
|
Ấn Độ Dương
|
76,2
|
21,0
|
284,6
|
3.736
|
Bắc Băng Dương
|
14,8
|
4,1
|
16,7
|
1.131
|
Đại dương Thế giới
|
361,3
|
100
|
1338,5
|
3.704
|
Bảng 1. Những đặc trưng hình thái của các đại dương
Đến
nay, trong sách báo các khoa học địa lý chấp nhận hệ thống phân chia
thành 5 đại dương: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Nam Đại
Dương[1] và Bắc Băng Dương.
Những
hiện tượng và quá trình diễn ra trong Đại dương Thế giới là thống nhất
về chất tại tất cả các vùng của nó, điều này cũng là một nét nhấn mạnh
tính thống nhất của đại dương thế giới. Nhưng về lượng, những quá trình
và hiện tượng này biến đổi từ địa điểm này đến địa điểm kia tùy thuộc vị
trí địa lý và khí hậu của những bộ phận của đại dương.
a. Các biển giữa các lục địa
thường tập trung vào những đới hoạt động kiến tạo với các hiện tượng
địa chấn và các quá trình núi lửa. Thủy vực biển tiếp giáp với các lục
địa ở mọi phía; các eo biển tương đối hẹp nối biển với đại dương; mức độ
trao đổi nước tương đối thấp. Địa Trung Hải, Hồng Hải, vịnh Mếch Xích
là những biển điển hình loại này. Nhóm biển nằm giữa các lục địa Á và Úc
cũng thuộc loại những biển giữa các lục địa. Độ sâu của các biển này
thường rất lớn (Địa Trung Hải tới 4.500m, biển Băngđa tới 7.400m...).
b. Các biển bên trong lục địa
có đường viền bờ thuộc cùng một lục địa: biển Ban Tích, Bạch Hải, Adốp,
vịnh Hớtxơn v.v... Đây thường là những biển nông nằm gọn trong những
vùng thềm lục địa, điều kiện tự nhiên gắn chặt với tự nhiên của đất liền
bao quanh.
c. Các biển giữa các đảo
được bao quanh bằng chuỗi đảo hay vòng cung đảo tương đối kín. Số các
biển này gồm có các biển nằm giữa các lục địa Á và Úc như biển Băngđa,
Sulu và một số biển độc lập như biển Philippin, Xôlômôn v.v...
Ngoài
ra, còn có những biển không liên quan với đại dương như Caxpi và Aran
là những biển kín, còn gọi là những biển hồ. Nước của những biển này rất
khác với nước đại dương.
Một
số biển thực sự, nhưng theo tập quán lịch sử và hàng hải lại được gọi
là vịnh như vịnh Hớtxơn, vịnh Mếchxích, vịnh Pếchxích..., trong khi đó
một số vùng với những điều kiện địa lý của một vịnh biển thì lại được
gọi là biển.
d. Vịnh
là phần đại dương hoặc biển ăn sâu vào đất liền. Người ta thường vẽ
biên giới vịnh một cách quy ước bằng đường thẳng nối các mũi cửa vào hay
theo một đường đẳng sâu nào đó, vì các vịnh bao giờ cũng ăn thông với
biển hay đại dương qua phần tỏa rộng của mình.
e. Eo biển
thường là những phần hẹp của biển hay đại dương nằm giữa hai khu vực
đất liền tạo bởi các biển và vịnh được nối với đại dương hoặc nối với
nhau. Cũng như biển, vịnh biển và eo biển có riêng chế độ thủy văn của
mình, đặc biệt là hệ thống dòng chảy.
Khi
gọi tên các biển và các bộ phận của chúng người ta thường dùng các tên
địa lý. Chỉ ở các vùng cực tên gọi thường liên quan với tên của những
người phát hiện ra chúng.
3. Địa hình đáy đại dương và các biển
Những
bản đồ đo sâu hiện đại cho thấy địa hình đáy đại dương thế giới rất đa
dạng. Tính chia cắt của đáy đại dương không thua kém tính chia cắt của
địa hình lục địa (hình 1).
Cũng như trên các lục địa, tại đáy đại dương cũng có mặt những bình
nguyên, cao nguyên, những dãy núi, những hẻm sâu v.v... Song địa hình
đáy đại dương, trừ những vùng hoạt động núi lửa, có đặc điểm khá ổn định
so với địa hình lục địa, vì tác động của các quá trình ngoại sinh yếu
hơn nhiều, thậm chí vắng mặt hẳn một số quá trình như gió và phong hóa
vật lý.
Đường cong cao đồ của Trái Đất (Hình 2) cho thấy rằng biên độ các độ sâu ở đại dương lớn hơn nhiều so với biên độ các độ cao trên đất liền từ 0m đến 11.034m.
Dưới đây là tỷ lệ phần trăm về diện tích của một số cấp độ sâu ở đại dương (bảng 2):
| Độ sâu (m) |
Phần trăm (%) diện tích đại dương thế giới
|
| 0 – 200 |
7,6
|
| 200 – 1000 |
4,3
|
| 1000 – 2000 |
4,2
|
| 2000 – 3000 |
6,3
|
| 3000 – 4000 |
19,6
|
| 4000 – 5000 |
33,3
|
| 5000 – 6000 |
23,3
|
| 6000 – 7000 |
1,1
|
| Lớn hơn 7000 |
0,3
|
Bảng 2: Độ sâu và diện tích % đại dương thế giới
Những
dẫn liệu về tỷ lệ phần trăm mà các cấp độ sâu chiếm so với toàn bộ diện
tích đại dương thế giới có thể cho phép tính toán một số đặc trưng hình
thái của đại dương thế giới. Thể tích của đại dương thế giới sẽ bằng
1338,5 triệu km3. Nếu mật độ trung bình có kể độ nén của nước là 1,037 g/cm3, thì khối lượng nước đại dương sẽ là 1,388.1015 tấn bằng 0,24% khối lượng Trái Đất.
Hình 1. Hình nghiêng bao quát của đáy đại dương
Phần rìa lục địa dưới nước:
1- thềm lục địa; 2 - sườn lục địa; 3 - chân lục địa.
Đới chuyển tiếp:
4 - lòng chảo biển ven; 5 - vòng cung đảo; 6 - rãnh sâu.
Phần lòng đáy đại dương:
7 - bình nguyên sâu; 8 - dãy núi giữa đại dương; 9 - địa hình đồi dưới sâu
Hình 2. Đường cong cao đồ của Trái Đất
Nếu
san bằng bề mặt Trái Đất, thì đại dương sẽ bao phủ địa cầu bằng một
màng nước đều khắp dày 2.700m, nếu ta hình dung Trái Đất là quả cầu
đường kính 25cm, thì màng nước đại dương chỉ là lớp nhựa sơn ngoài dày
0,1mm.
4. Những dạng địa hình lớn của đáy đại dương
Theo
những quan điểm hiện đại, có thể phân chia những cấu trúc vĩ mô của đáy
đại dương sâu: a) rìa lục địa dưới nước; b) đới chuyển tiếp; c) những
dãy núi giữa đại dương; d) lòng chảo đại dương.
Rìa lục địa dưới nước chiếm 22,6% đáy đại dương thế giới, viền quanh tất cả các lục địa, gồm những dạng địa hình lớn sau đây:
a. Thềm lục địa
là phần kéo dài trực tiếp của nền lục địa. Nơi đây đáy đại dương hạ
thấp dần đều tới độ sâu 200m, có khi sâu hơn, tới 2.000m như ở biển
Ôkhôt, và độ dốc nhỏ, dưới 2o.
Địa hình thềm lục địa đáy thường khá phẳng. Thời gian gần đây các thềm
lục địa đại dương thế giới có giá trị kinh tế to lớn, là nơi khai thác
dầu khí, phát hiện những mỏ phốt phát, quặng kim loại và tập trung phần
lớn sản lượng đánh bắt cá và hải sản. Đồng thời thềm lục địa liên quan
trực tiếp với hàng hải và mọi hoạt động kỹ thuật khác của các dân tộc.
Từ phía biển và đại dương, thềm lục địa giới hạn bởi sườn lục địa.
b. Sườn lục địa là
phần dưới nước của lục địa, nằm ở độ sâu từ khoảng 200m đến khoảng
2.500m. Nơi đây đáy biển có độ dốc lớn hơn ở thềm lục địa, tới 4o-7o, đôi khi tới 13o-14o, thậm chí 20o-40o, tức gần như độ dốc của sườn núi trên đất liền.
Sườn
lục địa có thể thể hiện dưới dạng một dải nghiêng đều hoặc có tính chất
từng bậc, làm thành những bình nguyên dưới nước. Nét tiêu biểu của các
sườn lục địa - tồn tại các hẻm (canhiôn), đó là những rãnh sâu cắt xuyên
sườn lục địa, dạng chữ V, sâu tới 1-2km, dài vài trăm km, bề ngoài
giống các hẻm lớn trên lục địa.
c. Chân lục địa
là phần tiếp theo sườn lục địa - miền bình nguyên khổng lồ gồm các đá
trầm tích terigen dày tới 3,5km, mặt nghiêng, dạng sóng thoải, bề rộng
kể từ biên với sườn lục địa ra tới vùng nước sâu của đại dương bằng
khoảng vài trăm km.
Thềm lục địa, sườn lục địa và chân lục địa
có cấu tạo địa chất giống nhau, cả ba làm thành rìa ngập nước của lục
địa. Vỏ Trái Đất nơi đây thuộc loại lục địa, gồm lớp tương đối xốp đá
trầm tích, sau đến lớp granít cứng và sau nữa là lớp bazan cứng hơn.
Dưới nữa là mantia gồm đá cứng hơn nữa. Ở chân lục địa, độ dày của vỏ
lục địa vào khoảng 5-10km. Nơi đây bắt đầu chuyển tiếp sang loại vỏ đại
dương không có granít.
d. Đới chuyển tiếp có
tính chất chuyển tiếp phức tạp, với 8,5% tổng diện tích, rất tiêu biểu ở
tây Thái Bình Dương với các dạng địa hình như sau: kế cận với rìa lục
địa dưới nước là lòng chảo biển ven (Nhật Bản, Ôkhôt, Bêrinh) – sau đó là miền nâng cao nhưng hẹp làm thành vòng cung đảo - cuối cùng là rãnh nước sâu.
Địa
hình của các lòng chảo biển ven có dáng của các đồng bằng với những bậc
gờ, núi dưới nước, thung lũng và những gò đất dưới nước.
Các
rãnh là những khe nứt dưới nước trong vỏ Trái Đất. Chính tại những rãnh
sâu này người ta đã đo được những độ sâu lớn nhất của đại dương thế
giới. Đến nay đã phát hiện gần hai chục rãnh sâu đều có bề rộng không
quá 150km, sâu hơn 6km, đáy khá phẳng phủ bằng nhiều trầm tích. Rãnh sâu
Marian được coi là sâu nhất đại dương thế giới với độ sâu là 11.034m.
Diện
tích 68% còn lại của toàn diện tích đại dương thế giới thuộc về đáy đại
dương thực sự. Kết quả khảo sát mới nhất đã cho thấy rằng vùng rộng lớn
này cũng có cấu tạo hết sức phức tạp, có thể còn hơn cả địa hình lục
địa. Yếu tố địa hình lớn nhất của lòng đáy đại dương là những lòng chảo
đại dương với độ sâu từ 4 - 4,5km đến 6-7km.
e. Các lòng chảo đại dương là những vùng rộng lớn, thấp, khá bằng phẳng và đồng điệu với độ dốc nhỏ hơn 0,001 nghiêng về phía tâm đại dương.
f. Những miền nâng dưới nước, những cao nguyên đại dương
là những dạng địa hình dương cỡ lớn ở đáy đại dương, không liên quan
tới những dãy núi giữa đại dương. Đó là những cao nguyên rộng lớn nhưng
không cao lắm (vài trăm mét) hoặc những dãy núi định hướng theo những
hướng khác nhau. Đỉnh của những dạng địa hình này ở thấp dưới mặt nước
đại dương đến 2 km.
g.Những dãy núi giữa đại dương là
một hệ thống thống nhất bao trùm toàn bộ hành tinh chúng ta với độ trải
dài phi thường và chiếm một diện tích so sánh được với diện tích các
đại lục. Độ cao đạt tới 2-3 km trên mực đáy đại dương dọc vĩ tuyến 23o vĩ bắc
Hình 3. Hình nghiêng ngang của dãy núi giữa đại dương Đại Tây Dương
1- thung lũng thớ chẻ; 2 - những dãy núi thớ chẻ;
3 - cao nguyên chia cắt; 4 - đới sườn núi vừa và núi thấp
Hình nghiêng ngang của các dãy núi giữa đại dương có dạng sóng với bề rộng hàng trăm, có khi hàng nghìn km.
5. Trầm tích đáy đại dương
Đáy
đại dương và biển là nơi liên tục tích tụ vật liệu lắng đọng. Trầm tích
đáy, tùy thuộc nguồn gốc xuất sinh, có thể gồm những nhóm sau đây:
Nhóm thứ nhất,
trầm tích hình thành từ những sản phẩm lục địa do phá hủy cơ học và hóa
học đất đá bờ, các dòng sông mang ra rồi được dòng chảy mang đi rất xa,
có thể tới những nơi xa nhất ở đại dương, những sản phẩm nhiều cỡ hạt
do băng hà mang vào đại dương, bụi do gió cuốn đi cùng những bào tử phấn
hoa của thực vật cổ;
Nhóm thứ hai,
trầm tích gồm những mảnh vụn thực và động vật sống ở đáy biển, chủ yếu
vùng nước nông ven bờ. Ở những nơi sâu chỉ gồm những mảnh động thực vật
sống ở gần mặt, trong lớp nước có ánh sáng. Phần lớn xác phù du sinh vật
hòa tan trong khi chìm, chỉ phần khó hòa tan chứa canxi và silic mới
đạt tới đáy biển sâu.
Nhóm thứ ba, trầm tích gồm những tàn than, bụi và những sản phẩm khi núi lửa hoạt động, những phần tử mài mòn bờ đảo núi lửa v.v...;
Nhóm thứ tư, trầm tích là những khoáng vật xuất hiện do bão hòa các chất tan, những kết hạch sắt – mangan ở đáy biển;
Nhóm thứ năm, trầm tích được gặp ít hơn, dưới dạng những viên bi nhỏ chứa sắt từ, silicat từ vũ trụ đi vào biển.
Kích
thước hạt của các trầm tích đáy biển biến đổi trong một dải rộng: đá
tảng (đường kính lớn hơn 20mm), đá dăm (20-2mm), cát hạt lớn (2-0,5mm),
cát hạt vừa (0,5-0,2mm), cát hạt mịn (0,2-0,1mm), cát bụi (0,1-0,02mm), á
sét (0,02-0,002mm) và sét (nhỏ hơn 0,002mm) tùy thuộc vào tốc độ chìm
lắng của các hạt và tốc độ di chuyển các hạt theo đáy biển do hải lưu
gây nên.
Ở
vùng thềm và sườn lục địa cỡ hạt biến đổi mạnh từ nơi này đến nơi khác,
phụ thuộc vào độ sâu biển, tốc độ hải lưu, độ lớn triều, tính chất đá
bờ v.v... Ở đáy sâu của đại dương các hạt đều đặn hơn. Cũng có thể nói
như vậy về thành phần hóa học của trầm tích đáy: các trầm tích nước nông
thì đa dạng hơn, còn các trầm tích nước sâu – đồng nhất hơn.
Tốc
độ lắng đọng trầm tích ở đáy đại dương trong một ngàn năm có thể biến
đổi khoảng từ 1cm đến 170cm. Ở các biển thì tốc độ ấy có thể lớn hơn rất
nhiều. Độ dày trung bình của lớp trầm tích ở đáy đại dương bằng khoảng
2-4km, một số nơi dày hơn, như vịnh Mếchxích lớp trầm tích dày tới 15km,
biển Catxpi tới 25km.
II. BIỂN VÀ ĐẠI DƯƠNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHÂN LOẠI
1. Khái quát chung
Hành
tinh của chúng ta có một lượng nước lớn, tập trung chủ yếu ở bề mặt,
trong lớp vỏ địa lý: đó là thủy quyển. Lượng nước này có một ý nghĩa rất
quan trọng trong quá trình phát triển của trái đất, nhất là đối với đời
sống sinh vật, trong đó có con người. Trong thủy quyển, nước lại tập
trung hầu hết trong các biển và đại dương: khoảng 1338.106km3, chiếm tới 98,220% tổng lượng nước thủy quyển. Diện tích các biển và đại dương là 363,2.106km2,
chiếm hơn 71% tổng diện tích bề mặt trái đất. Do đó, có tác giả đã cho
rằng: “Trái đất của chúng ta là một hành tinh biển” (M.Béguéry, 1976).
Riêng về các biển, một bộ phận không lớn của các đại dương, hiện nay có
khoảng 68 biển lớn nhỏ như: Địa Trung Hải, Hồng Hải, Hắc Hải, Bắc Hải,
Caribe, Berinh, Ôkhốt, Nhật Bản, Java, San Hô... và Biển Đông ở Đông Nam
Á. Theo Kossina (1921) nếu kể cả Bắc Cực hải (Bắc Băng Dương), diện
tích các biển là 39,928.106km2, chiếm khoảng 11,06% tổng diện tích các biển và đại dương; nếu không tính Bắc Băng Dương, diện tích này còn khoảng 25,838.106km2 tức là chỉ vào khoảng 7%. Thể tích nước của các biển này lại càng nhỏ: nếu kể cả Bắc Băng Dương sẽ là 48,125.106km3 hay là khoảng 3,5% tổng lượng nước chung của cả các biển và đại dương; nếu không tính Bắc Băng Dương chỉ còn 31,145.106km3, tức là 2,2% . (Nguyễn Văn Âu - Địa lý Biển Đông, 1999
Những số liệu chủ yếu về Trái Đất
[2]:
- Trọng lượng: 5.973.502.000.000.000.000.000 tấn
- Chu vi đường xích đạo: 40.075km
- Diện tích: 51.007.600 km2
- Diện tích đất nổi: 148.940.540 km2
- Khối lượng nước: 391.134.060 km
3
- Các đại dương
- Thái Bình Dương: diện tích 179,70 triệu km
2
- Đại Tây Dương: diện tích 102,00 triệu km
2
- Ấn Độ Dương: diện tích 75,00 triệu km
2
- Nam Đại Dương: diện tích 20,327 triệu km
2
- Bắc Băng Dương: diện tích 14,09 triệu km
2
- Các biển lớn nhất
1. Biển San Hô
2. Biển Đông
3. Biển caribe
4. Địa Trung Hải
5. Biển Bêrinh
6. Vịnh Mêxicô
7. Biển Ôkhốt
8. Biển Nhật Bản
9. Vịnh Hớtxơn
10. Biển Anđaman
11. Biển Đen
12. Biển Đỏ
13. Biển Bắc
14. Baltic
2. Biển, đại dương đối với nhân loại trước thế kỉ XX
Ngay từ buổi bình minh của loài người cho đến ngày nay, ở bất kỳ chế độ
xã hội nào, giai đoạn lịch sử nào thì con người vẫn có nhu cầu vật chất
để sống và tồn tại như thức ăn, quần áo, nhà để ở v.v… Muốn có những
vật chất đó, con người phải không ngừng sản xuất ra chúng. Sản xuất càng
mở rộng, số lượng vật chất thu được ngày càng nhiều cả về số lượng và
chất lượng. Nhưng sản xuất muốn có hiệu quả thì quá trình sản xuất ấy
phải đặt trong điều
kiện là nó được tiến hành ở môi trường nào, bằng các loại công cụ lao
động, phương thức, cách thức sản xuất nào. Mỗi giai đoạn lịch sử nhất
định của xã hội loài người đều gắn với một phương thức sản xuất tương
ứng (cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất). Sự thay đổi kế
tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định tới sự
phát triển của xã hội loài người.
Trong
mối quan hệ song trùng của quá trình sản xuất, người lao động với kỹ
năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động
kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất. Trong mối quan hệ này,
con người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất. Bằng
những kỹ năng lao động và sức mạnh, con người sử dụng tư liệu lao động,
trước hết là công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để sản
xuất ra của cải vật chất.
Trong
quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động sản xuất của
con người ngày càng được tăng lên, trí tuệ con người ngày càng phát
triển, hàm lượng trí tuệ của lao động ngày càng cao, tư duy ngày một
phong phú. Công cụ lao động do con người sáng tạo ra, lúc đầu còn thô
sơ, đơn giản, về sau nó được tác động bởi sức mạnh của tri thức đã nhân
lên gấp bội sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản xuất.
Công
cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất. Nó thường
xuyên, không ngừng được con người cải tiến và hoàn thiện thông qua quá
trình lao động, tích lũy kinh nghiệm, áp dụng những phát minh, sáng chế
kỹ thuật. Trình độ phát triển của công cụ lao động ở mọi giai đoạn là
thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân
biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử.
Lịch sử thế giới đã chứng minh sự phát triển mạnh mẽ của xã hội loài
người, với những thành tựu vĩ đại về khoa học kỹ thuật, khoa học công
nghệ, con người đã từng bước khám phá, hiểu biết và giải thích về thế
giới tự nhiên. Từ không gian, môi trường sống chủ yếu là đất liền, con
người đã từng bước hiểu biết về biển, thấy rõ ý nghĩa, vai trò, tầm quan
trọng và lợi ích của biển, đại dương đối với sự phát triển của nhân
loại.
Là
cơ sở để con người chinh phục biển, trong thời trung kì trung đại và
hậu kì trung đại, thời lịch sử trung đại phương Tây (thế kỉ V đến thế kỉ
XVII), ở châu Âu chiếc la bàn và cực của từ trường trái đất được nói
đến vào khoảng năm 1190 sau công nguyên. Người Trung Quốc đã biết chế
ra la bàn vào khoảng thế kỉ III trước công nguyên, sau đó đến thế kỉ thứ
XIII người châu Âu đã biết sử dụng la bàn và thuyền đi biển Caravenla
xuất hiện.
Năm
1492, Crixtốp Côlômbô xuất phát ngày 03/8/1492 từ cảng Palos của Tây
Ban Nha vượt Đại Tây Dương, sau hai tháng tới đảo San Salvador thuộc
quần đảo Bahamas (Trung Mĩ) và trở về nước ngày 04/01/1493. Sau đó, từ
năm 1493 đến năm 1500, Côlômbô còn tiến hành các cuộc thám hiểm biển tìm
ra các đảo thuộc châu Mĩ latinh.
Cuộc
viễn chinh của Vaxcô đơ Gama từ ngày 8/7 đến ngày 22/11/1497 là cuộc
thám hiểm nổi tiếng nhất của người Bồ Đào Nha tìm đường biển thông sang
Ấn Độ. Sau đó người Bồ Đào Nha đã giữ độc quyền con đường biển này trong
gần một thế kỉ, tổ chức nhiều cuộc hàng hải qua đường biển này. Năm
1517, họ đến Trung Quốc và năm 1542 đến Nhật Bản.
Tháng
9/1513, Banboa người Tây Ban Nha đã tổ chức cuộc trường chinh nổi tiếng
xuyên qua eo biển Panama, đến ngày thứ 25 của cuộc hành trình, từ trên
đỉnh núi cao, Banboa trông thấy biển nước mênh mông của Thái Bình Dương.
Ông là người đầu tiên phát hiện ra Thái Bình Dương.
Cuộc
hành trình nổi tiếng vòng quanh thế giới từ năm 1519 đến năm 1522 của
Magienlăng người Bồ Đào Nha đã hoàn chỉnh những thành tựu của các nhà
hàng hải Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha một cách triệt để. Magienlăng đã tặng
nhân loại một hiểu biết mới về Trái Đất và các biển, đại dương. Ông đã
biến giấc mơ về nhận thức và chinh phục biển của nhân loại từ hàng trăm
thế hệ trước trở thành hiện thực. Năm 1720, ở Pháp đã có hẳn một nhà kho
chứa bản đồ đi biển tại Pari để phục vụ cho các cuộc hành trình trên
biển, đại dương.
Đến
thời cận đại, thế kỉ thứ XXIII, nước Anh đã vươn lên chiếm địa vị hàng
đầu trên mặt biển sau khi đánh bại các địch thủ Tây Ban Nha và Pháp đã
khống chế các đường hàng hải.
Trước
thế kỷ thứ XIX, trên thế giới hầu như không có cuộc chiến tranh nào
nhằm tranh giành, phân định và chiếm hữu các vùng biển, vì trong nhận
thức của con người, không gian sinh tồn chủ yếu là ở đất liền chứ không
phải là biển. Thế giới mà con người quan niệm chủ yếu chỉ là các châu
lục, bởi do biển và đại dương đã ngăn cách các châu lục với nhau nên con
người còn rất mơ hồ về biển. Sau những khám phá vĩ đại ở thế kỉ XV và
đầu thế kỉ XVI về trái đất, châu lục, về biển và đại dương, con người đã
có hiểu biết nhất định về biển và thế giới. Tuy nhiên, biển đối với
nhân loại còn quá rộng lớn và đầy những bí ẩn chưa được khám phá. Con
người chủ yếu khai thác chinh phục biển về chiều rộng bằng giao thông
vận tải và đánh cá, nhưng chưa chinh phục được chiều sâu của biển, đại
dương. Vì thế, các tranh chấp về biển từ thế kỉ XV về trước hầu như chưa
xuất hiện.
3. Biển, đại dương đối với nhân loại từ thế kỉ XX đến nay
Trong
nhận thức của nhân loại về thế giới, khái niệm biển đã thay đổi rất
nhiều so với trước đây, nếu lúc đó con người luôn sợ hãi và bất lực
trước mối đe dọa của sóng gió, bão tố, về độ sâu ghê gớm và không gian
quá rộng của biển thì ngày nay con người lại thấy biển có đầy tiềm năng
cho sự phát triển của nhân loại. Biển là kho tàng vô cùng quý giá mà cả
thế giới đang tìm mọi cách vươn ra biển để lợi dụng tối đa nguồn lợi của
biển. Con người đang làm một cuộc cách mạng về chinh phục biển để tồn
tại và phát triển.
Biển
là đặc ân của thiên nhiên đối với loài người để sinh tồn trên Trái Đất.
Biển có tác dụng quan trọng đến vỏ địa lý và cuộc sống con người: một
kho nước khá lớn, một nhân tố ảnh hưởng đáng kể tới khí quyển, nhất là
khí hậu ven bờ, và quan trọng hơn nữa nó còn một nguồn dự trữ về khoáng
sản và năng lượng đa dạng, một kho thực phẩm rất phong phú cho con
người.
Với
tỉ lệ chiếm khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất, có năm đại dương lớn,
độ sâu trung bình khoảng 3.800m; đáy đại dương được tạo bởi lớp vỏ dày
trung bình 4,5km với lớp trầm tích mỏng, bên dưới là một lớp bazan dày
một vài km rồi đến lớp peridotit dày khoảng 4km. Khối lượng nước khổng
lồ của biển, đại dương đã hấp thụ 3/4 năng lượng mặt trời, làm bốc hơi
khoảng 1.500 tỉ m3/ngày
để biến thành mưa, cung cấp nước ngọt cho sự sống và con người trên
hành tinh. Nhờ bốc hơi và giáng thủy, nước trên mặt Trái Đất, nước tự
nhiên luôn ở trong trạng thái tuần hoàn liên tục. Trên đường hành trình
từ lục địa vào đại dương thế giới, nước được bổ sung mỗi năm 5,4 tỷ tấn
các chất tan, các muối từ đất đá lục địa để con người khai thác phục vụ
cho cuộc sống. Giả sử, nếu có một ngày nào đó mà biển, đại dương trở nên
khô cằn thì trái đất chỉ còn là bãi sa mạc không sự sống.
Trong
biển, đại dương có khoảng 180.000 loài động vật, 10.000 loài thực vật,
nước biển và đáy biển chứa khoảng hàng nghìn tỉ tấn kim loại, ở thềm lục
địa có khoảng hơn trăm tỉ tấn dầu mỏ vv... là một kho tàng khổng lồ vô
cùng quý giá đang được loài người khai thác với hiệu quả ngày càng lớn
theo sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ
khai thác biển.
Hiện
nay, người ta tìm thấy trong biển, đại dương có khoảng 70 nguyên tố hóa
học và những khoáng sản với trữ lượng lớn hơn nhiều trữ lượng có trên
lục địa. Ví dụ: trữ lượng chất uran ở các nước tư bản có khoảng 80 vạn
tấn thì ở đại dương là 4 tỉ tấn; trữ lượng vàng ở lục địa (trừ lãnh thổ
Liên Xô cũ) khoảng 3,5 vạn tấn thì ở biển là 10 triệu tấn. Hàm lượng
khoáng sản khai thác ở biển cũng rất cao. Những khối đá kim loại ở bề
mặt đáy các đại dương như Thái Bình Dương đã chứa đựng 27 nguyên tố
trong một khối mănggan, sắt, côban, niken, đồng... trong đó mănggan có
hàm lượng cao nhất khoảng 24%, sắt 14%, tạo điều kiện thuận lợi cho khai
thác và tinh chế. Phần lớn các vật chất được sản xuất ra ở lục địa đều
có thể khai thác và sản xuất được bằng nguyên liệu từ biển và đại dương.
Nước
biển còn là nguồn cung cấp năng lượng, đóng vai trò ngày càng quan
trọng cho con người trong khai thác năng lượng nhiệt hạch, năng lượng
sóng và thủy triều. Đến nay, trên thế giới đã xuất hiện những nhà máy
phát điện chạy bằng sức nước thủy triều và các trạm phát điện lợi dụng
sự chênh lệch nhiệt độ của nước biển trên bề mặt với nhiệt độ nước dưới
độ sâu hơn.
Ngoài
khả năng cung cấp tài nguyên và năng lượng, biển và đại dương còn đóng
vai trò quan trọng và to lớn về giao thông vận tải. Những tuyến đường
chủ yếu nối liền các lục địa đều chạy qua đại dương. Trên 90% hàng hóa
vận tải quốc tế đều bằng đường biển vì nó ưu việt hơn các phương thức
vận chuyển khác với giá vận chuyển rẻ nhất, bằng 1/10 giá vận chuyển
bằng đường sắt, 1/100 giá vận chuyển bằng đường không. Người ta tính
rằng: nếu dùng đường ống để chuyển dầu thì cứ chuyển 2.500km giá thành
sẽ tăng gấp đôi, nếu dùng tàu cỡ vạn tấn thì vận chuyển quãng đường
12.000km giá mới tăng gấp đôi, tàu trọng tải càng lớn thì cước phí vận
chuyển càng thấp.
Hiện
nay cũng như trong tương lai, việc vận chuyển bằng đường bộ và đường
không phát triển, nhưng vai trò của vận tải bằng đường biển vẫn luôn giữ
vai trò quan trọng đối với nhân loại.
Từ
thế kỉ thứ XX, các cường quốc lớn đều là quốc gia có biển như: Mỹ, Nga,
Nhật, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc và các quốc gia có biển đều có điều
kiện để trở thành các nước có nền kinh tế và quân sự hùng mạnh. Vì vậy,
biển ngày càng có ý nghĩa sống còn đối với mỗi quốc gia, dân tộc và mối
quan hệ giữa đất liền với biển ngày càng được khẳng định là một khối
thống nhất không thể tách rời, không thể xem nhẹ phần nào và ngày càng
được tận dụng, khai thác triệt để. Chính vì lẽ đó mà biển đã được xác
định là hướng phòng thủ chiến lược của nhiều quốc gia.
Biển,
đại dương là không gian sinh tồn, là nguồn sống, nguồn hi vọng tương
lai của loài người. Trong khi con người đang sử dụng tài nguyên trên lục
địa một cách tiết kiệm, bảo tồn để sử dụng được lâu dài thì cả thế giới
đã và đang chạy đua ra biển, nhằm tận dụng thế mạnh của biển, khai thác
mọi lợi ích và tài nguyên của biển. Chiến lược khai thác biển trở thành
chiến lược phát triển đất nước của nhiều quốc gia đang phát triển.
Biển
có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước
có biển nói riêng và của thế giới nói chung. Một số nước và vùng lãnh
thổ lợi dụng thế mạnh về biển đã đạt trình độ phát triển kinh tế rất
cao. Do tầm quan trọng của biển, từ lâu cuộc chạy đua trong sự phát
triển kinh tế biển cũng như triển khai lực lượng quân sự trên biển và sự
tranh chấp trên biển diễn ra rất gay gắt.
Trong
vài chục năm gần đây, con người đã có nhiều thành tựu về khả năng khám
phá, chinh phục mọi độ sâu của biển, đáy biển, khai thác các nguồn tài
nguyên giàu có trong lòng đất dưới đáy biển. Do vậy, dẫn tới việc bùng
nổ các cuộc tranh chấp biển, đảo trong bối cảnh tranh đua cả về sự khám
phá và nhận biết về biển. Mâu thuẫn về quyền lợi biển giữa các nước đã
nảy sinh, diễn biến ngày càng phức tạp, gay gắt và có nơi đã xảy ra các
cuộc chiến tranh về chủ quyền trên biển.
Tiềm
năng và triển vọng hấp dẫn của biển cũng là một trong những nguồn gốc
chính tạo ra những cuộc tranh chấp, xung đột gay gắt để giành giật chủ
quyền, tạo lập thế lực về kinh tế, chính trị, quân sự trên biển (tranh
chấp Nga - Nhật về quần đảo Curin; Anh - Áchentina về quần đảo Manvinát;
tranh chấp vùng biển, hải đảo trên Biển Đông và Vịnh Thái Lan giữa các
nước trong khu vực; và gần đây nhất là hành động của Trung Quốc gây căng
thẳng trên Biển Đông. Có nước cực đoan ỷ vào một số thế mạnh nhất định,
đã và đang xúc tiến thực hiện tham vọng giành quyền bá chủ khu vực, âm
mưu mở rộng lãnh thổ ra biển bằng cách cưỡng đoạt, tranh giành, lấn
chiếm hoặc thực hiện mọi hành động phục vụ cho ý đồ chiến lược lâu dài
nhằm thôn tính vùng biển, hải đảo của các quốc gia khác. Xu hướng này
hết sức nguy hiểm, thực sự mang tính chất cướp đoạt và xâm lược, đe dọa
an ninh, chủ quyền quốc gia của các nước khác vào bất kỳ lúc nào. Đây là
một nguy cơ mà bất kỳ quốc gia có biển còn hạn chế về tiềm lực kinh tế,
quốc phòng lo ngại.
Hội
nghị Liên hợp quốc về luật biển lần thứ 3 đã thông qua một Công ước mới
của Liên hợp quốc về luật biển ngày 30/4/1982 (sau đây gọi là Công ước
về luật biển 1982) với 130 phiếu thuận, 4 phiếu chống, 17 phiếu trắng và
2 nước không tham gia bỏ phiếu. Ngày 10/12/1982, Công ước về luật biển
1982 đã được 119 nước ký kết và đã chính thức có hiệu lực từ ngày
16/11/1994. Công ước về luật biển 1982 ra đời có lợi về kinh tế cho các
nước độc lập dân tộc đang phát triển, đồng thời tạo cơ sở pháp lý quốc
tế hỗ trợ các nước ven biển chống việc xâm phạm chủ quyền và lợi ích của
mình từ quốc gia khác. Theo Công ước về luật biển 1982, toàn bộ biển và
đại dương thế giới đã được quy hoạch và thể chế hóa. Hầu như không còn
vùng biển, đại dương nào tự do để các quốc gia mặc sức chiếm lĩnh.
Ngày
nay, con người đã biết sử dụng biển, đại dương vào các mục đích khác
nhau. Một trong những đại dương lớn nhất là Thái Bình Dương và cùng với
nó Trung tâm kinh tế châu Á - Thái Bình Dương đang trở thành trung tâm
kinh tế lớn nhất thế giới và là một trong những khu vực có nền kinh tế
phát triển năng động và kĩ thuật tinh xảo nhất hành tinh.
Thế
kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là “thế kỷ của đại dương'”, là thời
kỳ đầu của “thời đại biển”, bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và
dân số bùng nổ, môi trường sinh thái bị hủy hoại, cuộc sống của loài
người bị đe dọa mất ổn định; nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài
nguyên không tái tạo được (tài nguyên không hoàn nguyên) trên đất liền
sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Do vậy, các nước lớn đều muốn sử
dụng tiết kiệm, bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển của mình
nên đẩy mạnh việc điều tra, thăm dò, khai thác tài nguyên trên đại
dương. Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều
vươn ra biển, chạy đua làm chủ biển, xây dựng chiến lược biển, tăng
cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển.
Hiện
nay, các nước tiên tiến, các nước đang phát triển đã và đang tìm mọi
cách chinh phục và làm chủ biển, đó là con đường hoàn toàn đúng đắn và
đầy triển vọng. Tuy nhiên, khi hiểu rõ được tầm quan trọng và ý nghĩa to
lớn của biển, đại dương đối với sự phát triển của nhân loại thì con
người càng phải quan tâm không chỉ ở việc khai thác mà còn quan tâm đến
bảo vệ môi trường biển.
[1] Được chính thức công nhận theo Quyết định của Tổ chức Thủy văn quốc tế (IHO) năm 2000.
[2] Nguồn: National Geographic Soriety Wasington, D.C
Posted in: Chính Trị,Sách Học Nghiên Cứu
Gửi email bài đăng này
BlogThis!
Chia sẻ lên Facebook
0 nhận xét:
Đăng nhận xét