Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Phân tích đầu tư với các chỉ số

Những chỉ số có thể là những công cụ vô giá giúp bạn đưa ra những quyết định khôn ngoan trong đầu tư. Tuy vậy, rất nhiều nhà đầu tư phó mặc những quyết định của mình cho số phận định đoạt thay vì sử dụng các chỉ số. Trong bài viết này, chúng ta sẽ lần lượt xem xét các nhóm chỉ số và đưa ra ví dụ về một chỉ số dễ sử dụng trong mỗi nhóm chỉ số này.
Có rất nhiều loại chỉ số, nhưng trong tài chính chúng được chia thành bốn nhóm chính: Chỉ số về lợi nhuận, chỉ số về tính thanh khoản, chỉ số về khả năng thanh toán, và chỉ số định giá.
Những chỉ số về lợi nhuận
Lợi nhuận là một phần thông tin quan trọng mà bạn cần phân tích khi xem xét đầu tư vào một công ty, bởi vì chỉ doanh thu cao thì không đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư sẽ được chia cổ tức, hay giá cổ phiếu công ty đó sẽ tăng nếu như công ty chưa trừ đi các loại chi phí.
Những chỉ số về lợi nhuận cho ta biết khả năng kiếm được lợi nhuận của một công ty, cũng như những thông tin quan trọng khác về công ty đó.
Một ví dụ về một chỉ số lợi nhuận quan trọng là Lợi nhuận biên. Lợi nhuận biên được tính như sau:
                Lợi nhuận biên = Lợi nhuận ròng / Doanh thu
Nhìn chung, lợi nhuận biên của một công ty càng lớn thì càng tốt, nhưng với hầu hết các chỉ số, chỉ xem xét chỉ số ở hiện tại là chưa đủ. Việc so sánh chỉ số đó ở hiện tại với những mức trong quá khứ, so sánh với mức trung bình trên thị trường và với những đối thủ cạnh tranh là rất quan trọng.
Có một vài điều bạn cần lưu ý khi xem xét lợi nhuận biên, đặc biệt là với những công ty có lợi nhuận biên giảm trong nhiều năm. Điều này có thể là do điều kiện của thị trường, hay công ty đang phải chịu sự cạnh tranh lớn hơn hay chi phí cao hơn. Còn nếu lợi nhuận biên của một công ty cao hơn so với những công ty còn lại trong ngành thì bạn nên cố gắng tìm hiểu xem lí do tại sao.
Nếu một công ty có lợi nhuận biên quá thấp, điều này có thể hàm ý rằng công ty sẽ chuyển biến xấu nếu như điều kiện thị trường thay đổi. Còn một mức lợi nhuận biên quá cao so với ngành có thể nói lên rằng công ty có những sự dàn xếp hay những lợi thế mà có thể sẽ không lâu dài.
Những tỷ số lợi nhuận khác như Biên lợi nhuận hoạt độngBiên lợi nhuận gộp.
Những chỉ số về tính thanh khoản
Tính thanh khoản là một thước đo tốc độ chuyển đổi tài sản của công ty thành tiền mặt. Những chỉ số về tính thanh khoản có thể giúp nhà đầu tư biết được mức độ nhanh chóng của một công ty trong việc huy động tiền mặt để mua thêm tài sản hay trả nợ, trong trường hợp khẩn cấp hoặc trong điều kiện kinh doanh bình thường.
Hệ số vòng quay các khoản phải thu là một chỉ số về tính thanh khoản, đo lường khả năng thu hồi các khoản nợ của công ty.
Hệ số vòng quay các khoản phải thu được tính như sau:
                 Hệ số quay vòng các khoản phải thu = Doanh thu trả trước ròng / Các khoản phải thu trung bình
Chỉ số này cho biết số lần mà các khoản nợ phải thu từ khách hàng của công ty được thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu chia Hệ số quay vòng các khoản phải thu cho 365, ta sẽ được số ngày trung bình công ty nhận được thanh toán các khoản nợ phải thu, hay nói cách khác là số ngày từ khi công ty ghi nhận doanh thu trả trước cho đến lúc khách hàng thanh toán cho công ty bằng tiền mặt.
Hệ số quay vòng các khoản phải thu càng cao nghĩa là tốc độ thu hồi các khoản phải thu của công ty càng lớn (thanh khoản tốt), ngược lại chỉ số này thấp đồng nghĩa với việc các khoản nợ từ khách hàng được thanh toán chậm. Tương tự như các chỉ số khác, những thông tin do hệ số quay vòng các khoản phải thu cung cấp sẽ chẳng có giá trị gì nếu bạn không so sánh với chỉ số của ngành.
Một số chỉ số khác về tính thanh khoản như Hệ số quay vòng vốn lưu động, Hệ số quay vòng hàng tồn kho hay Hệ số quay vòng tiền mặt.
Những chỉ số về khả năng thanh toán
Những chỉ số về khả năng thanh toán được các nhà đầu tư sử dụng để xem xét về việc một công ty có thể thực hiện những nghĩa vụ tài chính của mình như thế nào và phát triển tài sản của công ty trong tương lai ra sao. Như bạn có thể thấy, một công ty chịu gánh nặng về nợ thì ít hấp dẫn các nhà đầu tư hơn so với một công ty có số nợ nhỏ hơn trong sổ sách.
Chỉ số Tổng nợ /Tổng tài sản được dùng để xác định xem bao nhiêu phần trong tổng tài sản của công ty được dùng vào việc trả nợ.
Tổng nợ / Tổng tài sản được tính toán như sau:
                  Tổng nợ / tổng tài sản = (Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn) / Tổng tài sản
Sử dụng chỉ số này để phân tích một công ty kết hợp với việc so sánh với chỉ số của ngành sẽ rất hữu ích. Sẽ là không thực tế nếu quyết định đầu tư vào một công ty trẻ và có tỷ số Tổng nợ / Tổng tài sản gần bằng 1(phần lớn tài sản có được là từ việc vay nợ), bởi công ty không có nhiều khả năng thanh toán số nợ của mình.
Theo quy tắc chung, con số này càng gần về 0 thì càng tốt, bởi điều đó có nghĩa là phần lớn tài sản có được không phải là từ việc vay nợ. Hãy nhớ rằng, chủ nợ là những người đầu tiên có quyền được chia tài sản của công ty nếu những tài sản đó bị buộc phải thanh lý. Và chỉ số này tùy thuộc vào từng ngành, với những ngành đòi hỏi nhiều vốn để hoạt động thì mức nợ tương đối sẽ cao hơn.
Một số chỉ số về khả năng thanh toán như Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ (còn gọi là Hệ số khả năng thanh toán lãi vay), Dòng tiền tự do (FCF).
Những chỉ số về định giá
Những chỉ số về định giá được dùng để phân tích mức độ hấp dẫn đầu tư của một công ty. Bằng cách sử dụng những chỉ số này, các nhà đầu tư có thể biết được giá cổ phiếu hiện tại của một công ty là đắt hay rẻ. Nói chung, giá cổ phiếu một công ty càng rẻ thì càng thu hút đầu tư.
Chỉ số Giá trên thu nhập (P/E) là chỉ số định giá phổ biến nhất, so sánh giá thị trường của cổ phiếu một công ty với thu nhập bình quân trên một cổ phần mà doanh nghiệp phải trả cho nhà đầu tư. Một cách hiểu đơn giản về P/E là nó là một chỉ số tốt thể hiện sự kì vọng của nhà đầu tư vào khả năng sinh lợi trong tương lai của công ty. Giá thị trường của cổ phiếu là mức giá mà một người sẵn lòng trả để có được phần thu nhập từ một cổ phiếu nhất định.
Chỉ số P/E được tính như sau:
                  P/E = Giá thị trường một cổ phiếu / Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS)
Nên so sánh chỉ số P/E hiện tại của một công với các mức của chỉ số này trong quá khứ, cũng như với chỉ số P/E của các đối thủ cạnh tranh và của toàn ngành. Về cơ bản, chỉ số này cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả bao nhiêu để có được 1 đồng thu nhập từ một công ty nào đó. Chỉ số càng cao, các nhà đầu tư càng sẵn lòng trả nhiều tiền hơn. Nhưng cũng đừng nghĩ rằng chỉ số P/E của một công ty càng cao nghĩa là cổ phiếu công ty đó bị bán với giá quá đắt, bởi vì mỗi ngành sẽ có một chỉ số P/E khác nhau. Vì vậy ta không nên so sánh P/E giữa các ngành với nhau.

Một số chỉ số định lượng khác như chỉ số Giá trên giá trị sổ sách (P/B), chỉ số Giá trên doanh thu (P/S) và chỉ số Giá trên dòng tiền (P/CF).
Những điều bạn cần biết
Chỉ số là những công cụ giúp so sánh những công ty với nhau. Chúng có thể được dùng để đánh giá một cổ phiếu này với một cổ phiếu khác ở cùng một ngành. Tương tự, những chỉ số cũng có thể được dùng để đánh giá một công ty ở hiện tại với quá khứ. Tuy nhiên, một điều quan trọng cần phải nhớ là khi dùng các chỉ số để phân tích, thì việc so sánh phải có ý nghĩa. Thật vô nghĩa khi bạn dùng chỉ số P/E hay những chỉ số về lợi nhuận để so sánh một công ty dệt may với một công ty phần mềm, và sự so sánh này sẽ chẳng giúp bạn rút ra được kết luận nào có giá trị về những công ty này.

Những thông tin cần thiết để tính toán các chỉ số có thể dễ dàng tìm thấy trong những bản báo cáo tài chính của một công ty (có thể tìm thấy trên website của công ty hay ở các trang web chứng khoán). Khi đã có những dữ liệu thô, bạn có thể sử dụng chúng trong việc phân tích tài chính và khiến chúng làm việc cho bạn.
Mọi người đều muốn cạnh tranh khi đầu tư nhưng một trong những công cụ hữu ích nhất lại thường xuyên bị hiểu sai hay bị bỏ quên bởi những người mới đầu tư. Khi bạn biết được cách khai thác thông tin từ các chỉ số, cũng như biết tìm những thông tin để tính toán chúng ở đâu, thì chẳng có lý do gì bạn lại không sử dụng chúng để làm việc theo ý của bạn.
Nguồn: investopedia.com
Bùi Thanh Tùng

0 nhận xét:

Đăng nhận xét