Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014
[George Soros] - Thuyết phản hồi : Cách đọc suy nghĩ của Mr. Market
“Phân tích cơ bản tìm cách để nhận biết giá trị nền
tảng được phản ánh như thế nào trong giá cổ phiếu, trong khi Thuyết phản
hồi lại giải thích giá cổ phiếu ảnh hưởng đến giá trị nền tảng như thế
nào. Một bên đưa ra bức tranh tĩnh, một bên đưa ra bức tranh động.”
Vào năm 1949 – sau khi rời khỏi Hungary hai năm trước đó - George Soros
đã theo học tại Học viện Kinh tế - Chính trị London (London School of
Economics - LSE) để nghiên cứu kinh tế và chính trị của quốc tế. LSE là
một điểm nóng của chủ nghĩa xã hội, không khác gì với hầu hết các trường
đại học khác tại thời điểm đó.
Nhưng LSE là cũng là nơi hai nhà tư tưởng lỗi thời, thị trường tự do
kinh tế của Friedrich von Hayek và nhà triết học Karl Popper. Soros được
theo học từ cả hai, nhưng Popper đã trở thành người thầy và có ảnh
hưởng lớn đến cách nhìn nhận cuộc sống của ông.
Popper định hình cho Soros một khuôn khổ trí tuệ và tư duy mà sau đó
Soros phát triển thành cả hai triết lý đầu tư và cũng là phương pháp đầu
tư của ông. Trong những ngày sinh viên của mình, mục tiêu của Soros là
trở thành một học giả, một nhà triết học. Ông bắt đầu viết một cuốn sách
mà ông gọi là “The Burden of Consciousness” (Gánh nặng của ý thức). Chỉ
khi ông nhận ra mình chỉ “nhai lại” triết lý của Popper và cuối cùng
ông đã đặt tất cả những triết lý đó sang một bên và chuyển sang sự
nghiệp tài chính. Kể từ đó, ông đã xem các thị trường tài chính như một
phòng thí nghiệm nơi ông có thể thử nghiệm những ý tưởng triết học của
mình.
Soros xem việc vật lộn với câu hỏi triết học là việc làm mà ông coi là một khám phá quan trọng của tri thức:
"Tôi đi đến kết luận rằng, về cơ bản tất cả các quan điểm của chúng ta
về thế giới bằng cách nào đó nó là thiếu sót hoặc bị bóp méo, và sau đó
tôi tập trung vào tầm quan trọng của sự biến dạng này trong việc định
hình các sự kiện."
Với cách nhìn nhận đó về thị trường, Soros đã kết luận: "Tôi có thể sai
lầm." Đây không chỉ là một nhận xét, nó đã trở thành nguyên tắc hoạt
động và niềm tin của ông.
Hầu hết mọi người đồng ý rằng người khác phạm sai lầm hoặc chỉ sẽ thừa
nhận có sai lầm trong quá khứ. Nhưng có bao nhiêu người công khai thừa
nhận rằng họ sẽ là sai lầm khi đưa ra quyết định?
Rất ít. Như Soros đã ngụ ý trong bình luận của ông trong cuốn sách
“Soros on Soros” về đồng nghiệp cũ của mình, Jim Rogers (quản lý quỹ và
là tác giả của cuốn The Investment Biker): "Sự khác biệt lớn giữa Jim
Rogers và tôi là Jim nghĩ rằng Quan điểm phổ biến là luôn luôn sai,
trong khi tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể sai cũng có."
Khi Soros hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, ông vẫn nhận thức được rằng
ông có thể là sai, và điều này ảnh hưởng rất lớn trong quá trình suy
nghĩ riêng của mình. Điều này cho phép ông giữ một tinh thần linh và sự
nhanh nhẹn tuyệt vời trong việc xoay sở và thay đổi cách suy nghĩ.
Soros cho rằng, tất cả mọi người đã nhìn nhận là thế giới "bằng cách
nào đó đã thiếu sót và sai lệch", nhưng thật sự sự hiểu biết của chúng
ta về thế giới mới là không hoàn hảo và thường sai lệch.
Soros biến hiểu biết của con người về thực tế là không hoàn hảo thành
một công cụ đầu tư mạnh mẽ. Ông có thể kiếm lợi nhuận bất kỳ lúc ông
nhìn thấy những gì người khác không thể bởi vì lúc đó họ đã bị mù oán
bời niềm tin của chính họ.
Khi ông bắt đầu công việc của ông ở quỹ Quantum Fund, ông đã kiểm tra
lý thuyết của mình bằng việc tìm kiếm xu hướng phát triển của thị trường
hoặc sự thay đổi đột ngột sắp xảy ra mà không ai nhận thấy.
Ông đã tìm thấy một sự thay đổi xu hướng này trong ngành công nghiệp ngân hàng.
Nhiều quy định kể từ những năm 1930, các ngân hàng trở nên ù lì, cố
định, bảo thủ và hầu hết tất cả các khoản đầu tư đều nhàm chán. Không có
tương lai cho một Wall Street với nhà phân tích khéo léo, khôn ngoan
trong lĩnh vực ngân hàng.
Soros nhận ra điều này và việc thay đổi là không thể tránh khỏi. Những
người quản lý kiểu cũ đã lỗi thời cũng đến lúc nên nghỉ hưu và được thay
thế bằng thế hệ trẻ năng động với tấm bằng MBA. Quản lý mới này sẽ là
động lực để thúc đầy toàn ngành công nghiệp vực dậy.
Năm 1972, Soros đã công bố một báo cáo có tiêu đề "The Case for Growth
Banks” (Trường hợp các Ngân hàng Tăng trưởng", dự báo rằng cổ phiếu các
ngân hàng sẽ “cất cánh”. Ông cũng đã khẳng định việc quản lý của một số
ngân hàng ngày càng tốt hơn. Và theo đó, cổ phiếu ngân hàng bắt đầu tăng
lên, và Soros thu được một khoản lợi nhuận 50%."
Trong khi đó, Buffett tìm cách mua 1 vật có giá trị $1với giá 40 hoặc
50 cent, thì Soros lại hạnh phúc khi trả $1, hoặc thậm chí nhiều hơn $1,
vì khi đó ông có thể nhìn thấy một sự thay đổi sẽ làm tăng giá của vật
đó lên đến $2 hoặc $3.
Với Soros, nhận thức méo mó của con người là một yếu tố trong việc định
hình các sự kiện diễn ra. Như ông đã nói: "Những gì mà niềm tin của con
người đang làm là thay đổi sự thật" trong một quá trình mà ông gọi là
phản hồi được ông đề cập trong cuốn sách “Thuật giả kim Tài chính”.
Đối với một số người như Paul Tudor Jones – một trader, cuốn sách là
"sự cách mạng", nó làm sáng tỏ sự việc phức tạp và nặng nề. Thông qua
cuốn sách Soros cũng đã gặp Stanley Druckenmiller , người đã tìm kiếm
ông ra sau khi đọc quyển sách, và cuối cùng Stanley Druckenmiller được
Soros mời về quản lý quỹ Quantum Fund.
Tuy nhiên, đối với hầu hết những người khác cuốn sách đã không thể có
gì đáng để quan tâm, thậm chí không thể đọc được, và rất ít người nắm
bắt được ý tưởng trong thuyết phản hồi của Soros mặc dù ông đã cố gắng
truyền đạt nó. Như Soros đã viết trong lời nói đầu của ấn bản bìa mềm,
"Dựa trên phản ứng của công chúng ... tôi đã không thành công trong việc
chứng minh tầm quan trọng của thuyết phản hồi. Chỉ có phần đầu tiên
trong lập luận của tôi -. Xu hướng hiện hành ảnh hưởng đến giá cả thị
trường, và Phần thứ hai - Xu hướng hiện hành có thể trong một số trường
hợp còn ảnh hưởng đến các nguyên tắc cơ bản được gọi là và những thay
đổi trong giá cả thị trường gây ra những thay đổi trong giá cả thị
trường - dường như không ai chú ý ".
Những thay đổi về giá cả thị trường gây ra những thay đổi trong giá cả thị trường? Nghe có vẻ vô lý quá phải không?
Nhưng không phải, nó không hề vô lý chút nào. Ví dụ như khi giá cổ
phiếu đi lên, nhà đầu tư cảm thấy mình giàu có hơn và nhiều tiền hơn.
Với một kết quả doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng lên. Tiếp theo
đó các nhà phân tích bắt đầu với những "cơ bản của công ty ngày càng cải
thiện", và kêu gọi, khuyến nghị các nhà đầu tư mua vào. Làm cho giá cô
phiếu đó tăng hơn nữa, làm cho các nhà đầu tư còn giàu có hơn nữa, vì
vậy họ chi tiêu nhiều hơn. Và như vậy nó cứ di chuyển. Đây là những gì
mà Soros gọi là "quá trình phản hồi" - một vòng phản hồi: một sự thay
đổi trong giá cổ phiếu đã gây ra một sự thay đổi cơ bản trong công ty
đó, lần lượt, biện minh cho sự gia tăng hơn nữa trong giá cổ phiếu. Và
cứ tiếp tục như vậy.
Chắc hẳn các bạn cũng từng biết hiện tượng này? Các học giả đã viết về
nó, thậm chí Cục Dự trữ Liên bang đã ban hành một bài báo về nó. Nó được
gọi là "The Wealth Effect" (Hiệu ứng tài sản).
Thuyết phản hồi là một vòng phản hồi của nhận thức làm thay đổi sự
thật, và những sự kiện làm thay đổi nhận thức. Như sự sụp đổ của đồng
baht Thái Lan vào năm 1997.
Tháng 7 năm 1997, Ngân hàng Trung ương Thái Lan ra quyết định cho phép
thả nổi đồng tiền của mình. Các ngân hàng dự kiến sẽ giảm giá khoảng
20% đồng tiền của họ, nhưng đến ngày đồng baht sụp đổ từ 26 đồng bath
cho 1 đồng đô la Mỹ lên đến hơn 50 đồng bath cho 1 đồng đô la Mỹ, thực
chất đồng bath đã giảm hơn 50% giá trị của nó.
Các ngân hàng đã nhận thấy giá trị thực của đồng baht là xung quanh 32
với 1 đồng đô la theo mô hình lý thuyết định giá tiền tệ. Những gì các
ngân hàng thất bại khi cho thả nổi đồng baht làm khởi động một quá trình
tự tăng cường tính phản hồi đã làm cho đồng tiền của Thái Lan rơi vào
trạng thái rơi tự do.
Thái Lan là một trong những "Con hổ châu Á", một quốc gia đang phát
triển nhanh chóng và được đánh giá là sẽ bước của Nhật Bản. Việc chính
phủ cho cố định giá đồng đô la Mỹ, đồng baht Thái Lan được coi là một
đồng tiền ổn định. Vì vậy, các ngân hàng quốc tế đã tích cực đổ hàng tỷ
đô la Mỹ vào các công ty Thái Lan. Và người Thái rất vui khi họ đi vay
vì lãi suất đô la Mỹ thấp hơn.
Khi đồng tiền sụp đổ, giá trị khoảng nợ của các công ty nợ đồng đô la
Mỹ đã đến hạn phải trả và bất ngờ phát nổ ... khi các khoảng nợ đó được
tính bằng đồng baht. Cơ bản của các công ty đã thay đổi.
Khi nhìn thấy điều đó, các nhà đầu tư nước ngoài bán tháo cổ phiếu của
các công ty Thái Lan. Họ đã thoát khỏi thị trường, nhà đầu tư nước ngoài
chuyển đổi baht của họ sang đô la và trở về. Đồng baht sụp đổ. Ngày
càng nhiều công ty Thái Lan tin rằng họ sẽ không bao giờ có thể trả được
nợ. Cả nhà đầu tư Thái và nhà đầu tư nước ngoài lại tiếp tục bán tháo
cổ phiếu trên thị trường.
Các công ty cắt giảm và sa thải nhân viên. Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt,
người dân chi tiêu ít hơn - và có những người giữ lại khoảng tiền chi
tiêu vì họ sợ vào những việc không chắc chắn sẽ xảy ra. Nền kinh tế Thái
Lan giảm mạnh ... và triển vọng cho nhiều công ty Thái lớn, ngay cả
những công ty không có các khoản nợ đáng kể bằng đồng đô la, bắt đầu
nhận thấy việc kinh doanh của họ cũng ngày càng bấp bênh hơn.
Khi đồng baht rớt giá, nền kinh tế Thái khủng hoảng - và đồng baht tiếp
tục rớt giá hơn nữa. Sự thay đổi trong giá cả thị trường đã gây ra sự
thay đổi giá cả thị trường.
Theo Soros, sự phản hồi là chìa khóa để có cái nhìn rõ hơn về mô hình
chu kỳ bùng – vỡ. "Một quá trình bùng nổ / phá sản chỉ xảy ra khi giá cả
thị trường ... ảnh hưởng đến cái gọi là “cơ bản”, yếu tố được cho là sẽ
được phản ánh trong giá cả thị trường."
Phương pháp của ông là tìm kiếm các tình huống mà nhận thức của “Mr.
Market” khác biệt lớn về cơ bản so với thực tế. Khi Soros nhìn thấy một
quá trình phản hồi của thị trường, ông có thể tự tin rằng xu hướng sẽ
tiếp tục phát triển trong thời gian dài, và giá cả sẽ ngày càng tăng
(hoặc càng giảm) nhiều hơn so với hầu hết những người sử dụng một khung
phân tích tiêu chuẩn mong đợi.
Soros áp dụng triết lý của mình để xác định xu hướng thị trường trong
giai đoạn đầu của nó và vị thế của mình trước khi đám đông chạy theo
ông.
Năm 1969, một phương tiện tài chính mới, Quỹ tín thác đầu tư bất động
sản (REITs), thu hút sự chú ý của ông. Ông đã viết một phân tích - lưu
hành rộng rãi vào thời điểm đó - trong đó ông dự đoán một "Four Act"
phản ánh sự bùng – vỡ của quá trình đó sẽ đẩy giá các công cụ mới này
lên tận trời trước khi chúng sụp đổ.
I/ Khi lãi suất ngân hàng ở mức cao, REIT cung cấp như một thay thế hấp
dẫn đối với tín chấp tài chính truyền thống. Khi việc đó xảy ra, Soros
đã nhìn thấy một sự tăng vọt về số lượng REITs trên thị trường.
II/ Soros dự kiến rằng việc tạo ra những REITs mới, và mở rộng những
cái hiện có sẽ giống như một cơn lũ tiền tề đổ vào thị trường tín chấp,
gây ra một sự bùng nổ nhà ở. Lần lượt, sự việc xảy ra sẽ là tăng lợi
nhuận kiếm được từ REIT và đẩy giá của các quỹ tín thác tăng vọt.
III/ Trích dẫn từ báo cáo của Soros, "Quá trình tự củng cố sẽ tiếp tục
cho đến khi Quỹ tín thác chiếm một phần quan trọng của thị trường ngành
xây dựng." Như sự bùng nổ nhà ở do nới lỏng tín dụng, giá bất động sản
sẽ giảm, số lượng ngày càng tăng các khoản vay khó đòi" và các ngân hàng
sẽ trở nên hoảng sợ và họ đòi hỏi thu hồi dòn tín dụng trở về."
IV/ Khi khoảng thu nhập từ REIT giảm mạnh, sẽ tạo ra một chấn động mạnh trong ngành công nghiệp ... và một sự sụp đổ.
Vì thời gian chuẩn bị cho một cuộc chấn động diễn ra rất dài, theo ông
các nhà đầu tư có nhiều thời gian để kiếm lợi nhuận từ phần phát triển
vượt bậc của chu kỳ. Chỉ nguy hiểm thực sự mà ông đã nhìn thấy trước là
quá trình tự củng cố (Act II) sẽ không thể kiếm được bất cứ phần lời
nhuận nào cả trong giai đoạn tưởng chừng như tốt đẹp nhất này.
Chu kỳ được phơi bày ra như những gì Soros đã dự báo, và ông đã kiếm
được một khoảng lợi nhuận khổng lồ khi sự bùng nổ đang phát triển.
Chuyển sự chú ý đến những thứ khác, hơn một năm sau khi REITs đã bắt đầu
suy giảm, ông đã xem lại báo cáo ban đầu của mình và "tôi quyết định
bán khống các chứng chỉ quỹ đó" Quỹ của ông đã kiếm một triệu đô la lợi
nhuận trước khi thoát khỏi thị trường.
Soros đã áp dụng thuyết phản hồi để kiếm tiền ngay cả khi thị trường lên và xuống.
Đối với một số người, phương pháp của Soros cũng tương tự như giao dịch
theo xu hướng. Nhưng theo xu hướng (đặc biệt là chartists) thường chờ
đợi một xu hướng được xác nhận trước khi đầu tư. Khi xu hướng thực sự
được hình thành (như trong "Act II" của chu kỳ REIT) thì Soros đã có ở
đó. Đôi khi ông cũng sử dụng xu hướng để khẳng định thêm cho những đoán
của mình vì hành vi theo xu hướng của thị trường sẽ làm tăng sự chắc
chắn niềm tin của ông về xu hướng đó.
Nhưng làm thế nào để bạn biết khi nào xu hướng đó sắp kết thúc? Trung
bình thì xu hướng ăn theo không bao giờ chắc chắn. Một số cảm thấy lo
lắng về lợi nhuận, sự điều chỉnh thường xuyên của thị trường tăng. Những
người khác chờ đợi cho đến khi một sự thay đổi trong xu hướng được xác
nhận - đó chỉ xảy ra khi giá đã vượt mức quá cao và thị trường bắt đầu
đi xuống.
Nhưng triết lý đầu tư của Soros cung cấp một khuôn khổ cho việc phân
tích xem các sự kiện sẽ diễn ra như thế nào. Vì vậy, ông có thể dự báo
một xu hướng dài hơn, và kiếm được lợi nhuận từ nó nhiều hơn hầu hết các
nhà đầu tư khác. Và như trong ví dụ về REIT chúng ta có thể kiếm lợi
nhuận từ cả sự bùng nổ và phá sản.
Lý thuyết về phản xạ của Soros là lời giải thích của ông cho thăng-trầm
thay đổi tâm trạng của Mr. Market. Với Soros của nó trở thành một
phương pháp để xác định khi tâm lý thị trường đang thay đổi, tạo điều
kiện để cho ông "đọc suy nghĩ của thị trường."
Aries Lee


07:19
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét