Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

Chương II: Một số vấn đề về biển đảo Việt Nam

Những kiến thức cơ bản về bờ biển, biển và hải đảo Việt Nam ngày nay.

Chương II
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG
1. Vị trí địa lý và một số đặc điểm của Biển Đông
Theo quy định của Ủy ban Quốc tế về biển, tên của các biển rìa thường dựa vào địa danh của lục địa lớn gần nhất hoặc mang tên của một nhà khoa học phát hiện ra chúng. Tên gọi Biển “Đông” được gọi theo phương hướng vì biển nằm phía đông lục địa nước ta. Tuy vậy, Biển Đông vì nằm ở phía Nam đại lục Trung Hoa nên Trung Quèc gọi là Biển Nam Trung Hoa (hoặc như Ấn Độ Dương). Tuy nhiên, địa danh biển không có ý nghĩa về mặt chủ quyền như một số người lầm tưởng.
Biển Đông được nhân dân Việt Nam gọi theo thói quen như một danh từ riêng. Còn vấn đề Biển Đông thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam hay không cần xác định và giải quyết theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về luật biển 1982.
Biển Đông là một biển lớn và là một biển nửa kín, ven lục địa, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, lớn gấp 1,5 lần Địa Trung Hải và gấp 8 lần Hắc Hải; chiều dài khoảng trên 3.000km, rộng tới 1.000km, nằm giữa từ vĩ độ 0o đến vĩ độ 25o Bắc và từ kinh độ 100o Đông đến kinh độ 121o Đông. Độ sâu bình quân của biển là 1.140m, lượng nước khoảng 3,928.106km3. Biển có thềm lục địa rộng lớn vào loại nhất thế giới với độ sâu trung bình không đến 100m. Do đó, cũng có thể nói: Việt Nam là “cường quốc biển” vì phần lục địa diện tích khoảng 329.600km2 mà bờ biển dài khoảng 3.260km, tức là cứ 100km2 đã có 1km bờ biển. Đặc biệt, vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta có thể tới 1,3.106 km2, chủ yếu trên thềm lục địa.
Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Campuchia và Thái Lan.
Dải đất liền của nước ta về hai phía Đông và Nam giáp Biển Đông. Biển Đông là biển nửa kín do phía đông có các đảo và quần đảo bao bọc. Bờ biển lục địa của Việt Nam trải dài từ Bắc xuống Nam theo chiều dài đất nước. Lãnh thổ đất liền dài nhưng hẹp, nơi rộng nhất 540km, nơi hẹp nhất dưới 50km. Vì thế, Biển Đông gắn bó mật thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi miền đất nước ta.
Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu người dân của các nước trong khu vực này. Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn của cả châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ.
Untitled-1 copy

Hình 4: Bản đồ khu vực Biển Đông

2. Tiềm năng của Biển Đông
Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế, là một điều kiện vô cùng thuận lợi cho đất nước ta phát triển một nền kinh tế phong phú, đa dạng, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật (thuỷ sản), khoáng sản (dầu khí), phát triển đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản; khai thác dược liệu và khoáng sản; phát triển nghỉ mát, du lịch, giao thông đường biển v.v...
- Về thủy sản: Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9-4,0 triệu tấn/năm, cho phép hàng năm khai thác 1,9 triệu tấn, trong đó vùng biển gần bờ chỉ khoảng 500 nghìn tấn, còn lại là vùng xa bờ; cá biển chiếm 95,5%, còn lại là mực, tôm... Qua kết quả nghiên cứu, vùng biển nước ta có khoảng 2.038 loài cá, 200 loài tôm, 300 loài cua, 200 loài ốc, 08 loài mực, 03 loài hải sâm; gần 3.000 loài san hô, 650 loài rong biển. Ngoài ra, trên các đảo có khoảng 8.600 loài chim, đặc biệt là loài chim hải yến; rất nhiều loài bò sát với khoảng 300 loài rắn; khá nhiều loại cá biển thuộc bộ Voi (cá voi, cá heo); khoảng 1.900 động vật nổi và 450 loài thực vật nổi...(Nguyễn Văn Âu, Địa lý Biển Đông năm 1999)
Theo tài liệu của FAO, đáy biển vùng sườn và thềm lục địa của nước ta có tổng lượng cá nổi và cá đáy vào khoảng 10.106 tấn. Có thể khai thác khoảng 4,035.106 tấn/năm và sản lượng hữu hiệu cũng tới khoảng 2,02.106 tấn/năm. Còn cá nổi có thể khai thác sản lượng tối đa khoảng 5,16.106 tấn/năm và sản lượng hữu hiệu cũng tới khoảng 2,065.106 tấn/năm. Riêng vùng biển ven bờ nước ta, trữ lượng sơ bộ cũng vào khoảng 2,875.106 tấn đến 3,025.106 tấn và khả năng khai thác có thể tới 1,292.106 đến 1,392.106 tấn/năm. Về tôm biển ta đã khai thác được khoảng trên 50.103 đến 60.103 tấn/năm. Ngoài ra, còn có thể khai thác với số lượng lớn các loại khác như tổ chim yến, rong mơ, rong câu chỉ vàng...(Nguyễn Văn Âu, Địa lý Biển Đông năm 1999)
Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippin, trong đó Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thế giới (khoảng 4,38 triệu tấn/năm), Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (với khoảng 1,5 - 2 triệu tấn/năm), cả khu vực đánh bắt khoảng 7 - 8% tổng sản lượng đánh bắt cá trên toàn thế giới... (Nguyễn Văn Âu, Địa lý Biển Đông năm 1999)
- Về kim loại và tài nguyên khác: Trong nước biển chứa 1,493.109 tấn brôm, 3,93.107 tấn sắt, 11,8.106 tấn đồng và khoảng 15.712 tấn vàng... Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Brunei - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan. (Nguyễn Văn Âu, Địa lý Biển Đông năm 1999)
Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỉ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí đốt khoảng 1.000 tỉ m3. Hiện nay, chúng ta đang khai thác các mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng, Đại Hùng, Ruby, Rạng Đông, Sư Tử Đen... đã phát hiện khoảng hơn 20 vị trí có tích tụ dầu khí.
Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 07 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỉ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỉ thùng. Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính. Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam đứng vào hạng trung bình trong khu vực, tương đương Thái Lan và Malaysia.
Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng (băng cháy), là một chất ở dạng rắn, hình thành từ khí thiên nhiên và nước trong điều kiện áp suất cao trên 30 atm và nhiệt độ thấp dưới 00C, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần. Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo.
- Về giao thông hàng hải: Việt Nam là một quốc gia biển, bờ biển dài khoảng 3.260km, lại có nhiều đảo và quần đảo, 90 cảng lớn nhỏ với các cảng lớn như: Hòn Gai, Hải Phòng, Cái Lân, Vinh, Vũng Áng, Chân Mây, Nha Trang, Đà Nẵng, Dung Quất, Quy Nhơn, Nhà Bè, Thị Vải, Vũng Tàu, Cần thơ, Hòn Chông và nhất là Sài Gòn, Tân Cảng. Hàng năm hàng hóa vận chuyển qua các cảng trên 100 triệu tấn, với các tuyến chính trong nước và các tuyến tới các nước Singapore, Hồng Công, Băng Cốc v.v... Trong điều kiện biển khá kín, nước không đóng băng nên giao thông trên Biển Đông có thể tiến hành quanh năm.
- Về nghỉ mát, du lịch: Vì điều kiện nước còn sạch, trong lành nên Biển Đông còn là môi trường tự nhiên tốt đẹp, phù hợp cho việc xây dựng các trung tâm điều dưỡng, giải trí, du lịch và nghỉ mát như: Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thuận An, Nha Trang, Quy Nhơn, Mũi Né, Vũng Tàu vv... với những cảnh quan đẹp như: Hạ Long, Vân Đồn, Hòn Gai, Cát Bà, Sầm Sơn, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Côn Đảo, Hà Tiên, Phú Quốc...
Biển Đông là một biển rộng lớn, trong đó một bộ phận là lãnh thổ nước ta, có một điều kiện tự nhiên đa dạng và tài nguyên phong phú, là cơ sở thuận lợi cho đất nước ta phát triển một ngành kinh tế biển, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
mapvietnammedium
Hình 5: Bản đồ Việt Nam

II. CÁC ĐẢO VÀ QUẦN ĐẢO CỦA VIỆT NAM
1. Khái quát chung
Nước ta có bờ biển dài đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các vùng lãnh thổ trên thế giới có biển. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta cao nhất Đông Dương, cao hơn Thái Lan và xấp xỉ Malaysia.
Vùng biển nư­ớc ta có trên 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ ở gần và xa bờ biển[1], trong đó vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo, Bắc Trung Bộ trên 40 đảo, còn lại là ở vùng biển Nam Trung bộ, vùng biển Tây Nam và ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các đảo trong vùng biển Việt Nam phân bố không đều, nằm rải rác từ gần bờ đến xa bờ. Đảo xa nhất cách bờ khoảng trên 300 hải lý. Hệ thống đảo hình thành vòng cung rộng lớn chạy suốt từ vùng biển Vịnh Bắc Bộ đến vùng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo phía Nam, Tây Nam của đất nước, tập trung ở bốn khu vực
+ Vùng biển Đông Bắc
+ Vùng biển miền Trung
+ Vùng biển quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
+ Vùng biển phía Nam và Vịnh Thái Lan

Khu vực Số lượng đảo Diện tich Số đảo có diện tích trên 1 km2
Ven bờ Vịnh Bắc Bộ Trên 2.321 787,4 47
Ven bờ biển Miền Trung 257                   169,9 19
Ven bờ Nam Bộ 201 679,3 16
Tổng cộng Khoảng 2.779[2] 1.636,6 82
Bảng 3: Số liệu về đảo trên các vùng biển

Ven bờ biển Việt Nam có khoảng trên 2.779 hòn đảo lớn nhỏ, với tổng diện tích khoảng 1.636,6km2 , trong đó có khoảng 82 đảo có diện tích lớn hơn 1km2 , chiếm 92% tổng diện tích các đảo; 23 đảo có diện tích trên 10km2 ; 03 đảo có diện tích trên 100km2.
Nước ta có 28 tỉnh và thành phố ven biển. Vùng ven biển nước ta có dân cư trập trung khá đông đúc, khoảng hơn 25 triệu người, bằng gần 31% dân số cả nước. Dự kiến năm 2010 dân số vùng ven biển khoảng 27 triệu người, trong đó lao dộng khoảng 18 triệu người và đến năm 2020 dân số khoảng 30 triệu người, trong đó lao động khoảng 19 triệu người. Dân số trên một số đảo lớn được thể hiện qua các số liệu dưới đây:[3]

STT Tên đảo Diên tích (km2 ) Dân số

Phú Quốc, Kiên Giang 567 42.000

Cái Bầu, Quảng Ninh 200 21.000

Cát Bà, Hải Phòng 149 15.000

Côn Đảo, Bà Rịa-Vũng Tàu 51,5 1.550

Hòn Lớn, Khánh Hòa 45 810

Hòn Tre, Khánh Hòa 32 4.175

Vĩnh Thực, Quảng Ninh 32 3.910

Phú Quý, Bình Thuận 32,5 14.680

Cô Tô- Thanh Lân, Quảng Ninh 23,4 2.232

Cái Chiên, Quảng Ninh 10,9 558
11 ... Lý Sơn, Quảng Ngãi 03 16.000
... 23 ........................... .......... ......
Bảng 4: Số liệu về một số đảo lớn

2. Hệ thống đảo và quần đảo
Hệ thống đảo và quần đảo nước ta có thể chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Hệ thống đảo xa bờ
Là vị trí tiền tiêu, cửa ngõ, phên dậu của quốc gia, là hệ thống phòng thủ từ xa, ở đó có thể bố trí mạng thông tin tiền tiêu, đặt các trạm quan sát, các trận địa phòng không vv... để kiểm tra, kiểm soát bảo vệ vùng biển, vùng trời của Tổ quốc. Những đảo, quần đảo lớn trong hệ thống này như Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Yết, Bạch Long Vĩ, Côn Đảo, Thổ Chu ...
Nhóm 2: Hệ thống các đảo tuyến giữa
Là những đảo có diện tích khá lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi, có thể xây dựng cơ sở hạ tầng tốt, đời sống nhân dân ổn định và phát triển. Về ý nghĩa quốc phòng rất thuận tiện cho việc xây dựng các công trình chiến đấu phòng thủ, các hải cảng, sân bay... Trong hệ thống các đảo này có Cô Tô, Lý Sơn, quần đảo Nam Du, đảo Cù Lao Thu (Phú Quý), đảo Phú Quốc...
Nhóm 3: Hệ thống đảo ven bờ
Bao gồm những đảo gần đất liền, thuận lợi cho phát triển ngư nghiệp, nông nghiệp, là nơi trú đậu, tránh bão, tránh địch tập kích đường không, có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn trật tự an ninh trên vùng biển ven bờ. Nhũng đảo lớn trong hệ thống này là: đảo Cái Bầu, Cát Bà, Cồn Cỏ, Hòn Tre, Hòn Khoai...
Mỗi vùng biển nước ta đều có từng cụm đảo khá liên hoàn, cả ba hệ thống đảo trở thành thế trận phòng thủ nhiều lớp nhiều tầng, giàu tiềm năng về kinh tế và vững về thế trận quốc phòng, an ninh của Tổ quốc.
III. BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, biển, đảo Việt Nam luôn có vai trò quan trọng và đã đi vào lịch sử suốt mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Chúng ta có thể nghiên cứu vai trò của biển, đảo Việt Nam qua các giai đoạn: trước thế kỷ X; từ thế kỷ X đến năm 1945; từ năm 1945 đến năm 1975; và từ năm 1975 đến nay.
1. Biển, đảo Việt Nam trước thế kỷ X
Vào khoảng trước và sau công nguyên, với những thành tựu chinh phục mặt nước biển, những cư dân cuối cùng của quận Nhật Nam với sự bảo tồn được độc lập, tự do qua sự thành lập nước Lâm Ấp, đã có những mối giao lưu rộng rãi với Ấn Độ. Cư dân của Ốc Eo đã có những mối liên hệ xa bằng đường biển đến tận vùng Địa Trung Hải. Trong tình trạng bị nô dịch bởi các thế lực phong kiến phương Bắc có ưu thế về sức mạnh biển, những cư dân ven biển ở phía Bắc cũng là những người bị bóc lột nặng nề.
Về sức mạnh quân sự trên sông, biển, thủy quân Lạc Việt đã từng đứng vào bậc nhất, nhì ở Đông Nam châu Á. Trong suốt chiều dài lịch sử hơn 2000 năm của dân tộc Việt Nam, trên sông biển đã có những trận thủy chiến oanh liệt như: thời Hùng Vương chống giặc Quỳnh Châu từ phía Bắc, diệt Hồ Tôn từ phía Nam; thời Hai Bà Trưng, quân thủy Lê Chân đã làm khiếp đảm quân thủy của giặc ở vùng biển Hải Phòng ngày nay; thời Lý Nam Đế có những trận chặn đánh quân của Trần Bá Tiên ở Tô Lịch, Hồ Điển Triệt, đầm Dạ Trạch; Mai Thúc Loan tiến đánh quân Đường, vây thành Đại La vv...
2. Biển, đảo Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1945
Thời Ngô Quyền và sau là Đinh Tiên Hoàng, 3 trong 7 quận của nước ta đã khôi phục được nền độc lập, tự chủ, mở đầu cho kỷ nguyên Đại Việt. Nhà Trần hùng mạnh, ba lần đánh tan quân Nguyên đã khởi dựng được sự nghiệp từ những người đánh cá ven biển Nam Định - Ninh Bình ngày nay. Nhà Mạc với sự phát huy cao độ yếu tố dân gian trong nền văn hóa dân tộc cũng bắt đầu sự nghiệp của mình từ những cư dân làm nghề đánh cá ven biển Hải Phòng ngày nay. Những vương triều phong kiến đều được xây dựng từ những cư dân và nghề đánh cá ở ven biển Việt Nam.
Về chủ quyền biển, đảo: đều được các triều đình phong kiến nước ta chăm lo quản lý chặt chẽ. Thời Lý đã thiết lập những Trang, thời Trần thiết lập những Trấn, thời Lê (năm 1426) đặt Tuần Kiểm ở các xứ cửa biển, các đồn, các đảo... để quản lý biển, thu thuế của các tàu thuyền nước ngoài qua lại vùng biển của ta. Thời Nam - Bắc phân tranh, với việc thành lập và biến các đội Hoàng Sa thành một tổ chức của Nhà nước, quyền làm chủ lãnh hải ở nước ta đã được xác định chính thức. Hàng năm, triều đình thường chọn 70 suất dân ở Cù Lao Ré để sung vào đội này. Họ là những người thông thạo nghề đi biển và có nhiều kinh nghiệm hoạt động ở những vùng biển nhiều đảo san hô. Thời Tây Sơn vẫn duy trì hoạt động của các đội Hoàng Sa. Năm 1786, vua sai cai đội Hoàng Sa lµ Hội Đức Hầu dẫn 4 thuyền vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm vàng bạc, đồ đồng, đại bác, tiểu bác, đồi mồi, hải sâm và của quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ. Nhà Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy dân ở xã An Vĩnh sung vào; hàng năm, đầu tháng 3 đi thuyền ra đảo; sai đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tư Chính (Bình Thuận) hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa quản lý. Năm 1816, vua Gia Long lệnh cho thủy quân cùng đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa để khảo sát và đo vẽ đường biển. Năm 1836, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng lệnh vua ra Hoàng Sa trông nom đo đạc lưu dấu để ghi nhớ.
Về bảo vệ chủ quyền biển, đảo: Ngô Quyền đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán với trận Bạch Đằng vào năm 938; Lê Hoàn đánh quân xâm lược Tống với trận Bạch Đằng lần thứ hai vào năm 981; Lý Thường Kiệt tiến công địch ở Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu vào năm 1075, chặn đứng quân Tống ngoài biển năm 1077. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba vào năm 1288, quân và dân ta dưới sự chỉ huy thiên tài của Trần Quốc Tuấn đã lập được chiến công vang dội nhất trên sông Bạch Đằng lịch sử, tiêu diệt toàn bộ đạo quân thủy gồm sáu vạn tên, bắt các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ, buộc Thoát Hoan phải rút quân chạy trốn về nước. Những vị tướng giỏi về chỉ huy quân đội tác chiến trên sông biển như Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái... đã lập nhiều chiến công xuất sắc, làm rạng rỡ nền nghệ thuật thủy chiến của dân tộc ta.
Thế kỷ thứ XVI, XVII và những năm đầu thế kỷ thứ XVIII, thủy quân Việt Nam cũng chiến thắng các đội thủy quân xâm lược của chủ nghĩa tư bản châu Âu như đánh thắng hạm đội của thực dân Tây Ban Nha năm 1595, hai lần đánh thắng hạm đội của thực dân Hà Lan trong các năm 1642 - 1643; đánh thắng hạm đội của thực dân Anh năm 1702. Thời kỳ Tây Sơn, Nguyễn Huệ đã tổ chức phát triển mạnh kinh tế biển, xây dựng được một đội quân thủy hùng mạnh vào bậc nhất ở Đông Nam Á. Thủy quân Tây Sơn đã nhiều lần vào Nam ra Bắc đánh đổ tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn, chấm dứt cảnh đất nước bị chia cắt hơn 200 năm. Năm 1785, Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy quân thủy tiến công và chiến thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút trong trận quyết chiến chiến lược lịch sử. Các chiến binh Việt Nam thuộc các triều đại phong kiến có truyền thống chiến đấu giỏi trên biển, trên sông và luôn có sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng thủy binh với lực lượng bộ binh. Những trận thủy chiến ở trên sông, biển đã diễn ra hết sức oanh liệt mà ngày nay đã được khái quát là "truyền thống Bạch Đằng" chống ngoại xâm.
 Trong thời kỳ này, người Việt Nam đã có những hoạt động khai thác, thăm dò, lập bản đồ nhằm xác lập chủ quyền đối với các đảo, quần đảo của Việt Nam, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Khi Pháp xâm lược Việt Nam, Chính phủ Pháp đã tiến hành các hoạt động thăm dò, khảo sát, dựng bia chủ quyền, xây dựng đèn biển, lập trạm khí tượng, đưa quân ra đồn trú, lập thành đơn vị hành chính đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; đồng thời Chính phủ Pháp còn ban hành một số văn bản pháp luật quy định về quản lý, bảo vệ các vùng biển của “Đông Dương thuộc Pháp” như quy định chiều rộng lãnh hải các thuộc địa của Pháp là 3 hải lý (năm 1888); quy định về phương diện đánh cá của Đông Dương là 20 hải lý tính từ ngấn nước thuỷ triều thấp nhất (năm 1936).  
3. Biển, đảo Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, để bảo vệ chủ quyền nước ta, các tổ chức dân quân ở các làng xóm, thôn xã ven biển được khẩn trương xây dựng. Quân và dân ta vừa bám sông, bám biển, đánh chìm nhiều tàu thuyền của địch, vừa lợi dụng sông biển để tổ chức vận tải phục vụ kháng chiến. Dọc tuyến vận tải ven biển, những đơn vị chuyên làm nhiệm vụ vận tải đường biển được tổ chức, nhất là đội vận tải đường biển của Liên khu 5 trong những năm cuối của cuộc kháng chiến đã phát triển đến 200 người với 130 chiếc thuyền, trong đó có khoảng một nửa là thuyền lớn - chở được 15 đến 20 tấn. Từ năm 1948 đến 1954, đội vận chuyển được gần 3000 tấn hàng hóa các loại cho các tỉnh cực Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ. Lợi dụng các dòng sông, suối, ta tổ chức gần 12 nghìn thuyền buồm, thuyền độc mộc, bè, mảng, vận chuyển lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm thiết yếu tiếp tế, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn cả trên đất liền và trên sông biển, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hải quân nhân dân Việt Nam thực sự là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường biển, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân dân ven biển hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông đã góp phần chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đã trở thành huyền thoại sống mãi với dân tộc Việt Nam.
4. Biển, đảo Việt Nam từ năm 1975 đến nay
Bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã kết thúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, non sông thu về một mối, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển của dân tộc ta. Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là một nét độc đáo của dân tộc Việt Nam trong quá khứ. Đó cũng chính là nét độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam, cần được giữ vững và phát huy hơn nữa trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của khoa học - kỹ thuật, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Càng tự hào và trân trọng di sản của quá khứ, chúng ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồn sức mạnh của bao thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay.
IV. BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
1. Vị trí địa lý biển, đảo Việt Nam    
Các vùng biển và hải đảo nước ta nằm trong Biển Đông có nhiều khu vực khác nhau, nhưng nổi bật và có đặc điểm cần chú ý hơn là Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một số đảo, quần đảo khác.
a. Vịnh Bắc Bộ
Vịnh Bắc bộ nằm ở Tây Bắc Biển Đông, trải rộng từ kinh tuyến 105036' Bắc đến 17010' Bắc. Vịnh Bắc Bộ có diện tích 125.000km2, chu vi khoảng 1.950km, chiều dài Bắc Nam khoảng 496km, chiều rộng lớn nhất Đông Tây khoảng 414km.
Vịnh Bắc Bộ đư­ợc bao bọc bởi bờ biển và hải đảo miền bắc Việt Nam ở phía Tây, lục địa Trung Quốc ở phía Bắc, bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam ở phía Đông. Bờ vịnh khúc khuỷu và ven bờ có nhiều đảo. Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có đảo Bạch Long Vĩ với diện tích khoảng 2,5km2, cách đất liền của Việt Nam khoảng 110km, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 130km.
Vịnh Bắc bộ có 2 cửa thông với bên ngoài: cửa phía Nam ra trung tâm Biển Đông, nơi hẹp nhất rộng khoảng 204km, cửa phía Đông qua eo biển Quỳnh Châu (nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam) ra phía Bắc Biển Đông, nơi hẹp nhất khoảng 18km.
Vịnh Bắc Bộ t­ương đối nông, độ sâu trung bình khoảng 40-50m, sâu nhất cũng chỉ trên d­ưới 100m. Đáy biển tương đối bằng phẳng, độ dốc nhỏ. Thềm lục địa của Việt Nam ở vùng Vịnh Bắc Bộ khá rộng, độ dốc thoải và có một lòng máng sâu trên 70m gắn đảo Hải Nam của Trung Quốc.
b. Vịnh Thái Lan
Vịnh Thái Lan nằm ở phía Tây Nam của Biển Đông, đ­ược bao bọc bởi bờ biển Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia.
Vịnh Thái Lan có diện tích 293.000 km2, chu vi khoảng 2.300km, chiều dài vịnh khoảng 628km. Vịnh Thái Lan là một vịnh nông, nơi sâu nhất chỉ 80m.
Các đảo lớn trong vịnh có Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, đảo PoulWai, đảo Kocút, đảo Kotao, đảo Kophangan và đảo Kosamni.
c. Các đảo và quần đảo
Hệ thống đảo của nước ta đều có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên các đảo tiền tiêu có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển và vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh, quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đó là các đảo, quần đảo như­ Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Bạch Long Vĩ, Hòn Mát, Hòn Mê, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu… Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, và các đảo ven bờ gần đất liền, có điều kiện phát triển nghề cá và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nư­ớc ta. 
2. Tầm quan trọng có tính chiến lược của Biển Đông
Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á. Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Theo số liệu mới nhất, mỗi ngày có nhiều tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore và Hồng Công. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng gia tăng ở khu vực.
Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông.
 Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (Malacca, Lombok, Sunda, Ombai - Wetar). Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau eo biển Hormuz).
Nạn cướp biển và khủng bố trên Biển Đông ở mức cao, đặc biệt sau vụ tấn công khủng bố tự sát vào tàu chở dầu của Pháp tháng 10 năm 2002. Do đó, vùng biển này hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa - chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế, nhất là đối với Mỹ và Nhật Bản. Biển Đông còn có liên hệ và ảnh hưởng đến khu vực khác, nhất là Trung Đông. Vì vậy, việc Biển Đông bị một nước hoặc một nhóm nước liên minh nào khống chế sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích an ninh, chính trị, kinh tế của các nước khu vực.
Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông.
3. Vai trí chiến lược của Biển Đông trong phát triển kinh tế-xã hội
Biển Đông là tuyến hàng hải quan trọng thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh mẽ trên Biển Đông. Biển Đông được coi là con đường huyết mạch chiến lược để giao thông thương mại và vận chuyển quân sự quốc tế. Trong 10 tuyến đường biển quốc tế lớn nhất thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông. Trong lịch sử, Biển Đông nhiều lần là trọng điểm của những cuộc tranh chấp quốc tế gay go, quyết liệt. Ngay từ thế kỷ XIV-XV, Tây Ban Nha đã tới đây tranh giành những vùng đất màu mỡ ở Philippin, Indonesia. Đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII là đế quốc Hà Lan; thế kỷ XIX, XX là Pháp, Nhật, Mỹ lần lượt bành trướng, xâm chiếm hoặc gây chiến tranh chống một số nước quanh khu vực Biển Đông. Do quá trình lịch sử tồn tại hơn một trăm năm nay, cùng với sự phát triển của luật pháp quốc tế về biển và đặc điểm địa lý của Biển Đông, nên giữa các nước trong khu vực còn tồn tại một số vấn đề tranh chấp hoặc chưa thống nhất cần được giải quyết trên các vùng biển và thềm lục địa. Đặc biệt, từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay, cuộc chạy đua tìm kiếm, khai thác dầu lửa và các nguồn nguyên liệu chiến lược ở Biển Đông càng làm cho vấn đề tranh chấp chủ quyền ở đây thêm gay gắt và phức tạp.
Biển Đông là một biển lớn của Thái Bình Dương, một trong 6 biển lớn nhất của thế giới, có vị trí quan trọng của cả khu vực và thế giới. Biển Đông được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ (Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Philippin, Brunei, Thái Lan, Campuchia, Singapore và Đài Loan).
Theo quy định của Công ước về Luật biển 1982, Việt Nam không chỉ có phần lục địa mà còn có cả vùng biển rộng trên 1 triệu km2, chiếm khoảng 30% diện tích Biển Đông, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền. Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển của dân tộc ta.
Vị trí địa lý và hình dáng vùng biển nước ta có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành các đặc điểm tự nhiên, từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức khai thác tài nguyên. Nét độc đáo của vị trí địa lý vùng biển nước ta: đây là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, văn hoá lớn trên thế giới. Thời kỳ chiến tranh “lạnh” và chiến tranh “nóng”, đây là nơi tập trung các mâu thuẫn của thời đại. Trong tình hình hiện nay, đây là nơi có sự phát triển hòa bình, hội nhập và ổn định ở khu vực, hội tụ nhiều cơ hội của phát triển, tạo ra những thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.. Tuy nhiên, khu vực này vẫn còn tồn tại tranh chấp về chủ quyền biển, đảo, là nhân tố tạo ra nguy cơ gây mất ổn định, khó lường, luôn đặt ra những khó khăn thách thức cho đất nước ta.
Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt và các nguyên liệu chiến lược khác, đảm bảo cho an ninh năng lượng quốc gia, cho đất nước tự chủ hơn trong phát triển kinh tế trong bối cảnh hiện nay. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta tiếp giáp giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động. Đây cũng là nơi rất hấp dẫn các thế lực đế quốc, bành trướng nhiều tham vọng chiếm đoạt và cũng rất nhạy cảm trước các biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới.
Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác nguồn khoáng sản này. Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam khá lớn. Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển; đồng thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước. Ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển của một số ngành khác như công nghiệp hoá dầu, giao thông vận tải, thương mại trong nước và khu vực. Năm 2004, ngành Dầu khí đã đóng góp 30% ngân sách quốc gia, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sản phẩm cho xã hội, tăng đáng kể tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước. Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển so với GDP cả nước năm 2003 là 39,67%, năm 2004 là 39,81%, năm 2005 là 39,16%; Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 xác định: phấn đấu đến năm 2020 kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP cả nước. Ngoài dầu khí, biển Việt Nam còn có nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh có trữ lượng khai thác công nghiệp và làm vật liệu xây dựng... tiềm năng về khí - điện - đạm và năng lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, sóng và cả thủy nhiệt.
Biển Việt Nam nằm ở vị trí có nhiều tuyến đường biển quan trọng của khu vực cũng như của thế giới, giữ một vai trò rất lớn trong vận chuyển lưu thông hàng hóa thương mại phục vụ đắc lực cho xây dựng nền kinh tế của nước ta cũng như các nước quanh bờ Biển Đông. Biển Việt Nam nối thông với nhiều hướng, từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malacca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Ba-si có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippin, Indonesia, Singapore đến Ôxtrâylia và Niu Di Lân... Đây là điều kiện rất thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
Hệ thống cảng của nước ta gồm cảng biển và cảng sông với khoảng trên 90 cảng lớn nhỏ; những cảng lớn chủ yếu nằm ở ranh giới châu thổ thủy triều và châu thổ bồi tụ, nên tàu ra vào cảng phải đi theo luồng lạch và phụ thuộc vào mức nước thủy triều. Ven biển miền Trung có nhiều vụng, vịnh nước rất sâu, có điều kiện thuận lợi để phát triển cảng biển, trong đó có các cảng trung chuyển côngtenơ tầm cỡ quốc tế; đồng thời cũng rất thuận lợi để xây dựng các cơ sở đóng tàu quy mô lớn, cũng như xây dựng đội thương thuyền đủ mạnh để buôn bán trên thế giới. Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng với các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển vươn tới các vùng sâu trong nội địa, đến các tuyến đường xuyên Á cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu qua mọi miền của Tổ quốc và ra nước ngoài, đến Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Campuchia, góp phần thúc đẩy cực tăng trưởng mới về kinh tế trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do giữa các nước ASEAN và Trung Quốc.
Dọc theo bờ biển, trung bình khoảng 20 km lại có một cửa sông. Phần lớn các sông ngòi đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển. Đáng chú ý là các hệ thống sông vùng duyên hải Quảng Ninh, hệ thống sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Đông Trường Sơn, sông Đồng Nai - Vàm Cỏ và hệ thống sông Cửu Long... Các hệ thống sông này có nhiều cửa thông ra biển thuận tiện cho giao thông đường thủy từ đất liền ra biển và ngược lại. Các cửa sông với lượng lớn, phong phú về phù du đổ ra biển đã tạo thuận lợi cho việc phát triển nguồn lợi thủy sản.
Biển nước ta chủ yếu là vùng biển nhiệt đới mang tính chất địa phương, có tính chất riêng về nhiều mặt như khí tượng - hải văn, chế độ thủy triều... Hiện tượng nổi bật là sự xuất hiện vùng nước trồi - một vùng sinh thái đặc biệt phong phú, đa dạng và là nơi tập trung nhiều loài sinh vật biển. Nguồn lợi hải sản của biển nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực. Diện tích tiềm năng nuôi trồng thủy sản của nước ta khoảng 2 triệu héc-ta, bao gồm 3 loại hình mặt nước đó là nước ngọt, nước lợ và vùng nước mặn ven bờ, có thể nuôi trồng các loại đặc sản như tôm, cua, rong câu, nuôi cá lồng... Ngoài ra, vùng biển nước ta còn có các loại động vật quý khác như đồi mồi, rắn biển, chim biển, thú biển. Hải sản ở vùng biển nước ta là nguồn lợi hết sức quan trọng, không chỉ cung cấp thực phẩm, nguồn dinh dưỡng hàng ngày cho nhân dân (chiếm 50% lượng đạm động vật trong thành phần dinh dưỡng), mà còn tạo nguồn xuất khẩu lớn.
Tiềm năng nguồn lợi hải sản của nước ta rất lớn nhưng khả năng khai thác còn hạn chế, chỉ mới tập trung khai thác ở ven bờ gây nên sự mất cân đối làm cho nguồn hải sản ven bờ nhanh chóng bị cạn kiệt. Để khai thác được nguồn lợi hải sản xa bờ có hiệu quả, từ năm 1997, Nhà nước ta đã có chủ trương và cung cấp vốn ưu đãi cho việc đóng tàu, mua sắm trang bị đánh bắt xa bờ, đồng thời cũng ban hành một số cơ chế chính sách ưu đãi nhằm đẩy mạnh chương trình khai thác hải sản ở các vùng biển xa bờ.
Ngoài ra, nước ta còn có rất nhiều lợi thế về du lịch biển. Với nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh... có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành những tụ điểm về du lịch biển. Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch. Phần lục địa với các hình đồi, núi, đồng bằng đa dạng làm tôn lên vẻ đẹp của hàng chục bãi tắm tốt, cùng với mặt nước, đáy biển và hải đảo tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh, hang động kỳ thú, sơn thủy hữu tình. Khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho việc tổ chức du lịch biển quanh năm, đặc biệt là ở các tỉnh ven biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào. Các thảm thực vật phong phú, các nguồn nước khoáng, các loại động vật quý hiếm, tạo sức hấp dẫn thu hút khách du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, thể thao, chữa bệnh... Trong các năm 1993 - 1997, khách du lịch nội địa tăng từ 2,5 triệu lên 8,5 triệu lượt; từ sau năm 2002 đến nay, mỗi năm thu hút trên 10 triệu lượt khách nội địa và khoảng 4 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, trong đó có 50 - 60% khách du lịch biển.
Biển Việt Nam còn là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay có trên 31% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển. Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa, nhất là các thành phố, thị xã ở Trung Bộ nằm sát ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua. Khu vực ven biển cũng là nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn, có nhiều sân bay, cảng biển quan trọng, các căn cứ hải quân, kho tàng, các công trình kinh tế - quốc phòng khác. Các tỉnh, thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải sản, làm muối... thu hút hơn 13 triệu lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh - quốc phòng.
4. Biển, đảo Việt Nam đối với quốc phòng, an ninh
 Biển, đảo nước ta là một không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng - an ninh của đất nước. Với một vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50km (tỉnh Quảng Bình), nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược. Mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền của đất nước, chia cắt đất liền thành nhiều khúc, cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc - Nam. Ở nhiều nơi, núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình hiểm trở, những vịnh kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận tiện cho việc trú đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển. Đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam đã nói: “các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là những vị trí tiền tiêu của vòng cung lá chắn phía Đông của Tổ quốc”. Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của nước ta. Đồng thời, đây cũng là những lợi thế để bố trí các lực lượng, vũ khí trang bị kỹ thuật của các lực lượng hoạt động trên biển, ven biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trên bờ, tạo thành thế liên hoàn biển - đảo - bờ trong thế trận phòng thủ khu vực.
Vùng biển nước ta nằm trên tuyến giao thông đường biển, đường không thuận lợi, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Sử dụng đường biển sẽ có nhiều thuận lợi trong việc cơ động chuyển quân và tiếp tế hậu cần, sử dụng vũ khí công nghệ cao từ xa, tận dụng được yếu tố bất ngờ. Ngoài tiềm năng về dầu khí, phát triển cảng biển và vận tải biển, tài nguyên du lịch, thủy sản, khoáng sản và nguồn lực lao động, biển còn là chiến trường rộng lớn để ta triển khai thế trận quốc phòng toàn dân - thế trận an ninh nhân dân trên biển để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần, trong đó có các khu vực biển trọng điểm như Vịnh Bắc Bộ; vùng biển quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa; khu dịch vụ kinh tế và kỹ thuật dầu khí DK1, DK2; vùng biển Tây Nam.
5. Chiến lược biển của Việt Nam đến năm 2020
Chỉ thị số 20-CT/TƯ của Bộ Chính trị ngày 22/9/1997 đã khẳng định cần đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đồng thời tiếp tục nhấn mạnh chủ trương lớn về xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển; phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, hải đảo, ven biển, phải gắn kết với yêu cầu bảo vệ đất nước, cần đặt kinh tế biển trong tổng thể kinh tế cả nước, trong quan hệ tương tác với các vùng và trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Để tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TƯ ngày 09/02/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh rằng thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương. Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
Một là, Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu đa dạng, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn;
Hai là, phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển vùng biển, ven biển, các hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá;
Ba là, tập trung khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước;
Để thực hiện mục tiêu tổng quát đến năm 2020 (phấn đấu trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh), Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những mục tiêu cụ thể, như xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển; xây dựng các thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực và các khu kinh tế mạnh ở ven biển, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển.
Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TƯ ngày 09/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 về Chương trình hành động của Chính phủ; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 về phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển; Quyết định số 1041/QĐ-TTg ngày 22/7/2009 về phê duyệt Đề án đảm bảo mạng lưới thông tin biển, đảo; Quyết định số 373/QĐ-TTg ngày 23/3/2010 về phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam. Các cơ quan ở Trung ương và địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch, trực tiếp triển khai chương trình hành động cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, toàn dân và đã đạt được những kết quả quan trọng: kinh tế biển, ven biển được quan tâm đầu tư, phát triển theo hướng khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên biển kết hợp phát triển lâm nghiệp; đẩy mạnh công nghiệp chế biến, xuất khẩu thuỷ sản, phát triển nuôi trồng gắn liền với nâng cao hiệu quả khai thác, đánh bắt; tăng nhanh các ngành dịch vụ du lịch; kết hợp phát triển kinh tế biển bền vững với đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng biển; xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo thế đứng chân ổn định, vững chắc, sẵn sàng đối phó với các tình huống phức tạp xảy ra trên biển; xây dựng hệ thống nhà ở, tường, kè chống xói lở trên các đảo thuộc quần đảo; quy hoạch, triển khai xây dựng cụm công nghiệp ven biển; đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về biển và công tác cải cách hành chính phục vụ phát triển kinh tế cảngdu lịch; thiết lập các dự án, công trình nâng cao chất lượng môi trường ven biển, cải thiện môi trường ven biển phục vụ phát triển kinh tế-xã hội mang tính bền vững.
Các bộ, ngành đã tăng cường phối hợp về công tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, đơn vị vũ trang thực thi nhiệm vụ trên khu vực biển, hải đảo về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo; phổ biến, cập nhật những văn bản chuyên ngành trong nước về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên và môi trường biển, hải đảo; tìm hiểu, phân tích và phổ biến về những khác biệt của hệ thống pháp luật chuyên ngành liên quan đến hoạt động trên biển của Việt Nam so với pháp luật một số nước trong khu vực; nâng cao nhận thức cộng đồng về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo; tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển (nhất là đối với công chức tư pháp cấp xã, phường, thị trấn vùng ven biển, hải đảo); nâng cao nhận thức về vị thế quốc gia biển và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo.

Đại tá Lê Ngọc Cường, Tiến sĩ: Lê Văn Bính
________________________________
[1] Nguồn: Nguyễn Hồng Thao. Những điều cần biết về luật biển, NXB CAND, 1997, tr.9.
[2] Nguồn: Nguyễn Hồng Thao. Những điều cần biết về luật biển, NXB CAND, 1997, tr.9.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét