Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013
Bàn về nợ công và bản chất của nợ công
Nợ công vượt
quá cao so với mức an toàn ở những nền kinh tế phát triển, đang trở
thành chủ đề nóng hiện nay bởi đó là yếu tố có nguy cơ đe dọa những dấu
hiệu phục hồi của nền kinh tế toàn cầu, làm người ta lo ngại tới viễn
cảnh nền kinh tế một lần nữa lại rơi vào tình trạng suy giảm. Vậy nợ
công là gì, hậu quả của nó ra sao, và cần nhìn nhận xem xét vấn đề này
như thế nào?
Một cách khái quát nhất, có thể hiểu nợ chính phủ, nợ
công hoặc nợ quốc gia là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc
mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản
thâm hụt ngân sách, vì thế, nợ chính phủ, nói cách khác, là thâm hụt
ngân sách luỹ kế tính đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô
của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu
phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Nợ chính phủ thường được phân thành: Nợ trong nước
(các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản
vay từ người cho vay ngoài nước). Việc đi vay của chính phủ có thể được
thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ
chức, cá nhân. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là
không có rủi ro tín dụng vì chính phủ vì có thể tăng thuế thậm chí in
thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn. So với trái phiếu
chính phủ phát hành bằng nội tệ, trái phiếu chính phủ phát hành bằng
ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao
hơn vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán, thêm vào đó
còn có thể xảy ra rủi ro về tỷ giá hối đoái.
Ngoài việc vay bằng cách phát hành trái phiếu nói
trên, chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương
mại, các thể chế tài chính quốc tế, chẳng hạn Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)…
Hình thức vay này thường được chính phủ của các nước có độ tín cậy tín
dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành
trái phiếu chính phủ của họ không cao.
Thấy gì từ cuộc khủng hoảng nợ công hiện nay?
Khi nợ công tăng cao, vượt quá xa giới hạn được coi
là an toàn, nền kinh tế rất dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép cả bên
trong và bên ngoài. Xung quanh diễn biến về cuộc khủng hoảng nợ công
với tâm chấn là Hy Lạp và có nguy cơ lan tỏa sang nhiều nền kinh tế
khác, có thể rút ra một số điều:
Thứ nhất, nợ công không chỉ là vấn
đề của những nước chậm hoặc đang phát triển. So khoản nợ công với GDP,
hiện nay, gánh trên vai gánh nặng nợ công lớn nhất là các nền kinh tế
phát triển. Các chuyên gia của IMF cho rằng, theo kịch bản tương đối lạc
quan, trong năm 2014, nợ của "10 nước giàu nhất" sẽ lên trên mức 114%
GDP, còn theo kịch bản bi quan, con số này là 150% GDP.
Thứ hai, khi nợ công quá lớn, việc
thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách "thắt lưng buộc bụng" để giảm
thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cần
thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, "thắt lưng buộc bụng"
lại dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căng
thẳng, bất ổn chính trị, xã hội, bởi những người nghèo, những người yếu
thế trong xã hội là những người bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt
giảm phúc lợi, cắt giảm chi tiêu của chính phủ. Chẳng hạn, để được nhận
gói cứu trợ nhằm giải quyết khủng hoảng nợ, Chính phủ Hy Lạp đã phải
quyết định tăng nhiều loại thuế, từ thuế giá trị gia tăng đến thuế thu
nhập, thuế bất động sản; và đánh thuế vào nhiều sản phẩm như rượu, thuốc
lá…, đồng thời chấp nhận áp dụng các biện pháp cắt giảm chi tiêu mạnh
tay. Để phản đối chính sách này của chính phủ, các cuộc tổng đình công
đã diễn ra, hàng chục ngàn người đã tham gia biểu tình trên khắp đất
nước Hy Lạp, nhất là tại thủ đô Athens.
Trong một phát biểu tại một cuộc họp ở thủ đô Buenos
Aires hồi đầu tháng 5-2010, Tổng thống Argentina đã nói, ngày nay, chúng
ta đang phải chứng kiến những hình ảnh đau buồn tại Hy Lạp. Tình trạng
rối loạn đang xảy ra ở nước này gợi chúng ta nhớ về những gì mà
Argentina đã phải trải qua hồi năm 2001. Những công thức tương tự từ các
tổ chức tín dụng đa phương yêu cầu cải cách, trong đó có việc cắt giảm
mạnh tay chi tiêu ngân sách, là nguyên nhân then chốt gây ra rối loạn.
Các tổ chức tín dụng đa phương này không hiểu được những gì đang diễn ra
trên thế giới nói chung và trong xã hội Argentina hay Hy Lạp nói riêng.
Năm 2001, Argentina đã phải đối mặt với tình trạng
rối loạn nghiêm trọng do các làn sóng biểu tình khắp nơi phản ứng các
biện pháp "thắt lưng buộc bụng", để rồi Tổng thống Argentina khi đó là
ông Fernando de la Rúa đã phải từ chức, và 4 ngày sau đó, người kế nhiệm
là Adolfo Rodríguez Saá phải tuyên bố tình trạng vỡ nợ quốc gia, với
khoản nợ 90 tỉ USD – mức nợ lớn nhất trong lịch sử đất nước này.
Thứ ba, trong thời điểm hiện nay,
khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủng hoảng, bắt đầu có dấu hiệu
phục hồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế mà chính phủ các
nước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu,
tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làm
chậm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào "khủng
hoảng kép". Nghiêm trọng hơn, việc tung ra các gói kích thích kinh tế
chính là một trong những nguyên nhân làm tăng nợ công của các chính phủ,
vậy nếu như khủng hoảng “tái xuất” thì liệu các chính phủ có còn đủ khả
năng xoay xở, cứu vãn nền kinh tế của mình? Vấn đề đặt ra cho các chính
phủ là phải chèo lái để giải quyết được thâm hụt ngân sách nhưng không
đẩy nền kinh tế trở lại tình trạng suy thoái, trong khi các biện pháp để
giải quyết hai vấn đề này lại có tác động không thuận chiều.
Thứ tư, khi nợ công liên tục tăng
cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên
đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác, niềm tin của người
dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu
tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế. Thí dụ, đối với Hy Lạp, khi tổ
chức xếp hạng tín dụng Standard & Poor’s hạ bậc tín nhiệm đối với
trái phiếu chính phủ của Athens, các quỹ đầu tư lớn lập tức bán ra loại
trái phiếu này, đồng thời từ chối mua vào trong các đợt phát hành tiếp
theo. Nếu chính phủ muốn huy động tiền từ thị trường tài chính sẽ phải
chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó, rơi vào vòng xoáy: tiếp tục bị
tụt bậc tín nhiệm. Việc đưa ra xếp hạng tín nhiệm trong thời điểm nhạy
cảm, dễ tổn thương của nền kinh tế có nguy cơ làm cho cuộc khủng hoảng
thêm trầm trọng, có tác dụng như một "cú huých", đẩy nền kinh tế lún sâu
thêm vào khó khăn, bế tắc.
Thứ năm, việc căn cứ vào mức nợ công
trên GDP để xác định tình trạng nợ công là hết sức quan trọng, tuy
nhiên, điều quan trọng không kém là phân tích "thực chất" nợ công. Đó
là: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài; tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế, hay tình trạng "sức khỏe" nói chung của nền
kinh tế; lượng dự trữ quốc gia… Chẳng hạn, vào năm 2010, dư luận lo ngại
liệu Nhật Bản có thể trở thành “một Hy Lạp thứ hai”, thế nhưng, một số
nhà phân tích, khi phân tích nợ công của Nhật Bản đã cho thấy có sự khác
biệt khá lớn giữa nợ công của nước này với nợ công của Hy Lạp, thể hiện
ở chỗ, 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân nước này nắm
giữ, trong khi 70% nợ chính phủ Hy Lạp do người nước ngoài nắm giữ. Bên
cạnh đó, Nhật còn tự chủ về tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật
cũng ở mức rất cao (theo con số mà Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày
12-5, tính đến cuối tháng 4-2010, dự trữ quốc gia của Nhật là 1.046,873
tỉ USD). Do vậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù ngoài nợ công cao còn đứng
trước nhiều khó khăn khác nữa, nhưng vẫn được dự báo là khó có thể trở
thành mục tiêu tấn công của giới đầu cơ quốc tế.
Như vậy, việc đánh giá đúng nợ công và “thực chất” nợ
công của một nền kinh tế, một quốc gia là vô cùng quan trọng, đặc biệt
trong những thời điểm nhạy cảm. Bởi lẽ, nếu chỉ chú trọng vào con số tỷ
lệ nợ công cao một cách thuần túy sẽ gây nên hiệu ứng tâm lý hoang mang,
kích động, thiếu tin tưởng, làm gia tăng căng thẳng xã hội, bị giới đầu
cơ lợi dụng tấn công, dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn nền
kinh tế đến bên bờ vực phá sản. Ngược lại, nếu yên tâm với tỷ lệ nợ công
còn trong giới hạn an toàn, mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng
mức đến khoản nợ đó được hình thành như thế nào, bằng cách nào, thực
trạng nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ thế nào…, cũng sẽ dễ đẩy nền
kinh tế rơi vào vòng xoáy thâm hụt ngân sách – "thắt lưng buộc bụng" –
tác động tiêu cực đến tăng trưởng...
Theo TẠP CHÍ CỘNG SẢN


14:10
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét