QUAN ĐIỂM ĐẠO PHẬT VỀ
GIẢI THOÁT VÀ PHỤNG SỰ CON NGƯỜI.
Lê Hiếu Liêm
Thần học Thiên
Chúa giáo được xây dựng trên năm tín điều căn bản, như năm cột trụ
chống đỡ toàn bộ giáo lý Thiên Chúa giáo, đó là:
1. Chỉ có một
thế giới này thôi, trái đất này là thế giới duy nhất và là trung tâm duy
nhất của vũ trụ, nó đứng yên và mặt trời quay xung quanh trái đất.
2. Thượng đế
sáng tạo ra mọi sự hiện hữu, từ con người, xã hội, thế giới và vũ trụ.
3. Tất cả
những cái gì xảy ra cho con người, cho xã hội, cho thế giới và vũ trụ là ý
muốn của Thượng đế.
4. Con người
không thể được giải thoát ngay trong thế giới này mà chỉ có thể được giải
thoát sau khi chết đi và chỉ được giải thoát trong ngày phán xét cuối cùng
và chỉ giải thoát sau khi được tuyển chọn để lên thiên đàng, Thiên quốc của
Thiên Chúa.
5. Sự cứu rỗi
chỉ có thể thực hiện qua trung gian của giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã (tòa
thánh Vatiacan). Ngoài giáo hội này, con người, dù thánh thiện và chứng đắc
cao siêu như thế nào, cũng không thể được cứu rỗi.
Ngược lại,
quan niệm giải thoát theo Phật giáo được xây dựng trên năm nguyên lý
căn bản sau đây:
1 – Trong vũ
trụ có vô số thế giới, hằng hà sa số như cát sông Hằng và các thế giới này
không ngừng biến dịch, sinh, diệt. Trái đất này không phải là trung tâm vũ
trụ, và như mọi thế giới khác, mọi sự hiện hữu khác, nó không ngừng chuyển
động và thay đổi.
2 – Không có
một Thượng đế nào sáng tạo ra thế giới này hết. Vũ trụ được tạo ra do trùng
trùng điệp điệp, vô số vô lượng nhân duyên yếu tố. Không một ai, không một
vật nào, tự một mình nó, mà có thể hiện hữu. Tất cả đều liên hệ chặt chẽ với
nhau. Con người, xã hội, thế giới, vũ trụ được hình thành, sinh hoạt, biến
dịch độc lập với ý muốn của bất cứ một cá nhân đơn độc nào, dù đó là Thượng
đế, thần linh, trời Phật.
3 – Tất cả
những gì xảy ra cho con người là do tâm ý, hành động của chính con người đã
tạo ra trong vô lượng kiếp trước, hay trong quá khứ của kiếp này và đang tạo
ra trong giờ phút hiện tại, chớ không phải do một ai khác. Và tất cả những
gì xẩy ra cho xã hội, thế giới, vũ trụ là do vô số yếu tố tác động lẫn nhau
mà thành, chớ không phải do sự quyết định của một Thượng đế nào cả.
4 – Con người
có thể giải thoát ngay trong chính xã hội, ngay trong chính cuộc đời, chính
thế giới này và ngay bây giờ, chớ không phải là một thế giới nào hết và
trong một tương lai xa xôi nào hết. Sự giải thoát của con người là do chính
con người chủ động thực hiện, bằng cách chấm dứt những ác nghiệp (tâm ý, lời
nói, hành động tốt), thực tập tam huệ học – văn huệ, tư huệ, tu huệ và hành
trì tam vô lậu học – giới, định, huệ – (chớ không phải do sự phán xét, cứu
độ của bất cứ ai khác).
5 – Sự giải
thoát không những có thể được thực hiện trực tiếp, mà còn phải được thực
hiện trực tiếp bởi chính tự lực của con người, và lại càng không phải qua
trung gian của bất cứ ai. Tha lực, của chư Phật, Bồ Tát, theo quan niệm giải
thoát của Tịnh Độ tông hay Mật tông chỉ có tác dụng cứu độ – đưa con người
đến cảnh giới cao hơn, thuận lợi hơn cho sự tu tập, nhưng ở đó, chính con
người, trong thế giới Tây Phương Cực Lạc, cũng phải tự mình thực hiện sự
giải thoát, bằng sự tự mình chứng đắc, giác ngộ, chớ không phải do ai ban
cho sự giải thoát. Ngoài ra, tất cả mọi người, dù theo bất cứ giai cấp, tôn
giáo nào hay không theo bất kỳ một tôn giáo nào cả, đều có thể thực hiện sự
giải thoát ngay chính trong thế giới này và ngay bây giờ.
Ngày nay, khoa
học và nhận thức thông thường của nhân loại đã phá hủy tận gốc và toàn diện
tất cả năm cột trụ giáo lý của thần học Thiên Chúa Giáo. Ngày nay, dưới ánh
sáng của lý trí, thực nghiệm và khoa học, những người trí thức được thông
tin và hiểu biết ở mức độ trung bình đã có thể tự mình suy xét, so sánh và
nhận định đâu là quan niệm giải thoát đúng đắn, có giá trị và có thể áp dụng
để thành tựu sự giải thoát đích thực và đâu là những giáo điều hoang tưởng,
huyền hoặc, phản lý trí và khoa học, nghĩa là những giáo điều mê tín dị đoan.
Quan niệm
Thượng đế toàn năng toàn trí sáng tạo và quyết định tất cả, cũng như những
quan niệm của các tôn giáo độc thần hay đa thần, khác biệt với quan niệm cho
rằng mọi thứ xẩy ra trên đời này là do định mệnh hay do sự ngẫu nhiên, tình
cờ. Nhưng cả ba quan niệm này (thuyết Thượng đế sáng tạo của Thiên Chúa Giáo,
thuyết định mệnh an bài và thuyết ngẫu nhiên, tình cờ) cùng chung một đặc
tính là tước đoạt sự tự do, sự chủ động và trách nhiệm của con người.
Trong khi đó
thế giới quan và nhân sinh quan của Phật giáo, nhất là quan niệm về sự giải
thoát con người của Phật giáo, thì như đã trình bày ở trên, có những đặc
tính hoàn toàn khác hẳn cả ba quan niệm này, những đặc tính đó là cho con
người, mỗi và mọi người, không loại trừ bất cứ một ai, tự do, sự chủ động và
trách nhiệm đối với chính cuộc đời của mình, và trong một chừng mực nào đó,
đối với xã hội, với thế giới và cả với vũ trụ. Thật vậy quan niệm tự mình
phải chuyển nghiệp, tự mình phải tu học, tự mình phải chứng đắc và giác ngộ,
để đạt được sự giải thoát tối thượng, đã làm Phật giáo trở thành một tôn
giáo, về mặt giáo lý, đưa con người lên vai trò chủ nhân thật sự của
chính mình, kẻ sáng tạo thật sự cuộc đời của chính mình, vị chúa tể
quyết định tối hậu tất cả những hành động và sự đau khổ hay hạnh phúc của
chính mình. Và về mặt thực tiễn, đưa đạo Phật trở thành một tôn giáo tích
cực nhất. Nó hoàn toàn không buông xuôi tất cả cho Thượng Đế, cho số mệnh
hay cho sự ngẫu nhiên, tình cờ. Nó đánh thức, kêu gọi và trang bị ý thức
trách nhiệm và nỗ lực tự cứu, tự sống đạo, tự tu chứng, tự giải phóng của
mỗi người.
Đạo Phật đã
thật sự biến các tín đồ của mình bơi ngược dòng đời, không phó mặc số phận
mình cho thần linh, phần số hay may rủi, trái lại, không ngừng phấn đấu để
chuyển hóa nghịch cảnh, cải thiện số phận và thăng hoa cuộc đời. Đạo Phật đã
thật sự biến mỗi Phật tử thành một chiến sĩ không những không ngừng thách đố,
chuyển hoá, vượt thắng nghịch cảnh, mà còn tích cực, tinh tấn phụng sự tha
nhân và xã hội. Vì người Phật tử tin rằng mình có thể thay đổi cuộc đời của
mình, có thể đạt đến sự giải thoát cao nhất, như Chư Phật, Bồ Tát, hay
AlaHán, như quan niệm của Phật giáo nguyên thủy, và không những thế, có thể
thay đổi thế giới, hay ít ra, có thể xoa dịu, làm giảm bớt những khổ đau
của đồng loại và của chúng sanh khác.
Chỉ cần đọc
một phẩm nhỏ, trong rừng kinh sách Phật giáo, ví dụ như phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm, ta có thể thấy những quan niệm
giải thoát của Thiên Chúa giáo tiêu cực, thụ động và lầm lạc như thế nào và
quan niệm giải thoát, cũng như quan niệm phụng sự, của đạo Phật tích cực,
hùng tráng, siêu việt ra sao:
“Này thiện
nam tử, trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Pháp cúng
dường là: Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường, LÀM LỢI ÍCH CHO
CHÚNG SANH để cúng dường, CHỊU KHỔ THẾ CHO CHÚNG SANH để dúng dường, nhiếp
thọ chúng sanh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để cúng dường,
không bỏ hạnh Bồ Tát để cúng dường, chẳng rời tâm bồ đề để cúng dường… Tôi
từ vô thỉ kiếp về quá khứ, do làm tham lam, giận dữ, si mê khiến thân, khẩu,
ý tạo vô lượng vô biên ác nghiệp. Nếu các ác nghiệp này mà có hình tướng thì
khắp cõi hư không cũng chẳng thể chứa đựng hết được. Nay tôi đem trọn ba
nghiệp trong sạch thường an trụ nơi pháp giới trong sạch đầy đủ công hạnh…
Như đấng
Tỳ Lô Giá Na Phật ở cõi Ta Bà đây, từ khi mới phát tâm tinh tấn không trễ
lui, đem bất khả thuyết thân mạng ra mà bố thí, LỘT DA LÀM GIẤY, CHẺ XƯƠNG
LÀM VIẾT, CHÍCH MÁU LÀM MỰC dùng biên chép kinh điển chất cao như núi Tu Di,
vì tôn trọng Chánh Pháp nên Phật không tiếc thân mạng ... BỒ TÁT TÙY THUẬN
CÚNG DƯỜNG CHÚNG SANH TỨC LÀ TÙY THUẬN CÚNG DƯỜNG CHƯ PHẬT, TÔN TRỌNG, PHỤNG
SỰ CHÚNG SANH TỨC LÀ TÔN TRỌNG, PHỤNG SỰ CHƯ PHẬT, LÀM CHO CHÚNG SANH VUI
MỪNG TỨC LÀ LÀM CHO TẤT CẢ CHƯ PHẬT VUI MỪNG ... TẤT CẢ CHÚNG SANH LÀ GỐC
RỄ, BỒ TÁT LÀ HOA, PHẬT LÀ QUẢ. Dùng nước đại bi đượm nhuần gốc rễ chúng
sanh thì có thể trổ bông Bồ Tát trí tuệ và kết thành quả Phật toàn giác. Vì
sao thế? Bởi vì các Bồ Tát dùng nước đại bi làm lợi ích cho chúng sanh, thì
thể thành tựu quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên QUẢ BỒ ĐỀ THUỘC
VỀ CHÚNG SANH, VÌ NẾU KHÔNG CHÚNG SANH, TẤT CẢ BỒ TÁT TRỌN KHÔNG THỂ THÀNH
ĐẠO VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC ...
Nguyện cho
tất cả chúng sanh thường được an lạc, không các bịnh khổ, muốn thực hành
pháp ác thảy đều không thành, còn tu nghiệp lành thì đều mau thành tựu. ĐÓNG
CHẶT CỬA CỦA TẤT CẢ ÁC THÚ, MỞ BÀY ĐƯỜNG CHÁNH, NGƯỜI, TRỜI ĐỀU CHỨNG NHẬP
NIẾT BÀN. Nếu các chúng sanh nhơn vì trước kia nhóm các nghiệp ác nên chiêu
cảm tất cả quả rất khổ, TÔI ĐỀU CHỊU THẾ CHO KHIẾN TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐỀU
ĐƯỢC GIẢI THOÁT, rốt ráo thành tựu quả vô thượng bồ đề ...”.
Chỉ cần đọc
một đoạn nhỏ này, ta có thể biết rõ Phật giáo chủ trương “tiêu cực”, “xa
lánh cuộc đời”, “hờ hững, lãnh đạm” với tha nhân, đồng loại, với xã hội và
thế gian như lời phê bình của Giáo Hoàng hay không? Các tăng, ni trong khóa
lễ tụng kinh buổi sáng mỗi ngày đều tụng bài kệ:
“Trong cõi
ác thú địa ngục đau khổ nhất, con nguyện vào đó trước tiên. Nếu có một chúng
sanh nào chưa được giải thoát, con nguyện mãi mãi ở cõi địa ngục để cứu độ
chúng sanh chớ không an hưởng trong cảnh niết bàn cực lạc”.
Nguyện lực cực
kỳ dũng mãnh, hùng tráng và tuyệt đỉnh vĩ đại, cao thượng này đã đủ để chứng
minh đạo Phật là yếm thế, an phận, hèn nhát, yếu đuối, bi quan hay không?
Những nhận
định của Đức Phật về con người và thế giới, là không ngừng chuyển dịch, thay
đổi, là vô thường, là vô ngã, là khổ, là luân hồi vô tận ... chỉ là những
nhận định khách quan, chính xác, xuất phát từ tuệ giác, từ trí tuệ ngộ của
Đức Phật mà không một ai có thể phủ nhận được.
Để kết thúc,
ta hãy đọc một đoạn văn ngắn của nhà bác học lẫy lừng Albert Einstein:
“IF THERE
IS ANY RELIGION THAT WOULD COPE WITH MODERN SCIENTIFIC NEEDS, IT WOULD BE
BUDDHISM. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent
scientific finding. Buddhism needs no surrender its views to science,
because it embraces science as well as goes beyond science. Buddhism is the
bridge between religions and scientific thoughts, that stimulates man to
discover the latent potentialities within himself and his environment.
Buddhism is timeless”.
(Dịch thoát:
Nếu có một tôn giáo nào có thể thích nghi với những nhu cầu của khoa học
hiện đại, thì đó chính là Phật giáo. Phật giáo không cần duyệt xét quan điểm
của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo
không cần phải từ bỏ những quan niệm của mình để chấp nhận khoa học, bởi vì
Phật giáo bao gồm khoa học, và đồng thời cũng vượt qua khoa học. Phật giáo
là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu
Phật giáo (nối liền tôn giáo và khoa học) đã kích thích con người khám phá
những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính nó và trong môi trường sống
xung quanh nó. Phật giáo siêu việt qua thời gian và mãi mãi có giá trị).
Suy tư về nhận định đạo Phật bất toàn và tiêu cực
GIÁO LÝ NHÀ PHẬT VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Nguyễn Phúc Bửu Tập
Người Việt Nam chúng ta làm quen với danh từ kinh tế từ thập niên Ba
mươi, lúc cuộc khủng hoảng kinh thế giới 1929 thổi dần đến Đông dương, gây
ra thất nghiệp đói kém, và lúc vua Bảo Đại lập Viện Cơ Mật mới, có một ông
“Thượng thư Bộ Kinh Tế”. “Cụ Thượng kinh tế”, ông Nguyễn Khoa Kỳ, dung mạo
giống như người tài tử thủ vai Bao Thanh Thiên trong phim “Bao Công kỳ án”
bấy giờ, phương phi, có chòm râu dài rất đẹp, và có bà vợ dáng dấp đài các
đi đâu cũng có ba bốn tì nữ cầm quạt theo phe phẩy. Hình ảnh kinh tế đối với
người bình dân chỉ có vậy, trong lúc phải làm kinh tế tối mày tối mặt để
kiếm ăn.
Thế Chiến Thứ
Hai kết liễu, các quốc gia nhược tiểu vùng dậy đổ máu giành tự chủ, và sau
đó, tìm những mô hình để phát triển xứ sở. Ta mới có dịp làm quen thiết thực
hơn với danh từ kinh tế trong năm mươi năm vừa qua. Trong phạm vi tìm hiểu
đạo Phật, câu hỏi ta đặt ra là đạo của Thích Ca đã quan niệm phát triển
kinh tế như thế nào. Những điều ràng buộc của đời sống giáo lý có làm
trì hãm các mục tiêu nhằm thực hiện no ấm và phú cường cho nhà, cho nước hay
không?
Trong bài này,
trước ta tìm định nghĩa danh tự, kế tới sưu khảo các mối liên hệ lịch sử
giữa kinh tế và giáo lý nhà Phật. Tiếp theo, ta sẽ tìm phân tích quan điểm
của Đức Phật, qua đời sống hành trì của Ngài và qua kinh điển, đối với việc
phát triển kinh tế. Các dữ kiện tìm được sẽ cho phép ta ước lượng ảnh hưởng
trì hãm hay phù trợ của giáo lý nhà Phật với công cuộc phát triển kinh tế.
Để hướng việc
tìm học đạo Phật vào hệ thống, trong bài sưu khảo này, ngữ vựng sẽ dựa vào
cuốn Phật Học Tự Điển của Thầy Minh Châu (Nhà Xuất bản Khoa Học Xã
Hội, Hà Nội, 1991). Các danh từ chung hay riêng sẽ được cố gắng giữ hình
thức chữ Sanskrit (S.) hay Pali (P.), dịch một lần qua chữ Nho hay tiếng
Việt, đặt trong vòng đơn, trừ trường hợp các danh từ quá thông dụng. Như
vậy, hầu giúp được người đọc dễ theo dõi hoặc tra cứu các tài liệu Phật giáo
bằng tiếng Anh, Pháp, Đức, … hiện hữu rất nhiều, lại chính xác, dễ đọc, dễ
hiểu, so sánh với tài liệu bằng chữ Nho không còn ở trong tầm tay của người
học Phật, nhất là bạn trẻ.
ĐI TÌM ĐỊNH
NGHĨA KINH TẾ
Ngày nay không dễ gì tìm một định nghĩa thỏa đáng cho danh từ kinh tế (economics,
Anh ; économie, Pháp). Trong xã hội bình dị, kinh tế có nghĩa là sử
dụng dè dặt các phương tiện gia chánh, và chính Aristotle, triết gia Hy Lạp
đến sau Đức Phật 300 năm cũng đã hiểu kinh tế là vậy, trong sách Politics
ông để lại. Nghĩa này còn áp dụng gần đây tại các nước văn minh và chậm tiến,
ngay tại trường học với các lớp Gia chánh (Home economics).
Thế kỷ Mười tám, các nhà làm chính trị và học giả như Adam Smith quan niệm
kinh tế là tài sản, là nền phú cường của quốc gia. Ông viết cuốn sách căn
bản về kinh tế, lấy tựa đề là An Inquiry into the Nature and Causes of
Wealth of Nation (“Khảo sát về Bản Chất và Nguyên Nhân việc Phú Cường
của các Quốc gia”). Một thế kỷ sau, John Stuart Mill định nghĩa kinh tế
là “khoa học thực dụng về việc sản xuất và phân phối tài nguyên”. Nhờ áp
dụng phát minh khoa học vào kỹ nghệ (chiếc máy chạy bằng hơi nước của James
Watt phát minh cùng một năm với cuốn sách của Adam Smith, 1776 – bây giờ ta
ở Mỹ, nói theo sách vở Anglo-saxon, ngày trước học theo Pháp, ta được dạy là
máy hơi nước do Denis Papin chế tạo).
Âu
Châu trở thành phú cường trong hai thế kỷ Mười tám, Mười chín, và kinh tế
lại đổi nghĩa là mậu dịch và định giá hàng hóa. Đi theo kỹ nghệ là những
vấn đề xã hội: như đô thị hóa, như lao động trong nhà máy, như giai cấp đấu
tranh …, kinh tế lại được định nghĩa theo an sinh xã hội, làm sao
nâng cao mức sống con người lao động lên cho tương xứng với nền thịnh vượng
chung. Một nhà học giả cấp tiến Alfred Marshall, trong sách Principles of
Economics (“Nguyên tắc Kinh tế học”) lại đề nghị nhìn vào khía cạnh tâm
lý, định nghĩa kinh tế theo tài nguyên và đồng thời theo hành trạng
của con người, như việc dân số gia tăng qúa mức, như việc môi sinh bị hủy
hoại không lường … Bây giờ kinh tế lại được nhìn dưới khía cạnh bảo
trì tài nguyên thiên nhiên và lựa chọn phương thức khai hóa để vừa nuôi con
người, vừa đảm bảo đời sống lâu dài của trái đất.
Như vậy nhìn vào quá trình đổi thay của quan niệm kinh tế, ta có thể tóm
lược được một định nghĩa kinh tế vào thời bấy giờ là con người vì
nhu cầu an sinh phải hành động nhằm vào các chức năng sản xuất,
phân phối và tiêu thụ các tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn môi trường
họ được sử dụng. Nhu cầu bắt buộc phải hành động ; vì nhu cầu đa dạng nên
buộc hành động phải đa hiệu, toàn bộ. Bởi lẽ đó mà hành động kinh tế thế nào
cũng phải vượt ra khỏi phạm trù đạo đức. Tất nhiên, ta thấy hiện ra rõ ràng
mối mâu thuẫn giữa sự đòi hỏi phải hoạt động kinh tế để đảm bảo đời sống và
những ràng buộc đạo đức ngăn cấm một phần các hoạt động kinh tế. Giáo lý nhà
Phật dạy phải giải quyết mối mâu thuẩn này như thế nào?
ĐỜI SỐNG
KINH TẾ TẠI ẤN ĐỘ DƯỚI THỜI ĐỨC PHẬT
Các tôn giáo lớn thường đã thần thánh hóa các vị khai sinh ra đạo (Đức Chúa
Trời, Thượng Đế …). Riêng đạo Phật thì không. Giáo lý dạy là có một người
thầy đầy lòng nhân từ (gọi là mâu-ni), thuộc dòng họ Thích-Ca, sống cuộc đời
bình thường, và chỉ hơn người thường ở chỗ tìm được giác ngộ. Lúc sinh thời,
Thích Ca đã chấp nhận hệ thống kinh tế trong môi trường sinh sống của Ngài.
Cách đây hai mươi sáu thế kỷ, trên bờ sông Gangas (Hằng Hà), nền kinh tế dựa
theo nông nghiệp và chăn nuôi và đang chuyển dần tới một hoạt động mới là
thương mại. Giai cấp quí tộc vẫn giữ nguyên quyền lợi làm chủ đất và làm chủ
các dịch vụ cai trị, nhưng nền kinh tế buôn bán mới thành hình và bắt đầu
dùng vốn liếng, tạo nên giai cấp của một số người sống với tư bản, buôn bán
hay cho vay để người tiểu thương buôn bán. Giai cấp này tiếng Ấn Độ gọi là
setthi (cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch là sét-ti), người bình dân trở thành công cụ
của hai lớp người thống trị: quý tộc và chủ điền và người có tiền buôn bán
cho vay, sét-ti.
Nhà học giả Phật giáo S.K.Nanagakkara dẫn chứng sự kiện kinh tế dưới thời
Đức Phật trong đại tập Anguttara Nikaya (Tăng Chi Bộ Kinh), tóm lược
bổn kinh Kutadanta Sutta, thuộc hệ thống Pali (Encyclopaedia of
Buddhism, QIII). Tưởng cần nhắc lại cho các bạn chưa quen kinh Phật là, nói
chung, kinh điển nhà Phật vô cùng phong phú (hơn 6500 bộ) chia làm hai hệ
thống, Nam tông và Bắc tông. Kinh Nam tông được ghi lại bằng văn tự Pali, hệ
thống rất chặt chẽ, và hầu hết đã được Hội The Pali Text Society dịch ra
tiếng Anh. Kinh Bắc tông được ghi lại bằng văn tự Sanskrit, phong phú hơn
kinh Pali, nhưng cho đến nay vẫn chưa được toàn quy luật hóa
(homologation/codification).
Người Việt Nam ta học Phật qua kinh Sanskrit dịch sang chữ Nho, và một vài
bộ, sang tiếng Pháp. Sinh thời Đức Phật, văn tự chưa được dùng, nên kinh
được truyền tụng bằng lời. Hơn nửa thể kỷ sau Tây nguyên, kinh được chép qua
văn tự. Hình thức các bổn kinh, Bắc tông hay Nam tông đều giống nhau. Đức
Phật thường giảng dạy bằng parabôn dẫn ví dụ bằng một chuyện ngắn, và từ đó
chuyển qua lời dạy.
Trong kinh Kutadanta, có đoạn mô tả tình trạng tổ chức kinh tế dưới
thời Đức Phật. Một ông thầy cả, “guru” cố vấn của nhà vua (ông vua tưởng
tượng), tâu lên nhà vua là:
“Trong nhân gian có kẻ nào chăm lo cày cấy và chăn nuôi, xin Bệ hạ
giúp đỡ phẩm vật và ban bố lúa giống cho họ. Trong nhân gian có kẻ nào chăm
chỉ đi buôn, xin Bệ hạ ban bố vốn liếng cho họ. Trong nhân gian có kẻ
nào chí thú làm dịch vụ cho cộng đồng, cho nhà nước, xin Bệ hạ cấp
bổng lộc cho họ”.
GIÁO LÝ NHÀ
PHẬT VÀ KINH TẾ:
MỘT LÝ
THUYẾT KINH TẾ Ý NGOẠI
Vậy, một nền kinh tế mới đang tuần tự thành hình trong môi trường sinh sống
của Đức Phật. Ngài phản ứng ra sao? Có hai điểm cực kỳ quan trọng chúng ta
cần ghi nhận từ bây giờ. Một là, vì giáo lý của Đức Phật chú trọng vào đời
sống tinh thần của con người và ít quan tâm đến đời sống vật chất, cho nên
ta khó mà tìm được trong hành trì và kinh điển của Ngài một lý thuyết kinh
tế học, một lời chỉ dạy cách thức làm giàu, làm được nhiều phúc lợi vật chất
cho cá nhân, hay là một đường lối hướng dẫn việc phát triển kinh tế cho một
quốc gia. Có chăng là một số nhận xét cấp thời – ad hoc – liên hệ đến một số
sự việc đã xảy ra, và người đời sau học Phật chắp nối với các dữ kiện thiết
thực trong lịch sử để suy diễn và ước lượng cái nhìn kinh tế của Đức Phật.
Các nhà học giả thế hệ mới đã tìm ra được trong một số kinh điển những lời
dạy có hệ thống của Đức Phật có liên hệ với đời sống kinh tế (ở sau, ta sẽ
trình dẫn một số ít). Tuy nhiên, ngay cả khi Đức Phật dạy về đời sống làm ăn
và kế hoạch phát triển, Ngài trình bày quan điểm nhắm vào mục đích xa và cao
hơn là những việc thiết thực làm giàu, việc cụ thể khai phá canh tân. Các dữ
kiện này phù hợp với chủ trương siêu thoát, thanh thản, nhưng cũng là đầu
mối gây nên hiểu lầm là giáo lý nhà Phật tách con người ra khỏi cuộc đời.
Điểm thứ hai
là, tuy những lời dạy của Đức Phật liên hệ tới sinh hoạt của một nền kinh tế
phôi thai và giản dị, và có tính cách chắp nối như ta đã nói ở trên, nhưng
gần 3 nghìn năm sau, ta học và nếu đem áp dụng vào đời sống hiện tại, ta vẫn
thấy phù hợp với kinh tế hiện hữu. Hai điểm này sẽ chiếu ánh sáng vào những
mục ta bàn thảo ở sau.
Liên hệ với
điểm một – giáo lý nhà Phật không đưa ra một lý thuyết kinh tế trọn vẹn, Đức
Phật chỉ có những lời răn dạy cấp thời khi Ngài sống trong những cộng đồng
đang gặp khủng hoảng đói kém – ta nhận chân được là lập trường kinh tế của
Ngài luôn luôn dựa trên kinh nghiệm thực tiễn. Học giả Phật giáo người Tích
Lan W. G. Weeraratne dẫn chứng lời dạy của Đức Phật trong kinh
Cakkhavattisihanađa (Cakkha, bánh xe ; vatti, quay ; shiha, sư tử, chỉ Đức
Phật; nada, lời răn dạy; tức là bộ Phật Thuyết Cổ Kim Nhân Qủa Kinh
của tạng Pali, đánh số 26 trong bộ kinh Trường Bộ). Nếu đọc và tìm
hiểu kỹ ta sẽ thấy được quan điểm nhà Phật trong mối tương quan giữa các
yếu tố chánh trị, xã hội, đạo đức và đời sống kinh tế (E of B, Q III). Cũng
như thường lệ, cách trình bày kinh, dưới hình thức truyền tụng, mỗi tình
tiết nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nên rất dài.
Weeraratne
lược dẫn là Đức Phật ngồi dưới bóng mát một gốc cây bên vệ đường thuyết
giảng cho hàng tì kheo và chúng đệ tử. Đức Phật dùng sự tích một câu chuyện
xưa làm ví dụ để răn dạy. Parabôn này nhắc tích vua Dalhameni biết cách trị
nước, đem lại công ăn việc làm cho dân chúng, quốc gia trở thành phú cường.
Trên hoàng cung, thấy hiện ra một bánh xe giáp luân rực rỡ, như để báo hiệu
an lành. Một hôm bánh xe quay một vòng, đổi chỗ. Nhà vua xem đó là điều báo
hiệu mình tận số, nên nhường ngôi cho con, đi tu khất thực. Khi vua con mới
lên ngôi, bánh xe biến mất. Triều thần lo sợ, nhưng một vị đạo sĩ giải thích
là ơn trên không phải cha truyền con nối được, nếu vua mới biết làm như vua
cha, lo cho dân có công ăn việc làm và no ấm, thì bánh xe pháp luân lại trở
về. Vua mới tuân lời, sửa sang chính trị, lo cho dân làm ăn, bánh xe hiện ra
lại.
Lịch sử tiếp
diễn lần nữa, đến đời cháu Dalhameni, vua trẻ hoang dâm, không nghĩ đến dân,
bánh xe biến mất không trở lại. Nhân dân không có công ăn việc làm, đâm ra
trộm cướp. Vua trẻ muốn tái lập kỷ luật, tăng cường quân đội và cảnh sát, mà
lại quên không làm những biện pháp kinh tế. Vua ra lệnh kẻ cắp bắt được phải
bị dùi xuyên qua tay. Quân gian phản ứng, tự tổ chức thành đoàn cướp, chống
cảnh sát. Trong nước không còn đạo đức, kỷ luật. Dân chúng sinh ra đồi trụy,
các tệ đoan như hiếp dâm (visama lobha), đồng tính luyến ái (michad hamma),
loạn luân (adhamma raga) ... xảy ra hàng ngày. Nhà vua hoảng sợ, bỏ tiền
trong ngân khố phân phát cho dân, hy vọng họ có vốn làm ăn. Dân chúng tự
nhiên được tiền lại càng lười biếng, đồi trụy hơn nữa. Một nhóm người thấy
mối tai ương chung, không trông cậy nhà vua, đứng ra khuyên bảo người trong
cộng đồng sống trở lại đạo đức. Kết quả trông thấy được là dần dần đời sống
an bình được phục hồi.
Triết lý cao
siêu của cuốn kinh, theo Weeraratne, là sự việc trong đời sống do định luật
nhân quả quyết định. Muốn giải quyết một vấn đề, phải sáng suốt tìm hiểu
nguồn gốc sự việc. Do đó, mà về phương diện hành trì cá nhân, đời sống luân
lý và đạo đức phải do chính mình tu sửa, không thể trông cậy vào tha nhân
hay một sức mạnh thần thánh bên ngoài, vì chính cá nhân muốn và tạo ra hành
động (nghiệp). Cũng do đó mà trên bình diện xã hội, nước lấy dân làm gốc,
nước loạn là vì dân đói kém không có công ăn việc làm. Giải quyết trật tự
không phải là tạo ra bộ máy áp chế, mà chính là phải tìm tự lúc ban đầu
phải có một kế hoạch kinh tế, sửa soạn và trù định áp dụng cho kịp
thời, tránh các cơn khủng hoảng. Hai mươi lăm thế kỷ sau, Karl Marx mới nói
tới “kinh tế quyết định” và cũng chỉ là lặp lại lời dạy của Đức Phật.
Điểm một, như trên đã nói, Đức Phật dựng lên tôn giáo của Ngài trong xã hội
Ấn Độ đang do giáo sĩ Bà-la-môn thống trị. Xã hội được phân chia làm bốn
giai cấp, mỗi giai cấp trách nhiệm một loại nghề nghiệp, và việc phân chia
này dựa trên quyền lực của tôn giáo. Như vậy, nghề nghiệp (svadharma) sẽ
được cha truyền con nối, không ai cãi được số phận nghề nghiệp của mình,
việc thăng tiến trong xã hội không có cách gì thực hiện được, vì làm trái
lại là chống quyết định của thần linh.
Đức Phật đến, Ngài xóa bỏ ý niệm svadharma. Ngài bảo là nghề nghiệp do nhu
cầu xã hội tạo nên, không phải do thần linh sắp đặt. Nếu xã hội công bình,
mỗi người được nuôi dưỡng và giáo huấn hoàn mỹ, thì bất cứ nghề nghiệp nào
khó khăn đến mấy, cá nhân nào cũng có thể đảm đương được. Không ai có thể
làm một cuộc cách mệnh tư tưởng lớn hơn, thay đổi toàn diện cái nhìn nhân
dụng và số phận con người như Đức Phật đã làm.
Điểm hai, mối liên hệ giữa chủ và người làm, ông xếp và người thợ, vấn đề
then chốt của mọi cuộc tranh chấp từ lúc con người làm kinh tế ra ngoài phạm
vi gia đình. Đạo Bà-la-môn muốn giữ quyền lợi độc tôn của giai cấp do thần
linh quyết định. Như vậy là khẳng định quyền lợi của chủ (giai cấp trên)
đứng trên quyền lợi của người làm công (thuộc giai cấp dưới), và chính
Thượng đế đã cho người chủ thẳng tay bóc lột người làm công. Chịu đựng tới
một mức nào, người làm công sẽ đứng dậy chống đối. Đấu tranh xã hội xảy ra
vì nguyên do giản dị như vậy.
Trong kinh Sigalovada (Thi Ca La Việt), Đức Phật dạy phương thức
tránh tranh chấp, đề ra một mô hình gương mẫu của một bổn luật về đạo dức
nghề nghiệp. Kinh dạy người làm chủ phải sống đời sống đạo đức, tuân theo
ngũ giới để tránh sa đọa, tránh bị sạt nghiệp (apayamukla) hại cho mình và
cho người giúp việc mình. Kinh dạy người làm chủ phải lựa việc tương xứng
với khả năng của người làm công; không cho trẻ con làm việc nặng nhọc của
người lớn, đàn bà làm việc nặng nhọc của đàn ông. Kinh dạy phải cho người
làm ăn uống đầy đủ và phải trả tiền công tương xứng với việc làm. Lời dạy
còn đi vào chi tiết, dặn là nhu cầu dinh dưỡng của người làm công độc thân
hay đã có gia đình, trẻ tuổi hay người lớn tuổi, phái nam hay phái nữ đều
khác nhau và người chủ phải lưu ý cấp dưỡng tương xứng.
Kinh cũng dạy là chủ có bổn phận cung cấp dịch vụ y tế cho người làm công. Y
tế phòng ngừa như ăn mặc thích nghi, cho nghỉ ngơi theo hạn kỳ ; y tế điều
trị như chuẩn bệnh, thuốc men. Lời dạy còn đi xa hơn, như đề nghị giờ giấc
làm việc, nghỉ ngơi, trả thù lao khi làm ngoài giờ, cho quà cáp khi công tác
hoàn mãn, cho công nhân tham gia các cuộc giải trí khi có hội hè lớn. Phật
còn khuyên người chủ biết chia xẻ món ngọt bùi với người làm công để tạo nên
mối ưu ái giữa chủ và thợ.
Được đối đãi như vậy, người làm công phải cư xử thế nào? Kinh dạy phải biết
“thức khuya dậy sớm”, làm việc tận tình, không lừa đảo, trộm cắp của chủ,
không nói xấu chủ. Tựu chung giáo lý dựng lên một bổn luật đạo đức nghề
nghiệp của người làm công tương xứng với luật đạo đức của người làm chủ nói
ở trên.
Lời răn dạy về
đạo đức nghề nghiệp không phải để áp dụng riêng trong nhà mà còn để áp dụng
cho cộng đồng xã hội, trong nước Ấn Độ trên đà biến thể từ kinh tế nông
nghiệp (có tính cách gia đình) sang kinh tế thương mãi (đô thị hóa). Đạo đức
nghề nghiệp này cũng áp dụng vào sinh hoạt hành chánh, nhằm vào thành phần
thứ ba trong xã hội Đức Phật ngày đó. Kinh Sigalovada Sutta nói rõ bổn phận
của người làm công tác cai trị đối với dân và quyền lợi nhà nước (ở đây là
ông vua) phải đảm bảo cho người dưới quyền để tránh việc tham nhũng, hà lạm.
Mặt bên kia, kinh dạy bổn phận cá nhân – tức là người dân – đối với nhà,
với nước. Có lẽ duy nhất trong bài kinh Phật Thi-ca-la-việt mới có đoạn nói
tới bổn phận người dân “phải đóng thuế” cho nhà nước hành sự.
ĐẠO PHẬT
TRÌ HÃM HAY KHUYẾN TRỢ PHÁT TRIỂN?
Ở trên ta đã
nêu hai tiêu đề dẫn lối cho việc bàn luận đạo Phật và kinh tế. Tiêu đề một
là lý thuyết kinh tế của Đức Phật hiện hữu tiềm tàng trong kinh điển, nhưng
chỉ được trình bày một cách ngoại biên. Tiêu đề hai, ta bàn tới bây giờ, bởi
lẽ đại đa số nhân dân Á đông và Đông-Nam-Á thờ đạo Phật và chịu ảnh hưởng
của đạo Phật, mà ngày nay kinh tế lại phát triển mạnh trong vùng này, hiện
tượng đó có cho phép ta kết luận là đạo Phật đã không trì hãm mà trái lại,
đã phù trợ việc phát triển hay không?
Nhà học giả Thụy Điển Gunnar Myrdal, giải thưởng Nobel 1974, ước lượng chính
sách phát triển kinh tế tại các quốc gia Đông-Nam-Á, nhìn vào hai khía cạnh
chính: con người trong cấu trúc xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế mỗi
quốc gia đem ra áp dụng (Asian Drama: An Inquiry into the Poverty of
Nations, Random House, New York, 1972). Trên bình diện cá nhân, kinh tế
gia đo sức sống cần lao, kế hoạch tổ chức đời sống gia đình (tức là gia
chánh), và tính cần kiệm để tạo vốn của mỗi người. Trên phương diện kế hoạch
phát triển của quốc gia, học giả kinh tế ước lượng sự thích ứng và hiệu năng
của chương trình kế hoạch, trình độ bảo toàn tài nguyên thiên nhiên, khả
năng đầu tư vào những chương trình lợi ích lâu dài, và quan trọng hơn nữa là
điều biết nhìn xa vào việc tăng cường phẩm chất đời sống nhân dân. Con người
sống trong cấu trúc xã hội chịu ảnh hưởng của áp lực tập đoàn, áp lực kinh
tế và bị chi phối bởi các ràng buộc về văn hóa tập tục, vềø tôn giáo.
Một số học giả
Tây phương sang Đông-Nam-Á nhìn qua hình ảnh người tu sĩ mặc áo vàng cầm
bình bát đi xin ăn, kết luận là đạo Phật kềm hãm đà phát triển kinh tế.
Trevor Ling trong World Development, Bộ VIII, nghiên cứu phát triển
kinh tế tại Miến Điện khẳng quyết là đạo Phật đã làm đình trệ các chương
trình phát triển tại quốc gia này. Tác giả cho rằng người Miến tin ở thuyết
định mệnh luân hồi của Thích Ca, nhìn vào đời sống một cách bi quan, và cái
nhìn này đi ngược lại với chính sách phát triển lúc nào cũng phải tích cực.
Tự
bao giờ, người Đông phương vẫn phản ứng thụ động đối với cái nhìn khinh khi
của người da trắng. Nếu ta nhìn kỹ vào kinh điển nhà Phật, ta sẽ có đủ mọi
chứng cớ để chối bỏ những lời buộc tội hàm hồ nói trên. Đức Phật dạy là hạnh
phúc an sinh hay là đau khổ suy tàn của mỗi cá nhân đều do chính thân, khẩu,
ý mình tạo ra. Đức Phật nhắc đi nhắc lại là sinh ra làm người phải biết cố
gắng (viriya) và phải sống cho ra người (purisathana-purisakara). Muốn vậy,
chỉ có một cách là tránh xa lười biếng. Kinh Thi-ca-la-việt đã nói ở trên,
giải thích việc thất bại cá nhân vì không chuyên cần làm việc sẽ gây kết quả
to lớn là tiêu nhà, hại nước.
Lại nữa, cái quan niệm tu Phật là xuất thế, đi ra khỏi cuộc đời, là một quan
niệm do hoàn cảnh lịch sử tạo nên, đã gây ra hiểu lầm. Giáo lý nhà Phật, vào
thời kỳ nguyên thủy, do Phật thiết lập nhằm vào việc tổ chức đời sống Tăng (sangha).
Người xuất gia phải quên liên hệ với đời sống kinh tế, không làm việc và
không sờ đến tiền bạc. Nhưng, ngay trong tăng đoàn, điều cấm kỵ này cũng đã
đổi thay để giữ đạo. Một trăm năm sau Niết Bàn (năm Đức Phật mất), tăng đoàn
chia làm hai khối vì bất đồng ý kiến trên mười điều cấm kỵ. Một trong những
điểm không đồng ý quan trọng là tiền bạc. Phái thủ cựu (gọi là Therevada)
duy trì lời dạy ban đầu của Phật, không sờ đến tiền ; phái mới Mahasanghika
(sau là Mahayana) chủ xướng đổi thay. Vì sao? Đạo Thích Ca lớn mạnh trên lưu
vực sông Hằng (Gangas) được vô số người cúng dường ruộng đất. Muốn duy trì
tài sản cho chùa để phát huy đạo, tăng chúng buộc phải làm việc, làm kinh tế.
Hiện tượng này
càng thấy rõ hơn khi đạo Phật tràn sang Trung Hoa. Chỉ trong mấy thế kỷ,
chùa trở thành một thế lực kinh tế giàu mạnh. Tăng chúng nước Tàu, lúc đầu
cũng không làm việc, sau phải thay đổi giới luật, hoạt động kinh tế. Một
nghìn năm sau Niết Bàn, trường Thiền trở nên hưng thịnh tại Trung Hoa và
Nhật Bản, làm cách mệnh trong nội bộ tôn giáo, bỏ các hình thức phù phiếm tế
lễ tụng niệm, quay về đời sống bên trong là suy tư, và làm việc. Phương châm
của lối tu Thiền là “một ngày không làm việc là một ngày không được ăn”.
Vả
chăng ta đừng quên là những điều cấm kỵ nói ở trên chỉ áp dụng trong tăng
giới. Người tu đạo Phật không xuất gia và tín đồ bình thường, nói chung là
đại đa số, vẫn phải hoạt động kinh tế như thường để sinh sống.
Giáo lý nhà Phật không cấm lao động mà trái lại Đức Phật còn dạy chuyên cần
và trách nhiệm như kinh Sigalovada (Thi Ca La Việt) đã dẫn. Chuyên
cần và trách nhiệm chưa đủ, Đức Phật còn dạy tiết kiệm (làm bốn, ăn một) tức
là phương thức gây vốn – tư bản, đầu mối của việc xây dựng kỹ nghệ.
Đối với việc làm giàu, dựng vốn, giáo lý có đặc điểm nào? Kinh dạy là ngày
nào còn một người nghèo khổ, ngày đó niết bàn chưa dựng được. Tuy nhiên,
kinh cũng nói rõ là vốn phải tích lũy theo pháp luật của quốc gia và đúng
theo Pháp của đạo (dharma). Ví dụ việc cho vay lấy lãi, nguyên tắc căn bản
của tín dụng kinh tế. Trong khi không hề thấy cấm đoán việc lấy lãi, nhưng
chỉ thấy lời răn dạy phải lấy lãi thật nhẹ. Đối với các chương trình công
ích, Nhà nước đổ của công cho dân có vốn làm ăn, kinh còn dạy phải cấp bổ
(grant) chứ không cho vay (loan). Khi vốn đã tích lũy được nhiều, không được
đem ra vung xài hoang phí, mà phải bỏ vào việc công ích, đặc biệt là những
công tác tinh thần như tôn giáo.
Kinh cũng dạy
phải chọn nghề nghiệp, Phật giáo Nam tông cấm đoán năm nghề: buôn bán người
(nô lệ, mãi dâm) và súc vật; buôn bán vũ khí; buôn bán thịt; buôn bán rượu
và buôn bán độc dược. Giáo lý Bắc tông cũng giữ những điều cấp kỵ trên,
nhưng cởi mở hơn với việc buôn bán vũ khí và rượu (Nakamura, “Buddhism and
Economic Ethics”, in Young East Review, 1973).
Như vậy, rõ
ràng là qua kinh điển, ta sắp xếp được một bổn Luật đạo đức nghề nghiệp cho
cá nhân, nếu biết tuân theo sẽ được no ấm (atthi-sukha), tránh được nợ nần (anana-sukha)
và tìm được thoải mái trong sung mãn (bhoga-sukha). Bổn luật đạo đức nghề
nghiệp này còn đi rộng vào mối tương quan giữa người làm công và người làm
chủ; nếu theo lời dạy này, tránh được tranh chấp chủ thợ, đầu mối của xung
đột trong đời sống kỹ nghệ.
Đối với cộng
đồng, Đức Phật dạy điểm đầu tiên là đời sống kinh tế phải có kế hoạch, như
qua hai bổn kinh Cakkhavattisihanada và Kutadanta đã dẫn ở trên. Trong kinh
điển tôn giáo, có lẽ chỉ thấy kinh Phật độc nhất nói tới bổn phận của quốc
gia về nhân dụng, dùng người cho đúng khả năng, bổn phận của chính phủ phải
cấp vốn cho dân lập nghiệp, bổn phận của chính phủ phải lo cho công bộc sống
đầy đủ và được thăng thưởng để triệt bỏ tham nhũng. Kinh dạy là kế hoạch
phải được thiết lập có phương pháp, không phải làm chắp nối, tùy hứng, chờ
đợi lúc có biến cố mới tạo dựng. Thiết lập kế hoạch chỉ là một giai đoạn,
thực thi kế hoạch và tra kiểm thường xuyên mới đến được thành công, cũng là
lời giáo lý đã dẫn ở trên.
Điểm thứ hai,
nhằm vào kinh tế cộng đồng, nhà Phật dạy phải bảo trì tài nguyên để đảm bảo
phồn thịnh lâu dài. Nhà giàu làm nên nước mạnh; sinh hoạt tại gia cư và sinh
hoạt quốc gia phải đặt trên nền tảng tiết kiệm; tiết kiệm sẽ gây lên vốn để
đầu tư.
Điểm thứ ba
Đức Phật dạy là cách dùng vốn vào những việc công ích. Từ đời Đường là lúc
đạo Phật cực thịnh tại Trung Hoa, người Tàu dùng danh từ “bi điền” để chỉ
hoạt động nhằm vào công ích của cá nhân và của cộng đồng (Kennth Ch’en:
Buddhism in China: A Historical Survey, Princeton, 1973). Kinh Hán tạng Phật
Thuyết Chu Đức Phúc Điền Kinh dạy là bi điền gồm có bảy mục: 1- Xây tháp
dựng chùa; 2- Lập vườn trồng cây để có quả ăn và có bóng mát; 3- Chẩn trị
bệnh; 4- Đóng ghe thuyền độ người sang sông; 5- Xây cầu; 6- Đào giếng; 7-
Làm nhà vệ sinh. Trong bảy điều bi điền Phật dạy chúng sinh phải làm: chỉ có
một điều hướng về đạo (xây tháp dựng chùa); sáu điều kia hướng về tha nhân
và hướng về lợi ích ngắn hạn và dài hạn cho đời sống vật chất – tức là kinh
tế – của cộng đồng xã hội. Như vậy đúng là gây vốn để dùng vào những việc
nâng cao đời sống của chủng loại.
Thêm một câu
chuyện nhỏ để chứng minh quan điểm kinh tế tích cực của nhà Phật, trong sách
Tục Cao Tăng Truyện, thi hào Bạch Cư Dị ca tụng một nhà sư là Hòa thượng
Minh Nguyên: “Đất Hoài Châu và Dự Châu mỗi năm trời làm lụt nên dân chúng bị
mất mùa rất cơ cực. Ngài (hòa thượng) xin quan thái thú giúp cho trồng mười
ngàn gốc cây. Cây cản gió, gây bóng mát và giữ đất, tránh được nạn lụt, bảo
vệ mùa màng”. Từ nghìn năm trước, cái nhìn quán xuyến của người tu Phật đã
đáp ứng đủ mọi khía cạnh của nhu cầu kinh tế: thông suốt kế hoạch ngắn và
dài hạn, bảo vệ tài nguyên, và đầu tư lâu dài. Giáo lý Phật dạy phải trồng
cây (bi điền số hai), ngày nay áp dụng vào đời sống kinh tế làm phương pháp
chống lại uế nhiễm môi sinh, mối hiểm họa diệt vong đang đè nặng trên muôn
loài sinh vật. Đúng là biết nhìn xa để nâng cao phẩm chất đời sống, đúng là
biết làm kinh tế.
Cuối cùng là
điểm liên hệ tới mục tiêu tối hậu của hoạt động kinh tế: dân giàu, nước mạnh
để làm gì? Kinh điển nhà Phật dẫn chứng những cuộc hưng thịnh suy vong của
nhà, của nước để dạy một điều quan yếu là tạo vật luôn luôn biến dời, đổi
thay, và chỉ có một con đường cứu rỗi là hành thiện và hướng về tâm linh.
Hoạt động cá nhân và hoạt động tập đoàn để phát triển, cuối cùng phải nhằm
vào việc thực hiện những điều kiện nâng cao đời sống tinh thần và đời sống
tâm linh – đạo – của con người.
Max Weber, nhà
xã hội học lừng danh người Đức, thường được đưa ra đối chiếu với Karl Marx,
nghiên cứu nguyên do chế độ tư bản Tây phương đã thành công, đặt câu hỏi là
vì sao cùng một giải đất màu mè chưa khai thác là Châu Mỹ, mà người Âu Châu
La tinh chinh phục phía Nam đã đem lại nghèo khổ và tình trạng chậm tiến,
trong lúc người Âu Châu Anglo-Saxon chinh phục và định cư tại miền Bắc Châu
Mỹ đã khai hóa lập nên một nền văn minh cao. Max Weber khẳng quyết là vì lý
do tôn giáo: đạo Tin lành, phái Calvin, tôn giáo chính của những người đã từ
bỏ đất Âu Châu đồi trệ về tín ngưỡng, sang sống cuộc đời hướng về đạo tại
đất mới Bắc Mỹ. Đối với họ, chuyên cần làm việc, tiết kiệm để dựng vốn và
quyết tâm thành tựu là sứ mệnh của mỗi con người trước Thượng đế. Cái “đạo
đức Tin lành” (the Protestant ethic) của người Bắc Mỹ đã làm cho nước Hoa Kỳ
trở thành bá chủ thế giới.
George Lodge,
giáo sư trường đại học Harvard là một tư tưởng gia thuộc thế hệ sau Max
Weber, cũng tin tưởng là nguồn gốc phát triển kinh tế trực thuộc tâm linh
con người. Cùng với Ezra Vogel, (giáo sư đại học Harvard, tác giả cuốn sách
nổi tiếng khắp thế giới Japan As Number One), ông nghiên cứu sự thành công
phát triển kinh tế tại Đông-Á và đi đến kết luận là sở dĩ các quốc gia Nhật,
Hàn Quốc, Đài Loan đã bắt kịp các nước lớn ở Châu Mỹ và Châu Âu vì “cốt lõi
giá trị tinh thần là cần lao, tiết kiệm và hy sinh”, những điều mà tôn giáo
Á đông, trong bao nhiêu thế kỷ đã thấm nhuần vào tinh thể con người. Ngoài
đức tính trên, tôn giáo còn nhào nặn con người Á đông trong tinh thần “tập
đoàn” (communitarian) khác với tinh thần “cá nhân” (individualistic) của Tây
phương, và đó cũng là yếu tố quyết định người Á đông thành công (George
Lodge and Ezra Vogel: Ideology and National Competitiveness, Harvard
University, 1989).
Thế mà, không
phải ta đã chứng minh ở trên là đạo Phật dạy cần lao, tiết kiệm và hy sinh,
và cái ý niệm tập đoàn là cốt lõi của đời sống hành trì trong đạo Phật hay
sao?
Đạo Phật đã
thấm nhuần vào tâm khảm của con người Á đông trong hơn hai ngàn năm. Hành
trang của người Châu Á trên đường đi phát triển kinh tế bắt đầu từ cuối thế
kỷ Hai mươi sang kỷ nguyên mới (thế kỷ Hăm mốt) để ngự trị kinh tế thế giới,
chắc chắn phải mang nặng nền “đạo đức việc làm” (work ethic) của đạo Phật.
Những người kết tội đạo Phật tiêu cực, làm trì trệ đà tiến triển của Châu Á,
chắc chắn đã nhìn thấy cái khía cạnh phiến diện thụ động của đạo Phật mà
không quên khảo sát cái chức năng cực động tiềm tàng trong giáo lý đạo Thích
Ca.
TÀI LIỆU
THAM KHẢO:
1-
The
Encyclopaedia Britannica.
2-
The
Encyclopaedia of Buddhism,
G.P.Maylalasekera, Ed., Sri-lanka.
3-
The
Encyclopaedia of Religion,
Mircia Eliade, Ed.,
Me-Milan,
New York, 1987.
4-
The
Encyclopaedia of Religion and Ethics,
J.Hastings, Ed.,
Edinburg,
1918.
5-
Kenneth Ch’en: Buddhism in
China:
A Historical Survey,
Princeton,
1972.
6-
George Lodge and Ezra Vogel: Ideology and National
Competitiveness, Harvard University, 1989.
7-
Hajime Nakamura: “Economic Ethics of Buddhism”, in Young East
Review, 1973.
8-
Padmasiri de Silva: The Search for Buddhist Economics,
University
of Ceylon, Peradentya, 1975.
VỀ SỰ CHÍNH XÁC
CỦA MỘT DANH XƯNG QUAN TRỌNG
Vũ Huy Quang
Giáo hội
Vatican ở La Mã lãnh đạo một lực lượng tín đồ quan trọng và nhất thống bậc
nhất trên thế giới hiện nay. Tôn giáo của tinh thần Cơ Đốc có hàng nghìn năm
ấy, văn tự Tây Phương đồng nhất với danh xưng Roman Catholic Church. Tín đồ
Việt Nam theo đạo ấy, trước kia trong văn nói thường nhận mình là “người có
đạo”, “người đi dạo”… - nhưng có lẽ tiếng ấy không được chỉnh – sau này
thường nhận mình là người Công giáo. Không có tinh thần Catholic (phiên âm
Ca-tô) trong danh xưng của tôn giáo mình.
Roman được
hiểu là La Mã, Church được hiểu là Giáo hội, thì đã minh bạch. Nhưng Công
để thay cho Catholic, thì danh xưng ấy gây ra nhiều băn khoăn: Dẫu
rằng chúng ta có thể tự hào hiểu với nhau rằng “người Công giáo” là “người
theo một tôn giáo lớn”; “Công giáo” là “đạo Chung” (Công) cho mọi người.
Nhưng sao lại thay Roman Catholic Church bằng Giáo Hội Công Giáo La Mã? Thay
như thế có ổn không? Chữ Công có thay thế hẳn được chữ Catholic; và ý nghĩa
thần học có tương đương khi thay thế danh xưng như vậy không? Nếu chỉnh lại,
chúng ta có mất mát gì, hay hãnh diện thêm?
CÔNG, có nhiều
nghĩa (khéo léo, thợ, ông, tước vị, đực, khó nhọc, hiệu quả, thành đạt, lễ
tang, đánh phá…), thường trong văn nói, công có nghĩa thông tục là
Chung (công cộng, công chúng…).
Khi chuyển chữ
CATHOLIC thành chữ Công giáo – để ám nghĩa là đạo CHUNG cho mọi người, cho
hoàn cầu (?), hoặc để tiện ngôn ngữ bình dân – thì chỉ để người bình dân…
thêm bình dân, mỗi khi muốn ý thức về đạo mình: Chả lẽ con người theo đạo
này, vì đạo ấy là đạo chung, đông tín đồ, thế lực nhất… hay sao?
Khi mà đinh
ninh như vậy, rồi nhiều tín đồ dù có bằng cấp chuyên môn cao, cũng sẽ không
chịu suy xét tinh thần Catholic, là tinh thần cốt lõi của tôn giáo mình.
Trên thực tế không thiếu tín đồ Vatican (Roman Catholic Church) chỉ xưng
nhận mình là người Công giáo, không hề giải thích được, vì không hiểu ý
nghĩa cao đẹp, bao la của chữ Catholic.
Chữ Catholic
có từ lâu lắm, với hàm nghĩa lịch sử và thần học rất xúc tích. Từ 380 T.L,
HOÀNG đế kiêm GIÁO chủ La Mã (Giáo Hoàng) Theodisius ĐỆ NHẤT, chính thức
tuyên cáo tinh thần Catholic Christianity (Ca-tô Cơ-đốc) – để phân biệt với
hai Hoàng đế đương thời khác – rằng đạo Ca-tô do Ngài quản nhiệm là Quốc
giáo cho toàn Đế quốc La Mã (Roman
Empire).
Thế nên, chữ Catholic có ý nghĩa “một, duy nhất, thống hợp toàn cõi, chuyên
nhất, thiêng liêng, thống truyền, tông đồ chính truyền, chân chính…”
Nhưng tôn giáo
là cái gì vừa bí nhiệm, vừa thế tục, vừa siêu linh, lại vừa chính trị. Chữ
Catholic đẹp thế, nên nhiều tôn giáo khác giáo lý cũng nhận có tinh thần Ca-tô.
(Chẳng hạn đạo Cơ-đốc Anh-cát-lợi Anglo-Catholic, cũng nhận là Ca-tô; đạo
Cơ-đốc Tông-đồ-Truyền Catholic-Apostolic, cũng nhận là Ca-tô…). Cho nên Giáo
hội Vatican, dùng danh xưng là Roman Catholic Church, để khỏi lẫn lộn, đạo
Ca-tô này với đạo Ca-tô kia; đạo chung với đạo riêng; chính thống với tà đạo.
Roman Catholic Church, Giáo hội Ca-tô La Mã, mới là danh hiệu chính xác của
tôn giáo lớn từ Vatican đến Việt Nam lâu hơn hết.
Gần đây, chỉ
có mỗi một vị linh mục Ca-tô La Mã người Việt, khi đến Mỹ, Ngài công khai
xác nhận mình là người thuộc Vatican: Chính danh, là như vậy. Theo đường
hướng ấy, từ nay nếu một tín đồ đồng đạo, đã hiểu và biết, thì để nhận là
mình là “Tín đồ Ca-tô La Mã” cũng minh bạch tương đương. Có điều, phải chăng
từ ngữ “Công giáo” dùng quen bấy lâu thành ra khó phổ biến? Làm minh danh
điều thiếu sót bấy lâu dù khó đến đâu, chúng ta sẽ cùng nhau khắc phục được.
Minh bạch cùng
đi với tinh vi, và đưa đến phong phú hóa ngôn ngữ. Điều này, chỉ con người
làm được. Nếu ai nấy cùng nỗ lực về Chân Thiện Mỹ, nhất định chúng ta đổi
được. Nhất là với tinh thần phê bình Giáo hội đề xướng. Chính xác, không
những chỉ toán học áp dụng, mà cả văn hóa cũng thế. Lịch sử ngôn ngữ nước ta
cũng từng chứng tỏ điều này.
**
Khi Thiên chúa
giáo La Mã được truyền vào Việt Nam, các danh xưng "đi đạo", "có đạo" … đã
được loại bỏ dần (chả lẽ người Tin Lành, Cao Đài… không "đi" đạo, không "có"
đạo?). Nhưng, khi người theo đạo Ca-tô Cơ-đốc La Mã, hiện dùng danh xưng "người
Công giáo" – tuy là dưới hệ thống giáo thuyết nguyên thủy từ La Mã – thì vô
tình, đã thu hẹp nghĩa bao la của ý hướng thần học của danh từ Catholic.
Như thế, không
những đã không làm giàu cho ngữ vựng Việt – vì chỉ dùng những chữ cũ thay
bằng tinh thần mới của Tây phương – mà còn làm mất tinh hoa của chữ Catholic
mà chúng ta du nhập.
Cho nên, mỗi
khi có sinh hoạt xã hội, tôn giáo nào của người Ca-tô Việt Nam (với Việt ngữ
là "công giáo") thì báo chí Anh – Mỹ viết khác. Thí dụ Vietnamese Catholic
Group (nhóm Ca-tô người Việt). Như thế, khác gì tái xác nhận sự sơ sót của
chúng ta trong danh xưng "người công giáo" trong ngôn từ Việt. Chẳng lẽ danh
từ trong văn nghĩa Tây phương nói về chúng ta, lại chính xác hơn chính chúng
ta với nhau mãi sao?
Nên, một tín
đồ Thiên chúa giáo La Mã, theo hệ thống Giáo hội Catô La Mã – để phân biệt
với các tín đồ đạo khác trong văn hóa Việt cũng thờ Thượng đế – từ nay danh
xưng "tôi là người Công giáo", nên thay bằng "tôi là người Ca-tô La Mã",
không những đã rõ ràng, mà còn dễ hiểu hơn… giữa người Việt với nhau. Vì
chính xác hơn.
Văn hóa thế
giới lúc nào cũng thêm chữ mới, đến nỗi Tự điển của các nước tiền tiến lâu
nay cũng phải điều chỉnh, thêm định nghĩa, thêm chữ mới, … lại hàng năm.
Việt ngữ, đã có nhiều từ, nhiều ngữ nguyên, ngữ căn, ý nghĩa chữ đơn, chữ
kép… đã không những bị bỏ sót, không được hiểu thấu đáo, lại ít tận dụng,…
thật là một thiệt thòi cho kho tàng văn học của người Việt. Nay, với một
danh xưng quan trọng của một văn hóa, tôn giáo lớn … Như đạo Cơ-đốc La Mã mà
bỏ ý nghĩa chữ "Ca-tô", thay thế bằng chữ "Công"… thì Việt ngữ, khi diễn tả
qua danh xưng một tôn giáo lớn và quan trọng bậc nhất thế giới tiếp tục mãi
như thế, chỉ là một thiệt thòi lớn cho tất cả chúng ta.
Một ngôn ngữ
sinh động là một ngôn ngữ luôn luôn có thêm từ ngữ mới, ý nghĩa mới. Sự
chính xác, phân minh, liêm khiết của từ ngữ… đóng góp vào văn hóa dân tộc,
làm thêm hãnh diện cho người Việt Nam – dù người ấy là tín đồ của bất cứ tôn
giáo nào.
NỖI ĂN NĂN THỐNG HỐI
CỦA MỘT NGƯỜI THEO CÔNG GIÁO
Phan Quốc
Đông
Đọc xong cuốn
sách Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II,
tôi nhớ lại thời còn là một học sinh tiểu học, được gia đình ghi tên vào
trường Puginier ở Hà Nội. Đây là một trường đạo thuộc Giáo Hội Công Giáo
Việt Nam. Những bài giáo lý (catéchisme) tôi đều thuộc làu làu. Đạt được một
số thành tích khả quan trong học vấn, tôi được nhiều vị sư huynh, nhiều vị
linh mục xoa đầu khen ngợi. Cho tới khi tôi cảm thấy mê Thiên Chúa Giáo quá
và sau khi được nhiều người khuyên bảo, tôi xin phép được rửa tội, được đặt
"tên thánh". Cha tôi cũng rất hài lòng. Gia đình tôi là một gia đình Phật
giáo, nhưng hầu như chưa ai nghiên cứu gì nhiều về những lời dạy của Đức
Phật, chỉ thờ cúng tổ tiên một cách kính cẩn, mỗi năm đi chùa vài lần. Nay
có tôi là người đầu tiên theo Công Giáo La Mã, tôi cảm thấy hãnh diện lắm,
cảm thấy "văn minh" hơn anh chị tôi là những người học ở các trường Chu Văn
An, Trưng Vương. Còn cha tôi thì cho rằng sau này, khi học hành xong, tôi sẽ
dễ dàng kiếm được địa vị cao trong xã hội vì lú c đó nước ta vẫn còn bị đặt
dưới ách đô hộ của thực dân Pháp.
Người Pháp
tính kế lâu dài vì họ biết rằng phong trào giải phóng các dân tộc bị nô lệ
đã lên cao. Việt
Nam
cầm lá cờ đầu trong phong trào này; chế độ thực dân cũ do sự cai trị trực
tiếp của người Pháp đã lỗi thời. Họ tính xây dựng một chế độ thực dân mới
tinh vi hơn, nghĩa là bề ngoài họ sẽ trao trả "độc lập" cho một số các nước
thuộc địa, nhưng họ vẫn đứng đằng sau khống chế chính phủ, trong đó những
người thừa hành không phải là người Pháp mà là những người bản xứ hoàn toàn
nghe lời Pháp (thường là người theo Công giáo). Như vậy, các nước thuộc địa
như Việt Nam trông có vẻ "độc lập" hơn.
Sau này gia
đình tôi di cư vào Nam và khi đã khá lớn, tôi mới hiểu rõ vấn đề. Nhờ đọc
sách tôi được biết Đức Cha Puginier là một ông Tây thực dân xâm lược đã từng
cầm quân đi tiêu diệt các phong trào cách mạng Việt Nam, quân đội của ông
hầu hết là giáo dân. Rất nhiều người Việt Nam yêu nước đã bị giết một cách
tàn bạo bởi đạo quân này. Tôi cảm thấy xấu hổ đã học trường Puginier! Nhưng
tôi vẫn còn là một con chiên ngoan đạo; bởi vì theo Công Giáo, tôi chỉ có
một mục đích là khi chết sẽ được Chúa GiêSu bênh vực trong ngày phán xét
cuối cùng và có thể sẽ cho tôi lên thiên đàng nếu tôi tuyệt đối tin tưởng ở
Chúa Trời qua những lời dạy của Ngaiy trong cuốn Thánh Kinh và tuyệt đối
nghe lời những người chủ chiên, những vị linh mục, giám mục là những người
đại diện cho Chúa.
Những điều
tiên đoán của cha tôi đã tỏ ra đúng: ngày tôi ra trường sau khi tốt nghiệp
đại học, tôi dễ dàng kiếm được địa vị cao trong ngành tư pháp. Dưới thời hai
chính phủ Công Giáo trị ở miền Nam Việt Nam trước kia, tôi thấy họ xét lý
lịch rất kỹ những người ở cấp bậc chỉ huy. Người nào có đạo Công Giáo đều
được dễ dàng. Người nào khai Phật giáo thường bị loại. Tuy nhiên, những
người nào Phật giáo nhưng khai là có "đạo thờ ông bà" thì cũng có thể được
trọng dụng gần bằng người Công Giáo.
Bởi thế, tôi
thấy có nhiều người Phật giáo nhưng phải giấu diếm bàn thờ Phật ở tuốt trên
lầu: họ lập một bàn thờ Chúa rất to, rất trang ngiêm ở ngay phòng khách cho
mọi người nhìn thấy. Các xứ đạo tưng bừng nhộn nhịp được chánh phủ nâng đỡ
tối đa. Vị cha xứ được dân chúng khúm núm tôn thờ như một ông thánh. Có
những xứ đạo tự tạo ra những luật lệ riêng, bất chấp luật lệ quốc gia! Thí
dụ như ở Hố Nai, nếu bạn lái xe qua mà vô tình cán chết một con chó của họ,
bạn có thể bị giáo dân đánh chết mà không có luật pháp nào bênh vực bạn cả.
Một người bạn tôi bị mất chiếc xe Toyota mới tinh. Anh ta tự điều tra và
biết được chiếc xe của mình hiện ở trại di cư Hố Nai, nhưng không biết làm
sao lấy chiếc xe ra được! Báo cảnh sát họ cũng lắc đầu! Sau cùng anh ta phải
đăng báo chuộc lại chiếc xe theo "luật giang hồ"!
Gia đình tôi
có 2 người con gái út, tuy không xinh đẹp lắm nhưng cũng vào loại "coi được",
dầu rằng tính nết rất đanh đá. Ông anh tôi thường hay nói đùa: "Hai con em
mình mà cũng có thằng nó "ngửi" được kể cũng lạ!" Một cô gả cho một ông bộ
binh mang cấp bậc trung úy từ năm 1962, năm 1969 được thăng đại úy. Cho tới
năm 1975 bò mãi cũng không lên được thiếu tá vì ông khai là Phật giáo. Trái
lại cô em út lấy chồng Công Giáo, cô ta phải rửa tội theo chồng thì hôn nhân
của hai người mới không bị cản trở. Cậu này năm 1962 mới đi sĩ quan Thủ Đức
để rồi ra trường với cấp bậc chuẩn úy. Thế mà năm 1975 cấp bậc của cậu ta đã
là trung tá.
Mỗi khi có một
giới chức nào thuộc Tòa Thánh
Vatican
tới thăm Việt Nam, ông ta được đón tiếp theo thủ tục nghi lễ quốc gia một
cách vô cùng trọng thể. Từng đoàn xe hộ tống dẫn đường, không khác gì xe của
một vị quốc trưởng. Vào tới dinh Độc Lập, ông ta được các công chức cao cấp
của chính phủ Việt Nam đón tiếp một cách kính cẩn và khúm núm. Bởi vì càng
kính cẩn, càng khúm núm thì địa vị các công chức đó càng vững chắc, bổng lộc
càng nhiều. Người ta còn để ý xem những người Công Giáo có địa vị cao trong
chính phủ có đi lễ nhà thờ đều vào mỗi sáng chúa nhật không. Bởi vậy, cứ tới
khu nhà thờ Đức Bà tại Sài Gòn vào mỗi sáng chúa nhật, ta sẽ thấy xung quanh
đậu toàn những loại xe đắt tiền bóng loáng.
Các vị linh
mục, giám mục nhiều khi trực tiếp can thiệp vào các công việc của ngành tư
pháp, hành chánh, quân đội và lần nào cũng đạt được kết quả như ý muốn. Việt
Nam được phong chức "Trưởng nữ của Tòa Thánh Vatican ở Á Châu", một chức vụ
mà ngay cả Phi Luật Tân lấy Công Giáo làm quốc giáo cũng không có được. Tôi
rất hãnh diện về chức vụ này, tuy tôi biết rằng tài chánh của nước Việt Nam
được các Tổng Thống Công Giáo lấy đi đem gởi ở
Vatican
không phải là ít.
Cho tới năm
1975 khi quân đội miền Nam Việt Nam thảm bại một cách hết sức nhanh chóng
sau khi bị Mỹ bỏ rơi, tôi may mắn chạy ra được ngoại quốc nên tránh được
cảnh tù đày. Chính trên đất Mỹ này, tôi học được một điều hết sức rõ rệt là:
Người Công Giáo Mỹ khác hẳn những người Công Giáo Việt Nam! Họ đặt quyền lợi
tổ quốc của họ lên trên hết. Họ coi quốc gia nhỏ bé Vatican chẳng ra gì. Dù
rất giàu có, họ không đóng góp một xu nào cho Vatican cả. Họ đang vận động
thành lập Giáo Hội Công Giáo Tự Trị vì họ biết rõ những người lãnh đạo
Vatican chỉ có cái bề ngoài có vẻ đạo đức nhưng bên trong là một tập đòan
hết sức thối nát: Giáo Hoàng nào đã phạm giới, Hồng Y nào đã cấu kết với
đảng Mafia ở Ý tạo được những tài sản kết sù, Giáo Hoàng nào đã bị ám sát vì
tiền, họ đều biết rõ! Các vị giám mục, linh mục có liên hệ bất chính với đàn
bà con gái, đều bị họ phanh phui trên báo chí một cách thẳng thắn. (Ở Việt
Nam mà đụng tới các vị này thì chắc không khá!). Đọc báo Mỹ, ta thấy những
chuyện này hầu như hàng ngày.
Dân chúng Mễ
Tây Cơ còn đi xa hơn nữa: Họ ghi hẳn vào Hiến Pháp cấm chính phủ không được
đặt liên hệ ngoại giao với Vatican, các linh mục không được mặc áo đen ra
đường, không được mua ruộng đất, không được dạy học, không được kinh doanh!
Người Tây Phương theo Công Giáo chỉ vì truyền thống từ ngàn xưa. Hỏi họ có
tin vào những điều dạy trong Kinh Thánh không thì ít ai tin. Người Công Giáo
Việt Nam đặt đức tin “cao” hơn nhiều.
**
Cũng chính
trên đất Mỹ này tôi bàng hoàng nhận thấy điều vô cùng thiếu sót là: mặc dầu
là người Công Giáo đã mấy chục năm, đi lễ đều đặn, say sưa trong câu kinh
tiếng hát, tôi vẫn chưa bao giờ đọc hết 2 cuốn kinh Cựu Ước và Tân Ước cả!
Có lẽ tất cả những người Công Giáo Việt Nam cũng đều như tôi: chưa đọc, bởi
vì chưa có một bản dịch tiếng Việt nào thật đầy đủ 2 cuốn kinh đó. Nhiều bản
tự nhận là dịch nguyên văn, nhưng so với bản tiếng Anh thì còn thiếu sót
nhiều. Người ta cố tình chỉ dịch một số đoạn và chỉ cho phép con chiên được
đọc những đoạn đó mà thôi.
Tìm hiểu sâu
hơn tôi biết rằng tòa thánh
Vatican
đã từng ngự trị ở khắp Châu Âu suốt mười mấy thế kỷ và họ đã cấm con chiên
không được đọc Kinh Thánh. Từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 14, các sử gia gọi
là Thời Kỳ Đen Tối, người dân sống trong tăm tối và đầy sợ hãi với những Tòa
án tôn giáo, những cuộc chiến tranh bẩn thỉu được mệnh danh là "Thánh
Chiến", những cảnh cướp đất dành dân, nô lệ hóa con người của các vị lãnh
chúa. Chỉ kể từ thời kỳ Phục Hưng trở đi, khi người dân cương quyết bác bỏ
các giáo điều phản khoa học của Kinh Thánh để đi vào con đường khoa học thực
nghiệm, Âu Châu mới khá lên dần dần. Tuy nhiên, Tòa Thánh Vatican vẫn còn
muốn dạy dỗ con chiên của họ ở Á Châu (nhất là ở Việt Nam) theo kiểu mẫu Âu
Châu thời Trung Cổ, bởi vì như thế thì họ mới có lợi, còn nếu tiến bộ như
người Công giáo Mỹ thì dĩ nhiên họ chẳng được lợi gì. Các cán bộ của họ, các
linh mục, giám mục vẫn đang tận tụy làm công việc này vì Việt Nam có khoảng
7 triệu người Công giáo có đức tin rất cao, sẽ là một lực lượng chánh trị và
kinh tế quan trọng trong tương lai.
Nhờ có khả
năng đọc được ngoại ngữ, lại có nhiều thì giờ rảnh rỗi, tôi quyết chí tìm
hiểu cặn kẽ, suy nghĩ từng chữ, từng câu của 2 cuốn Thánh Kinh này. Tôi cũng
đọc kỹ lịch sử của Giáo hội Vatican, tiểu sử của từng vị Giáo Hoàng, các
phương pháp bành trướng tôn giáo của họ tại các lục địa khác ngoài Aâu châu,
phương pháp nào nhanh, phương pháp nào chậm. Phương pháp nhanh nhất được
thực hiện bởi thực dân Tây Ban Nha tại các xứ thuộc Châu Mỹ La Tinh thật là
vô cùng tàn ác: Họ dùng gươm súng giết hết những người đàn ông bản xứ, chỉ
còn lại toàn đàn bà con gái thôi, để họ vừa bắt buộc theo đạo, vừa hãm hiếp
đồng hóa. Số người bị giết lên tới mấy chục triệu. Đây là phương pháp truyền
đạo của phái bộ truyền giáo Tây Ban Nha được Giáo Hoàng Alexander Đệ Lục hỗ
trợ. Đi du lịch ở các xứ này ta chỉ thấy toàn những người lai mà thôi, hầu
như không còn một người bản xứ nào sống sót. Tại Phi Luật Tân, họ cũng giết
hàng triệu người, đập phá toàn bộ các đền thờ cổ, thủ tiêu hoàn toàn mọi
chứng tích của nền văn minh cổ của xứ này. Ngôn ngữ, văn tự, truyền thống,
văn hóa hoàn toàn mất hẳn.
Tại Việt Nam
phương pháp truyền giáo được đảm nhiệm bởi Phái bộ Truyền giáo Pháp Quốc,
tuy cũng dùng những cán bộ, những linh mục đi theo các đoàn quân viễn chinh,
nhưng phương pháp này hơi chậm vì phải bưng bít, phải mua chuộc, phải dùng
những người bản xứ làm tay sai, vì đạo quân viễn chinh đã bị dàn quá mỏng,
không còn đủ sức. Không phải Phái bộ Truyền giáo Pháp thương xót gì người
Việt Nam, nhưng nước Việt Nam ta có lúc ở trong một hoàn cảnh đặc biệt khiến
họ không thể dở trò tàn bạo như ở Nam Mỹ:
- Dân chúng
Nam Mỹ đã bị xâm lược từ thế kỷ thứ 16, trong khi Việt Nam chỉ thật sự bị
xâm lược vào thế kỷ thứ 19.
- Dân chúng
Nam Mỹ lúc đó chỉ là những bộ lạc lẻ tẻ, do đó không chống lại nổi. Trái
lại, nước ta lúc đó đã là một quốc gia lớn, có chủ quyền, có truyền thống
chống xâm lăng. Dù vũ khí của ta thô sơ, nhưng nếu chúng dở trò quá tàn bạo,
chúng sẽ gặp sự chống cự mãnh liệt và không thắng nổi.
Lịch sử đã ghi
rõ là Pháp chiếm được nước Việt Nam phần lớn là nhờ những người Việt
Nam
làm tay sai hợp tác với Pháp hơn là do sức mạnh của Pháp. Người Việt Nam đã
sai lầm khi hợp tác với Pháp với khẩu hiệu “Thà mất nước chứ không mất
Chúa”. Thật ra, nếu họ đặt đức tin một cách đứng đắn thì Chúa vẫn còn trong
lòng họ, mà nước cũng không bao giờ mất. Thực dân Pháp lúc xâm lăng nước ta
đang ở trong vị thế rất suy yếu: đoàn quân viễn chinh bị đánh tan tành ở Mễ
Tây Cơ. Khắp nơi hải quân Pháp bị hải quân Anh đánh bại. Ngay tại chính
quốc, Pháp cũng bị Đức đánh bại (1870), thủ đô Paris bị xâm chiếm, Pháp phải
đầu hàng, cắt đất cho Đức, và bồi thường chiến phí. Người Pháp đã định ngưng
cuộc chinh phục Việt Nam nhiều lần, nhưng vì các linh mục tích cực vận động,
lấy cớ chiếm nước Việt Nam chẳng tốn kém gì nhiều, vì đã có đạo quân thứ năm
sẵn sàng hỗ trợ, do đó Pháp lại tiếp tục và hoàn tất cuộc xâm lăng.
Đọc cẩn thận
hai cuốn kinh Cựu Ước và Tân Ước, tôi bàng hoàng tìm ra lý do vì sao Giáo
hội Vatican đã cấm giáo dân không được đọc Kinh Thánh suốt mười mấy thế kỷ:
Họ muốn giáo dân chỉ là những con cừu ngu muội để họ nói gì phải tin thế,
không được thắc mắc gì cả. Họ nói “mặt trời quay chung quanh trái đất” cũng
phải tin là “mặt trời quay chung quanh trái đất”. Nếu có người nào thắc mắc
hoặc đưa ra những câu khỏi khó trả lời thì hãy coi chừng, người đó sẽ bị đưa
ra các tòa án tôn giáo (gọi là tòa hình án: Inquisition) với những cực hình
hết sức dã man: nào là đánh đập tàn nhẫn, nào là xẻo thịt, cắt lưỡi, cắt vú,
lóc xương, rất nhiều người bị thiêu sống, vì không tin Chúa nên họ bị gán
cho tội làm phù thủy. Tôi đã được coi các dụng cụ tra tấn của tòa hình án
của Công Giáo tại một viện bảo tàng. Viện bản tàng này gọi là “Believe It or
Not” được đặt trong một tòa nhà gọi là Cliff House, ở ven biển San
Francisco. Vé vào cửa là 6 đô la, nhưng mỗi tháng có một ngày vào cửa miễn
phí (ngày thứ tư đầu tiên trong tháng). Vào những ngày đó người ta tới coi
rất đông. Các hội đoàn, các trường học cũng tổ chức những đoàn xe đưa học
sinh đi coi có các thầy cô giáo hướng dẫn rất trật tự. Họ đến để nhớ lại quá
khứ mà học bài học cho tương lai.
Người Mỹ đã
nhất quyết cho con em học được biết tất cả những sự thực lịch sử về Đạo
Thiên Chúa. Các giáo dân Việt Nam chắc chắn chưa được biết những sự thật
này. Ngay cả tôi là người thích đọc sách, thích tìm hiểu, mà suốt mấy chục
năm qua tôi cũng không biết gì! Nếu không có cơ hội sang Mỹ thì chắc tôi
cũng như nhiều người khác chỉ được biết những gì các vị linh mục Việt Nam
cho biết mà thôi. Nhiều khi chính các vị linh mục cũng không biết những sự
thực này! Có bao nhiêu vị linh mục Việt
Nam
đã đọc các sách như Secters Of The Dead Sea Scrolls (một tài liệu khảo cổ
hết sức giá trị), Vicars Of Christ: The Dark Side Of The Papacy của
Peter De Rosa (tác giả là một cựu Tổng Giám Mục), Why I Am Not A
Chirstian? Của Bertrand Russell (triết gia, giải thưởng Nobel), The
Spanish Inquisition của John Wiley? Và hàng trăm cuốn sách tương tự
khác?
Vốn là một con
chiên ngoan đạo, tôi chưa bao giờ vắng mặt ở nhà thờ vào các ngày Chúa nhật
dù có bận rộn tới đâu. Sự siêng năng của tôi với ước vọng mãnh liệt là sẽ
được lên Thiên Đàng sau khi chết là điều tôi rất tự hào. Từ xưa tới nay,
giáo hội Vatican đã tiên đoán bao nhiêu lần về ngày tận thế. Nhiều người đã
bán cửa bán nhà, nhiều người đã bỏ cả công ăn việc làm để chờ Chúa đón.
Nhưng tới ngày đó chẳng có gì xảy ra cả! Mặc dầu người ta đã cẩn thận dạy
rằng “việc lên Thiên Đàng chỉ có sau khi chết” (nghĩa là điều không ai có
thể chứng nghiệm được và cũng không có ai đã lên thiên đàng ròi về kể lại
cho người khác nghe), nhưng đọc rất kỹ 2 cuốn Kinh Thánh tôi mới biết rằng
điều đó chỉ là tưởng tượng. Vì sao? Bởi vì cái Thiên Đàng đó hoàn toàn không
có! Bởi vì Kinh Thánh cũng không phải do Chúa viết ra mà chỉ là sản phẩm của
những con người cũng trần tục như chúng ta với trí tưởng tượng và sự hiểu
biết về khoa học có lẽ còn thua chúng ta nữa! Nếu cứ nhắm mắt tin bừa vào
những tác giả đó thì chắc chắn ta sẽ đi vào hố thẳm! Lịch sử nhân loại đã
ghi lại không biết bao nhiêu hố thẳm như vậy. Bởi thế nên khi đạo Công Giáo
La Mã không còn đủ quyền lực để giết chết những người nói lên sự thực nữa
thì các nhà thông thái đã mạnh dạn lên thuyết giảng về những sai lầm trong
Kinh Thánh.
Triết gia
Bertrand Russell, cựu giáo sư đại học Harvard của Hoa Kỳ, thì cho rằng hình
ảnh Đức Chúa Cha được mô tả như một vị Thượng Đế đã sanh ra thế gian này chỉ
là một bịa đặt bắt người khác phải tin bằng gươm súng. Ông đã dùng lý luận
để bác bỏ những luận cứ của Giáo hội về vấn đề này. Vả lại trước thời
Môisen, loài người cũng đã đưa ra hình ảnh của nhiều vị Thượng Đế khác nữa.
Mỗi địa phương, mỗi giống dân, mỗi nền văn hóa lại đưa ra một vị Thượng Đế
khác nhau. Đúng là loài người đã sanh ra Thượng Đế, chớ không phải Thượng Đế
sanh ra loài người! Nhưng giống dân nào, địa phương nào cũng cho rằng Thượng
Đế của mình là đúng, là nhân từ, là có nhiều quyền phép, còn các Thượng Đế
khác chỉ là ngụy tạo, là sai lầm, là tà giáo. Do đó mà có những mâu thuẫn và
người ta đem quân đi giết nhau về vấn đề này! Lịch sử đã ghi lại không biết
bao nhiêu những cuộc chiến tranh như vậy (đến nỗi từ ngữ “Thánh Chiến” đã
trở thành thuật ngữ riêng biệt của lịch sử bành trướng của Giáo Hội La Mã).
Sự tàn phá những kinh thành, tàn sát cả những lương dân vô tội, đã gây ra
không biết bao nhiêu điêu linh cho nhân loại. Như vậy, phát minh ra một vị
Thượng Đế xem ra không có lợi cho loài người, có hại là đằng khác. Nếu ta
không biết vũ trụ này khởi đầu ra sao thì ta cứ thành thật nói là không biết
chứ không cần phải bịa đặt ra rằng có một ông Thượng Đế ở trên trời đã sanh
ra nó. Bởi vì giải thích như thế chỉ có thể đánh lừa được một số người nhẹ
dạ và ngu dốt mà thôi. Và sẽ không bao giờ hết được những thắc mắc.
Nhà văn Lâm
Ngữ Đường, con của một vị mục sư, thì viết rằng mặc dầu cha ông là mục sư
giảng đạo lâu năm, ông vẫn hoàn toàn không tin vào Kinh Thánh. Ông cho rằng
nếu quả có một Đức Chúa Cha như đã được mô tả thì ông này thật vô cùng tàn
ác! Ông đã giận dữ giết chết không biết bao nhiêu người. Adam và Eva do ông
sinh ra chỉ ăn có một trái táo cấm thôi mà đã bị trừng phạt quá nặng nề. Nào
là bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, nào là biết xấu hổ, biết đói rách, phải
làm lụng vất vả để sinh sống. Tàn ác hơn nữa là tất cả con cháu của Adam và
Eva cũng bị trừng phạt luôn! Nếu ai làm lỗi thì trừng phạt người đó thôi chớ
sao lại trừng phạt cả con cháu người ta, tức là cả nhân loại ngày nay. Cho
tới khi Đức Chúa Cha hối hận cho ông con độc nhất (là chúa Giêsu) xuống thế
để cứu nhân loại, thì nhân loại lại giết ông con này một cách hết sức đau
đớn. Thế mà Đức Chúa Cha không giận gì cả! Cho rằng Chúa Giêsu tình nguyện
chịu đau đớn để “chuộc tội” cho nhân loại là một điều vô lý. Trên đời này
không có ai chịu tội dùm được cho ai cả. Ai làm thì người ấy chịu mà thôi.
Vả lại nếu Chúa Giêsu đã chịu tội cho nhân loại thì sau Chúa Giêsu nhân loại
(kể cả những người Công giáo tin vào Chúa) phải hết tội, phải sung sướng lắm
mới đúng chớ. Tại sao đau khổ đến thế? Người ta lại còn nhân danh Chúa đi
chém giết nhau suốt bao nhiêu thế kỷ. Nếu Chúa có quyền phép, tại sao Ngài
lại dung túng điều đó.
Điều đáng nói
là những người Do Thái thì tin vào Cựu Ước, những người Công giáo thì tin
thêm Tân Ước. Chỉ khác nhau có một chút vậy thôi. Thế mà họ đã giết nhau vô
cùng khủng khiếp suốt gần 20 thế kỷ, không bỏ qua một thủ đoạn tàn độc nào
để ám hại nhau.
Một trong
những giáo điều ông cho là sai lầm nhất của đạo Cơ Đốc là sự hiện hữu của
một địa ngục vĩnh cửu. Người nào bị trừng phạt ở đó thì sẽ bị lửa cháy đời
đời hết sức đau đớn, muốn chết cũng không chết được nữa. Bạn thử đưa một
ngón tay vào ngọn lửa cho nó cháy xem bạn đau đớn ra sao! Đàng này cả một
thân thể bị thiêu cháy như ngọn đuốc với những đớn đau suốt từ ngày này sang
tháng khác không bao giờ dứt. Ông cho rằng một người dù tội lỗi đến đâu thì
sau khi bị trừng phạt rồi cũng có ngày được tha. Không có lý do gì trừng
phạt người ta mãi mãi. Chỉ có những kẻ bệnh hoạn mới nghĩ ra cách trừng phạt
như vậy! Thì ra tôn giáo này thường được đánh bóng bằng hình ảnh một vị
Thượng Đế nhân từ bác ái, lại đặt nền tảng trên sự đe dọa đầy ác tính và vô
lý!
Tiến sĩ Peter
De Rosa sau khi từ bỏ chức vụ Tổng Giám Mục, ông âm thầm nghiên cứu các tài
liệu cổ xưa về giáo hội Công Giáo La Mã để viết cuốn Vicars Of Christ: The
Dark Side Of The Papacy. Ông kể lại những chuyện kinh hoàng của giáo hội với
những cảnh giết người, cướp bóc, hãm hiếp, trụy lạc, vô đạo đức. Kinh Thánh
viết rằng mặc dầu các vị Giáo Hoàng là do các vị Hồng Y bầu lên, nhưng luôn
luôn các cuộc bầu cử đó đều được hướng dẫn bởi Đức Chúa Thánh Thần, và người
được bầu vào chức Giáo Hoàng là do Chúa chọn. Do đó, các Giáo Hoàng là những
người vô cùng đạo hạnh, tài năng xuất chúng và không bao giờ sai lầm cả. Thế
nhưng, lịch sử còn ghi lại rằng: Giáo Hoàng Sergius III (904 - 911) có vợ là
cô điếm Marozia; Giáo Hoàng John XI (931 - 936) đã từng loạn luân với em
gái; Giáo Hoàng Leo VIII (963 - 964) bị chết vì thượng mã phong; Giáo Hoàng
Boniface VII (984 - 985) cướp ngôi của Giáo Hoàng John XIV; Giáo Hoàng John
XXIII (1410 - 1415) cưỡng dâm trên 300 nữ tu; Giáo Hoàng Pius II (1458 -
1464) có vợ và 2 người con; Giáo Hoàng Sixtus IV (1471 - 1484) loạn luân và
có con với bà chị ruột, cấp giấy phép mở nhà điếm ở La Mã để thu vào 30,000
đồng tiền vàng mỗi năm và chính ông thành lập tòa án dị giáo năm 1478, tòa
án giết hàng chục triệu người vô tội: Có khi chỉ trong một ngày có đến
100,000 người “dị giáo”, kể cả những người theo Tin Lành bị tàn sát. Giáo
Hoàng Innocenti VIII (1484 - 1492) có vợ và bán đấu giá các chức vụ của giáo
hội.
Nhưng khủng
khiếp nhất vẫn là Giáo Hoàng Alexander VI thuộc giòng họ Borgia. Chính vị
này là thủ phạm những vụ tàn sát kinh hoàng nhất trong việc bắt buộc theo
đạo Công Giáo ở các lục địa Á Châu, Phi Châu và Mỹ Châu La Tinh. Số người bị
giết lên tới 100 triệu. Vị này lại còn loạn luân với chính con gái mình, tức
nàng Lucretia Borgia xinh đẹp, sau khi đã bậy bạ với mẹ cô ta và cả bà ngoại
cô ta nữa (cả 3 thế hệ). Nàng Lucretia có một người tình là một sĩ quan hầu
cận của Giáo Hoàng, nhưng anh nàng là Caesar Borgia không bằng lòng ông sĩ
quan này nên cấm đoán. Mối tình trở thành vụng trộm. Một ngày kia Caesar
Borgia thấy viên sĩ quan này quanh quẩn gần chỗ em gái mình, ông ta rút gươm
đuổi theo. Sĩ quan này không dám chống cự, bèn chạy tới ôm lấy Giáo Hoàng để
xin che chở. Nhưng Caesar Borgia đã không nể nang gì. Ông ta đâm viên sĩ
quan này nhiều nhát đến nổi máu bắn đầu mặt Giáo Hoàng.
Càng đọc Kinh
Thánh, tôi càng thấy những sai lầm nghiêm trọng. Thí dụ Kinh Thánh dạy rằng
loài người mới có trên trái đất này khoảng 6000 năm. Ngày nay một cậu học
sinh trung học cũng biết rằng loài người có mặt trên trái đất này cả triệu
năm rồi. Còn sự diễn tả trời đất thì cho thấy tác giả là một người có trí
tưởng tượng quá nghèo nàn và hạn hẹp. Ta hãy trích một đoạn Kinh Thánh nói
về ngày thứ nhì lúc Chúa sinh ra trời đất:
“Ngày thứ 2:
dựng nên vòm trời (GEN.1:6) vòm trời đó cứng nhắc, có thể giữ nước ở phía
trên, không cho rơi xuống trần gian. Nó có hình vòng cầu hoặc như cái chảo
úp như ta thường trông thấy. Nó chắc chắn là phải hết sức cứng vì có thể
chứa một lượng nước khổng lồ ở bên trên. Vòm trời đó theo JOB đã được đúc
bằng đồng thay (JOB.37:18). Vòm trời đó có những cửa. Khi muốn có hồng thủy,
những cửa trời đó sẽ được mở ra cho nước trên trời tuôn xuống (GEN.7:11).
Mặt trăng, mặt trời và các vì sao là những đèm đóm đều nương vào nền trời đó
y như những ngọn đèn trên trần nhà (GEN.1:17). Những ngọn đèn đó dĩ nhiên là
nhỏ xíu, vì lúc tận thế, tinh tú sẽ rụng xuống trần gian như những trái cây
vả chín rơi rụng khi cây vả bị dập vùi trong một trận cuồng phong
(GEN.6:13). Cung đình Chúa Cha và tòa ngôi ngài đặt trên vòm trời đó
(PSALM.11:4) vì Sáng Thế Ký đã định nghĩa cái vòm trời đó là Trời (GEN.1:8).
Chúa Giêsu
cũng xác quyết Chúa Cha ở trên đó khi Ngài dậy cầu xin: Lạy Cha chúng con ở
trên trời (MAT.6:9). Vòm trời đó có nhiều cột chống đỡ (JOB.27:11) và trái
đất cũng có nhiều cột chống đỡ (JOB.9:6). Đất được Chúa đặt vững trên mặt
nước (PSALM 136:6), muôn đời đứng yên một chỗ.”
Nếu nói thêm
về những sai lầm trong Kinh Thánh thì thật dài dòng. Trong một bài viết ngắn
ngủi tôi không thể viết hết được. Các bạn nào muốn tìm hiểu sẽ đọc sách
thêm. Trong cuốn Kinh Thánh Của Những Người Không Tin Chúa (The Bible
Handbook For Atheists) của 2 tác giả, tiến sĩ G.W.Foote và W.P.Ball đã tìm
ra tới 870 điều sai lầm trong Kinh Thánh. Bạn nào muốn đọc xin cứ tới các
thư viện của Mỹ, hoặc gởi mua với giá 3.95 đô la theo địa chỉ American
Atheist Press: 2210 Hancock Drive, Austin, Texas 78756. Kinh Thánh có nhiều
sai lầm như thế nên nếu bảo rằng tin tưởng hoàn toàn ở cuốn sách đó sẽ được
lên Thiên Đàng, chắc chắn cũng sai nốt.
Bác sĩ Nguyễn
Văn Thọ sinh trưởng trong một gia đình đạo gốc. Cũng như nhiều người Công
giáo khác, ông được trọng dụng, được qua Mỹ du học từ sớm, được giữ chức vụ
chỉ huy (Giám đốc Tổng Y Viện Duy Tân). Nếu ông không xin giải ngũ thì chức
vụ Cục Trưởng Cục Quân Y đối với ông không khó khăn gì vì ông còn là đàn anh
của nhiều vị Cục trưởng. Thế nhưng, ta hãy đọc lời ông viết:
“Năm 36
tuổi, nhân khảo về Khổng giáo, tôi được một sự giác ngộ nội tâm, nên đã bừng
tỉnh giấc Nam Kha và đã nhìn thấy rõ những sự sai trái thấp kém của Thiên
Chúa giáo. Cho tới ngày nay, mỗi khi nghĩ lại sự mình thoát khỏi được Thiên
Chúa giáo để đi vào chánh đạo giải thoát nội tâm, tôi cho là một đại hồng ân
của trời đất”.
Trong một đoạn
khác, ông viết rằng những người Thiên Chúa giáo không chịu đọc sách tìm hiểu
nhiều, đều là những người đã “bị lừa bịp bởi một lời nói láo vĩ đại” (lời
nói láo rằng “họ sẽ lên Thiên Đàng sau khi chết”).
Tôi may mắn
chịu khó đọc sách nhiều nên cũng kịp thoát như ông. Thấy tôi không còn tin
tưởng gì về cái Thiên Đường bánh vẽ nữa, một vị linh mục đã nói với tôi:
- Con
đừng bỏ đạo vì chắc chắn con sẽ là một nhà lãnh đạo tương lai của nước Việt
Nam. Bởi vì
Công giáo sẽ nắm chính quyền là điều chắc chắn, và sẽ nắm vĩnh viễn! Đảng
Cộng Sản cho dù giỏi lắm cũng chỉ tồn tại được 10, 15 năm nữa là cùng. Chúng
ta không cần phải chống đối gì họ cho thiệt hại! Chỉ cần âm thầm củng cố lực
lượng. Bởi vì, so sánh về tương quan lực lượng thì Công Giáo có 7 triệu Đảng
viên hết sức trung thành, có đoàn ngũ, có kỷ luật, lại được hỗ trợ bởi tòa
thánh Vatican với một tài sản khổng lồ (3000 tỉ đô la), được hỗ trợ bởi Mỹ,
và các quốc gia Tây Phương hùng mạnh. Đảng Cộng sản chỉ có khoảng 2 triệu
Đảng viên, lỏng lẻo và đang có triệu chứng rạn nứt sau khi bị Đông Âu bỏ
rơi. Chúng ta chỉ cần tranh đấu (hoặc xúi người khác tranh đấu) cho một nền
dân chủ đa nguyên là chúng ta sẽ thắng ngay.
Bởi vì ở Mỹ như con biết, dù bầu cử tự do, nhưng ứng viên nào nhiều tiền
chắc chắn sẽ thắng! Ở Việt Nam mặc dầu Phật giáo thường rêu rao rằng có tới
80% là Phật tử, nhưng những người theo Đạo Phật thực sự hiểu biết giáo lý có
lẽ không tới 0.1%. Những Phật tử lưng chừng ta lôi kéo họ rất dễ, nhất là
người Việt Nam nào cũng thường có tật bất mãn với chính quyền!
Thì ra chính
tôi cũng đang bị mua chuộc bởi một chức vụ lãnh đạo trong tương lai! Nhưng
tôi vốn là một con người suy tưởng. Tôi cho rằng khi ta già rồi, nhìn lại
cuộc đời chỉ là một chuỗi ngày vất vả, tranh dành tiền bạc, tranh dành địa
vị, tranh dành ái tình, thì thật là đáng buồn. Cuộc đời phải có một ý nghĩa
gì khác nữa chứ. Nhiều người quan niệm một cách hời hợt rằng “đạo nào cũng
tốt cả, cũng dạy người ta ăn hiền ở lành”. Nhưng đọc kỹ lịch sử nhân loại
thì tôi không tin như vậy! Tôi sẽ tìm hiểu kỹ hơn. Lịch sử đã ghi rằng những
đế quốc hhùng mạnh xưa kia như đế quốc Hy Lạp, đế quốc La Mã, đế quốc Ba Tư,
đế quốc Mông Cổ, đến ngày sụp đổ là do những khủng hoảng nội tại chứ không
phải do ngoại nhân đánh phá. Sự sụp đổ của đế quốc Cộng sản Liên Xô gần đây
cũng không ra ngoài định luật này. Một khi những khủng hoảng nội tại không
giải quyết được thì đế quốc sẽ sụp đổ.
Nước Mỹ hiện
đang trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần hết sức trầm trọng, hậu quả khó
lường. Theo thống kê chính thức của chính phủ Mỹ được công bố trên nhiều tờ
báo, thì tại Mỹ hiện nay:
- Cứ 5 người
thì 1 người có vấn đề thần kinh.
- Cứ 5 gia
đình thì có 1 gia đình loạn luân (thường là sự giao hợp giữa người cha và
con gái).
- 1 trong 4
người da đen ở trong tù. Số người da đen ở trong tù nhiều hơn số tốt nghiệp
đại học.
- Mỗi ngày có
100,000 học sinh mang súng tới trường. Nghề dạy học ở Mỹ là nghề bạc bẽo
nhất.
- Tỷ số tội
phạm cao hơn 60 lần so với Nhật Bản.
Với những con
số như trên, người Mỹ đang cố gắng đi tìm một cái phao để tự cứu vớt. Và họ
đã tìm thấy: Đó là sự nghiên cứu và thực hành các đạo lý Đông phương. Các
trung tâm THIỀN mọc lên như nấm ở khắp nước Mỹ. Các đạo sĩ Ấn Độ, Nhật Bản,
Việt Nam, Trung Hoa, Tây Tạng, sang Mỹ giảng đạo được người Mỹ xin làm đệ tử
rất đông. Nhiều người được chính phủ Mỹ tài trợ mở cả trường đại học (như
Ngài Maharishi ở Iowa). Riêng thành phố nhỏ bé Berkeley có tới 7 trung tâm
Thiền. Nhiều đại học danh tiếng Mỹ (như Harvard, UC Berkeley ...) đã mở phân
khoa Phật học. Các nhà trí thức Âu Châu cũng đang gia công nghiên cứu về
Thiền và coi Thiền như một phương cách mang an lạc cho tâm hồn. Dân chúng Mỹ
và Âu Châu đang đua nhau hành Thiềân, từ bỏ những giáo điều cũ đã trói buộc
họ suốt bao thế kỷ, khiến Giáo Hoàng rất sốt ruột phải viết một cuốn sách để
đả phá và xuyên tạc Đạo Phật. Ngài ngăn cấm các tín đồ Công Giáo không được
hành Thiền. Nhưng ở đời cái gì càng ngăn cấm, người ta lại càng tò mò tìm
hiểu.
Riêng tôi
không a dua theo học để trở thành Phật tử một cách dễ dàng. Bởi vì tôi rất
thận trọng và sẽ không theo một tôn giáo nào, nếu tôn giáo đó không hội đủ
những điều kiện dưới đây:
- Tôn giáo đó
đã có từ ngàn xưa và suốt giòng lịch sử xem ra có lợi cho nhân loại.
- Tôn giáo đó
đem lại từ bi bác ái thật sự, không bao giờ truyền đạo bằng gươm súng, không
giết người. Các tín đồ không bao giờ cho phép các vị lãnh đạo được dùng tôn
giáo như một công cụ để chinh phục, để xâm lược bằng quân sự và ngoại giao.
- Tôn giáo đó
phải đem lại sự an lạc trong tâm hồn mỗi người từ khi còn sống.
- Tôn giáo đó
cho phép tín đồ được tự do nghiên cứu các tôn giáo khác.
- Khoa học
càng tiến bộ thì những điều dạy trong kinh sách của tôn giáo đó càng được
chứng minh, không bị đào thải.
- Và tôn giáo
đó không bao giờ coi mỗi tín đồ như một khách hàng, không phải đóng tiền cho
một giáo hội quốc tế.
Tôi chưa
nghiên cứu kỹ đạo Phật qua những vấn đề kể trên, do đó trên nguyên tắc tôi
vẫn là người Công giáo. Và tôi rất kính trọng Giáo Hoàng khi Ngài dạy rằng:
“Bước sang thế
kỷ 21, người Công giáo phải dọn mình công khai ăn năn sám hối về những tội
lỗi mà những người Thiên Chúa giáo thuộc giáo hội La Mã đã phạm trong qúa
trình lịch sử do việc bảo vệ đức tin một cách nhiệt thành và sai lầm”.
Tôi tin rằng
Ngài là một con người có lương tâm trong trắng và tôi theo dõi xem những
người Công giáo Việt Nam (trong đó có cả tôi và bạn bè tôi) sẽ ăn năn sám
hối ra sao về những tội lỗi đã gây ra trên quê hương Việt Nam, một quê hương
có quá nhiều đau khổ tủi nhục suốt 100 năm qua, kể từ khi người Công giáo
tiếp tay cho thực dân xâm lược.
ĐẠO PHẬT TRONG MẮT TÔI
Nguyễn Tử Đóa
MỘT
Dân tộc Việt Nam đang tự cởi trói và vận động tự cởi trói, trong đó có Phật
giáo. Vì vậy hòa khí giữa các tầng lớp dân chúng và các tôn giáo trong nước
và ngoài nước là một điều cần thiết, tối ư cần thiết, một điều sinh tử của
chúng ta. Do đó thay vì dùng từ ngữ “đối ngoại”, người viết chỉ xin trình
bày “cái nhìn của mình về đạo Phật”. Mỗi tổ chức của con người trong vũ trụ
qua mỗi thời, về đạo cũng như đời, đều có vấn đề của mình. Phật giáo có vấn
đề của Phật giáo. Thiên Chúa giáo Vatican cũng có vấn đề của mình. Giáo
Hoàng, vị chủ chiên cũng có vấn đề của Ngài và có cái nhìn riêng của Ngài.
Ngài đang “lão và bệnh”.
Cái nhìn của kẻ viết bài này được căn cứ vào kim chỉ nam của Phật Thích Ca:
“Suy nghĩ cho kỹ, thấy đúng rồi hãy theo”. Một số lý thuyết trừu tương và
khô khan được chọn lựa, đãi lọc hoặc trình bày đơn giản với ước mong bạn đọc
đặc biệt là những bạn không theo đạo Phật và độc giả thuộc thế hệ trẻ, nhìn
thấy vấn đề như người viết đã cố gắng trình bày một cách khách quan.
HAI
Tây phương là nơi phát xuất và khai triển khoa học. Người Tây phương rất
trọng tinh thần khoa học, luôn luôn tìm kiếm và phổ biến những điều mới lạ.
Các nhà triết học Tây phương luôn luôn suy tư về tôn giáo. Nối gót họ là các
văn hào và khoa học gia. Họ phân tách, chọn lựa, phê phán và phổ biến. Một
số đã cổ vũ cho Phật giáo như điển hình dưới đây:
(1) Văn hào H.G.WELLS (1866 – 1946)
“Lời giảng
dạy căn bản của ngài Cồ Đàm, nghiên cứu từ cội gốc ngày nay đã trở nên rõ
ràng, dễ hiểu và hoàn toàn phù hợp với những tư tưởng tân tiến. Đó là công
trình của một khối óc thông minh tuyệt vời của thế giới. Hơn hết mọi ảnh
hưởng khác trong lịch sử loại người, đạo Phật đã giúp nhiều nhất cho bước
tiến văn minh và văn hóa nhân loại”.
(The fundamental teaching of Gautama, as it is being made plain to us by
study of original sources, is clear and simple and in the closiest harmony
with modern ideas. It is beyond all disputes the achievement of one of the
most penetrating intelligences the world has ever known. Buddhism has done
more for the advance of world civilization and true culture than anyother
influence in the chronicles of mankind)
(2) Sau đó là văn hòa HERMAN HESSE (1877 – 1962) người đoạt giải văn chương
Nobel. Ông đã nghiên cứu đạo Phật tận gốc Ấn Độ, suy tư và nhập thế:
Ta
nhập thế bằng tình yêu bát ngát
Dù
cuộc đời vẫn quằn quại thương đau
Ông viết:
“Bất cứ ai, nếu chăm chú đọc một vài bài thuyết pháp của Phật (Thích Ca)
cũng sẽ nhận thấy sự nhịp nhàng, sự yên tỉnh của tâm hồn, sự cao đẹp vui
tươi, sự quyết tâm không mảy may lay chuyển, lòng yêu thương dạt dào và sự
kiên trì không bờ bến. Nhưng thuyết pháp của Phật chỉ là một phần sự đóng
góp của Ngài. Nửa còn lại là đời sống của Ngài, đời sống thực mà Ngài đã
sống ... một sự rèn luyện tinh thần cao độ mà ngài đã hoàn tất và đem ra
giảng dạy ... Thực vậy, Đức Phật đã hoàn tất việc rèn luyện chính mình và
đem ra áp dụng cho các đệ tử. Ngài đã lựa chọn mục tiêu và đã đạt được những
kết quả mà các nhà hành động chân chính nổi danh của Tây phương đã phải ngả
mũ kính phục”.
(Whoever attentively reads a small number of the countless speeches of
Buddha is soon aware of harmony in them, a quietude of soul, a smiling
transcendence, a totally unshakable firmness, but also invariable kindness,
endless patience ...The intellectual content of Buddha’s teaching is only
half of his work, the other half is his life, his life as lived ... a
training, a spiritual self training of the highest order was accomplished
and is taught here ... Buddha accomplished a training for himself and his
pupils, set up a goal, and produced results before which even the genuine
heroes of European action can only feel awe).
(3) Về khoa
học, tới nay chưa ai vượt qua được tên tuổi ALBERT EINSTEIN (1879 - 1955).
Thiên tài khoa học này đã viết:
“Tôn giáo của
tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ (cosmic religion). Nó cần vượt qua một
Thượng Đế cá thể, tránh những giáo điều và thần học. Bao gồm cả thiên nhiên,
vật lý và tinh thần. Nó cần y cứ vào một ý niệm tôn giáo vươn lên từ kinh
nghiệm của mọi thứ, kinh nghiệm về thiên nhiên (vật lý) và về tinh thần và
vươn lên từ một nhất thể tràn đầy ý nghĩa (meaningful unity). Phật giáo bao
gồm các thứ đó… Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được yêu cầu của nền khoa
học tân tiến, tôn giáo đó chính là Phật giáo”.
(The religion
of the future will be a cosmic religion. It should transcend a Personal God
and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual,
it should be based on a religious sense arising from the experience of all
things, natural and spiritual and a meaningful unity. Buddhism answers this
descripition… If there is any religion that would cope with modern
scientific needs it would be Buddhism).
(4) Ngày nay
ngành phân tâm học thuộc tâm lý học phát triển rất mạnh, đi sâu vào Tâm Lý
chiều sâu (psychologie de profondeur). Ông tổ của ngành này là bác sĩ CARL
C. JUNG (1875 - 1961) một người nghiên cứu rất sâu sắc về Thiền học, là bạn
thân của SUZUKI người nổi danh về Thiền học Nhật Bản. Bác sĩ Carl C.Jung đã
viết:
“Là một người
nghiên cứu về tôn giáo tỷ giảo, tôi tin tưởng đạo Phật là đạo hoàn toàn nhất
mà thế giới đã có. Triết thuyết tiến hóa và thuyết luân hồi cao đẹp hơn bất
cứ niềm tin nào khác. Không phải lịch sử tôn giáo, cũng không phải việc
nghiên cứu triết học mà chính nghề nghiệp y sĩ của tôi đã kéo tôi tới lãnh
vực tư tưởng Phật giáo. Công việc của tôi là chữa trị sự đau khổ về tâm
thần. Chính điều này đã đẩy tôi làm quen với quan điểm và phương pháp của
bậc thầy vĩ đại của nhân loại mà đề tài chính yếu là sự trói buộc của đau
khổ, già yếu, bệnh tật và chết chóc”.
(As a student
of comparative religions, I believe that Buddhism is the most perfect that
the world has ever seen. The philosophy of the theory of evolution and the
law of karma was far superior to my other creed. It was neither the history
of religion nor the study of philosophy that first drew me to the world of
Buddhist thought but my professional it was this that impelled me to become
acquainted with the view and methods of that great teacher of humanity,
whose principal theme was the chain of suffering, old age, sickness and
death).
(5) Về toán
học, người đã đưa môn học này tới đỉnh cao chót vót của triết học là nhà bác
học BERTRAND RUSSELL (1872 - 1970). Danh nhân này đã viết:
“Trong các tôn
giáo lớn của loài người, tôi chọn Phật giáo… Đạo Phật là sự phối hợp triết
học suy cứu (speculative) và triết lý của khoa học. Nó áp dụng phương pháp
khoa học để đi tới một cứu cánh hợp lý trong đó có những câu giải đáp cho
những thắc mắc quan trọng của con người.
Như:
Tâm và Vật là gì? Cái nào quan trọng hơn? Vũ trụ có tiến tới một cứu cánh
nào không? Cương vị của con người là gì? Có đời sống nào cao quý không? Đạo
Phật giải đáp những điều mà khoa học không có khả năng giải đáp vì khoa học
bị gò bó bởi phương tiện của nó. Đạo Phật có khả năng giải đáp những câu hỏi
liên quan tới tinh thần”.
(Of the great
religions of history I prefer Buddhism… Budddhism is a combination of both
speculative and scientific philosophy. It advocates the scientific method
and pursues that to a finality that may be called rationalistic. In it are
to be found ansers to such question of interest as: “What is mind and
matter? Of them which is of great importance? Is the universe moving towards
a goal? What is man’s position? Is there living that is noble?” It takes up
where science cannot lead because of the limitations of the latter’s
instruments. Its conquests are those of the mind).
BA
Năm danh nhân
trên đây tiêu biểu cho một số thức giả Tây phương sau khi đi tìm hiểu đạo
Phật. Họ đã dùng lý trí để phân tách, phán đoán trước khi quyết định. Niềm
tin của họ không phải tự nhiên mà có. Khối óc của họ mang tính chất duy lý
(rationalism). Tôi chắc những người này cũng chẳng để ý tới kinh kệ hoặc tới
chùa lễ Phật. Họ chỉ đọc sách, nghiền ngẫm, suy tư rồi quyết định. Thế thôi.
Họ cũng chẳng bao giờ ngân nga như chúng ta: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế,
ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha!”. Có thể một số đôi khi trầm tư và áp
dụng lời Phật dạy. Thế thôi, rất đơn giản và rất thực tế.
Nếu đem so
sánh những ý tưởng của năm danh nhân Tây phương trên đây, người viết xin
chọn Bertrand Russell. Cách trình bày của ông khúc triết, gọn gàng, trong
sáng như những con số trong bài giải đáp toán học. Đồng thời nó còn mang
tính chất vừa phân tách vừa tổng hợp của một bài luận văn triết học.
Theo ông, Phật
giáo vừa mang tính chất triết ký suy cứu vừa mang tính chất triết lý của
khoa học. Chúng ta có quyền hoài nghi: cách đây gần 26 thế kỷ khi Phật Thích
Ca tại thế, khoa học đâu đã có, đâu đã phát triển thì làm gì có triết lý của
khoa học.
Riêng kẻ viết
bài này khi mới đọc “Bát nhã tâm kinh” đã phải khựng lại vì mấy câu mở đầu:
“Quán tự tại
bồ tát hành thâm bát-nhã-ba-la-mật-đa, thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không,
không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành,
thức diệc phục như thị” (Bồ tát Quán tự tại đi sâu vào bát-nhã-ba-la-mật-đa,
nhìn thấy năm uẩn đều “không”, nên vượt qua được mọi điều đau khổ, Này! Ông
Xá Lợi Tử: sắc chẳng khác “không”, “không” chẳng khác sắc, sắc tức là
“không”, “không” tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức đều cũng như vậy).
Điều thắc mắc
của tôi được giải tỏa sau khi biết được những điều trên đây cũng là những
khám phá của khoa vật lý học hiện đại. Vì vậy Bertrand Russell gọi đó là
triết lý của khoa học. Chúng ta hãy nghe ROBER J.OPPENHEIMER, nhà vật lý,
cha đẻ ra trái bom nguyên tử đầu tiên của Hoa Kỳ viết:
“If we ask,
for instance, whether the position of the electron remains the same, we must
say “NO”; if we ask whether the electron’s position changes with time, we
must say “NO”; if we ask whether the electron is at rest, we must say “NO”;
if we ask whether it is in motion, we must say “NO”. The Buddha has given
such answers when interrogated as to the conditions of man’s self after his
death; but they are not familiar answers for the tradition of seventeenth
and eighteenth century science”.
(Ví dụ nếu hỏi
âm điện tử có ở mãi một vị trí không, chúng ta phải trả lời là không; nếu
hỏi vị trí của âm điện tử có thay đổi cùng với thời gian hay không, chúng ta
phải trả lời là không; nếu hỏi âm điện tử có di động không, chúng ta phải
trả lời là không. Đức Phật cũng trả lời như vậy khi được hỏi về tình trạng
của bản thể con người sau khi chết. Những câu trả lời đó xa lạ đối với
truyền thống khoa học thế kỷ 17 và 18).
Đạo học và
khoa học là hai đứa con đẻ của loài người. Đạo học có cái nhìn phóng chiếu,
soi sáng đường sống cho con người. Khoa học thì đi chậm chạp nhưng vững
chắc, lần mò, chứng minh cái nhìn của đạo học đúng hay sai. Quan niệm của
Đạo Phật “sắc” (form, matter) chẳng khác “không”, “không” chẳng khác sắc,
không tức là sắc, đang được khoa học lần mò bước tới. Đó là luật bổ túc
(complementarity) của Niels Bohr về ánh sáng: ánh sáng không là hạt cũng
không là sóng, nó vừa là hạt vừa là sóng, cả hai thứ bổ túc cho nhau, nó vừa
có, vừa là không. Trong tương lai khi luật bổ túc của Bohr được khai triển,
chắc rằng quan niệm “sắc-sắc-không-không” của Phật giáo sẽ được trình bày rõ
hơn trong khoa học. Cho tới nay giáo lý của Đạo Phật chưa có điều nào ngược
lại với khoa học. Vì vậy chưa có khoa học gia nào phản đối đạo Phật. Những
điều mà một số người gọi là huyền bí chỉ là những điều chưa được khoa học
chứng minh mà thôi, chưa chứng minh không có nghĩa trái với khoa học.
BỐN
Phật Thích Ca
Mâu Ni không phải là nhà khoa học. Nhưng Bertrand Russell đã nhìn thấy triết
lý khoa học của Ngài. Nhà khoa học bậc thầy của thế kỷ 20, Albert Einstein
lại đi xa hơn nữa bằng cánh xác quyết là Phật giáo là tôn giáo đáp ứng được
những yêu cầu của nền khoa học tân tiến.
Ý nghĩa trên
đây có thể dẫn chúng ta tới luận điểm: khi nghiên cứu bằng suy nghĩ (suy
cứu), thái tử Tất Đạt Đa đã đạt tới một hệ thống lập luận vững chắc, khít
khao, trong sáng, khúc chiết như ngày nay chúng ta tìm thấy trong những định
lý về khoa học vậy. Vấn đề chúng ta cần tìm hiểu: Ngài đã áp dụng phương
pháp nào để đạt tới mục tiêu đó?
Trước khi đi
tu, ý tưởng muốn cứu khổ chúng sanh ám ảnh thái tử ngày đêm, ngày thì suy
tư, đêm thì trằn trọc. Sau đó nó trở thành một vấn đề bắt buộc phải có giải
đáp, nếu không, nó sẽ ám ảnh làm chàng mất ăn mất ngủ, nó dày vò, nó cắn xé,
nó như đám mây đen từ chân trời lan rộng che kín mặt trời, làm u tối trái
đất.
Tới một hôm
thái tử nhìn thấy một đạo sĩ chống gậy đang chậm bước, nét mặt bình thản,
không bợn chút khắc khoải lo âu. Chàng quyết định: ta phải đi tu như đạo sĩ
này, ta phải đi tu để tâm hồn lắng xuống, ta phải đi tu để dứt bỏ phiền não,
ta phải đi tu để tìm ra giải pháp cứu khổ chúng sinh, trong đó có con người.
Thoát ly gia
đình, thái tử bỏ đi xa, tới một vương quốc khác. Tuần lễ đầu, chàng nhịn ăn,
thong thả bách bộ trong một rừng xoài. Lần lần những thói quen, những kỷ
niệm những hình ảnh, những vướng mắc của 29 năm trời sống trong nhung lụa
được từ từ gạt bỏ. Chàng hoàn toàn tự do trong tâm tưởng cũng như trong cuộc
sống mới của một nhà tu hành. Còn lại một vấn đề duy nhất: suy tư tìm lời
giải đáp cho bài toán cứu khổ. Suy tư bằng cách nào cho hữu hiệu? Tìm tòi
bằng cách nào cho chính xác? Chàng đã tìm thấy giải đáp: Yoga.
Yoga là sản
phẩm đặc biệt của dân tộc Ấn Độ cống hiến cho loài người. Yoga phát nguồn từ
cổ xưa trước khi có kinh Vệ Đà của đạo Bàlamôn. Nó được truyền khẩu trong
dân gian. Yoga có nghĩa đen là cái ách mà người dân quê khoác vào cổ trâu bò
hoặc ngựa để hướng dẫn nó trong việc kéo xe hoặc cày bừa. Với con người,
yoga là phương thức giúp ta làm chủ xác thân và tâm linh để tiến tới chỗ
giác ngộ và hòa hợp cùng vũ trụ. Trước khi áp dụng yoga người hành giả phải
gạt rửa cho thật trong sạch thể xác và tinh thần qua năm điều giới cấm và
năm điều luật dưới đây:
5 giới cấm:
(1)- Cấm sát sanh; (2)- Cấm nói dối; (3)- Cấm trộm cắp; (4)- Cấm dâm dục;
(5)- Cấm tham lam ích kỷ.
5 điều luật:
(1)- Trong sạch thể xác và tâm hồn; (2)- An phận sống an nhiên tự tại, diệt
bỏ cái “ta”; (3)- Bình thản chịu đựng mọi khổ hạnh; (4)- Cố gắng tu hành và
luyện tập; (5)- Tin kính, sùng bái Thượng đế Isvara của tôn phái Yoga.
Trong năm điều
giới cấm, cấm dâm dục là điều quan trọng nhất. Sau khi giác ngộ, Thích Ca đã
nói:
“Nếu tu phép
thiền định nhưng chẳng diệt trừ tâm ham muốn cũng ví như muốn nấu sạn đá
thành cơm vậy. Dầu trãi đến trăm ngàn kiếp cũng chỉ gọi là sạn đá nóng chứ
không thể gọi là cơm được. Nếu lấy cái tâm dâm dật mà cầu được diệu quả của
Phật, dầu ngộ được nhiệm mầu, cũng đều là dâm căn. Căn bản đã là dâm tất
phải trôi lặn trong ba đường khổ lụy chứ không đạt được tới giải thoát. Vậy
phải bỏ cái dâm của thân và tâm mới mong diệu quả được bồ đề của Phật”.
Riêng điều
luật thứ 5 (tôn kính, sùng bái thượng đế Isvara) đã trở thành một thứ ngăn
cản thái tử Tất Đạt Đa thiền định tới mức giác ngộ. Thái tử cho rằng nó là
một chướng ngại cho việc đi tìm phương thức cứu khổ loài người. Vì vậy Ngài
đã chối bỏ không chấp nhận.
Sau khi rửa
sạch thân và tâm mới tới 4 giai đoạn chính của YOGA:
(1)
Chế ngự giác quan (PRATYAHARA)
(2)
Tập trung quán tưởng (DHARANA)
(3)
Thiền (DHYANA)
(4)
Nhập đại định (SAMADHI)
Chính giai
đoạn 3 (Thiền) và 4 (Định) đã xây dựng hệ thống triết học suy cứu và triết
học khoa học như Bertrand Russell đã nêu. Thiền là tập trung quán tưởng vào
một ý niệm nào đó. Thí dụ quán niệm về sự khổ đau của con người, người hành
giả chú tâm suy tư về tất cả các sự việc liên quan tới khổ: khổ về thể chất,
khổ về tinh thần, khổ về cái “có”, khổ về cái “không”, khổ về sống, khổ về
chết, khổ vì mình, khổ vì người…
Định (Samadhi)
là trạng thái xuất thần và bất thần vươn tâm thức lên cao, thoát ra khỏi cái
“có” và cái “không”, đạt tới cội nguồn nơi phát sinh ra thần lực, tinh lực,
Phật lực, Phật tánh, bát-nhã-ba-la-mật-đa hoặc bất cứ một danh từ nào khác.
Nơi đó không có gì ngoại trừ tinh lực hoặc thần lực (force divine).
Đạt
được tới đó là giác ngộ, là SATORI. Thái tử Tất Đạt Đa đã tới được nơi đó
nên tự gọi mình là “người tới được nơi đó hoặc người từ nơi đó lại” (Như
Lai).
Theo
VIVEKANANDA, một đạo sĩ nổi tiếng của Ấn Độ giáo thuộc đầu thế kỷ 20 này,
người tu thiền định có thể khai thông được một nguồn tinh lực mới đầy năng
động vẫn tiềm ẩn trong mỗi con người chúng ta. Hệ thống tinh lực này gồm có
7 trung tâm chứa đựng đầy tinh lực của vũ trụ. Với người thường, hệ thống
này bị bế tắc, nhưng người tu thiền định có thể khai thông nó dễ dàng nếu
được một vị thiền sư có kinh nghiệm chỉ dẫn bí quyết.
(1)
Trung tâm thứ nhất nằm phía dưới chót xương sống. Theo Vivekananda đó là nơi
trú ngụ của con rắn lửa, người Tàu dịch là HỎA TAM MUỘI.
(2)
Trung tâm thứ nhì nằm ở cuối bụng dưới.
(3)
Trung tâm thứ ba nằm ở sau rốn.
(4)
Trung tâm thứ tư nằm ở chỗ trái tim.
(5)
Trung tâm thứ năm nằm ở nơi yết hầu.
(6)
Trung tâm thứ sáu nằm ở giữa hai lông mày.
(7)
Trung tâm thứ bảy nằm ở nơi đỉnh đầu.
Khi
trung tâm (1) được khai thông, luồng hỏa tam muội sẽ lan sang các trung tâm
kế tiếp. Khi nó lan tới đâu có thể bị nóng ran tới đó, nhiều khi mắt đổ hào
quang; người hành giả nếu không được hướng dẫn có thể bị điên khùng hoặc đứt
mạch máu trong óc.
Việc
thực hành HỎA TAM MUỘI (TUMO YOGA) đã được khoa học Tây Phương trắc nghiệm.
Năm 1979, khi đương kim Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng tới thăm Hoa Kỳ, bác sĩ
HERBERT BENSON, khoa trưởng phân khoa y học hành xử (behavoural medicine)
tại đại học Harvard có tới thăm và xin được nghiên cứu về trạng thái sinh lý
của người thực hiện thiền định thuộc trình độ cao cấp. Được Đạt Lai Lạt Ma
đồng ý, bác sĩ Benson với hai người phụ tá đã đem theo các máy móc đo lường
tối tân để thử nghiệm mấy vị sư Tây Tạng hành thiền lửa tam muội tại Ấn Độ.
Theo
Phật giáo, tâm thức (consciousness) của con người có nhiều lớp, trong đó có
hai lớp chính: lớp thô sơ và lớp vi tế. Lớp thô sơ là phần nhận thức của
mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Lớp vi tế là phần nhận thức rất siêu việt, tinh
vi, chỉ phát hiện ra khi con người sắp chết. Khi người hành giả khai thông 7
trung tâm sinh lực, họ có thể kiểm soát và tạm ngưng lớp tâm thức thô sơ và
đi vào sinh hoạt tâm thức vi tế. Khi này, thân nhiệt của hành giả gia tăng:
bác sĩ BENSON đo được nó cao hơn nhiệt độ trung bình tới 18 độ Fahrenheit
(hay 10 độ C). Bác sĩ đã đo cả ngoài da lẫn trong hậu môn. Nhiệt độ gia tăng
này có thể làm khô tấm vải nhúng nước lạnh quấn quanh thân thể các nhà sư
ngồi hành thiền dưới không độ. Ngay cả khi họ ngồi trên tuyết suốt đêm, thân
nhiệt của họ cũng không giảm; ngoài ra họ đã giảm thiểu số lượng khí hít vào
phổi, chỉ thở chừng bảy hơi trong một phút.
Thử
nghiệm trên đây là bước đầu tiên Tây phương dùng phương pháp khoa học để tìm
hiểu đạo học Đông phương. Họ tìm ra sự thực bằng con số nhưng không hiểu tại
sao. Vì đó là cái vi tế của tâm linh.
Theo
Phật giáo thế giới tâm linh gồm có 10 cảnh giới, theo từ dưới lên trên như
sau:
10.
Pháp giới địa (Phật giới)
9.
Tịch diệt địa (A la hán, Bồ tát)
8.
Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ-định
7.
Vô sở hữu xứ định.
6.
Thức vô biên xứ định.
5.
Không vô biên xứ định.
4. Tứ thiền.
3. Tam thiền.
2. Nhị thiền.
1. Sơ thiền.
Khi đạt tới
cảnh giới 10, Phật Thích Ca không nói cảm tưởng Ngài thế nào. Ngài chỉ cho
biết những gì ngài “nhìn” thấy:
“Phật tánh là
trong sạch và hoàn toàn, bao gồm tất cả nhưng không phân biệt cái này với
cái khác. Nó không phải là cái đầu óc giới hạn, không phải là
“khoảng-không-trống-rỗng”, không phải là đất, nước, gió; không phải là giác
quan hay toàn cơ thể, không phải là cảm giác, không phải là cảm xúc, không
phải lãnh vực của sự phân biệt của tri thức, không phải lãnh vực của ý thức
tùy thuộc vào sự suy nghĩ… Bản chất của cái tuyệt diệu thông minh đó không
thuộc về nhân quả, không thuộc về thiên nhiên hay hiện tượng, không thuộc về
sự gút mắc của sinh vật hay không sinh vật, không thuộc về cái “không-có”
hay “không-không-có”. Tuy nhiên nó bao gồm tất cả các hiện tượng”.
Tới cuối thế
kỷ thứ 19 mới có người diễn tả cảm tưởng của mình khi đạt tới mức độ cao
chót của đại minh. Người đó là RAMAKRISHNA, một đạo sư nổi danh của Ấn Độ
giáo, giáo chủ của đạo sĩ VIVEKANANDA. Ramakrishna đã cho văn hào Pháp
Romain Rolland biết ông đã nhập đại định tới tầng thứ 7. Sau đây là cảm
tưởng của ông khi tới mấy tầng trời chót:
“Tương tự như
con voi đạp đỗ hàng rào, tâm thức tôi bay vào tầng trời thứ tư. Như ngọn
đuốc, tâm hồn tôi cháy ngùn ngụt. Ánh sáng tỏa ra ra chung quanh. Tất cả
hình như cất lên tiếng ca kỳ lạ. Sau đó ánh sáng lan rộng, sáng chói như một
thái dương hệ. Đó là tầng trời thứ năm. Mỗi tế bào, mỗi nhịp đập của tim,
mỗi ý nghĩa đều quyện lấy hào quang… Bỗng một hôm tâm thức tôi đột nhập vào
tầng trời thứ sáu rồi tới tầng trời thứ bảy. Nơi đây không có lời nói của
loài người. Linh hồn tôi trở thành tự tại, khoác chiếc màn hoàn toàn im
lặng, chan hòa vào vũ trụ…”
Tầng trời thứ
bảy của Ramakrishna cao hơn hay thấp hơn Pháp giới địa của Phật Thích Ca?
Tôi không biết, không tò mò vì tôi không có tham vọng đi sâu vào Thiền định,
nhất là đại định
NĂM
Sau khi giác
ngộ, Phật Thích Ca dành ra bảy ngày đi quanh cây bồ đề để sắp xếp tư tưởng
thành một hệ thống suy luận khít khao, từ gần tới xa, từ thấp tới cao, từ cụ
thể tới trừu tượng. Nếu có ai hỏi về đạo Phật, kẻ viết bài này với sự hiểu
biết nông cạn chỉ xin được tóm lược bằng một vòng tròn với 4 chữ: sinh, lão,
bệnh, tử.
Nếu vòng tròn
đó bắt đầu từ đâu, xin trả lời: không bắt đầu từ đâu (vô thủy). Nếu hỏi
tiếp: nó chấm dứt ở đâu, xin trả lời: không chấm dứt (vô chung). Vòng tròn
đó là vũ trụ, là con người, là vạn sự vạn vật.
Con người và
các sinh vật khác cũng đều theo luật vòng tròn đó: sinh ra, lớn lên, già nua
rồi chết, rồi lại tái sinh và tiếp tục mãi như vậy. Sinh, lão, bệnh ai nấy
đều trôi qua hoặc đã biết, đã nhìn thấy. Riêng hình cung từ Tử tới Sinh đối
với Phật giáo là quan trọng nhất. Phật giáo quan niệm: chết không phải là
hết vì sau chết chúng ta sẽ tái sinh (reborn) trong một thể xác khác hoặc
một hình thức khác.
Năm 1992 tại
Hà Nội, nhà văn trẻ Trần Huy Quang đã viết một truyện ngắn “Ám Ảnh Có Thật”,
nội dung như sau: Có một cô gái nông thôn tên Thơm chồng chết sớm vì đi bộ
đội. Cô gặp một anh lính giải ngũ. Hai người yêu nhau. Anh bí thư chi bộ
cộng sản cũng yêu cô gái nên rất ghen tức, ngầm theo dõi. Một buổi tối trời
anh lính giải ngũ và cô Thơm lén lút gặp nhau ngoài đồng. Bí thư chi bộ huy
động dân quân lùng bắt. Anh lính giải ngũ thoát được vòng vây. Riêng cô Thơm
bị giải về trụ sở để lấy khẩu cung. Cô không nhận tội. Anh bí thư chi bộ
thét lên ra lệnh: “Con đĩ già mồm! Các đồng chí hãy khám xét nó thật kỹ. Có
tinh dịch đàn ông “trong ấy” là nó trắng mắt ra”. Bị sĩ nhục, cô gái ngay
đêm đó nhảy xuống ao làng tự tử. Hai năm sau bí thư chi bộ “tự nhiên hai con
mắt nổ tung con ngươi ra ngoài. Đi khắp nơi không chữa khỏi…” bài báo thật
ngắn gọn và thâm thúy. Số báo bị đảng ra lệnh tịch thu ngay. “Nổ con ngươi
cho trắng mắt ra” là cái nghiệp quả do tội ác gây nên. Nghiệp quả do tội ác
gây nên được đại sứ Ấn Độ Cưu Ma La Thập, cách đây 1600 năm dịch trong kinh
Kim Cương Bát Nhã ra tiếng Trung Hoa là “tội nghiệp”.
“NGHIỆP” là
một danh từ phổ biến nhất trong Phật giáo: nghiệp báo, nghiệp quả, nghiệp
lực, thiện nghiệp, ác nghiệp, tội nghiệp. “Nghiệp” là kết quả tạo nên do ý
nghĩ, lời nói hoặc hành động của một chúng sinh. Kết quả đóù có thể tốt hoặc
xấu, nó có thể xảy ra khi chúng sinh tạo ra nó còn sống hoặc đã chết. Khi
chúng sanh đó chết, “nghiệp” đó sẽ nhập vào một thể xác khác, trở thành tâm
linh của chúng sinh đó trong kiếp sau. NGHIỆP được dịch từ tiếng Phạn:
KARMA. Triết gia Hoa Kỳ William James (1842 - 1910) biết rất ít về đạo Phật
nhưng cũng đồng ý về lý thuyết NGHIỆP QUẢ, Ông đã viết: “I am ignorant of
Buddhism, but as I apprehend the buddhistic doctrine of karma, I agree in
principle with that.”
Sau danh từ
NGHIỆP, phổ quát không kém là danh từ KIẾP, được dịch từ tiếng Sanskrit:
SAMSARA. Danh từ SAMSARA cũng đã được quốc tế hóa. Xin các bạn trẻ hãy dở tự
điển Hoa Kỳ (bất cứ tự điển nào) để biết về định nghĩa của danh từ SAMSARA
(KIẾP).
Chúng ta đã
từng nghe danh từ kiếp luân hồi (luân = bánh xe, hồi = trở lại). Đó là vòng
tròn vô thủy vô chung mà ta đã đề cập trên đây.
Cái gì trở
lại? – NGHIỆP; vì NGHIỆP có sức đẩy vô hình của nó, cũng như khi ta ném một
hòn đá, tay đã buông ra nhưng hòn đá vẫn tiếp tục văng ra xa. Sức đẩy của
NGHIỆP được gọi là NGHIỆP LỰC.
NGHIỆP trở lại
đâu?
Trở
lại kiếp sau (SAMSARA).
Có
kiếp sau hay không? Thay vì trả lời, xin đưa ra hai nhân chứng: Đương kim
Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng và tiến sĩ ALEXANDER BERZIN (sinh năm 1944 tại New
Jersey). Đương kim Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng sinh năm 1935 tại tỉnh Amdo tít
phía Đông Bắc Tây tạng. Năm 1933 Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, vị tiền nhiệm của
ngài mất. Mấy năm sau một pháp sư niên trưởng đã nhìn thấy trên mặt hồ ở
phía Nam Tây Tạng nổi lên mấy chữ Tây Tạng Ah, Ka, Ma. Tiếp theo đó là hình
ảnh của một tu viện ba tầng với một đường mòn dẫn lên đồi. Sau đó là hình
ảnh một căn nhà nhỏ có máng xối hình dạng kỳ cục. Vị pháp sư già tin rằng
chữ A chỉ tỉnh Amdo, chữ K chỉ tu viện KUMBUM. Chính phủ liền cử một phái
đoàn vi hành lên Amdo. Họ tới tu viện Kumbum. Họ đi tìm căn nhà có máng xối
kỳ cục. Họ dấu kín mục đích đi tìm kiếm của họ. Họ chỉ xin ngủ lại một đêm.
Suốt tối hôm đó vị trưởng phái đoàn lân la chơi với chú bé nhất trong nhà
chừng 3 tuổi. Chú bé tươi cười, la lên: “SERA LAMA, SERA LAMA”. Mọi người
trong gia đình không ai hiểu. Riêng nhân viên trong phái đoàn thì trố mắt
ngạc nhiên và vui mừng vì chú bé nói tiếng thổ ngữ (dialect) của thủ đô
Lhasa cách đó tới ba bốn ngày đường. Câu đó có nghĩa là “Lạt ma ở Sera”.
SERA chính là tên tu viện của vị trưởng phái đoàn.
Mấy
ngày sau phái đoàn trở lại, đem theo một số đồ dùng của vị Đạt Lai Lạt Ma
tiền nhiệm, trộn lẫn với một số đồ vật trông tương tự nhưng không phải của
ngài. Mỗi lần một vật nào được đưa ra chú bé đều vồ lấy đúng vật của vị Đạt
Lai Lạt Ma tiền nhiệm và nói, “Của tôi! Của tôi!”. Cuộc trắc nghiệm này kết
thúc việc lựa chọn: chú bé được công nhận là Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, hậu thân
của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Chú bé đó là đương kim Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.
Nhân
chứng thứ hai là một người Hoa Kỳ, tiến sỹ Alexander Berzin. Từ năm 1969 khi
25 tuổi, ông đã cộng tác với Trung tâm định cư Tây Tạng tại Ấn Độ, làm thông
dịch viên cho nhiều vị thiền sư, trong đó có đương kim Đạt Lai Lạt Ma, ông
đã nghiên cứu kinh sách Phật giáo Tây Tạng, học hỏi và phỏng vấn rất nhiều
vị Lạt Ma. Theo chỗ ông biết được có chừng một ngàn vị Lạt Ma đã được công
nhận và được chứng minh đã tái sinh. Khi một vị Lạt Ma nào già chết những
người thân thuộc đi tìm kiếm xem vị Lạt Ma đó được tái sinh ở đâu, như
trường hợp vừa kể trên đây về đương kim Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.
Tiến
sĩ Berzin đã viết về trường hợp đại sư trưởng lão LING, vị thầy học, vị đỡ
đầu, vị cố vấn của Đạt Lai Lạt Ma như sau. Đại sư luôn luôn sống gần Đạt Lai
Lạt Ma. Năm 1968 khi ngài thở hơi thở cuối cùng, đại sư vẫn tiếp tục ngồi
thiền định, tâm thức vi tế (subtle consciousness) vẫn tiếp tục sinh hoạt,
kéo dài trong hai tuần lễ. Trái tim đại sư đã ngừng đập nhưng phía ngực bên
trái vẫn ấm. Ngày thứ 15 khi đại sư ngưng thiền định đầu ngài nghiêng đi,
vài giọt máu chảy qua lỗ mũi. Khi đó tâm thức ngài rời khỏi xác thân.
Tại
trung tâm tỵ nạng Tây Tạng mỗi năm có chừng vài ba trường hợp tương tự.
Hóa
thân của đại sư LING được tìm thấy qua cậu bé 21 tháng mới bập bẹ biết nói.
Sau khi sinh được mấy tháng, mẹ cậu bé chết. Nhà nghèo, ông bố phải gửi hai
anh em cậu vào Viện mồ côi. Anh cậu lớn hơn cậu chừng ba, bốn tuổi. Cậu anh
này thường nói: "Em tôi là một vị Lạt ma (đại sư) đó.
Đừng chòng
nghịch em tôi."
Một bữa một vị
thân cận của cố đại sư trưởng lão LING nằm mộng thấy hóa thân của ngài. Họ
đi tìm. Họ đưa ra các đồ dùng cũ kỹ, chú bé vồ lấy những thứ do lão đại sư
đã dùng lúc sinh thời. Họ đưa ra một tràng hạt, chú bé nhận lấy bằng hai tay
và ngồi lần tràng cũng bằng hai tay như cố đại sư đã làm. Chú được rước về
căn nhà cũ của đại sư. Chú nhận ra được mọi người trong nhà. Người ta bế chú
lên chiếc ghế cao. Hai ba ngàn người tới chúc mừng và chào chú. Chú xếp chân
bằng tròn trong một tiếng rưỡi đồng hồ, giơ hai tay nhận quà tặng của mọi
người rồi trao cho người đứng phục dịch bên cạnh. Cử chỉ của chú thật đàng
hoàng chững chạc như một vị đại sư. Chú ban phép lành cho mọi người. Sau đó
Đạt Lai Lạt Ma dùng cơm trưa với chú. Hai người ăn chung nhưng rất ít nói,
vì chú mới bập bẹ, đang học nói. Khi ăn xong Đạt Lai Đạt Ma từ biệt chú. Chú
nắm lấy áo ngài, khóc, nhõng nhẽo đòi ngài ở lại... Ba năm sau, chú bé đã
thuộc làu kinh kệ một cách dễ dàng.
SÁU
Thiền sư Huệ
Trung là đệ tử của Lục tổ Huệ Năng. Sau khi ngài tu bốn mươi năm trên núi,
vua Đường Túc Tông thỉnh ngài về kinh đô làm quốc sư. Một hôm Túc Tông hỏi
ngài:
- Bạch thầy,
thầy đã tu chứng tới mức nào rồi?
Thiền sư không
đáp, mờI vua ra ngoài sân chỉ lên trời, hỏi vua:
- Xin bệ hạ
cho biết đám mây trên trời kia do đinh đóng vào hay do dây buộc lại?
Ngài chỉ trả
lời có vậy. Nhưng vua Túc Tông đã nhìn thấy rõ: đạo như mây bay, không chứng
không đắc mà vẫn tự do tự tại.
Trong khi cầu
học, kẻ viết bài này cũng ví mình như mây bay. Nhưng không bay về Hy Mã Lạp
Sơn hoặc núi Thiên Thai. Chỉ mong được lơ lửng bay trên dãy Trường Sơn thân
yêu từ Nam tới Bắc, rồi sà xuống thăm viếng ngôi chùa nhỏ Vũ Lâm thuộc tỉnh
Ninh Bình, nơi cách đây chừng bảy thế kỷ Vua Trần Nhân Tông đã để lại một số
bài thơ tràn đầy bóng thiền na:
Vũ Lâm cảnh
Họa kiều
đảo ánh trám khê hoành
Nhất mạt tà
dương thủy ngoại minh
Tịch tịch
thiên sơn hồng diệp lạc
Thấp vân
hòa lộ tống chung thanh.
Tạm dịch: Cảnh
Vũ Lâm
Ngang suối
lung linh ngược bóng cầu
Nước in dìu
dịu nắng đìu hiu
Núi im lìm,
vèo bay lá úa
Thoáng mây
đưa tiễn tiếng chuông chiều.
Mây bay và
tiếng chuông thu không là hình bóng và âm thanh gắn bó với tiềm thức đối với
ai đã sống và lớn lên nơi thôn dã Việt Nam, trong đó có kẻ viết bài này.
Chính vì vậy người viết, mỗi ngày trước khi đi ngủ đều dành chừng nửa giờ để
tụng kinh và nghe những hồi chuông nho nhỏ ngân vang do mình tạo ra để đi
sâu vào quá khứ vang vọng nơi tiềm thức. Tụng kinh để tâm tư lắng đọng, vọng
động chìm xuống để sống an nhiên tự tại như đám mây lơ lửng của thiền sư Huệ
Trung. Đối với người viết, đó là Thiền. Đơn giản thế thôi. Người viết không
bao giờ có tham vọng nhập đại định để đạt tới Như Lai. Chỉ mong theo Như Lai
để tu học làm người, mong kiếp sau lại được làm người, nhất là người Việt
Nam.
Trước khi tụng
kinh, thấp nén hương, nhìn khói bay, lòng ghi ơn Phật Thích Ca, vị hướng
đường chỉ nẻo trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Tối hôm qua,
sau khi tụng kinh, nhìn Phật Thích Ca mờ nhòa trong khói tỏa, lòng bỗng nhói
đau. Từ nơi xa nghe vang vọng bài thơ mình đã dịch:
Cúi dâng bát
cơm tù
Xin cúng dường
Chư Phật
Thế gian dài
hận thù
Phẩm dâng tràn
nước mắt.
Nguyên bản bài
thơ viết bằng chữ Nho, nguệch ngoạc viết từ ở trong tù:
Phụng thử ngục
tù phạm
Cúng dường tối
thắng tôn
Thế gian
trường huyết hận
Bỉnh bát lệ
vô ngôn.
Tác giả bài
thơ là Tuệ Sỹ, một nhà sư mình chưa gặp nhưng tư tưởng rất gần gũi thân yêu.
Bỗng lại văng vẳng nghe tiếp:
Phố trưa nắng
đỏ cờ hồng
Người yêu cát
bụi đời không tự tình
Sầu trên thế
kỷ điêu linh
Giấc mơ hoang
đảo thu hình tịch liêu
Hận thù sôi
giữa nắng chiều
Sông tràn, núi
lở nước triều mênh mông
Khói mù lấp
kín trời Đông
Trời ơi tóc
trắng rủ lòng quê cha
Con đi xào xạc
tiếng gà
Đêm đêm trông
bóng Thiên hà buồn tênh
Đời không cát
bụi chung tình
Người yêu
cát bụi quê mình là đâu?
Tối tắt đèn
đi ngủ. Vừa nằm xuống bỗng thấy nước mắt tràn ra.
( Hết)
Posted in: Tôn Giáo
Gửi email bài đăng này
BlogThis!
Chia sẻ lên Facebook
0 nhận xét:
Đăng nhận xét