Đầu
những năm 90 của thế kỷ 20, loài người đã chứng kiến sự kiện Liên Xô –
cường quốc có diện tích địa lý khổng lồ trải rộng trên lục địa Á – Âu,
có lực lượng vũ trang hùng mạnh,… đã nhanh chóng sụp đổ mà không phải
đối mặt với một cuộc xâm lăng hay gặp một biến cố tự nhiên đặc biệt nào.
LTS: Cho
đến nay, nhiều học giả trên thế giới vẫn cố gắng nghiên cứu, lý giải
nguyên nhân tan rã của Liên Xô. Tờ Nhân dân điện tử – Thời Nay vừa đăng
tư liệu do một cơ quan nghiên cứu nước ngoài mới công bố có tựa đề:
Những bài học lịch sử từ sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Tuần Việt
Nam xin đăng tải lại để độc giả cùng suy ngẫm.
Tháng
3-1985, Gorbachev được bầu làm Tổng Bí thư Đảng CS Liên Xô. Tháng
2-1986, Đảng CS Liên Xô triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ 27. Đây là
Đại hội đầu tiên được triệu tập sau khi Gorbachev lên cầm quyền. Sau đó
không lâu, Gorbachev chính thức đưa ra khẩu hiệu “Dân chủ hóa tính công
khai, dư luận đa nguyên hóa” và lấy đó làm bước đột phá mở ra cơ chế cải
cách. Lúc bấy giờ, nhân dân Liên Xô mong muốn cải cách thoát khỏi trì
trệ nhưng vẫn chưa rõ, thậm chí, chưa hiểu hàm nghĩa thật sự của khẩu
hiệu Gorbachev đưa ra dưới danh nghĩa “perestroika” (cải tổ) là gì.
Tháng
6-1988, Đảng CS Liên Xô họp Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 19.
Trong báo cáo, Gorbachev có đoạn bộc bạch: “Phương châm chủ yếu của cải
tổ thể chế chính trị Liên Xô không chỉ là đề xướng vấn đề dân chủ hóa
tính công khai và dư luận đa nguyên hóa. Mà là phải loại bỏ vấn đề Đảng
CS Liên Xô là hạt nhân của thể chế chính trị Liên Xô. Là vấn đề phải
chuyển trung tâm quyền lực nhà nước từ trong tay Đảng CS sang Xô Viết”.
Tháng
7-1990, Đảng CS Liên Xô tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ 28. Đây là
Đại hội cuối cùng trong lịch sử Đảng CS Liên Xô trước khi Liên Xô tan
rã. Đại hội thông qua tuyên bố có tính cương lĩnh “tiến tới Xã hội chủ
nghĩa dân chủ hóa nhân đạo” và một số nghị quyết khác. Từ đây, thể chế
đa đảng và thể chế dân chủ nghị viện, ý thức hệ đa nguyên cũng chính
thức trở thành phương châm chỉ đạo của Đảng. Các tổ chức chống Cộng thừa
cơ được thành lập hàng loạt và phát triển lớn mạnh, triển khai cuộc đấu
tranh với Đảng CS Liên Xô.
Kusov, Phó
Chủ tịch Trung ương Đảng CS Nga ngày 28-2-1991 nói: “Sửa đổi Hiến pháp
chỉ vẻn vẹn một năm, đã có khoảng 20 chính đảng cấp Liên bang, có hơn
500 chính đảng cấp nước cộng hòa. Hầu hết trong đó trở thành lực lượng
chính trị cuối cùng thúc đẩy Đảng CS Liên Xô bị hạ bệ và giải tán”.
Ngày
8/12/1991, tại Вискули (Belarus), những người đứng đầu 3 nước Nga,
Ukraina, Belarus tuyên bố giải thể Liên Xô và thành lập Cộng đồng các
quốc gia độc lập Содружество независимых государств (СНГ, SNG). |
Dưới
sự cổ vũ của phương châm dân chủ hóa tính công khai và thể chế đa đảng
của Gorbachev, tinh thần dân tộc chủ nghĩa ở các nước cộng hòa thuộc
Liên Xô đã không ngừng dâng cao, khuynh hướng ly khai dân tộc hẹp hòi
ngày càng trở nên trầm trọng. Tổ chức Đảng của các nước cộng hòa tham
gia Liên bang cũng ngày càng xa rời trung ương. Từ năm 1989, Đảng CS của
một số nước cộng hòa như Latvia, Lithuania (Lít-va), Estonia… đã đưa ra
yêu cầu tách khỏi hoặc độc lập với Đảng CS Liên Xô. Bất chấp sự phản
đối của Đảng CS Liên Xô, ngày 20-12-1989, tại Đại hội 20, Đảng CS
Lithuania thông qua Tuyên ngôn, quyết định về địa vị của Đảng CS
Lithuania, tuyên bố Đảng CS Lithuania tách khỏi Đảng CS Liên Xô, giữ
quan hệ đối tác bình đẳng với Đảng CS Liên Xô. Gorbachev liên tục lùi
bước trước tình hình này. Cái gọi là “phái dân chủ” trong Đảng đã lợi
dụng tình hình để hưởng ứng, phối hợp chặt chẽ với chủ nghĩa ly khai dân
tộc ngoài Đảng, tiến hành hoạt động chia rẽ Đảng CS Liên Xô, từ đó làm
tan rã Liên Xô.
Ngày
17-3-1991, Liên Xô tiến hành trưng cầu ý kiến nhân dân toàn Liên bang.
Trong đó, số phiếu bảo lưu Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết
chiếm 76,4%. Số phiếu phản đối chiếm 21,7%. Nhưng sáu nước cộng hòa
Gruzia, Lithuania, Moldovia, Latvia, Armenia, Estonia từ chối trưng cầu
dân ý.
Ngày
23-4-1991, Gorbachev nhân danh Trung ương Đảng CS và Xô Viết tối cao
Liên Xô tiến hành gặp gỡ những người lãnh đạo của chín nước cộng hòa
Liên bang (Nga, Ukraine, Belarus, Kazakstan…), ra tuyên bố 9+1 đề xuất
nhanh chóng ký kết Hiệp ước Liên bang mới với tên gọi là Cộng đồng các
quốc gia độc lập SNG, xóa bỏ khái niệm “xã hội chủ nghĩa”. Sự kiện này
về mặt luật pháp đã phá hoại thống nhất quốc gia, đặc biệt là thay đổi
tính chất XHCN và phương hướng thống nhất của quốc gia. Cùng lúc,
Yeltsin – Chủ tịch Xô Viết Liên bang Nga, cũng cố gắng làm tan rã nước
này một cách không thương tiếc nhằm chiếm đoạt quyền lực tối cao.
Ngày 20-8 là
ngày ký Hiệp ước Liên bang mới. Ngày 19-8, để giữ lại Liên Xô XHCN đồng
thời ngăn chặn cái gọi là “phái dân chủ” lên nắm quyền, một nhóm lãnh
đạo cao cấp của Đảng, chính quyền và quân đội Liên Xô đã tuyên bố tình
trạng khẩn cấp ở một số địa phương trong nước và thành lập Ủy ban tình
trạng khẩn cấp do Phó Tổng thống Yanaev đứng đầu. Có thể coi đây là cuộc
thử nghiệm cuối cùng của một số nhà lãnh đạo trong Đảng CS Liên Xô cố
nhằm cứu vãn Liên Xô XHCN, tránh cho đất nước rơi vào thảm họa. Nhưng do
họ không có niềm tin XHCN rõ ràng và kiên định, lại thiếu ý chí chính
trị kiên cường trong đấu tranh thực tế, nên họ đã thất bại. Gorbachev
đang đi nghỉ mát, có thái độ trước là lừng chừng, sau là phản bội, và
đây cũng là điều góp phần đẩy nhanh tiến trình thất bại của sự kiện.
Sự kiện 19-8
kết thúc. Trung ương Đảng CS Liên Xô tự giải tán trước sự thúc ép của
Gorbachev. 4.228 tòa nhà làm việc, 180 trung tâm chính trị xã hội, 16 cơ
sở nghiên cứu chính trị xã hội,… của Đảng CS Liên Xô đều bị nhà cầm
quyền Nga niêm phong và tịch thu. Tổ chức Đảng CS khắp các khu vực Nga
và ở các nước cộng hòa Liên Xô nhanh chóng bị giải tán hoặc bị cấm hoạt
động. Toàn Đảng tan rã theo. Vậy là một đảng lớn, có gần 20 triệu đảng
viên, đã mất địa vị cầm quyền sau 74 năm cầm quyền.
Cho đến hôm
nay, trong hồ sơ của Trung ương hay của địa phương, đều không thấy ghi
chép gì khi thế lực thù địch xóa bỏ Đảng CS gặp phải sự chống đối của tổ
chức các cấp của Đảng. Không hề thấy ghi chép gì về việc đảng viên Đảng
CS Liên Xô tập hợp lại một cách có tổ chức để tiến hành bất cứ một hoạt
động phản đối quy mô lớn nào nhằm bảo vệ Khu ủy, Thành ủy hoặc Huyện ủy
của mình.
Mất Đảng tất
yếu đưa tới mất nước. Ngày 25-12-1991 là ngày cuối cùng Gorbachev làm
Tổng thống Liên Xô, cũng là ngày tồn tại cuối cùng của Liên Xô. 10 giờ
sáng, Gorbachev đến Phủ Tổng thống ở Điện Kremli chuẩn bị đơn từ chức mà
ông ta sẽ đọc vào tối hôm đó. 19 giờ, Gorbachev qua máy ghi hình của
Đài Truyền hình Trung ương Liên Xô và Đài Truyền hình CNN (Mỹ) đọc thư
gửi nhân dân Liên Xô và toàn thế giới, tuyên bố từ chức, ngừng mọi hoạt
động của mình với chức vụ Tổng thống Liên Xô. 19 giờ 32 phút, quốc kỳ
Liên Xô hình búa liềm đã in đậm trong lòng nhiều thế hệ người Liên Xô và
nhân dân thế giới trên nóc điện Kremli ủ rũ hạ xuống trong gió lạnh. 19
giờ 45 phút, lá cờ ba mầu của Liên bang Nga thay thế.
Buổi sáng
26-12-1991, Viện Cộng hòa Xô Viết tối cao Liên Xô họp hội nghị lần cuối
cùng. Hội trường chỏng trơ, vắng ngắt. Trên đoàn Chủ tịch chỉ có một
mình Alychanov, Chủ tịch Viện Cộng hòa. Các đại biểu giơ tay biểu quyết
thông qua tuyên ngôn tuyên bố “Liên Xô ngừng tồn tại”. Đảng CS Liên Xô,
Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết – hai cái tên rực rỡ suốt hơn nửa thế
kỷ, đã rút khỏi vũ đài lịch sử âm thầm như thế.
Sau khi Liên
Xô tan rã, theo “liệu pháp sốc” của người Mỹ, ở nước Nga người ta tiến
hành cưỡng chế thực hành cải cách tư hữu hóa trong lĩnh vực kinh tế. Kết
quả rất nhanh là đưa đến một nền kinh tế tiêu điều và suy thoái nghiêm
trọng. Đất nước nghèo đi nhanh chóng, xã hội rơi vào hỗn loạn. Phạm tội
xảy ra tràn lan. Theo tài liệu của Bộ Nội vụ Nga, lúc đó toàn quốc xuất
hiện hơn 8.000 băng nhóm tội phạm cỡ lớn có tổ chức. Trong Thông điệp
tình hình đất nước năm 1996, Yeltsin cũng thừa nhận: “Nước Nga hiện nay
đã vượt Italia, trở thành vương quốc băng đảng mafia lớn nhất thế giới”.
Từ năm 1991 đến cuối thế kỷ 20, tổng giá trị sản xuất trong nước của
Nga giảm xuống 52% so năm 1990 (trong khi đó, vào thời kỳ chiến tranh từ
năm 1941 đến năm 1945 chỉ giảm 22%). Sản xuất công nghiệp cùng thời kỳ
giảm 64,5%. Sản xuất nông nghiệp giảm 60,4%. Đồng rúp mất giá. Vật giá
tăng cao hơn 5.000 lần. Từ năm 1992 trở đi, dân số nước Nga luôn có xu
thế giảm. Tuổi thọ bình quân của người Nga năm 1990 là 69,2 tuổi. Còn
năm 2001 là 65,3 tuổi. Thậm chí, tuổi thọ bình quân của nam giới ở một
số vùng giảm xuống đến 10 tuổi.
Đảng CS Liên
Xô bị diệt vong, Liên Xô tan rã mang lại hậu quả tai hại cho Nhà nước
và nhân dân Liên Xô. Năm 2005 khi đọc Thông điệp Liên bang, Tổng thống
Nga Putin nói: “Liên Xô tan rã là tai họa chính trị nghiêm trọng nhất
của thế kỷ 20. Đối với nhân dân Nga, đó là một bi kịch thực sự”. Rất
nhiều học giả Nga cũng rút ra kết luận rằng, Đảng CS Liên Xô sụp đổ,
Liên Xô tan rã làm cho phát triển kinh tế – xã hội thụt lùi mấy chục
năm.
Một đảng do
Lenin sáng lập. Một Đảng từng lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách
thống trị của nước Nga Sa hoàng, xây dựng thành công Nhà nước chuyên
chính vô sản đầu tiên. Một đảng từng lãnh đạo nhân dân chống lại sự can
thiệp vũ trang của 14 nước, bảo vệ thắng lợi thành quả cách mạng. Một
đảng đã lãnh đạo chiến thắng phát-xít Đức trong cuộc chiến tranh Vệ quốc
vĩ đại và cống hiến to lớn cho thắng lợi của thế giới trong Chiến tranh
Thế giới thứ hai. Một đảng giành được thành tựu rực rỡ trong xây dựng
CNXH và đi đầu trong việc đưa vệ tinh nhân tạo vào vũ trụ. Vì sao lại
mất địa vị cầm quyền sau 74 năm cầm quyền?
Một đảng khi
có 20 nghìn đảng viên đã lãnh đạo Cách mạng tháng Hai lật đổ ách thống
trị chuyên chế Sa hoàng; khi có 35 vạn đảng viên đã giành được thắng lợi
của Cách mạng XHCN tháng Mười và nắm chính quyền toàn quốc; khi có hơn
5.540.000 đảng viên lãnh đạo nhân dân chiến thắng phát-xít Đức hung bạo,
lập chiến công bất hủ, chấm dứt Chiến tranh Thế giới thứ hai, vậy mà
khi có gần 20 triệu đảng viên thì lại mất địa vị cầm quyền, mất Đảng,
mất nước. Rốt cuộc, vấn đề là ở chỗ nào?
Còn tiếp…
Nguồn: Tuần Việt Nam
Những vi phạm về nguyên tắc xây dựng Đảng
Stalin nói: Báo cáo các đồng chí
thảo luận đã bị bỏ, báo cáo mới sửa các đồng chí còn chưa xem. Sau một
lát lúng túng, Beria, con người rất giỏi nịnh bợ, nói: Bản thân bản báo
cáo này đã quá hay, tin rằng sau khi được đồng chí Stalin sửa chữa báo
cáo sẽ còn tuyệt vời hơn nữa (!) Hồi ấy, trong Đảng CS Liên Xô, mọi
người hầu như không nói thật.
LTS: Những bài học lịch sử về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô luôn thu hút sự quan tâm của công luận. Tờ Nhân Dân điện tử
vừa đăng hồ sơ có tựa đề: Những vi phạm về nguyên tắc xây dựng Đảng. Để
rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin đăng tải lại để cùng suy ngẫm.
Ngay từ khi
lãnh đạo phong trào vô sản quốc tế, đặc biệt là phong trào của Đảng Xã
hội dân chủ Đức, Marx và Engels đã đưa ra và vận dụng các nội dung cơ
bản của nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng
và xây dựng Đảng ở Nga, Lenin đã kế thừa và phát huy tư tưởng này.
Tháng 12-1905, Hội nghị thứ nhất Đảng
Bolshevik đã lần đầu áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ và nêu rõ
trong nghị quyết: Nguyên tắc chế độ tập trung dân chủ không có gì phải
tranh cãi. Tháng 4-1906, theo đề nghị của Lenin, Đại hội đại biểu thống
nhất lần thứ 4 Đảng Bolshevik thông qua điều lệ tổ chức, trong đó điều
hai quy định: Mọi tổ chức của Đảng đều được xây dựng trên nguyên tắc tập
trung dân chủ. Đây là lần đầu tiên nguyên tắc tập trung dân chủ được
xác định trong điều lệ Đảng.
Tháng
7-1920, điều lệ gia nhập Quốc tế Cộng sản do Lenin quy định: Đảng gia
nhập Quốc tế Cộng sản cần được xây dựng trên nguyên tắc tập trung dân
chủ. Kể từ đó, nguyên tắc tập trung dân chủ trở thành nguyên tắc phổ
biến mà ĐCS các nước trên thế giới đều tuân thủ.
 |
| Tại các kỳ ĐH của Đảng Cộng sản Liên Xô, Lenin luôn nghiêm túc lắng nghe mọi ý kiến phản hồi về bản báo cáo của mình. |
Khi
Lenin còn sống, Đảng thực hiện chế độ lãnh đạo tập thể. Hạt nhân lãnh
đạo của Đảng là BCH T.Ư Đảng. Khi đó, số ủy viên T.Ư còn ít, tổ chức hội
nghị tương đối dễ dàng và thực hiện chế độ lãnh đạo tập thể theo hình
thức: khi quyết định một vấn đề nào đó, mỗi một ủy viên đều có quyền
bình đẳng phát biểu ý kiến. Sau khi thảo luận kỹ càng sẽ tiến hành bỏ
phiếu và thông qua theo đa số. Mỗi một ủy viên chỉ có một phiếu biểu
quyết.
Trong các
cuộc họp của Đảng, báo cáo của Lenin thường nhận được sự đánh giá cao
của đa số các đại biểu. Tuy nhiên, cũng có một số ít phê bình gay gắt
báo cáo của Lenin và Lenin luôn lắng nghe một cách nghiêm túc. Đảng có
lãnh tụ và lãnh đạo các cấp, nhưng không có sự sùng bái cá nhân đối với
họ. Mỗi một đảng viên được hưởng đầy đủ các quyền quy định trong điều lệ
Đảng. Trong Đảng không chia ngôi thứ cao cấp, và tuyệt đối không có
đảng viên đặc biệt. Cơ quan lãnh đạo và lãnh đạo các cấp của Đảng được
bầu lên đều thông qua bầu cử, phải báo cáo công tác trước đảng viên và
có thể bị bãi miễn.
Lenin cho
rằng: Trong Đảng có quyền tự do thảo luận, phê bình và phát biểu ý kiến.
Nếu không có quyền tự do thảo luận và phê bình thì giai cấp vô sản sẽ
không sẽ không thể nhất trí trong hành động. Trong các cuộc họp Đảng khi
đó, không có sự tung hô, tâng bốc. Vấn đề góp ý, phê bình tự nhiên như
việc con người hít thở khí trời vậy.
Năm 1921, khi giải tán phe đối lập trong
Đảng, Lenin đã yêu cầu phải xem xét nghiêm túc những vấn đề mà phe đối
lập đặc biệt quan tâm cũng như ý kiến thiết thực của họ chống lại tình
trạng quan liêu, phát huy dân chủ và tinh thần tự chủ của công nhân.
Song song với việc nhấn mạnh tính dân chủ trong đảng, trong đó có việc
bảo vệ quyền lợi của bất kỳ thiểu số nào, Lenin còn nhấn mạnh tới tính
tập trung trong Đảng, đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc “thiểu số phục tùng
đa số”, “bộ phận phục tùng tổng thể”. Tuyệt đối không cho phép trong
Đảng xuất hiện hoạt động phe phái, cũng như khuynh hướng vô chính phủ.
Lenin nêu rõ: Nhất trí trong hành động, tự do trong thảo luận và phê
bình, đây là kỷ luật mà chính đảng dân chủ giai cấp tiên tiến cần phải
có.
Đặc biệt,
sau khi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, trong bối cảnh nước ngoài can
thiệp vũ trang, nội chiến trong nước phức tạp, các thế lực thù địch
trong và ngoài nước sử dụng mọi thủ đoạn phá hoại đoàn kết trong Đảng,
tư tưởng “phi vô sản” tràn lan trong Đảng, Lenin đã đặc biệt nhấn mạnh
tính tập trung, đoàn kết, kỷ luật. Người nói: Giai cấp vô sản thực hiện
tập trung vô điều kiện là một trong những điều kiện cơ bản để chiến
thắng giai cấp tư sản. Bất kỳ ai, dù chỉ là một chút lơi lỏng kỷ luật
thép của chính đảng giai cấp vô sản thì người đó trên thực tế đã tiếp
tay cho giai cấp tư sản chống lại giai cấp vô sản. Đây chính là hình
thái gốc của nguyên tắc tập trung dân chủ mà Lenin đề xướng, xây dựng và
hướng dẫn thực hiện.
Thành
phần lãnh đạo sau cùng của đảng Cộng sản Liên Xô được bầu lên trong Đại
Hội Đảng Lần Thứ 27 vào tháng 3 năm 1985. Tổng Bí Thư Gorbachev đứng
giữa, bên tay trái là Thủ tướng Andrei Gromyko. |
Sau Cách
mạng tháng Mười, do sự can thiệp vũ trang của chủ nghĩa đế quốc và sự
phá hoại của bọn phản cách mạng trong nước, Đảng Bolshevik không thể
không áp dụng chế độ tập trung cao độ, quyền lực tối cao tập trung vào
Bộ Chính trị T.Ư Đảng, chế độ ủy nhiệm cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền
thay thế cho chế độ bầu cử trong thực hiện mệnh lệnh chiến đấu. Điều
này bảo đảm cho chính quyền Xô Viết non trẻ vượt qua được những thử
thách gay gắt, song cũng để lại một hệ lụy là đời sống dân chủ trong
Đảng bị suy yếu, quyền dân chủ của đảng viên bị hạn chế, dẫn đến khuynh
hướng một số tổ chức Đảng và cá biệt một vài lãnh đạo có tính chuyên
quyền, độc đoán, đòi hỏi đặc quyền, quan liêu, xa rời quần chúng.
Trước tình hình đó, Lenin muốn xây dựng
một cơ quan giám sát trong Đảng có tính độc lập, có uy tín cao để tăng
cường và hoàn thiện chế độ giám sát trong Đảng, bảo đảm quán triệt chế
độ tập trung dân chủ trong Đảng. Từ Đại hội IX đến đại hội XII, dưới sự
chỉ đạo của Lenin, việc xây dựng cơ chế giám sát trong Đảng có sự phát
triển rất lớn. Lenin đã đích thân chủ trì Đại hội X, Đại hội XI Đảng CS
Liên Xô lần lượt thông qua Nghị quyết về Ủy ban Giám sát và Điều lệ Ủy
ban Giám sát. Năm 1923, khi lâm bệnh nặng, Lenin vẫn viết bài Chúng ta
cần làm gì để cải tổ Viện kiểm sát công nông cho Đại hội XII, trong đó
trình bày một cách khoa học về tư tưởng giám sát và chế độ giám sát của
Đảng và Chính phủ.
Đại hội đại biểu XI là Đại hội cuối cùng
Lenin tham gia. Dưới dự lãnh đạo của Người, Đại hội đã xây dựng được
một hệ thống giám sát trong Đảng tương đối hoàn chỉnh, đó là thành lập
Ủy ban Kiểm tra T.Ư và Ủy ban Giám sát T.Ư. Đồng thời quy định các ủy
viên trong hai ủy ban này phải có 10 năm tuổi đảng trở lên. Ủy ban Kiểm
tra T.Ư gồm ba người, chủ yếu phụ trách công tác kiểm tra cơ quan trung
ương và Ban Bí thư, cũng như kiểm tra tình hình sử dụng kinh phí T.Ư. Ủy
ban Giám sát T.Ư và Ủy ban Giám sát các cấp do đại hội đảng các cấp bầu
ra, chủ yếu phụ trách công tác giám sát của tổ chức các cấp tương ứng.
Thời kỳ đầu, Stalin làm Tổng Bí thư, chế
độ tập trung dân chủ và các chế độ giám sát liên quan tiếp tục được
quán triệt tốt. Khi họp Bộ Chính trị, Stalin thường không nói gì, ông
ngậm tẩu đi đi, lại lại chung quanh bàn họp, chăm chú lắng nghe từng
đồng chí phát biểu. Cuối cùng ông mới lên tiếng, quyết định sau khi bàn
thảo.
Năm 1936,
Hiến pháp Liên Xô sau khi được toàn dân thảo luận trong năm tháng rưỡi
được trình lên Đại hội đại biểu Liên bang Xô Viết thông qua. Đêm
21-6-1941, đêm trước ngày phát-xít Đức tiến công Liên Xô, Stalin đã chủ
trì cuộc họp của Bộ Chính trị đến tận sáng. Sau Đại hội XVII của Đảng CS
Liên Xô vào năm 1934, vị trí của Stalin trong Đảng vững như bàn thạch,
uy tín của ông không ai sánh kịp, lời khen ngợi dành cho ông không ngớt.
Trong nhiều vấn đề, ông bắt đầu tỏ ra quá tự tin, thậm chí độc đoán.
Rồi đại hội Đảng không thể diễn ra theo
đúng định kỳ, Đại hội XVIII diễn ra vào năm 1938 và phải 13 năm sau, Đại
hội XIX mới được tổ chức. Đương nhiên, chiến tranh là một nhân tố khiến
cho việc tổ chức đại hội bị hoãn lại, nhưng nhân tố mang tính quyết
định vẫn là do sinh hoạt chính trị trong Đảng không thường xuyên. Một
minh chứng nữa là sau chiến tranh, từ năm 1947 đến năm 1952 không có một
hội nghị toàn thể T.Ư nào được tổ chức. Trong các văn bản của Bộ Chính
trị Đảng CS Liên Xô năm 1934 rất khó có thể tìm được một nghị quyết do
các ủy viên Bộ Chính trị biểu quyết thông qua, mà đa số nghị quyết là do
Stalin trình bày miệng sau đó thư ký chép lại. Trên rất nhiều văn kiện
trong tháng 9, còn đặc biệt chú thích “chưa trưng cầu ý kiến”.
Tuy nhiên,
cũng không thể dựa vào đó mà kết luận rằng, mọi quyết sách trong thời
gian này đều là kết quả từ sự độc đoán của Stalin. Zhukov, lãnh đạo cao
cấp của Đảng và quân đội Liên Xô đã viết trong hồi ký: Trong suốt thời
kỳ chiến tranh, Bộ Chính trị T.Ư Đảng, Ban Tổ chức T.Ư Đảng và Ban Bí
thư đã họp tổng cộng hơn 200 lần để nghiên cứu thảo luận về những vấn đề
trọng đại như: quốc phòng, ngoại giao, phát triển kinh tế. Ủy ban Quốc
phòng do Stalin lãnh đạo đã đưa ra hơn 10.000 nghị quyết. Trong Ủy ban
Quốc phòng, thường xuyên có những ý kiến trái ngược nhau. Nếu không đạt
được ý kiến nhất trí thì ngay lập tức hai bên tranh luận cử đại diện
tham gia một ủy ban chuyên môn, chịu trách nhiệm đưa ra kiến nghị đã
được hiệp thương nhất trí để bàn thảo tại hội nghị lần sau.
Từ thời
Stalin, chế độ giám sát đồng bộ tương đối hoàn chỉnh do Lenin đích thân
xây dựng đã không được thực hiện một cách triệt để. Đến năm 1934, Điều
lệ Đảng do Đại hội XVII thông qua đã đưa ra quy định mới về chức năng
của Ủy ban Giám sát. Theo đó, Ủy ban này có ba quyền hạn: giám sát việc
thực hiện các nghị quyết của BCH T.Ư, xem xét và xử lý những phần tử vi
phạm kỷ luật Đảng, xem xét và xử Íy những phần tử vi phạm đạo đức Đảng.
Nghĩa là cơ quan giám sát chỉ giới hạn trong việc kiểm tra hoạt động của
tổ chức cấp dưới, giám sát hoạt động của những phe đối lập và đảng viên
bất đồng ý kiến.
Lenin và Stalin. |
Về căn bản,
cơ quan giám sát không thể giám sát cơ quan lãnh đạo và thành viên cơ
quan lãnh đạo thuộc tổ chức đảng ngang cấp. Tính nghiêm trọng của vấn đề
còn thể hiện ở chỗ, bản thân cơ quan giám sát được giao trọng trách
điều tra, xử lý chủ nghĩa quan liêu lại cũng bị nhiễm căn bệnh quan
liêu. Việc giám sát các tổ chức đảng và các cán bộ cấp dưới thường được
tiến hành chiếu lệ. Kiểu kiểm tra qua loa, chiếu lệ diễn ra ngày càng
nhiều, gây phản cảm cho cấp dưới.
Sinh hoạt dân chủ trong Đảng không
thường xuyên, công tác giám sát trong Đảng không được thực hiện nghiêm
chỉnh đã tạo điều kiện cho các hoạt động tiêu cực trong đảng phát triển.
Khi thảo luận Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XVIII, các ủy viên
trong Bộ Chính trị chỉ có khen và khen.
Stalin nói:
Báo cáo các đồng chí thảo luận đã bị bỏ, báo cáo mới sửa các đồng chí
còn chưa xem. Sau một lát lúng túng, Beria, con người rất giỏi nịnh bợ,
nói: Bản thân bản báo cáo này đã quá hay, tin rằng sau khi được đồng chí
Stalin sửa chữa báo cáo sẽ còn tuyệt vời hơn nữa (!) Hồi ấy, trong Đảng
CS Liên Xô, mọi người hầu như không nói thật.
Trên đây chỉ
là một thí dụ về thói nịnh bợ, nói vuốt đuôi. Đối với những đồng chí có
ý kiến bất đồng trong Đảng, Stalin đã có lúc sai lầm khi áp dụng phương
thức đấu tranh tàn khốc, đấu tranh thẳng thừng, mở rộng, thậm chí là mở
rộng nghiêm trọng phạm vi đối tượng bị công kích. Bởi vậy rất khó có
thể nghe tiếng nói khác trong Đảng và quyền giải thích chân lý luôn bị
cá nhân.
Còn tiếp……
Nguồn: Tuần Việt Nam
Gửi email bài đăng này
BlogThis!
Chia sẻ lên Facebook
0 nhận xét:
Đăng nhận xét