Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

[George Soros] Thuyết phản hồi - Mô thức mới trong thị trường tài chính (Phần 2)

Trong khi, Buffett tìm cách mua 1 vật có giá trị $1với giá 40 hoặc 50 cent, thì Soros lại hạnh phúc khi trả $1, hoặc thậm chí nhiều hơn $1, vì khi đó ông có thể nhìn thấy một sự thay đổi sẽ làm tăng giá của vật đó lên đến $2 hoặc $3.
Để chứng minh học cho thuyết phản hồi của mình, trong cuốn “Thuật giả kim tài chính” (năm 1987) Soros cung cấp một vài mô hình như:
Thị trường tiền tệ
Hình 5: Thị trường tiền tệ theo thuyết cân bằng.
Hình 6: Phản hồi trong thị trường tiền tệ. Mô hình này là một vòng luẩn quẩn xảy ra dưới thời tổng thống Carter: đồng tiền mất giá và lạm phát gia tăng, nhưng lại là một chu kỳ tốt dưới thời tổng thống Reagan: tiền tệ tăng giá và lạm phát giảm tốc.
Sự bùng nổ các tập đoàn
Hình 7: Variables - Mô hình bùng nổ các tập đoàn
 
Bảng 1. Ideas - Cách nhìn nhận khác về mô hình bùng nổ tập đoàn dưới góc nhìn của Thuyết phản hồi
  Cách quan sát thông thường Cách quan sát theo thuyết phản hồi
Tăng EPS có ý nghĩa với các công ty đã tìm ra phương pháp quản lý tốt. EPS tăng điều đó đồng nghĩa với công ty đang hoạt động ngày càng tốt và có chính sách quản lý tốt.
Bảng 2. Groups - Ba nhóm cơ bản trong mô hình bùng nổ tập đoàn
·       Nhà quản lý của các tổ chức, những người mua lại các công ty khác.
·       Nhà đầu tư, những người tin vào cái gì đó mới và hoàn hảo.
·       Nhà đầu tư, những người dùng lý thuyết phản hồi.
Bảng 3. Events - Những diễn biến trong mô hình bùng nổ tập đoàn
·       Một công ty công nghệ cao với một tỷ số P/E cao bắt đầu đa dạng hóa.
·       Nó mua các công ty hàng tiêu dùng với tỷ số P/E thấp.
·       Khi thu nhập tăng, giá của các tập đoàn cũng tăng lên.
·       Một cổ phiếu cao đồng nghĩa với khả năng đi vay lớn hơn.
·       Các tập đoàn đi vay để mua nhiều hơn những công ty hàng tiêu dùng.
·       Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu tiếp tục tăng.
·       Các nhà đầu tư háo hức mua thêm cổ phiếu.
·       Cuối cùng mọi người nhận ra rằng bản chất công ty đã thay đổi và tỷ lệ P/E cao là không hợp lý.
·       Sau đó giá cổ phiếu giảm mạnh về đúng bản chất của công ty.
Để xem xét sự bùng nổ của các tập đoàn, Soros lấy ví dụ về một công ty công nghệ cao với một P/E cao, bắt đầu đa dạng hóa. Nó mua các công ty bán hàng tiêu dùng với cổ tức cao, P/E thấp. Khi hình thành một tập đoàn, giá của công ty tăng lên. Giá cổ phiếu cao hơn có nghĩa khả năng đi vay lớn hơn. Các tập đoàn vay mượn để mua nhiều công ty hàng tiêu dùng hơn nữa. Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu tiếp tục tăng. Nhà đầu tư háo hức mua thêm cổ phiếu. Cuối cùng mọi người nhận ra rằng bản chất của công ty đã thay đổi và P/E cao như vậy là không hợp lý. Sau đó giá giảm xuống về đúng bản chất của công ty. Hình 7 và bảng 1, 2 và 3 cho thấy sự bùng nổ tập đoàn có thể được mô tả bằng 4 yếu tố Variables, Events, Groups và Ideas.
Quỹ tín thác đầu tư bất động sản
Quỹ đầu tư mạo hiểm bùng nổ và sự sụp đổ
Hình 9: Quỹ đầu tư mạo hiểm.
Chu kỳ tín dụng
 Tác động đối với tài chính
Ngày nay, hầu hết công việc nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính đều liên quan đến việc xây dựng mô hình toán học. Mặc dù tài chính hành vi chiếm một phần ngày càng tăng trong lĩnh vực này, nhưng thật sự nó không được sử dụng rộng rãi. Soros với quan điểm trái ngược, ông cho rằng tài chính như một trò chơi nhiều người liên quan đến nhau và có cả bản thân mình trong cuộc chới đó. Trong khi tài chính chú hành vi trọng vào mô tả quyết định cá nhân, thì Soros đề cập đến hành vi của hệ thống lớn trong xã hội.
Dahlem và Trauffner (2005) đã so sánh những ý tưởng của Soros để trình bày về suy nghĩ trong tài chính và lý thuyết Markowitz. Họ chỉ ra ba bước trong việc lựa chọn danh mục đầu tư.
·       - Quan sát và kinh nghiệm.
·       - Niềm tin vào tương lai. (Soros tập trung vào đây)
·       - Lựa chọn các danh mục đầu tư. (Markowitz tập trung ở đây)
Lý thuyết Markowitz được sử dụng rộng rãi bởi các nhà quản lý tài chính. Nó được dựa trên toán học và thống kê. Nó giả định một xu hướng cân bằng thị trường. Tập trung vào dữ liệu lịch sử. Ngược lại thuyết phản hồi không thường được các nhà quản lý tài chính sử dụng. Nó không chỉ dựa vào kinh tế mà còn tâm lý và chính sách quốc gia. Nó giả định sự mất cân bằng thị trường. Tập trung vào các quyết định tương lai của các nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách.
Cách tiếp cận của Markowitz tập trung sự cân bằng giữa lợi tức và rủi ro. ông cho rằng các nhà đầu tư quan tâm đến rủi ro - lợi tức và học thuyết của ông là dùng để đánh giá mối quan hệ rủi ro - lợi tức đó. Hoạt động chính là phân tích dữ liệu và mục tiêu là tránh những biến động. Trong khi Soros nhấn mạnh lợi nhuận tuyệt đối cao. Ông định nghĩa khung thời gian của nhà đâu tư và đánh giá các mức giá liên quan đến nhận thức. Hoạt đông chính là phân tích hành vi và mục đích để tránh tổn thất.
Mục tiêu của Markowitz là làm cho các khoản đầu tư thành công. Để đạt được mục tiêu này, ông đã đa dạng hóa đầu tư và tối ưu hóa danh mục đầu tư. Quản lý thông tin được yêu cầu. Soros sẵn sàng chấp nhận một số cơ hội chiến lược. Ông tập trung vào đầu tư và thời gian tối ưu hóa thị trường. Kiến thức quản lý là yêu cầu bắt buộc. Soros sử dụng cùng quan điểm khi phân tích hệ thống chính trị để ông sử dụng trong kinh tế. Ông tìm kiếm “gap” giữa nhận thức và thực tế. Một khoảng cách lớn có nghĩa là hệ thống không ổn định. Khi mọi người nhận ra rằng lý thuyết và thực tế cách xa nhau và không thể áp dụng được.
Mặc dù phần lớn khoản đầu tư của Soros là trong công cụ đầu tư thông thường, nhưng ông vẫn tìm kiếm các tình huống phản hồi ngắn hạn tích cực, mà sẽ mang lại khoảng lợi nhuận nhanh chóng. Ví dụ như sự bùng nổ của tập đoàn, một chu kỳ tín dụng, hoặc một bong bóng công nghệ cao.
Tác động đối với kinh tế
Lý thuyết kinh tế dựa trên một số giả định về thông tin, về hành vi con người. Ví dụ thông tin được phân phối ngay cho tất cả mọi người. Mỗi người tìm cách tối đa hóa lợi nhuận cá nhân. Con người cư xử hợp lý. Khi được hỏi liệu họ có thực sự tin rằng giả định như vậy thì các nhà kinh tế trả lời “Những giả thiết này cho phép chung ta giải quyết vấn đề. Nếu bạn không làm ra các giả định, thì bạn không thể làm mọi thứ” (Waldrop, 1992, 142) Mặc dù kinh tế hành vi là xâm nhập, tình hình kinh tế có thể được gọi là một sự “xa rời với điều kiện thực tế”. Lý thuyết của Soros dựa vào kinh nghiệm của ông như là một nhà quản lý tài chính. Kết quả là ông nhanh chóng nhận ra sự không hoàn hảo của thị trường. Ông cho rằng con người không phải là bộ vi xử lý thông tin hiệu quả hay diễn viên xuất sắc, nhưng đúng hơn là hành động dựa vào xu hướng và thông tin sai lệch. Ông nhận thấy rằng xu hướng có thể tồn tại trong một thị trường không chỉ trong vài phút, vài giờ mà cả vài tuần, vài tháng thậm chí vài năm. Thật vậy trong trường hợp của hệ thống chính trị - xã hội thì khoảng cách được hình thành giữa nhận thức và thực tế có thể kéo dài vài thập kỷ.
(Soros,1991) Soros tin rằng lý thuyết của ông giúp ông trở thành nhà đầu tư thành công trong thời gian gần đây. Hơn nữa, lý thuyết của ông đã giúp ông dự đoán và gây ảnh hưởng để dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô.
Người ta có thể nghĩ rằng lý thuyết mới này sẽ thu hút sự chú ý lớn hơn. Nó tổng quát hơn lý thuyết trước đó bởi vì nó có thể được áp dụng trong hệ thống chính trị xã hội cũng như kinh tế và tài chính. Nó chi tiết hơn lý thuyết trước đó bởi vì nó giải thích cách thị trường đạt hoặc không đạt đến trạng thái cân bằng. Và nó cho phép dự đoán tốt hơn, được minh họa bằng kỷ lục cao trong quản lý tài chính.
Tuy nhiên, mọi người nói rằng mệnh đề trong thuyết phản hồi được biết và hiểu một cách rộng rãi. Rõ ràng, mọi người đang sử dụng cùng một hệ quy chiếu để đánh giá lý thuyết này. Đây không phải là những tiến bộ khoa học. Đánh giá cảm giác chung trên cùng một hệ quy chiếu không đáng tin cậy vì 3 lý do:
1. Những người khác nhau có những quan điểm khác nhau
2. Cảm giác chung sẽ thay đổi theo thời gian.
3. Cảm giác chung không được nêu rõ hoặc chứng minh.
Thay vào đó, hệ quy chiếu thích hợp để đánh giá một lý thuyết mới là so sánh nó với lý thuyết cũ đã được chấp nhận hoặc đã thử nghiệm.
Kinh tế sẽ trông như thế nào nếu chúng ta luôn tin vào thông tin hoàn hảo, hợp lý và trạng  thái cân bằng được thay thế bằng xu hướng, có sự tương tác giữa nhận thức và hành động, khoảng cách giữa nhận thức và thực tế, sự mất cân bằng, sự bùng nổ và chu kỳ phá sản?
  
Kết luận
Lý thuyếtcủa Soros mở rộngsang các lĩnh vựctài chínhvà kinh tế bao gồm các xu hướngnhận thứccủa những người tham giathị trường.Ông cũng gợi ý một cách để dự đoán những thay đổi chính trị lớn. Thuyếtphản hồicho thấy mốiliên kếtgiữa điều khiển học vớikinh tế, tài chính và khoa học chính trị.
Phản hồi, có thể được coi là thông tin phản hồi tích cực từ nhận thức và sự tham gia, có thể được tìm thấy trong bất kỳ các lĩnh vựckhoa học xã hội khác.
 
Đình Lân & Aries Lee

0 nhận xét:

Đăng nhận xét