Ngày 1 tháng 6 năm 1968 được chọn là ngày khởi đầu tiến trình tham gia ký kết Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí Hạt nhân (Nuclear Non-Proliferation Treaty – NPT hoặc NNPT). Hiệp ước này được thiết lập nhằm mục đích hạn chế việc sở hữu các loại vũ khí hạt nhân.
Đại đa số các quốc gia có chủ quyền (187 nước) đều tham gia hiệp ước. Tuy nhiên, hai trong số bảy cường quốc hạt nhân và một vài quốc gia có thể đang có vũ khí hạt nhân không chịu phê chuẩn hiệp ước. Ireland là quốc gia soạn thảo hiệp ước, còn Phần Lan là quốc gia đầu tiên ký kết hiệp ước. Ngày 11 tháng 5 năm 1995, tại Thành phố New York, hơn 170 quốc gia quyết định mở rộng hiệp ước không giới hạn và không điều kiện.
Hiệp ước thường được tóm tắt thành ba Nguyên tắc trụ cột: Không phổ biến, Giải giới và Quyền sử dụng kỹ thuật hạt nhân cho mục đích hoà bình.
HIỆP ƯỚC
KHÔNG
PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN
Các Quốc gia ký kết Hiệp ước sau đây
được gọi là “Các Quốc gia tham gia Hiệp ước”.
Xét thấy sự hủy diệt do một cuộc chiến
tranh hạt nhân có thể xảy ra đối với toàn thể nhân loại và sự cần thiết tất yếu
có thể tập trung mọi cố gắng để ngăn ngừa hiểm họa của một cuộc chiến tranh như
vậy và tiến hành mọi biện pháp để bảo vệ an ninh cho nhân loại.
Tin tưởng rằng sự phổ biến vũ khí hạt
nhân có thể tác động nghiêm trọng đến mối đe dọa chiến tranh hạt nhân,
Phù hợp với Nghị quyết của Tổng Thư
ký Liên hợp quốc kêu gọi ký kết một thỏa thuận về ngăn ngừa sự truyền bá vũ khí
hạt nhân rộng rãi hơn.
Thực hiện sự hợp tác tạo điều kiện cho
việc áp dụng các bảo đảm của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế với các hoạt
động hạt nhân vì hòa bình.
Thể hiện sự ủng hộ của mình đối với
việc nghiên cứu, phát triển và sự cố gắng nhằm đẩy mạnh việc áp dụng nguyên tắc,
trong khuôn khổ hệ thống bảo đảm nguyên tắc của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử
quốc tế, bảo đảm có hiệu quả các vật liệu nguồn và vật liệu phân hạch đặc biệt
bằng việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật khác tại các thời điểm chiến lược
nhất định.
Khẳng định nguyên tắc rằng các lợi ích
của việc ứng dụng hòa bình công nghệ hạt nhân, kể cả mọi sản phẩm phụ mang tính
công nghệ có thể do các Quốc gia có vũ khí hạt nhân thu hồi được từ quá trình
phát triển các thiết bị nổ hạt nhân, đều được sẵn sàng để tất cả các Quốc gia
tham gia Hiệp ước, dù có vũ khí hạt nhân hay không có vũ khí hạt nhân, sử dụng
cho mục đích hòa bình.
Tin tưởng rằng, trong khuôn khổ nguyên
tắc này, tất cả các Quốc gia tham gia Hiệp ước đều được phép tham gia với khả
năng đầy đủ nhất vào việc trao đổi thông tin và đóng góp bằng cách riêng rẽ
hoặc bằng cách hợp tác với các Quốc gia khác vào việc phát triển hơn nữa các
ứng dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hòa bình.
Thể hiện ý định của mình để đạt được
sớm nhất việc ngừng chạy đua vũ khí hạt nhân và thực hiện những biện pháp có
hiệu quả nhằm giải trừ vũ khí hạt nhân,
Khuyến khích sự hợp tác của tất cả các
Quốc gia để đạt được mục tiêu này,
Kêu gọi sự quyết tâm của tất cả các
Quốc gia thành viên Hiệp ước năm 1963 về cấm thử vũ khí hạt nhân trên mặt đất, ngoài
vũ trụ và dưới nước nhằm tiến đến việc ngừng các vụ nổ vũ khí hạt nhân thử
nghiệm ở mọi thời điểm và tiếp tục các cuộc thương lượng về vấn đề này.
Mong muốn làm dịu bớt hơn nữa sự căng
thẳng Quốc tế và tăng cường sự tin tưởng giữa các Quốc gia nhằm tạo điều kiện
cho việc ngừng sản xuất vũ khí hạt nhân, thanh lý tất cả các kho dự trữ hiện
có, và loại trừ vũ khí hạt nhân ra khỏi kho chứa vũ khí Quốc gia vào tạo điều
kiện cho việc chuyển giao vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước về giải trừ toàn bộ và
đầy đủ dưới sự giám sát quốc tế chặt chẽ và có hiệu quả.
Nhấn mạnh rằng, phù hợp với Hiến chương
Liên hiệp quốc, trong quan hệ quốc tế của mình, các Quốc gia phải tránh việc đe
dọa hoặc sử dụng bạo lực để chống lại chủ quyền lãnh thổ hay độc lập về chính
trị của bất kỳ Quốc gia nào hoặc bằng bất cứ cách nào khác không trung thành
với mục đích của Liên hiệp quốc, và nhấn mạnh rằng việc thiết lập và duy trì
nền hòa bình và an ninh quốc tế cần được tăng cường với sự tiêu hao ít nhất sức
người và sức của cho việc trang bị vũ khí.
Đã thỏa thuận như sau:
Điều 1.
Từng Quốc gia hạt nhân tham gia Hiệp
ước cam kết không chuyển giao cho bất kỳ Quốc gia nào dù là vũ khí hạt nhân hay
thiết bị nổ hạt nhân hoặc trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát các vũ khí hay chất
nổ như vậy, và không giúp đỡ, khuyến khích hay xúi dục bằng bất kỳ cách nào,
bất kỳ Quốc gia phi hạt nhân nào về chế tạo, yêu cầu vũ khí hạt nhân hay các
thiết bị nổ hạt nhân hoặc kiểm soát các thiết bị nổ hạt nhân hay vũ khí hạt
nhân như vậy.
Điều 2.
Từng Quốc gia hạt nhân tham gia Hiệp
ước cam kết không nhận chuyển giao từ bất kỳ nguồn nào vũ khí hạt nhân hoặc
thiết bị nổ hạt nhân hoặc quyền kiểm soát các thiết bị nổ hạt nhân hay vũ khí
hạt nhân đó một cách trực tếp hay gián tiếp; không chế tạo hay tìm cách để có
vũ khí hạt nhân hoặc thiết bị nổ hạt nhân; và không yêu cầu hay nhận trợ giúp
để chế tạo vũ khí hạt nhân hay các thiết bị nổ hạt nhân khác.
Điều 3.
1. Từng Quốc gia phi hạt nhân tham gia
Hiệp ước cam kết chấp nhận bảo đảm theo như ghi trong thỏa thuận được thương
lượng và ký kết với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế và hệ thống bảo đảm
của cơ quan, vì mục đích kiểm tra đặc biệt việc thực hiện nghĩa vụ của mình trong
khuôn khổ Hiệp ước này nhằm ngăn ngừa việc chuyển hướng sử dụng hòa bình năng
lượng hạt nhân sang chế tạo vũ khí hạt nhân hoặc các thiết bị nổ hạt nhân khác.
Các biện pháp bảo đảm mà điều khoản này đưa ra sẽ được thực hiện đối với nguồn
hoặc vật liệu hạt nhân phân hạch đặc biệt xem chúng có được chế tạo, xử lý hay
sử dụng trong một cơ sở hạt nhân chính hay ngoài cơ sở đó. Bảo đảm do điều
khoản này đưa ra sẽ được áp dụng đối với mọi nguồn hoặc vật liệu hạt nhân phân
hạch đặc biệt trong mọi hoạt động hạt nhân vì hòa bình, trong phạm vi lãnh thổ
Quốc gia, trong phạm vi quyền hạn Quốc gia đó hoặc được tiến hành ở bất kỳ nơi
nào trong phạm vi kiểm soát của Quốc gia đó.
2. Từng Quốc gia tham gia Hiệp ước cam
kết không cung cấp:
a) Nguồn hoặc vật liệu hạt nhân phân
hạch đặc biệt; hoặc
b) Thiết bị hoặc vật liệu được thiết
kế hoặc chuẩn bị đặc biệt cho xử lý, sử dụng hoặc sản xuất vật liệu phân hạch
đặc biệt cho bất kỳ Quốc gia phi hạt nhân nào dùng cho mục đích hòa bình, trừ
khi nguồn hay vật liệu phân hạch đặc biệt là đối tượng của bảo đảm được yêu cầu
bởi điều khoản này;
3. Các bảo đảm được yêu cầu bởi điều
khoản này sẽ được thực hiện theo cách được xây dựng để phù hợp với Điều khoản
IV của Hiệp ước, và để tránh cản trở đối với việc phát triển kinh tế và công
nghệ của các Quốc gia tham gia Hiệp ước hay sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
hoạt động hạt nhân hòa bình, kể cả việc trao đổi quốc tế về thiết bị hay vật
liệu hạt nhân để xử lý, sử dụng hoặc sản xuất vật liệu hạt nhân cho các mục đích
hòa bình phù hợp với các điều kiện của Điều khoản này và nguyên tắc bảo đảm ghi
trong lời mở đầu của Hiệp ước.
4. Các Quốc gia phi hạt nhân tham gia
Hiệp ước sẽ ký kết các thỏa thuạn với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế nhằm
đáp ứng các yêu cầu của Điều khoản này hoặc bằng cách riêng rẽ hoặc cùng với
các Quốc gia khác phù hợp với điều lệ của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế.
Thương lượng về các thảo thuận như vậy sẽ được bắt đầu trong vòng 180 ngày, thương
lượng cho các thỏa thuận như vậy sẽ bắt đầu không chậm hơn ngày có văn kiện phê
chuển hay bổ sung. Các thỏa thuận đó sẽ có hiệu lực không quá 18 tháng sau ngày
bắt đầu thương lượng.
Điều 4.
1. Không có Điều nào trong Hiệp ước
này được xem là có ảnh hưởng đến quyền bất khả nhượng của mọi quốc gia tham gia
Hiệp ước về phát triển nghiên cứu, sản xuất và sử dụng năng lượng hạt nhân cho các
mục đích hòa bình không nhân biệt và phù hợp Điều khoản I và II của Hiệp ước
này.
2. Mọi quốc gia tham gia Hiệp ước cam
kết tạo điều kiện và có quyền tham gia vào các việc trao đổi, với khả năng đầy
đủ nhất, về thiết bị, vật liệu và thông tin khoa học công nghệ cho việc sử dụng
hòa bình năng lượng hạt nhân. Các Quốc gia tham gia Hiệp ước, trong khi làm như
vậy sẽ hợp tác để đóng góp, bằng cách riêng rẽ hay cùng với các quốc gia khác
hay các tổ chức quốc tế khác, vào việc phát triển các ứng dụng năng lượng hạt
nhân vào các mục đích hòa bình, đặc biệt trong lãnh thổ các quốc gia phi hạt
nhân tham gia Hiệp ước, vào việc xem xét thích hợp về sự cần thiết của các khu
vực đang phát triển trên thế giới.
Điều 5.
Từng quốc gia tham gia Hiệp ước cam
kết tiến hành những biện pháp thích hợp để bảo đảm rằng, theo như Hiệp ước này,
dưới sự quan sát quốc tế thích hợp và thông qua các thể thức quốc tế thích hợp,
các lợi ích tiềm tàng có được từ mọi ứng dụng của các vụ nổ hạt nhân sẽ được
sẵn sàng để các quốc gia phi hạt nhân sử dụng trên cơ sở không phân biệt và phí
tổn mà các quốc gia này phải trả cho các thiết bị nổ hạt nhân đã dùng sẽ ở mức
thấp nhất có thể được, và không tính bất kỳ chi phí nào cho nghiên cứu và phát triển.
Các quốc gia phi hạt nhân tham gia Hiệp ước cùng mong muốn như vậy cũng có thể
sử dụng các lợi ích đó theo các thỏa thuận song phương.
Điều 6.
Từng quốc gia tham gia Hiệp ước cam
kết tiếp tục một cách vô tư và thiện chí các cuộc thương lượng về các giải pháp
có hiệu quả liên quan đến việc sớm ngừng chạy đua vũ khí hạt nhân và giải trừ toàn
bộ hạt nhân dưới sự kiểm soát quốc tế chặt chẽ và có hiệu quả.
Điều 7.
Không có Điều khoản nào trong Hiệp ước
này ảnh hưởng đến quyền lợi của bất kỳ nhóm Quốc gia nào có ký các Hiệp định vùng
về đảm bảo hoàn toàn phi vũ khí hạt nhân trong phạm vi chủ quyền của mình.
Điều 8.
1. Bất kỳ một bên nào tham gia Hiệp
ước đều có thể đề nghị các sửa đổi đối với Hiệp ước. Văn bản mọi đề nghị sửa đổi
cần được gửi cho các Chính phủ sở hữu Hiệp ước để thông báo cho tất cả các quốc
gia tham gia Hiệp ước có yêu cầu sửa đổi như vậy, các Chính phủ sở hữu Hiệp ước
tổ chức một hội nghị mời tất cả các quốc gia tham gia Hiệp ước tham dự để xem
xét sửa đổi.
2. Mọi sửa đổi đối với Hiệp ước phải
được thông qua với đa số phiếu của tất cả các Quốc gia tham gia Hiệp ước bao
gồm phiếu của tất cả các Quốc gia tham gia Hiệp ước và các Quốc gia khác mà vào
ngày sửa đổi được thông báo thì các Quốc gia đó đang là thành viên Hội đồng thống
đốc của IAEA. Sửa đổi sẽ có hiệu lực đối với mỗi Quốc gia ủy thác văn bản phê
chuẩn ngay khi văn bản phê chuẩn được đa số các Quốc gia tham gia Hiệp ước gửi
đến bao gồm văn bản của các quốc gia hạt nhân và của các Quốc gia khác mà vào
thời điểm sửa đổi thông báo thì các quốc gia đó đang là thành viên khác kể từ
khi văn bản phê chuẩn được ủy thác.
3. Năm năm sau khi Hiệp ước có hiệu
lực, một Hội nghị toàn thể các Quốc gia tham gia Hiệp ước được tổ chức tại Genevơ,
Thụy Sĩ , để xem xét quá trình hoạt động của Hiệp ước nhằm bảo đảm rằng các mục
tiêu ghi ở lời mở đầu và các Điều khoản của Hiệp ước, bằng cách đề nghị với các
Chính phủ sở hữu, có thể tổ chức Hội nghị với cùng một mục đích nhằm xem xét
quá trình thực hiện Hiệp ước.
Điều 9.
1. Hiệp ước này sẽ được mở rộng công
khai để các Quốc gia ký kết. Bất kỳ Quốc gia nào chưa ký kết Hiệp ước trước khi
Hiệp ước có hiệu lực theo mục 3 Điều khoản này đều có thể tán thành Hiệp ước
bất kỳ lúc nào.
2. Hiệp ước này sẽ được các Quốc gia
ký kết phê chuẩn, Văn kiện phê chuẩn và sửa đổi sẽ được gửi cho các Chính phủ
Vương quốc Anh và Bắc Ai len, LBCHCHCN Xô Viết và Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ là các
Chính phủ được chỉ định là Chính phủ sở hữu Hiệp ước.
3. Hiệp ước này sẽ có hiệu lực sau khi
được phê chuẩn bởi các quốc gia, các Chính phủ được chỉ định là Chính phủ sở
hữu Hiệp ước và 10 Quốc gia khác ký kết Hiệp ước và ủy thác văn kiện phê chuẩn.
Với mục đích của Hiệp ước này, một Quốc gia hạt nhân là một quốc gia đã chế tạo
và nổ một vũ khí hạt nhân hay các thiết bị nổ hạt nhân khác trước ngày
01/01/1967.
4. Đối với các Quốc gia ủy thác văn
kiện phê chuẩn hoặc bổ sung sau khi Hiệp ước đã có hiệu lực thì hiệu lực sẽ bắt
đầu từ ngày văn kiện phê chuẩn hoặc bổ sung đó được ủy thác.
5. Các Chính phủ sở hữu sẽ thông báo
ngay cho các Quốc gia ký kết, ngày nhận được văn kiện phê chuẩn hay bổ sung của
từng Quốc gia này, Hiệp ước có hiệu lực và ngày nhận được đề nghị tổ chức Hội
nghị hoặc các thông tin khác.
6. Hiệp ước này sẽ được các Chính phủ
sở hữu đăng ký theo Điều khoản 102 của Hiến chương Liên hiệp quốc.
Điều 10.
1. Từng quốc gia, thực hiện chủ quyền
lãnh thổ của mình, có quyền rút lui khỏi Hiệp ước nếu thấy rằng các sự kiện bất
thường liên quan đến các vấn đề của Hiệp ước này đã gây phương hại cho quyền
lợi tối cao của Quốc gia mình. Quốc gia đó sẽ thông báo về việc rút lui trước 3
tháng cho các quốc gia khác và Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc. Thông báo đó sẽ
bao gồm một văn bản tuyên bố về các sự kiện bất thường mà quốc gia đó xem là có
phương hại đối với chủ quyền tối cao của mình.
2. Hai mươi lăm năm sau khi Hiệp
ước có hiệu lực một hội nghị sẽ được tổ chức để xem xét, quyết định việc Hiệp
ước sẽ tiếp tục vô thời hạn hay chỉ kéo dài thêm một hay nhiều kỳ hạn 5 năm.
Việc quyết định là do đa số các quốc gia tham gia Hiệp ước.
Điều 11.
Hiệp ước này với các văn bản bằng
tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Trung Quốc đều có
giá trị ngang nhau, sẽ được lưu trữ tại kho lưu trữ của các Quốc gia sở hữu gửi
cho các Quốc gia ký kết và tán thành Hiệp ước.
ĐỂ CHỨNG THỰC, những người tham gia
ký, sau khi đã được ủy quyền đầy đủ đã ký vào Hiệp ước này.
GỒM (ba bản), đặt tại London, Moscow và Washington,
Ngày 01 tháng 7 năm 1968.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét