Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Nhân cách và sự hình thành nhân cách theo các nhà tâm lý học Việt Nam

1. Lư do chọn đề tài :

Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, như triết học, xă hội học, kinh tế - chính trị học, luật học, tâm lư học, y học, giáo dục học… Trong đó, quan điểm tâm lư học về nhân cách con người, về cơ bản, có những khác biệt so với quan điểm của các khoa học cụ thể. Theo đó, nhân cách trước hết là đặc trưng xă hội của con người, là "phẩm chất xă hội" của con người. Khi nghiên cứu về nhân cách, một trong những vấn đề đầu tiên và cũng là then chốt, là vấn đề sự h́nh thành nhân cách. Giải quyết vấn đề này theo những cách khác nhau sẽ dẫn tới quan niệm khác nhau về bản chất của nhân cách.
Nhân cách là đỉnh cao nhất của sự  phát triển tơm lớ cuả con người, của tự ư thức và tự điều chỉnh bản thân con người. Sự phát triển và hoàn thiện nhân cách con người đang trở thành trung tâm chú ư của nhiều nhà nghiên cứu. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay, nhân tố con người trở lên cấp bách th́ sự hiểu biết về vấn đề nhân cách là tiền đề của việc đầu tư có hiệu quả vào sự phát triển con người - yếu tố quyết định mọi sự phát triển trong xă hội. Vấn đề nhân cách được coi là một trong những vấn đề cơ bản song cũng là một vấn đề phức tạp nhất của khoa hoc tơm lớ nói riêng và của khoa học xă hội và nhân văn nói chung. Giải quyết đúng vấn đề nhân cách sẽ cho phép giải quyết được những vấn đề khác của tơm lớ học và của nhiều lĩnh vực đời sống đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục.  Bởi v́, giáo duc tác động vào từng nhân cách để trở thành những nhân cách theo yêu cầu phát triển của xă hội. Giáo dục là một nhân tố tích cực tạo nên nguồn nhân lực. Phẩm chất năng lực con người quyết định sự phát triển xă hội.
Ở Việt Nam cùng với Khoa học công nghệ, Giỏo dục được coi là quốc sánh hàng đầu. Tốc độ công nghiệp phát triển cao về kinh tế, văn hoá, xă hội đang có sự thay đổi rơ nét. Bên cạnh đó c̣n tồn tại các tệ nạn xă hội, như các tệ nạn tham nhũng gây ảnh hưởng rất lớn đến chủ nhân tương lai của đất nước đó là trẻ em.
Sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người là một vấn đề rất quan trọng, trẻ em có nhiều thay đổi về mặt tâm lư và sinh lư nên nhu cầu hoàn thiện nhân cách để thích nghi với xă hội hoá và có thái độ tích cực hơn trong cuộc sống là cực kỳ quan trọng. Chính v́ vậy từ xưa đến nay không chỉ cú cỏc nhà tâm lư học Việt Nam Nghiên cứu về sự h́nh thành và phát triển nhân cách. Vấn đề này đă được các nhà triết học Phương Đông nghiên cứu như Khổng Tử, Mạnh Tử, các nhà tâm lư học Phương Tây như S.Freud, J.Piaget, A.N.LeonchievỞ Việt Nam có những nhà nghiên cứu như Chủ Tịch Hồ Chí Minh, hay các nhà tâm lư học như Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Ngọc Bích đă rất tâm huyết về vấn đề nhân cách.
Chính v́ lư do đó mà tôi chọn đề tài "Nhân cách và sự h́nh thành nhân cách theo các nhà tâm lư học Việt Nam" làm tiểu luận của chuyên đề Tâm lư học nhân cách trẻ em.

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài. 

Mục đích của đề tài  t́m hiểu các quan điển, tư tưởng của các nhà tâm lư học Việt Nam nghiên cứu về sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người.
 Để thực hiện được mục đích đề ra đề tài cần phải giải quyết hai nhiệm vụ:
          Tỡm hiểu một số vấn đề chung về sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người.
T́m hiểu các quan điểm, tư tưởng nghiên cứu về sự h́nh thành và phát triển nhân cách.
           Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của tâm lư học xă hội.

4. Cơ sở lư luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài.

          Cơ sở lư luận :Dựa trên cơ sở góc độ khoa học tâm lư, chủ nghĩa Mác –Lờnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Giỏo dục và Đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước.
Phương pháp quan sát và tự quan sát.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu,sỏch bỏo.

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỰ H̀NH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI

Khi nh́n nhận và đánh giá một quốc gia một khu vực nào đó trên thế giới,về mức độ phát triển cao hay thấp, giàu hay nghốo thỡ trước hết chúng ta phải xem xét về nền giáo dục của quốc gia khu vực đó, quả thực vấn đề giáo dục là một vấn đề rất quan trọng, mà bất cứ một quốc gia nào, khu vực nào trên thế giới, cũng phải đầu tư và quan tâm hàng đầu. Bởi giáo dục và đào tạo  là tạo ra những đội ngũ tri thức, công nhân, học sinh, giáo dục để tạo điệu kiện cho con người ngày càng hoàn thiện nhân cách của ḿnh …
Đú chính là nguần nhân lực dồi dào, tạo cho con người có cả ư thức, tri thức, đạo đức năng lực phẩm chất nhân cách, để bổ sung vào sự nghiệp xây dựng đất nước  ngày càng phát triển hơn, cả về kinh tế, văn hoá, xă hội.
Trải qua hàng ngh́n đời vấn đề giáo dục ở Việt Nam ngày càng được phát triển và được Đảng Nhà nước ta quan tâm hàng đầu. Nhất là giáo dục ở vựng sơu, vùng xa, vùng núi cao và hải đảo những nơi mà nền kinh tế, văn hoá chưa phát triển, để sao cho mặt bằng dân trí giữa cỏc vựng, các tỉnh thành  không có sự cách biệt quá xa về tŕnh độ văn hoá, đặc biệt trong giai đọan hiện nay, khi nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng xă hội, xă hội chủ nghĩa ngày càng giàu đẹp văn minh lịch sự, th́ sự nghiệp giáo dục là một vấn đề quan trọng và được quan tâm hàng đầu, trong sự nghiệp công nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hóa  đơt nước, và xây dựng đát nước ngày càng phát triển hơn.
           Bên cạnh đào tạo đội ngũ tri thức, công nhân lành nghề, th́ cần giáo dục cỏi tơm yờu nghề, năng lực đạo đức.Theo ứng xử giữa con người, để con người từ một cá thể sinh học trở thành một nhân cách sống trong mỗi con người, bởi tài và đức phải luụn đi đôi với nhau, không tách rời nhau th́ mới có thể đem lại hiệu quả tốt trong công việc và trong giao tiếp ứng xử con người với con người.

Khái niệm nhân cách biểu hiện tính chính thể dải thể cuộc sống. Ngày nay vấn đề nhân cách được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong quá tŕnh phát triển của các khoa học đặc biệt là các khoa học xă hội, đ̣i hỏi phải nghiên cứu nhân cách, trong xă hội loài người có quan hệ lẫn nhau, và con người là trung tâm của các mối quan hệ, v́ vậy con người phải được thể hiện như là một nhân cách.
Xây dựng con người xă hội chủ nghĩa phải gắn liền với xây dựng nhân cách phát triển hài hoà, đó là đ̣i hỏi cấp bách của sự nghiệp, xây dưng con người đạo đức trí tuệ, trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
Nhân cách là một cấu tạo trọn vẹn thuộc loại đặc biệt,nhơn cách không phải là chính thể được chế định theo kiểu di truyền tức lá “người ta sinh không phải là nhân cách người mà người ta phải trở thành một nhơn cỏch”.“Nhân cách là một sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xă hội lịch sử và của sự tiến hoá cá thể con người” nhân cách là một cấu tạo chuyên biệt của con người mà không thể rút ra từ hoạt động thích ứng của nó, cũng không thể tự hoạt động đó mà rút ra ư thức của con người hay nhu cầu.
Hiện nay về mặt tâm lư học người ta chú ư đến vấn đề sau đây về nhân cách, bản chất nhân cách, cấu trúc nhân cách các yếu tố h́nh thành nhân cách, các cơ chế h́nh thành nhân cách, các phương pháp nghiên cứu nhân cách, vị trí của tâm lư học nhân cách trong hệ thống khoa học khác. Nhưng ở đây tôi chỉ đề cập đến vấn đề khái niệm nhân cách, hay bản chất nhân cách trước hết điểm qua một số quan điểm về nhân cách tồn tại quan diểm.
Quan điểm cho bản chất nhân cách là thuộc tính sinh vật hay nói cách khác là sinh vật hoá bản chất nhân cách. Nhân cách được coi là bản năng t́nh dục (s.freud) là đặc điểm của hinh thể (krestchmer) …
Bản chất nhân cách là tính con người (trường phái nhân văn đại diện là C:ROGERS, A.MASLOW…Những người ở trường phái này đều quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của con người. A.MASLOW cho rằng xă hội nằm trong bản năng con người,những nhu cầu như giao tiếp, t́nh yêu kính trọng đều có tính bản năng …đặc trưng cho giống người, nhân cách là động cơ tự động điều hành (G.ALLPORT.) những quan điểm này đều đề cao tính chất tự nhiên sinh vật của con người, phủ nhận  bản chất của nhận bản chất xă hội của nhân cách.
Nhân cách đồng nghĩa với khái niệm con người, K.K.dlatnov nhân cách con người có ư thức, c̣n con người có tâm lư từ khi có ngôn ngữ lao động, quan điểm này nói về cái chung cái đặc trưng nhất của con người, mà không chú ư đến đặc cái thù riêng cỏi riờng của nhân cách.
Nhân cách được hiểu như cá nhân con người với tư cách là chủ thể của mỗi quan hệ và hoạt động có ư thức (A.Gkovalev,X.Ikon) hiện nay quan điểm này được đa số các nhà tâm lư học xă hội chấp nhận, coi nhân cách là cá nhân, cá thể so vơi tập thể xă hội.
Nhân cách được hiểu như là thuộc tính nào đó tạo nên bản chất nhân cách như thuộc tính ổn định. Các thuộc tính sinh vật, hoặc tính xă hội. Pbueva cho rằng nhân cách là con người với toàn bộ phẩm chất xă hội của nó.
Nhân cách là tâm thế (D.N.ZNAdze, là thái độ V.N.Mia XiSev là phương thức tồn tại của con người trong xă hội, trong điều kiện lịch sử, cụ thể. Những quan điểm này chỉ chú ư đến các đặc điểm chung nhất của nhân cách, đó cũng chưa thể hiện được tính toàn diện trong định nghĩa nhân cách.
Nhân cách cấu tạo tâm lư mới được h́nh thành trong mụĩ quan hệ sông của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của con người đó. K.Obuchowxki định nghĩa nhân cách như sau. Nhân cách là sự tổ chức những thuộc tính tâm lư của con người có tính chất điểu kiện lịch sủ xă hội, ư nghĩa của nó cho phép giải thích và dự đoán hành động cơ bản của con người (K. Obuchowxki, lư luận tâm lư của việc xây dựng và phát triển nhân cách trong cuốn M.1981).
Từ bảy quan niệm nhân cách trên, cho đến nay vẫn chưa có trường phái nào giải quyết thoả đáng vấn đề bản chất của nhân cách.
Các nhà tâm lư học cho rằng khái niệm nhân cách là phạm trù xă hội và có bản chất xă hội lịch sử” Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lư, biểu hiện bản sắc và giá trị của con người”
Ở Việt Nam theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn Tâm lư học nhân cách th́ chưa có một định nghĩa nhân cách nào một cách chính thống. Song cách hiểu của người Việt Nam về nhân cách có thể theo các mặt sau đây:
Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và năng lực hoặc là con người cú cỏc phẩm chất: Đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động).
Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người
Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới: Làm chủ, yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động.
Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con người. Theo cách hiểu này, tác giả Nguyễn Quang Uẩn trong cuốn tâm lư học đại cương (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) nêu lên định nghĩa nhân cách như sau:Nhơn cỏch là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lư của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xă hội của con người. Nhân cách là sự tổng hoà không phải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xă hội, nói lên bộ mặt tâm lư - xă hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân.
Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lư của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xă hội của con người. Nhân cách là sự tổng hoà không phải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xă hội, nói lên bộ mặt tâm lư - xă hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân.
Đây là định nghĩa về nhân cách được chấp nhận rộng răi ở Việt Nam.
Như vậy nhân cách là sự tổng hoà, không phải là những đặc điểm của con người. Mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xă hội nói lên bộ mặt tâm lư xă hội, giá trị cốt cách làm người của mỗi cá nhân.
Qua khái niệm về nhân cách trên chúng ta thấy nhân cách có một số đặc điểm sau.
Tính thống nhất :Thống nhất giữa lời nói và việc làm, thống nhất, giữa đạo đức và tài, giữa ư thức và hành động, hành vi ứng xử trong cộng đồng, nhóm.
Tính ổn định : nhân cách con người là quá tŕnh h́nh thành từ từ, nhân cách là tổ hợp các thuộc tính ổn định, tiềm tàng của cá nhân, nó khú h́nh thành mà nó cũng khó mất đi.
