Nhân cách là
đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học khác nhau, như triết học, xă hội
học, kinh tế - chính trị học, luật học, tâm
lư học, y học, giáo dục học… Trong đó, quan
điểm tâm lư học về nhân cách con người, về
cơ bản, có những khác biệt so với quan
điểm của các khoa học cụ thể. Theo đó,
nhân cách trước hết là đặc trưng xă hội
của con người, là "phẩm chất xă
hội" của con người. Khi nghiên cứu về
nhân cách, một trong những vấn đề đầu
tiên và cũng là then chốt, là vấn đề sự h́nh
thành nhân cách. Giải quyết vấn đề này theo
những cách khác nhau sẽ dẫn tới quan niệm khác
nhau về bản chất của nhân cách.
Nhân cách là
đỉnh cao nhất của sự phát triển tơm lớ cuả con
người, của tự ư thức và tự điều
chỉnh bản thân con người. Sự phát triển và
hoàn thiện nhân cách con người đang trở thành trung
tâm chú ư của nhiều nhà nghiên cứu. Trong điều
kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật hiện nay, nhân tố con người trở lên
cấp bách th́ sự hiểu biết về vấn
đề nhân cách là tiền đề của việc
đầu tư có hiệu quả vào sự phát triển
con người - yếu tố quyết định mọi
sự phát triển trong xă hội. Vấn đề nhân cách
được coi là một trong những vấn đề
cơ bản song cũng là một vấn đề
phức tạp nhất của khoa hoc tơm lớ nói riêng và
của khoa học xă hội và nhân văn nói chung. Giải
quyết đúng vấn đề nhân cách sẽ cho phép
giải quyết được những vấn đề
khác của tơm lớ học và của nhiều lĩnh
vực đời sống đặc biệt là trong
lĩnh vực giáo dục.
Bởi v́, giáo duc tác động vào từng nhân cách
để trở thành những nhân cách theo yêu cầu phát
triển của xă hội. Giáo dục là một nhân tố
tích cực tạo nên nguồn nhân lực. Phẩm chất
năng lực con người quyết định sự
phát triển xă hội.
Ở Việt
Nam cùng với Khoa học công nghệ, Giỏo dục
được coi là quốc sánh hàng đầu. Tốc
độ công nghiệp phát triển cao về kinh tế,
văn hoá, xă hội đang có sự thay đổi rơ nét. Bên
cạnh đó c̣n tồn tại các tệ nạn xă hội,
như các tệ nạn tham nhũng gây ảnh hưởng
rất lớn đến chủ nhân tương lai của
đất nước đó là trẻ em.
Sự h́nh thành
và phát triển nhân cách con người là một vấn
đề rất quan trọng, trẻ em có nhiều thay
đổi về mặt tâm lư và sinh lư nên nhu cầu hoàn
thiện nhân cách để thích nghi với xă hội hoá và có
thái độ tích cực hơn trong cuộc sống là
cực kỳ quan trọng. Chính v́ vậy từ xưa
đến nay không chỉ cú cỏc nhà tâm lư học Việt
Nam Nghiên cứu về sự h́nh thành và phát triển nhân
cách. Vấn đề này đă được các nhà
triết học Phương Đông nghiên cứu như
Khổng Tử, Mạnh Tử, các nhà tâm lư học
Phương Tây như S.Freud, J.Piaget,
A.N.Leonchiev…Ở Việt Nam
có những nhà nghiên cứu như Chủ Tịch Hồ Chí
Minh, hay các nhà tâm lư học như Phạm Minh Hạc,
Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Ngọc Bích đă rất tâm
huyết về vấn đề nhân cách.
Chính v́ lư do
đó mà tôi chọn đề tài "Nhân cách và sự h́nh
thành nhân cách theo các nhà tâm lư học Việt Nam" làm
tiểu luận của chuyên đề Tâm lư học nhân cách
trẻ em.
Mục đích
của đề tài t́m
hiểu các quan điển, tư tưởng của các nhà
tâm lư học Việt Nam nghiên cứu về sự h́nh thành
và phát triển nhân cách con người.
Để thực hiện
được mục đích đề ra đề tài cần
phải giải quyết hai nhiệm vụ:
Tỡm
hiểu một số vấn đề chung về sự
h́nh thành và phát triển nhân cách con người.
Nhân cách là đối
tượng nghiên cứu của tâm lư học xă hội.
Cơ sở lư luận :Dựa
trên cơ sở góc độ khoa học tâm lư, chủ
nghĩa Mác –Lờnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và
những quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về Giỏo dục và Đào tạo nguồn
nhân lực cho sự phát triển của đất
nước.
Phương pháp
quan sát và tự quan sát.
Phương pháp
nghiên cứu tài liệu,sỏch bỏo.
Khi nh́n nhận và đánh giá một quốc gia
một khu vực nào đó trên thế giới,về
mức độ phát triển cao hay thấp, giàu hay
nghốo thỡ trước hết chúng ta phải xem xét
về nền giáo dục của quốc gia khu vực
đó, quả thực vấn đề giáo dục là
một vấn đề rất quan trọng, mà bất
cứ một quốc gia nào, khu vực nào trên thế
giới, cũng phải đầu tư và quan tâm hàng
đầu. Bởi giáo dục và đào tạo là tạo ra những đội
ngũ tri thức, công nhân, học sinh, giáo dục
để tạo điệu kiện cho con người
ngày càng hoàn thiện nhân cách của ḿnh …
Đú
chính là nguần nhân lực dồi dào, tạo cho con
người có cả ư thức, tri thức, đạo
đức năng lực phẩm chất nhân cách,
để bổ sung vào sự nghiệp xây dựng
đất nước ngày càng
phát triển hơn, cả về kinh tế, văn hoá, xă
hội.
Trải
qua hàng ngh́n đời vấn đề giáo dục ở
Việt Nam ngày càng được phát triển và
được Đảng Nhà nước ta quan tâm hàng
đầu. Nhất là giáo dục ở vựng sơu, vùng xa, vùng
núi cao và hải đảo những nơi mà nền kinh
tế, văn hoá chưa phát triển, để sao cho
mặt bằng dân trí giữa cỏc vựng, các tỉnh
thành không có sự cách biệt
quá xa về tŕnh độ văn hoá, đặc biệt
trong giai đọan hiện nay, khi nước ta đang
hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng xă
hội, xă hội chủ nghĩa ngày càng giàu đẹp
văn minh lịch sự, th́ sự nghiệp giáo dục là
một vấn đề quan trọng và được quan
tâm hàng đầu, trong sự nghiệp công nghiệp công
nghiệp hoá và hiện đại hóa đơt nước, và xây dựng
đát nước ngày càng phát triển hơn.
Bên cạnh đào tạo
đội ngũ tri thức, công nhân lành nghề, th́
cần giáo dục cỏi tơm yờu nghề, năng
lực đạo đức.Theo ứng xử giữa con
người, để con người từ một cá
thể sinh học trở thành một nhân cách sống trong
mỗi con người, bởi tài và đức phải
luụn đi đôi với nhau, không tách rời nhau th́
mới có thể đem lại hiệu quả tốt trong
công việc và trong giao tiếp ứng xử con
người với con người.
Khái
niệm nhân cách biểu hiện tính chính thể dải
thể cuộc sống. Ngày nay vấn đề nhân cách
được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
trong quá tŕnh phát triển của các khoa học đặc
biệt là các khoa học xă hội, đ̣i hỏi phải
nghiên cứu nhân cách, trong xă hội loài người có quan
hệ lẫn nhau, và con người là trung tâm của các
mối quan hệ, v́ vậy con người phải
được thể hiện như là một nhân cách.
Xây
dựng con người xă hội chủ nghĩa phải
gắn liền với xây dựng nhân cách phát triển hài
hoà, đó là đ̣i hỏi cấp bách của sự
nghiệp, xây dưng con người đạo đức
trí tuệ, trong thời kỳ đổi mới hiện
nay.
Nhân
cách là một cấu tạo trọn vẹn thuộc
loại đặc biệt,nhơn cách không phải là chính
thể được chế định theo kiểu di
truyền tức lá “người ta sinh không phải là nhân
cách người mà người ta phải trở thành
một nhơn cỏch”.“Nhân cách là một sản phẩm
tương đối muộn của sự phát triển
xă hội lịch sử và của sự tiến hoá cá
thể con người” nhân cách là một cấu tạo
chuyên biệt của con người mà không thể rút ra
từ hoạt động thích ứng của nó, cũng
không thể tự hoạt động đó mà rút ra ư
thức của con người hay nhu cầu.
Hiện
nay về mặt tâm lư học người ta chú ư
đến vấn đề sau đây về nhân cách,
bản chất nhân cách, cấu trúc nhân cách các yếu tố
h́nh thành nhân cách, các cơ chế h́nh thành nhân cách, các
phương pháp nghiên cứu nhân cách, vị trí của tâm lư
học nhân cách trong hệ thống khoa học khác. Nhưng
ở đây tôi chỉ đề cập đến vấn
đề khái niệm nhân cách, hay bản chất nhân cách
trước hết điểm qua một số quan
điểm về nhân cách tồn tại quan diểm.
Quan
điểm cho bản chất nhân cách là thuộc tính sinh
vật hay nói cách khác là sinh vật hoá bản chất nhân
cách. Nhân cách được coi là bản năng t́nh dục
(s.freud) là đặc điểm của hinh thể
(krestchmer) …
Bản
chất nhân cách là tính con người (trường phái nhân
văn đại diện là C:ROGERS, A.MASLOW…Những
người ở trường phái này đều quan tâm
đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của con
người. A.MASLOW cho rằng xă hội nằm trong
bản năng con người,những nhu cầu như
giao tiếp, t́nh yêu kính trọng đều có tính bản
năng …đặc trưng cho giống người, nhân
cách là động cơ tự động điều hành
(G.ALLPORT.) những quan điểm này đều đề
cao tính chất tự nhiên sinh vật của con
người, phủ nhận
bản chất của nhận bản chất xă
hội của nhân cách.
Nhân
cách đồng nghĩa với khái niệm con người,
K.K.dlatnov nhân cách con người có ư thức, c̣n con
người có tâm lư từ khi có ngôn ngữ lao động,
quan điểm này nói về cái chung cái đặc trưng
nhất của con người, mà không chú ư đến
đặc cái thù riêng cỏi riờng của nhân cách.
Nhân
cách được hiểu như cá nhân con người
với tư cách là chủ thể của mỗi quan hệ
và hoạt động có ư thức (A.Gkovalev,X.Ikon) hiện
nay quan điểm này được đa số các nhà tâm
lư học xă hội chấp nhận, coi nhân cách là cá nhân, cá
thể so vơi tập thể xă hội.
Nhân
cách được hiểu như là thuộc tính nào đó
tạo nên bản chất nhân cách như thuộc tính ổn
định. Các thuộc tính sinh vật, hoặc tính xă
hội. Pbueva cho rằng nhân cách là con người với
toàn bộ phẩm chất xă hội của nó.
Nhân
cách là tâm thế (D.N.ZNAdze, là thái độ V.N.Mia XiSev là
phương thức tồn tại của con người
trong xă hội, trong điều kiện lịch sử,
cụ thể. Những quan điểm này chỉ chú ư
đến các đặc điểm chung nhất của
nhân cách, đó cũng chưa thể hiện
được tính toàn diện trong định nghĩa nhân
cách.
Nhân
cách cấu tạo tâm lư mới được h́nh thành trong
mụĩ quan hệ sông của cá nhân do kết quả
hoạt động cải tạo của con người
đó. K.Obuchowxki định nghĩa nhân cách như sau. Nhân
cách là sự tổ chức những thuộc tính tâm lư
của con người có tính chất điểu kiện
lịch sủ xă hội, ư nghĩa của nó cho phép giải
thích và dự đoán hành động cơ bản của
con người (K. Obuchowxki, lư luận tâm lư của việc
xây dựng và phát triển nhân cách trong cuốn M.1981).
Từ
bảy quan niệm nhân cách trên, cho đến nay vẫn chưa
có trường phái nào giải quyết thoả đáng
vấn đề bản chất của nhân cách.
Các
nhà tâm lư học cho rằng khái niệm nhân cách là phạm trù
xă hội và có bản chất xă hội lịch sử” Nhân
cách là tổ hợp những đặc điểm,
những thuộc tính tâm lư, biểu hiện bản sắc
và giá trị của con người”
Ở
Việt Nam theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn
Tâm lư học nhân cách th́ chưa có một định
nghĩa nhân cách nào một cách chính thống. Song cách hiểu
của người Việt Nam về nhân cách có thể theo
các mặt sau đây:
Nhân cách
được hiểu là con người có đức và
tài hay là tính cách và năng lực hoặc là con người
cú cỏc phẩm chất: Đức, trí, thể, mỹ,
lao (lao động).
Nhân cách
được hiểu như các phẩm chất và năng
lực của con người
Nhân cách
được hiểu như phẩm chất của con
người mới: Làm chủ, yêu nước, tinh thần
quốc tế vô sản, tinh thần lao động.
Nhân cách
được hiểu như mặt đạo
đức, giá trị làm người của con
người. Theo cách hiểu này, tác giả Nguyễn Quang
Uẩn trong cuốn tâm lư học đại cương (Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội) nêu lên định
nghĩa nhân cách như sau:Nhơn cỏch là tổ hợp
những đặc điểm, những thuộc tính tâm lư
của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị
xă hội của con người. Nhân cách là sự tổng
hoà không phải các đặc điểm cá thể của
con người mà chỉ là những đặc điểm
quy định con người như là một thành viên
của xă hội, nói lên bộ mặt tâm lư - xă hội, giá
trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân.
Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm,
những thuộc tính tâm lư của cá nhân, biểu hiện
bản sắc và giá trị xă hội của con
người. Nhân cách là sự tổng hoà không phải các
đặc điểm cá thể của con người mà
chỉ là những đặc điểm quy định con
người như là một thành viên của xă hội, nói
lên bộ mặt tâm lư - xă hội, giá trị và cốt cách
làm người của mỗi cá nhân.
Đây
là định nghĩa về nhân cách được
chấp nhận rộng răi ở Việt Nam.
Như
vậy nhân cách là sự tổng hoà, không phải là những
đặc điểm của con người. Mà chỉ là
những đặc điểm quy định con
người như là một thành viên của xă hội nói
lên bộ mặt tâm lư xă hội, giá trị cốt cách làm
người của mỗi cá nhân.
Qua
khái niệm về nhân cách trên chúng ta thấy nhân cách có
một số đặc điểm sau.
Tính thống nhất :Thống nhất
giữa lời nói và việc làm, thống nhất, giữa
đạo đức và tài, giữa ư thức và hành
động, hành vi ứng xử trong cộng đồng,
nhóm.
Tính
ổn định : nhân cách con người là quá tŕnh h́nh
thành từ từ, nhân cách là tổ hợp các thuộc tính
ổn định, tiềm tàng của cá nhân, nó khú h́nh thành
mà nó cũng khó mất đi.
Tính
tích cực của nhân cách : Nhân cách của con người
là chủ thể của
hoạt động và giao lưu các mỗi quan hệ
giữa người này và người khác.
Nhân
cách con người luân cải tạo thế giới khách
quan và biến thế giới khách, thành sản phẩm
phục vụ cho con người, không phải ai cũng có
mà chỉ có ở người có nhân cách mới có.
Tính
giao lưu :Nhân cách của con người có thể tồn
tại và phát triển thông qua hoạt động và giao
lưu với người khác và nhờ đó con
người tiếp thu,lĩnh hội các tri thức, kinh
nghịờm, văn hoá, xă hội của loài người
mà biến thành nhân cách riêng của mỡnh. Đú chớnh
là bốn đặc điểm của nhân cách nó rất
quan trọng đối với đới sống con
người.
Từ
trước đến nay có rất nhiều ngành khoa
học nghiên cứu con người chứa đựng
những nội dung khác nhau dựa trên mục đích và
phương diện nghiờn cứu,cú khái niệm cho
rằng
“Con
người là thành viên của một cộng đồng
một xă hội, và vừa là thực thể tự nhiên, và
thực thể xă hội”.
Ở
định nghĩa về con người được
thừa nhận rộng răi "con người là thực
thể sinh vật- xă hội và văn hoỏ” cần nghiên
cứu con người theo cả ba
mặt.
Con
người bản năng, coi con người là tồn
tại sinh vật, con từ khi hinh thành là tồn tại
sinh vật. Trên thực tế con người có bản
năng sinh tồn, nhưng bản năng của con
người khác hẳn bản năng con vật.
Các
nhà nghiên cứu cho rằng sự phát triển xă hội loài
người " con người bản năng con
người kỹ thuật con người chính tri và con
người xă hội” đều nói lên tiờu trớ tâm
lư cực kỳ quan trọng của con người.
Khác
với quan điểm trờn, Mỏc đưa ra một
quan điểm khoa học về con người…
"Bản chất của con người không phải là
cái ǵ tŕu tượng, vốn có của mỗi cá nhân riêng
biệt, trong hiện thực của nó bản chất con
người là tổng hoà các mối quan hệ xă
hội"
Như
vậy con người là một sản phẩm của
lịch sử xă hội mang những phẩm chất
thuộc tính có ư nghĩa xă hội được h́nh thành
trong qỳa trỡnh tác động qua lại giữa người
với người, trong xă hội con người cũng
là chủ thể các hoạt động, là lực
lượng sáng tạo ra các giá trị vật chất và
tinh thần cho xă hội.
Có
thể nói con người là nấc thang tiến hoá cao
nhất của tự nhiên và là một thực thể mang
bản chất tự nhiên sinh học, mang trong ḿnh sức
sống tự nhiên. Mác cũng đă chỉ ra rằng
"con người là thực thể tự nhiên".
Đảng
và nhà nước ta từ quan điểm coi mục tiêu là
động lực chính của sự phát triển v́ con
người do con người. Từ khái niệm trên cho
thấy nhân cách bao gồm nhiều phẩm chất tâm lư
của con người.
Các
nhà nghiên cứu chỉ ra rằng khi sinh ra con người
chưa có nhân cách "nhân cách cũng không có sẵn, phải
bằng cách bộc lộ dần dần các bản năng
nguyên thuỷ,mà một lúc nào đó đă bị kiềm
chế chốn ộp” (Phạm Minh Hạc Sách đă
dẫn trang 23),chính trong quá tŕnh sống học
tập, lao động, giao lưu, giải trớ…Con
người đă tự h́nh thành và phát triển nhân cách
của ḿnh theo quy luật lĩnh hội tri thức và các di
sản văn hoá vật chất và tinh thần, của các
thế hệ trước để lại trong công cụ
lao động thông qua các hoạt động.
Vậy
con người vốn sinh ra chưa có nhân cách mà nhân cách là
cấu tạo mới do mỗi người tự h́nh thành
nên và phát triển trong quá tŕnh sống. Giao tiếp, học
tập, lao động, vui chơi…Nhơn cách không có sẵn mà
bằng cách hoạt động xă hội con người
ngay từ khi c̣n nhỏ đă dần dần lĩnh hội
nội dung chứa đựng trong các mối quan hệ xă
hội có liên quan tới hoạt động của
trẻ.
Phương
pháp giáo dục có hiệu quả là tổ chức cho
trẻ hoạt động lĩnh hội các cái đó
để h́nh thành nhân cách. LờNin núi "cùng với ḍng
sữa mẹ con người hấp thụ tâm lư của xă
hội mà nó là thành viên" nhân cách của con ngươi
h́nh thành và phát triển theo con đường từ bên
ngoài vào nội tâm, từ các quan hệ với thế
giới tự nhiên và thế giới đồ vật do
các thế hệ trước và bản thân tạo ra qua các
mỗi quan hệ xă hội mà nó gắn bó từ đó nhân
cách của con người đă được h́nh thành và
phát triển. Sự phát triển nhân cách bao gồm : Sự
phát triển về mặt thể chất, điều này
thấy rơ ở sự phát triển về chiều cao, cân
nặng, cơ bắp và sự hoàn thiên của các giác quan
vvv…đú là điều dễ thấy ở mỗi con
người.
Sự
phát triển về mặt tâm lư, được biểu
hiên ở những biến đổi cơ bản, trong các
quá tŕnh nhận thức, t́nh cảm, ư chí, nhu cầu,
nếp sống.v.v nhất là
ở sự h́nh thành các thuộc tính tâm lư mới của
nhân cách con người.
Sự
phát triển về mặt xă hội điều này thể
hiện rơ ở việc tích cực,tự giác tham gia vào các
mặt khác nhau của đời sống xă hội cũng
như có sự thay đổi rơ nét về ứng sử
với những người xung quanh. Chúng ta đang
phấn đấu xây dựng và phát triển nhân cách con
người Việt Nam trong quá tŕnh đổi mới,
đó là nhân cách của con người sáng tạo, năng
động, có kỷ luật, kỹ năng, tay nghề cao
cũng như phẩm chất tốt đẹp của
nền văn hoá giàu bản sắc dân tộc
được đúc kết lại qua nhiều thế
hệ để có được điều đó,
thế hệ trẻ Việt Nam trong đó có học sinh,
sinh viên cần trở thành các chủ thể có ư thức
đối với các hoạt động như học
tập, lao động, giao lưu, vui chơi giải trí
…Cần tự giác thích ứng và chủ động tu
dưỡng, rèn luyện bản thân ḿnh ngay từ khi
ngồi ở trên ghế nhà trường để trở
thành nhân cách làm chủ nhân của đất nước.
Sự
h́nh thành và phát triển nhân cách con người. Con
người chịu sự tác động của nhiều
nhân tố khác nhau trong đó có nhân tố sinh học và xă
hội, các nhân tố này tác động tới con
người không phải là song song với nhau có giá như
nhau. Chính v́ vậy cần phải xem xét đúng đắn
nh́n nhận một cách khách quan khoa học các tác
động của di truyền và môi trường tự
nhiên, môi trường xă hội trong các công tác giáo dục.
Nhu cầu là trạng thái
của cá nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy
cần những đối tượng cần thiết cho
sự tồn tại và phát triển của ḿnh và đó là
nguồn gốc tính tích cực của cá nhân. Nhu cầu
vừa là tiền đề, vừa là kết quả
của hoạt động. Nhu cầu vừa có tính
chất vật thể (nhu cầu vật chất) vừa
có tính chức năng (nhu cầu tinh thần). Thoả măn
nhu cầu thực chất là quá tŕnh con người
chiến lĩnh một h́nh thức hoạt động
nhất định trong xă hội. Nhu cầu thể
hiện ở động cơ, cái thúc
đẩy con người hoạt động và
động cơ trở thành h́nh thức thể hiện
của nhu cầu
Nhu cầu
được hiểu là sự biểu hiện mối
quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn
cảnh, là sự đ̣i hỏi tất yếu mà con người
thấy cần được thoả măn để
tồn tại và phát triển.
Nhu cầu của con người có
những đặc điểm cơ bản sau:
Nhu cầu
bao giờ cũng có đối tượng, chớnh
vỡ cú đối tượng mới có thể phân
biệt được các loại nhu cầu. Tuy nhiên
sự tồn tại của đối tượng ấy
trong tơm lớ học cá nhân có thể có nhiều mức
độ khác nhau. Ở mức thấp, đối
tượng có thể c̣n “mơ hồ” chưa
được xác định thật cụ thể, mà
mới chỉ xác định về loại. Ở mức
cao hơn, đối tượng của nhu cầu
được phản ánh trong óc người mang nhu
cầu một cách cụ thể hơn. Cuối cùng,
đối tượng của nhu cầu có thể
được nhận thức về mặt đặc
trưng và về ư nghĩa của nó đối với
đời sống cá nhân. Chính nhờ sự tồn tại
đối tượng của nhu cầu trong tơm lớ cá
nhân mà cá nhân định hướng được
hoạt động của ḿnh trong môi trường
Đặc
điểm quan trọng thứ hai là mỗi nhu cầu
đều có một nội dung cụ thể tuỳ theo nó
được thoả măn trong những điều
kiện nào và bằng phương thức nào. Nội dung
cụ thể của nhu cầu phụ thuộc vào
những điều kiện và những phương
thức thoả món nó.
Đặc
điểm thứ ba là nhu cầu thường có tính
chất chu ḱ. Khi một nhu cầu nào đó được
thoả măn, không có nghĩa là nhu cầu đó chấm
dứt, nếu con người vẫn sống và phát
triển trong những điều kiện và phương
thức sinh hoạt như cũ. Những nhu cầu về
ăn, mặc, học tập, giao tiếp với
người khác thường xuyên được tái
diễn trong cuộc sống. Sự tái diễn đó
thường có tính chất chu ḱ. Một khi nhu cầu tái
hiện là một lần nó được củng cố,
phát triển và phong phú thêm lên.
Trong tâm lư
học, động cơ là một vấn đề
được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu
và có nhiều quan điểm khác nhau về vấn
đề này. Song, tựu chung lại các trường phái
tâm lư học đều cho rằng:
Trước hết,
động cơ đó là phản ánh tâm lư về
đối tượng có khả năng thoả măn nhu
cầu của chủ thể. Các nhà tâm lư học khẳng
định rằng: nhu cầu bao giờ cũng là nhu
cầu về một điều ǵ đó, tức là nhu
cầu có tính đối tượng. Song lúc đầu khi
ở chủ thể xuất hiện trạng thái cần
một cái ǵ đó th́ đối tượng thoả măn nhu
cầu chưa được xác định rơ. Chỉ khi
nhu cầu gặp được đối tượng có
khả năng thoả món nó, thỡ nhu cầu mới
đạt được tính đối tượng.
Đối tượng thoả măn nhu cầu
được tri giác tư duy đạt được
khả năng thúc đẩy và định hướng
hoạt động của chủ thể sẽ trở
thành động cơ. Vậy, động cơ đó là
tất cả những ǵ xuất hiện ở cấp
độ phản ánh tâm lư thôi thúc con người hoạt
động nhằm thoả măn nhu cầu.
Các động cơ
đặc trưng của con người mang tính lịch
sử xă hội. Bởi động cơ đặc
trưng của con người nảy sinh và h́nh thành trong
quá tŕnh phát triển cá thể chứ không phải là cái ǵ
đó sẵn có từ lúc đứa trẻ sinh ra. Tính
lịch sử xă hội của động cơ con
người c̣n thể hiện ở chỗ đối
tượng thoả măn nhu cầu của con người là
sản phẩm của quá tŕnh sản xuất xă hội.
Thái
độ là một thuộc tính của nhân cách, do đó, có
mối liên hệ với các thành phần khác trong nhân cách.
Trong khi đó, nhân cách luôn là một hệ thống trọn
vẹn thống nhất của các thành phần, thuộc
tớnh…tham gia vào hệ thống đó, cho nên việc tách bạch
rành rọt thái độ với các khái niệm khỏc
cựng phản ánh hiện thực khách quan trong nhân cách là
điều không dễ dàng, song cần thiết phải làm,
dù chỉ là trên b́nh diện lư luận.
Thái
độ và ư thức cá nhân: Ư thức là h́nh thức
phản ánh tơm lớ cao nhất, đặc trưng của
loài người, là năng lực nhận thức cái
phổ biến, cái bản chất trong hiện thực
khách quan, do đó đồng thời là năng lực
định hướng, điều khiện một cách
tự giác thái độ, hành vi, quan hệ giữa con
người với hoàn cảnh tự nhiên và xă hội.
Thái
độ và nhu cầu: Nhu cầu có vị trí quan trọng
trong h́nh thành nhân cách, là nền tảng của động
cơ, mục đích hành động. Sự h́nh thành
mọi thuộc tính nhân cách đều có liên quan trực
tiếp hoặc gián tiếp đến nhu cầu. Quá tŕnh
thoả măn nhu cầu cũng chính là quá tŕnh h́nh thành sự
sẵn sàng hành động, củng cố thái độ cá
nhân cũng như các thành phần của nó (nhận
thức, cảm xúc, cử chỉ, hành vi…). Thái độ
được h́nh thành trên cơ sở kinh nghiệm
của cá nhân trong trường hợp có sự “gặp
gỡ” giữa nhu cầu với đối tượng và
điều kiện thoả măn nhu cầu đó.
Thái độ và hứng thú:
Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá
nhân đới với đối tượng nào đó v́ ư
nghĩa của nó trong cuộc sống và sự hấp
dẫn t́nh cảm của nó. Như vậy, qua quá tŕnh xác
định đối tượng và nhận thức
đối tượng, có thể phán xét về thái
độ của cá nhân với đối tượng.
Hứng thú càng ổn định, mạnh mẽ th́ thái
độ càng được củng cố, sự ham
muốn tác động tới đối tượng càng
được tăng cường hơn.
Thái độ và tâm thế:
Giữa thái độ và tâm thế có một số
những điểm trùng nhau nhưng cũng nhiều
điểm không giống nhau về nội hàm. Thái độ
là thuộc tính tơm lớ được h́nh thành trong các hoàn
cảnh xă hội thông qua hoạt động và giao
tiếp, có ư thức, có cấu trúc phức tạp và đa
tầng, tham gia vào điều khiển, điều
chỉnh hành vi của cá nhân trong nhiều lĩnh vực
hoạt động khác nhau
Thái độ và định
hướng giá trị: Trong các nghiên cứu về thái
độ, có hai quan điểm xem xét về quan hệ
giữa thái độ và định hướng giá
trị. Trong cấu trúc hoạt động của cá nhân,
định hướng giá trị tạo thành mặt
nội dung của xu hướng nhân cách. Do vậy,
định hướng giá trị có thể
được coi là cơ sở bên trong của thái
độ cá nhân đối với hiện thực.
Thái độ và tính cách: Tính cách
là sự kết hợp độc đáo các đặc
điểm tơm lớ ổn định của con
người, bao gồm một hệ thống thái độ
đối với hiện thực, thể hiện trong
hệ thống hành vi cử chỉ, cách nói năng
tương ứng.
Thái độ và xúc cảm, t́nh
cảm: Xúc cảm, t́nh cảm là sự biểu thị thái
độ của cá nhân đối với các hiện
tượng xảy ra trong hiện thực khách quan, trong
cơ thể, lien quan đến việc thoả măn hay không
thoả măn nhu cầu của con người. T́nh cảm
được h́nh thành từ những xúc cảm đồng loại được
lặp đi lặp lại, có tính ổn định
tương đối và là một trong ba thành phần
cấu trúc của thái độ. Qua biểu hiện
của xúc cảm, t́nh cảm, có thể thu được
những dữ liệu về tính chất và đặc
điểm thái độ chủ quan của cá nhân với
hiện thực khách quan
Thái độ và ư chí: Ư chí là
mặt năng động của ư thức, thể
hiện khả năng đề ra mục đích và nỗ
lực khắc phục trở ngại nhằm đạt
mục đích đă định. Theo định nghĩa
trờn thỡ ư chí và thái độ là hai thành phần
của mộ hệ thống chức năng – ư thức.
Thái độ là sự biểu hiện của các phẩm
chất của ư chí.
Thái độ và hoạt
động cá nhân: Hoạt động là yếu tố
trực tiếp, quyết định sự h́nh thành nhân
cách, thái độ chủ quan của cá nhân với hiện
thực khách quan. Hoạt động có mục đích
nhằm bộc lộ các khía cạnh khác nhau của các quan
hệ xă hội mà ở đó cá nhân sống và phát
triển. Sự phản ánh của những quan hệ này
trong ư thức cá nhân là yếu tố quyết định h́nh thành thái
độ. Mặt khác, thái độ quy định
phương hướng hoạt động, hành
động.
Như
đă nói ở phần I giáo dục có vai tṛ hết sức
quan trọng tới sự h́nh thành và phát triển nhân cách
con người, ngoài ra cũn cú một số các yếu
tố khác thúc đẩy và tạo điều kiện cho
sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người.
Như yếu tố di truyền, tơp thể, giao tiếp và
đặc biệt hoạt động là nhân tố
quyết định đến sự h́nh thành và phát
triển nhân cách con người.
Trong
đời sống thường ngày hoạt động là
phương thức duy nhất để con người
tồn tại và phát triển và cũng là nhân tố
quyết định tới sự h́nh thành và phát triển
nhân cách con người. Hoạt động của con
người là hoạt động có mục đích mang tính
xă hội, cộng đồng để con người
lĩnh hội những chi thức, kinh nghiệm lịch
sử của hoạt đông bản thân để h́nh thành
và phát triển nhân cách, sự h́nh thành nhân cách ở mỗi
con người phụ thuộc vào hoạt động chủ
đạo ở mỗi thời kỳ nhất
định. Ví dụ như với học sinh – sinh viên
hoạt động chủ đạo là học tập.
Muốn h́nh thành nhân cách th́ con người phải tham gia
vào các hoạt động đa dạng và phong phú nhất
là hoạt động ở giai đoạn trên.
Việc đánh giá các hoạt
động hết sức quan trọng đến sự
h́nh thành và phát triển nhân cách con người.
Hoạt động có vai tṛ trực
tiếp tới sự h́nh thành và phát triển nhân cách con
người. Nên trong công tác giáo dục cần có sự phong
phú về nội dung, h́nh
thức, cách thức tổ chức hoạt động
sao cho lôi cuốn sự tham gia của cá nhân một cách tích
cực nhất và tự giác nhất vào hoạt động
đó. Mỗi hoạt động của con người
luôn luôn mang tính cộng đồng và luôn đi kèm với
giao tiếp. Chính v́ vậy giao tiếp cũng là nhân tố
cơ bản trong sự h́nh thành
và phát triển nhân cách con người.
Sự
h́nh thành và phát triển nhân cách con người mang tính xă
hội, lịch sử chính
giáo dục là sự phát triển nhân cách đóng vai tṛ
chủ đạo đối với sự phát triển
của đất nước nhất là trong thời
kỳ đổi mới hiện nay. Giáo dục là hoạt
động có mục đích có kế hoạch của con
người, là hoạt động có ư thức của các
nhà giáo dục hoặc tổ chức giáo dục nhằm
h́nh thành nhân cách trẻ em. Ở đây không chỉ hiểu
giáo dục theo tác động một chiều của các nhà
giáo dục đến đối tượng giáo dục mà
quá tŕnh này luôn diễn ra qua quá tŕnh tác động hai
chiều giữa người giáo dục và người
được giáo dục. Bởi v́ trẻ em vừa là
chủ thể vừa là khách thể của quá tŕnh giáo
dục.
Mạnh
Tử núi: “Nhơn chi sơ tính bổn thiện, tính
tương cận tập tương viễn”, nghĩa là
con người sinh ra ban đầu vốn dĩ
lương thiện, tính t́nh khá đồng nhất,
nhưng do môi trường và sự tiếp cận học
hỏi khác nhau mà tính t́nh đâm ra khác biệt nhau.
Tuân
Tử núi: “Nhơn chi sơ tính bổn ác, lư tính hậu lai
tập đắc”, nghĩa là con người sinh ra ban
đầu vốn dĩ là ác, nhưng sau này do học
tập mà có lư trí, biết cỏi đỳng cỏi sai.
Mạnh
Tử và Tuân Tử đều là bậc thầy của Nho
giáo thời Chiến quốc, dự cú những đánh giá
khác nhau về tính con người nhưng đều
thống nhất rằng môi trường và sự giáo
dục sẽ làm con người thay đổi, nghĩa là
giáo dục đóng vai tṛ quyết định cho bản tính
của con người trong tương lai.
Thật
ra, đánh giá khác nhau về bản chất con người
của hai ông không có ǵ mâu thuẫn. Tuân Tử nh́n theo
hướng tiến hóa của vạn vật, cho rằng
con người là một loài động vật trong
thế giới sinh học nên theo nguồn gốc ban
đầu vốn dữ tính, muốn thành người có lư
trí th́ phải được giáo dục.
Mạnh
Tử nh́n con người từ khía cạnh xă hội
học, cho rằng con người được sinh ra
trong cộng đồng, có t́nh thương của cha
mẹ, anh em, bè bạn nên bản tính ban đầu
lương thiện, nhưng khi tiếp xúc, học tập
trong các điều kiện xă hội khác nhau th́ tính t́nh
ắt sẽ khác nhau. Từ đó có thể thấy từ
xưa đến nay, mọi thế hệ nhân loại
đều khẳng định vai tṛ vô cùng to lớn
của giáo dục đối với con người.
Mục
tiêu của giáo dục thật sự rất rơ ràng là
dạy làm người, nghĩa là rèn luyện đạo
đức và nhân cách con người. Giáo dục
đồng thời cung cấp kiến thức, kỹ
năng để con người xây dựng cuộc
sống hạnh phúc, văn minh. Nền giáo dục của nước
ta cũng phải t́m ra các biện pháp để đạt
được hai mục tiêu trên.
Nước ta có lịch sử lâu
đời, đạo đức con người Việt
Nam không những được h́nh thành từ sự
đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên, tạo nên
sức mạnh cộng đồng thương yêu bảo
vệ nhau, mà c̣n tiếp thu được nhiều
nguồn tư tưởng và đạo đức của
loài người, trong đó Phật giáo dạy ḷng từ
bi, vị tha, yêu thương mọi sinh linh…; Nho giáo dạy
cách xử lư mối quan hệ giữa người với
người, với cha mẹ (chữ hiếu), với
cộng đồng quốc gia (chữ trung) và các mối
quan hệ với người chung quanh khác, h́nh thành nên
hệ thống đạo đức “lễ, nghĩa, liêm,
sỉ, nhơn, trớ, tớn, dũng”…; Thiên Chúa giáo và đạo
Tin Lành dạy ḷng bác ái, yêu tự do…; tư tưởng
của Karl Marx dạy sự b́nh đẳng, yêu
thương bênh vực người cô thế, đứng
về phía quyền lợi người nghèo khú…Cỏc
luồng tư tưởng và đạo đức của
loài người quy tụ đến Việt Nam trên 2.000
năm qua đă được con người Việt Nam
tiếp thu và chọn lọc, h́nh thành nên đạo
đức tư tưởng văn hóa Việt Nam. Chính
nền tảng văn hóa này là nguồn sức mạnh vô
biên cho con người Việt Nam.
Trở lại thực trạng xă hội
chúng ta. Sau ngày đất nước thống nhất,
người Việt Nam ta thật sự làm chủ
đất nước, hoàn toàn có quyền thiết kế
một thể chế xă hội phù hợp với văn
hóa, đạo đức, con người Việt Nam.
Hơn 30 năm qua, tuy đă có tiến bộ về mặt
xóa đói giảm nghèo, đời sống chung của
người dân có được nâng cao, nhưng thành
quả đó vẫn c̣n khá khiêm tốn so với tiềm
năng của đất nước.
Nếu
so sánh với các nước xung quanh th́ khoảng cách
vẫn c̣n lớn. Điều đau ḷng hơn là
đạo đức cá nhân, đạo đức xă
hội ngày càng có nhiều biểu hiện suy đồi,
người lớn phải hổ thẹn với trẻ
em, cấp trên phải hổ thẹn với cấp dưới
khi nói về đạo đức. Nguy hại hơn,
đáng phẫn nộ hơn là những kẻ đạo
đức giả không hề ngại ngùng đứng bên
trên giảng giải đạo đức cho người
khác, những kẻ phạm pháp nhởn nhơ ngoài ṿng pháp
luật... Đây mới chính là nguyên nhân trực tiếp
nhất làm cho nền giáo dục của ta không thể
đổi mới được.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét