Phần thảo luận dưới đây tóm lược một
số ý kiến cơ bản của ông về nguồn gốc, bản chất và giải pháp loại trừ
bất công cũng như định nghĩa, bản chất và thể chất của công lý.
Mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân
Học thuyết chính trị của Plato dựa trên
nguyên tắc cơ bản do ông đề ra rằng con người quan trọng hơn xã hội,
rằng cần phải nghiên cứu bản chất của con người để xác định đúng những
đặc tính của một xã hội đáng được mong đợi. Một xã hội tốt đẹp cần đến
đức hạnh; đức hạnh lại tuỳ thuộc vào bản chất con người; bản chất của
mỗi công dân trong xã hội. Không chỉ có xã hội mà chính các cư dân của
nó góp phần vào quá trình hình thành các tệ nạn xã hội. Những công dân
tốt tạo nên một nhà nước tốt; những công dân băng hoại tạo nên một nền
chính trị băng hoại.
Các phẩm hạnh cơ bản
Theo quan điểm của Plato, các giá trị
đạo đức và hạnh kiểm tuỳ thực vào tính cách tâm lý của con người, tính
cách này lại phụ thuộc vào các đặc điểm sinh lý. Plato định ra ba khía
cạnh sinh lý của con người, mỗi khía cạnh có chức năng tự nhiên riêng:
cái đầu (lý trí), quả tim (tinh thần) và dạ dày (lòng ham muốn). Mỗi
khía cạnh có liên quan với một dạng phẩm hạnh riêng.
Plato định nghĩa phẩm hạnh như "sự ưu việt" (excellence),
được thể hiện qua ba lãnh vực hoạt động chủ yếu của đời sống con người,
tương ứng với ba chức năng tự nhiên; lý trí, tinh thần và ham muốn. Cá
nhân nào vượt trội trong lãnh vực ý chí sở hữu đức "thông thái" (wisdom); cá nhân vượt trội trong lãnh vực vận dụng năng lực tinh thần sở hữu đức "dũng cảm" (courage);
những ai vượt trội trong lãnh vực kiểm soát lòng ham muốn của mình sở
hữu đức "tiết độ" (moderation). Thực tế, mọi người đều có ba dạng hoạt
động như thế, nhưng chỉ những ai có năng lực vượt trội mới được xem là
sở hữu được các phẩm hạnh cơ bản ấy.
Bản chất và vai trò của công lý
Đối với Plato, công lý là một dạng phẩm
hạnh cộng đồng, có tính phối hợp. Nói cách khác, nó là kết quả của sự
đồng tâm hợp tác giữa những cá nhân có đức hạnh tham gia giải quyết các
vấn đề của cộng đồng và quốc gia.
Công lý chỉ ưu thắng khi mỗi cá nhân làm
tròn bổn phận và trách nhiệm của mình, cống hiến tài năng và công sức
của mình cho lợi ích của cộng đồng và đất nước. Trong một xã hội công
bằng, mỗi người cống hiến tài năng và sức lực vốn có của mình, đảm nhận
phần việc phù hợp với khả năng của mình, không chỉ hoàn tất phận sự mà
còn thực hiện với ý thức trách nhiệm đối với xã hội.
Theo Plato, sự cản trở nỗ lực thi hành
bổn phận và trách nhiệm của con người chính là nguyên nhân dẫn đến bất
đồng và xung đột-đó là bản chất của sự bất công. Bất công và hỗn loạn là
kết quả xảy ra khi các thành viên trong xã hội phải cố gắng thực hiện
những gì nằm ngoài khả năng, kiến thức chuyên môn và sức lực của họ. Vì
thế, mỗi nhà nước lý tưởng và một xã hội công bằng chỉ có thể tồn tại
khi mỗi công dân thực hiện phần cống hiến phù hợp với lãnh vực chuyên
môn và năng lực vốn có của họ.
Cơ cấu tổ chức của nhà nước lý tưởng
Trong một nhà nước lý tưởng, cơ cấu tổ
chức nhân sự dựa trên cơ sở tài năng và phẩm hạnh của mỗi thành viên.
Theo Plato, nhà nước lý tưởng gồm có 3 tầng lớp chính:
1. Tầng lớp sư phạm, hay bảo hộ: Bao gồm
những cá nhân có đức độ và thông thái, đảm nhận trách nhiệm quản lý
chính quyền và giáo dục quốc dân.
2 Tần lớp chiến binh: Bao gồm những cá
nhân có đức dũng cảm, có năng lực ý chí và tinh thần vượt trội. Giới này
đảm nhận trách nhiệm bảo vệ nhà nước, đối phó với nạn ngoại xâm cũng
như nội biến.
3. Tần lớp lao động, hay thợ thủ công:
Bao gồm những cá nhân có đức tiết độ (tự kiềm chế), đảm nhận những phần
việc thường được dành cho giới lao động, nông dân, dịch vụ và thương
nhân. Học được đức tuân thủ và kiềm chế bản thân, họ chính là những
người thi hành và biến các chính sách của nhà nước thành hiện thực.
Giáo dục trong nhà nước lý tưởng
Theo Plato, cần phải chọn lựa và đào tạo
các thành viên trong quốc gia, dựa trên cơ sở tôn trọng tài năng, qua
đó tạo điều kiện cho phép họ phát huy những phẩm hạnh tương ứng với bổn
phẩn và trách nhiệm trong tương lai. Điều này có thể thực hiện được
thông qua một nền giáo dục dân chủ.
Vào một độ tuổi nhất định, mọi đứa trẻ
phải được đến trường, được giáo dục và có cơ hội bộc lộ năng lực bản
thân như nhau. Bước vào tuổi thanh niên, những cá nhân có khuynh hướng
trở thành người lao động sẽ được chọn ra để tổ chức hướng nghiệp phù hợp
với năng lực bản thân. Vài năm sau, số học sinh còn lại trải qua đợt
tuyển chọn thứ hai, các chiến binh tương lai sẽ ra trường và bắt đầu
phục vụ trong quân đội. Chỉ có những người giám hộ trong tương lai mới
tiếp tục việc học, tiếp nhận khối lượng kiến thức chuyên sâu về biện
chứng pháp (dialectics) và các bộ môn triết học khác, đồng thời
tham gia phục vụ tại các cơ quan nhà nước, tập sự công việc quản lý
chính quyền. Sau khi được đào tạo hoàn chỉnh, các giám hộ có cơ hội trở
thành những người lãnh đạo quốc gia, xét theo tính cách đạo đức, học
thuật và trí tuệ vượt trội của họ.
Chính thể quý tộc
Phần thảo luận trên nêu bật đặc điểm của
sự phân tầng trong xã hội. Mặc dù mỗi người đều được hưởng cơ hội vươn
đến những vị trí cao nhất trong nhà nước, dù nền tảng giáo dục được
thiết lập trên nguyên tắc dân chủ, chỉ có những cá nhân ưu việt nhất,
trách nhiệm giáo dục và quản lý cộng đồng.
Theo Plato, bất cứ một nhà lãnh đạo nào
có tài năng và đức độ vượt trội hơn hẳn các viên chức nhà nước khác cũng
có thể trở thành vị "quân chủ" (monarch). Tuy nhiên, nếu như
không có ai thông thái và đức độ sánh ngang Socrates, tốt hơn nên đặt
quyền lãnh đạo tối cao vào một nhóm người có phẩm chất ưu việt nhất- một
hội đồng như viện nguyên lão, một hình thức của chế độ quý tộc (aristocracy). Các thành viên trong hội đồng nhà nước tối cao này phải sống như những người cộng sản (communists),
không sở hữu bất kỳ một tài sản riêng nào trong suốt thời gian phục vụ,
nhằm loại trừ khả năng phát sinh tệ tham nhũng và các hình thức lợi
dụng chức quyền khác.
Plato đánh giá thể chế quý tộc, xét về
mặt tổng quát, là chính thể tốt đẹp nhất (quân chủ là thể chế hoàn mỹ
nếu có được một đấng minh quân xuất chúng). Ông cũng phân tích bốn dạng
chính thể bất toàn khác, có xu hướng thoái hoá dần như sau:
1. Timocracy: Dạng chính quyền do những người tài giỏi và danh tiếng (các chiến binh và anh hùng dân tộc) điều hành.
2. Chính thể đầu sỏ(Oligarchy):
Dạng chính quyền do một nhóm người, nổi tiếng nhờ thế lực tiền tài,
điều hành và thao túng. Khi dân chúng trong một đất nước quá tôn trọng
sự phồn vinh vật chất, các nhà tài phiệt được trọng vọng, có cơ hội nắm
quyền lực và thực hiện những mục đích mưu lợi cá nhân.
3. Chính thể dân chủ (Democracy): Dạng chính quyền được điều hành bởi nhân dân, được xây dựng trên nền tảng bình đẳng (equaility).
Bởi vì một chế độ dân chủ đơn thuần thiếu cơ sở hiến pháp, không thể
hạn chế những quyết định "bốc đồng và nông nổi" của quần chúng; nó có
khuynh hướng bị điều khiển bởi các tay đầu cơ chính trị, bị lôi kéo vào
các mục tiêu cục bộ, nhất thời và dẫn đến sai lầm. Trong trường hợp ấy,
nó thực sự là một chính quyền kém hiệu quả, được điều hành bởi những cá
nhân không đủ phẩm chất và năng lực cần thiết.
4. Chính thể độc tài(Tyranny): Dạng chính quyền nằm trong tầm khống chế và thao túng của một cá nhân, người được gọi là "nhà độc tài".
Theo Plato, hình thức chính quyền khả dĩ lành mạnh nhất là chế độ cộng hoà (Republic),
được điều hành bởi một nghị viện quý tộc bao gồm những cá nhân vô sản
phẩm chất ưu việt nhất (về mặt đạo đức lẫn năng lực trí tuệ). Mặc dù
thế, ông vẫn chọn chính quyền quân chủ nếu như tìm được một nhà lãnh đạo
kiệt xuất-một đấng minh quân triết gia - người có thể trị vì đất nước
với đức công chính và sự thông tuệ toàn hảo. "Trừ phi các bậc đế vương trở thành triết gia, hoặc các triết gia trở thành đế vương, nhà nước lý tưởng là điều không tưởng".
S.T
2 - Nhà nước lý tưởng của Aristotle
Aristotle (384-322 TCN, nhà
triết học cổ đại Hy Lạp), giống như Plato, xây dựng học thuyết nhà nước
lý tưởng trên nền tảng bản chất con người. Tuy nhiên, khác với Plato,
ông đặt ra vai trò và lợi ích của nhà nước lên trên quyền lợi và tầm
quan trọng của cá nhân.
Aristotle cho rằng con người, về bản
chất, là một tạo vật có tính xã hội và chính trị, rằng cá nhân không thể
có đời sống ẩn dật chỉ kéo dài một sự tồn tại khác thương, một đời sống
dẫn đến sự biến dạng tính cách của anh ta. Đời sống cô độc đi ngược lại
bản chất và lợi ích của con người. Thực tế, Aristotle nhận định, mục
đích trong đời của mỗi cá nhân là thực hiện toàn mãn bản chất của mình
để trưởng thành, thăng hoa và hưởng thụ hạnh phúc. Trong chuyến hành
trình cuộc đời ấy, điều tốt đẹp nhất (hạnh phúc) chỉ có thể đạt được ở
môi trường xã hội.
Với cái nhìn như thế, xã hội không được
tạo ra vì con người, vì thiên hướng và lợi ích của con người. Trên tất
cả, nó là một thực tại có ý nghĩa sống còn đối với nhân loại, là một nhu
cầu không thể thiếu của cuộc sống con người. Chính vì lẽ đó, đạo đức xã
hội (thể hiện qua đời sống chính trị) phải được đặt trên một đạo đức cá
nhân. Khi cần thiết, mỗi cá nhân phải tự nguyện hy sinh cho lợi ích
quốc gia. Thực chất, không phải xã hội cần đến con người mà ngược lại,
con người phải cần đến xã hội; bởi lẽ xã hội là một thực tại có giá trị
đạo đức, phát sinh từ những nhu cầu thiết yếu của nhân loại.
Mục đích của nhà nước
Để phát triển một cách lành mạnh, thoả
mãn mọi nhu cầu như: sinh lý, giao tiếp, trí tuệ, văn hóa v.v..., con
người phải sống cuộc đời của mình bên trong khuôn khổ xã hội (social matrix).
Hơn nữa, do được hình thành từ một ý tưởng tốt lành, hướng đến mục đích
đạo đức và xã hội nền tảng luân lý, nhà nước chính là chỗ dựa cần thiết
cho mỗi cá nhân trong quá trình hoàn thiện bản thân và thành tựu hạnh
phúc trong đời. Mục tiêu cơ bản của nhà nước là tạo điều kiện cho mỗi
công dân được hưởng một cuộc sống thư nhàn, có cơ hội nhận thức được giá
trị tối thượng của con người. Đó là cuộc sống hướng đến các giá trị văn
hóa, nghệ thuật, tôn giáo, chính trị, khoa học và trên tất cả, triết
học.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong xã hội của Aristotle, quyền công dân chỉ được dành cho các tầng lớp thượng đẳng (upper classes);
tầng lớp nô lệ và nông dân, do đời sống nghèo khổ, bị buộc phải lao
động. Bởi vì chỉ có các tầng lớp thượng đẳng hưởng được cuộc sống thư
nhàn và đắm mình trong các hoạt động nghiên cứu chính trị, khoa học,
triết học, v.v..., chỉ riêng họ mới có cơ hội đạt được hạnh phúc, điều
tốt đẹp nhất của cuộc sống và là sản phẩm có giá trị nhất được tạo ra từ
hoạt động trí tuệ ưu việt của con người.
Nhà nước lý tưởng
Theo Aristotle, chính thể lý tưởng là
vấn đề mang tính tương đối; không thể có thể chế tối hảo cho mọi dân
tộc, cho mọi thời đại. Một chính thể được xem là "tốt đẹp" khi giới cai
trị quan tâm đến vấn đề an sinh của dân chúng; trong khi một chính thể
bị xem là "thối nát" khi giới cai trị quan tâm chủ yếu đến mục đích tư
lợi. Do vậy, một chỉnh thể "tốt đẹp" có thể bị tha hoá và rơi vào tình
trạng "thối nát" nếu giới cai trị bắt đầu mưu cầu tư lợi, lơ là trách
nhiệm đối với vấn đề an sinh cộng đồng. Xét từ cái nhìn đó, mỗi chính
thể tốt đẹp đều có một hình thức thối nát tương ứng với nó.
Chính thể tốt đẹp
|
Chính thể thối nát
|
Quân chủ (Monarchy)
Quý tộc (Aristocracy)
Hợp tiến (Polity) |
Độc tài (Tyranny)
Đầu sỏ (Oligarchy)
Dân chủ (Democracy) |
Như đã đề cập, trong chính thể quân chủ,
quyền điều hành tối thượng thuộc về một nhà lãnh đạo đức độ và thông
tuệ, người quan tâm đến phúc lợi cộng đồng. Chỉ khi nào người đảm nhận
cương vị ấy không nghĩ đến lợi ích của dân chúng, bắt đầu thâu tóm quyền
lực và tiền của, chính thể ấy mới rời vào tình trạng độc tài.
Tương tự, trong chế độ quý tộc, quyền
điều hành thuộc về nhóm quý tộc (công dân) có phẩm chất và năng lực ưu
việt. Khi quyền hành ấy rơi vào tay của một nhóm người chỉ quan tâm đến
việc lạm dụng chức quyền để mưu cầu tư lợi, chế độ quý tộc bị thao túng
bởi các nhà tài phiệt, trở nên thối nát và thoái hoá thành chính thể đầu
sỏ.
Cuối cùng, chính thể hợp hiến, được điều
hành bởi một số người dân có phẩm chất xứng đáng, chỉ thoái hoá thành
chế độ dân chủ khi đa số giới cầm quyền phớt lờ lợi ích của Nhà nước và
quần chúng, lạm dụng chức quyền để mưu cầu tư lợi. Trong chính thể dân
chủ, quần chúng quyết định các chính sách quốc gia vì lợi ích cục bộ hơn
là vì lợi ích của đất nước.
Điều tiết cơ cấu hành chính
Aristotle áp dụng nguyên tắc "tiết độ
trong mọi sự" vào vấn đề thẩm định cơ cấu của một quốc gia. Thí dụ: Liệu
bộ máy chính quyền hiện tại có quá nhỏ, hay quá cồng kềnh so với dân
số, điện tích của đất nước, hoặc so với dân trí?
Ông đi đến kết luận rằng một nhà nước lý
tưởng phải có đa số dân thuộc tầng lớp trung lưu. Tầng lớp nghèo khổ
chiếm đa số sẽ là một gánh nặng đối với vấn đề an ninh quốc gia; đồng
thời, sự vượt trội về số lượng người giàu thuộc tầng lớp thượng lưu cùng
tạo ra tình trạng mất cân đối về mặt phân phối phúc lợi và quyền lực
trong đất nước. Giới trung lưu chiếm đa số và quyền điều hành thuộc về
giới trung lưu là điều kiện "lành mạnh nhất" đối với sự phát triển của
một quốc gia.
"Mọi hình thức thái quá đều
phải được loại trừ". Dành quá nhiều nhân lực cho một chức nghiệp nào đó
sẽ phá vỡ sự cân bằng và ổn định của một đất nước. Ngoại trừ giới trung
lưu, quá nhiều phục vụ cho một lãnh vực nào đó, sẽ gây phương hại thậm
chí huỷ hoại cả một quốc gia. Aristotle dẫn chứng: "Người Sparta mải đầu tư cho chiến tranh, không chuẩn bị cho hoà bình. Vào thời bình, họ rỉ sét như thanh gươm nằm trong vỏ".
S.T
3 - Quan điểm thần quyền của Thomas Aquinas
Theo Thomas Aquinas (1225-1274, triết gia và nhà thần học người Italia), Thượng Đế là nhà lập pháp tối thượng (the superme lawgiver),
đấng sáng tạo mọi quy luật, siêu nhiên lẫn tự nhiên – bắt nguồn từ
những quy luật gốc ấy, luật pháp của con người được hình hành.
Thomas Aquinas nhận định rằng trật tự xã
hội và những quy tắc công bằng của nó tuân theo khuôn mẫu mà Thượng Đế
đã định sẵn trong thế giới tự nhiên. Những điều luật bất công, vốn không
tuân theo khuôn mẫu ấy, không thể được xem là luật pháp đích thực. Mặc
dù, nói một cách nghiêm chỉnh, con người không có bổn phận phải tuân
theo những điều luật bất công, nhưng vẫn có những lý do đạo đức đòi hỏi
sự vâng mệnh trước quyền lực, bởi lẽ “mọi quyền lực đều xuất phát từ Ý chúa”. Con người phải tuân theo giới cầm quyền, bởi vì không có quyền lực nào nằm ngoài quyền năng của Thượng đế.
Nắm quyền thống trị là sở hữu quyền lực,
là bước lên cương vị và đảm nhận trách nhiệm cao hơn người khác. Đối
khán với quyền lực là đối kháng với thiên mệnh, với “trật tự” mà Thượng
đế đã định ra. Không chỉ quyết định thang bậc tôn ti ở chốn thiên đường (celestial hierarchy), trật tự ấy cũng quyết định hệ thống thang bậc trong giáo hội (ecclesiastical hierarchy) và cơ cấu xã hội (social order).
Trong xã hội trần tục, người lãnh đạo tối cao của nhà nước thọ lãnh
thiên mệnh, thực hiện trật tự của Thượng đế; mọi thần dân và thuộc cấp
đều phải tuân theo. Thomas Aquinas quan niệm rằng ngay cả hành động sai
trái của kẻ cai trị tàn ác nhất cũng là hành động gián tiếp của Thượng
đế.
Bạo lực và bất tuân luật pháp
Thomas Aquinas còn nhận định rằng mối
quan hệ đúng mực giữa năng lực người dân và luật phát là cơ sở xác lập
trị an mà không cần sử dụng đến bạo lực. Bạo lực là điều đáng ghê
tởm,chỉ nên sử dụng như biện pháp cuối cùng để tranh đấu với cái xấu, và
phải được giới hạn ở mức cần thiết. Xét cho cùng, bạo lực đối nghịch
với bản chất của tự nhiên, rất hiếm khi nó hợp với thiên ý. Chính vì lý
do đó, khi đối mặt trước bạo lực, con người luôn có khuynh hướng nhân
nhượng và hoà hoãn. Tuy nhiên, người ta cũng cần nhận thức rõ hiểm hoạ
và khi cần thiết, bước vào cuộc chiến chống lại Cái Ác.
Thomas Aquinas cho rằng có sự khác biệt
giữa những điều luận “bất công”(vô đạo hay nghịch thiên) và những điều
luật “bất lợi” (trái ý hoặc gây phương hại cho lợi ích của một số cá
nhân). Đối với các điều luật vô đạo, chúng ta không bao giờ nên chấp
nhận và tuân thủ. Tuy nhiên, đối với các điều luật bất lợi (một trong
những dạng biến động thăng trầm của đời người), cách phản ứng của mỗi cá
nhân (tuân thủ hoặc phủ nhận chí kình chống) chính là thước đo lương
tâm và đạo đức của bản thân. Một người vô tội bị kết án tử hình có đủ lý
do đạo đức khi tìm cách trốn tránh thụ hình, nhưng một tội phạm thực sự
thì không. Thực tế, lịch sử nhân loại ghi nhận không ít gương trung
thần, danh sĩ khí tiết hơn người – họ chấp nhận hình phạt bất công để
bảo vệ những giá trị và nguyên tắc đạo đức cao đẹp. Trong giới triết
gia, Socrates là một tấm gương điển hình như vậy. Ông đã đón nhận án tử,
sử dụng thái độ của mình như một phương cách tôn vinh công lý: tôn
trọng tính uy nghiêm của luật pháp, vận dụng lý lẽ để phản kháng. Cái ác
thay vì bài xích và hạ thấp giá trị công lý thiêng liêng của một phán
quyết.
Quy luật tự nhiên
Suy luận lôgic, theo quan niệm của Thomas Aquinas, là cơ sở thích hợp
để đánh giá phẩm hạnh của con người, nhưng chính quy luật tự nhiên không
chỉ quyết định hình nên khuôn mẫu suy luận ấy. Cũng cần lưu ý rằng quy
luật tự nhiên không chỉ quyết định sự vận hành của các cơ quan của con
người, nó còn bao hàm những phẩm chất luân lý – vì thế, nó cũng là quy
luật đạo đức. Đối với quy luật tự nhiên, con người có quyền chọn lựa
thái độ tuân thủ, theo đuổi hay xuyên tạc nó. Tuy nhiên, mọi hành vi
trái luật tự nhiên đều trái với đạo đức.
Thomas Aquinas tin tưởng rằng con người
không nhận thức về quy luật tự nhiên thông qua con đường suy luận, mà
thông qua sự trực nhận, một thiên hướng cho phép con người nắm bắt được
lẽ tốt đẹp phù hợp với bản chất của chính mình. Thông qua quá trình suy
luận, chúng ta có thể nhìn nhận rằng thiên hướng ấy là tốt đẹp, rằng
những điều sai lệch so với quy luật tự nhiên “bất thành văn” chỉ trở
thành tri thức và phản ứng tự nhiên của chúng ta thông qua sự trực nhận,
không đòi hỏi sự hỗ trợ của quá trình suy lý.
Thiên hướng trực nhận lẽ đúng sai không đơn giản chỉ là bản năng động vật; nó bao gồm cả hoạt động ý thức. Hơn nữa, bản thể (ontological life)
hoà hợp với hoạt động ý thức. Hơn nữa, thiên hướng này bám rễ sâu trong
các hành vi lý trí, hoạt động dưới tiếng gọi, mệnh lệnh hay nguyên tắc
của lương tâm, đòi hỏi chúng ta hành thiện, động viên chúng ta chống lại
cái ác. Thực tế tri thức của nhân loại về những đạo lý trong đời đều
được phát hiện dựa trên thiên hướng trực nhận, một thiên hướng thuộc về
bản chất của con người. Thời xa xưa, thiên hướng trực nhận ấy là con
đường duy nhất dẫn đến tri thức luân lý. Về sau, con đường ấy bị che
khuất dần giữa đám rừng ngôn từ và ý tưởng trí xảo; con người bắt đầu
làm quen với các khuynh hướng suy luận, len lỏi theo những lối mòn để
tìm đến cánh cửa tri thức.
Quy luật vĩnh hằng
Theo Thomas Aquinas, mặc dù quy luật
vĩnh hằng xuất phát từ Thượng Đế, ý nghĩa của nó cần được nhận thức theo
quan điểm triết học hơn là dựa trên quan điểm thần học. Thượng đế bất
diệt – Đấng sáng tạo, khởi động và vận hành muôn vật – hiện hữu và hành
động với ý nguyện và tuệ giác của ngài. Do vậy, bộ máy vũ trụ vận hành
theo lẽ trời – nói cách khác, quy luật tự nhiên là lẽ hành sự của Thượng
đế. Lý lẽ của ngài, Tuệ giác bất diệt của Ngài, Bản chất siêu phàm của
Ngài, hợp nhất với quy luật vĩnh hằng, thể hiện “sự minh tuệ thần thánh”
bao trùm mọi chuyển động và hành trạng của muôn vật.
Do xuất phát từ sự minh tuệ thần thánh
ấy, quy luật tự nhiên tất phải bao hàm đạo lý (hay lẽ phải) và luân lý
(hay cơ chế vận hành mang tính áp đặt) – nói cách khác, nó phải có bản
chất của một quy luật đích thực. Khả năng áp chế của quy luật tự nhiên,
hình thành nên các nguyên tắc luân lý, hoàn toàn gắn liên với sự tồn tại
của Thượng đế – không có Thượng đế, tất không có đạo đức.
Thể hiện sự minh tuệ thần thánh (divine wisdom),
quy luật vĩnh hằng vốn vô ngôn, bất khả thuyết, bất khả tư lượng – chỉ
có bản thân Thượng đế, hoặc những ai thực chứng được bản thể của Ngài,
mới có thể nắm bắt được quy luật ấy.
Luật pháp
Theo triết lý của Thomas Aquinas, luật
pháp là luật được định hình dưới dạng văn bản, thể chế hoá lẽ phải bằng
lý luận thực tế. Do quan niệm về lẽ phải được cụ thể hoá dưới dạng quy
định pháp lý, áp đặt nên mỗi cá nhân và được xã hội thực thi, nó trở
thành một nghĩa vụ luật pháp mà nếu như phớt lờ, người ta có thể bị
trừng phạt. Trong khi hiệu lực của luật pháp dựa trên cơ sở sự cưỡng chế
của xã hội (pháp chế ), quy luật tự nhiên “bất thành văn”, thông qua
mệnh lệnh của lương tâm, đòi hỏi chúng ta tuân theo các nguyên tắc luân
lý. Vì thế, quy luật tự nhiên có liên quan đến nghĩa vụ đạo đức hơn là
nghĩa vụ luật pháp.
Quyền tự nhiên
“Tự bảo toàn sinh mạng” là một thí dụ điển hình cho quyền tự nhiên (natural right),
khái niệm thường đi kèm theo quy luật tự nhiên. Quyền tự nhiên tồn tại
như tiền đề cơ sở cho sự hình thành các quyền hạn cụ thể trong khuôn khổ
pháp lý. Nó tiềm ẩn trong quy luật tự nhiên.
Luật quốc tế
Công pháp hay luật quốc tế (the jus gentium
) là luật được áp dụng ở các quốc gia có cùng một nền văn minh. Khác
với quy luật tự nhiên, nó chỉ được nhận thức thông qua lý lẽ và các khái
niệm tư duy, không thông qua khuynh hướng trực nhận. Mặc dù có thể
không được thể chế hoá thành những quy định rõ ràng, công pháp vẫn mang
tính pháp chế, dựa vào hoạt động lý trí và nhận thức của con người.
Tương tự như luật lệ xã hội đòi hỏi mỗi cá nhân trong cộng đồng phải
tuân thủ, luật quốc tế có giá trị pháp lý lẫn luân lý, bởi lẽ nó đòi hỏi
chúng ta phải có nghĩa vụ luật pháp lẫn đạo đức.
S.T
4 - Quan điểm toàn trị của Niccolo Machiavelli
Niccolo Machiavelli (1469-1527, văn sĩ, chính trị gia Italia thời Phục Hưng)
đề xuất một học thuyết biện minh cho giới cai trị trong việc sử dụng
mọi phương tiện cần thiết, công chính lẫn ám muội, để duy trì một chính
phủ vững mạnh và ổn định trật tự xã hội “mục đích biện minh cho phương
tiện,” dẫu rằng mục đích ấy chỉ mang đến lợi ích cho chế độ cai trị độc
tài.
Để có được quyền lực chính trị, người
ta cần phải được sinh ra trong một gia đình thế gia vọng tộc, hoặc phải
chiếm đoạt quyền lực bằng ý trí, tài năng thậm chí bằng thủ đoạn. khi đã
thâu tóm quyền hành đạt được từ thủ đoạn, với sự hỗ trợ của một số kẻ
đồng mưu (những có đủ tham vọng và tính gian hùng cần thiết để tham gia
thực hiện những mưu đồ xấu xa), người ta cần phải loại trừ họ. Hơn nữa,
trong quá trình tiêu diệt các kẻ thù trong nước, người cầm quyền phải
kiên quyết, nhẫn tâm và không được phép xót thương – nếu không, ” sau
một vài cơn mưa, cỏ dại lại mọc đầy.”
Lòng cảm thông của kẻ cai trị dành cho
thần dân phải được giới hạn ở mức cần thiết để có thể duy trì trọn vẹn
quyền lực của bản thân. trung tín, tôn giáo, v.v…. với mục đích xây dựng
một hình ảnh tốt đẹp trước công chúng, nhưng ông ta thường xuyên phải
luôn hành động ngược lại với ý tưởng ấy. Trên tất cả, ông ta cần phải
hình thành nên một tính cách đạo đức giả và mềm dẻo. Chỉ có một vài
người gần gũi và nhạy cảm mới phát hiện ra tính cách thực của ông ta,
nhưng thông thường họ không dám phản kháng hay vạch trần bộ mặt giả dối
của kẻ cai trị đầy quyền lực. Nhờ đó, những kẻ cai trị mới duy trì được
địa vị tôn quý của họ.
Thuật làm vua
Tác phẩm kinh điển của Machiavelli,
“Thuật làm vua” (The Prince), phân tích đến phép cai trị của các bậc vua
chúa, đặt vấn đề liệu rằng họ nên tin tưởng vào thần dân đến mức độ
nào, liệu rằng họ nên sử dụng đến những phương cách gì để điều phục dân
chúng. Machiavelli kết luận rằng các bậc vua chúa phải sử dụng đến luật
pháp lẫn vũ lực. Do luật pháp thường tỏ ra kém hiệu quả, vũ lực luôn
được cần đến – mặc dù xét theo một góc nhìn nào đó, vũ lực chỉ được sử
dụng để đối phó và trấn áp thú dữ.
Tóm lại, các bậc vua chúa nên thể hiện
một tính cách hai mặt: thèm khát quyền lực như một mãnh sư, đồng thời
phải ranh ma và xảo quyệt như một con cáo. Làm vua chúa, phải luôn cảnh
giác, phải luôn nhớ rằng “mãnh sư bị sập bẫy, cũng như một chú cáo ở
giữa bầy sói, không có khả năng tự vệ” hai mặt tính cách nói trên hỗ trợ
cho nhau. Như con cáo, vua chúa phải che giấu bản chất thực sự của
mình, tỏ vẻ đức độ ngay cả khi hành xử xấu xa. Như con mãnh sư, ông ta
cần phải biết tàn nhẫn. Chỉ có những vị vua quá xuẩn ngốc mới có lòng
nhân từ và đức độ thực sự – họ sẽ đánh mất vương quốc của mình vào tay
kẻ thù. Tuy nhiên, để giữ được quyền lực, vua chúa buộc phải tạo dựng
cho mình một hình ảnh của người cai trị đức độ.
Các thể chế Chính quyền
Machiavelli nhận định rằng trong suốt
lịch sử nhân loại, chỉ có hai chính thể cơ bản: quân chủ và cộng hoà,
trong đó cộng hoà là thể chế tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, chế độ cộng hoà
chẳng thể hoạt động hiệu quả nếu không có những công dân có phẩm chất và
đức độ. Trong trường hợp nhân tâm đã loạn, chỉ có chế độ quân chủ là
khả thi. Theo ông, mục đích “trấn áp lòng người “có thể biện minh cho
cung cách cai trị cứng rắn kết hợp với các hình thức mị dân. Nói cho
cùng, “mục đích biện minh cho phương tiện.”
S.T
5 - Quan điểm của Thomas Hobbes
Triết lý chính trị của Thomas Hobbes (1588 – 1679, Triết gia Anh) đặt trên nền tảng học thuyết khế ước xã hội (Social Contract theory), học thuyết nền tảng của các thể chế dân chủ hiện đại.
Chúng ta cũng cần lưu ý rằng các quyền bất khả tước đoạt của con người, theo niềm tin của Hobbes, là các quyền tự nhiên (natural rights); trong khi khái niệm nhân quyền (human rights) thời hiện đại được xem là các quyền được một thực thể thần thánh (divine Being) ban cho.
Hobbes tuyên bố rằng con người, về cơ
bản, là một tạo vật sa đoạ và không đáng tin cậy, rằng họ luôn phải tự
bảo vệ bản thân giữa các đồng loại chẳng khác gì những con thú trong
rừng vậy! Mỗi cá nhân luôn cảm thấy cần thiết phải đóng kín cửa đề phòng
kẻ trộm đột nhập, thậm chí phải luồn ví tiền dưới gối đề phòng kẻ trộm
trong chính gia đình mình. Con người không chỉ sa đoạ mà còn thích gây
gổ và hiếu chiến đến độ, ngoại trừ những khoảnh khắc nghỉ ngơi giữa các
cuộc khẩu chiến, họ liên tục xung đột, cạnh khoé và chống phá lẫn nhau.
Có ba lý do lý giải tính hiếu chiến của
con người: cạnh tranh (để giành quyền sống cho mình), thiếu tin cậy vào
người khác (nhu cầu tự bảo toàn) và thèm khát vinh quang (nhu cầu được
kính trọng). Cạnh tranh đưa con người đến bạo lực, thiếu lòng tin làm
nảy sinh khuynh hướng tự vệ, và hãnh tiến đòi con người xây dựng các
hình thức ngoại giao tinh tế.
Quyền tự nhiên
Theo Hobbes, quy luật thống trị cung cách ứng xử của mọi tạo vật là luật rừng, "luật nanh vuốt " (the law of tooth and claw).
Với quy luật khốc liệt ấy, sức mạnh tạo nên lẽ phải. Trong rừng, mãnh
sư ưu tiên giành lấy những gì nằm trong khả năng của nó; sau đó các loài
thú khác lần lượt dành lấy phần của chúng. Con người cũng hành động như
thế và nếu cần thiết, thậm chí họ còn tàn sát lẫn nhau hoặc biến đồng
loại thành nô lệ. "Mỗi người có quyền làm mọi sự trong khả năng, ngay cả khi làm chủ thân thể của kẻ khác."
Quyền bình đẳng giữa con người
Như đề cập ở trên, quy luật tự nhiên cho
phép mỗi người, trong khả năng của mình, làm mọi việc theo ý muốn - bởi
lẽ trong thế giới dã thú, “chẳng có gì xem là bất chính cả”. Mặt khác,
để tránh bị kháng cự và phản công, con người phải xảo trá hơn cả dã thú.
Một người yếu đuối, nếu được trang bị vũ khí lợi hại và có chiến thuật
hiệu quả, hoàn toàn có thể hạ gục một người khoẻ mạnh. Hobbes chỉ ra
rằng, do con người có năng lực thể chất không đồng đều, các cá nhân yếu
đuối thường có xu hướng tập hợp thành nhóm để tự vệ hoặc để chống lại kẻ
thù hùng mạnh. "Xét về mặt thể lực, kẻ yếu vẫn có đủ khả năng tiêu
diệt kẻ mạnh bằng thủ đoạn hiểm độc, hoặc bằng cách liên kết với những
ai có cùng mục tiêu như họ." Về phương diện này, Hobbes đồng tình với phương châm cổ: " Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết" (United we stand, divided we fall).
Luật tự nhiên
Hobbes tin tưởng rằng, xét theo luật cơ
bản của tự nhiên, cá nhân phải bảo vệ cuộc sống của chính mình bằng mọi
cách và với mọi giá, rằng không có gì quý hơn mạng sống và đáng phải hy
sinh mạng sống cả. “Tự bảo toàn sinh mạng” là quy luật tự nhiên đầu
tiên, thúc giục con người “tìm kiếm và theo đuổi hoà bình.” Nỗi sợ chết
hay sợ tổn thương, kết hợp với bản năng bảo toàn sinh mạng, ngăn không
cho con người làm hại bản thân và người khác. Quy luật đầu tiên ấy (luật
tự bảo toàn sinh mạng) thúc đẩy con người tuân phục quy luật thứ hai,
liên quan đến khế ước xã hội - bởi lẽ sinh mạng chỉ được bảo toàn tốt
nhất trong một xã hội, nơi mà sự an bình lâu dài được xác lập trên nền
tảng của một khế ước cộng đồng.
Khế ước xã hội
Đối với Hobbes, khế ước xã hội là phương
tiện thiết yếu để xác lập các quyền công dân trên cơ sở của quy tắc
vàng trong phép xử thế (“Hãy dành cho người khác những gì mà bạn muốn nhận được từ họ”), thay cho quy luật tự nhiên “mạnh được yếu thua". Các cá nhân có được quyền công dân bằng cách chấp nhận một thoả ước cộng đồng được xây dựng trên nguyên tắc “cá
nhân sẵn sàng, vì mục đích hoà bình, vì quyền tự nhiên của mình, bằng
lòng giới hạn sự tự do của mình đến một mức độ mà, trong tình huống
tương tự, những người khác cũng sẵn lòng kiềm chế như vậy." Nguyên
tắc này cấu thành nên quy luật thứ hai về khế ước xã hội. Ý nghĩa và tầm
quan trọng của quy luật ấy chỉ có giá trị nếu nó thoả mãn được quy luật
tự nhiên đầu tiên - luật tự bảo toàn sinh mạng.
Các luật phát sinh từ khế ước xã hội
Qua phần thảo luận, rõ ràng quy luật thứ
hai được phát triển từ quy luật đầu tiên; bởi lẽ con người chỉ chấp
nhận tham gia khế ước xã hội với mục đích bảo đảm quyền sống của bản
thân. Hobbes nhận định rằng có một số quy luật khác phát sinh từ 2 quy
luật đầu tiên ấy. Ông tổng kết các quy luật như sau:
1. Con người không được làm điều gì có khả năng huỷ hoại cuộc sống bản thân ( luật tự bảo toàn sinh mạng ).
2. Cá nhân sẵn sàng, khi những người
khác cũng thế, đặt mục đích hoà bình và tự bảo vệ bản thân nên trên hết;
cá nhân bằng lòng với quyền tự do trong khuôn khổ mà anh ta có thể chấp
nhận dành cho người khác trong tình huống tương tự (luật khế ước xã hội
).
3. Mỗi người đều thực thi các nghĩa vụ theo thoả ước ( luật công lý ).
4. Với một người thọ nhận lợi ích, từ
lòng hảo tâm hay sự biết ơn của người khác, không có lý do gì khiến anh
ta phải ân hận về thiện ý của mình (luật hàm ơn).
5. Mỗi người tranh đấu để tự thích ứng với cộng đồng (luật thích nghi).
6. Sau khi cảnh cáo, "cá nhân nên tha thứ cho những kẻ xúc phạm đã biết hối lỗi và mong được dung thứ" (luật vị tha).
7. Về vấn đề báo thù (lấy oán trả oán),
người ta không nên xem nặng tội lỗi quá khứ, hãy nghĩ đến những điều tốt
đẹp ở tương lai ( luật báo thù).
8. Không ai được phép tuyên bố sự ghét
bỏ hay kinh miệt người khác thông qua hành động, lời nói, dáng vẻ hay ra
dấu hiệu (luật khinh miệt).
9. Mọi cá nhân thừa nhận rằng mỗi người đều bình đẳng về mặt bản chất (luật tự tôn).
10. Hội nhập vào “điều kiện chung sống
hoà bình, không ai được phép giành riêng bất kỳ quyền lợi nào mà cá nhân
không sẵn lòng chia sẻ cho cả cộng đồng” (luật ngã mạn và khiêm tốn).
11. Đối với những gì không phân chia
được; “nếu có thể, hãy cùng thụ hưởng chung; và nếu như có thể phân chia
được về mặt số lượng, hãy chia đều cho số người được quyền thụ hưởng”
(luật công bằng).
12.Quyền chiếm hữu đều quyết định bằng cách rút thăm, hoặc xác định tình trạng sở hữu đầu tiên (hệ luật của công bằng)
13. “Mọi sứ giả hoà bình đều được hưởng quy chế bảo đảm an toàn” ( luật quy chế an toàn).
14. “Những cá nhân dính líu đến sự kiện tranh chấp đều phải đặt mình dưới quyền phán xử của một vị trọng tài” (luật phân xử).
Cần lưu ý rằng các điều luật nói trên,
theo quan niệm của Hobbes, đều được chi tiết hoá hoặc suy luận từ quy
tắc vàng trong thuật ứng xử.
Vị Quốc chủ (Levithan)
Các điều luật nói trên, quy định phận sự
của các công dân tham gia khế ước xã hội, thực sự có giá trị tham khảo
rất cao. Tuy nhiên, vẫn có một câu hỏi quan trọng cần được đặt ra: điều
gì sẽ xảy đến nếu như một cá nhân tham gia khế ước ,vô tình hay cố ý,
không thực hiện bổn phận của mình? Để trả lời, Hobbes gọi đó là vị Quốc
chủ ( Levithan), một “vị thần” trong loài người. Bản thân đứng
trên luật lệ, người ấy nắm quyền hành pháp tối cao trên thế giới (hay
chí ít là trên một đất nước).Theo giả định, quyền lực ấy thuộc về một
đấng đế vương. Tuy nhiên, nếu có một người nắm quyền lực cao hơn xuất
hiện và khuất phục được bậc đế vương ấy, nhân vật ấy sẽ trở thành Vị
Quốc chủ mới.
Ở quốc gia không có một vị vua nắm quyền
lực tối cao, khế ước được điều hành bởi một hội đồng và quốc gia ấy
được gọi là khối quy chế cộng đồng (Commonwealth by Institution).
Nếu được xác lập bởi nhà vua, người nắm quyền lực tối thượng (bằng biện
pháp vũ lực hoặc thông qua thoả ước giữa các đảng phái có liên quan ),
nó được gọi là khối hiệp ước cộng đồng (Commonwealth by Acquisition ).
S.T
6 - Tư tưởng dân chủ của Jacques Rousseau
Triết lý dân chủ của Jean Jean
Jacques Rousseau (1712-1778, triết gia Pháp) nhấn mạnh nguyên tắc cho
rằng quyền tối thượng thuộc về người dân, rằng tất cả quyền lực khác đều
phụ thuộc vào quyền tối thượng ấy.

Nhà nước được hình thành trên nền tảng
của một khế ước xã hội có mục tiêu đảm bảo an sinh cho công dân, do vậy
chủ quyền tồn tại nhằm mục đích bảo vệ cho mỗi cá nhân trong quốc gia.
Khi chấp nhận tuân thủ luật pháp, các cá nhân chỉ đơn thuần uỷ thác
quyền của họ vì mục đích đó. Chính phủ chỉ sở hữu quyền uỷ nhiệm, không
phải là quyền lực tối thượng, xuất phát từ ý nguyện của tập hợp quần
chúng thống nhất. Chính ý nguyện của khối quần chúng, một ý nguyện
chung, là điều mà các viên chức nhà nước phải thực thi. Ý nguyện chung
là ý nguyện hướng đến lợi ích của mọi người. Hơn nữa, bộ máy nhà nước
không nên quá cồng kềnh, quốc gia cũng không nên quá lớn, gây khó khăn
cho khả năng thích ứng của các công dân. Hình thức chính quyền lý tưởng
nhất chỉ bao gồm một nhóm nhỏ các công chức do dân bầu ra.
Tự do và bình đẳng
Thời nguyên sơ, xã hội được tổ chức dựa
theo trật tự gia đình, hình thức xã hội chân thật và gần gũi vời tự
nhiên hơn cả. Theo đó, đúng ra các hình thức xã hội chính trị đương thời
nên được xây dựng theo khuôn mẫu gia đình. Trong một gia đình, mỗi đứa
trẻ được sinh ra với quyền tự do và bình đẳng; nguyên tắc tương tự cũng
nên được sử dụng và phát huy trong những vấn đề chính trị xã hội của
thời đại.
Chế độ nô lệ là ý tưởng đáng ghê tởm
trong một xã hội tự do, bởi vì “sức mạnh không làm nên lẽ phải”, và về
mặt tự nhiên, “không ai thống trị đồng loại của mình.” Vì thế, không thể
tổ chức và thể chế hoá xã hội bằng vũ lực mà phải thông qua hình thức
thoả ước, thông qua một khế ước xã hội.
Quyền tối thượng bất khả chuyển nhượng
Quyền tối thượng thuộc về công dân, hay
nói đúng ra, thuộc về chính kiến của tập hợp quần chúng thống nhất; bởi
lẽ chỉ có một tập hợp như thế mới sở hữu một ý nguyện bất khả chuyển
nhượng. Ý nguyện của mỗi cá nhân chia sẻ với nhau trong ý nguyện chung,
hướng đến ích lợi chung của cả cộng đồng. Mặc dù quyền hành có thể được
ủy nhiệm, ý nguyện thì không. “Chủ quyền không là gì ngoài việc thể hiện
ý nguyện chung, một ý nguyện chẳng thể nào chuyển nhượng được. “Chính
vì lý do đó, chủ quyền là bất khả phân cấp, bất khả chuyển nhượng.”
Ý nguyện chung
Ý nguyện chung không đơn thuần là bản
liệt kê ý nguyện riêng rẽ của mỗi cá nhân. Thực chất, nó được thể hiện
trong hoạt động chính trị của mỗi công dân khi anh ta thành tâm và tự
nguyện, không chịu bất kỳ một áp lực nào, đưa ra quyết định độc lập của
mình bằng một lá phiếu.
Quá trình tổng hợp những lá phiếu có thể
chỉ cho thấy khát vọng riêng của mỗi công dân; nhưng ý nguyện chung
được phản ánh qua thái độ tự nguyện và thành tâm của mỗi cá nhân, tham
gia bỏ phiếu vì những điều tốt đẹp cho mọi công dân. “Thông thường, có
điều khác biệt rất lớn giữa ý nguyện toàn thể và ý nguyện chung. Ý
nguyện chung chỉ liên quan đến lợi ích chung. Ý nguyện toàn thể có liên
quan đến những lợi ích riêng, chỉ là một bản tổng kết những ý nguyện
riêng rẽ…ý nguyện chung lúc nào cũng đúng cả “nếu được hướng dẫn chu
đáo, tránh những xu hướng bè phái và các thủ đoạn thao túng chính trị,
một cộng đồng dân cư sẽ thể hiện rõ ràng ý nguyện chung của họ.”
Khế ước xã hội
Rousseau nhận định rằng với xã hội được
xây dựng trên cơ sở khế ước, vận dụng sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng
để chăm lo vấn đề an sinh bảo vệ tài sản của mỗi cá nhân, mọi công dân
đều có quyền tự do và độc lập, chẳng phải tuân theo mệnh lệnh của ai
khác ngoài chính mình.Bởi lẽ khế ước xã hội tồn tại vì vấn đề an sinh
của mỗi cá nhân trong cộng đồng, nếu một thành viên vi phạm các thoả
ước, anh ta đã vi phạm luật lệ của chính mình . Cá nhân ấy sẽ phải nhận
lãnh hình phạt, không phải chỉ vì mục đích duy trì sự ổn định của xã
hội, mà còn vì lợi ích của chính anh ta.
Khế ước xã hội được xác lập trên nguyên
tắc cơ bản là: Quyền tối thượng thuộc về dân chúng (sở hữu chủ của ý
nguyện bất khả quyền nhượng); quyền hành có thể chuyển giao nhưng ý
nguyện thì không. Do vậy, chính phủ chỉ là người đại diện của quần
chúng, hoạt động và thực thi ý nguyện chung. Chính phủ chẳng bao giờ đạt
được quyền thống trị tối thượng và tối hậu.
Về nhà nước lý tưởng, Rousseau chọn
chính thể cộng hoà cai trị bằng luật pháp, viên chức chính phủ do dân
bầu chọn và thi hành ý nguyện chung. Tin rằng cho cấu chính trị đặc thù
chỉ có vai trò thứ yếu, ông đưa ra nhận sét chung như sau: chế độ dân
chủ phù hợp với nước nhỏ; chế độ quý tộc với các nước cỡ trung bình; và
chế độ quân chủ với các nước lớn. Ông kêt luận rằng “nếu có sự tồn tại
của nòi giống thần thánh, hẳn là họ cũng tự trị theo thể chế dân chủ.”
S.T
7 - Quan điểm pháp quyền của Hegel
Triết lý chính trị và pháp lý
của Georg W.F.Hegel (1770 – 1831, triết gia Đức) được ông phác hoạ trong
tác phẩm “Triết lý pháp quyền” (Die philosophiedes Rechts).
Từ Recht, trong tiếng Đức, có thể được
hiểu theo 1 trong 3 nghĩa như sau: “lẽ phải” (moral principle), “luật
pháp” (law), hay “quyền công dân”(civil). Thực tế, Hegel và nhiều triết
gia Đức khác sử dụng thuật ngữ ấy để diễn đạt cả ba nghĩa trên.
Quốc gia – Một ý tưởng đạo đức và thần thánh
Giống như Aristotle, Hegel nhận định
rằng con người là một tạo vật có tính xã hội, chỉ có thể tìm thấy sự
thực hữu của chính mình trong khuôn khổ quốc gia. Theo ông, nhận thức về
sự thực hữu của con người gắn liền với môi trường xã hội. Do vậy, quốc
gia có vai trò rất quan trọng đối với vấn đề có ý thức luân lý và đạo
đức. Quốc gia là một thực thể bao quát, là môi trường tổng hợp nên toàn
bộ tính cách, nếp sống và xu hướng nhận thức của con người. Vì thế con
người phải nhất thiết phụ thuộc vào thực thể bao quát ấy. Trên tất cả,
quốc gia không thể được lý giả như một khế ước xã hội, bởi lẽ quốc gia
không phải đựơc tạo ra từ quyết định của các cá nhân trong một đất nước.
Không có quốc gia, chẳng có chân lý nào hay, xét về mặt thực hữu, không
có sự nhận thức trọn vẹn nào được tìm thấy nơi một cá nhân hoặc đoàn
thể nào đó. Quốc gia là một thực thể chân xác, không chỉ đơn giản là một
nhóm người tập hợp lại. Chỉ ở trong quốc gia, cá nhân mới có thể hoàn
tất quá trình tự nhận thức của mình.
Hegel đồng nhất quốc gia với quyền năng
của Thượng Đế, dàn trải và xuyên suốt lịch sử thế giới. Quốc gia là một ý
tưởng Thần Thánh, là sự hiển lộ của Thượng Đế ở chốn trần thế, là thực
thể đáng được tôn thờ. Là một hình thức thể hiện tính hợp lý hoàn hảo,
quốc gia chỉ yêu cầu các công dân những gì hợp lẽ. Mặc dù quốc gia được
hình thành chủ yếu bằng vũ lực, chính cảm giác an sinh trong trật tự đã
giữ cho nó đứng vững.
Quốc gia – Một tổng thể hữu cơ
Đối với Hegel, quốc gia là một tổng thể
hữu cơ, không ngừng phát triển để tự khẳng định chính mình. Một quốc gia
băng hoại giống như cơ thể người bệnh, mặc dù có thể vẫn tồn tại nhưng
không thể hoạt động như một thực tại sống động – như một bàn tay bị
thương tật, tuy vẫn giữ nguyên hình thể nhưng vô cảm và không thể cử
động theo ý muốn. Quốc gia theo đuổi sự nghiệp tự nhận thức và tự khẳng
định, một sự nghiệp mà tinh thần thế giới (the world Spirit) đã tạo ra
cho nó.
Hiến pháp
Quốc gia là tinh thần của đất nước. Luật
pháp thâm nhập và nuôi dưỡng toàn bộ đời sống của nó, thể hiện các quy
tắc và ý thức đạo đức của người dân trong một đất nước. Dạng hiến pháp
mà một quốc gia chấp nhận tương xứng với mức độ hiểu biết, hay mức độ
hoàn tất quá trình tự nhận thức của nó. Hiến pháp (consitution) không
hoàn toàn được tạo ra bởi con người, nó xuất phát từ mức độ thức ngộ,
khả năng thành tựu quá trình tự khẳng định của một quốc gia. Hiến pháp
thể hiện sự phát triển xuyên suốt dòng lịch sử của một quốc gia. Hiến
pháp co tính hợp lý và có giá trị bất diệt, là một công cụ có tính thần
thánh – không phải là một tác phẩm của con người, mà là tác phẩm của cả
ngàn năm lịch sử, nó bộc lộ những gì hợp lý, là ý thức về những gì hợp
lý. Nó là đặc tính thiêng liêng của lý lẽ, là “toà kiến trúc uy nghiêm
và hùng vĩ”
Vị Quân Chủ
Hegel cho rằng chính thể quân chủ lập
hiến (constitutional Monnarchy) là hình thức nhà nước tối cao – không có
tính dân chủ theo ý tưởng cho rằng quyền tối thượng thuộc về dân chúng.
Nó xuất phát từ ý tưởng cho rằng người trị vì đất nước là nhân vật đứng
đầu một quốc gia tổng thể hữu cơ, thể hiện tinh thần Thế Giới. Ông nhận
định rằng “quyền lực tối thượng thuộc về nhân vị mang tính tổng thể,
được đại diện bởi nhà quân chủ”. Quyết định tối hậu thuộc về nhà nước,
thể hiện ý chí tự quyết tối thượng, và vị quân chủ là người phát ngôn
chính thức của toàn quốc gia. tuy vậy, vị quân chủ không phải là bản
thân nhà nước, mặc dù nhà nước hoạt động thông qua ông ta. Thực tế, hầu
như vi quân chủ chỉ “ký tên mình” để xác lập tinh thần quốc gia. Bởi vì
nhà nước tồn tại độc lập với quyền trị vì, phẩm chất và tài năng của vị
quân chủ chỉ chiếm vai trò thứ yếu, vai trò của “người vâng mệnh quốc
gia” để thực hiện công việc đặt nét bút cuối cùng. Nói cách khác, bất
chấp sự kiện rằng các quyết định tối thượng trực tiếp gắn liền với ông
ta, vị quân chủ chỉ đặt dấu ấn cuối cùng để tuyên cáo rằng những quyết
định ấy phù hợp với ý nguyện tối thượng của quốc gia.
Vị quân chủ là người trị vì một quốc gia
chuyên chế, trong đó quyền hành pháp và lập pháp vận hành theo hình
thức tư vấn. Trong lãnh vực lập pháp, quyền lợi của quần chúng, cũng như
quan điểm và khát vọng của họ, có cơ hội thể hiện. Bất chấp sự kiện
rằng thực tế quần chúng không nắm quyền lực nào, chính phủ không nên có
thái độ chống đối họ.
Quần chúng tìm thấy sự hợp nhất, tổ chức
và chân giá trị của họ trong quốc gia. Nếu tách rời khỏi quốc gia, cá
nhân đánh mất vai trò và ý nghĩa của minh.
Triết lý chiến tranh của Hegel
Hegel nhận định rằng chiến tranh có một
khía cạnh đạo đức riêng, góp phần tôn vinh giá trị cao quý của hoạt động
sống của con người. Nó khơi dậy những phẩm chất cao đẹp nhất của con
người, tạo cơ hội cho con người hành xử như những vị anh hùng, thậm chí
khi nó đòi hỏi họ hy sinh mạng sống cho quốc gia. Mặc dù cá nhân có thể
chết, quốc gia phải sinh tồn và tiếp tục sự nghiệp của mình – quốc gia
vĩ đại và quan trọng hơn bất kỳ một cá nhân nào. Vinh quang của cá nhân
không co ý nghĩa bằng “sự tự nguyện hiến thân cho một sự nghiệp vũ trụ”,
sự nghiệp phục vụ quốc gia. Chiến tranh trắc nghiệm sức mạnh và khả
năng vận hành của một quốc gia, tạo cơ hội gìn giữ đạo lý và tinh thần
tự quyết của một dân tộc. Hegel cho rằng Immanel Kant đã sai lầm khi cổ
xuý cho một nên hoà bình vĩnh cửu, điều kiện thực sự mang đến sự trì
trệ, tình trạng mục rỗng, thối nát và băng hoại. Ngược lại, chiến tranh
vận hành như một chất xúc tác chống lại những điều xấu xa ấy. Trong một
nền hoà bình vĩnh cửu, các cơ cấu tổ chức trở nên thụ động và chết cứng.
Thực tế , Hegel nhận đinh, không có xung đột, không thể có tiến bộ.
Chiến tranh là hình thức xung đột căng thẳng và khốc liệt nhất; vì thế
nó là động cơ thúc đẩy sự tiến bộ mạnh mẽ nhất. Các quốc gia vượt qua
khỏi chiến tranh thường vươn lên với một tinh thần tự chủ kiên cường.
Theo Hegel, không có chiến tranh, không thể có hoà bình; bởi vì hoà bình
là hệ quả của chiến tranh.
Các mối quan hệ quốc tế
Quốc gia là cơ cấu tổ chức tối hậu của
xã hội con người. Do không có nước nào đứng trên nước khác. Bất đồng
giữa các cá nhân được giải quyết bởi nhà nước; xung đột giữa các quốc
gia được quyết định bởi chiến tranh. Đối với vấn đề liệu rằng lẽ phải
thuộc về quốc gia nào, Hegel cho rằng lịch sử sẽ phán quyết “Lịch sử thế
giới là lời phán xét của thế giới”. Nói cách khác, điều gì sẽ xảy ra là
điều tất đúng – một dạng lập luận có thể biện minh cho cái lý “sức mạnh
tạo nên lẽ phải”.
Tương tự như quan điểm cho rằng cá nhân
không thể nhận thức được chính mình nếu tách rời khỏi quốc gia, một quốc
gia không thể tách rời khỏi muối quan hệ với các quốc gia khác – Tinh
Thần Thế Giới vốn vận hành xuyên suốt dòng lịch sử của nhân loại. Mối
quan hệ với các quốc gia riêng lẻ là bằng chứng tối hậu, biện minh cho
sự tồn tại của Tinh Thần Thế Giới vượt lên trên gianh giới của mọi quốc
gia. Tinh thần ấy là lời phán xét của lịch sử nhân loại dành cho các
quốc gia riêng lẻ và hữu hạn, “bởi lịch sử là toà án công lý tối cao của
thế giới”.
S.T
8 - Chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx
Karl Marx
(1818 – 1883) là vị triết gia vĩ đại của chủ nghĩa cộng sản. Tác phẩm
mang tính đại chúng nhất của ông là Bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
(The Manifesto of the Communist Party) trong đó có phần góp của
Friedrich Engels.
Tác phẩm bất hủ mang tính kinh viện
của ông là bộ Tư bản (Das Kapital). Hầu hết những nguyên lý chủ yếu của
cộng sản được đề cập bên dưới đây đều thuộc về tư tưởng của Marx (Engels
nhìn nhận vai trò chủ đạo của Marx đối với “những đứa con tinh thần ”
chung của hai người)
Chủ nghĩa cộng sản
- Định nghĩa: Trái ngược với những giả
định mang thành kiến sai lầm cho chủ nghĩa cộng sản, về bản chất, đây là
học thuyết cổ vũ cho việc công hữu hoá các phương tiện sản xuất. Không
cá nhân nào (hay nhóm người nào) được độc quyền chiếm hữu tài sản, ngoại
trừ những vật dụng thuộc về nhu cầu cá nhân, bởi lẽ tài sản vốn thuộc
về cộng đồng (toàn thể nhân dân). Một khi tài sản bị tư hữu, tình trạng
người bóc lột người tất xảy ra.
Học thuyết giá trị lao động
Giá trị hàng hoá mang tính đặc trưng cho
giờ công lao động mà con người đã bỏ ra trong quá trình tạo ra sản
phẩm. Số lượng giờ công nhân càng lớn, giá thành của sản phẩm càng cao.
“Chúng ta thấy rằng yếu tố quyết định quy mô giá trị của bất kỳ món hàng
nào chính là lượng công sức cần thiết mà xã hội đã bỏ ra…. Vì thế, giá
trị của một món hàng hoá sẽ không đổi nếu thời gian lao động dành cho
quá trình sản xuất nó ra cũng giữ nguyên không đổi”. Tuy nhiên, một món
hàng vô dụng, bất kể thời gian lao động mà người ta dành ra để tạo ra
nó, sẽ không đáng một giá nào cả; bởi lẽ nếu không có giá trị sử dụng,
một món hàng sẽ trở thành vô giá trị.
Xã hội không giai cấp
Theo Engels, học thuyết có giá trị bậc
nhất của Marx là đấu tranh giai cấp (Inherent Class War), vạch ra sự
xung đột tất yếu giữa hai tầng lớp xã hội có mâu thuẫn không thể dung
hoà: giới chủ tư bản (giới tư sản – the Bourgeoisie) và giới lao động
(giới vô sản – the Proletariat). Do lợi ích của hai giai cấp này đối
kháng hoàn toàn và mâu thuẫn trực tiếp với nhau, giải pháp duy nhất là
loại trừ đi giai cấp tư sản – Tầng lớp không cống hiến sức lao động cho
xã hội, và vì thế họ là những kẻ ăn bám xã hội. Trong xã hội cộng sản
chủ nghĩa, mọi người phải lao động và cống hiến sức lao động của mình.
“Mỗi người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu” (From each according
to his abilities, to each accoding to his needs.)
Mặt khác, giới tư sản chịu trách nhiệm
đối với một số tệ nạn trong xã hội như: Họ đã bóc lột nhân công bằng
cách trả lương ít hơn những gì mà công nhân có quyền được hưởng. Họ đã
đối xử với công nhân như một loại hàng hoá trên thị trường, thu nhập của
công nhân phụ thuộc vào sự trồi sụt thất thường của thị trường, không
được xét theo công sức lao động đã bỏ ra. Hơn nữa, họ còn góp phần
thương mại hoá hầu hết mọi nghề nghiệp, thậm chí cả một số giá trị đạo
đức (chẳng hạn như nạn gả bán trong hôn nhân).
Bằng cách loại trừ tầng lớp tư bản, xã
hội sẽ an bình với sự tồn tại của một giai cấp duy nhất. Đó là một xã
hội không còn giai cấp, được cấu thành bởi những người cống hiến sức lao
động chân tay và hoạt động sáng tạo trí óc của họ.
Chuyên chính vô sản
Trong một xã hội như thế, giới vô sản
(công nhân), giai cấp duy nhất còn lại, sẽ đảm nhận mọi trách nhiệm
trong xã hội, không chỉ giới hạn trong lãnh vực lao động và quản lý lao
động, mà cả trong lãnh vực tổ chức và quản lý chính quyền. Xét đến phần
đóng góp của giai cấp vô sản cho quốc gia, chỉ có họ mới được quyền
thống trị. Vì thế, chính thể của họ phải là chế độ chuyên chính vô sản
(Dictatoship of the Proletariat). Họ, những người vô sản, sẽ tự làm chủ
vận mệnh đời mình. Và khi thời điểm chín muồi, khi quốc gia không còn
cần thiết trong một thế giới chỉ bao gồm những người vô sản, con người
sẽ có được một xã hội đại đồng, không còn ranh giới giữa các quốc gia.
(Quan điểm về một thế giới đại đồng đã từng là đề tài tranh luận của
nhiều nhà tư tưởng Marxist quốc tế)
Thuyết bạo lực cách mạng
Trong quá trình đấu tranh giai cấp, tầng
lớp thống trị không dễ dàng tự nguyện rời bỏ sự giàu có, vốn tư bản và
quyền lực của họ. Vì thế giai cấp vô sản sẽ phải dùng đến vũ lực, thậm
chí là bạo lực cách mạng khi cần thiết. Bởi lẽ tài sản và quyền lực ấy
thuộc về quyền lợi chính đáng của giai cấp lao động, giới vô sản có đủ
lý lẽ để giành lại bằng vũ lực “Những người cộng sản… công khai tuyên bố
rằng các mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng vũ lực lật
đổ mọi ách thống trị hiện hành. Hãy để các tầng lớp thống trị run rẩy
trước một cuộc cách mạng của những người cộng sản…Hỡi những người lao
động trên toàn thế giới, hãy đoàn kết lại!” Bản tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản kết thúc với những lời lẽ hùng hồn như thế.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Mọi hàng hoá đều là vật chất, và hàng
hoá vật chất là nguồn gốc của quyền lực. Kiểm soát được vốn sản suất là
kiểm soát được tất cả. Vì thế, nhất thiết nhà nước phải tập trung kiểm
soát mọi phương tiện sản xuất. “Lịch sử tư tưởng của nhân loại chứng
minh điều gì khác hơn là khả năng tạo ra các thành quả trí tuệ thay đổi
theo tỷ lệ so với sự thay đổi về khả năng sản xuất ra các thành quả vật
chất? Ý tưởng thống trị của mỗi thời đại mãi là ý tưởng của giai cấp
thống trị.”
Kinh tế quyết định luận
Kinh tế quyết định luận ( Economic
Determinism) là học thuyết cho rằng dòng lịch sử nhân loại được quyết
định bởi các thời kỳ phát triển kinh tế, cuối cùng hướng mọi quốc gia
tiến đến chủ nghĩa xã hội của những người cộng sản (Communitic
Socialism). Đó là hệ quả tất yếu. Cho dù các quốc gia có định hướng đi
đến mục đích ấy hay không, chủ nghĩa cộng sản vẫn sẽ phát triển từ tất
cả mọi hệ thống xã hội hiện hành, bởi lẽ mỗi xã hội đều mang trong mình
“những mầm mống băng hoại của chính nó”. Theo những người cộng sản, một
cuộc cách mạng chưa dẫn đến thành công bởi vì “thời cơ của nó chưa chín
muồi”.
Các biện pháp cải cách xã hội
Bản tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nêu ra 10 biện pháp cải cách xã hội, được tóm tắt dưới đây như sau:
1. Xoá bỏ mọi hình thức tư hữu đất đai. Sử dụng đất đai cho mục đích công cộng.
2. Áp dụng mức thuế thu nhập có tính luỹ tiến.
3. Xoá bỏ mọi quyền thừa kế.
4. Tịch thu tài sản của tất cả bọn phản cách mạng và những kẻ đào tẩu khỏi đất nước.
5. Tập trung quản lý tiền tệ bằng bộ máy Ngân hàng nhà nước, hoạt động với vốn nhà nước và cơ chế độc quyền.
6. Tập trung quyền quản lý các phương tiện thông tin và giao thông trong tay nhà nước.
7.
Phát huy quyền làm chủ của nhà nước đối với cá xí nghiệp và cơ xưởng
sản xuất; tập trung quản lý việc khai thác đất hoang, cải tạo đất trồng
theo quy hoạch chung.
8. Xác lập quyền bình đẳng của mọi người đối
với nghĩa vụ lao động. Đầu tư phát triển công nghiệp, đặc biệt dành cho
sản xuất nông nghiệp.
9. Kết hợp phát triển nông nghiệp với các
nghành công nghiệp chế biến; dần dần tiến đến xoá bỏ sự cách biệt giữa
thành thị và thôn quê bằng các biện pháp điều phối dân cư.
10. Thực
hiện giáo dục miễn phí cho mọi trẻ em tại các trường học công lập. Xoá
bỏ các hình thức lao động trẻ em hiện hành. Kết hợp giáo dục với trình
độ sản xuất công nghiệp.
S.T
0 nhận xét:
Đăng nhận xét