MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG
1. Vị trí địa lý và một số đặc điểm của Biển Đông
Theo
quy định của Ủy ban Quốc tế về biển, tên của các biển rìa thường dựa
vào địa danh của lục địa lớn gần nhất hoặc mang tên của một nhà khoa học
phát hiện ra chúng. Tên gọi Biển “Đông” được gọi theo phương hướng vì
biển nằm phía đông lục địa nước ta. Tuy vậy, Biển Đông vì nằm ở phía Nam
đại lục Trung Hoa nên Trung Quèc gọi là Biển Nam Trung Hoa (hoặc như Ấn
Độ Dương). Tuy nhiên, địa danh biển không có ý nghĩa về mặt chủ quyền
như một số người lầm tưởng.
Biển
Đông được nhân dân Việt Nam gọi theo thói quen như một danh từ riêng.
Còn vấn đề Biển Đông thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán
của Việt Nam hay không cần xác định và giải quyết theo luật pháp quốc
tế, đặc biệt là Công ước về luật biển 1982.
Biển Đông là một biển lớn và là một biển nửa kín, ven lục địa, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, lớn gấp 1,5 lần Địa Trung Hải và gấp 8 lần Hắc Hải; chiều dài khoảng trên 3.000km, rộng tới 1.000km, nằm giữa từ vĩ độ 0o đến vĩ độ 25o Bắc và từ kinh độ 100o Đông đến kinh độ 121o Đông. Độ sâu bình quân của biển là 1.140m, lượng nước khoảng 3,928.106km3.
Biển có thềm lục địa rộng lớn vào loại nhất thế giới với độ sâu trung
bình không đến 100m. Do đó, cũng có thể nói: Việt Nam là “cường quốc
biển” vì phần lục địa diện tích khoảng 329.600km2 mà bờ biển dài khoảng 3.260km, tức là cứ 100km2 đã có 1km bờ biển. Đặc biệt, vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta có thể tới 1,3.106 km2, chủ yếu trên thềm lục địa.
Ngoài
Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc,
Philippin, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Campuchia và Thái
Lan.
Dải
đất liền của nước ta về hai phía Đông và Nam giáp Biển Đông. Biển Đông
là biển nửa kín do phía đông có các đảo và quần đảo bao bọc. Bờ biển lục
địa của Việt Nam trải dài từ Bắc xuống Nam theo chiều dài đất nước.
Lãnh thổ đất liền dài nhưng hẹp, nơi rộng nhất 540km, nơi hẹp nhất dưới
50km. Vì thế, Biển Đông gắn bó mật thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi
miền đất nước ta.
Theo
ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của
khoảng 300 triệu người dân của các nước trong khu vực này. Biển Đông
không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu
vực mà còn của cả châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ.
Hình 4: Bản đồ khu vực Biển Đông
2. Tiềm năng của Biển Đông
Biển
Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho
đời sống và sự phát triển kinh tế, là một điều kiện vô cùng thuận lợi
cho đất nước ta phát triển một nền kinh tế phong phú, đa dạng, đặc biệt
là nguồn tài nguyên sinh vật (thuỷ sản), khoáng sản (dầu khí), phát
triển đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản; khai thác dược liệu và
khoáng sản; phát triển nghỉ mát, du lịch, giao thông đường biển v.v...
- Về thủy sản: Tổng
trữ lượng hải sản khoảng 3,9-4,0 triệu tấn/năm, cho phép hàng năm khai
thác 1,9 triệu tấn, trong đó vùng biển gần bờ chỉ khoảng 500 nghìn tấn,
còn lại là vùng xa bờ; cá biển chiếm 95,5%, còn lại là mực, tôm... Qua
kết quả nghiên cứu, vùng biển nước ta có khoảng 2.038 loài cá, 200 loài
tôm, 300 loài cua, 200 loài ốc, 08 loài mực, 03 loài hải sâm; gần 3.000
loài san hô, 650 loài rong biển. Ngoài ra, trên các đảo có khoảng 8.600
loài chim, đặc biệt là loài chim hải yến; rất nhiều loài bò sát với
khoảng 300 loài rắn; khá nhiều loại cá biển thuộc bộ Voi (cá voi, cá
heo); khoảng 1.900 động vật nổi và 450 loài thực vật nổi...(Nguyễn Văn
Âu, Địa lý Biển Đông năm 1999)
Theo tài liệu của FAO, đáy biển vùng sườn và thềm lục địa của nước ta có tổng lượng cá nổi và cá đáy vào khoảng 10.106 tấn. Có thể khai thác khoảng 4,035.106 tấn/năm và sản lượng hữu hiệu cũng tới khoảng 2,02.106 tấn/năm. Còn cá nổi có thể khai thác sản lượng tối đa khoảng 5,16.106 tấn/năm và sản lượng hữu hiệu cũng tới khoảng 2,065.106 tấn/năm. Riêng vùng biển ven bờ nước ta, trữ lượng sơ bộ cũng vào khoảng 2,875.106 tấn đến 3,025.106 tấn và khả năng khai thác có thể tới 1,292.106 đến 1,392.106 tấn/năm. Về tôm biển ta đã khai thác được khoảng trên 50.103 đến 60.103 tấn/năm.
Ngoài ra, còn có thể khai thác với số lượng lớn các loại khác như tổ
chim yến, rong mơ, rong câu chỉ vàng...(Nguyễn Văn Âu, Địa lý Biển Đông
năm 1999)
Trong
khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế
giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippin, trong
đó Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thế giới (khoảng 4,38 triệu
tấn/năm), Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (với khoảng 1,5 - 2 triệu
tấn/năm), cả khu vực đánh bắt khoảng 7 - 8% tổng sản lượng đánh bắt cá
trên toàn thế giới... (Nguyễn Văn Âu, Địa lý Biển Đông năm 1999)
- Về kim loại và tài nguyên khác: Trong nước biển chứa 1,493.109 tấn brôm, 3,93.107 tấn sắt, 11,8.106 tấn
đồng và khoảng 15.712 tấn vàng... Biển Đông được coi là một trong năm
bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục địa có
tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Brunei - Saba, Sarawak, Malay,
Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Hiện
nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản
xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei,
Indonesia, Thái Lan. (Nguyễn Văn Âu, Địa lý Biển Đông năm 1999)
Tại
vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có
triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn
được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương
đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm
lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỉ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác
khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí đốt khoảng 1.000 tỉ m3.
Hiện nay, chúng ta đang khai thác các mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng, Đại Hùng,
Ruby, Rạng Đông, Sư Tử Đen... đã phát hiện khoảng hơn 20 vị trí có tích
tụ dầu khí.
Theo
đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở
Biển Đông là 07 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày.
Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213
tỉ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới
105 tỉ thùng. Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng
18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới. Các khu vực
có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa
ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư
Chính. Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam đứng vào hạng trung
bình trong khu vực, tương đương Thái Lan và Malaysia.
Ngoài
ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa
còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng (băng cháy), là một chất ở
dạng rắn, hình thành từ khí thiên nhiên và nước trong điều kiện áp suất
cao trên 30 atm và nhiệt độ thấp dưới 00C,
trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng
dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong
tương lai gần. Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là
một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo.
- Về giao thông hàng hải:
Việt Nam là một quốc gia biển, bờ biển dài khoảng 3.260km, lại có nhiều
đảo và quần đảo, 90 cảng lớn nhỏ với các cảng lớn như: Hòn Gai, Hải
Phòng, Cái Lân, Vinh, Vũng Áng, Chân Mây, Nha Trang, Đà Nẵng, Dung Quất,
Quy Nhơn, Nhà Bè, Thị Vải, Vũng Tàu, Cần thơ, Hòn Chông và nhất là Sài
Gòn, Tân Cảng. Hàng năm hàng hóa vận chuyển qua các cảng trên 100 triệu
tấn, với các tuyến chính trong nước và các tuyến tới các nước Singapore,
Hồng Công, Băng Cốc v.v... Trong điều kiện biển khá kín, nước không
đóng băng nên giao thông trên Biển Đông có thể tiến hành quanh năm.
- Về nghỉ mát, du lịch:
Vì điều kiện nước còn sạch, trong lành nên Biển Đông còn là môi trường
tự nhiên tốt đẹp, phù hợp cho việc xây dựng các trung tâm điều dưỡng,
giải trí, du lịch và nghỉ mát như: Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Sầm Sơn,
Cửa Lò, Thuận An, Nha Trang, Quy Nhơn, Mũi Né, Vũng Tàu vv... với những
cảnh quan đẹp như: Hạ Long, Vân Đồn, Hòn Gai, Cát Bà, Sầm Sơn, Huế, Đà
Nẵng, Nha Trang, Côn Đảo, Hà Tiên, Phú Quốc...
Biển
Đông là một biển rộng lớn, trong đó một bộ phận là lãnh thổ nước ta, có
một điều kiện tự nhiên đa dạng và tài nguyên phong phú, là cơ sở thuận
lợi cho đất nước ta phát triển một ngành kinh tế biển, góp phần quan
trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Hình 5: Bản đồ Việt Nam
II. CÁC ĐẢO VÀ QUẦN ĐẢO CỦA VIỆT NAM
1. Khái quát chung
Nước
ta có bờ biển dài đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc
đảo và các vùng lãnh thổ trên thế giới có biển. Chỉ số chiều dài bờ biển
trên diện tích đất liền của nước ta cao nhất Đông Dương, cao hơn Thái
Lan và xấp xỉ Malaysia.
Vùng biển nước ta có trên 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ ở gần và xa bờ biển
[1],
trong đó vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo, Bắc Trung Bộ trên 40
đảo, còn lại là ở vùng biển Nam Trung bộ, vùng biển Tây Nam và ở hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các
đảo trong vùng biển Việt Nam phân bố không đều, nằm rải rác từ gần bờ
đến xa bờ. Đảo xa nhất cách bờ khoảng trên 300 hải lý. Hệ thống đảo hình
thành vòng cung rộng lớn chạy suốt từ vùng biển Vịnh Bắc Bộ đến vùng
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo phía Nam, Tây Nam của đất nước,
tập trung ở bốn khu vực
+ Vùng biển Đông Bắc
+ Vùng biển miền Trung
+ Vùng biển quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
+ Vùng biển phía Nam và Vịnh Thái Lan
| Khu vực | Số lượng đảo | Diện tich | Số đảo có diện tích trên 1 km2 |
| Ven bờ Vịnh Bắc Bộ | Trên 2.321 | 787,4 | 47 |
| Ven bờ biển Miền Trung | 257 | 169,9 | 19 |
| Ven bờ Nam Bộ | 201 | 679,3 | 16 |
| Tổng cộng | Khoảng 2.779[2] | 1.636,6 | 82 |
Bảng 3: Số liệu về đảo trên các vùng biển
Ven bờ biển Việt Nam có khoảng trên 2.779 hòn đảo lớn nhỏ, với tổng diện tích khoảng 1.636,6km2 , trong đó có khoảng 82 đảo có diện tích lớn hơn 1km2 , chiếm 92% tổng diện tích các đảo; 23 đảo có diện tích trên 10km2 ; 03 đảo có diện tích trên 100km2.
Nước
ta có 28 tỉnh và thành phố ven biển. Vùng ven biển nước ta có dân cư
trập trung khá đông đúc, khoảng hơn 25 triệu người, bằng gần 31% dân số
cả nước. Dự kiến năm 2010 dân số vùng ven biển khoảng 27 triệu người,
trong đó lao dộng khoảng 18 triệu người và đến năm 2020 dân số khoảng 30
triệu người, trong đó lao động khoảng 19 triệu người. Dân số trên một
số đảo lớn được thể hiện qua các số liệu dưới đây
:[3]
| STT | Tên đảo | Diên tích (km2 ) | Dân số |
| Phú Quốc, Kiên Giang | 567 | 42.000 |
| Cái Bầu, Quảng Ninh | 200 | 21.000 |
| Cát Bà, Hải Phòng | 149 | 15.000 |
| Côn Đảo, Bà Rịa-Vũng Tàu | 51,5 | 1.550 |
| Hòn Lớn, Khánh Hòa | 45 | 810 |
| Hòn Tre, Khánh Hòa | 32 | 4.175 |
| Vĩnh Thực, Quảng Ninh | 32 | 3.910 |
| Phú Quý, Bình Thuận | 32,5 | 14.680 |
| Cô Tô- Thanh Lân, Quảng Ninh | 23,4 | 2.232 |
| Cái Chiên, Quảng Ninh | 10,9 | 558 |
| 11 | ... Lý Sơn, Quảng Ngãi | 03 | 16.000 |
| ... 23 | ........................... | .......... | ...... |
Bảng 4: Số liệu về một số đảo lớn
2. Hệ thống đảo và quần đảo
Hệ thống đảo và quần đảo nước ta có thể chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Hệ thống đảo xa bờ
Là
vị trí tiền tiêu, cửa ngõ, phên dậu của quốc gia, là hệ thống phòng thủ
từ xa, ở đó có thể bố trí mạng thông tin tiền tiêu, đặt các trạm quan
sát, các trận địa phòng không vv... để kiểm tra, kiểm soát bảo vệ vùng
biển, vùng trời của Tổ quốc. Những đảo, quần đảo lớn trong hệ thống này
như Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Yết, Bạch Long Vĩ, Côn Đảo, Thổ Chu ...
Nhóm 2: Hệ thống các đảo tuyến giữa
Là
những đảo có diện tích khá lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi, có thể
xây dựng cơ sở hạ tầng tốt, đời sống nhân dân ổn định và phát triển. Về ý
nghĩa quốc phòng rất thuận tiện cho việc xây dựng các công trình chiến
đấu phòng thủ, các hải cảng, sân bay... Trong hệ thống các đảo này có Cô
Tô, Lý Sơn, quần đảo Nam Du, đảo Cù Lao Thu (Phú Quý), đảo Phú Quốc...
Nhóm 3: Hệ thống đảo ven bờ
Bao
gồm những đảo gần đất liền, thuận lợi cho phát triển ngư nghiệp, nông
nghiệp, là nơi trú đậu, tránh bão, tránh địch tập kích đường không, có
vai trò quan trọng trong việc giữ gìn trật tự an ninh trên vùng biển ven
bờ. Nhũng đảo lớn trong hệ thống này là: đảo Cái Bầu, Cát Bà, Cồn Cỏ,
Hòn Tre, Hòn Khoai...
Mỗi
vùng biển nước ta đều có từng cụm đảo khá liên hoàn, cả ba hệ thống đảo
trở thành thế trận phòng thủ nhiều lớp nhiều tầng, giàu tiềm năng về
kinh tế và vững về thế trận quốc phòng, an ninh của Tổ quốc.
III. BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC
Trong
quá trình dựng nước và giữ nước, biển, đảo Việt Nam luôn có vai trò
quan trọng và đã đi vào lịch sử suốt mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam.
Chúng ta có thể nghiên cứu vai trò của biển, đảo Việt Nam qua các giai
đoạn: trước thế kỷ X; từ thế kỷ X đến năm 1945; từ năm 1945 đến năm
1975; và từ năm 1975 đến nay.
1. Biển, đảo Việt Nam trước thế kỷ X
Vào
khoảng trước và sau công nguyên, với những thành tựu chinh phục mặt
nước biển, những cư dân cuối cùng của quận Nhật Nam với sự bảo tồn được
độc lập, tự do qua sự thành lập nước Lâm Ấp, đã có những mối giao lưu
rộng rãi với Ấn Độ. Cư dân của Ốc Eo đã có những mối liên hệ xa bằng
đường biển đến tận vùng Địa Trung Hải. Trong tình trạng bị nô dịch bởi
các thế lực phong kiến phương Bắc có ưu thế về sức mạnh biển, những cư
dân ven biển ở phía Bắc cũng là những người bị bóc lột nặng nề.
Về
sức mạnh quân sự trên sông, biển, thủy quân Lạc Việt đã từng đứng vào
bậc nhất, nhì ở Đông Nam châu Á. Trong suốt chiều dài lịch sử hơn 2000
năm của dân tộc Việt Nam, trên sông biển đã có những trận thủy chiến
oanh liệt như: thời Hùng Vương chống giặc Quỳnh Châu từ phía Bắc, diệt
Hồ Tôn từ phía Nam; thời Hai Bà Trưng, quân thủy Lê Chân đã làm khiếp
đảm quân thủy của giặc ở vùng biển Hải Phòng ngày nay; thời Lý Nam Đế có
những trận chặn đánh quân của Trần Bá Tiên ở Tô Lịch, Hồ Điển Triệt,
đầm Dạ Trạch; Mai Thúc Loan tiến đánh quân Đường, vây thành Đại La vv...
2. Biển, đảo Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1945
Thời
Ngô Quyền và sau là Đinh Tiên Hoàng, 3 trong 7 quận của nước ta đã khôi
phục được nền độc lập, tự chủ, mở đầu cho kỷ nguyên Đại Việt. Nhà Trần
hùng mạnh, ba lần đánh tan quân Nguyên đã khởi dựng được sự nghiệp từ
những người đánh cá ven biển Nam Định - Ninh Bình ngày nay. Nhà Mạc với
sự phát huy cao độ yếu tố dân gian trong nền văn hóa dân tộc cũng bắt
đầu sự nghiệp của mình từ những cư dân làm nghề đánh cá ven biển Hải
Phòng ngày nay. Những vương triều phong kiến đều được xây dựng từ những
cư dân và nghề đánh cá ở ven biển Việt Nam.
Về chủ quyền biển, đảo: đều
được các triều đình phong kiến nước ta chăm lo quản lý chặt chẽ. Thời
Lý đã thiết lập những Trang, thời Trần thiết lập những Trấn, thời Lê
(năm 1426) đặt Tuần Kiểm ở các xứ cửa biển, các đồn, các đảo... để quản
lý biển, thu thuế của các tàu thuyền nước ngoài qua lại vùng biển của
ta. Thời Nam - Bắc phân tranh, với việc thành lập và biến các đội Hoàng
Sa thành một tổ chức của Nhà nước, quyền làm chủ lãnh hải ở nước ta đã
được xác định chính thức. Hàng năm, triều đình thường chọn 70 suất dân ở
Cù Lao Ré để sung vào đội này. Họ là những người thông thạo nghề đi
biển và có nhiều kinh nghiệm hoạt động ở những vùng biển nhiều đảo san
hô. Thời Tây Sơn vẫn duy trì hoạt động của các đội Hoàng Sa. Năm 1786,
vua sai cai đội Hoàng Sa lµ Hội Đức Hầu dẫn 4 thuyền vượt biển đến thẳng
Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm vàng bạc, đồ đồng, đại bác,
tiểu bác, đồi mồi, hải sâm và của quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ.
Nhà Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy dân ở xã An Vĩnh sung vào;
hàng năm, đầu tháng 3 đi thuyền ra đảo; sai đội Bắc Hải mộ dân ở phường
Tư Chính (Bình Thuận) hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền
ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng
Sa quản lý. Năm 1816, vua Gia Long lệnh cho thủy quân cùng đội Hoàng Sa
ra Hoàng Sa để khảo sát và đo vẽ đường biển. Năm 1836, thủy quân chánh
đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng lệnh vua ra Hoàng Sa trông nom đo
đạc lưu dấu để ghi nhớ.
Về bảo vệ chủ quyền biển, đảo: Ngô
Quyền đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán với trận Bạch Đằng vào năm 938;
Lê Hoàn đánh quân xâm lược Tống với trận Bạch Đằng lần thứ hai vào năm
981; Lý Thường Kiệt tiến công địch ở Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu
vào năm 1075, chặn đứng quân Tống ngoài biển năm 1077. Đặc biệt, trong
cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba vào năm 1288, quân và dân
ta dưới sự chỉ huy thiên tài của Trần Quốc Tuấn đã lập được chiến công
vang dội nhất trên sông Bạch Đằng lịch sử, tiêu diệt toàn bộ đạo quân
thủy gồm sáu vạn tên, bắt các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ,
buộc Thoát Hoan phải rút quân chạy trốn về nước. Những vị tướng giỏi về
chỉ huy quân đội tác chiến trên sông biển như Trần Khánh Dư, Yết Kiêu,
Dã Tượng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái... đã lập nhiều
chiến công xuất sắc, làm rạng rỡ nền nghệ thuật thủy chiến của dân tộc
ta.
Thế
kỷ thứ XVI, XVII và những năm đầu thế kỷ thứ XVIII, thủy quân Việt Nam
cũng chiến thắng các đội thủy quân xâm lược của chủ nghĩa tư bản châu Âu
như đánh thắng hạm đội của thực dân Tây Ban Nha năm 1595, hai lần đánh
thắng hạm đội của thực dân Hà Lan trong các năm 1642 - 1643; đánh thắng
hạm đội của thực dân Anh năm 1702. Thời kỳ Tây Sơn, Nguyễn Huệ đã tổ
chức phát triển mạnh kinh tế biển, xây dựng được một đội quân thủy hùng
mạnh vào bậc nhất ở Đông Nam Á. Thủy quân Tây Sơn đã nhiều lần vào Nam
ra Bắc đánh đổ tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn, chấm dứt cảnh đất nước
bị chia cắt hơn 200 năm. Năm 1785, Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy quân
thủy tiến công và chiến thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút trong trận
quyết chiến chiến lược lịch sử. Các chiến binh Việt Nam thuộc các triều
đại phong kiến có truyền thống chiến đấu giỏi trên biển, trên sông và
luôn có sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng thủy binh với lực lượng bộ
binh. Những trận thủy chiến ở trên sông, biển đã diễn ra hết sức oanh
liệt mà ngày nay đã được khái quát là "truyền thống Bạch Đằng" chống
ngoại xâm.
Trong
thời kỳ này, người Việt Nam đã có những hoạt động khai thác, thăm dò,
lập bản đồ nhằm xác lập chủ quyền đối với các đảo, quần đảo của Việt
Nam, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Khi Pháp xâm lược Việt
Nam, Chính phủ Pháp đã tiến hành các hoạt động thăm dò, khảo sát, dựng
bia chủ quyền, xây dựng đèn biển, lập trạm khí tượng, đưa quân ra đồn
trú, lập thành đơn vị hành chính đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa;
đồng thời Chính phủ Pháp còn ban hành một số văn bản pháp luật quy định
về quản lý, bảo vệ các vùng biển của “Đông Dương thuộc Pháp” như quy
định chiều rộng lãnh hải các thuộc địa của Pháp là 3 hải lý (năm 1888);
quy định về phương diện đánh cá của Đông Dương là 20 hải lý tính từ ngấn
nước thuỷ triều thấp nhất (năm 1936).
3. Biển, đảo Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
Thời
kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt từ khi Cách mạng
tháng Tám thành công, để bảo vệ chủ quyền nước ta, các tổ chức dân quân ở
các làng xóm, thôn xã ven biển được khẩn trương xây dựng. Quân và dân
ta vừa bám sông, bám biển, đánh chìm nhiều tàu thuyền của địch, vừa lợi
dụng sông biển để tổ chức vận tải phục vụ kháng chiến. Dọc tuyến vận tải
ven biển, những đơn vị chuyên làm nhiệm vụ vận tải đường biển được tổ
chức, nhất là đội vận tải đường biển của Liên khu 5 trong những năm cuối
của cuộc kháng chiến đã phát triển đến 200 người với 130 chiếc thuyền,
trong đó có khoảng một nửa là thuyền lớn - chở được 15 đến 20 tấn. Từ
năm 1948 đến 1954, đội vận chuyển được gần 3000 tấn hàng hóa các loại
cho các tỉnh cực Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ. Lợi dụng các dòng
sông, suối, ta tổ chức gần 12 nghìn thuyền buồm, thuyền độc mộc, bè,
mảng, vận chuyển lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm thiết yếu
tiếp tế, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, kết
thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong
sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã liên tiếp giành được
những thắng lợi to lớn cả trên đất liền và trên sông biển, tiến tới giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hải quân nhân dân Việt Nam thực sự
là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường biển,
phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân dân ven biển hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông đã
góp phần chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đã trở
thành huyền thoại sống mãi với dân tộc Việt Nam.
4. Biển, đảo Việt Nam từ năm 1975 đến nay
Bằng
chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã kết thúc cuộc kháng
chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, non sông
thu về một mối, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh
đạo của Đảng, đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng
của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển
của dân tộc ta. Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là
một nét độc đáo của dân tộc Việt Nam trong quá khứ. Đó cũng chính là nét
độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam, cần được giữ vững và phát huy hơn
nữa trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của khoa học - kỹ thuật, toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Càng tự hào và trân trọng di sản của
quá khứ, chúng ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồn sức mạnh của bao
thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo,
thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay.
IV. BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
1. Vị trí địa lý biển, đảo Việt Nam
Các
vùng biển và hải đảo nước ta nằm trong Biển Đông có nhiều khu vực khác
nhau, nhưng nổi bật và có đặc điểm cần chú ý hơn là Vịnh Bắc Bộ, Vịnh
Thái Lan, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một số đảo, quần đảo khác.
a. Vịnh Bắc Bộ
Vịnh Bắc bộ nằm ở Tây Bắc Biển Đông, trải rộng từ kinh tuyến 105036' Bắc đến 17010' Bắc. Vịnh Bắc Bộ có diện tích 125.000km2, chu vi khoảng 1.950km, chiều dài Bắc Nam khoảng 496km, chiều rộng lớn nhất Đông Tây khoảng 414km.
Vịnh
Bắc Bộ được bao bọc bởi bờ biển và hải đảo miền bắc Việt Nam ở phía
Tây, lục địa Trung Quốc ở phía Bắc, bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam ở
phía Đông. Bờ vịnh khúc khuỷu và ven bờ có nhiều đảo. Phần vịnh phía
Việt Nam có khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có đảo Bạch Long Vĩ
với diện tích khoảng 2,5km2, cách đất liền của Việt Nam khoảng 110km, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 130km.
Vịnh
Bắc bộ có 2 cửa thông với bên ngoài: cửa phía Nam ra trung tâm Biển
Đông, nơi hẹp nhất rộng khoảng 204km, cửa phía Đông qua eo biển Quỳnh
Châu (nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam) ra phía Bắc Biển Đông,
nơi hẹp nhất khoảng 18km.
Vịnh
Bắc Bộ tương đối nông, độ sâu trung bình khoảng 40-50m, sâu nhất cũng
chỉ trên dưới 100m. Đáy biển tương đối bằng phẳng, độ dốc nhỏ. Thềm lục
địa của Việt Nam ở vùng Vịnh Bắc Bộ khá rộng, độ dốc thoải và có một
lòng máng sâu trên 70m gắn đảo Hải Nam của Trung Quốc.
b. Vịnh Thái Lan
Vịnh Thái Lan nằm ở phía Tây Nam của Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia.
Vịnh Thái Lan có diện tích 293.000 km2, chu vi khoảng 2.300km, chiều dài vịnh khoảng 628km. Vịnh Thái Lan là một vịnh nông, nơi sâu nhất chỉ 80m.
Các đảo lớn trong vịnh có Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, đảo PoulWai, đảo Kocút, đảo Kotao, đảo Kophangan và đảo Kosamni.
c. Các đảo và quần đảo
Hệ
thống đảo của nước ta đều có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Trên các đảo tiền tiêu có thể lập những căn cứ kiểm
soát vùng biển và vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền,
bảo đảm an ninh, quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ của đất nước. Đó là các đảo, quần đảo như Hoàng Sa,
Trường Sa, Chàng Tây, Bạch Long Vĩ, Hòn Mát, Hòn Mê, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú
Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu… Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên
thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, và các đảo ven bờ gần đất
liền, có điều kiện phát triển nghề cá và cũng là căn cứ để bảo vệ trật
tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta.
2. Tầm quan trọng có tính chiến lược của Biển Đông
Biển
Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình
Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á. Năm trong
số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan
đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy
ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á đi qua
kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi Úc và Niu
Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á.
Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế
giới. Theo số liệu mới nhất, mỗi ngày có nhiều tàu các loại qua lại Biển
Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn
10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. Trong khu vực Đông Nam Á
có khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại
nhất thế giới là cảng Singapore và Hồng Công. Thương mại và công nghiệp
hàng hải ngày càng gia tăng ở khu vực.
Nhiều
nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường
biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc.
Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên
thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và
Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng
đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông.
Lượng
dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15
lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực Biển Đông có những eo
biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược
của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (Malacca, Lombok, Sunda, Ombai
- Wetar). Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên
thế giới (sau eo biển Hormuz).
Nạn
cướp biển và khủng bố trên Biển Đông ở mức cao, đặc biệt sau vụ tấn
công khủng bố tự sát vào tàu chở dầu của Pháp tháng 10 năm 2002. Do đó,
vùng biển này hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực
về địa - chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế, nhất là
đối với Mỹ và Nhật Bản. Biển Đông còn có liên hệ và ảnh hưởng đến khu
vực khác, nhất là Trung Đông. Vì vậy, việc Biển Đông bị một nước hoặc
một nhóm nước liên minh nào khống chế sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi
ích an ninh, chính trị, kinh tế của các nước khu vực.
Hàng
năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng
hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông. Trung
Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất
nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển
qua Biển Đông.
3. Vai trí chiến lược của Biển Đông trong phát triển kinh tế-xã hội
Biển
Đông là tuyến hàng hải quan trọng thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái
Bình Dương. Hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều
có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh mẽ trên Biển Đông. Biển
Đông được coi là con đường huyết mạch chiến lược để giao thông thương
mại và vận chuyển quân sự quốc tế. Trong 10 tuyến đường biển quốc tế lớn
nhất thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan
đến Biển Đông. Trong lịch sử, Biển Đông nhiều lần là trọng điểm của
những cuộc tranh chấp quốc tế gay go, quyết liệt. Ngay từ thế kỷ XIV-XV,
Tây Ban Nha đã tới đây tranh giành những vùng đất màu mỡ ở Philippin,
Indonesia. Đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII là đế quốc Hà Lan; thế
kỷ XIX, XX là Pháp, Nhật, Mỹ lần lượt bành trướng, xâm chiếm hoặc gây
chiến tranh chống một số nước quanh khu vực Biển Đông. Do quá trình lịch
sử tồn tại hơn một trăm năm nay, cùng với sự phát triển của luật pháp
quốc tế về biển và đặc điểm địa lý của Biển Đông, nên giữa các nước
trong khu vực còn tồn tại một số vấn đề tranh chấp hoặc chưa thống nhất
cần được giải quyết trên các vùng biển và thềm lục địa. Đặc biệt, từ nửa
cuối thế kỷ XX đến nay, cuộc chạy đua tìm kiếm, khai thác dầu lửa và
các nguồn nguyên liệu chiến lược ở Biển Đông càng làm cho vấn đề tranh
chấp chủ quyền ở đây thêm gay gắt và phức tạp.
Biển
Đông là một biển lớn của Thái Bình Dương, một trong 6 biển lớn nhất của
thế giới, có vị trí quan trọng của cả khu vực và thế giới. Biển Đông
được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ (Việt Nam, Trung Quốc,
Malaysia, Indonesia, Philippin, Brunei, Thái Lan, Campuchia, Singapore và Đài Loan).
Theo quy định của Công ước về Luật biển 1982, Việt Nam không chỉ có phần lục địa mà còn có cả vùng biển rộng trên 1 triệu km2,
chiếm khoảng 30% diện tích Biển Đông, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền.
Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của
Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển của
dân tộc ta.
Vị
trí địa lý và hình dáng vùng biển nước ta có ảnh hưởng sâu sắc tới sự
hình thành các đặc điểm tự nhiên, từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn
phương thức khai thác tài nguyên. Nét độc đáo của vị trí địa lý vùng
biển nước ta: đây là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên,
văn hoá lớn trên thế giới. Thời kỳ chiến tranh “lạnh” và chiến tranh
“nóng”, đây là nơi tập trung các mâu thuẫn của thời đại. Trong tình hình
hiện nay, đây là nơi có sự phát triển hòa bình, hội nhập và ổn định ở
khu vực, hội tụ nhiều cơ hội của phát triển, tạo ra những thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.. Tuy nhiên, khu vực này vẫn
còn tồn tại tranh chấp về chủ quyền biển, đảo, là nhân tố tạo ra nguy cơ
gây mất ổn định, khó lường, luôn đặt ra những khó khăn thách thức cho
đất nước ta.
Biển
Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt
và các nguyên liệu chiến lược khác, đảm bảo cho an ninh năng lượng quốc
gia, cho đất nước tự chủ hơn trong phát triển kinh tế trong bối cảnh
hiện nay. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta tiếp giáp giữa Đông Nam Á
lục địa và Đông Nam Á hải đảo, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên,
một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát
triển năng động. Đây cũng là nơi rất hấp dẫn các thế lực đế quốc, bành
trướng nhiều tham vọng chiếm đoạt và cũng rất nhạy cảm trước các biến
chuyển trong đời sống chính trị thế giới.
Thềm
lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển
vọng khai thác nguồn khoáng sản này. Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt
Nam khá lớn. Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trở thành một
trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn
và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển; đồng thời cũng là một
trong những ngành xuất khẩu và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước.
Ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển
của một số ngành khác như công nghiệp hoá dầu, giao thông vận tải,
thương mại trong nước và khu vực. Năm 2004, ngành Dầu khí đã đóng góp
30% ngân sách quốc gia, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sản
phẩm cho xã hội, tăng đáng kể tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước.
Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển so với GDP cả nước năm 2003 là
39,67%, năm 2004 là 39,81%, năm 2005 là 39,16%; Chiến lược biển Việt Nam
đến năm 2020 xác định: phấn đấu đến năm 2020 kinh tế biển và ven biển
đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP cả nước. Ngoài dầu khí, biển Việt Nam
còn có nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh có trữ lượng khai thác công
nghiệp và làm vật liệu xây dựng... tiềm năng về khí - điện - đạm và năng
lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy
triều, sóng và cả thủy nhiệt.
Biển
Việt Nam nằm ở vị trí có nhiều tuyến đường biển quan trọng của khu vực
cũng như của thế giới, giữ một vai trò rất lớn trong vận chuyển lưu
thông hàng hóa thương mại phục vụ đắc lực cho xây dựng nền kinh tế của
nước ta cũng như các nước quanh bờ Biển Đông. Biển Việt Nam nối thông
với nhiều hướng, từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển
Malacca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo
biển Ba-si có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga,
Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippin, Indonesia, Singapore
đến Ôxtrâylia và Niu Di Lân... Đây là điều kiện rất thuận lợi để ngành
giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế,
văn hoá giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
Hệ
thống cảng của nước ta gồm cảng biển và cảng sông với khoảng trên 90
cảng lớn nhỏ; những cảng lớn chủ yếu nằm ở ranh giới châu thổ thủy triều
và châu thổ bồi tụ, nên tàu ra vào cảng phải đi theo luồng lạch và phụ
thuộc vào mức nước thủy triều. Ven biển miền Trung có nhiều vụng, vịnh
nước rất sâu, có điều kiện thuận lợi để phát triển cảng biển, trong đó
có các cảng trung chuyển côngtenơ tầm cỡ quốc tế; đồng thời cũng rất
thuận lợi để xây dựng các cơ sở đóng tàu quy mô lớn, cũng như xây dựng
đội thương thuyền đủ mạnh để buôn bán trên thế giới. Sự hình thành mạng
lưới cảng biển cùng với các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển vươn tới
các vùng sâu trong nội địa, đến các tuyến đường xuyên Á cho phép vùng
biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa xuất khẩu và
nhập khẩu qua mọi miền của Tổ quốc và ra nước ngoài, đến Trung Quốc,
Lào, Thái Lan và Campuchia, góp phần thúc đẩy cực tăng trưởng mới về
kinh tế trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do giữa các nước ASEAN và
Trung Quốc.
Dọc
theo bờ biển, trung bình khoảng 20 km lại có một cửa sông. Phần lớn các
sông ngòi đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển. Đáng
chú ý là các hệ thống sông vùng duyên hải Quảng Ninh, hệ thống sông
Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Đông Trường Sơn, sông Đồng Nai - Vàm Cỏ và
hệ thống sông Cửu Long... Các hệ thống sông này có nhiều cửa thông ra
biển thuận tiện cho giao thông đường thủy từ đất liền ra biển và ngược
lại. Các cửa sông với lượng lớn, phong phú về phù du đổ ra biển đã tạo
thuận lợi cho việc phát triển nguồn lợi thủy sản.
Biển
nước ta chủ yếu là vùng biển nhiệt đới mang tính chất địa phương, có
tính chất riêng về nhiều mặt như khí tượng - hải văn, chế độ thủy
triều... Hiện tượng nổi bật là sự xuất hiện vùng nước trồi - một vùng
sinh thái đặc biệt phong phú, đa dạng và là nơi tập trung nhiều loài
sinh vật biển. Nguồn lợi hải sản của biển nước ta được đánh giá vào loại
phong phú trong khu vực. Diện tích tiềm năng nuôi trồng thủy sản của
nước ta khoảng 2 triệu héc-ta, bao gồm 3 loại hình mặt nước đó là nước
ngọt, nước lợ và vùng nước mặn ven bờ, có thể nuôi trồng các loại đặc
sản như tôm, cua, rong câu, nuôi cá lồng... Ngoài ra, vùng biển nước ta
còn có các loại động vật quý khác như đồi mồi, rắn biển, chim biển, thú
biển. Hải sản ở vùng biển nước ta là nguồn lợi hết sức quan trọng, không
chỉ cung cấp thực phẩm, nguồn dinh dưỡng hàng ngày cho nhân dân (chiếm
50% lượng đạm động vật trong thành phần dinh dưỡng), mà còn tạo nguồn
xuất khẩu lớn.
Tiềm
năng nguồn lợi hải sản của nước ta rất lớn nhưng khả năng khai thác còn
hạn chế, chỉ mới tập trung khai thác ở ven bờ gây nên sự mất cân đối
làm cho nguồn hải sản ven bờ nhanh chóng bị cạn kiệt. Để khai thác được
nguồn lợi hải sản xa bờ có hiệu quả, từ năm 1997, Nhà nước ta đã có chủ
trương và cung cấp vốn ưu đãi cho việc đóng tàu, mua sắm trang bị đánh
bắt xa bờ, đồng thời cũng ban hành một số cơ chế chính sách ưu đãi nhằm
đẩy mạnh chương trình khai thác hải sản ở các vùng biển xa bờ.
Ngoài
ra, nước ta còn có rất nhiều lợi thế về du lịch biển. Với nhiều trung
tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên tuyến
du lịch quốc tế Đông Nam Á như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải
Phòng, Quảng Ninh... có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành những
tụ điểm về du lịch biển. Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và tài
nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch.
Phần lục địa với các hình đồi, núi, đồng bằng đa dạng làm tôn lên vẻ đẹp
của hàng chục bãi tắm tốt, cùng với mặt nước, đáy biển và hải đảo tạo
nên nhiều danh lam thắng cảnh, hang động kỳ thú, sơn thủy hữu tình. Khí
hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho việc tổ chức du lịch biển quanh năm,
đặc biệt là ở các tỉnh ven biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào. Các
thảm thực vật phong phú, các nguồn nước khoáng, các loại động vật quý
hiếm, tạo sức hấp dẫn thu hút khách du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, thể
thao, chữa bệnh... Trong các năm 1993 - 1997, khách du lịch nội địa tăng
từ 2,5 triệu lên 8,5 triệu lượt; từ sau năm 2002 đến nay, mỗi năm thu
hút trên 10 triệu lượt khách nội địa và khoảng 4 triệu lượt khách quốc
tế đến Việt Nam, trong đó có 50 - 60% khách du lịch biển.
Biển
Việt Nam còn là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước. Hiện
nay có trên 31% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển.
Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa,
nhất là các thành phố, thị xã ở Trung Bộ nằm sát ven biển, có đường quốc
lộ 1A chạy qua. Khu vực ven biển cũng là nơi tập trung các trung tâm
công nghiệp lớn, có nhiều sân bay, cảng biển quan trọng, các căn cứ hải
quân, kho tàng, các công trình kinh tế - quốc phòng khác. Các tỉnh,
thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc
chế biến hải sản, làm muối... thu hút hơn 13 triệu lao động, giải quyết
công ăn việc làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế,
chính trị, xã hội và an ninh - quốc phòng.
4. Biển, đảo Việt Nam đối với quốc phòng, an ninh
Biển,
đảo nước ta là một không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với
quốc phòng - an ninh của đất nước. Với một vùng biển rộng lớn, bờ biển
dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra
biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50km (tỉnh Quảng
Bình), nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược. Mạng
lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền của đất nước, chia cắt đất
liền thành nhiều khúc, cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc -
Nam. Ở nhiều nơi, núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình
hiểm trở, những vịnh kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận
tiện cho việc trú đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển. Đồng
chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam đã nói: “các
đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là những vị trí tiền tiêu của
vòng cung lá chắn phía Đông của Tổ quốc”. Hệ thống quần đảo và đảo trên
vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây
dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình
thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược
hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát
và làm chủ vùng biển của nước ta. Đồng thời, đây cũng là những lợi thế
để bố trí các lực lượng, vũ khí trang bị kỹ thuật của các lực lượng hoạt
động trên biển, ven biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trên
bờ, tạo thành thế liên hoàn biển - đảo - bờ trong thế trận phòng thủ khu
vực.
Vùng
biển nước ta nằm trên tuyến giao thông đường biển, đường không thuận
lợi, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Sử dụng đường biển sẽ có
nhiều thuận lợi trong việc cơ động chuyển quân và tiếp tế hậu cần, sử
dụng vũ khí công nghệ cao từ xa, tận dụng được yếu tố bất ngờ. Ngoài
tiềm năng về dầu khí, phát triển cảng biển và vận tải biển, tài nguyên
du lịch, thủy sản, khoáng sản và nguồn lực lao động, biển còn là chiến
trường rộng lớn để ta triển khai thế trận quốc phòng toàn dân - thế trận
an ninh nhân dân trên biển để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự
an ninh từ xa đến gần, trong đó có các khu vực biển trọng điểm như Vịnh
Bắc Bộ; vùng biển quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa; khu dịch vụ
kinh tế và kỹ thuật dầu khí DK1, DK2; vùng biển Tây Nam.
5. Chiến lược biển của Việt Nam đến năm 2020
Chỉ
thị số 20-CT/TƯ của Bộ Chính trị ngày 22/9/1997 đã khẳng định cần đẩy
mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa,
đồng thời tiếp tục nhấn mạnh chủ trương lớn về xây dựng Việt Nam trở
thành một nước mạnh về biển; phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, hải
đảo, ven biển, phải gắn kết với yêu cầu bảo vệ đất nước, cần đặt kinh tế
biển trong tổng thể kinh tế cả nước, trong quan hệ tương tác với các
vùng và trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Để
tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần
thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết
số 09-NQ/TƯ ngày 09/02/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”,
trong đó nhấn mạnh rằng thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại
dương. Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo về định hướng chiến
lược biển Việt Nam đến năm 2020 bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
Một là,
Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ
sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề
biển với cơ cấu đa dạng, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền
vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn;
Hai là,
phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc
phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa
phát triển vùng biển, ven biển, các hải đảo với phát triển vùng nội địa
theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá;
Ba là,
tập trung khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo
vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy
đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc
tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng
có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
đất nước;
Để
thực hiện mục tiêu tổng quát đến năm 2020 (phấn đấu trở thành một quốc
gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền
chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng vào sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh), Đảng và Nhà
nước ta đã đề ra những mục tiêu cụ thể, như xây dựng và phát triển toàn
diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng
cố quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven
biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước; giải quyết tốt các
vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và
ven biển; xây dựng các thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực và các khu
kinh tế mạnh ở ven biển, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về
biển.
Để
triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TƯ ngày 09/02/2007 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 về Chương trình hành động của Chính phủ;
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg ngày
21/8/2007 về phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng,
chống thiên tai trên biển; Quyết định số 1041/QĐ-TTg ngày 22/7/2009 về
phê duyệt Đề án đảm bảo mạng lưới thông tin biển, đảo; Quyết định số
373/QĐ-TTg ngày 23/3/2010 về phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác tuyên
truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt
Nam. Các cơ quan ở Trung ương và địa phương đã chủ động xây dựng kế
hoạch, trực tiếp triển khai chương trình hành động cùng với sự nỗ lực
của các cấp, các ngành, toàn dân và đã đạt được những kết quả quan
trọng: kinh tế biển, ven biển được quan tâm đầu tư, phát triển theo
hướng khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên biển kết hợp phát triển lâm
nghiệp; đẩy mạnh công nghiệp chế biến, xuất khẩu thuỷ sản, phát triển
nuôi trồng gắn liền với nâng cao hiệu quả khai thác, đánh bắt; tăng
nhanh các ngành dịch vụ du lịch; kết hợp phát triển kinh tế biển bền
vững với đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng biển; xây dựng cơ sở hạ tầng,
tạo thế đứng chân ổn định, vững chắc, sẵn sàng đối phó với các tình
huống phức tạp xảy ra trên biển; xây dựng hệ thống nhà ở, tường, kè
chống xói lở trên các đảo thuộc quần đảo; quy hoạch, triển khai xây dựng
cụm công nghiệp ven biển; đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về biển và
công tác cải cách hành chính phục vụ phát triển kinh tế
cảng và
du lịch;
thiết lập các dự án, công trình nâng cao chất lượng môi trường ven
biển, cải thiện môi trường ven biển phục vụ phát triển kinh tế-xã hội
mang tính bền vững.
Các
bộ, ngành đã tăng cường phối hợp về công tác tập huấn, tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, đơn vị vũ trang thực
thi nhiệm vụ trên khu vực biển, hải đảo về quản lý, bảo vệ và phát
triển bền vững biển, hải đảo; phổ biến, cập nhật những văn bản chuyên
ngành trong nước về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên và
môi trường biển, hải đảo; tìm hiểu, phân tích và phổ biến về những khác
biệt của hệ thống pháp luật chuyên ngành liên quan đến hoạt động trên
biển của Việt Nam so với pháp luật một số nước trong khu vực; nâng cao
nhận thức cộng đồng về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ
môi trường vùng ven biển, hải đảo; tăng cường tuyên truyền, phổ biến
kiến thức phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai,
sự cố môi trường biển (nhất là đối với công chức tư pháp cấp xã,
phường, thị trấn vùng ven biển, hải đảo); nâng cao nhận thức về vị thế
quốc gia biển và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong quản lý, bảo vệ và
phát triển bền vững biển, hải đảo.
Đại tá Lê Ngọc Cường, Tiến sĩ: Lê Văn Bính
________________________________
[1] Nguồn: Nguyễn Hồng Thao. Những điều cần biết về luật biển, NXB CAND, 1997, tr.9.
[2] Nguồn: Nguyễn Hồng Thao. Những điều cần biết về luật biển, NXB CAND, 1997, tr.9.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét