Chắc có lẽ chúng ta đã khá quen thuộc với Chu kỳ sóng
lớn Kondratieff (50-60 năm) nhưng liệu một chu kỳ kéo dài như vậy có
giúp các nhà đầu tư áp dụng vào thị trường chứng khoán thực tế? Bài viết
này sẽ cho chúng ta cách tiếp cận mới của chu kỳ và việc vận dụng lý
thuyết chu kỳ vào thực tế như thế nào.

Joseph Schumpeter là một nhà kinh tế học xuất thân Harvard và là chủ
tịch của The Econometric Society (1940-1941) - là một tố chức quốc tế
chuyên nghiên cứu các học thuyết kinh tế bằng phương pháp thống kê và
toán học. Ông là tác giả của 2 bộ sách về Chu Kỳ Kinh Doanh (McGraw-Hill
1939). Nghiên cứu chu kỳ của Schumpeter là quan tâm đặc biệt bởi vì ông
là một trong những người đầu tiên đã cố gắng tích hợp nhận thức của xã
hội học vào xu hướng kinh tế. Ông cũng cho thấy một cái nhìn mới, một
cách tiếp cận mới về chu kỳ Kondratieff như một chu kỳ lớn của kinh tế
với nhiều chu kỳ nhỏ. Trong chu kỳ kinh doanh, ông đã giới thiệu một mô
hình lý thuyết về cách tất cả các chu kỳ khác nhau phù hợp với nhau như
thế nào.
Mô hình của Schumpeter sẽ cho chúng ta thấy các chu kỳ kinh tế đã “làm
việc” cùng nhau như thế nào để tạo ra một sóng lớn trong kinh tế. Trong
mô hình này, Schumpeter cho chúng ta thấy mối quan hệ giữa chu ky
Kitchin (chu kỳ thường kéo dài 3-5 năm) và chu ky Juglar (kéo dài 7-11
năm). Schumpeter cũng đã từng viết về các chu kỳ Kuznets (15-25 năm),
nhưng không đặt chúng không được nhắc đến trong mô hình dưới đây. Mô
hình sẽ mô tả cho chúng ta thấy sự tồn tại của chu kỳ Kitchin và chu kỳ
Juglar trong một chu kỳ sóng dài 56 năm. Lưu ý rằng mô hình Schumpeter
đã trình bày chu kỳ 18 năm trong sóng dài đó.
Do sự hạn chế của toán học tuyến tính nên Schumpeter đã dùng hệ thống
động lực học (Dynamic Systems) phi tuyến tính để chứng minh cho cách
tiếp cận của mình. Đây là chính xác là một hệ thống tiếp cận bằng phương
pháp động lực học để phân tích chu kỳ kinh doanh, các mùa trong chu kỳ
Kondratieff, và chu kỳ nhỏ hơn thường được các nhà đầu tư sử dụng.
Về sau các nhà phân tíchthị trường PQ Wall(một nhà triết học kinh tế)
đã trình bày một mô hình sóng khác từ Schumpeter, mà cơ bản vẫn là sử
dụng hệ thống động lực học để tiếp cận chu kỳ thị trường. Wall đã không
mô tả cách tiếp cận của mình trên thị trường chứng khoán và chu kỳ xã
hội xét về mặt sử dụng hệ thống động lực học, nhưng đã mô tả một cách
tiếp cận bộ ba và bốn chu kỳ phân chia, đó là một cách tiếp cận thực sự
mới để phân tích chu kỳ.
Wall cho rằng sóng dài bao gồm bốn mùa phát triển, giống như các mùa tự
nhiên của năm; mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông. Hướng tiếp cận
chu kỳ sóng này sau được đưa ra bởi Oswald Spengler (nhà xã hội học
Đức). Wall chia mỗi chu kỳ thành 4 mùa và mỗi mùa dài 4 năm, 16 năm cho
một chu kỳ. Biểu đồ dưới đây thể hiện cách tiếp cận của Wall về chu kỳ
kinh doanh trong một sóng dài. Điều quan trọng ở đây là ông chỉ sử dùng
16 năm cho suốt chiều dài một chu kỳ chứ không phải 18 năm thông thường.

Dưới đây là một mô hình thể hiện sự điều chỉnh lạm phát trong giai đoạn
1949 – 2012 tương ứng với trung bình 20-năm cho mỗi chu kỳ trong chỉ số
S & P 500. Mô hình này đã bị chính sách tài chính và chính sách
tiền tệ giáng một đòn nặng nề, vì mục đích quá rõ ràng của chính phủ
nhằm loại trừ chu kỳ ra khỏi nền kinh tế, một mục tiêu mà họ luôn luôn
tìm cách để can thiệp vào thị trường, cho dù những chính sách “hào
phóng” của họ có kích thích được nên kinh tế hay không. PQ Wall cho rằng
"Chính trị phá hủy thế giới tiền". Các cuộc bạo loạn bùng nổ khắp thế
giới và theo đó thị trường giảm mạnh đã chứng minh cho điều này.
Lợi thể của phương pháp phân tíchchu kỳ theo bốn mùa sẽ được chứng minh
rõ ràng qua mô hìnhnày. Theo mô hình này thị trường chứng khoán toàn
cầu năm 2010 đang ở giữa của một mùa đông nhưng lại theo xu hướng tăng
thì kết quả chắc chắn sẽ suy yếu dần. Mùa xuân và mùa thu là mùa của
hiệu quả của công ty, do đó lợi nhuận doanh nghiệp và thị trường chứng
khoán cũng tăng theo. Mùa hè và mùa đông là mùa của sự kém hiệu quả của
công ty, sản xuất quá nhiều và nợ quá mức là một thụt lùi về lợi nhuận
của nền kinh tế toàn cầu. Vay thêm nợ đó có phải là giải pháp? Câu trả
lời chắc chắn là “Không!” Đó là mùa đông, nhưng chúng ta cũng nên nhớ
rằng mùa xuân đang đến. Lạc quan là yếu tố cần thiết để vượt qua giai
đoạn khó khăn này.

Để hiểu rõ về động lực học trong chu kỳ kinh tế và làm sao để đầu tư
một cách phù hợp với cơn sóng dài này? Điều kiện cần là chúng ta phải có
cái nhìn cận cảnh hơn bức tranh chu kỳ này. Hầu hết cácnhà phân tích
đều chorằngcác chu kỳ thường không biểu hiện chính xác về độ dài,mà chỉ
cho thấy sựdao động trong một phạm vi. Nhiều nhà phân tích chu kỳ thị
trường lâu năm cũng thất vọng vì điều này, đặc biệt là đối với các chu
kỳ nhỏ và diễn ra thường xuyên rất ý nghĩa với nhà đầu tư. Schumpeter sẽ
cung cấp cho chúng ta thêm cái nhìn về việc nghiên cứu độ dài của các
chu kỳ kinh doanh.
Điều quan trọng cần lưu ý là Kitchin, Mitchell và cả Spengler đã phân
tích chu kỳ dựa trên dữ liệu từ cuối những năm 1800 và đầu những năm
1900, hầu hết các chu kỳ mà họ nghiên cứu xảy ra trước khi Cục dự trữ
Liên bang Mỹ FED được thành lập. Đây cũng là khoảng thời gian trước khi
“Chủ nghĩa can thiệp” của chính phủ và ngân hàng trung ương bắt đầu một
hệ thống nhằm ngăn chặn tính chu kỳ của kinh tế, và đổ lỗi cho tính chất
sôi nổi của thị trường. Nghiên cứu của Jay Forrester trong các chương
trình hệ thống Dynamics tại MIT cho thấy sự can thiệp như vậy làm cho
chu kỳ kinh doanh và sóng dài chạy lâu hơn, chỉ có thể trì hoãn lại ngày
“phán xét”.
Cách tiếp cận chu kỳ bằng phương pháp Động lực học cho biết chiều dài
tự nhiên của khoảng thời gian thăng trầm của nền kinh tế trong các chu
kỳ, và chu kỳ dao động xung quanh độ dài đó. Rõ ràng là chu kỳ kinh tế
đã chạy chậm hơn kể từ khi ngân hàng trung ương và các chính phủ đã bắt
đầu các giải pháp can thiệp vào nền kinh tế. Điều này thật sự quan trọng
trong khi phân tích về chu kỳ. Bời vì bắt đầu vào năm 1949 chiều dài
của một chu kỳ Kitchin đã gần như chính xác là 48 tháng dài hơn tính
toán ban đầu.
Chu kỳ 48 tháng rõ ràng là do sự can thiệp của chính phủ khi nền kinh
tế rơi vào giai đoạn “trầm cảm”.Mục tiêu của họ là loại bỏ giai đoạn đó
ra khỏi nền kinh tế, đặc biệt là trong năm bầu cử. Điển hình là vào năm
2008, chính phủ dường như đã mất quyền kiểm soát chu kỳ kinh tế, và nhà
kinh tế học người Nga Kondratieff là người đi đầu của chủ nghĩa tư bản
thị trường tự do quốc tế. Bao trùm chu kỳ kinh tế lúc đó là sự tăng vọt
của bong bóng bất động sản Mỹ, dẫn đến sự đổ vỡ của thị trường tài
chính,Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones lúc đóng cửa ngày 9 tháng 3
năm 2009 là 6.547,05, mức thấp nhất kể từ tháng 4 năm 1997. Chỉ trong
vòng 6 tuần lễ, chỉ số này sụt tới 20%. Quên đi những sự sôi nổi của thị
trường; chu kỳ Kondratieff đang rời vào vòng xoay của một khủng hoảng
thừa, cuộc khủng hoảng nợ toàn cầu đang đe dọa một cuộc chiến tranh
thương mại toàn cầu. Một khi chúng ta chấp nhận sự hạn chế của chính phủ
thì nền kinh tế sẽ trở lại với chu kỳ vốn dĩ của nó, ngắn hơn so với
hiện tại.
Vào những năm 1990, chu ky kinh tế và chu kỳ thị trường chứng khoán lại
có nhiều điểm tương đồng. Điều này đã được chứng minh bằng dãy số
Fibonacci theo suốt chiều dài của chu kỳ trong thời điểm đó. Dựa vào
việc phân tích thị trường Mỹ trong vòng 5 năm (1878 – 1923) cho chúng ta
kết quả chiều dài trung bình của một chu kỳ là 42.05 tháng với độ lệch
chuẩn là 12.37 tháng và có một số tài liệu khác cho là một chu kỳ chính
xác dài 42 tháng. Dưới đây là sự so sánh sự chênh lệch giữa các tỷ lệ
trong dãy Fibonacci với dữ liệu thực tế của thị trường chứng khoán.
Một chu kỳ Kitchin dài 42 thángxuất hiện nhiều điểm tiếp cận vùng giá
mục tiêu 1 cách thường xuyên trong cùng một tuần với ngày mục tiêu theo
tỷ lệ Fibonacci liên quan đến các mục tiêu lý tưởng, hoặc trùng hoặc gần
vớimục tiêu cấp 2 sau đó. Dưới đây là dự báo chu kỳ Kitchin cho thấy
điểm tiếp cận trực tiếp trên mức thứ năm 14,589% là tỷ lệ mục tiêu
Fibonacci trong chu kỳ Kitchin kéo dài từ đáy vào ngày 08/10/1998 đến
đáy vào ngày 10/10/2002. Nếu bạn trừ đi hai ngày thì nó sẽ cho chúng ta
một ngày chính xác.Những điểm đáy của chu kỳ rất quan trọng vì nó là sự
kết thúc chu kỳ cũ và bắt đầu chu kỳ Kitchin mới. Các chu kỳ thị trường
chứng khoán không hoàn toàn giống với chu kỳ kinh tế.
Vì vậy các nhà đầu tư sử dụng chu kỳKitchin cần phải liên tục theo dõi
thị trường.Chu kỳ Kitchin xoay vòng16 lần trong mỗi sóng dài. Điều thú
vị nhất đối với nhà đầu tư là mỗi chu kỳ Kitchin chia thành chín chu kỳ
Wall. Các nhà đầu tư và doanh nghiệp sẽ nhận ra chu kỳ 20 tuần này.
Bằng cách sử dụng chu kỳ "lý tưởng" 42 tháng,chu kỳWall thường kéo
dài141,9ngày. Như chu kỳ Kitchin, chu kỳ Wall có xu hướng dao động trong
tỷ lệ Fibonacci. Bởi vì nhứng chính sách tiền tệ và tài khóa đã kéo dài
chu kỳ Kitchin, và điều tương tự cũng xảy ra với chu kỳ Wall. Chúng
thường chạy trong phần mở rộng của dãy Fibonacci. Dưới đây là dự báo chu
kỳ cho chu kỳ Wall bắt đầu vào ngày 08 tháng 7 năm 2009 và kết thúc vào
ngày 05 tháng hai năm 2010. Không phải tất cả các chu kỳ Wall đều phù
hợp với Fibonacci để dự báo điểm đáy của chu kỳ nhưng hầu hết đều cho
chúng ta một kết quả rất gần.
Kết hợp theo dõi chu kỳ trong thời gian với mức tỷ lệ dãy Fibonacci của
chu kỳ thị trường chứng khoán tự nhiên với mức giá trong chỉ báo
Fibonacci là bản chất của nghiên cứu chu kỳ. Các nhà đầu tư có thể theo
dõi chu kỳ thị trường chứng khoán với các phương pháp, nhằm xác định
thời điểm nhảy vào, thoát khỏi thị trường và chiến lược dừng lỗ để giảm
thiểu rủi ro.
Nền kinh tế toàn cầu hiện nay đang trong quá trình đi xuống trong chu
kỳ kinh doanh cuối cùng và phục hồi thị trường chứng khoán trong làn
sóng dài bắt đầu từ năm 1949. Mùa đông là mùa sản xuất thừa và nợ nần do
đòn bẩy tài chính. Trong những năm cuối cùng của nó, và nó sẽ tàn phá
các nhà đầu tư đã không trang bị đủ kiến thức để vượt qua cơn sóng này.
Hãy luôn tỉnh táo và hãy luôn là một nhà đầu tư thông minh!
Aries Lee
Posted in: Tài chính tiền tệ
Gửi email bài đăng này
BlogThis!
Chia sẻ lên Facebook
0 nhận xét:
Đăng nhận xét