[Miracles happen to those who believe in them. Otherwise why does not the Virgin Mary appear to Lamaists, Mohammedans, or Hindus who have never heard of her?]
Ethan Allen (1738-1789), Nhà cách mạng Mỹ:
“Trong những nơi ở thế giới mà sự hiểu biết và khoa học đã thắng thế, thì không còn phép lạ nữa; nhưng ở những nơi còn man rợ và ngu dốt, phép lạ vẫn còn thịnh hành.”
(In those parts of the world where learning and science have prevailed, miracles have ceased; but in those parts of it as are barbarous and ignorant, miracles are still vogue.)
Tuy vậy, đối với đầu óc của các tín đồ Công giáo Việt Nam thì họ có thể tin bất cứ điều gì mà giáo hội bảo họ phải tin, không hề thắc mắc, vì thắc mắc là mang tội với Chúa, không hề biết rằng Chúa chỉ là một người thường mà nền thần học Ki Tô Giáo đôn lên làm Chúa. Thật vậy, trước những công cuộc khảo cứu nghiêm chỉnh về nhân vật Giê-su của giới trí thức, học giả ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo, Giám Mục John Shelby Spong đã viết sách và tuyên bố cần phải dẹp bỏ vai trò cứu thế của Giê-su [Xin đọc bài Jesus as a rescuer: an image that has to go, đã dịch ra tiếng Việt: và Linh mục James Kavanaugh cũng viết sách, nhấn mạnh là vai trò cứu rỗi cũa Giê-su chỉ là một huyền thoại
Chúng ta biết rằng, qua thời gian, Mary, mẹ của Giê-su, đã được Giáo hội Công Giáo, qua rất nhiều thủ đoạn, từ những sắc lệnh của Giáo Hoàng cho đến những văn kiện ngụy tạo v..v.., dựng lên từ một người đàn bà Do Thái bình thường thành một biểu tượng sùng tín vô tiền khoáng hậu cho các tín đồ vốn lười suy nghĩ hay không có đầu óc thuộc loại có thể suy nghĩ. Sự sùng tín Mary được đẩy mạnh qua rất nhiều thủ đoạn mánh mưu của Giáo hội Công Giáo với sự góp sức của giới chăn chiên để bảo vệ quyền lợi của Giáo hội và giới chăn chiên, và nhất là để vơ vét của cải. Một trong những thủ đoạn này là dựng lên những chuyện hiện thân của Mary, không phải là sự hiện thân của một người đàn bà Do Thái bình thường, sinh ra đứa con hoang Giê-su như nhiều học giả đã nhận định khi nghiên cứu Tân ước, mà là dưới các danh hiệu do Giáo hội đặt ra như Mẹ Thiên Chúa (Mother of God), là “Nữ Vương Hòa Bình” (Queen of Peace), “Thiên Nữ Vương” (Queen of Heaven), “Thụ Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội” (Immaculate Conception), “Còn trinh vĩnh viễn” (Perpetual Virginity), “Đồng Công Cứu chuộc” (Coredemptrix) v..v... Điều này thật là dễ hiểu. Vì Giáo hội Công Giáo đã nâng Giê-su lên từ một đứa con hoang, tầm thường, xấu tính lên làm Chúa thì tất nhiên Mẹ của Chúa cũng phải có một vai vế đặc biệt để hấp dẫn tín đồ.
Thật vậy, Russell Shorto viết trong cuốn Sự Thật Phúc Âm [Gospel Truth], trang 14, như sau:
Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền thoại... Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.
(Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth... Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)
Và Giám Mục John Shelby Spong,, cũng viết trong cuốn Hãy Cứu Cuốn Kinh Thánh Ra khỏi Phái Ki-Tô Bảo Thủ (Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 21) như sau:
Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả. [There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical.]
Giám mục John Shelby Spong cũng còn viết trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà:
Nhưng Giê-su đã được “sinh ra từ một người đàn bà”. Sự sinh ra đời của Giê-su cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết. Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này. Chẳng có ai biết cha ông ta là ai. Rất có thể ông ta là một đứa con hoang. Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi mìn chưa kiếm ra và chưa nổ .
[Spong, John Shelby, Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper, San Francisco, 1992, p. 35: But he was “born of a woman”.. His origins were equally as scandalous as his means of death. He was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come. No one seemed to know his father. He might well have been illegitimate. Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition.]
Hành động hiến dâng thế giới hay đất nước cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của bà Mary là một hành động vừa ngu xuẩn, vừa trịch thượng và lố bịch nhất của Giáo hội Công Giáo hoàn vũ, ngu xuẩn từ Giáo hội mẹ xuống đến các giáo hội con như giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Tại sao? Tôi sẽ phân tích vấn đề như sau, ai không đồng ý xin mời lên tiếng.
Trước hết, Malachi Martin, giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại La mã dưới triều đại giáo hoàng John XXIII (Professor at the Pontifical Biblical Institute of Rome, served in the Vatican under Pope John XXIII), đã viết trong cuốn “Sự Suy Thoái Và Sụp Đổ của Giáo Hội La Mã” (The Decline and Fall of the Roman Church) như sau, trang 230:
Giáo Hoàng John XXIII nói trong buổi khai mạc Công Đồng Vatican II ngày 11 tháng 10, 1962, rằng “những giáo lý và quan niệm sai lầm vẫn còn tồn tại nhiều, nhưng ngày nay con người đã tự ý loại bỏ chúng… Nhưng nếu Roncalli (John XXIII) không thấy là điều giảng dạy mới của mình dẫn tới đâu, thì hàng trăm nhà thần học và giám mục đã thấy. Trong những thập niên 1960-70, sau khi Roncalli chết, họ đã từ bỏ niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lý căn bản khác.
Chúng ta nên nhớ rằng, ngay từ năm 1981, tại Vatican, Giáo hoàng John Paul II đã công nhận thuyết “Big Bang” trước khoa học gia Stephen Hawking và nhiều khoa học gia khác trong một cuộc hội thảo khoa học về nguồn gốc vũ trụ, theo tài liệu sau đây:
Năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến. Ông ta nói với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ bùng (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God).
Như vậy là Giáo hoàng đã chính thức công nhận thuyết Big Bang, rằng vũ trụ hiện nay hình thành là do sự nổ bung của một dị điểm (singularity) vô cùng nóng, vô cùng đặc, cách đây khoảng 13.7 tỷ năm, chứ không phải là God “sáng tạo” (sic) ra cách đây khoảng 6000 năm như được viết trong cuốn Cựu ước. Nhưng không phải chỉ có vậy, còn nữa, năm 1996, Giáo hoàng John Paul II đã thú nhận trước thế giới là “thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần”. Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”. (Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”).
Nếu Giáo hoàng đã chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế sáng tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, thì Giáo hoàng đã chính thức bác bỏ thuyết “sáng tạo” của Ki Tô Giáo, phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông. Vậy thì làm gì còn có “nguyên tội” hay “tội tổ tông” mà nền thần học Ki Tô Giáo đã dựng bậy lên để mê hoặc tín đồ, nhốt tín đồ vào trong vòng sợ hãi về một tội không hề có, cho nên cần phải được Giê-su cứu rỗi? Cho nên, khi Giáo hoàng hay bất cứ chức sắc nào trong Công giáo mà ngày nay còn nói đến “trái tim Đức mẹ vô nhiễm nguyên tội” thực ra chỉ là nói láo. Nhưng điều thê thảm trên thế giới là các tín đồ lại cứ tin vào những điều nói láo. Bởi vậy mà Lady Mary Wortley Montagu (1689-1762), Văn sĩ Anh, đã nhận định: Trên khắp thế giới, các linh mục có thể nói láo, và đám tín đồ tin, (Priests can lie, and the mob believe, all over the world).
Nhưng vấn đề chính trong màn bịp phép lạ Fatima là, trong khi cả thế giới ngày nay, kể cả giáo hoàng của Công giáo, trước những khám phá bất khả phủ bác của khoa học về nguồn gốc tiến hóa của con người, đã thừa nhận chẳng làm gì có cái gọi là “tội tổ tông” hay “nguyên tội”, thì Đức Mẹ, khi hiện ra theo sự dàn dựng của Giáo hội, đã tự nhận chính mình là có “trái tim vô nhiễm nguyên tội” và đòi hỏi Giáo hoàng phải hiến dâng cả thế giới này và Nga Sô [làm như Nga sô không nằm trong thế giới, nên phải hiến dâng riêng] cho “trái tim vô nhiễm nguyên tội” của Mẹ. Như vậy có phải rõ ràng là những điều xung quanh vụ Fatima chỉ là những màn lừa bịp rất thiếu thông minh của Giáo hội Công giáo trước đây hay không?
Điều này chúng ta thấy rõ trong sự kiện sau đây. Để nuôi dưỡng sự mê tín của đám con chiên ở dưới, Giáo hoàng John Paul II, ngày 24 tháng 3, 1984, ở công trường Phê-rô, đã quỳ xuống trước hình Mary và dâng hiến cả hành tinh này cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội (sic) của Mary [Michael Jordan, Mary, p.302: On 24 March, 1984, John Paul II took advantage of the medium of television when he knelt before the figure of Our Lady of Fatima in St Peter’s Square and dedicated the entire planet to the Immaculate Heart of Mary]. Hành động lá mặt lá trái này của John Paul II đã chứng tỏ ông ta là người bất lương trí thức, tiếp tục truyền bá trong đám con chiên điều mà chính ông ta không còn tin: “nguyên tội hay tội tổ tông”. Ông ta bất kể đến liêm sỉ, rất trịch thượng, làm như còn là một giáo hoàng trong thời Trung Cổ ở Âu Châu, nắm quyền sinh sát thế gian, và hành tinh này là của riêng ông ta, muốn hiến dâng cho ai thì hiến, bất kể là trên 4 tỷ người trên trái đất này không cần biết Mary là ai, và nếu có biết thì cũng chỉ biết Mary là một người con gái Do Thái đã sinh ra một đứa con hoang là Giê-su như được viết trong Tân ước. Đây không phải là quyền tự do tín ngưỡng của ông ta vì hành động trịch thượng này xúc phạm đến tín ngưỡng của nhiều tỷ người trên thế giới không sống trong cái vòng ngu tối của Công Giáo La-mã.
Giáo hoàng mà còn xảo quyệt và trịch thượng như vậy huống chi là các con chiên ở Việt Nam. Không cuồng tín ngu xuẩn và trịch thượng thì làm sao ngày 8 tháng 8, 1961, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam họp tại Đà Lạt quyết định: “Lập một bàn thờ dâng hiến Giáo hội và Tổ Quốc Việt Nam cho trái tim vô nhiễm ‘Đức mẹ”” [Nguyễn Đắc Xuân, Tìm Hiểu Lịch Sử Nhà Thờ La Vang trong cuốn La Vang Giáo Sử, trang 52], bất kể là “Tổ Quốc Việt Nam” có hơn 90% người dân không cần biết và quan tâm đến “Đức Mẹ” là ai. Hội đồng Giám Mục, trong thời Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam, làm như Tổ Quốc là của riêng họ, muốn dâng hiến cả Tổ Quốc cho một người đàn bà Do Thái mà lịch sử đã ghi rõ, cả hai mẹ con đã cùng nhau chạy trốn Cộng sản chối chết từ Bắc vào Nam năm 1954, chạy trước cả những con chiên. Và từ đó đến nay, bà ta cũng chẳng làm được cái tích sự gì có ích cho thế giới văn minh ngoài việc thỉnh thoảng các con chiên trên thế giới bắt khi nào khóc hay chảy máu mắt thì khi đó phải khóc hay chảy máu mắt, bắt khi nào phải chảy dầu thì chảy dầu, và bắt khóc ở đâu thì phải khóc ở đó, dù bà ta là Mẹ Thiên Chúa toàn năng, quyền phép vô cùng, muốn làm gì cũng được. Chẳng có ai đặt vấn đề: mấy giọt nước mắt ngụy tạo, hay mấy giọt máu [của đàn ông khi được đem đi phân tích DNA] trên khóe mắt thì giúp ích được gì cho nhân loại để giải quyết những vấn nạn về chiến tranh, về thiên tai, về bệnh tật xảy ra hàng ngày và khắp nơi trên trái đất. Nếu chỉ giải quyết được chút nào những vấn nạn này thì chẳng nói làm gì, nhưng tuyệt đối bà ta chẳng làm được cái tích sự gì qua những vụ hiện thân, hay khóc, hay chảy máu mắt, mà chỉ để cho bàn dân thiên hạ thấy các tín đồ Ca-Tô, vốn đã mê muội tin nhảm tin nhí lại càng mê muội tin nhảm tin nhí hơn.
Và nay, ông LM Đinh Xuân Minh lại nhắc lại một sự kiện đượm màu sắc cuồng tín của giáo hội Công giáo La mã tại Việt Nam: Có phải Giáo Hội Việt nam đã dâng đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội? Và còn đặt câu hỏi: Giáo Hội Việt Nam có cần thiết dâng nước Việt Nam cho Trái Tim Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội nữa không? Tại sao những bậc chăn chiên như LM Đinh Xuân Minh lại thiếu hiểu biết đến độ không thấy rằng việc dâng nước Việt Nam cho Trái Tim Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội là hành động xúc phạm đến tuyệt đại đa số người dân Việt Nam phi Công Giáo, những người không bao giờ có thể chấp nhận hành động ngu xuẩn vô lối này của giáo hội Công giáo Việt Nam. Ai không cho hành động “dâng nước Việt Nam…” này là ngu xuẩn và vô lối xin mời lên tiếng. Và vì không chấp nhận hành động ngu xuẩn vô lối của Công Giáo Việt Nam cùng những hành động càn rỡ của Công giáo Việt Nam ở Tòa Khâm Sứ nên có người đã tỏ thái độ bằng cách trộn dầu với mắm tôm sức lên tượng của “Đức mẹ vô nhiễm nguyên tội”. Vì, như giáo hoàng John Paul II đã thú nhận, không làm gì có cái gọi là “nguyên tội” cho nên Đức Mẹ, hay tượng Đức mẹ, không thể nhiễm hay vô nhiễm cái nguyên tội không hề có này, nhưng mắm tôm thì có và nó sẽ ngấm và nhiễm vào pho tượng của Đức mẹ và không biết ở trong đó bao nhiêu lâu, LM Đinh Xuân Minh có nghĩ ra điều này hay không?
Fatima đúng là một màn bịp của Giáo hội Công giáo, vậy mà ngày nay LM Đinh Xuân Minh còn có thể viết lên điều hoang tưởng: Fatima chính là một Dấu Chỉ Thời Đại Cứu Rỗi cho toàn nhân loại, trong đó có đất nước Việt Nam chúng ta… Có bao nhiêu người trong “nhân loại” cần đến sự cứu rỗi của nền thần học Công giáo? Hơn 90% người dân Việt Nam có cần đến một ảo tưởng cứu rỗi mà Giám Mục Spong đòi phải vứt bỏ, và Linh mục Kavanaugh cho đó chỉ là một huyền thoại không đáng phải để ý đến ngày nay. Tại sao đến thời buổi này mà những người như LM Đinh Xuân Minh còn ngu ngơ, mù quáng, tin nhảm tin nhí, tin bướng tin càn, và viết bậy như trên?
Chúng ta thấy, điều tệ hại nhất của Công giáo La Mã đối với nhân loại là cứ muốn mang những điều ngu tối của mình ra truyền bá để muốn thiên hạ cũng phải đi vào vòng ngu tối như họ. Và bất cứ ở nơi nào mà Công Giáo ở thế mạnh, họ đều theo đúng sách lược này, dùng mọi thủ đoạn để cưỡng ép những người phi Công Giáo phải vào làm nô lệ trong cái ngục tù tâm linh của họ. Cũng vì những hành động trịch thượng vô lối của giáo hội công giáo mẹ ở Vatican cũng như con ở Việt Nam mà người dân ngày nay trên thế giới càng ngày càng cảm thấy khinh khi một định chế tôn giáo chuyên dùng những thủ đoạn bất xứng để mê hoặc đám con chiên. Và riêng người dân Việt Nam thì nay đã rõ bản chất cuồng tín của giáo dân Việt Nam như thế nào qua các vụ việc ở Tòa Khâm Sứ và giáo xứ Thái Hà cũng như những luận điệu cuồng tín đã lỗi thời của LM Đinh Xuân Minh và một số LM khác trên các diễn đàn thông tin điện tử của Công giáo ở hải ngoại.
Sau đây chúng ta sẽ sang phần “Màn Bịp Phép Lạ ở Fatima” để xem LM Đinh Xuân Minh đã biết những gì về cái màn bịp này của Giáo hội Công giáo hoàn vũ. Đọc đoạn trên của LM Đinh Xuân Minh chúng ta thấy rõ là ông ta chỉ nhắc lại như con vẹt những điều ông ta bị nhồi sọ về vụ Fatima chứ không phải là những sự hiểu biết bắt nguồn từ sự nghiên cứu nghiêm chỉnh về cái gọi là “phép lạ Fatima”. Xin nhắc lại một đoạn của LM Đinh Xuân Minh như sau:
Đức Mẹ hiện ra kèm theo một hiện tượng lạ lùng: Mặt trời quay tít ba lượt, rồi nhảy ra khỏi quỹ đạo, tiến gần đến trái đất theo một đường gẫy khúc, ngưng lại, rồi trở về vị trí cũ.
Hiện tượng này được nhiều người đứng gần các em nhỏ trông thấy và kéo dài trong 12 phút. Thông điệp của Đức Mẹ trao cho mấy em nhỏ là: "Giáo hoàng phải hiến dâng thế giới cho trái tim vô nhiễm của mẹ," và rồi "phải hiến dâng Nga Sô cho Mẹ." Mẹ tiên đoán, "Nga Sô sẽ cải đạo theo Công giáo La Mã ," [điều mà LM viết rằng Nước Nga đã trở lại, tất nhiên là trở lại đạo Công Giáo, nhưng sự thực ra sao, hạ hồi xin phân giải] và Đức Thánh Cha sẽ "hiến dâng Nga sô cho Mẹ." Mẹ cảnh cáo, nếu những điều Mẹ rao truyền không thực hiện được thì "những sai lầm của Nga Sô sẽ lan ra khắp hoàn cầu, gây nên chiến tranh và bách hại giáo dân, và nhiều quốc gia sẽ bị tàn phá." Cuối cùng Mẹ an ủi rằng "Giáo hội Công giáo sẽ thắng, sau đó Giáo hoàng sẽ hiến dâng Nga Sô cho Mẹ, Nga Sô sẽ cải đạo, và thế giới sẽ được hưởng một thời kỳ hòa bình."
Những lời trên đây là những thông điệp chân thực của Maria đồng trinh, như một em nhỏ kể lại và được giáo hội Công giáo hoàn toàn chấp nhận như là điều mặc khải xác thực của "Mẹ Chúa"."
(Our Lady of Fatima had first appeared to three illiterate children in Fatima, a desolate locality in Portugal, during the fateful year of 1917, which was also the year of the Russian Revolution.
Her apparition had been accompanied by a somewhat strange miracle: "The sun turned speedily on itself three times..At the end of these convulsive revolutions it seemed to jump out of its orbit and come forward towards the people on a zig-zag course, stopped, and returned again to its normal position. This was seen by a large crowd near the children and lasted twelve minutes.
The Virgin's messages had been to induce the pope to bring about "the consecration of the World to her Immaculate Heart," to be followed by "the consecration of Russia". "Russia will be converted," she foretold. "The Holy Father will consecrate Russia to me." But, she warned, should this not be accomplisshed, "her (Russia's) errors will spread throughout the world, causing wars, and persecutions...different nations will be destroyed..." In the end however, the Virgin promised by way of consolation, that the Catholic Church would triumph, after which "the Holy Father will consecrate Russia to me. Thereupon she (Russia) shall be converted and a period of peace will be granted to the world."
These quotations are from the authenticated messages of the Virgin Mary herself, as related to one of the children and fully accepted by the Catholic Church as a genuine revelation by the "Mother of God".)
Nghiên cứu về hiện tượng Fatima ở trên, các học giả đã kiếm ra nhiều điều vô lý, không hợp với ngay cả một sự hiểu biết thông thường.
Thứ nhất, Đức Mẹ là mẹ của Chúa, mà Chúa thì "toàn năng", "sáng tạo" ra vũ trụ bao la và muôn loài, vậy thì tại sao Đức Mẹ lại cần đến một ông Giáo hoàng rất thế tục để dâng hiến thế giới vô cùng nhỏ nhoi của con người cho Mẹ? Rồi sau khi hiến dâng thế giới lại còn phải hiến dâng Nga sô cho Mẹ. Mẹ có lẩm cẩm không? Nga sô không nằm trong thế giới hay sao? Những điều trên cho chúng ta thấy rõ là thuyết “Sáng tạo” [sic] trong Cựu Ước chỉ là một huyền thoại của dân tộc Do Thái trong thời bán khai, và tất cả chuyện hiến dâng chỉ là những luận điệu bịp bợm của những người thiếu đầu óc trong giáo hội dựng lên mà thôi.
Thứ nhì, Mẹ tự nhận là mình có trái tim vô nhiễm, như vậy là Mẹ đã cùng với những tín đồ vô học chỉ nhắc lại một tín lý của Giáo Hoàng Pius IX mới đưa ra năm 1854 và bắt mọi tín đồ phải tin. Vậy trước năm 1854, nghĩa là trước khi Giáo Hoàng Pius IX đưa ra tín lý "vô nhiễm nguyên tội" thì Mẹ có vô nhiễm không? Mặt khác, những lời tự nhận, dù là của Chúa hay của Mẹ Chúa, thường vô giá trị trừ khi đã được kiểm chứng. Mà cho tới nay thì chính Giáo hoàng John Paul II đã phủ nhận, không làm gì có cái gọi là “nguyên tội”, vậy thì cũng chẳng làm gì có cái gọi là “trái tim vô nhiễm nguyên tội”. Do đó, những lời tự nhận của Mẹ chẳng qua chỉ là cùng loại với những lời tự nhận của “phó đề đốc Hải quân” Nguyễn Võ Trung Quân.
Thứ ba, những từ như "Giáo hoàng" hay "Đức Thánh Cha" là những từ Giáo hội đặt ra về sau để thần thánh hóa vai trò của vị chủ chăn Công giáo, chứ thời của Mẹ cách đây 2000 năm không làm gì có những từ này. Bảo rằng Mẹ có quyền phép vô biên, cái gì cũng biết, thì lại đưa đến một mâu thuẫn. Nếu đã quyền phép vô biên thì tại sao phải nhờ đến một ông Giáo hoàng chống Cộng cho Mẹ? Mẹ chỉ cần phù phép một cái là cả nước Nga bỏ Chính Thống Giáo đi theo Công Giáo, hay là giáng họa cho dân Nga chết hết là hết Cộng. Sau khi Mẹ đã khẳng định là "Đức Thánh Cha" sẽ dâng hiến Nga sô cho Mẹ và Nga sô sẽ cải đạo theo Công Giáo, Mẹ lại phải cảnh cáo: "Nếu không thực hiện những thông điệp của Mẹ thì....". Tại sao lại có vụ dọa dẫm này? Mẹ không tin ở quyền phép của Mẹ, hay là không tin ở khả năng của Giáo hoàng, cho nên Mẹ phải dọa như vậy để giáo dân sợ mà hồ hởi chống Cộng? Nói tóm lại, nội dung những "thông điệp siêu nhiên" của Mẹ chẳng qua chỉ là những lời bịa đặt của những người trong hàng Giáo phẩm không được thông minh cho lắm vì nghe rất rẻ tiền, vô lý và mâu thuẫn, nhưng lại có tác dụng khích động đám tín đồ đầu óc chắc chắn là kém thông minh hơn các vị trong hàng Giáo phẩm nhiều.
Thứ tư, thông điệp của Đức Mẹ rao truyền cho mấy em nhỏ thất học là một thông điệp, như đã nói ở trên, sặc mùi...chống Cộng. Trí tuệ của mấy em nhỏ mù chữ lên 10, 9, và 7 tuổi đã phát triển chưa, và các em đã hiểu gì về Cộng Sản? Trí nhớ của các em như thế nào? Phải chăng các thông điệp của Đức Mẹ thật ra là của Giáo hội đưa ra? Tại sao Đức Mẹ lại phải chống Cộng vì Cộng cũng là do con Mẹ sinh ra? Bảo rằng Mẹ chống vì CS tàn ác thì tại sao trước những hành động tàn bạo của Giáo hội Công giáo đối với nhân loại như tiêu diệt các nền văn hóa khác, gây ra những cuộc Thánh Chiến, các tòa hình án xử dị giáo, làm chết hại bao nhiêu triệu người v...v.., sao Mẹ không hiện ra mà chống? Hay là Mẹ về phe Giáo hội đã vinh danh Mẹ qua những hành động tàn ác kể trên? Những mâu thuẫn trên chứng tỏ sự hiện ra của Mẹ ở Fatima chỉ là màn dàn dựng của giáo hội cho những mục đích rất thế tục.
Thứ năm, những lời tiên đoán của Mẹ sai bét. Hai cuộc Thế Chiến không do Nga Sô gây ra mà do các con Mẹ ở Tây phương gây ra tàn sát lẫn nhau. Và ngày nay, tuy chế độ Cộng sản ở Nga đã sụp đổ, Nga sô cũng không cải đạo theo Công Giáo. Trái lại, cơ quan lập Pháp của Nga sô còn đưa ra nghị viện điều luật "đặt Công giáo La Mã " ra ngoài vòng pháp luật (nhưng lại công nhận Phật Giáo là một trong những tôn giáo chính thức ở Nga) khiến cho John Paul II hoảng sợ, phải cầu cứu với Tổng Thống Nga là Yetsin để hoãn thông qua đạo luật này.
Thứ sáu, hiện tượng lạ lùng về mặt trời kể trên hoàn toàn phản khoa học. Mặt trời không thể nào nhảy ra ngoài quỹ đạo như vậy mà không làm nhiễu loạn cả Thái Dương Hệ, và không ai có thể nhìn thẳng vào mặt trời trong 12 phút mà không bị hư hẳn đôi mắt, trường hợp này đã xảy ra ở vài nơi trên thế giới khi tín đồ tin vào lời đồn là "Đức Mẹ hiện ra" tương tự như ở Fatima và nhìn thẳng lên mặt trời, của vài tên lái buôn tôn giáo, chưa kể là hơn hai tỷ người trên thế giới khi đó không hề nhìn thấy hiện tượng mà Giáo hội cho rằng đã xẩy ra. Chỉ có những người không biết gì về khoa học, nhất là về môn Cơ học các thiên thể (Celestial mechanics) mới dám bịa ra cái hiện tượng không thể nào xẩy ra này. Thật ra thì ngày nay những hiện tượng mà con người nhìn thấy nơi mặt trời, chỉ là những con bão của mặt trời (Sun Storms), gồm hai hiện tượng chính, danh từ khoa học gọi là “Solar Flares” và “Coronal Mass Ejections” [CME] và có thể tạo ra những vòng hào quang “Halo CME” mà những người nghiện đạo nhìn thẳng vào mặt trời đã hoa mắt cho là mặt trời chuyển động và hoang tưởng đó là phép lạ của Chúa hay của mẹ Chúa..
Một tài liệu trên Internet cho thấy sự ngu xuẩn cuồng tín của một số tín đồ Công giáo muốn chiêm ngưỡng dung nhan Đức mẹ trên mặt trời, và cũng cho chúng ta thấy, ở khắp nơi trên thế giới, các tín đồ Công giáo đều giống nhau ở điểm: rất mê tín và cuồng tín, và lẽ dĩ nhiên rất kém hiểu biết về khoa học:
Ít nhất là 50 người đã bị mù sau khi nhìn lên mặt trời với hi vọng sẽ nhìn thấy hình ảnh của Mary đồng trinh. Những viên chức lo cho sức khỏe của dân chúng ở quận Kottayam, Ấn Độ, đã dựng lên một bảng bác bỏ những lời đồn về một hình ảnh của Mary sẽ xuất hiện trên trời và cảnh báo người dân về sự nguy hiểm khi nhìn thẳng lên mặt trời.
48 trường hợp bị mù, do đồng tử cháy vì bị quang hóa, đã được ghi nhận ở nhà thương St. Joseph, chuyên chữa trị Tai, Mũi, Họng và Mắt từ ngày thứ Sáu qua.
Mặc dù những lời cảnh báo về những ảnh hưởng nguy hại của hành động nhìn thẳng lên mặt trời, nhiều tín đồ [Công giáo] vẫn đổ xô đến một nhà trọ ở Erumeli gần nơi mà người ta đồn rằng bà Mary sẽ xuất hiện.
Ngôi nhà mà phép lạ [của Công giáo] xảy ra đã được đồn đại trong nhiều tháng. Chủ nhà, nay đã dọn đi, tuyên bố rằng bức tượng bà Mary trong nhà trọ của họ đã khóc ra mật ong, dầu đỏ như máu, và nước thơm.
[Dozens blinded in India looking for Virgin Mary, By Sarah Herman, 2:00AM GMT 16 Mar. 2008: At least 50 people have lost their sight after staring at the sun hoping to see an image of the Virgin Mary, according to reports.
Alarmed health authorities in India's Kottayam district have set up a sign dispelling rumours of a miraculous image in the sky and warning of the dangers of looking into direct sunlight.
Forty-eight cases of sight-loss, allegedly caused by photochemical burns on the retina, have been recorded at St Joseph's ENT and Eye hospital in the region since Friday.
Despite warnings, and the potentially harmful effects of their actions, believers are allegedly still flocking to a hotelier's house in Erumeli near where the divine image is said to have appeared.
The house where the miracle is said to have occurred has apparently been the subject of rumours for months. The hotelier, who has since moved, had claimed that statues of the Virgin Mary in his house have been crying honey and bleeding oils and perfumes.]
Và sau cùng, qua những thông điệp của Mẹ thì đối với Mẹ, Công giáo là nhất, Mẹ muốn Nga sô phải cải đạo theo Công Giáo, Mẹ muốn Giáo hoàng hiến dâng cả thế giới này cho Mẹ, nghĩa là cho Công giáo, Mẹ không chỉ hiện ra ở Fatima mà còn hiện ra lung tung ở khắp nơi, ở bất cứ nơi nào có tín đồ Công giáo cuồng tín có đầu óc của các con chiên, nhưng không bao giờ dám hiện ra trước những người vô thần, hay Hồi giáo, hay Phật giáo v..v... Nhưng thảm thay, Âu Châu, cái nôi của Công Giáo trước đây mà một thời có thể coi như là toàn tòng Công giáo, lại suy thoái trầm trọng không phương cứu chữa. Đây là một sự kiện bất khả phủ bác. Thật vậy, vài tài liệu sau đây sẽ cho chúng ta thấy rõ vấn đề Công giáo suy thoái ở Âu Châu và trên khắp thế giới.
Trong cuộc Cách Mạng 1789, “Pháp, trưởng nữ của giáo hội Ca-Tô đã chính thức đưa Lý Trí lên bàn thờ Chúa, đã tàn sát trên 17000 Linh Mục, 30000 Nữ Tu [sơ] và 47 Giám Mục, và đã dẹp mọi Trường Dòng, Trường Học Công giáo, những Dòng Tu, đốt phá nhà thờ, thư viện của Giáo hội v..v.. [Xin đọc The Decline and Fall of The Roman Church của Linh mục Dòng Tên Malachi Martin, Giáo sư tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh Của Giáo Hoàng, và đã phục vụ trong Vatican dưới triều Giáo hoàng John XXIII, trang 196: “France, “eldest daughter of the Church”, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and 30,000 nuns as well as 47 bishops, abolished all seminaries, Catholic schools, religious orders, burned churches and libraries...”]
Vậy khi đó Chúa và Mẹ Chúa ở đâu, sao không hiện ra với mấy đứa bé mù chữ ở Paris như ở Fatima để mà cứu giáo hội Công giáo của Mẹ??
Rồi qua những “thời đại lý trí”, “thời đại khai sáng”, “thời đại phân tích” v..v.., phù hợp với luật tiến hóa và sự tiến bộ trí thức của nhân loại, thực chất của Ki Tô Giáo đã được các học giả nghiên cứu kỹ trong vòng 200 năm gần đây, bác bỏ mọi huyền thoại mà Ki Tô Giáo dựng lên, những chuyện thuộc loại hoang đường, mê tín cổ xưa đó bắt buộc phải ra khỏi đầu óc của con người, nhường chỗ cho những sự kiện khoa học và những thực tế xã hội.. Một cuốn sách điển hình về hiện tượng giải hoặc Ki Tô Giáo này là của Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ duy nhất trên thế giới chiếm được ngôi vị giáo sư thần học Ca-Tô của giáo gội Ca-Tô [the first woman in the world to hold a chair of Catholic theology], cuốn “Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con” (Putting Away Childish Things, HarperCollins, 1995). Những chuyện trẻ con nào? Đó là những tín lý căn bản của Ca-Tô Giáo: “Tư cách thần thánh của Chúa Ki Tô”; “Sinh ra từ một nữ trinh”; “ngôi mộ trống”; “Ngày Thứ Sáu tốt đẹp”; “Phục sinh”; “Thăng Thiên”; “Bị hành quyết để chuộc tội”; “Hỏa ngục” [The divinity of Christ, The Virgin mother, Good Friday, Easter, Resurrection, Ascension, Redemption by execution, Hell].
Rồi đến thời đại ngày nay, điều rõ ràng là chính con người Ki Tô trên khắp thế giới đang dần dần từ bỏ niềm tin vào vai trò cứu thế của Giê-su, bắt buộc Giáo hoàng Benedict XVI đã nhiều lần phải thú nhận về sự suy thoái không cơ cứu vãn của Công giáo La Mã và Tin Lành ở Tây phương. Theo những tin tức trên báo chí trên thế giới và cả trên tờ thông tin chính thức của Vatican, tờ L’Osservatore Romano, vào những ngày 27, 28 tháng 7, 2005, thì Benedict XVI đã lên tiếng phàn nàn như sau:
“Những tôn giáo chủ đạo ở Tây Phương [Ki Tô Giáo] có vẻ đang chết dần vì các xã hội càng ngày càng trở nên thế tục và không còn cần đến Thiên Chúa nữa.
Nhận xét của Ngài có vẻ bi quan và rầu rĩ hơn GH tiền nhiệm là John Paul II, người đã than phiền về sự suy thoái của đức tin trong các quốc gia phát triển và nói rằng điều này giải thích sự vật lộn của Giáo Hội Ca Tô đối với vấn đề số người đi nhà thờ giảm rất nhiều trong những năm gần đây.”
(ROME (Reuters, July 27, 2005) - Mainstream churches in the West appear to be dying as societies that are increasingly secular see less need for God, Pope Benedict said in comments published on Wednesday.
His outlook was even glummer than that of his predecessor John Paul, who lamented the decline of faith in the developed world and said it explained the Catholic Church's struggle with falling attendance in the West in recent years.)
Cũng theo tin hãng Reuters ở Rome thì Giáo hoàng Benedict XVI đã phải đau lòng mà chấp nhận một sự thực:
“Thật là khác lạ trong thế giới Tây Phương, một thế giới mệt nhọc với chính văn hoá của mình, một thế giới mà con người càng ngày càng tỏ ra không cần đến Thiên Chúa, mà cũng chẳng cần gì đến Chúa Giêsu nữa... Thei tin trên tờ L’OsservatoreRomano thì Giáo hoàng nói Những Giáo Hội gọi là 'truyền thống' xem ra như đang chết dần.”
Theo một phúc trình mới đây của Vatican thì trong một số nước phát triển, Giáo dân đi dự lễ ngày Chủ Nhật chỉ còn khoảng 5%. Ngài nói thêm: Giáo hội Công giáo không suy thoái nặng như là những giáo hội Tin lành lớn nhưng tự nhiên là phải chia xẻ vấn nạn của thời điểm này trong lịch sử . Không thấy có giải pháp nào mau chóng để cứu vãn Giáo Hội chúng ta cả.
(It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there’s no longer evidence for a need of God, even less of Christ," he told a meeting of clergy in the Italian Alps.
"The so-called traditional churches look like they are dying," he said, according to a text published by Vatican daily L’osservatore Romano.
Participation at Sunday Mass in some developed countries was as low as 5 percent, a recent Vatican report said.
"The Catholic Church is not doing as badly as the big Protestant Churches but naturally it shares the problem of this moment in historỵ" "There’s no system for a rapid change.”)
Giáo hoàng Benedict XVI khuyên tín đồ Công giáo, nhắm vào khối tín đồ Công giáo lạc hậu ở Phi Châu, Nam Mỹ, Phi Luật Tân, và nhất là Việt Nam, hãy kiên trì giữ vững đức tin, tiếp tục tiến bước trong đường hầm [keep walking in the tunnel], có thể ánh sáng le lói của Chúa Ki-Tô sẽ xuất hiện ở cuối đường hầm [Christ light would appear at the end]
Gần đây nhất, ngày 9 tháng 4, 2007, Giáo hoàng Benedict XVI lại cảnh báo là “Âu Châu có vẻ như sẽ mất đức tin trong tương lai, và gọi những người Âu Châu chỉ muốn có ít con là theo “chủ nghĩa cá nhân nguy hiểm” [trong khi cả thế giới đang lo nạn nhân mãn và cổ súy hạn chế sinh đẻ] Giáo hoàng nói: “Bất hạnh thay, chúng ta phải ghi nhận là Âu Châu có vẻ như đang tuột xuống một con đường có thể đưa Âu Châu đến sự giã từ lịch sử” [Ki Tô Giáo vẫn cho rằng lịch sử Âu Châu là lịch sử Ki Tô Giáo]
(Time, April 9, 2007: “One must unfortunately note that Europe seems to be going down a road which could lead it to take its leave from history” Pope Benedict XVI, warning that Europe appears to be losing faith in its future, calling some Europeans’ desire to have fewer children “dangerous individualism”.)
Các giáo hoàng John Paul II và Benedict XVI than phiền về sự suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo La Mã nói riêng, kể ra là đã quá muộn. Sự suy thoái của Ki Tô Giáo không chỉ mới xẩy ra trong triều chính của mấy ông này mà đã xẩy ra từ lâu, từ nhiều thập niên trước, nếu không muốn nói là nhiều thế kỷ trước.
Thế này là thế nào?? Linh Mục Đinh Xuân Minh ca tụng hiện tượng và “mệnh lệnh” Fatima nhưng có vẻ như ông ta còn đang sống trong thời Trung Cổ, thời huy hoàng nhưng cũng tàn bạo, sắt máu nhất của Công giáo, và lẽ dĩ nhiên, tiếp tục sống trong bóng tối như Russell Shorto đã nhận định, không hề biết đến những diễn biến trong chính giáo hội của mình. Kiến thức của người chăn chiên mà như vậy thì không hiểu kiến thức của đàn chiên, nếu có, thì như thế nào. Ông ta không biết rằng, Vatican hiện nay chỉ như con cọp giấy, đúng như Thống đốc Ventura ở bang Minnesota đã nhận định, lấy sức mạnh dựa vào đám đông tín đồ ngu ngơ ở thế giới thứ ba, ở Phi Luật Tân và một số ốc đảo ở Việt Nam, nhưng thực chất và thực lực thì không có gì vì thời đại ngày nay không cho phép Giáo hội thiêu sống người hay phát động những cuộc thánh chiến như trước, đúng như John Remsburg đã viết: “Những bó củi và gươm giáo đã bị tước ra khỏi những bàn tay đẫm máu của giáo hội Công giáo La mã, nên ngày nay, giáo hội chỉ còn có thể dùng hai sách lược là “vu khống” và “gây thù hận”.”
Vì sách lược của Giáo hội Công giáo là “ngu dân dễ trị” nên những điểm phi lý phản khoa học trong hiện tượng Fatima kể trên cũng chẳng làm cho Giáo hội bận tâm, Giáo hội chỉ cần tín đồ tin là được rồi.
Tại sao con người lại có thể tin vào những chuyện vừa hoang đường, vừa phi lý, vừa phản khoa học một cách ấu trĩ như vậy? Chúng ta nên nhớ rằng, ở Việt Nam, sau hiệp định Geneva, 1954, thì khoảng 6, 7 trăm ngàn giáo dân Bùi Chu, Phát Diệm v..v.., đã cho chúng ta thấy cảnh: "giám mục, linh mục chạy trước, con chiên chạy sau." Chạy đi đâu? Chạy vào Nam theo Đức Mẹ và Chúa Giê su, vì theo kế hoạch tuyên truyền của Lansdale, tin Đức Mẹ và Chúa Giê su đã di cư vào Nam trước rồi, được tung ra một cách rất ngoạn mục và thành công. Vậy thì đầu óc của những tín đồ Công giáo, nhất là những tín đồ Công giáo ở Việt Nam, thuộc loại có thể tin vào bất cứ điều nào mà Giáo hội nói, bất kể những điều này phi lý đến đâu. Giáo hội biết rõ như vậy cho nên mới có thể khai thác triệt để những đầu óc thuộc loại này. Về sự việc này, Linh mục Trần Tam Tĩnh có viết trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm về cuộc di cư vào Nam của người Công giáo miền Bắc như sau, trg. 103-104:
"Trước tiên, họ sử dụng Đức Mẹ Fatima, mà việc tôn sùng mấy năm gần đây đã được tăng cường, qua việc thành lập Đạo Binh Đức mẹ, Đạo Binh Xanh, Hiệp Hội Chiến Sĩ Đức Mẹ. Tất nhiên Đức Mẹ được giao cho chức năng chính trị để giải thoát những kẻ tôn sùng Người. Người ta đồn rằng Đức Mẹ hiện ra ở Ba Làng, Thanh Hóa, để ra lệnh cho giáo dân đi vào Nam, bởi vì Mẹ cũng bỏ miền Bắc Việt Nam. "Việc hiện ra" hình như đã được dàn dựng tài tình bởi một linh mục, ông đã mặc áo Đức Mẹ cho một thiếu niên và đã cho em đứng vào sau bàn thờ Đức Mẹ Fatima. Trước mấy cây nến tung ánh lung linh, một vài nhà "đạo đức" coi đó là Đức Mẹ hiện ra, nói với họ một giọng dịu dàng nhưng minh bạch rằng (trước khi hiện ra ở La Vang rồi Ba Làng, Đức Mẹ người Do Thái đã đi học một cua tiếng Việt VSL (Vietnamese as a Second Language) ở trường thuộc địa Pháp tại Hà Nội; TCN), phải từ bỏ đất Cộng Sản bất cứ với giá nào, mà tìm lánh sang vùng đất tự do. Đức Mẹ sắp sửa bỏ miền Bắc. Từ miệng qua tai, tin đồn được loan ra như một vết dầu loang được thêm thắt những nét chấm phá mới, kèm theo những lời tiên tri mới, hoặc những điềm gở tiên báo tai ương sắp đổ tới..
"Chạy trốn để cứu lấy mạng sống và cứu lấy đức tin", "Chúa Ki Tô đã đi vào Nam", "Đức Mẹ đã rời bỏ Bắc Việt", những khẩu hiệu phi lý dó làm cho người Ki Tô hữu phương Tây phải cười, nhưng lại có tác dụng rất lớn nơi một cộng đồng Ki Tô hữu đã từng bị giam nhốt xưa nay trong sự ngu dốt và trong một niềm tin đạo nói được là thời Trung cổ. Trong cái ốc đảo khép kín đó của giáo dân, những gì gọi là "Bí Mật của Đức Mẹ Fatima" đều được coi như là tín điều bắt buộc, đang khi nó chỉ dựa vào một mớ tài liệu tuyên truyền nhảm nhí."
Nhảm nhí như thế nào? Nghiên cứu về sách lược của Giáo hội Công giáo và những sự kiện xảy ra sau hiện tượng Fatima, các học giả đã tìm ra nhiều điều thậm phi lý, phản khoa học, không thể giải thích nổi, và hiện tượng Fatima đã được Giáo hội đưa ra, ngoài mục đích tôn giáo còn có những mục đích chính trị và kinh tế, . Thật vậy, trong cuốn Vietnam: Why Did We Go, Avro Manhattan viết như sau, trg. 28...:
"Sự sùng bái ở Fatima, đặt nặng trên lời hứa của Maria đồng trinh là Nga Sô sẽ cải đạo theo Công giáo La Mã, đã được Vatican thổi phồng đến tột đỉnh. Năm 1938, Giáo hoàng phái một sứ giả tới Fatima để loan báo cho gần một triệu tín đồ đang hành hương nơi đó là Maria đồng trinh đã phó thác cho ba đứa trẻ ở Fatima ba bí mật lớn. Và rồi, tháng 6 năm đó, đứa trẻ duy nhất còn sống [3 đứa trẻ mù chữ này là: Francisco, chết 18 tháng sau khi được Đức Mẹ phó thác cho 3 bí mật; Jacinta, chết ngày 20 tháng 2, năm 1920, chưa đầy 3 năm sau, và đứa trẻ còn sống là Lucia] được ông linh mục đỡ đầu cố vấn, linh mục này luôn luôn tiếp xúc với hệ thống quyền lực Công giáo và do đó với Vatican, nên tiết lộ nội dung của hai trong ba điều bí mật trên.
(The cult of Fatima, with emphasis on the Virgin's promise to Russia's conversion, had been given immense prominence by the Vatican. In 1938, a papal nuncio was sent to Fatima, and almost half a million pilgrims were told that the Virgin had confided three great secrets to the children. Thereupon, in June of that year, the only surviving cvhild - advised by her confessor, always in touch with the hierarchy and hence with the Vatican - revealed the contents of two of the three great secrets.)
Điều bí mật thứ nhất là cảnh tượng của hỏa ngục (cái mà thế giới hiện đại đã biết rõ)
[The first was the vision of Hell (something well known to the modern world).]
Năm sau, 1939, Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ. Năm 1940, Pháp bại trận. Toàn thể Âu Châu rơi vào quyền thống trị của Phát xít. Năm 1941, Hitler xâm lăng Nga Sô. Sau cùng, lời hứa của Maria đồng trinh hầu như sắp sửa thành tựu. Tại Vatican, mọi người đều hồ hởi, Pacelli đã trở thành Giáo hoàng Pius XII (1939)..
Pius XII khuyến khích tín đồ Công giáo tình nguyện đi chiến đấu ở mặt trận Nga Sô. Tín đồ Công giáo - hầu hết là những người sùng tín Maria đồng trinh - từ Ý, Pháp, Ái Nhĩ Lan, Bỉ, Hòa Lan, Châu Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ và Bồ Đào Nha, đầu quân vào những đoàn quân của Đức Quốc xã. Tây Ban Nha tham gia một sư đoàn có tên là Sư Đoàn Xanh Công giáo.
Tháng 10, 1941, trong khi những đoàn quân Đức quốc xã tiến gần tới Moscow (thủ đô Nga Sô), Pius XII, trong một huấn thị ở Bồ Đào Nha, thúc đẩy tín đồ Công giáo hãy cầu nguyện để cho lời hứa của Maria ở Fatima mau thực hiện.
Năm sau, 1942, sau khi Hitler tuyên bố rằng Cộng Sản Nga Sô đã "dứt khoát" bị đánh bại, Pius XII, trong một thông điệp hồ hởi, theo huấn thị thứ nhất của Maria đồng trinh, "dâng hiến cả thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm [sic] của Maria"
...Đế quốc Phát xít tan biến với sự sụp đổ của Hitler. Năm 1945 Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt. Trước sự kinh ngạc và đau buồn của Pius XII, Nga Sô đã trở thành cường quốc thứ nhì trên trái đất."
[The second was more to the point: a reiteration that Soviet Russia would be converted to the Catholic Church. The dramatic reiteration of the revelation of the second secret about Soviet Russia immediately assumed a tremendous religious and political significance. The timing of the "disclosure" could not have been better chosen. The fascist dictatorship were talking the same language: the annihilation of Soviet Russia.
The following year, 1939, the Second World War broke out. In 1940, France was defeated. The whole Europe had become fascist. In 1941, Hitler invaded Russia. The Virgin's prophecy at long last was about to be fulfilled. At the Vatican there was rejoicing, since by now Pacelli had become pope under the name of Pius XII (1939).
Pius XII encouraged Catholics to volunteer for the Russian front. Catholics - most of them devotees of the Virgin of Fatima - joined the nazi armies, from Italy, France, Ireland, Belgium, Holland, Latin America, the US and Portugal. Spain sent a Catholic Blue Division.
In October 1941, while the nazi armies rolled near Moscow, Pius XII, addressing Portugal, urged Catholics to pray for a speedy realization of the Lady od Fatima's promise.
The following year, 1942, after Hitler had declared that communist Russia had been "definitely" defeated, Pius XII, in a Jubilee Message, fulfilled the first of the Virgin's injunction and "consecrated the whole world to her Immaculate Heart."]
...The fascist empire vanished with the collapse of Hitler. In 1945, World War II ended. And Soviet Russia, to the chagrined surprise of Pope Pius XII, emerged the second greatest power on earth.)
Chúng ta thấy ngay là LM Đinh Xuân Minh đã đưa ra một luận điệu lừa bịp những người không biết gì về màn bịp phép lạ ở Fatima, viết nhảm nhí là nước Nga đã trở lại đạo như sau: “Nước Nga đã trở lại! Quả là một sự lạ! Một quyền lực siêu nhiên. Một phép lạ, chỉ có Trời mới làm được. Một sự lạ, chẳng những nó đã được tiên báo, mà còn ở phương thức đường lối chỉ dẫn thực thi Mệnh Lệnh Fatima. “
Nước Nga đã trở lại?? Nhưng thực ra nước Nga đã trở lại đâu? có bao giờ “trở lại” (sic) đạo Công giáo chưa? Sau khi chế độ Cộng sản sụp đổ thì nước Nga không những không trở lại đạo Công Giáo mà còn ra luật đặt Công Giáo ra ngoài vòng Pháp luật trong khi công nhận Phật Giáo là một tôn giáo được công nhận chính thức ở Nga. LM Đinh Xuân Minh viết nhập nhằng, làm như mấy cái màn bịp bợm ở Fatima đã tiên đoán được là nước Nga sẽ “trở lại” đạo Công Giáo. Nhưng sự thực như trên đã chứng tỏ chuyện nước Nga “trở lại” chỉ là luận điệu tuyên truyền bịp bợm của Giáo hội cho những kẻ có đầu mà không có óc. Đi vào chi tiết trong màn bịp Fatima chúng ta mới thấy rõ là những luận điệu tuyên truyền về Fatima của Giáo hội chỉ là những điều nói láo rất trơ trẽn đối với giới hiểu biết. Và những tiên đoán hay “mệnh lệnh” Fatima chỉ là những điều giáo hội phịa ra, không có một điều nào đúng cả. Làm sao có thể đúng được khi mà những tiên đoán hay mệnh lệnh Fatima chỉ là những điều mong ước không thành của những người mà chúng ta đã biết là không có mấy đầu óc trong giáo hội Công giáo chứ chẳng làm gì có chuyện Đức Mẹ hiện ra và tiên đoán hay ra mệnh lệnh bậy bạ.
Điều bí mật thứ ba để trong một bao thư niêm kín và đặt dưới quyền xử dụng của hàng Giáo phẩm Công giáo, không được tiết lộ cho tới năm 1960.
[The third was sealed in an evelope and put in custody of the ecclesiastical authority not to be revealed until 1960.]
Nhưng tới năm 1960 Giáo hội cũng không tiết lộ điều bí mật thứ ba, và phải đợi đến năm 1984. Tại sao? Vì sự tiết lộ những cái gọi là bí mật mà Đức Mẹ trao truyền cho mấy đứa con nít mù chữ đều nằm trong những mục đích đã tính toán của Giáo hội. Ngày 11 tháng 11 năm 1984, Hồng Y Ratzinger tuyên bố:
“Những điều trong “Bí Mật Thứ Ba” phù hợp với những gì đã được loan báo trong Kinh Thánh và đã được nhắc đi nhắc lại trong nhiều vụ hiện ra của bà Mary.”
[The things contained in this ‘Third Secret’ correspond to what has been announced in Scripture and has been said again and again in many other Marian apparitions.]
Rồi gần 6 năm sau, tới ngày 26 tháng 6, 2000, Vatican mới cho phổ biến bản văn về “Bí Mật Thứ Ba” mà Đức Mẹ trao truyền cho 3 đứa trẻ mù chữ. Đọc bản văn này chúng ta thấy rõ ràng là Giáo hội đã mớm lời cho Lucia, đứa trẻ còn sống sót, vì nó tương đối dài, và không ngoài việc dựa theo những chuyện hoang đường trong sách Khải Huyền. Chúng ta hãy đọc bản văn đó.
Vatican,ngày 26, 6, 2000.- Dưới đây là bản dịch toàn phần Bí Mật Thứ Ba ở Fatima từ nguyên bản bằng tiếng Bồ Đào Nha đã được bày tỏ cho ba đứa trẻ chăn cừu ở Cova da Iria-Fatima ngày 13 tháng 7, 1917, và được viết ra trên giấy bởi sơ Lucia ngày 3 tháng 1, 1944:
Lucia viết: “Tôi viết theo lệnh của Chúa tôi, Người đã ra lệnh cho tôi làm vậy qua Đức Giám Mục ở Leira và qua Đức mẹ rất thánh của Ngài và của tôi.
“Sau hai phần mà tôi đã giải thích, ở bên trái và ngay trên Đức Mẹ, chúng tôi thấy một thiên thần với một lưỡi gươm rực lửa trong tay trái; nhấp nháy, phát ra những ngọn lửa mường tượng như là muốn đốt cháy cả thế giới; nhưng rồi tắt đi vì hào quang từ tay phải Đức Mẹ phát ra chiếu vào hắn: tay phải trỏ xuống đất, thiên thần kêu to: “hãy thống hối, hãy thống hối, hãy thống hối!”. Và chúng tôi nhìn thấy trong ánh sáng tràn ngập mà đó là Thiên Chúa: “một hiện tượng giống như con người hiện ra trong một tấm gương khi đi qua trước nó” một Giám mục trong áo choàng trắng mà “chúng tôi có ấn tượng đó là Đức Thánh Cha”. Nhiều giám mục, linh mục và giáo dân khác cùng đi lên một ngọn núi rất giốc, ở trên đỉnh núi là một cây thập giá lớn làm bằng một thân cây còn cả vỏ; trước khi lên tới đỉnh núi, Đức Thánh Cha đi qua một thị trấn lớn [một thị trấn trên sườn núi rất giốc??] đã phần nửa suy sụp với những bước chân ngập ngừng và run rẩy, đau đớn và thương xót, ông ta cầu nguyện cho những linh hồn của những thây ma ông ta gặp trên đường đi; lên tới đỉnh núi, quỳ xuống trước cây thập giá lớn, ông ta bị giết bởi một đám lính bắn đạn và tên vào ông ta, và những giám mục, linh mục và giáo dân cũng bị giết như vậy, và mọi người dân thường ở các vị thế và địa vị khác. Dưới hai cánh ngang của cây thập giá là hai thiên thần trên tay có bình pha lê đựng nước thánh, trong đó chúng hứng máu của những người tử đạo và với máu đó rảy lên những linh hồn đang ở trên đường đi tới Thiên Chúa.”
[From Congregation for the Doctrine of the Faith in Vatican
Text of The Third Secret of Fatima
COMPLETE TRANSLATION OF ORIGINAL TEXT:
VATICAN CITY, JUN 26, 2000 (VIS) - Given below is the complete translation of the original Portuguese text of the third part of the secret of Fatima, revealed to the three shepherd children at Cova da Iria-Fatima on July 13, 1917, and committed to paper by Sr. Lucia on January 3, 1944:
"I write in obedience to you, my God, who command me to do so through his Excellency the Bishop of Leiria and through your Most Holy Mother and mine.
"After the two parts which I have already explained, at the left of Our Lady and a little above, we saw an Angel with a flaming sword in his left hand; flashing, it gave out flames that looked as though they would set the world on fire; but they died out in contact with the splendor that Our Lady radiated towards him from her right hand: pointing to the earth with his right hand, the Angel cried out in a loud voice: 'Penance, Penance, Penance!'. And we saw in an immense light that is God: 'something similar to how people appear in a mirror when they pass in front of it' a Bishop dressed in White 'we had the impression that it was the Holy Father'. Other Bishops, Priests, men and women Religious going up a steep mountain, at the top of which there was a big Cross of rough-hewn trunks as of a cork-tree with the bark; before reaching there the Holy Father passed through a big city half in ruins and half trembling with halting step, afflicted with pain and sorrow, he prayed for the souls of the corpses he met on his way; having reached the top of the mountain, on his knees at the foot of the big Cross he was killed by a group of soldiers who fired bullets and arrows at him, and in the same way there died one after another the other Bishops, Priests, men and women Religious, and various lay people of different ranks and positions. Beneath the two arms of the Cross there were two Angels each with a crystal aspersorium in his hand, in which they gathered up the blood of the Martyrs and with it sprinkled the souls that were making their way to God."
- Có những sự bất phù hợp trong chữ viết tay so sánh với những bản viết tay khác của sơ Lucia, nếu không muốn nói đến vấn đề văn phạm, với những câu như “nửa suy sụp và nửa run rẩy” [half in ruins and half trembling]. Cũng còn có những câu và quan niệm kém cỏi, thí dụ như, “linh hồn của các thây ma” [the souls of the corpses]. Vậy Đức Thánh Cha gặp các thây ma hay các linh hồn [Is it “the corpses he met” or “the souls he met”?] Một câu khác là “rảy máu của những người tử đạo lên các linh hồn” [sprinkling souls with the blood of the martyrs], Những thây ma đó là của những người tử đạo? Đó là máu của họ? Tại sao và làm thế nào để rảy máu lên một linh hồn? [Aren’t they the martyrs? So is it their own blood? Why or how sprinkle a soul with blood?] Và nếu các thây ma là những “thánh tử đạo” thì tại sao lại phải cầu nguyện cho họ? Nếu không phải là các người tử đạo thì họ là những ai? [And if the “corpses” are the “martyrs,” why pray for them? If they are not, who are they?]
- Bí Mật Thứ Ba không phù hợp với Bí Mật Thứ Nhất và Thứ Nhì. Cảnh tượng hỏa ngục và những lời của Đức Mẹ rất rõ ràng và đi ngay vào chủ đề. Cái mà người ta cho là Bí Mật Thứ Ba này hoàn toàn có tính cách biểu tượng (symbolical) [Theo lối giải thích thần học của Ratzinger. TCN]. Vậy làm sao mà cái Bí Mật Thứ Ba này có thể xen lẫn với hai Bí Mật trên? [How does this Third Secret correctly mesh with the texts of the first two?]
- Theo Vatican thì “Giám mục trong bộ đồ trắng” là John Paul II vì có sự liên hệ giữa sự tử đạo của Giám mục và cuộc ám sát John Paul II ngày 13, 5, 1981. Nhưng đây chỉ là một sự đoán chừng chứ không phải là một sự kiện vì “Giám mục trong bộ đồ trắng” chết trong khi John Paul II không chết. [The correlation becomes even more tenuous in light of the fact that the Bishop in white dies, while John Paul II did not die.]
- Điều đặc biệt là trong Bí Mật Thứ Ba không có một lời nào của Đức Mẹ cả [there is not a word from Our Lady in this purported Third Secret.]
Do đó chúng ta có thể kết luận mà không sợ sai lầm: Bản “Bí Mật Thứ Ba ở Fatima” cũng chỉ là một màn bịp, hay nói đúng hơn, chỉ là một trong vô số bản văn ngụy tạo của Giáo hội Công giáo. Giáo hội đã nổi tiếng trên thế giới về nghiệp vụ ngụy tạo văn kiện. Để tặng các bạn trẻ đọc tiếng Anh, tôi xin đưa ra sau đây bản nghiên cứu về sự ngụy tạo “Bí Mật Thứ Ba” của Giáo hội Công giáo:
http://www.hogueprophecy.com/prophecy/thirdsecretfatima.htm
Friends,
Further revelations have surfaced that cast a cloud of suspicion on the release of the purported Third Secret of Fatima.
The handwriting may not be that of its messenger, Sister Lucia dos Santos.
As I reported a month ago, the Vatican finally released the long awaited Third Secret of Fatima a full 40 years late. In 1944, Sister Lucia dos Santos (the author of this prophecy), claimed that an apparition of the Virgin Mary gave her a specific date for the revelation of this secret to the world "no later than 1960."
Cardinal Joseph Ratzinger, finally presented a 4 page handwritten document of 62 lines in a press conference on 26 May [correction: 26 June] and immediately caused a controversy. For one thing it is a known and documented fact for decades that Sister Lucy only wrote 24 lines on one piece of letter paper.
Forensic experts have come forth recently to declare the handwriting presented as a forgery.
I received this report from www.tldm.org (a Marian prophecy web site that the Vatican views as renegade) concerning a test done on the authenticity of the handwriting presented as coming from the good sister's hand:
"Speckin Forensic Laboratories, an internationally known firm specializing in examining potential forgeries and known for their work on the JonBenet Ramsey case and an interview on Dateline, has examined the reported Third Secret text and compared it with past writings of Sister Lucy. They concluded, 'it is my opinion, based on the documents examined, that the Questioned Document Third Secret can not be identified with the purported known writings of Sister Lucy.'" (Speckin Report, p. 2)
Here's the link to the comparison in handwriting:
http://www.tldm.org/news/lucys_writing.htm
According to tldm web site, another key letter attributed to Sister Lucy (mentioned in the Vatican's commentary on the alleged third secret) is also a forgery. They report:
"The November 8,1989 letter is a computer-generated letter (Sister Lucy does not know how to type. This fact is verified by Sister Lucy's blood sister Caroline) that was proven to have a forged signature by a Canadian forensic expert. Fr. Gruner in Canada was the one responsible for exposing this. This letter was one of FIVE computer-generated letters and forgeries in 1989-1990 attributed to Sister Lucy. Their purpose? To put out the propaganda that the consecration of Russia had been done per the instructions of Our Lady of Fatima. More smoke. This has not been done. Cardinal Law of Boston visited Sister Lucy in her convent in 1989 and was told by her that the consecration of Russia still has not been done. I'm sure it is possible to reach Cardinal Law to verify this."
Since May of this year, the only comments coming from her are filtered through the Vatican envoys and not from any direct contact. It seems to me that only Sister Lucia herself can end this controversy by a public appearance. She should come out of her seclusion in her nun's cell to undertake a lie detector and handwriting tests.
It would seem that the forewarned "apostasy" of the Church heirarchy—that Sister Lucia has so long intimated was the thrust of the Third Secret's message—is in full swing. Unless the Vatican and Cardinal Ratzinger explain these discrepancies, one can only conclude that warnings from the following Catholic prophets and other seers are being fulfilled this very day!
"In the sacred temples scandals will be committed. They will be thought of as honors and praiseworthy...Woe, Woe for the clergy, ruin, grief!"
"The end of time is not far off, and the Antichrist will not delay his coming. We shall not see him and not even the nuns will follow him, but those who will come later will fall under his domination. When he comes, nothing will be changed, in the nunnery everyone will be dressed as usual; the religious exercises and the services will go on as usual...when the sisters will realize that the Antichrist is in charge."
"The time is coming when princes and peoples will reject the authority of the Pope."
"For the Church, too, the time of its greatest trial will come. Cardinals will oppose cardinals and bishops (will be) against bishops. Satan will march in their midst and there will be great changes at Rome."
(Editor's note: this statement is attributed to Sister Lucia from the Third Secret of Fatima—but it does not appear in the document issued by the Vatican in May.)
"The day humanity is completely finished with these exploiters in the name of religion, this very Earth can become a paradise."
Đó là những sự thực xung quanh vụ Đức mẹ hiện ra ở Fatima, một "phép lạ" mà đại đa số tín đồ Công giáo ít học trên toàn thế giới rất tin. Họ không hề để tâm suy nghĩ là lời hứa của Maria đồng trinh (thực ra là của Giáo hội) giao phó cho những em bé thất học, rút cục chỉ là những điều mơ ước không thành của Giáo hội. Nhưng đa số tín đồ Công giáo hoàn toàn không biết gì về những mưu đồ chính trị đằng sau hiện tượng Fatima, cho nên họ vẫn tin rằng Đức Mẹ đã thực sự hiện ra ở Fatima, và tâm cảnh sùng tín Đức Mẹ ngày càng gia tăng. Khai thác sự "ngu dốt trong những ốc đảo khép kín đó của giáo dân", Giáo hoàng Pius XII bèn đi thêm một bước ngoạn mục khác.
Năm 1950, Giáo hoàng Pius XII tiết lộ rằng chính đức Mẹ đã đích thân đến thăm viếng ông tại Vatican. Năm sau, 1951, Ông tổ chức một cuộc hành hương vĩ đại tại Fatima gồm hơn 1 triệu tín đồ. Rồi ông phái một vị Hồng y thân cận nhất, Tedeschini, đến Fatima với nhiệm vụ loan báo cùng các tín đồ đi hành hương ở Fatima là đức Mẹ đã đến thăm ông. Avro Manhattan mô tả sự việc trên như sau (Ibid., trg. 39):
"Thế rồi một ngày trong tháng 10, 1951, Hồng Y Tedeschili, đứng trước đám đông tín đồ, với một giọng nói đầy xúc cảm, long trọng tiết lộ với những tín đồ đi hành hương Fatima rằng: "Một người khác đã chứng kiến cùng một phép lạ" (nghĩa là phép lạ khi Maria đồng trinh hiện thân trước ba đứa trẻ năm 1917, mặt trời đi theo đường gẫy khúc ở trên trời). Hồng Y nói tiếp: "Ông ta (Giáo hoàng Pius XII) đã nhìn thấy hiện tượng đó, không phải ở Fatima. Thật vậy, ông ta đã nhìn thấy hiện tượng đó nhiều năm sau, ở La Mã. Giáo hoàng, chính Pius XII, đã nhìn thấy thế." Rồi Hồng Y kể thêm vài chi tiết liên hệ đến phép lạ trên: "Một buổi chiều ngày 30 tháng 10, 1950, hồi 4 giờ, Đức Thánh Cha từ khu vườn trong Vatican nhìn lên mặt trời (chỉ có người ngu, không biết gì về mặt trời mới nhìn thẳng lên mặt trời; TCN) và thấy hiện tượng kỳ lạ ở thung lũng Fatima tái diễn. Hiện tượng kỳ lạ nào? Sau đây là nguyên văn lời của vị Hồng Y, người được Giáo hoàng Pius XII đặc phái tới Fatima để tiết lộ cho thế giới biết như sau:
"Giáo Hoàng Pius XII đã đích thân nhìn thấy đời sống của mặt trời (Tác giả xin nhắc độc giả rằng: Mặt trời là một khối cầu lửa vĩ đại, đường kính vào khoảng 1 triệu 3 trăm 85 ngàn cây số (866.000 miles)) trong tay của Maria. Mặt trời dao động, rối loạn và biến đổi thành một hình ảnh sống trong một chuyển động ngoạn mục trên trời.. trao truyền cho vị đại diện của Chúa những thông điệp thầm lặng nhưng hùng hồn.
Hiện tượng này không chỉ xảy ra một lần, mà trong ba ngày liên tiếp, ngày 30, 31 tháng 10, và 1 tháng 11, 1950."
(And so it came to pass that one October day, Cardinal Tedeschili faced the massive crowd, and in a voice filled with emotion, solemnly disclosed to the astonished pilgrims that "another person has seen this same miracle..." (namely the miracle of the Virgin Mary appearing to the three children in 1917, when the sun zig-zagged in the sky). "He saw it outside Fatima," the Cardinal went on to say. "Yes, he saw it years later. He saw it at Rome. The pope, the same our pontiff, Pius XII...yet he saw it." The cardinal then gave a few relevant details concerning when and how the miracle occurred. "On the afternoon of October 30th, 1950, at 4 p.m.," said the cardinal, (that is three months after Catholic Mathews delivered this preventive atomic war speech), "the Holy father turned his gaze from the Vatican gardens to the sun, and there...was renewed for his eyes the prodigy of the Valley of Fatima." And what was the prodigy?
Here are the exact words of the cardinal, sent there specifically by Pope Pius XII himself to disclose the story to the world:
"Pope Pius XII was able to witness the life of the sun (author's reminder: a huge burning sphere 866,000 miles in diameter)..under the hand of Mary. The sun was agitated, all convulsed, transformed into a picture of life...in a spectacle of celestial movements...in transmission of mute but eloquent messages to the Vicar of Christ."
This did not occur once, but on three successive days: October 30 and 31 and November 1, 1950.)
Khi nghe tin trên, hầu như cả thế giới, trong đó có một số trí thức Công giáo, mỉm cười lắc đầu, vì chuyện này cũng tương tự như chuyện trong Thánh Kinh: trăng sao là những ngọn đèn mà tối tối Chúa sai thiên thần mang ra treo trên vòm trời. Nhưng đám tín đồ "tin ở một vị Giáo hoàng, người tự nhận là không thể sai lầm, là nhất hạng, là tối cao", thì lại cảm thấy rất hồ hởi khi nghe tin trên, vì đó là dấu hiệu nhắc lại lời hứa của bà Maria khi xưa ở Fatima về Nga sô cải đạo thành Công giáo La Mã đã sắp sửa thành tựu. Tôi thì tôi cho rằng mấy ngày đó Đức Thánh Cha uống rượu lễ hơi nhiều, nếu thực sự ông nhìn thấy hiện tượng kỳ lạ trên, trong khi mấy tỷ người trên thế giới không ai nhìn thấy. Thật ra, chuyện Giáo hoàng bày đặt ra chuyện hoang đường để dụ dỗ đám tín đồ đầu óc vốn mù mịt, và chuyện các tín đồ tin vào những chuyện phi lý như trên, là những chuyện thuộc về tín ngưỡng trong Công giáo. Đối với tôi, những tín đồ thuộc loại trên đáng thương chứ không đáng trách. Chúng ta không thể trách họ vì sự thiếu hiểu biết của họ. Đáng trách chăng là những thủ đoạn khai thác sự thiếu hiểu biết của quần chúng tín đồ mà Giáo hội dùng trong những mục đích chính trị nhơ bẩn, và trong những mục đích kinh tế để làm giầu cho Giáo hội trong khi quần chúng tín đồ vẫn nghèo khổ mà lại tiêu phí vào những việc không đâu, vì tin vào những lời tuyên truyền giả dối của Giáo hội. Thật vậy, chúng ta hãy đọc vài đoạn sau đây của học giả Paul Blanshard trong cuốn American Freedom and Catholic Power, trg. 224-226:
Đức Ông John L. Belford, một trong những vị lãnh đạo Công giáo nổi tiếng ở Brooklyn, phàn nàn về sự kiện là một vài đền thờ (ở những chỗ Giáo hội cho rằng Maria đã hiện ra) đã "gợi lòng tham, một trong những đặc tính điên rồ của con người" và lên án "tính cách thương mại xung quanh những đền thờ." Ông nói: "Thật là khó phân biệt giữa sùng đạo và mê tín, nhưng có những nơi trong quốc nội cũng như ở ngoại quốc mà sự sùng đạo được thực hành và quảng cáo như là một cách làm tiền... Những tín đồ Công giáo lấy làm xấu hổ, và những người phi-Công giáo cảm thấy kinh tởm...Sự dùng những Thánh tích, lẽ dĩ nhiên, được giáo hội chấp thuận. Trong việc xử dụng những Thánh tích, chúng ta dạy về một đức tin hoàn toàn, nhưng chúng ta cũng ghê tởm, khinh miệt và lên án cách hành nghề kiểu một tay đưa ra Thánh tích, còn tay kia thì vơ tiền.."
Trong những năm gần đây, giáo hội đã đem mục đích chính trị thêm vào những sắc thái khác mà giáo hội quảng cáo về những đền thờ Maria. Trong hai đền thờ Maria lớn nhất trên thế giới ngày nay, đền thờ ở Lourdes trên nước Pháp và ở Fatima, Bồ Đào Nha, được dựng lên như là các nơi thiêng liêng vì Maria đồng trinh đã viếng thăm trái đất tại các nơi này, đền thờ nổi tiếng hơn, Fatima, ngày nay được giáo hội xử dụng chính yếu như là một biểu tượng xúc cảm trong cuộc chiến chống Cộng. Đền thờ nổi tiếng nhất ở Tây Bán Cầu, ở Guadalope, nay được dùng như là một vũ khí chống các trường học công cộng ở Mễ Tây Cơ (Giáo hội phản đối các trường công, muốn rằng nền giáo dục Mễ Tây Cơ phải do các trường Công giáo đảm trách; TCN)
... Gần đây, những pho tượng "Đức Mẹ ở Fatima" đã được mang đi diễn hành ở Âu Châu và Mỹ châu, phô trương rầm rộ và được các báo Công giáo tường thuật chi tiết. Mỗi pho tượng đi tới đâu đều có những "phép lạ" hiện ra tới đó.
Hầu như mọi thông tin quảng cáo về những pho tượng này đều kết hợp phép lạ ở Fatima với chiến dịch chống Cộng của Giáo hội. Giới trí thức Công giáo cảm thấy hổ nhục vì sự khai thác chính trị này. Trí thức Công giáo không bắt buộc phải tin những chuyện Maria hiện thân mà giáo hội đưa ra chừng nào mà họ không công khai bác bỏ những truyền thuyết có tính cách linh cảm này."
(Monsignor John L. Belford, one of Brooklyn's most noted Catholic leaders, deplored the fact that some shrines "have appealed to the greed which is one of the foul characteristics of human nature," and condemned the "commercialism which surrounds shrines." He said: "It is not easy to draw the line between devotion and superstition, but there are places at home and abroad where devotion are practiced and promoted as a mean to gather money...Catholics are ashamed and non-Catholics are horrified...The use of relics is, of course, approved by the Church. In that use we profess unqualified faith, but we do loathe, despise and comdemn the contemptible practice of applying the relic with one hand and collecting money with the other."
...In recent years the hierarchy has added political purpose to other features of its shrine promotion. Of the two greatest shrines in the world today, the French Lourdes and the Potuguese Fatima, made sacred by visits of the Virgin Mary to the earth, the more fmous one, Fatima, is now used by the Church chiefly as an emotional symbol in the war against communism. The most famous shrine in the Western hemisphere, Guadalope, is being used as a weapon against Mexican public schools.
...Recently "Fatima statues" have been circulated in Europe and America with enormous public fanfare and detailed report in the Catholic press. Each statue during its journey has had many "miracles reported along its path."
...Virtually all publicity about the statue has coupled the miracle of Fatima with the Church's drive against communism... Many Catholic intellectuals are shame-faced about this political exploitation of apparition...Catholic intellectuals are not bound by the rules of their Church to take the apparition stories seriously as long as they do not repudiate the inspiring legends publicity.)
Giáo hội Công giáo đã lành nghề tạo quyền lực cho giới chăn chiên qua những thủ đoạn ngụy tạo rất trắng trợn đối với giới trí thức bên ngoài nhưng lại rất có hiệu quả đối với đám con chiên thấp kém ở dưới. Sau đây là một chuyện điển hình. Chúng ta biết rằng một trong ba đứa trẻ mù chữ mà Đức Mẹ trao cho các “bí mật động trời” [sic] là Jacinta, 9 tuổi. Jacinta chết ngày 20 tháng 2, 1920, nghĩa là chưa đầy 3 năm sau khi nhìn thấy Đức Mẹ. Chúng ta hãy đọc vài lời mà Giáo hội nói là của Jacinta trước khi chết:
Sẽ có nhiều linh hồn hơn đi xuống địa ngục vì tội lỗi của tình dục và vì những lý do khác.
Một vài kiểu cách sẽ được đưa ra và sẽ xúc phạm nhiều đến Đức Mẹ.
Nhiều cuộc hôn phối không phải là do Thiên Chúa.
Sự không vâng lời của các Linh mục đối với Bề Trên và Đức Thánh Cha thì làm phật ý không ít Chúa của chúng ta.
Đức mẹ sẽ không tiếp tục kiềm chế bàn tay của đứa con trai thánh thần của Mẹ [Giê-su] trừng phạt thế giới vì những tội ác trong thế giới.
Hãy nói với mọi người là Thiên Chúa đã trao phó hòa bình của thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mary.
Other important statement by this little girl, Jacinta, before her death:
"More souls go to Hell for sins of the flesh than for any other reason."
"Certain fashions will be introduced that will offend Our Lady very much."
"Many marriages are not of God."
"THE DISOBEDIENCE OF PRIESTS TO THEIR SUPERIORS AND TO THE HOLY FATHER IS VERY DISPLEASING TO OUR LORD."
"The Blessed Mother can no longer restrain the hand of her Divine Son from striking the world with just punishment for its many crimes."
"Tell everybody that God has confided the peace of the World to the Immaculate Heart of Mary."]
Chúng ta có thể tin là một em bé mù chữ chưa tới 12 tuổi vào tháng 2, 1920, có thể nói lên những lời này trước khi chết hay không. Điều rõ ràng là Giáo hội đã đặt vào miệng em những câu nói ngoài khả năng hiểu biết của em. Em biết gì về “sins of the flesh” hay “marriage”, hay là Mẹ dạy cho em biết ở Fatima? Câu về “hôn phối” chỉ muốn nói là nếu các cuộc hôn phối mà không do mấy ông Linh Mục thay Thiên Chúa thực hiện cái gọi là “bí tích hôn phối” trong Công giáo thì cuộc hôn phối đó vô giá trị vì không phải là do Chúa chấp thuận. Và làm sao mà em biết là Thiên Chúa sẽ phật ý nếu các linh mục không vâng lời bề trên và Đức Thánh Cha? Có phải tất cả chỉ là những lời giáo hội đặt vào miệng em cho những mục đích thế tục hay không?
Vài Lời Kết.-
Công Giáo du nhập vào Việt Nam qua giới cùng đinh thất học bằng những phương pháp truyền đạo xảo quyệt, xuyên tạc sự thật, và mạ lỵ, xâm phạm tới toàn bộ tín ngưỡng, đạo đức và cấu trúc văn hóa của xã hội Việt Nam. Ngoài ra nhiều thừa sai Công giáo còn trắng trợn can thiệp vào chính trị nội bộ của Việt Nam và trong nhiều trường hợp đã xúi dục nội loạn và gây nên sự chia rẽ, bất hòa trong xã hội Việt Nam. Cái di sản này Công giáo đã để lại cho Công giáo Việt Nam cho tới ngày nay qua vụ TGM Ngô Quang Kiệt và một số Linh mục xúi dục con chiên làm càn ở Tòa Khâm sứ. Nền thần học Công giáo ru ngủ đám tín đồ thấp kém bằng những điều mê tín hoang đường, bằng một đức tin vào những giáo điều tín lý khô cứng, phi lôgic, phản khoa học, bằng những hứa hẹn vô trách nhiệm vào một niềm tin “xác chết ngày sau sống lại” để có “sự sống đời đời”, do sự “cứu rỗi” của một Thiên Chúa đã chết trên cây thập giá cách đây 2000 năm và chưa bao giờ xuất hiện để cứu bất cứ ai v..v
Vì tuyệt đại đa số giáo dân Việt Nam là những người thuộc thành phần kém hiểu biết trong xã hội, nên họ bị các bề trên thiếu lương tâm trí thức đóng khuôn trong “Đức vâng lời” và từ đó bị nhào nặn trong các niềm tin phi lý mà họ không có khả năng để nhận ra sự thật. Giáo hội khai thác triệt để sự cả tin và mê tín của đám giáo dân thấp kém ở dưới, dựng lên một nhân vật Mary để huyễn hoặc và đẩy mạnh sự sùng tín Mary qua những danh hiệu mà Giáo hội khoác lên mình nhân vật Mary như: “Mẹ Thiên Chúa” (Mother of God), “Nữ Vương Hòa Bình” (Queen of Peace), “Thiên Nữ Vương” (Queen of Heaven), “Thụ Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội” (Immaculate Conception), “Còn trinh vĩnh viễn” (Perpetual Virginity), “Thăng Thiên” (Assumption) hay “Đồng Công Cứu chuộc” (Co-redemptrix) v..v... Những danh hiệu này Giáo Hội Công giáo mới chỉ đặt ra mười mấy thế kỷ sau khi Mary chết và bắt các tín đồ phải tin, không tin thì không được lên thiên đường, tuy rằng chúng ta không thể tìm thấy những danh hiệu trên bất cứ ở đâu trong Tân Ước. Vì cái bánh vẽ “thiên đường” và huyền thoại “cứu rỗi” nên các tín đồ cứ nhắm mắt mà tin, bất kể là ngày nay Giáo hoàng John Paul II đã phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường như nền thần học của Công giáo đã dạy cho tín đồ, và huyền thoại “cứu rỗi” cũng đã không còn chỗ đứng trong thế giới ngày nay và nhiều chức sắc trong Ki Tô Giáo đã phải công nhận như vậy.
Để kết luận, tôi xin trích dẫn một đoạn trong cuốn nghiên cứu về nhân vật Mary trong Công giáo của Michael Jordan (Mary, Weidenfeld and Nicolson, London, 2001, trang 304), viết về những tín lý và đức tin trong Công giáo, nhất là về nhân vật Mary:
Tuy nhiên đức tin cũng cần phải có một mức độ đạo đức nào đó ngoài sự tin vào một nguyên lý trừu tượng. Đức tin cần được xây dựng trên sự tín nhiệm và tin tưởng, sự trung thực của những hứa hẹn lương thiện và thẳng thắn, nếu không thì đức tin đó có ích gì. Nếu đức tin đặt căn bản trên những lời nói láo, dối trá, và những mánh khóe có tính toán, thì nó trở thành không sao biện minh được và thực ra thì đó có thể gọi là đức tin hay không? Nếu chúng ta vẫn còn là đàn chiên quá ngu dốt và mê tín trong đó sự lừa dối về Mary đã bắt rễ và bóp méo để trở thành một “chân lý không thể sai lầm”, chúng ta có thể tự bào chữa là đã bị lùa vào trong đó. Nhưng ở bình minh của thế kỷ 21, nhiều người chúng ta không thể tự cho phép là ngu dốt hay mê tín, và đức tin bị che mắt của chúng ta phải mở rộng cho những phê bình nghiên cứu đứng đắn. Điều này đặc biệt đúng khi chúng ta biết rằng có sự tin mù quáng ở trong đó và cái hiểu của chúng ta về một Mary giả tưởng đã bị kiểm soát bởi những người đã nhân danh tôn giáo, quyết định bảo vệ quyền lợi và vị thế gia trưởng trong xã hội của mình.
Đức tin không đồng đều một cách phổ quát. Nhiều triệu tín đồ Công giáo, thí dụ như ở Nam Mỹ [có nên cho thêm Việt Nam vào cái thí dụ này không], phần lớn là ít học và đức tin của họ về Mary vẫn hầu như là đức tin mù quáng. Cũng có những người thuộc lớp có học thức cao ở trong giáo hội đã biết những mánh khóe lừa dối qui mô trong giáo hội nhưng vẫn chọn giải pháp duy trì sự tồn tại của chúng..
Hiển nhiên là hệ thống quyền lực bảo thủ Công giáo có lý do để nuôi dưỡng những huyền thoại về Mary và ủng hộ việc giữ nguyên hiện trạng của sự sùng tín Mary của họ. Giáo hội Công giáo La mã vẫn cương quyết duy trì tín lý về tội tổ tông gian lận lồng vào thế giới bởi người đàn bà đầu tiên, và tồn tại qua “tai họa của Eve”.
Khi thời gian mãn, tôi tin rằng hình ảnh Mary, mẹ của Giê-su Ki-tô, sẽ mờ đi. Chân dung của bà ta đã đem xuống cho chúng ta trên những cánh của một huyền thoại lâu đời nhưng ngay cả cái huyền thoại hay nhất trong các huyền thoại cũng phải mờ nhạt đi trong thời gian… Có thể có vài chi tiết lịch sử đúng về bà ta nhưng hầu hết chỉ là một chuyện hoang đường, một sự lừa dối thô thiển. Một phần là, chuyện hoang đường và lừa dối thô thiển này tồn tại để đáp ứng những tham vọng của một thiểu số.
[Yet faith also needs to involve some measure of morality beyond belief in a pure abstract principle. It needs to be built on trust and confidence, the fidelity of promises given honestly and openly, otherwise there is no point in having it. If faith is founded on lies, deceit and calculated manipulation, then it becomes impossible to justify and there even a question mark against whether it can reasonably be called faith. Were we still the largely ignorant and superstitious flock in whom the Marian deception first took root and in whom it became twisted into an “infallible truth”, we might have an excuse for being taken in by it. But at the dawn of the twenty-first century, many of us can no longer claim to be ignorant or superstitious and our blinkered faith becomes open to more serious criticism. This is particularly true when we know that bigotry is involved and that our understanding of a fictious Mary has been controlled by men with vested interests, determined to safeguard their own patriarchal social position in the name of religion.
Faith is not universally practised at the same level. Millions of Catholics, in South America for example, are largely uneducated and their faith in Mary remains almost a blind one. There are also ranks of highly educated men in the church who know the extent of the manipulation and deceit and choose to perpetuate it…
The conservative male hierarchy of Roman Catholicism clearly has reason to nurture the Marian myth and to support the status-quo in her cult. The Roman Catholic Church remains firmly committed to the dogma of original sin foisted on the world by the first woman, and perpetuated through “the curse of Eve”…
In the fullness of time, I believe that the image of Mary, the mother of Christ, will grow dim. Her portrait has been carried down to us on the wings of an enduring myth but even the best of myths tend to fade with the passage of time… She may be able to claim some element of historical truth but she is mostly a fable, a gross deception. In part, it has been perpetrated to suit the self-seeking demands of the few.]
ENJOY!!


07:01
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét