Trong khi, Buffett tìm cách mua 1 vật có giá trị
$1với giá 40 hoặc 50 cent, thì Soros lại hạnh phúc khi trả $1, hoặc thậm
chí nhiều hơn $1, vì khi đó ông có thể nhìn thấy một sự thay đổi sẽ làm
tăng giá của vật đó lên đến $2 hoặc $3.
Để
chứng minh học cho thuyết phản hồi của mình, trong cuốn “Thuật giả kim
tài chính” (năm 1987) Soros cung cấp một vài mô hình như:
Thị trường tiền tệ
Hình 5: Thị trường tiền tệ theo thuyết cân bằng.
Hình
6: Phản hồi trong thị trường tiền tệ. Mô hình này là một vòng luẩn quẩn
xảy ra dưới thời tổng thống Carter: đồng tiền mất giá và lạm phát gia
tăng, nhưng lại là một chu kỳ tốt dưới thời tổng thống Reagan: tiền tệ
tăng giá và lạm phát giảm tốc.
Sự bùng nổ các tập đoàn
Hình 7: Variables - Mô hình bùng nổ các tập đoàn
Bảng 1. Ideas - Cách nhìn nhận khác về mô hình bùng nổ tập đoàn dưới góc nhìn của Thuyết phản hồi
|
Cách quan sát thông thường |
Cách quan sát theo thuyết phản hồi |
|
Tăng EPS có ý nghĩa với các công ty đã tìm ra phương pháp quản lý tốt. |
EPS tăng điều đó đồng nghĩa với công ty đang hoạt động ngày càng tốt và có chính sách quản lý tốt. |
Bảng 2. Groups - Ba nhóm cơ bản trong mô hình bùng nổ tập đoàn
· Nhà quản lý của các tổ chức, những người mua lại các công ty khác.
· Nhà đầu tư, những người tin vào cái gì đó mới và hoàn hảo.
· Nhà đầu tư, những người dùng lý thuyết phản hồi.
Bảng 3. Events - Những diễn biến trong mô hình bùng nổ tập đoàn
· Một công ty công nghệ cao với một tỷ số P/E cao bắt đầu đa dạng hóa.
· Nó mua các công ty hàng tiêu dùng với tỷ số P/E thấp.
· Khi thu nhập tăng, giá của các tập đoàn cũng tăng lên.
· Một cổ phiếu cao đồng nghĩa với khả năng đi vay lớn hơn.
· Các tập đoàn đi vay để mua nhiều hơn những công ty hàng tiêu dùng.
· Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu tiếp tục tăng.
· Các nhà đầu tư háo hức mua thêm cổ phiếu.
· Cuối cùng mọi người nhận ra rằng bản chất công ty đã thay đổi và tỷ lệ P/E cao là không hợp lý.
· Sau đó giá cổ phiếu giảm mạnh về đúng bản chất của công ty.
Để
xem xét sự bùng nổ của các tập đoàn, Soros lấy ví dụ về một công ty
công nghệ cao với một P/E cao, bắt đầu đa dạng hóa. Nó mua các công ty
bán hàng tiêu dùng với cổ tức cao, P/E thấp. Khi hình thành một tập
đoàn, giá của công ty tăng lên. Giá cổ phiếu cao hơn có nghĩa khả năng
đi vay lớn hơn. Các tập đoàn vay mượn để mua nhiều công ty hàng tiêu
dùng hơn nữa. Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu tiếp tục tăng. Nhà đầu tư háo
hức mua thêm cổ phiếu. Cuối cùng mọi người nhận ra rằng bản chất của
công ty đã thay đổi và P/E cao như vậy là không hợp lý. Sau đó giá giảm
xuống về đúng bản chất của công ty. Hình 7 và bảng 1, 2 và 3 cho thấy sự
bùng nổ tập đoàn có thể được mô tả bằng 4 yếu tố Variables, Events,
Groups và Ideas.
Quỹ tín thác đầu tư bất động sản
Quỹ đầu tư mạo hiểm bùng nổ và sự sụp đổ
Hình 9: Quỹ đầu tư mạo hiểm.
Chu kỳ tín dụng
Tác động đối với tài chính
Ngày
nay, hầu hết công việc nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính đều liên
quan đến việc xây dựng mô hình toán học. Mặc dù tài chính hành vi chiếm
một phần ngày càng tăng trong lĩnh vực này, nhưng thật sự nó không được
sử dụng rộng rãi. Soros với quan điểm trái ngược, ông cho rằng tài chính
như một trò chơi nhiều người liên quan đến nhau và có cả bản thân mình
trong cuộc chới đó. Trong khi tài chính chú hành vi trọng vào mô tả
quyết định cá nhân, thì Soros đề cập đến hành vi của hệ thống lớn trong
xã hội.
Dahlem
và Trauffner (2005) đã so sánh những ý tưởng của Soros để trình bày về
suy nghĩ trong tài chính và lý thuyết Markowitz. Họ chỉ ra ba bước trong
việc lựa chọn danh mục đầu tư.
· - Quan sát và kinh nghiệm.
· - Niềm tin vào tương lai. (Soros tập trung vào đây)
· - Lựa chọn các danh mục đầu tư. (Markowitz tập trung ở đây)
Lý
thuyết Markowitz được sử dụng rộng rãi bởi các nhà quản lý tài chính.
Nó được dựa trên toán học và thống kê. Nó giả định một xu hướng cân bằng
thị trường. Tập trung vào dữ liệu lịch sử. Ngược lại thuyết phản hồi
không thường được các nhà quản lý tài chính sử dụng. Nó không chỉ dựa
vào kinh tế mà còn tâm lý và chính sách quốc gia. Nó giả định sự mất cân
bằng thị trường. Tập trung vào các quyết định tương lai của các nhà đầu
tư và các nhà hoạch định chính sách.
Cách
tiếp cận của Markowitz tập trung sự cân bằng giữa lợi tức và rủi ro.
ông cho rằng các nhà đầu tư quan tâm đến rủi ro - lợi tức và học thuyết
của ông là dùng để đánh giá mối quan hệ rủi ro - lợi tức đó. Hoạt động
chính là phân tích dữ liệu và mục tiêu là tránh những biến động. Trong
khi Soros nhấn mạnh lợi nhuận tuyệt đối cao. Ông định nghĩa khung thời
gian của nhà đâu tư và đánh giá các mức giá liên quan đến nhận thức.
Hoạt đông chính là phân tích hành vi và mục đích để tránh tổn thất.
Mục
tiêu của Markowitz là làm cho các khoản đầu tư thành công. Để đạt được
mục tiêu này, ông đã đa dạng hóa đầu tư và tối ưu hóa danh mục đầu tư.
Quản lý thông tin được yêu cầu. Soros sẵn sàng chấp nhận một số cơ hội
chiến lược. Ông tập trung vào đầu tư và thời gian tối ưu hóa thị trường.
Kiến thức quản lý là yêu cầu bắt buộc. Soros sử dụng cùng quan điểm khi
phân tích hệ thống chính trị để ông sử dụng trong kinh tế. Ông tìm kiếm
“gap” giữa nhận thức và thực tế. Một khoảng cách lớn có nghĩa là hệ
thống không ổn định. Khi mọi người nhận ra rằng lý thuyết và thực tế
cách xa nhau và không thể áp dụng được.
Mặc
dù phần lớn khoản đầu tư của Soros là trong công cụ đầu tư thông
thường, nhưng ông vẫn tìm kiếm các tình huống phản hồi ngắn hạn tích
cực, mà sẽ mang lại khoảng lợi nhuận nhanh chóng. Ví dụ như sự bùng nổ
của tập đoàn, một chu kỳ tín dụng, hoặc một bong bóng công nghệ cao.
Tác động đối với kinh tế
Lý
thuyết kinh tế dựa trên một số giả định về thông tin, về hành vi con
người. Ví dụ thông tin được phân phối ngay cho tất cả mọi người. Mỗi
người tìm cách tối đa hóa lợi nhuận cá nhân. Con người cư xử hợp lý. Khi
được hỏi liệu họ có thực sự tin rằng giả định như vậy thì các nhà kinh
tế trả lời “Những giả thiết này cho phép chung ta giải quyết vấn đề. Nếu
bạn không làm ra các giả định, thì bạn không thể làm mọi thứ” (Waldrop,
1992, 142) Mặc dù kinh tế hành vi là xâm nhập, tình hình kinh tế có thể
được gọi là một sự “xa rời với điều kiện thực tế”. Lý thuyết của Soros
dựa vào kinh nghiệm của ông như là một nhà quản lý tài chính. Kết quả là
ông nhanh chóng nhận ra sự không hoàn hảo của thị trường. Ông cho rằng
con người không phải là bộ vi xử lý thông tin hiệu quả hay diễn viên
xuất sắc, nhưng đúng hơn là hành động dựa vào xu hướng và thông tin sai
lệch. Ông nhận thấy rằng xu hướng có thể tồn tại trong một thị trường
không chỉ trong vài phút, vài giờ mà cả vài tuần, vài tháng thậm chí vài
năm. Thật vậy trong trường hợp của hệ thống chính trị - xã hội thì
khoảng cách được hình thành giữa nhận thức và thực tế có thể kéo dài vài
thập kỷ.
(Soros,1991)
Soros tin rằng lý thuyết của ông giúp ông trở thành nhà đầu tư thành
công trong thời gian gần đây. Hơn nữa, lý thuyết của ông đã giúp ông dự
đoán và gây ảnh hưởng để dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô.
Người
ta có thể nghĩ rằng lý thuyết mới này sẽ thu hút sự chú ý lớn hơn. Nó
tổng quát hơn lý thuyết trước đó bởi vì nó có thể được áp dụng trong hệ
thống chính trị xã hội cũng như kinh tế và tài chính. Nó chi tiết hơn lý
thuyết trước đó bởi vì nó giải thích cách thị trường đạt hoặc không đạt
đến trạng thái cân bằng. Và nó cho phép dự đoán tốt hơn, được minh họa
bằng kỷ lục cao trong quản lý tài chính.
Tuy
nhiên, mọi người nói rằng mệnh đề trong thuyết phản hồi được biết và
hiểu một cách rộng rãi. Rõ ràng, mọi người đang sử dụng cùng một hệ quy
chiếu để đánh giá lý thuyết này. Đây không phải là những tiến bộ khoa
học. Đánh giá cảm giác chung trên cùng một hệ quy chiếu không đáng tin
cậy vì 3 lý do:
1. Những người khác nhau có những quan điểm khác nhau
2. Cảm giác chung sẽ thay đổi theo thời gian.
3. Cảm giác chung không được nêu rõ hoặc chứng minh.
Thay
vào đó, hệ quy chiếu thích hợp để đánh giá một lý thuyết mới là so sánh
nó với lý thuyết cũ đã được chấp nhận hoặc đã thử nghiệm.
Kinh
tế sẽ trông như thế nào nếu chúng ta luôn tin vào thông tin hoàn hảo,
hợp lý và trạng thái cân bằng được thay thế bằng xu hướng, có sự tương
tác giữa nhận thức và hành động, khoảng cách giữa nhận thức và thực tế,
sự mất cân bằng, sự bùng nổ và chu kỳ phá sản?
Kết luận
Lý
thuyếtcủa Soros mở rộngsang các lĩnh vựctài chínhvà kinh tế bao gồm các
xu hướngnhận thứccủa những người tham giathị trường.Ông cũng gợi ý một
cách để dự đoán những thay đổi chính trị lớn. Thuyếtphản hồicho thấy
mốiliên kếtgiữa điều khiển học vớikinh tế, tài chính và khoa học chính
trị.
Phản hồi, có thể được coi là thông tin phản hồi tích cực từ nhận thức
và sự tham gia, có thể được tìm thấy trong bất kỳ các lĩnh vựckhoa học
xã hội khác.
Đình Lân & Aries Lee
Posted in: Tài chính tiền tệ
Gửi email bài đăng này
BlogThis!
Chia sẻ lên Facebook
0 nhận xét:
Đăng nhận xét