Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013
Tập quyền XHCN: một học thuyết đã lỗi thời?
1. Tập quyền và phân quyền: Hai phương thức cơ bản tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước
Quyền
lực nhà nước luôn gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài
người. Theo Will Durant trong cuốn Nguồn gốc văn minh (Bản dịch Nguyễn
Hiến Lê, Nxb. Văn hoá thông tin, năm 2006) thì trong các xã hội sơ đẳng,
khi các cộng đồng xã hội tỏ ra quá yếu ớt, bạc nhược, dễ bị tổn thương
trước những thách thức của tự nhiên và các kẻ thù xã hội khác thì con
người bắt đầu hợp quần, liên kết, thống nhất, đoàn kết lại để thực hiện
các hoạt động chung mang tính chất cộng đồng, xã hội từ đó được tổ chức
theo một trật tự nhất định trên cơ sở ý chí, nguyện vọng chung của cả
cộng đồng đó. Người đứng đầu của mô hình này là những thủ lĩnh, tù
trưởng, tộc trưởng, giáo trưởng và đây chính là phương thức hình thành quyền lực xã hội.
Tuy nhiên, khi kinh tế - xã hội phát triển đến một trình độ nhất định,
trong xã hội xuất hiện người giàu, kẻ nghèo, quan hệ giai cấp và đấu
tranh giai cấp xuất hiện cùng mới một loại quyền lực mới: quyền lực chính trị với mục tiêu là duy trì, bảo đảm sự thống trị của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quyền lực nhà nước
là một dạng đặc biệt của quyền lực chính trị, là năng lực hành động
chính trị của giai cấp cầm quyền nhằm hiện thực hoá lợi ích của mình
trên cơ sở đảm bảo ở mức độ nhất định việc thực hiện lợi ích chung của
xã hội. Có thể nói, kể từ khi quyền lực nhà nước được xác lập, con người
luôn tìm kiếm cách thức sử dụng quyền lực để quyền lực được tổ chức và
thực thi có hiệu quả cao nhất. Trong thực tế, quyền lực nhà nước luôn
gắn liền với bộ máy thực thi, nếu không có bộ máy đó thì quyền lực nhà
nước không thể tồn tại. Các cơ quan nhà nước chính là sự thể hiện vật
chất của quyền lực nhà nước. Mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và bộ
máy nhà nước là mối quan hệ của cặp phạm trù nội dung - hình thức.
Trong
lịch sử văn minh nhân loại, có hai dòng học thuyết chính thể hiện tư
tưởng, nguyên tắc, phương thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước là
học thuyết về tập quyền và học thuyết về phân quyền. Học thuyết phân
quyền được xây dựng nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán với tư duy
quyền lực nhà nước cần phải được phân chia thành những nhóm độc lập với
nhau, kiềm chế và đối trọng lẫn nhau, không có một cơ quan nào nắm giữ
toàn bộ quyền lực nhà nước. Trái với lý thuyết phân quyền, lý thuyết tập
trung quyền lực cho rằng quyền lực nhà nước là thống nhất và không thể
phân chia. Quyền lực thống nhất ở nguồn gốc và bản chất của nó là xuất
phát từ nhân dân. Quyền lực nhà nước phải được tập trung đủ mức mới tạo
ra đủ sức mạnh, đảm bảo cho xã hội hoạt động một cách bình thường, ổn
định cũng như đảm bảo quan hệ hài hoà, chặt chẽ giữa các cơ quan nhà
nước. Điều này còn được thể hiện ở chỗ quyền lực nhà nước là thống nhất
thuộc về nhân dân và được tập trung ở cơ quan đại diện cao nhất của nhân
dân. Việc phân chia quyền lực sẽ mâu thuẫn với yêu cầu dân chủ: toàn bộ
quyền lực thuộc về nhân dân. Ở giữa hai thái cực này là mô hình hỗn
hợp, trong đó thể hiện sự kết hợp, dung hoà giữa hai học thuyết. Trong
thực tế, mỗi học thuyết đều có những giá trị lý luận và thực tiễn của
riêng mình: Tập trung thống nhất quyền lực khẳng định giá trị chủ quyền
tối thượng của nhân dân, phân quyền tạo ra tính chuyên nghiệp trong hoạt
động của các cơ quan nhà nước, làm cho quyền lực nhà nước được kiểm
soát và không bị tha hoá.
Trong thực tế, các học thuyết về tập quyền và phân quyền có thể được hiểu theo cấu trúc chiều dọc hoặc chiều ngang. Theo cấu trúc chiều ngang,
tập quyền phản ánh sự thống nhất của các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp vào một cơ quan hay một cá nhân còn phân quyền được phản ánh ở
sự phân lập giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp rồi trao cho
các cơ quan khác nhau. Hỗn hợp là sự phản ánh nguyên tắc thống nhất
quyền lực đồng thời có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo cấu trúc chiều dọc,
tập quyền được hiểu là sự tập trung quyền lực vào trung ương, còn địa
phương chỉ là thực thể thực hiện quyền lực từ trung ương. Phân quyền
được hiểu là sự phân định tương đối rõ ràng giữa quyền lực trung ương và
địa phương. Hỗn hợp là sự kết hợp giữa tập trung quyền lực vào trung
ương với phân cấp có giới hạn những quyền hành nhất định cho địa phương
để quản lý lãnh thổ thông qua nhiều hình thức khác nhau như tản quyền,
uỷ quyền, trao quyền.
Bài
viết này sẽ tập trung phân tích phương thức tổ chức và thực thi quyền
lực nhà nước theo chiều ngang, đặc biệt là sự nguồn gốc, sự hình thành
và cơ sở chính trị của học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa và quá
trình tiếp nhận, thích ứng và phát triển học thuyết này tại Việt Nam.
Các phân tích, đánh giá về tổ chức và thực thi quyền lực theo chiều dọc
được đặt tại phần phụ lục để độc giả tham khảo, có cái nhìn toàn diện
và sâu sắc hơn về các học thuyết này.
2. Học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa
Theo
Will Durant, trong thời sơ khai, các quốc gia được hình thành trên hai
cơ sở chính: sự hình thành chế độ tư hữu và các cuộc chiến tranh, cướp
bóc triền miên giữa các bộ tộc, bộ lạc. Chế độ tư hữu đã phá bỏ những xã
hội sơ khai, thuần nhất, đồng đều để tạo ra một xã hội có người giàu,
kẻ nghèo với đủ các giai cấp, tầng lớp và quốc gia đã ra đời để làm
trọng tài giữa các giai cấp. Có thể nói, chức năng cơ bản của quốc gia
thời sơ khai là giữ được sự yên ổn bên trong nội bộ và chiến đấu với
ngoại quốc, chống lại sự hỗn loạn của chiến tranh thời nguyên thuỷ. Để
đưa dân tộc, quốc gia của mình phát triển, tránh khỏi quy luật tự nhiên
tàn nhẫn trong lịch sử là loại trừ các dân tộc yếu ớt và bạc nhược,
trong thời sơ khai, thủ lĩnh của mỗi quốc gia phải nắm đủ ba quyền: tướng lãnh, tộc trưởng và giáo trưởng.
Có thể nói, tập quyền với ý nghĩa sơ khai của nó, đã là nguyên tắc chủ
đạo trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của mọi quốc gia từ thuở
khai thiên lập địa.
Trong
lịch sử văn minh nhân loại, tập quyền đã trải qua nhiều giai đoạn phát
triển của xã hội với nhiều biểu hiện và biến thể khác nhau. Tập quyền
chuyên chế phong kiến là nơi thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp vào cá nhân hoàng đế với sự hỗ trợ đắc lực của niềm tin tôn giáo
rằng quyền hành của hoàng đế là “thiên mệnh”. Chế độ tập quyền toàn trị
phát xít với biểu hiện là chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật với lý thuyết
kích động tinh thần dân tộc cực đoan. Chế độ tập quyền độc tài mà phổ
biến là độc tài quân sự, thông thường được hình thành sau những khủng
hoảng, sụp đổ của các thể chế dân chủ như chế độ Pinôche ở Chilê
(1973-1990), Apacthai tại Nam Phi…
Tư
tưởng về chế độ tập quyền xã hội chủ nghĩa được hình thành trên nền
tảng của yêu cầu xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản trong học thuyết
của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chuyên chính vô sản được hiểu là sự thống trị
của giai cấp công nhân, do cách mạng xã hội chủ nghĩa sản sinh ra và có
sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đưa nhân dân lao động lên
địa vị làm chủ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội trong một xã hội
cao hơn chủ nghĩa tư bản. Thuật ngữ “chuyên chính vô sản” chính thức ra
đời năm 1850 và Công xã Pari được coi là hình thức thứ nhất, là hiện
thực đầu tiên và Xôviết là hình thức thứ hai của nhà nước chuyên chính
vô sản.
Trong
các tác phẩm nghiên cứu của mình, qua phân tích bộ máy nhà nước tư sản,
C.Mác và Ph.Ăngghen đã mạnh mẽ phê phán nguyên tắc phân quyền mà các
triết gia pháp quyền tư sản vẫn thường ngợi ca. Theo các ông, đây chỉ là
một sự phân công lao động bình thường trong công nghiệp, được vận dụng
vào bộ máy nhà nước nhằm mục đích đơn giản hoá và kiểm soát. Qua sự so
sánh hai thế lực của quyền lập pháp và quyền hành pháp, C. Mác cho rằng
quyền hành pháp có ưu thế vượt trội, lấn át, lũng đoạn và là một quyền
lực vô địch. Bộ máy hành pháp với những lực lượng vật chất hùng mạnh
trong tay luôn gắn chặt với lợi ích vật chất và chính trị của giai cấp
tư sản. Cơ quan lập pháp bị yếu thế hơn vì nó không nắm được bộ máy quan
chức, không có quyền phân phối ghế bộ trưởng, không nắm các công cụ và
phương tiện vật chất trong tay. Các dự luật do cơ quan hành pháp đề xuất
và trình Nghị viện ban hành thực chất chính là ý chí của cơ quan hành
pháp, Nghị viện chỉ là nơi thông qua có tính hình thức. Từ đó, C.Mác cho
rằng Nghị viện chỉ là nơi bàn cãi suông, toà án chỉ độc lập giả dối,
còn toàn bộ quyền lực tập trung ở cơ quan hành pháp. Định hướng cho các
cuộc cách mạng của giai cấp vô sản, C. Mác đã nhận định: Quyền hành pháp, bộ máy chính quyền nhà nước phải là đối tượng chủ yếu và duy nhất của những cuộc tấn công của cách mạng.
Do bộ máy hành pháp kiểm soát, chỉ huy và bảo vệ xã hội và công dân từ
những biểu hiện sinh hoạt rộng lớn nhất cho đến những phương thức chung
nhất của họ và cả đời sống riêng tư của các cá nhân nên quyền hành pháp phải thuộc về toàn thể nhân dân.
Từ
nghiên cứu và phân tích về Công xã Pari - hiện thực đầu tiên của nhà
nước chuyên chính vô sản, C.Mác đã chỉ ra rằng Công xã là một chính
quyền của giai cấp công nhân, là công cụ xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản và
là mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước kiểu mới. Hội đồng công
xã là cơ quan tối cao của nhà nước có vai trò lập pháp và tổ chức 10 uỷ
ban chịu trách nhiệm về hành pháp. Đứng đầu mỗi uỷ ban này là một uỷ
viên Hội đồng công xã. Công xã không phải là một cơ quan đại nghị mà là một cơ quan công tác vừa lập pháp, vừa hành pháp, mọi quyền lực nhà nước đều tập trung vào công xã.
Công xã có quyền chủ động trong tất cả những lợi ích chung và những lợi
ích quốc dân. Mô hình công xã Pari là biểu hiện của thiết chế thực sự
dân chủ và là một hình thức tổ chức chính trị hết sức linh hoạt. Bí
quyết thực sự của công xã là về thực chất nó là một chính phủ của giai
cấp công nhân, là hình thức chính trị để thực hiện việc giải phóng lao
động về mặt kinh tế. Công xã là một tổ chức chính quyền hành động thật sự, kết hợp lập pháp và hành chính
chứ không phải là nơi nói xuông theo kiểu nghị viện trong nền cộng hoà
đại nghị tư sản. Từ đó, C.Mác đã đưa ra quan điểm mới cho rằng quyền lực nhà nước là thống nhất và nó phải tập trung về tay nhân dân.Theo cách thức thực hiện quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia, C.Mác đã đưa ra mô hình Công xã Pari với tổ chức bộ máy thực hiện tất cả các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Bộ máy này được tổ chức thành một mạng lưới từ trung ương đến địa
phương và hoạt động theo cơ chế tự quản với nguyên tắc dân chủ và công
khai.
Nhất
trí với quan điểm của C.Mác và tiếp tục phát triển quan điểm quyền lực
nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, V.I.Lênin khẳng định yêu
cầu cần xây dựng một bộ máy vững mạnh thích ứng được với mọi sự biến
đổi. Muốn ứng biến một cách mềm dẻo thì bộ máy phải cứng rắn và hoàn toàn phục tùng chính trị. Thành phần tổ chức bộ máy phải đảm bảo được việc đông đảo quần chúng kiểm tra được mọi công việc nhà nước.
Từ đó, ông đã tiếp tục vận dụng một cách sáng tạo quan điểm này vào quá
trình tổ chức bộ máy nhà nước kiểu mới ở Nga sau khi giai cấp vô sản
giành chính quyền với chủ trương: Phế bỏ chế độ đại nghị - chế độ
tách rời công tác lập pháp và công tác hành pháp, hợp nhất công tác lập
pháp và hành pháp của nhà nước lại. Hợp nhất công tác quản lý và công
tác lập pháp. Từ đó, V.I. Lênin đã lãnh đạo Đảng cộng sản Nga thành
lập chính phủ công nông với tên gọi thể hiện khá đầy đủ nguyên tắc này:
Hội đồng bộ trưởng dân uỷ, trong đó các uỷ ban chuyên môn quản lý các
ngành khác nhau trong sinh hoạt của nhà nước. Hoạt động của các Bộ
trưởng dân uỷ do các Xôviết đại biểu của nhân dân lao động giám sát. Các
xôviết là cơ quan đại diện của chính quyền nhà nước tập trung trong tay
quyền lập pháp, kiểm soát việc chấp hành các luật lệ, đồng thời trực
tiếp thực hiện các luật lệ thông qua tất cả các uỷ viên của các xôviết.
Tuy nhiên, điểm sáng tạo của Lênin trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà
nước là ở chỗ: các cơ quan trong bộ máy nhà nước có sự phân công, phối
hợp để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Từ
những di sản lý luận của các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác -Lênin,
chúng ta có thể đưa ra những nét cơ bản của học thuyết tập quyền xã hội
chủ nghĩa như sau: Để đảm bảo xây dựng nhà nước chuyên chính mà hạt nhân
của nó là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, người dân là người chủ
thực sự trên tất các các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, quyền lực
nhà nước là thống nhất và được tập trung ở cơ quan đại diện cao nhất
của nhân dân (Xô viết tối cao hay Quốc hội). Việc tập trung quyền lực
nhà nước vào cơ quan đại diện của nhân dân đã làm cho quyền lực bảo đảm
tính thống nhất của nó. Các cơ quan khác của nhà nước chỉ là cơ quan
phái sinh do cơ quan quyền lực cao nhất thành lập và phải chịu sự kiểm
tra, giám sát tối cao của cơ quan đó. Ở đây không có sự phân chia quyền
lực cũng như không có sự kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực.
Tính chịu trách nhiệm và luôn bị giám sát bởi cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất và nhân dân chính là cơ sở để đảm bảo cho quyền lực nhà
nước không bị tha hoá.
3. Quá trình hình thành bản thể văn hoá chính trị mới và việc áp dụng học thuyết tập quyền XHCN tại Việt Nam
Sau
hơn một nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng vang dội trên sông Bạch
Đằng năm 938, các thiết chế chính trị tự chủ đầu tiên của Việt Nam đã
từng bước được hình thành và ổn định. Sự kiện Đinh Bộ Lĩnh thống nhất
đất nước, xưng là Hoàng đế với quyền chủ tể và đặt tên hiệu nước là Đại
Cồ Việt năm 968 đã mở đầu sự tồn tại của chế độ quân chủ hàng trăm năm
Việt Nam, cho đến khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp từ năm 1884.
Theo đánh giá, đặc trưng thiết chế chính trị thời kỳ nhà Đinh - Tiền Lê
thực chất là mô hình tập quyền quân sự thiếu tính bền vững, chủ
yếu dựa vào lực lượng quân sự và hình phạt hà khắc, chỉ có tác dụng nhất
thời trong hoàn cảnh chiến tranh hoặc trong tình trạng đất nước bị đe
doạ nghiêm trọng trước nguy cơ ngoại xâm.
Trong
giai đoạn nhà Lý - Trần, các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp
không tách rời nhau và đều đặt dưới quyền tối cao của Hoàng đế. Mô hình tập quyền thân dân
- quyền lực tập trung vào tay Hoàng đế nhưng quyền lực của Hoàng đế và
triều đình phải dựa trên sự ủng hộ của nhân dân. Quân đội không còn là
chỗ dựa duy nhất mà chính quyền trung ương đã tập trung khai thác mọi
yếu tố thuận lợi nằm ngay trong nền tảng kinh tế - xã hội Việt Nam. Các
quy định pháp luật khá khoan hoà với sự hỗ trợ, nâng đỡ của các giáo lý
Phật giáo. Đặc trưng nổi bật của thiết chế tập quyền thân dân là sự hoà
đồng trong nội bộ giới cầm quyền, trong nội bộ làng xã và giữa chính
quyền với làng xã. Chính sách đoàn kết với các dân tộc thiểu số sống chủ
yếu ở vùng biên viễn được quan tâm và phát triển nhằm cố kết các cộng
đồng dân cư trong một quốc gia đa dân tộc. Chức năng giám sát quyền lực ở
dạng sơ khai nhằm giúp hạn chế những quyết định cực đoan, thiếu sáng
suốt của Hoàng đế cũng đã xuất hiện với chức quan Gián nghị đại phu.
Mô hình tập quyền quan liêu
được xây dựng và phát triển từ đời Lê sơ với những đặc trưng cơ bản về
một hệ thống cai trị bao gồm tổ chức bộ máy, hệ thống giám sát và hệ
thống pháp luật khá hoàn bị, vai trò và quyền lực của Hoàng đế được tăng
cường, củng cố thêm một bước. Chính quyền trung ương quản lý đất nước
thông qua các bộ và cơ quan chức năng. Đội ngũ quan lại được đào tạo và
trả lương theo hướng chuyên nghiệp, vai trò của pháp luật trong quản lý
xã hội được đề cao. Bộ máy hành chính được thiết lập đến tận cấp xã,
từng bước hạn chế thiết chế tự quản của làng xã. Ngoài ra, nhà nước còn
có quyền lực kinh tế to lớn do đã trực tiếp quản lý ruộng đất.
Mô hình tập quyền chuyên chế
được hình thành khi triều Nguyễn được thành lập vào năm 1802. Hoàng đế
là vị nguyên thủ tối cao của cơ quan hành pháp, là người đứng đầu cơ
quan lập pháp, đồng thời nắm quyền tư pháp tối cao và độc quyền đối
ngoại. Để tập trung cao độ quyền lực vào tay Hoàng đế, nhà Nguyễn đã đặt
ra quy định “tứ bất”: Không ban tước vương để ngăn chặn sự can thiệp
của hoàng tộc vào triều chính, không lập hoàng hậu để ngăn ngừa nguy cơ
quyền lực có thể bị thao túng bởi dòng họ khác, không lập tể tướng, chức
năng đứng đầu các quan này được trao cho một cơ quan là Cơ mật viện chứ
không do một người thao túng và không lấy trạng nguyên nhằm ngăn chặn
ảnh hưởng của những người bằng uy tín và đặc quyền được triều đình ban
cho chi phối xã hội bằng giáo dục, tư tưởng, văn hoá và các quan niệm
chính trị cá nhân.
Cuộc
khủng hoảng về bản thể văn hoá chính trị truyền thống ở Việt Nam diễn
ra trong nửa sau thế kỷ 19, kể từ năm 1858 khi liên quân Pháp - Tây Ban
Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Phong trào Cần Vương mà trong đó người dân
Việt Nam đã nổi dậy với tư cách là thần dân để chống giặc ngoại xâm
nhằm khôi phục bản thể chính trị cũ thất bại và đây có thể được coi là
sự trỗi dậy cuối cùng của nền văn hoá chính trị và bản thể chính trị Nho
giáo. Thất bại của phong trào Cần Vương cũng là mốc đánh dấu sự phá sản
hoàn toàn của bản thể chính trị cũ - chế độ quân chủ dựa trên nền tảng
Nho giáo. Việc tìm kiếm một bản thể văn hoá chính trị mới để giúp cộng
đồng dân tộc tìm ra một phương sách khôi phục nền độc lập, tự chủ đã
được đặt ra vô cùng cấp bách và điểm khởi đầu của cuộc tìm kiếm đó chính
là sự phê phán có hệ thống đối với nền văn hoá chính trị cũ dựa trên
nền tảng Nho giáo. Nguyễn Trường Tộ là nhân vật điển hình khi ông gay
gắt chỉ ra những hạn chế to lớn của Nho học, coi đây là nguyên nhân căn
bản nhất của tình trạng lạc hậu, yếu hèn của đất nước.
Đến
đầu thế kỷ 20 các phong trào yêu nước Việt Nam đã mang lại những nhận
thức hoàn toàn mới về quyền uy, thể chế chính trị và đặc biệt là vai trò
chính trị của người dân, quốc dân đối với sự hưng vong của dân tộc.
“Quốc dân” phải có đủ năng lực để chủ động tham gia vào quá trình chính
trị và nắm lấy vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước. Quyền lực chính trị
không còn nằm trong tay “chúa thánh, tôi hiền” mà nằm trong tay của
“dân” như tư tưởng của Phan Bội Châu: “Người dân ta, của dân ta/ Dân là
của nước, nước là của dân”. Từ năm 1925 đến năm 1945, việc tiếp thu chủ
nghĩa cộng sản đã đưa phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam phát triển
lên một bước mới. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc cũng đã
chỉ ra rằng: Cách mạng là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc
một hai người. Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 đã khẳng định bản thể
văn hoá chính trị mới của Việt Nam, đó là bản thể chính trị cộng sản và
bản thể giai cấp của nền văn hoá đó.
Cùng
với chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa cũng
đã được du nhập và ứng dụng trong quá trình xây dựng tổ chức bộ máy nhà
nước tại Việt Nam. Qua các bản Hiến pháp, chúng ta có thể thấy rõ tính
chất nhân dân của các nhà nước cách mạng, nguyên tắc quyền lực nhà nước
là thống nhất và thuộc về nhân dân và vai trò của Quốc hội với tư cách
cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực cao nhất. Trong thực tế, thống nhất
quyền lực không phải thực hiện bằng phương cách biến cơ quan đại diện
thành một tập thể hành động như định nghĩa nguyên thuỷ của nó mà biến cơ
quan đại diện thành một cơ quan tối cao so với các cơ quan còn lại.
Thống nhất quyền lực được bảo đảm bằng sự tập trung quyền lực về Quốc
hội. Tập quyền xã hội chủ nghĩa với nhận thức như trên đã được xem là
nền tảng lý luận cho việc tổ chức chính quyền Việt Nam từ Hiến pháp năm
1959 đến Hiến pháp năm 1980.
4. Học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa và một số nhận thức về kiểm soát quyền lực tại Việt Nam
Trong
một thời gian dài, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đã giúp nhà
nước ta làm tốt chức năng của một “nhà nước kháng chiến”, quyền lực nhà
nước được bảo đảm tập trung, các quyết định và việc thực thi quyền lực
được bảo đảm nhanh chóng, thống nhất. Nhưng khi đất nước ta bước sang
giai đoạn đổi mới, hệ thống chính trị chuyển từ hệ thống chuyên chính vô
sản sang hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc này cũng đã
bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Đó là sự thiếu phân định giữa ba quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp, là sự phủ nhận tính độc lập tương đối của
các quyền, là thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực với quyền lập pháp, từ đó
tiềm ẩn nguy cơ lạm dụng quyền lực từ phía các cơ quan nhà nước được
trao quyền.
Kể
từ Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cho đến nay, với việc
công nhận các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và yêu cầu phân công,
phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các quyền này, một số nhà nghiên cứu
gần đây đã cho rằng học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa đã bị suy yếu
nhiều khi Việt Nam công nhận các quyền và yêu cầu phân công các quyền -
hạt nhân của học thuyết phân quyền. Đến nay, Đảng Cộng sản tiếp tục
khẳng định yêu cầu phân công, phối hợp, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu kiểm
soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Yêu cầu này là sự
công nhận một hạt nhân hợp lý khác trong học thuyết phân quyền là kiểm
soát giữa các quyền. Từ những nhận thức nói trên, một số nghiên cứu đã
cho rằng học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa chỉ phù hợp với thiết kế
tổ chức bộ máy trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và đã lạc hậu so
với yêu cầu xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa tại Việt Nam.
Một
số nghiên cứu khác lại cho rằng nhận thức truyền thống đồng nhất tính
thống nhất quyền lực với tập quyền, đề cao vai trò của Quốc hội với tư
cách là cơ quan quyền lực cao nhất, các cơ quan hành pháp, tư pháp chỉ
là cơ quan cấp dưới của Quốc hội, nhận quyền từ Quốc hội là một nhận
thức sai lệch về bản chất. Lập luận này cho rằng thông qua Hiến pháp,
các chế định về Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân,
Viện Kiểm sát nhân dân đều là những cơ quan được nhân dân uỷ quyền. Quốc
hội là cơ quan quyền lực cao nhất không có nghĩa là Quốc hội là cơ quan
duy nhất nhận sự uỷ quyền để từ đó tiếp tục uỷ quyền lại cho Chủ tịch
nước, Chính phủ…Về mặt lý luận, các cơ quan này đều nhận uỷ quyền từ cả
phía nhân dân và uỷ thác từ Quốc hội, do đó, không có cơ sở để coi Quốc
hội là “cơ quan mẹ” như hiện nay. Để thực hiện chức năng kiểm soát, một
số nghiên cứu cho rằng việc coi Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất
là không phù hợp với tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp,
không có quyền nào “cao” hơn quyền nào, không có quyền nào “mạnh” hơn
quyền nào, các quyền đều phải mạnh và quan trọng như nhau, mỗi nhánh
quyền lực cần phải có một vị thế độc lập tương đối, từ đó mới tạo ra cơ
chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực.
Có
thể nói, yêu cầu về kiểm soát quyền lực tại Việt Nam chỉ có thể được
nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc khi chúng ta có sự nhận thức đầy
đủ và rõ ràng về học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa và giá trị của nó
trong nền chính trị Việt Nam. Tuy nhiên, dường như nhận thức về vấn đề
tập trung và phân quyền tại Việt Nam còn bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm và
mô hình truyền thống của Xôviết dẫn đến những cách hiểu phiến diện,
chưa đầy đủ, thống nhất thậm chí là trái ngược nhau. Điều đó dẫn đến một
thực trạng là các học thuyết về tập trung và phân quyền ở nước ta bị áp
dụng một cách lúng túng, sai lệch, hiệu quả của việc sử dụng quyền lực
chưa cao. Trong thực tiễn cuộc sống, hai học thuyết tập quyền và phân
quyền hoàn toàn không có tính tuyệt đối hay loại trừ lẫn nhau. Vấn đề ở
đây không phải là lý thuyết tập trung quyền lực hay lý thuyết phân chia
quyền lực là tốt hay xấu mà là cách thức vận dụng cho phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia, từng hệ thống chính trị.
Tập
quyền xã hội chủ nghĩa là một học thuyết của Chủ nghĩa Mác - Lênin với
những hạt nhân hợp lý bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, góp
phần bảo đảm chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận
và phát triển của đất nước ta. Yêu cầu tiếp tục duy trì, áp dụng học
thuyết này với một số biện pháp khắc phục những hạn chế bất cập cố hữu
của nó khi đất nước tiếp tục thực hiện đổi mới đã được thể hiện khá rõ
trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Để bảo đảm mối
quan hệ hài hoà giữa ổn định và đổi mới, câu trả lời thấu đáo và thoả
đáng cho việc thành lập tổ chức bảo vệ hiến pháp hay xây dựng các cơ chế
kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp cho phù hợp với thể chế chính trị và tình hình thực tiễn
tại Việt Nam đòi hỏi chúng ta không áp dụng một cách máy móc cơ chế
“kiềm chế và đối trọng”, “lấy tham vọng để kiềm chế tham vọng” của học
thuyết phân quyền mà trước tiên, cần phải có một chủ thuyết rõ ràng với
nhận thức thống nhất về các giá trị của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ
nghĩa tiếp tục được duy trì trong đời sống chính trị tại Việt Nam hiện
tại và tương lai.
Ths Luật so sánh Nguyễn Xuân Tùng
Trưởng phòng Công tác cán bộ Vụ TCCB
Tài liệu tham khảo:
1.
Viện Chính trị học Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh: Chính trị học-Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị -
hành chính, năm 2009.
2.
Khoa Chính trị học Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia khu vực I:
Chính trị học-một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc
gia, năm 2010.
3.
Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn
khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội
khoa học, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008.
4. PGS.TS. Lê Minh Quân: Tư tưởng chính trị của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009.
5.
GS.TSKH. Vũ Minh Giang (chủ biên): Những đặc trưng cơ bản của bộ máy
quản lý đất nước và hệ thống chính trị nước ta trước thời kỳ đổi mới,
Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008.
6. Phạm Hồng Tung: Văn hoá chính trị và lịch sử dưới góc nhìn của văn hoá chính trị, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008.
7.
Ths. Trần Thị Kim Cúc: Tìm hiểu di sản lý luận của các nhà kinh điển
Chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009.
8.
Nguyễn Cửu Việt: Khái niệm tập quyền, tản quyền và phân quyền, Tạp chí
Khoa học (luật học) Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 26, số 4 năm 2010.
9. Học viện Hành chính quốc gia: Giáo trình Quản lý và phát triển tổ chức hành chính nhà nước, Nxb. Đại học quốc gia, năm 2004.
10. Will Durant: Nguồn gốc văn minh (Nguyễn Hiến Lê dịch), Nxb. Văn hoá thông tin, năm 2006.


14:11
Hoàng Phong Nhã
0 nhận xét:
Đăng nhận xét