Tính tích cực của nhân cách : Nhân cách của con người là chủ  thể của hoạt động và giao lưu các mỗi quan hệ giữa người này và người khác.                  
Nhân cách con người luân cải tạo thế giới khách quan và biến thế giới khách, thành sản phẩm phục vụ cho con người, không phải ai cũng có mà chỉ có ở người có nhân cách mới có.
Tính giao lưu :Nhân cách của con người có thể tồn tại và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu với người khác và nhờ đó con người tiếp thu,lĩnh hội các tri thức, kinh nghịờm, văn hoá, xă hội của loài người mà biến thành nhân cách riêng của mỡnh. Đú chớnh là bốn đặc điểm của nhân cách nó rất quan trọng đối với đới sống con người.
Từ trước đến nay có rất nhiều ngành khoa học nghiên cứu con người chứa đựng những nội dung khác nhau dựa trên mục đích và phương diện nghiờn cứu,cú khái niệm cho rằng
“Con người là thành viên của một cộng đồng một xă hội, và vừa là thực thể tự nhiên, và thực thể xă hội”.
Ở định nghĩa về con người được thừa nhận rộng răi "con người là thực thể sinh vật- xă hội và văn hoỏ” cần nghiên cứu con người theo cả ba  mặt.
Con người bản năng, coi con người là tồn tại sinh vật, con từ khi hinh thành là tồn tại sinh vật. Trên thực tế con người có bản năng sinh tồn, nhưng bản năng của con người khác hẳn bản năng con vật.
Các nhà nghiên cứu cho rằng sự phát triển xă hội loài người " con người bản năng con người kỹ thuật con người chính tri và con người xă hội” đều nói lên tiờu trớ tâm lư cực kỳ quan trọng của con người.
Khác với quan điểm trờn, Mỏc đưa ra một quan điểm khoa học về con người… "Bản chất của con người không phải là cái ǵ tŕu tượng, vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt, trong hiện thực của nó bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xă hội"
Như vậy con người là một sản phẩm của lịch sử xă hội mang những phẩm chất thuộc tính có ư nghĩa xă hội được h́nh thành trong qỳa trỡnh tác động qua lại giữa người với người, trong xă hội con người cũng là chủ thể các hoạt động, là lực lượng sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xă hội.
Có thể nói con người là nấc thang tiến hoá cao nhất của tự nhiên và là một thực thể mang bản chất tự nhiên sinh học, mang trong ḿnh sức sống tự nhiên. Mác cũng đă chỉ ra rằng "con người là thực thể tự nhiên".
Đảng và nhà nước ta từ quan điểm coi mục tiêu là động lực chính của sự phát triển v́ con người do con người. Từ khái niệm trên cho thấy nhân cách bao gồm nhiều phẩm chất tâm lư của con người.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng khi sinh ra con người chưa có nhân cách "nhân cách cũng không có sẵn, phải bằng cách bộc lộ dần dần các bản năng nguyên thuỷ,mà một lúc nào đó đă bị kiềm chế chốn ộp” (Phạm Minh Hạc Sách đă dẫn trang 23),chính trong quá tŕnh sống học tập, lao động, giao lưu, giải trớ…Con người đă tự h́nh thành và phát triển nhân cách của ḿnh theo quy luật lĩnh hội tri thức và các di sản văn hoá vật chất và tinh thần, của các thế hệ trước để lại trong công cụ lao động thông qua các hoạt động.
Vậy con người vốn sinh ra chưa có nhân cách mà nhân cách là cấu tạo mới do mỗi người tự h́nh thành nên và phát triển trong quá tŕnh sống. Giao tiếp, học tập, lao động, vui chơi…Nhơn cách không có sẵn mà bằng cách hoạt động xă hội con người ngay từ khi c̣n nhỏ đă dần dần lĩnh hội nội dung chứa đựng trong các mối quan hệ xă hội có liên quan tới hoạt động của trẻ.
Phương pháp giáo dục có hiệu quả là tổ chức cho trẻ hoạt động lĩnh hội các cái đó để h́nh thành nhân cách. LờNin núi "cùng với ḍng sữa mẹ con người hấp thụ tâm lư của xă hội mà nó là thành viên" nhân cách của con ngươi h́nh thành và phát triển theo con đường từ bên ngoài vào nội tâm, từ các quan hệ với thế giới tự nhiên và thế giới đồ vật do các thế hệ trước và bản thân tạo ra qua các mỗi quan hệ xă hội mà nó gắn bó từ đó nhân cách của con người đă được h́nh thành và phát triển. Sự phát triển nhân cách bao gồm : Sự phát triển về mặt thể chất, điều này thấy rơ ở sự phát triển về chiều cao, cân nặng, cơ bắp và sự hoàn thiên của các giác quan vvv…đú là điều dễ thấy ở mỗi con người.
Sự phát triển về mặt tâm lư, được biểu hiên ở những biến đổi cơ bản, trong các quá tŕnh nhận thức, t́nh cảm, ư chí, nhu cầu, nếp sống.v.v  nhất là ở sự h́nh thành các thuộc tính tâm lư mới của nhân cách con người.
Sự phát triển về mặt xă hội điều này thể hiện rơ ở việc tích cực,tự giác tham gia vào các mặt khác nhau của đời sống xă hội cũng như có sự thay đổi rơ nét về ứng sử với những người xung quanh. Chúng ta đang phấn đấu xây dựng và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong quá tŕnh đổi mới, đó là nhân cách của con người sáng tạo, năng động, có kỷ luật, kỹ năng, tay nghề cao cũng như phẩm chất tốt đẹp của nền văn hoá giàu bản sắc dân tộc được đúc kết lại qua nhiều thế hệ để có được điều đó, thế hệ trẻ Việt Nam trong đó có học sinh, sinh viên cần trở thành các chủ thể có ư thức đối với các hoạt động như học tập, lao động, giao lưu, vui chơi giải trí …Cần tự giác thích ứng và chủ động tu dưỡng, rèn luyện bản thân ḿnh ngay từ khi ngồi ở trên ghế nhà trường để trở thành nhân cách làm chủ nhân của đất nước.
Sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người. Con người chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau trong đó có nhân tố sinh học và xă hội, các nhân tố này tác động tới con người không phải là song song với nhau có giá như nhau. Chính v́ vậy cần phải xem xét đúng đắn nh́n nhận một cách khách quan khoa học các tác động của di truyền và môi trường tự nhiên, môi trường xă hội trong các công tác giáo dục.
          Nhu cầu là trạng thái của cá nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của ḿnh và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân. Nhu cầu vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động. Nhu cầu vừa có tính chất vật thể (nhu cầu vật chất) vừa có tính chức năng (nhu cầu tinh thần). Thoả măn nhu cầu thực chất là quá tŕnh con người chiến lĩnh một h́nh thức hoạt động nhất định trong xă hội. Nhu cầu thể hiện ở động cơ, cái thúc đẩy con người hoạt động và động cơ trở thành h́nh thức thể hiện của nhu cầu
Nhu cầu được hiểu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đ̣i hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả măn để tồn tại và phát triển.
Nhu cầu của con người có những đặc điểm cơ bản sau:
Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng, chớnh vỡ cú đối tượng mới có thể phân biệt được các loại nhu cầu. Tuy nhiên sự tồn tại của đối tượng ấy trong tơm lớ học cá nhân có thể có nhiều mức độ khác nhau. Ở mức thấp, đối tượng có thể c̣n “mơ hồ” chưa được xác định thật cụ thể, mà mới chỉ xác định về loại. Ở mức cao hơn, đối tượng của nhu cầu được phản ánh trong óc người mang nhu cầu một cách cụ thể hơn. Cuối cùng, đối tượng của nhu cầu có thể được nhận thức về mặt đặc trưng và về ư nghĩa của nó đối với đời sống cá nhân. Chính nhờ sự tồn tại đối tượng của nhu cầu trong tơm lớ cá nhân mà cá nhân định hướng được hoạt động của ḿnh trong môi trường
Đặc điểm quan trọng thứ hai là mỗi nhu cầu đều có một nội dung cụ thể tuỳ theo nó được thoả măn trong những điều kiện nào và bằng phương thức nào. Nội dung cụ thể của nhu cầu phụ thuộc vào những điều kiện và những phương thức thoả món nó.
Đặc điểm thứ ba là nhu cầu thường có tính chất chu ḱ. Khi một nhu cầu nào đó được thoả măn, không có nghĩa là nhu cầu đó chấm dứt, nếu con người vẫn sống và phát triển trong những điều kiện và phương thức sinh hoạt như cũ. Những nhu cầu về ăn, mặc, học tập, giao tiếp với người khác thường xuyên được tái diễn trong cuộc sống. Sự tái diễn đó thường có tính chất chu ḱ. Một khi nhu cầu tái hiện là một lần nó được củng cố, phát triển và phong phú thêm lên.
Trong tâm lư học, động cơ là một vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu và có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Song, tựu chung lại các trường phái tâm lư học đều cho rằng:
          Trước hết, động cơ đó là phản ánh tâm lư về đối tượng có khả năng thoả măn nhu cầu của chủ thể. Các nhà tâm lư học khẳng định rằng: nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một điều ǵ đó, tức là nhu cầu có tính đối tượng. Song lúc đầu khi ở chủ thể xuất hiện trạng thái cần một cái ǵ đó th́ đối tượng thoả măn nhu cầu chưa được xác định rơ. Chỉ khi nhu cầu gặp được đối tượng có khả năng thoả món nó, thỡ nhu cầu mới đạt được tính đối tượng. Đối tượng thoả măn nhu cầu được tri giác tư duy đạt được khả năng thúc đẩy và định hướng hoạt động của chủ thể sẽ trở thành động cơ. Vậy, động cơ đó là tất cả những ǵ xuất hiện ở cấp độ phản ánh tâm lư thôi thúc con người hoạt động nhằm thoả măn nhu cầu.
          Các động cơ đặc trưng của con người mang tính lịch sử xă hội. Bởi động cơ đặc trưng của con người nảy sinh và h́nh thành trong quá tŕnh phát triển cá thể chứ không phải là cái ǵ đó sẵn có từ lúc đứa trẻ sinh ra. Tính lịch sử xă hội của động cơ con người c̣n thể hiện ở chỗ đối tượng thoả măn nhu cầu của con người là sản phẩm của quá tŕnh sản xuất xă hội.
Thái độ là một thuộc tính của nhân cách, do đó, có mối liên hệ với các thành phần khác trong nhân cách. Trong khi đó, nhân cách luôn là một hệ thống trọn vẹn thống nhất của các thành phần, thuộc tớnh…tham gia vào hệ thống đó, cho nên việc tách bạch rành rọt thái độ với các khái niệm khỏc cựng phản ánh hiện thực khách quan trong nhân cách là điều không dễ dàng, song cần thiết phải làm, dù chỉ là trên b́nh diện lư luận.
Thái độ và ư thức cá nhân: Ư thức là h́nh thức phản ánh tơm lớ cao nhất, đặc trưng của loài người, là năng lực nhận thức cái phổ biến, cái bản chất trong hiện thực khách quan, do đó đồng thời là năng lực định hướng, điều khiện một cách tự giác thái độ, hành vi, quan hệ giữa con người với hoàn cảnh tự nhiên và xă hội.
Thái độ và nhu cầu: Nhu cầu có vị trí quan trọng trong h́nh thành nhân cách, là nền tảng của động cơ, mục đích hành động. Sự h́nh thành mọi thuộc tính nhân cách đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhu cầu. Quá tŕnh thoả măn nhu cầu cũng chính là quá tŕnh h́nh thành sự sẵn sàng hành động, củng cố thái độ cá nhân cũng như các thành phần của nó (nhận thức, cảm xúc, cử chỉ, hành vi…). Thái độ được h́nh thành trên cơ sở kinh nghiệm của cá nhân trong trường hợp có sự “gặp gỡ” giữa nhu cầu với đối tượng và điều kiện thoả măn nhu cầu đó.
Thái độ và hứng thú: Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đới với đối tượng nào đó v́ ư nghĩa của nó trong cuộc sống và sự hấp dẫn t́nh cảm của nó. Như vậy, qua quá tŕnh xác định đối tượng và nhận thức đối tượng, có thể phán xét về thái độ của cá nhân với đối tượng. Hứng thú càng ổn định, mạnh mẽ th́ thái độ càng được củng cố, sự ham muốn tác động tới đối tượng càng được tăng cường hơn.
Thái độ và tâm thế: Giữa thái độ và tâm thế có một số những điểm trùng nhau nhưng cũng nhiều điểm không giống nhau về nội hàm. Thái độ là thuộc tính tơm lớ được h́nh thành trong các hoàn cảnh xă hội thông qua hoạt động và giao tiếp, có ư thức, có cấu trúc phức tạp và đa tầng, tham gia vào điều khiển, điều chỉnh hành vi của cá nhân trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau
Thái độ và định hướng giá trị: Trong các nghiên cứu về thái độ, có hai quan điểm xem xét về quan hệ giữa thái độ và định hướng giá trị. Trong cấu trúc hoạt động của cá nhân, định hướng giá trị tạo thành mặt nội dung của xu hướng nhân cách. Do vậy, định hướng giá trị có thể được coi là cơ sở bên trong của thái độ cá nhân đối với hiện thực.
Thái độ và tính cách: Tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tơm lớ ổn định của con người, bao gồm một hệ thống thái độ đối với hiện thực, thể hiện trong hệ thống hành vi cử chỉ, cách nói năng tương ứng.
Thái độ và xúc cảm, t́nh cảm: Xúc cảm, t́nh cảm là sự biểu thị thái độ của cá nhân đối với các hiện tượng xảy ra trong hiện thực khách quan, trong cơ thể, lien quan đến việc thoả măn hay không thoả măn nhu cầu của con người. T́nh cảm được h́nh thành từ những xúc cảm  đồng loại được lặp đi lặp lại, có tính ổn định tương đối và là một trong ba thành phần cấu trúc của thái độ. Qua biểu hiện của xúc cảm, t́nh cảm, có thể thu được những dữ liệu về tính chất và đặc điểm thái độ chủ quan của cá nhân với hiện thực khách quan
Thái độ và ư chí: Ư chí là mặt năng động của ư thức, thể hiện khả năng đề ra mục đích và nỗ lực khắc phục trở ngại nhằm đạt mục đích đă định. Theo định nghĩa trờn thỡ ư chí và thái độ là hai thành phần của mộ hệ thống chức năng – ư thức. Thái độ là sự biểu hiện của các phẩm chất của ư chí.
Thái độ và hoạt động cá nhân: Hoạt động là yếu tố trực tiếp, quyết định sự h́nh thành nhân cách, thái độ chủ quan của cá nhân với hiện thực khách quan. Hoạt động có mục đích nhằm bộc lộ các khía cạnh khác nhau của các quan hệ xă hội mà ở đó cá nhân sống và phát triển. Sự phản ánh của những quan hệ này trong ư thức cá nhân là yếu tố  quyết định h́nh thành thái độ. Mặt khác, thái độ quy định phương hướng hoạt động, hành động.
 Như đă nói ở phần I giáo dục có vai tṛ hết sức quan trọng tới sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người, ngoài ra cũn cú một số các yếu tố khác thúc đẩy và tạo điều kiện cho sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người. Như yếu tố di truyền, tơp thể, giao tiếp và đặc biệt hoạt động là nhân tố quyết định đến sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người.
Trong đời sống thường ngày hoạt động là phương thức duy nhất để con người tồn tại và phát triển và cũng là nhân tố quyết định tới sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người. Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích mang tính xă hội, cộng đồng để con người lĩnh hội những chi thức, kinh nghiệm lịch sử của hoạt đông bản thân để h́nh thành và phát triển nhân cách, sự h́nh thành nhân cách ở mỗi con người phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo ở mỗi thời kỳ nhất định. Ví dụ như với học sinh – sinh viên hoạt động chủ đạo là học tập. Muốn h́nh thành nhân cách th́ con người phải tham gia vào các hoạt động đa dạng và phong phú nhất là hoạt động ở giai đoạn trên. Việc  đánh giá các hoạt động hết sức quan trọng đến sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người.
Hoạt động có vai tṛ trực tiếp tới sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người. Nên trong công tác giáo dục cần có sự phong phú về nội dung, h́nh  thức, cách thức tổ chức hoạt động sao cho lôi cuốn sự tham gia của cá nhân một cách tích cực nhất và tự giác nhất vào hoạt động đó. Mỗi hoạt động của con người luôn luôn mang tính cộng đồng và luôn đi kèm với giao tiếp. Chính v́ vậy giao tiếp cũng là nhân tố cơ bản trong sự  h́nh thành và phát triển nhân cách con người.
Sự h́nh thành và phát triển nhân cách con người mang tính xă hội,  lịch sử chính giáo dục là sự phát triển nhân cách đóng vai tṛ chủ đạo đối với sự phát triển của đất nước nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Giáo dục là hoạt động có mục đích có kế hoạch của con người, là hoạt động có ư thức của các nhà giáo dục hoặc tổ chức giáo dục nhằm h́nh thành nhân cách trẻ em. Ở đây không chỉ hiểu giáo dục theo tác động một chiều của các nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục mà quá tŕnh này luôn diễn ra qua quá tŕnh tác động hai chiều giữa người giáo dục và người được giáo dục. Bởi v́ trẻ em vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá tŕnh giáo dục.
Mạnh Tử núi: “Nhơn chi sơ tính bổn thiện, tính tương cận tập tương viễn”, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ lương thiện, tính t́nh khá đồng nhất, nhưng do môi trường và sự tiếp cận học hỏi khác nhau mà tính t́nh đâm ra khác biệt nhau.
Tuân Tử núi: “Nhơn chi sơ tính bổn ác, lư tính hậu lai tập đắc”, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ là ác, nhưng sau này do học tập mà có lư trí, biết cỏi đỳng cỏi sai.
Mạnh Tử và Tuân Tử đều là bậc thầy của Nho giáo thời Chiến quốc, dự cú những đánh giá khác nhau về tính con người nhưng đều thống nhất rằng môi trường và sự giáo dục sẽ làm con người thay đổi, nghĩa là giáo dục đóng vai tṛ quyết định cho bản tính của con người trong tương lai.
Thật ra, đánh giá khác nhau về bản chất con người của hai ông không có ǵ mâu thuẫn. Tuân Tử nh́n theo hướng tiến hóa của vạn vật, cho rằng con người là một loài động vật trong thế giới sinh học nên theo nguồn gốc ban đầu vốn dữ tính, muốn thành người có lư trí th́ phải được giáo dục.
Mạnh Tử nh́n con người từ khía cạnh xă hội học, cho rằng con người được sinh ra trong cộng đồng, có t́nh thương của cha mẹ, anh em, bè bạn nên bản tính ban đầu lương thiện, nhưng khi tiếp xúc, học tập trong các điều kiện xă hội khác nhau th́ tính t́nh ắt sẽ khác nhau. Từ đó có thể thấy từ xưa đến nay, mọi thế hệ nhân loại đều khẳng định vai tṛ vô cùng to lớn của giáo dục đối với con người.
Mục tiêu của giáo dục thật sự rất rơ ràng là dạy làm người, nghĩa là rèn luyện đạo đức và nhân cách con người. Giáo dục đồng thời cung cấp kiến thức, kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc, văn minh. Nền giáo dục của nước ta cũng phải t́m ra các biện pháp để đạt được hai mục tiêu trên.
Nước ta có lịch sử lâu đời, đạo đức con người Việt Nam không những được h́nh thành từ sự đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên, tạo nên sức mạnh cộng đồng thương yêu bảo vệ nhau, mà c̣n tiếp thu được nhiều nguồn tư tưởng và đạo đức của loài người, trong đó Phật giáo dạy ḷng từ bi, vị tha, yêu thương mọi sinh linh…; Nho giáo dạy cách xử lư mối quan hệ giữa người với người, với cha mẹ (chữ hiếu), với cộng đồng quốc gia (chữ trung) và các mối quan hệ với người chung quanh khác, h́nh thành nên hệ thống đạo đức “lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nhơn, trớ, tớn, dũng”…; Thiên Chúa giáo và đạo Tin Lành dạy ḷng bác ái, yêu tự do…; tư tưởng của Karl Marx dạy sự b́nh đẳng, yêu thương bênh vực người cô thế, đứng về phía quyền lợi người nghèo khú…Cỏc luồng tư tưởng và đạo đức của loài người quy tụ đến Việt Nam trên 2.000 năm qua đă được con người Việt Nam tiếp thu và chọn lọc, h́nh thành nên đạo đức tư tưởng văn hóa Việt Nam. Chính nền tảng văn hóa này là nguồn sức mạnh vô biên cho con người Việt Nam.
Trở lại thực trạng xă hội chúng ta. Sau ngày đất nước thống nhất, người Việt Nam ta thật sự làm chủ đất nước, hoàn toàn có quyền thiết kế một thể chế xă hội phù hợp với văn hóa, đạo đức, con người Việt Nam. Hơn 30 năm qua, tuy đă có tiến bộ về mặt xóa đói giảm nghèo, đời sống chung của người dân có được nâng cao, nhưng thành quả đó vẫn c̣n khá khiêm tốn so với tiềm năng của đất nước.
Nếu so sánh với các nước xung quanh th́ khoảng cách vẫn c̣n lớn. Điều đau ḷng hơn là đạo đức cá nhân, đạo đức xă hội ngày càng có nhiều biểu hiện suy đồi, người lớn phải hổ thẹn với trẻ em, cấp trên phải hổ thẹn với cấp dưới khi nói về đạo đức. Nguy hại hơn, đáng phẫn nộ hơn là những kẻ đạo đức giả không hề ngại ngùng đứng bên trên giảng giải đạo đức cho người khác, những kẻ phạm pháp nhởn nhơ ngoài ṿng pháp luật... Đây mới chính là nguyên nhân trực tiếp nhất làm cho nền giáo dục của ta không thể đổi mới được.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét