I. Thực tiễn lịch sử
Các nhà nghiên cứu hiến pháp ở Việt Nam và thế giới đều thống nhất với nhau rằng: cách thức thể hiện hiến pháp của một quốc gia là rất đa dạng. Có quốc gia có hiến pháp thành văn, có quốc gia không có hiến pháp thành văn, có quốc gia vừa có hiến pháp thành văn, vừa có hiến pháp không thành văn.[1]
Ngay cả trong các quốc gia có hiến pháp thành văn thì cách thức ghi nhận những quy phạm hiến pháp cũng khác nhau. Có quốc gia chỉ có 1 văn bản duy nhất được coi là hiến pháp của quốc gia (ví dụ: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Việt Nam) nhưng cũng có quốc gia có nhiều văn bản khác nhau chứa đựng quy phạm hiến pháp (ví dụ: Canada).
Có hiến pháp chỉ thuần túy là sản phẩm do Nhà nước ban hành (do Quốc hội ban hành) (ví dụ Trung Quốc, Việt Nam v.v.) Có hiến pháp phải do dân chúng phúc quyết hoặc trưng cầu dân ý (ví dụ: Thái Lan, Myanmar, v.v.).
Trong một bức tranh đa màu sắc về hiến pháp của các nước như vậy thì việc hiến định chế độ kinh tế một cách khác nhau cũng là điều không quá ngạc nhiên.
Hiến pháp truyền thống ở các nước phát triển thường quy định 2 vấn đề cơ bản: phân quyền và nhân quyền.[2] Nói cách khác, các vấn đề về kinh tế, xã hội, văn hóa dường như không phải là chủ đề chính được quan tâm, đề cập trong các bản Hiến pháp truyền thống. Ngay tại các quốc gia ASEAN, ba quốc gia là Brunei, Malaysia và Singapore cũng soạn thảo Hiến pháp theo nghĩa truyền thống này. Theo đó, trong Hiến pháp của 3 quốc gia này, các quy định về chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội v.v. hầu như không thấy xuất hiện.[3]
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, ngay cả trong các bản Hiến pháp truyền thống như thế, không phải các vấn đề thuộc về chế độ kinh tế hoàn toàn không được hiến định. Với việc kiểm soát chặt chẽ quyền lực nhà nước (giảm thiểu sự tùy tiện của nhà nước) và với việc ghi nhận quyền tự do của công dân, bảo vệ quyền tư hữu, các bản Hiến pháp truyền thống ấy đã hợp pháp hóa nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân và thúc đẩy tự do cạnh tranh.
Chính vì thế, không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các quốc gia có Hiến pháp truyền thống đều có nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng là sở hữu tư nhân và tự do cạnh tranh. Bởi vậy, nếu coi sự im lặng trong Hiến pháp về một vấn đề gì đó đồng nghĩa với việc ủng hộ tình trạng hiện tại (status quo), thì có thể nói rằng, Hiến pháp cổ điển đã ngầm hiến định mô hình nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân (hoặc chí ít có lợi cho mô hình phát triển dựa trên tự do kinh tế và tự do chính trị).
Thực tiễn hiến định chế độ kinh tế trong Hiến pháp một số quốc gia tiêu biểu dưới đây cũng chứng tỏ điều đó.
II. Thực tiễn hiến định chế độ kinh tế trong Hiến pháp của một số quốc gia
1. Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là quốc gia có Hiến pháp hiện đại thành văn đầu tiên trên thế giới. Hiến pháp Hoa Kỳ thuộc loại hiến pháp kinh điển trong đó, 2 chủ đề chính của Hiến pháp là phân quyền và nhân quyền được đề cập tương đối rõ ràng.
Nếu so sánh với Hiến pháp hiện hành của Việt Nam từ góc độ hiến định chế độ kinh tế, có thể khẳng định luôn, Hiến pháp Hoa Kỳ không có chương riêng về chế độ kinh tế.
Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, các vấn đề về mục đích phát triển kinh tế, định hướng chính sách kinh tế, mô hình phát triển nền kinh tế, vai trò của các thành phần kinh tế, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước v.v. đương nhiên là không có.
Mặc dù vậy, Hiến pháp Hoa Kỳ có một số quy định quan trọng liên quan tới vấn đề xác định vai trò của nhà nước trong nền kinh tế.
Chẳng hạn, ngay tại Khoản 10 Điều 1 Hiến pháp Hoa Kỳ đã quy định rõ: “[chính quyền] các bang không được ban hành các quy định pháp luật để can thiệp vào nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.”[4] Trong bối cảnh pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng thường thuộc về thẩm quyền điều tiết của cấp bang, quy định kể trên đã từng được giải nghĩa theo hướng đây là quy định buộc nhà nước không được can thiệp một cách bất hợp lý vào quyền tự do hợp đồng của người dân. Cách giải thích này khá thịnh hành trong thế kỷ 19 cũng như những năm đầu thế kỷ 20, trước cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1929-1932. Trong giai đoạn này, Tòa Tối cao Hoa Kỳ đã từng tuyên hàng loạt đạo luật của các bang quy định các vấn đề về tiền lương tối thiểu, thời gian làm việc tối đa của công nhân, v.v. là vi hiến. Vụ Lochner v. New York năm 1905 là một ví dụ kinh điển. Vụ việc này xuất phát từ thực tế chính quyền bang New York ban hành một đạo luật có quy định rằng người làm công trong “các xưởng làm bánh quy bơ, bánh mì, bánh ngọt hoặc các loại kẹo không được làm việc quá 60 giờ một tuần và trong mỗi ngày không được làm việc quá 10 giờ”. Quy định này sau đó bị kiện lên Tòa Tối cao và Tòa Tối cao đã ra phán quyết rằng, quy định đó vi hiến vì vi phạm quyền tự do hợp đồng của công dân mà không có lý do chính đáng. Theo quan điểm của Tòa Tối cao Hoa Kỳ tại thời điểm đó, chính quyền chỉ có thể can thiệp vào quyền tự do hợp đồng của dân chúng nếu việc can thiệp đó có mục đích rõ ràng là để bảo vệ lợi ích công cộng như an toàn công cộng, sức khỏe, đạo đức xã hội hoặc phúc lợi chung của công cộng. Tuy nhiên, sau cuộc đại khủng hoảng 1929-1932, với việc mở rộng sự hiện diện của chính quyền vào nền kinh tế, quan điểm của Tòa Tối cao cũng bắt đầu thay đổi. Từng bước, các đạo luật quy định về tiền lương tối thiểu, các đạo luật về an toàn lao động, các đạo luật bảo vệ người tiêu dùng được coi là các đạo luật hợp hiến.[5]
Ngoài các quy định liên quan tới việc bảo vệ quyền tự do hợp đồng kể trên, Hiến pháp Hoa Kỳ còn có các quy định bảo vệ quyền tư hữu của dân chúng. Trong số đó, phải kể tới Tu chính án số 5: “nor shall private property be taken for public use, without just compensation” (Tài sản tư không thể bị trưng mua/trưng dụng để sử dụng vì mục đích công mà không có sự bồi thường công bằng).
Quy định này có nghĩa rằng: “tài sản tư nhân” (hay quyền sở hữu tư nhân) có thể bị giới hạn bằng cách bị trưng mua, trưng dụng vì mục đích công cộng, tuy nhiên, điều này chỉ được thực hiện với điều kiện, việc trưng mua, trưng dụng đó có bồi thường công bằng (thỏa đáng) cho người bị trưng mua, trưng dụng.
Điều này cũng có nghĩa rằng:
+ Tài sản tư không thể bị trưng mua, trưng dụng bởi nhà nước cho mục đích ngoài mục đích công (điều kiện về mục đích của việc trưng mua, trưng dụng). Ví dụ, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã từng coi các đạo luật tước đoạt quyền tư hữu của người này để chia tài sản cho người khác cũng bị coi là đạo luật vi hiến (trong vụ Calder v. Bull (1793)).
+ Tài sản tư không thể bị trưng mua, trưng dụng bởi nhà nước, ngay cả khi cho mục đích công mà không có sự bồi thường thỏa đáng (điều kiện về sự thỏa đáng/công bằng của việc trưng mua, trưng dụng).[6]
Tinh thần đó đã được khẳng định nhất quán trong hàng loạt án lệ của Tòa Tối cao Hoa Kỳ như án lệ Pennsylvania Coal Co. v. Mahon (260 U.S. 393 (1922)); Keystone Bituminous Coal Assn. v. DeBenedictis (480 U.S. 470 (1987); Nolian v. California Coastal Commission (483 U.S. 825 (1987); Dolan v. City of Tigard (512 U.S. 374 (1994)); Hawaii Housing Authority v. Midkiff (467 U.S. 229 (1984) và gần đây nhất là án lệ trong vụ Kelo v. City of New London (545 U.S. 469 (2005).[7]
Tuy nhiên, án lệ Kelo v. City of New London (2005) là một phán quyết gây tranh cãi mạnh ở Hoa Kỳ. Trong phán quyết này, Tòa Tối cao đã phán quyết rằng Hiến pháp không hạn chế việc chính quyền các bang và chính quyền địa phương trưng mua cưỡng bức đối với các mảnh đất thuộc sở hữu tư nhân để triển khai các dự án phát triển kinh tế/thương mại tư nhân. Trong vụ việc này, chính quyền thành phố New London (bang Connecticut) đã trưng mua cưỡng bức một mảnh đất thuộc sở hữu tư nhân của một công dân thành phố có tên là “Susette Kelo” trong một Dự án phát triển bất động sản toàn diện, hứa hẹn sẽ mang lại 3,169 việc làm mới, và 1,2 triệu USD tiền thuế doanh thu/năm. Susette Kelo đã khởi kiện chính quyền thành phố ra Tòa án ở bang Connecticut với lập luận rằng, chính quyền đã lạm dụng quyền trưng mua cưỡng bách tài sản của mình, vi phạm Tu chính án số 5. Theo Susette Kelo, mục tiêu phát triển kinh tế không được coi là “mục đích công cộng” (public use). Vụ việc này đã được Tòa Tối cao bang Connecticut xét xử vào tháng 12/2002, và trong phán quyết chính thức vào tháng 3/2004, một quyết định 4-3 được đưa ra dành phần thắng về chính quyền thành phố.
Sau đó, vụ việc bị kháng cáo lên Tòa Tối cao Hoa Kỳ. Sau phiên điều trần vào tháng 2/2005, tháng 6/2005, Tòa Tối cao ra phán quyết tiếp tục dành phần thắng cho chính quyền thành phố. Tuy nhiên, phán quyết này gây tranh cãi lớn vì tỷ lệ ủng hộ phán quyết này của 9 thẩm phán tòa tối cao Hoa Kỳ chỉ là 5/9 (tức là có 4 thẩm phán phản đối).
Trong phán quyết này, thẩm phán Stevens, người soạn thảo quan điểm của nhóm thẩm phán chiếm ưu thế, dựa trên quan điểm về quyền phát triển kinh tế của cộng đồng, cho rằng, sẽ là điều hợp lý nếu để cho chính quyền thành phố quyết định xem liệu một dự án phát triển khu thương mại của tư nhân có vì “mục đích công cộng” hay không. Thẩm phán này viết rằng “chính quyền thành phố đã xây dựng kế hoạch phát triển (a development plan) rất kỹ lưỡng theo hướng tin tưởng rằng dự án sẽ mang lại những lợi ích trông thấy được cho cộng đồng, bao gồm và không chỉ bao gồm các lợi ích như, công ăn việc làm mới, tăng nguồn thu thuế”.
Trong khi đó, thẩm phán Sandra Day O’Connor, người viết nhận định cho các thẩm phán thuộc phe thiểu số thì cho rằng, quyết định kể trên của Tòa Tối cao sẽ cho phép những kẻ giàu có hưởng lợi nhờ người nghèo đã trả giá thay. Thẩm phán này lập luận “từ nay bất cứ tài sản nào cũng có thể tước đi vì lợi ích của một bên tư nhân khác. Những người hưởng lợi sẽ là những người có quyền lực và ảnh hưởng lớn trong các tiến trình chính trị, trong đó có các công ty lớn và các doanh nghiệp phát triển bất động sản.” Thẩm phán này cho rằng, với việc ra phán quyết như thế, “ranh giới giữa “vì lợi ích tư nhân” và “vì lợi ích công cộng” đã bị xóa nhòa, điều này cũng có nghĩa rằng, Điều khoản trưng mua trong Tu chính án số 5 đã không còn cụm từ “vì mục đích công cộng” (‘for public use’) nữa”. Để đáp lại phán quyết Kelo, nhiều bang ở Hoa Kỳ đã ban hành các đạo luật hoặc các tu chính án hiến pháp bang theo hướng, đặt ra nhiều điều kiện ràng buộc hơn khi chính quyền bang muốn trưng mua đất đai tư nhân.
2. Hiến pháp Liên Xô năm 1977
Hiến pháp Liên Xô năm 1977 đã từng là hình mẫu cho việc xây dựng Hiến pháp của không ít quốc gia xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Trong Hiến pháp Liên Xô năm 1977 có một chương riêng về chế độ kinh tế (Chương 2 từ Điều 10 tới Điều 18).[8] Khác biệt cơ bản với tư tưởng bảo hộ quyền tự do hợp đồng và quyền tư hữu của dân chúng trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Hiến pháp Liên Xô năm 1977 không có các quy định về vấn đề tự do hợp đồng và quyền tư hữu của dân chúng (nhất là đối với tư liệu sản xuất). Cụ thể: Điều 10. Nền tảng của chế độ kinh tế của Liên Xô là chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất dưới hình thức sở hữu nhà nước (thuộc về toàn dân), và sở hữu của hợp tác xã và nông trang tập thể. Sở hữu xã hội chủ nghĩa cũng bao gồm sở hữu của tổ chức công đoàn và các tổ chức công cộng khác trong khuôn khổ mục đích hoạt động mà điều lệ đã quy định. Nhà nước bảo hộ tài sản xã hội chủ nghĩa và tạo điều kiện phát triển khối tài sản này. Không ai có quyền sử dụng tài sản xã hội chủ nghĩa để thu lợi cá nhân hoặc vì các mục tiêu vị kỷ khác.[9] Điều 11. Tài sản nhà nước, hay chính là tài sản chung của nhân dân Xô Viết, là loại tài sản xã hội chủ nghĩa chủ yếu. Đất đai, hầm mỏ, nguồn nước và rừng là tài sản độc quyền chỉ thuộc về nhà nước. Nhà nước sở hữu các phương tiện sản xuất cơ bản trong công nghiệp, xây dựng, và trong nông nghiệp; phương tiện giao thông và liên lạc; ngân hàng; tài sản của các tổ chức thương mại do nhà nước quản lý, các tiện ích công cộng, các cơ sở kinh tế khác do nhà nước quản lý; hầu hết nhà ở đô thị và các tài sản cần thiết khác theo các mục tiêu do nhà nước quy định.[10] Điều 12. Tài sản của các nông trang tập thể và các hợp tác xã, và các cơ sở kinh tế chung của những tổ chức này bao gồm tư liệu sản xuất và các tài sản khác phù hợp với mục đích đã được quy định trong điều lệ. Đất đai do các nông trang tập thể quản lý được bảo đảm cho các nông trang này sử dụng miễn phí vô thời hạn. Nhà nước khuyến khích việc phát triển tài sản của nông trang tập thể và của các hợp tác xã cũng như việc biến các tài sản này thành tài sản của nhà nước. Nông trang tập thể, và những người sử dụng đất khác, có nghĩa vụ sử dụng hiệu quả và tiết kiệm đất đai và làm tăng độ màu mỡ của nó.[11] Điều 13. Thu nhập hợp pháp là nền tảng cho sở hữu cá nhân của công dân Xô Viết. Tài sản cá nhân của công dân Xô Viết có thể bao gồm tư liệu sinh hoạt, tiêu dùng hàng ngày và các vật phẩm nhỏ, một ngôi nhà và tiền tiết kiệm. Tài sản cá nhân của công dân và quyền thừa kế được nhà nước bảo vệ.[12] Công dân có thể được cấp quyền sử dụng một số mảnh đất, theo cách thức pháp luật quy định, để phục vụ việc chăn nuôi phụ thêm, hoặc để trồng rau quả, hoặc để xây dựng 1 nhà ở cá nhân. Công dân có trách nhiệm sử dụng hợp lý phần đất đã được giao. Nhà nước và nông trang tập thể hỗ trợ công dân làm việc trong phần khu vực nhỏ thuộc quyền quản lý của mình. Tài sản được sở hữu hoặc sử dụng bởi công dân không được sử dụng làm phương tiện tạo thêm thu nhập ngoài lao động hoặc sử dụng trái với lợi ích của xã hội. Điều 14. Nguồn gốc làm gia tăng của cải xã hội và phúc lợi của nhân dân, cũng như của mỗi cá nhân, là lao động của nhân dân Xô Viết, thứ lao động không còn chịu sự bóc lột. Nhà nước kiểm soát hoạt động lao động và tiêu dùng theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa: "Làm theo năng lực, hưởng theo lao động ".[13] Nhà nước ấn định mức thuế đánh trên phần thu nhập phải chịu thuế. Lao động có ích cho xã hội và kết quả của những lao động này quyết định vị thế xã hội của mỗi người. Bằng việc kết hợp các động cơ (khuyến khích/kích thích) vật chất và tinh thần) và khuyến khích sự sáng tạo, thái độ tích cực trong lao động, nhà nước giúp chuyển lao động trở thành nhu cầu cơ bản thiết yếu của mỗi công dân Xô Viết. Điều 15. Mục tiêu tối cao của sản xuất xã hội dưới chủ nghĩa xã hội là thỏa mãn ở mức đầy đủ nhất có thể nhu cầu ngày một tăng về vật chất, văn hóa và trí tuệ của nhân dân.[14] Dựa trên sáng kiến của nhân dân lao động, thi đua xã hội chủ nghĩa,[15] và tiến bộ của khoa học và công nghệ, và bằng việc cải thiện các hình thức và phương pháp quản lý kinh tế, nhà nước đảm bảo sự tăng trưởng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng công việc, và sự phát triển năng động, có kế hoạch và cân xứng của nền kinh tế quốc dân. Điều 16. Nền kinh tế Xô Viết là một phức hợp kinh tế chỉnh thể bao gồm tất cả các yếu tố sản xuất, phân phối và trao đổi xã hội trên lãnh thổ của mình. Nền kinh tế được quản lý theo các kế hoạch của nhà nước vì phát triển kinh tế và xã hội, với sự cân nhắc đầy đủ theo nguyên tắc ngành và lãnh thổ, và bằng cách kết hợp giữa chỉ đạo tập trung với sự độc lập về quản lý và sự sáng tạo của từng xí nghiệp riêng lẻ hoặc liên hiệp xí nghiệp hoặc các tổ chức khác, trong đó có sử dụng tích cực việc hạch toán quản lý, lợi nhuận, chi phí và các đòn bẩy hoặc kích thích kinh tế khác.[16] Điều 17. Tại Liên Xô, pháp luật cho phép hoạt động lao động cá nhân trong các ngành thủ công, nông trại, cung cấp dịch vụ cho công chúng, và các hình thức hoạt động khác mà chỉ dựa trên lao động của cá nhân công dân hoặc các thành viên trong gia đình. Nhà nước ban hành quy chế để quản lý những hoạt động này, bảo đảm các hoạt động ấy vì lợi ích của xã hội. Điều 18. Phù hợp với lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai, các biện pháp cần thiết sẽ được áp dụng tại Liên Xô để bảo vệ và sử dụng hợp lý, khoa học đất đai, khoáng sản và nguồn nước, hệ động thực vật, duy trì sự trong lành của không khí và nước, đảm bảo sự tái sản xuất của cải tự nhiên, và cải thiện môi trường của con người.[17]
Có thể nói, toàn bộ những nội dung kể trên của Hiến pháp Liên Xô năm 1977 thể hiện một quan điểm lý luận truyền thống ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây khi coi sở hữu tư nhân là nguồn gốc của mọi áp bức, bất công trong xã hội và việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là tiêu chí cơ bản phân biệt chế độ xã hội chủ nghĩa và xã hội tư bản chủ nghĩa.
Ngày nay, ngay cả giới lý luận ở Việt Nam cũng cho rằng, quan điểm trên không phù hợp với thực tế khách quan. Cụ thể hơn, nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng:[18]
- Việc xóa bỏ mọi hình thức sở hữu tư nhân đã xóa bỏ động lực phát triển, gây nên trạng thái trì trệ. Còn chế độ công hữu đưa đến tình trạng vô chính phủ, “cha chung không ai khóc”, gây nên tham nhũng, sử dụng không có hiệu quả tư liệu sản xuất, lãng phí của cải xã hội.
- Xóa bỏ thị trường tự do, triệt tiêu tác động của quy luật giá trị, quy luật cung cầu, cạnh tranh, hạn chế, triệt tiêu động lực đổi mới kỹ thuật – công nghệ, động lực phát huy sức sáng tạo của con người, hạn chế động lực áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất và trong cuộc sống. Thực tế, ở Liên Xô, chỉ có ngành công nghiệp quốc phòng, không gian vũ trụ là ứng dụng nhanh, còn các ngành khác, đặc biệt là công nghiệp hàng tiêu dùng, rất ít có sự thay đổi.
- Nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu và kế hoạch hóa dưới sự điều hành, chỉ huy trực tiếp của nhà nước. Nhà nước vốn là tổ chức quan liêu, trong khi kinh tế – xã hội lại luôn sống động, thay đổi, phát triển. Để có thể điều hành được kinh tế – xã hội, bộ máy nhà nước phải phình to lên, và càng phình to lên thì nó lại càng quan liêu, bất lực. Nhà nước ấy lại là một bộ phận của hệ thống chính trị được tổ chức theo kiểu hình tháp, trong đó Đảng ở đỉnh cao quyền lực, còn nhà nước và các tổ chức chính trị khác chỉ là cánh tay nối dài thực hiện mệnh lệnh của Đảng. Đó là một hệ thống chính trị tập trung quyền lực, nhưng lại thiếu cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực. Do vậy, không chỉ hạn chế sự thích ứng và tự điều chỉnh của hệ thống, mà còn nảy sinh quan liêu, tham nhũng, lạm quyền, tha hóa quyền lực. Quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước vốn là của nhân dân, trở thành xa lạ, đối lập với nhân dân.
Sự thất bại của mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào cuối thập niên 1980 trước các nhu cầu nội tại và áp lực cạnh tranh trong thời kỳ toàn cầu hóa là bằng chứng rõ nét nhất về sự thiếu bền vững của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa phi thị trường.
3. Đức
Chúng ta đều biết, mô hình phát triển kinh tế của Đức từ sau thế chiến thứ II có tên là mô hình nền kinh tế thị trường xã hội (social market economy).[19] Mô hình này hàm chứa mấy nguyên tắc cơ bản như sau:
- Đảm bảo quyền tự do hợp đồng và tự do lập tổ chức kinh doanh và các hội đoàn;
- Đảm bảo quyền sở hữu tư nhân;
- Duy trì hệ thống an sinh xã hội;
- Đảm bảo sự tham gia của công nhân vào cơ chế quản lý của các doanh nghiệp tư;
- Ban hành các luật về ngân hàng trung ương để thực thi chính sách tiền tệ;
- Ban hành và thực thi các luật lệ về cạnh tranh;
- Tự do hóa từng bước thương mại quốc tế;
- Đảm bảo sự chuyển đổi tự do của đồng tiền.[20]
Các nguyên tắc này tuy không được kết cấu thành một chương riêng và thuật ngữ “nền kinh tế thị trường xã hội” cũng không được nhắc tới trong Hiến pháp (Luật cơ bản) của Đức, nhưng các điều khoản của Hiến pháp nước Đức năm 1949 đã thực sự thể hiện được các nguyên tắc kể trên mà theo giới học giả người Đức, đó là một mô hình “nền kinh tế thị trường tự do và dân chủ”.[21] Cụ thể, Khoản 1 Điều 20 Luật cơ bản của Cộng hòa liên bang Đức (Hiến pháp Đức) quy định rõ “Cộng hòa Liên bang Đức là một nhà nước liên bang dân chủ và xã hội.” Ngoài ra, nhiều điều khoản của Hiến pháp Đức thể hiện rõ chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội. Ví dụ:
- Điều 9 Luật Cơ bản của Cộng hòa liên bang Đức (Hiến pháp Đức) quy định quyền tự do thành lập các loại hình doanh nghiệp. Cụ thể, khoản 1 Điều 9 Hiến pháp Đức quy định mọi người đều có quyền thành lập các hình thức tổ chức kinh doanh. Cùng với quy định đó là quy định về quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi làm việc, nơi đào tạo, làm nền tảng pháp lý cho sự tồn tại và vận hành của thị trường lao động – một trong 4 loại thị trường cơ bản trong nền kinh tế thị trường (thị trường hàng hóa, dịch vụ; thị trường vốn; thị trường bất động sản và thị trường lao động). Khoản 1 Điều 12 Hiến pháp Đức quy định “mọi công dân Đức đều có quyền tự do chọn lựa nghề nghiệp, nơi làm việc và nơi đào tạo.”
- Điều 14 và Điều 15 Hiến pháp Đức quy định rõ sự tôn trọng và bảo hộ quyền sở hữu của người dân. Cụ thể, Điều 14 Hiến pháp Đức quy định như sau:
“1. Quyền tài sản và quyền thừa kế phải được bảo đảm. Nội dung và các giới hạn của nó được quy định bởi các đạo luật.
2. Quyền tài sản luôn đi kèm với các nghĩa vụ. Việc sử dụng tài sản phải đảm bảo phù hợp với lợi ích công cộng.
3. Việc trưng mua tài sản chỉ được phép vì lợi ích công cộng. Việc trưng mua tài sản chỉ được thực hiện theo quy định của đạo luật trong đó quy định rõ bản chất và mức độ bồi thường. Việc bồi thường đó được thực hiện theo nguyên tắc cân bằng một cách công bằng giữa lợi ích công cộng và lợi ích của người bị ảnh hưởng. Trường hợp tranh chấp về mức bồi thường, các bên có thể đưa ra tòa án để giải quyết.”
Điều 15 Hiến pháp Đức quy định “Đất đai, tài nguyên thiên nhiên và tư liệu sản xuất có thể, vì mục tiêu xã hội hóa, chuyển thành sở hữu công cộng hoặc các hình thức doanh nghiệp công khác theo quy định của đạo luật quy định bản chất và phạm vi bồi thường. Với việc bồi thường đó, câu thứ ba và thứ tư trong khoản 3 của Điều 14 cũng được áp dụng với sự điều chỉnh phù hợp.”
Có thể nói, các quy định kể trên trong Hiến pháp Đức có nét mô phỏng tinh thần trong Tu chính án số 5 của Hiến pháp Hoa Kỳ (quy định về nguyên tắc trưng mua/trưng dụng tài sản tư nhân), nhưng có phần chi tiết và mềm dẻo hơn.
- Vấn đề bảo vệ môi trường cũng được Hiến pháp Đức quy định. Cụ thể, Điều 20a Hiến pháp Đức quy định “Ý thức trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai, nhà nước cam kết bảo vệ nền tảng tự nhiên cho sự sống của con người và động vật, trong khuôn khổ trật tự hiến pháp, bằng hoạt động lập pháp và bởi hành vi của hành pháp và tư pháp, phù hợp với công lý.”
Ngoài các quy định kể trên, Hiến pháp Đức còn có các quy định về việc quản lý lĩnh vực: Sử dụng năng lượng hạt nhân (Điều 87c); Hàng không (Điều 87d); Đường sắt (Điều 87e); Bưu chính và viễn thông (Điều 87f); Ngân hàng trung ương (Điều 88); Vận tải đường thủy (Điều 89); Đường cao tốc (Điều 90).
Có thể nói, Hiến pháp Đức đã hiến định nhiều nội dung thuộc về chế độ kinh tế của quốc gia, trong đó, không chỉ khu biệt trong nội dung liên quan tới sở hữu tư nhân mà còn quy định nội dung khá chi tiết và cụ thể.
4. Nga và Ba lan
Ngay sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa nhà nước sụp đổ, Liên Bang Nga đã ban hành Hiến pháp mới năm 1993 và chọn lựa mô hình “dân chủ pháp trị” để phát triển quốc gia. Mặc dù triết lý phát triển kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản, Hiến pháp mới của Nga vẫn có không ít quy định về chế độ kinh tế (mặc dù không còn một chương riêng về chế độ kinh tế trong Hiến pháp như Hiến pháp năm 1977 của Liên Xô trước đó).
Cụ thể, trong 137 Điều của Hiến pháp Nga,[22] có 8 điều trực tiếp quy định các nội dung về chế độ kinh tế tại Điều 7, 8, 9, 34, 35, 36, 37 và 42. Các điều khoản này thuộc 2 chương của Hiến pháp là chương 1 “Những yếu tố nền tảng của hệ thống hiến pháp” (với các Điều 7, 8 và 9) và chương 2 “Quyền và tự do của con người và công dân” (với các Điều 34, 35, 36, 37 và 42). Cụ thể:
- Các điều khoản trong Chương 1 “Những yếu tố nền tảng của hệ thống hiến pháp”: các Điều 7, 8, 9 thuộc chương này quy định rõ chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng đa loại hình sở hữu, tự do cạnh tranh nhưng coi đó như là phương tiện hướng tới mục tiêu cao hơn đó là vì cuộc sống nhân phẩm và tự do của mỗi cá nhân con người. Cụ thể:
+ Điều 7 của Hiến pháp Nga quy định: “(1) Liên bang Nga là một nhà nước xã hội mà mục tiêu chính sách của nó là tạo các điều kiện để đảm bảo một cuộc sống có nhân phẩm và phát triển tự do của con người. (2) Liên bang Nga bảo hộ công việc và sức khỏe của nhân dân, thiết lập lương tối thiểu, cung cấp những hỗ trợ về nhà nước cho các hộ gia đình, bà mẹ nuôi con, người cha nuôi con và cho trẻ em, cho người khuyết tật hoặc công dân già cả, phát triển một hệ thống dịch vụ xã hội, thiết lập các quỹ hưu trí của chính phủ, các lợi ích và bảo đảm an sinh xã hội khác.”
+ Điều 8 của Hiến pháp Nga quy định: “(1) Sự thống nhất về không gian kinh tế, tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ và các nguồn lực tài chính, thúc đẩy cạnh tranh và tự do hoạt động kinh tế được bảo đảm bởi Liên bang Nga. (2) Các hình thức sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, sở hữu của chính quyền địa phương và các hình thức sở hữu khác được công nhận và được hưởng sự bảo hộ bình đẳng ở Liên bang Nga.”
+ Điều 9 của Hiến pháp Nga quy định: “(1) Đất đai và các nguồn tài nguyên nhiên nhiên khác được sử dụng và bảo vệ ở Liên bang Nga với tư cách là cơ sở của cuộc sống và hoạt động của những người dân sống trên các vùng lãnh thổ ấy. (2) Đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, sở hữu của chính quyền đô thị hoặc các hình thức sở hữu khác.”
- Các điều khoản trong chương 2 “Quyền và tự do của con người và công dân”: các Điều 34, 35, 36, 37 và 42 thuộc chương này quy định như sau:
+ Điều 34. “(1) Mọi người đều có quyền tự do sử dụng năng lực và tài sản của mình cho các hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động kinh tế khác mà pháp luật không cấm. (2) Không hoạt động kinh tế nào hướng tới việc độc quyền hóa hoặc cạnh tranh không lành mạnh được phép thực hiện.”
+ Điều 35. “(1) Quyền tư hữu tài sản được bảo hộ bởi luật. (2) Mọi người đều có quyền sở hữu, chiếm hữu, sử dụng và quản lý tài sản của mình một cách riêng lẻ hoặc cùng với người khác. (3) Không ai có thể bị tước bỏ tài sản của mình một cách bất công trừ khi trên cơ sở quyết định của tòa án. Tài sản chỉ có thể bị cưỡng đoạt cho nhu cầu của nhà nước với điều kiện có sự đền bù trước và tương xứng. (4) Quyền thừa kế tài sản phải được bảo đảm.”
+ Điều 36: “(1) Công dân và các hội do công dân thành lập có quyền tư hữu đất đai. (2) Việc chiếm hữu, sử dụng và quản lý đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khácđược thực hiện một cách tự do bởi chủ sở hữu miễn là việc đó không gây hại cho môi trường hoặc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. (3) Điều kiện và thủ tục sử dụng đất được quy định bởi các đạo luật liên bang.”
+ Điều 37: “(1) Công việc là tự do. Mọi người đều có quyền tự do sử dụng năng lực của mình trong công việc và tự do chọn lựa loại hình hoạt động hoặc nghề nghiệp của mình. (2) Lao động cưỡng bức bị nghiêm cấm. (3) Mọi người đều có quyền làm việc trong điều kiện đáp ứng các yêu cầu về an toàn và vệ sinh, quyền hưởng thù lao từ công việc của mình mà không phải chịu phân biệt đối xử và không bị trả thấp hơn mức lương tối thiểu luật định, và quyền bảo đảm khỏi thất nghiệp.”
+ Điều 42: “Mọi người đều có quyền sống trong môi trường thuận lợi, có quyền được thông tin chính xác về hiện trạng và được bồi thường cho những thiệt hại đối với sức khỏe hoặc tài sản của mình gây ra bởi các vi phạm môi trường.”
Như vậy, xét về kỹ thuật lập pháp, các nội dung về chế độ kinh tế trong Hiến pháp liên bang Nga đã không còn được kết cấu thành một chương riêng biệt như Hiến pháp Xô Viết năm 1977 mà được lồng ghép vào các chương khác trong Hiến pháp. Cụ thể, những nội dung này được lồng ghép trong chương về các nguyên tắc cơ bản của hiến pháp và chương về nhân quyền và quyền công dân.Tại Ba Lan, sau khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở Ba Lan sụp đổ vào cuối thập niên 1980, Ba Lan chuyển sang thực hiện một mô hình kinh tế và chính trị mới. Điều này thể hiện rõ trong các quy định của Hiến pháp năm 1997. Hiến pháp này có 243 điều được chia thành 13 chương.[23] Tuy nhiên, dù không còn duy trì Hiến pháp của chế độ xã hội chủ nghĩa trước kia, Hiến pháp Ba Lan năm 1997 vẫn có những quy định về kinh tế. Các nội dung này cũng được quy định tại Chương 1 “Nền cộng hòa” và Chương 2 “Tự do, quyền và nghĩa vụ của con người và công dân”. Chẳng hạn, Điều 20 Hiến pháp năm 1997 của Ba lan quy định rõ “nền kinh tế thị trường xã hội, dựa trên sự tự do hoạt động kinh tế, sở hữu tư nhân, và đoàn kết, đối thoại và hợp tác giữa các đối tác xã hội, là nền tảng của chế độ kinh tế của Cộng hòa Ba lan”.[24] Có thể nói, ở chừng mực nhất định, tinh thần về nền kinh tế thị trường xã hội của người Đức đã được người Ba Lan mô phỏng.
Việc bảo hộ quyền sở hữu tư nhân, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, quyền hưởng an sinh xã hội, và nghĩa vụ bảo vệ môi trường được quy định rõ trong Hiến pháp Ba Lan. Cụ thể:
+ Điều 21 Hiến pháp Balan năm 1997 quy định: “1. Cộng hòa Ba Lan bảo hộ quyền sở hữu và quyền thừa kế [của công dân]. (2) Việc trưng mua/trưng dụng tài sản [của công dân] có thể được phép nhưng chỉ vì các mục tiêu công cộng và có sự đền bù công bằng.”[25] Thêm vào đó, Điều 46 Hiến pháp Balan năm 1997 quy định “tài sản chỉ có thể bị tịch thu trong những trường hợp quy định rõ bởi luật và phải theo phán quyết chung thẩm của tòa án.” Điều 64 Hiến pháp Balan năm 1997 quy định “(1) Mọi người đều có quyền sở hữu, các quyền tài sản và quyền thừa kế. (2) Mọi người, trên cơ sở bình đẳng, đều nhận được sự bảo hộ về quyền sở hữu, quyền tài sản khác và quyền thừa kế. (3) Quyền sở hữu chỉ có thể bị giới hạn theo quy định của luật và chỉ trong chừng mực mà việc đó không vi phạm một cách thực chất quyền năng đó.”
+ Điều 22 Hiến pháp Balan năm 1997 quy định “các giới hạn đối với quyền tự do hoạt động kinh tế chỉ có thể được ấn định bằng các đạo luật và vì những lý do công cộng quan trọng.”
+ Điều 23 Hiến pháp Balan năm 1997 quy định “cơ sở của hệ thống nông nghiệp quốc gia sẽ là các trang trại gia đình.”
+ Điều 24 Hiến pháp Balan năm 1997 quy định “việc làm sẽ được bảo hộ bởi Cộng hòa Balan. Nhà nước sẽ giám sát điều kiện làm việc.”
+ Điều 65 Hiến pháp Balan (Khoản 1) “mọi người đều có quyền tự do chọn lựa và theo đuổi nghề nghiệp của mình, chọn lựa nơi làm việc, ngoại trừ trường hợp luật có quy định khác.”
+ Điều 67 Hiến pháp Balan quy định: “1. Công dân có quyền hưởng an sinh xã hội khi không có khả năng làm việc vì ốm đau, hoặc mất khả năng lao động hoặc khi đã đến tuổi nghỉ hưu. Phạm vi và hình thức an sinh xã hội được quy định chi tiết bởi luật. (2) Công dân bị thất nghiệp không tự nguyện mà không có phương tiện sinh sống khác thì sẽ được hưởng an sinh xã hội, theo phạm vi luật định”.
+ Điều 86 Hiến pháp Balan năm 1997 quy định “mọi người có nghĩa vụ quan tâm tới chất lượng môi trường và phải chịu trách nhiệm nếu làm giảm chất lượng môi trường. Các nguyên tắc về trách nhiệm như vậy sẽ được quy định trong các đạo luật.”
Có thể nói, các quy định kể trên của Hiến pháp Ba Lan thể hiện rõ thông điệp của chính quyền và dân chúng Ba Lan rằng sau khi từ bỏ mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Ba Lan đã chuyển sang mô hình nền kinh tế thị trường, dựa trên sự bảo hộ sở hữu tư nhân, nhưng vẫn ghi nhận vai trò nhất định của nhà nước trong việc bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
6. Hiến pháp Trung Quốc
Hiến pháp hiện hành của Trung Quốc là bản Hiến pháp năm 1982. Bản Hiến pháp này gồm 138 điều được chia thành 4 chương.[26] So với cấu trúc truyền thống của Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa (kiểu mô hình Hiến pháp Xô Viết năm 1977), Hiến pháp Trung Quốc không có chương riêng về chế độ kinh tế, chế độ văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, Hiến pháp Trung quốc năm 1982 có khá nhiều quy định có thể được xếp vào loại các quy định về chế độ kinh tế. Các quy định từ Điều 6 tới Điều 18 thuộc loại này. Cụ thể:
+ Điều 6. “Nền tảng của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, bao gồm, sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Hệ thống sở hữu công thay thế chế độ người bóc lột người. Hệ thống này áp dụng nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động.”[27]
+ Điều 7. “Kinh tế nhà nước là lĩnh vực kinh tế xã hội chủ nghĩa thuộc sở hữu toàn dân. Kinh tế nhà nước là lực lượng lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân. Nhà nước đảm bảo sự củng cố và tăng trưởng của kinh tế nhà nước.”[28]
+ Điều 8. “Công xã nhân dân nông thôn, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp và các hình thức kinh tế hợp tác khác như hợp tác xã cung ứng và tiếp thị của nhà sản xuất, hợp tác xã tín dụng, hợp tác xã tiêu dùng, thuộc về khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa tổ chức dưới hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Nhân dân lao động, là thành viên của các tổ chức kinh tế tập thể ở nông thôn, có quyền, và trong giới hạn pháp luật quy định, canh tác trên những lô đất ở vùng đồi núi, tổ chức kinh tế hộ gia đình và được nuôi các loại gia súc, gia cầm. Các hình thức đa dạng của kinh tế hợp tác tại thành phố và đô thị trong các lĩnh vực thủ công, công nghiệp, xây dựng, giao thông, thương mại, dịch vụ, tất cả thuộc về khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa được tổ chức theo hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức kinh tế tập thể ở nông thôn và đô thị, đồng thời khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ sự gia tăng của khu vực kinh tế tập thể”.
+ Điều 9. “Nguồn khoáng sản, nguồn nước, rừng, núi, đất chưa sử dụng, bãi biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác thuộc sở hữu nhà nước, tức là thuộc sở hữu toàn dân, ngoại trừ rừng, núi, đất chưa sử dụng hoặc bãi biển thuộc sở hữu của các tổ chức kinh tế tập thể theo quy định của pháp luật. Nhà nước đảm bảo việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ các loài động vật và thực vật quý hiếm. Nghiêm cấm việc chiếm đoạt hoặc xâm hại tài nguyên thiên nhiên bởi các cá nhân, tổ chức dưới mọi hình thức.”
+ Điều 10. “Đất đai ở thành phố thuộc sở hữu của nhà nước. Đất đai ở khu vực nông thôn và khu vực ngoại ô thuộc sở hữu của các tổ chức kinh tế tập thể, ngoại trừ những mảnh thuộc về nhà nước do pháp luật quy định. Khu vực xây dựng nhà ở và các mảnh đất ở đồi núi cũng thuộc sở hữu tập thể. Nhà nước, vì lợi ích công cộng, có thể thu hồi đất để sử dụng phù hợp với quy định của pháp luật. Không tổ chức hoặc cá nhân nào có thể chiếm đoạt, bán, mua hoặc cho thuê đất đai, hoặc chuyển nhượng trái pháp luật theo cách thức khác. Mọi tổ chức và cá nhân sử dụng đất đều phải sử dụng một cách hợp lý.”[29]
+ Điều 11. “Kinh tế cá thể của nhân dân lao động ở nông thôn hoặc ở thành thị, hoạt động trong giới hạn pháp luật quy định, là một phần bổ trợ cho nền kinh tế công hữu xã hội chủ nghĩa. Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khu vực kinh tế cá thể. Nhà nước hướng dẫn, giúp đỡ và giám sát khu vực kinh tế cá thể thông qua các hoạt động kiểm soát hành chính.”[30]
+ Điều 12. “Tài sản công xã hội chủ nghĩa là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Nhà nước bảo hộ tài sản công xã hội chủ nghĩa. Nghiêm cấm dưới mọi hình thức việc chiếm đoạt hoặc gây thiệt hại tài sản nhà nước hoặc tài sản tập thể bởi các cá nhân, tổ chức.”
+ Điều 13. “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp thu nhập, tiết kiệm, nhà ở và các tài sản hợp pháp khác của công dân. Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế của công dân”.[31]
+ Điều 14. “Nhà nước không ngừng nâng cao năng suất lao động, cải thiện kết quả kinh tế và phát triển lực lượng sản xuất bằng việc khuyến khích sự hăng hái của nhân dân lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật, phổ biến các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, cải thiện hệ thống quản lý kinh tế và hệ thống quản lý, điều hành doanh nghiệp, áp dụng hệ thống trách nhiệm xã hội chủ nghĩa dưới nhiều hình thức khác nhau và cải thiện việc tổ chức công việc. Nhà nước thực hành chính sách tiết kiệm và chống lãng phí. Nhà nước cân đối hợp lý giữa tích lũy và tiêu dùng, chú ý tới lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân và lợi ích của nhà nước, trên cơ sở mở rộng sản xuất, từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân”.[32]
+ Điều 15. “Nhà nước thực hiện việc kế hoạch hóa kinh tế trên cơ sở công hữu xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đảm bảo sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân thông qua công cụ kế hoạch kinh tế và vai trò bổ trợ của thị trường. Việc phá hoại trật tự vận hành của nền kinh tế xã hội hoặc phá hoại kế hoạch nhà nước của bất cứ cá nhân, tổ chức nào cũng đều bị nghiêm cấm”.[33]
+ Điều 16. “Doanh nghiệp nhà nước có quyền ra quyết định đối với việc quản lý và vận hành trong phạm vi giới hạn quy định của pháp luật với điều kiện các doanh nghiệp này chịu sự lãnh đạo thống nhất của nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ mà kế hoạch nhà nước đã quy định. Doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản lý dân chủ qua các đại hội công nhân viên chức và các hình thức khác theo quy định của pháp luật”.
+ Điều 17. “Tổ chức kinh tế tập thể có quyền ra quyết định trong việc thực hiện các hoạt động kinh tế độc lập, với điều kiện các tổ chức này phải chấp nhận sự hướng dẫn từ kế hoạch của nhà nước và tuân thủ các quy định có liên quan. Tổ chức kinh tế tập thể thực hiện việc quản lý dân chủ phù hợp với quy định của pháp luật, với nguyên tắc toàn thể công nhân bầu và bãi nhiệm nhân sự lãnh đạo và quyết định về các vấn đề chủ chốt liên quan tới hoạt động và quản lý”.
+ Điều 18. “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho phép các doanh nghiệp nước ngoài, các tổ chức kinh tế nước ngoài và người nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc và tham gia các hình thức hợp tác khác nhau với doanh nghiệp Trung Quốc và các tổ chức kinh tế khác phù hợp với pháp luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Tất cả các doanh nghiệp nước ngoài hoặc các tổ chức kinh tế nước ngoài khác ở Trung Quốc, cũng như các liên doanh với Trung Quốc và đầu tư nước ngoài đóng tại Trung Quốc, phải tuân thủ pháp luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Các quyền và lợi ích hơp pháp của họ được pháp luật nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa bảo hộ”.
Có thể nói, với các quy định kể trên, Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc vẫn phản ánh khá rõ tư tưởng cũ về việc xây dựng chủ nghĩa xã hội (khi dựa trên mô hình phát triển lấy công hữu cùng với kế hoạch hóa làm chủ đạo). Tuy nhiên, việc Điều 15 của Hiến pháp 1982 thừa nhận vai trò bổ trợ của “thị trường” cũng như Điều 18 Hiến pháp 1982 hợp pháp hóa hoạt động đầu tư nước ngoài phản ánh bước đầu chủ trương cải cách, mở cửa của Trung Quốc – một chính sách mà Đảng Cộng sản Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình thưc hiện 3 năm trước thời điểm ban hành Hiến pháp năm 1982 (tức là năm 1979).
Tất nhiên, khuôn khổ hiến pháp kể trên chẳng bao lâu đã tỏ ra không phù hợp khi nền kinh tế Trung Quốc ngày càng hội nhập sâu với cộng đồng quốc tế, cùng với đó là sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân. Phản ánh và hợp pháp hóa những chuyển biến thực tiễn này, từ năm 1982 tới nay, Trung Quốc đã 4 lần sửa đổi Hiến pháp (vào năm 1988, 1993, 1999 và 2004). Thực tiễn cho thấy, nội dung bị sửa đổi nhiều nhất trong Hiến pháp Trung Quốc chính là các quy định thuộc về chế độ kinh tế của Trung Quốc.
Cụ thể, trong lần sửa đổi thứ nhất (vào ngày 12/4/1988), Hiến pháp Trung Quốc bổ sung một nội dung mới quan trọng vào Điều 11 là “Nhà nước cho phép khu vực kinh tế tư nhân tồn tại và phát triển trong giới hạn mà pháp luật quy định. Khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế bổ sung cho khu vực kinh tế công xã hội chủ nghĩa. Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khu vực kinh tế tư nhân, và thực hiện việc hướng dẫn, giám sát và kiểm tra đối với khu vực kinh tế tư nhân.” Đoạn 4 Điều 10 được sửa đổi từ “nghiêm cấm việc cá nhân, tổ chức chiếm đoạt, mua bán, cho thuê đất đai hoặc chuyển nhượng đất đai một cách trái pháp luật” bằng cách thêm một nội dung “quyền sử dụng đất có thể được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.”
Trong lần sửa đổi thứ hai vào ngày 29/3/1993, Điều 7 được sửa đổi lại, tuy vẫn khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, theo đó, “Kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, tức là kinh tế xã hội chủ nghĩa theo chế độ sở hữu toàn dân, là lực lượng lãnh đạo trong nền kinh tế. Nhà nước đảm bảo sự củng cố và tăng trưởng của kinh tế thuộc sở hữu nhà nước”, nhưng Điều 15 đã được sửa đổi căn bản theo hướng lấy thị trường (thay cho kế hoạch) là công cụ cơ bản phân bổ nguồn lực trong xã hội. Cụ thể, Điều 15 Hiến pháp Trung Quốc trong lần sửa đổi năm 1993 quy định như sau: “Nhà nước áp dụng trong thực tiễn nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Nhà nước tăng cường ban hành các đạo luật về kinh tế, cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô, kiểm soát và ngăn cấm các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm trật tự kinh tế xã hội.”
Trong lần sửa đổi thứ ba (ngày 15/3/1999), Điều 6 của Hiến pháp được sửa đổi thành “Nền tảng của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc là công hữu về tư liệu sản xuất, tức là, sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Chế độ công hữu thay thế chế độ người bóc lột người; thực hành nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động’.” “Trong giai đoạn đầu của chế độ xã hội chủ nghĩa, nhà nước thực hiện chế độ kinh tế cơ bản trong đó công hữu vẫn là thống lĩnh và các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế cùng phát triển, và theo chế độ phân phối với việc phân phối theo lao động vẫn giữ vai trò thống lĩnh và sự cùng tồn tại của nhiều hình thức phân phối.” Điều 11 được sửa đổi thành: “Khu vực kinh tế cá thể, tư nhân và phi công hữu khác tồn tại trong giới hạn của pháp luật là thành tố chủ yếu của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.” “Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của kinh tế cá thể và tư nhân, và hướng dẫn, giám sát và quản lý khu vực kinh tế tư nhân và cá thể.”
Trong lần sửa đổi thứ tư (ngày 14/3/2004), đoạn 3 của Điều 10 được sửa đổi thành “nhà nước, có thể, vì lợi ích công cộng và phù hợp với quy định của pháp luật, thu hồi đất để mình sử dụng, và phải bồi thường cho phần đất đã thu hồi.” Khoản 2 Điều 11 được sửa đổi thành “Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khu vực kinh tế phi công hữu, bao gồm kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể. Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ và hướng dẫn sự phát triển của khu vực kinh tế phi công hữu, phù hợp với quy định của pháp luật, thực hiện việc giám sát và kiểm soát khu vực kinh tế phi công hữu.” Đặc biệt, Điều 13 Hiến pháp Trung Quốc được sửa đổi theo hướng khẳng định rõ “quyền tư hữu hợp pháp của công dân là bất khả xâm phạm” và “Nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật, bảo hộ quyền tư hữu và quyền thừa kế của công dân”. “Nhà nước, vì lợi ích công cộng và phù hợp với quy định của pháp luật, trưng mua, trưng dụng tài sản tư để sử dụng, và bồi thường đối với tài sản tư bị trưng mua, trưng dụng.” Điều 14 bổ sung thêm nội dung “Nhà nước thiết lập một hệ thống an sinh xã hội phù hơp với trình độ phát triển kinh tế.”[34]
Như vậy, có thể thấy, cùng với thời gian, việc thừa nhận về mặt hiến pháp sự tồn tại của nền kinh tế thị trường dựa trên chế độ đa sở hữu, vai trò ngày càng lớn của khu vực kinh tế tư nhân, yêu cầu thiết lập hệ thống an sinh xã hội là một xu hướng khá rõ nét trong những lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp ở Trung Quốc suốt từ năm 1982 tới nay.
III. Nên hiến định hay không nên hiến định các nội dung thuộc về chế độ kinh tế?
Có thể nói, trong các Hiến pháp được nghiên cứu, không Hiến pháp nào không có sự hiến định ở mức độ nhất định các nội dung của chế độ kinh tế ở mỗi quốc gia. Do đó, với câu hỏi “nên hiến định hay không nên hiến định chế độ kinh tế trong Hiến pháp” thì câu trả lời sẽ là “nên hiến định”. Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm là “mức độ hiến định chế độ kinh tế như thế nào là hợp lý?”
Kinh nghiệm quốc tế cho ta thấy, mô hình hiến định của Hoa Kỳ và mô hình hiến định của Liên Xô năm 1977 về các nội dung thuộc về chế độ kinh tế là hai mô hình điển hình có tính chất đối lập nhau.
Mô hình hiến định tối thiểu, với Hiến pháp của Hoa Kỳ (và thực tiễn áp dụng Hiến pháp thể hiện ở các án lệ của Tòa Tối cao Hoa Kỳ) là một điển hình. Theo mô hình này, Hiến pháp có đề cập tới các vấn đề thuộc về nội dung chế độ kinh tế đó là vấn đề về bảo hộ quyền tư hữu tài sản và quyền tự do hợp đồng của dân chúng. Mô hình này, trong thực tiễn áp dụng, đã có khả năng tương thích khá cao với các biến chuyển kinh tế, theo đó, việc chuyển đổi từ mô hình nền kinh tế tự do cạnh tranh (laisser faire) sang mô hình có sự điều tiết ở mức độ của nhà nước (nền kinh tế hỗn hợp) không làm thay đổi lời văn của Hiến pháp. Tuy nhiên, trong thực tiễn vận hành, mô hình này cần sự hỗ trợ rất lớn vào các giải thích Hiến pháp của hệ thống tòa án liên bang ở Hoa Kỳ (nhất là Tòa Tối cao), trong các án lệ của mình.
Mô hình hiến định tối đa, với Hiến pháp của Liên Xô năm 1977 trước đây là một ví dụ. Theo mô hình này, không chỉ các nội dung thuộc về chế độ sở hữu của một quốc gia mà các vấn đề khác như vai trò của từng thành phần/lĩnh vực kinh tế, mục tiêu chính sách kinh tế v.v. cũng đều được quy định.
Mô hình hiến định chế độ kinh tế ở các quốc gia khác thường rơi vào khoảng giữa trong hai mô hình này. Hiến pháp Việt Nam hiện tại, ngay cả khi các quy định trong Hiến pháp năm 1980 về chế độ kinh tế đã có sự thay đổi khá căn bản, thì vẫn có nét thiên về mô hình hiến định trong Hiến pháp năm 1977 của Liên Xô (tức là mô hình hiến định tối đa). Đây là thực tế rất đáng lưu ý trong quá trình rà soát, đánh giá lại các quy định hiện hành của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) về chế độ kinh tế.
Quay trở lại vấn đề “mức độ hiến định các nội dung trong chế độ kinh tế ở một quốc gia nên như thế nào là hợp lý?”: Có thể nói, câu trả lời này còn tùy thuộc vào quan niệm của chúng ta về bản chất của Hiến pháp và mục đích của Hiến pháp (mục đích của việc hiến định)? Câu trả lời đó cũng tùy thuộc vào nhận thức của chúng ta về việc sửa Hiến pháp là dễ hay khó?
Lịch sử cho thấy, sửa Hiến pháp luôn là câu chuyện được nhìn nhận khá thận trọng. Quy trình sửa Hiến pháp, vì thế, cũng phức tạp hơn nhiều so với việc ban hành các đạo luật thông tường. Chí ít, xét từ góc độ chính trị (ý Đảng), ngay từ khâu chủ trương việc sửa Hiến pháp, đã phải có ý kiến của Bộ Chính trị, sau đó là ý kiến của Hội nghị Trung ương Đảng rồi ý kiến của Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng. Việc soạn thảo nội dung sửa đổi, luôn có ý kiến chỉ đạo sát sao từ các tổ chức của Đảng, nhất là từ phía Bộ Chính trị. Còn xét về góc độ pháp lý và yêu cầu xã hội (lòng dân), việc sửa đổi Hiến pháp cũng đòi hỏi một quy trình tham vấn khá công phu, trước khi Dự thảo các nội dung sửa đổi trong Hiến pháp được Quốc hội chính thức bàn luận và quyết định thông qua.
Hiến pháp, về chừng mực nhất định, cũng là một hệ thống tuyên ngôn về chính sách hoặc định hướng chính sách trong quá trình xây dựng đất nước, giải quyết các vấn đề, các thách thức của phát triển.
Việc Hiến pháp không quy định một chính sách nào đó, có thể được hiểu ngầm định ủng hộ cách làm hiện tại. Nói cách khác, quy định của Hiến pháp có thể là chính thức hóa tình trạng hiện tại (theo hướng, coi tình trạng hiện tại như là một điều không dễ thay đổi, để đảm bảo tính nhất quán, kiểu như cách ghi nhận Điều 4 Hiến pháp nước ta). Quy định của Hiến pháp có thể thể hiện sự phủ định cả một xu hướng của hiện tại (kiểu quy định về chủ trương xóa bỏ sở hữu tư nhân đối với đất đai ở nước ta trong Hiến pháp năm 1980).
Hiến định, vì thế, trở thành, cách thức ghi nhận sự nhất quán trong chính sách của quốc gia.
Tất nhiên, do sự khó khăn trong việc sửa đổi Hiến pháp, việc “bê tông hóa” một chính sách, một xu hướng phát triển trong Hiến pháp, có thể làm cho nhà nước không phản ứng kịp, hoặc buộc phải vi hiến khi tình thế cuộc sống đặt ra (bởi lẽ, Hiến pháp, khi đã được ban hành, luôn là công cụ trói tay nhà nước). Thực tiễn Việt Nam cũng đã từng diễn ra tình trạng này. Đơn cử việc Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và Luật Công ty năm 1990 thừa nhận các hình thức tổ chức kinh tế tư nhân, thừa nhận tư nhân được sở hữu tư liệu sản xuất đã đảo ngược lại tinh thần của Hiến pháp năm 1980 và thực chất, là các đạo luật có tính vi hiến.
Thực tế, khi đã hiến định thật chi tiết chế độ kinh tế của quốc gia, nhất là chi tiết tới mức, xác định vai trò của từng khu vực, từng thành phần kinh tế, từng hình thức sở hữu trong nền kinh tế, rất có thể xảy ra tình huống, cứ mỗi kỳ đại hội của Đảng, quan điểm về những vấn đề trên có sự thay đổi thì sẽ lại xuất hiện nhu cầu sửa đổi Hiến pháp.
Hiến định càng chi tiết thì khả năng trói tay nhà nước và xã hội càng lớn và “nhu cầu vi hiến” lại càng lớn. Ví dụ, khi hiến định chủ trương xóa bỏ sở hữu tư nhân trong Hiến pháp 1980, chúng ta đã trói tay xã hội và đặt toàn bộ hoạt động kinh tế tư nhân ra ngoài vòng pháp luật. Hệ lụy của cách làm này thế nào thì chúng ta đã biết rất rõ. Đại hội VI của Đảng, rồi sau đó là Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty năm 1990 đã “phá rào” vượt trần của Hiến pháp năm 1980 mặc dù Hiến pháp này chỉ được sửa đổi vào năm 1992.
Việc hiến định các nội dung cụ thể trong chế độ kinh tế cần tính thêm tới khả năng dự báo của chúng ta. Hiến pháp là đạo luật gốc, luật “mẹ”, đạo luật cơ bản, nền tảng của quốc gia.[35] Hiến pháp, chính vì thế, thường phản ánh những giá trị ở tầng sâu nhất của mỗi quốc gia. Trong thế giới hiện đại, Hiến pháp thường có xu hướng cổ vũ các giá trị dân chủ, nhân văn và pháp quyền. Hiến pháp cũng cổ vũ các giá trị về việc giải phóng con người (đề cao tự do cá nhân, như ở Việt Nam thì có tính tới sự hài hòa giữa cá nhân và tập thể/cộng đồng v.v.). Trong lĩnh vực kinh tế, Hiến pháp chỉ nên phác họa vấn đề mấu chốt nhất là mô hình phát triển kinh tế tổng quát và tối ưu của quốc gia (mô hình đó nên có những thành tố cơ bản nhất nào).
Ở Việt Nam, việc xác định mô hình phát triển kinh tế tối ưu (hiệu quả và bền vững) như vậy không chỉ giản đơn là việc học tập mô hình của quốc tế, mà còn dựa trên chính những trải nghiệm, những bài học cả thành công và thất bại của đất nước. Chí ít, chúng ta cũng có những bài học thất bại đắng cay của thời kỳ kế hoạch hóa tập trung (ít nhất là từ năm 1975 đến năm 1986) trong đó:
- Xóa bỏ sở hữu tư nhân trong bối cảnh đất nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, xuất phát điểm thấp, ý thức tư hữu còn ăn sâu, bám dễ với người dân.
- Công hữu hóa đất đai (chí ít, chỉ cho tới năm 1992 mới bắt đầu có sự nới lỏng về mặt thực tế với việc thừa nhận khái niệm “quyền sử dụng đất” và việc nhà nước cho phép người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và một số quyền năng khác): nhưng thị trường đất đai lúc đó đã có sự phản ứng, đối phó với các quy định cứng nhắc của pháp luật bằng những thủ thuật khá thú vị (chẳng hạn, luật lúc đó chỉ cho phép bán nhà trên đất mà không cho phép bán đất. Muốn dịch chuyển đất từ người này sang người khác, chỉ có cách duy nhất là trả lại đất cho nhà nước rồi nhà nước cấp lại cho bên muốn nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên, người dân đã nghĩ ra cách dựng ra các ngôi nhà tạm trên đất và lập hợp đồng bán nhà thay cho hợp đồng bán đất, nhưng trong nhận thức của các bên thì quyền sử dụng đất đã có sự chuyển giao trên thực tế; ví dụ khác là việc tiến hành các giao dịch ngầm, giao dịch chui về đất đai, bán đất chỉ với giấy viết tay v.v.).[36]
Trong một thế giới biến động ngày nay, khi mà chúng ta không phải là đấng toàn năng, khả năng dự đoán của chúng ta còn không ít hạn chế, chúng tôi cho rằng, chúng ta chỉ nên hiến định ở mức rất khái quát các nội dung liên quan tới chế độ kinh tế. Trước mắt, chúng tôi cho rằng, Hiến pháp chỉ nên hiến định các nội dung sau đây:
- Tuyên bố rõ việc áp dụng mô hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tuy nhiên, việc định danh, số lượng “thành phần kinh tế”, vai trò của từng thành phần kinh tế không cần quy định chi tiết trong Hiến pháp mà hãy để các chính sách và các đạo luật đơn hành quy định.
- Nội dung về sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân cũng chỉ cần quy định một cách khái quát theo hướng: nhà nước bảo hộ bình đẳng các hình thức sở hữu và các loại hình doanh nghiệp (không phân biệt nguồn gốc sở hữu) trong nền kinh tế, quyền sở hữu tư nhân không bị quốc hữu hóa, chỉ bị trưng mua, trưng dụng có bồi thường công bằng vì mục đích công cộng trong các trường hợp được quy định rõ trong luật v.v.
- Về mặt kỹ thuật lập hiến, không nhất thiết cứ phải có một chương về chế độ kinh tế thì chúng ta mới có thể hiến định được các nội dung thuộc về chế độ kinh tế. Chúng toàn hoàn toàn có thể tích hợp các quy định về chế độ kinh tế với các quy định nền tảng về Hiến pháp (thường là trong chương 1 của Hiến pháp) và các quy định liên quan tới quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Nguồn:


18:01
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét