Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014
John Quiggin - Sự sụp đổ gần kề của Trung Hoa
Hiếu Tân dịch
Cuộc
họp hằng năm của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tại Davos đã tỏ ra
thành công đến mức đã tạo ra hàng loạt những sự kiện phụ hữu ích. Tôi đã
nói tại một đôi cuộc như thế ở Australia và chắc chắn có nhiều cuộc
khác nữa. Nhưng cái lớn nhất, chỉ đứng thứ hai sau bản thân WEF, là Cuộc
họp hàng năm của Những Quán quân mới, được biết một cách không chính
thức dưới tên những "Davos Mùa Hè."
Như
cái tên chính thức của nó hàm ý, Davos Mùa Hè tập trung vào những vấn
đề đang ảnh hưởng tới các nền kinh tế phát triển nhanh của châu Á. Năm
nay, sự kiện này được tổ chức ở Đại Liên, Trung Hoa, dưới chủ đề "Làm
chủ Tăng trưởng Chất lượng."
Cả
chủ đề lẫn chương trình đều sặc mùi lạc quan về thành công tốt lành và
chắc chắn của mô hình thị trường tự do được thu nhỏ trong những trang
của National Interest, bằng luận văn của Francis Fukuyama "Kết thúc của
lịch sử."
Chắc
chắn là, các cuộc thảo luận Davos không đặc trưng bởi thái độ hân hoan
chiến thắng thịnh hành vào những năm 1990, khi luận văn của Fukuyama
xuất hiện. Con đường đi đến tăng trưởng có chất lượng có vẻ như bị vây
bọc bởi những chướng ngại. Những chính sách khôn ngoan và những phán xét
đúng đắn là cần nếu như những chướng ngại này có thể tránh được, và
chính cái mục đích của Cuộc họp của Những Quán quân Mới này là cung cấp
hướng dẫn để tìm đường lách qua những chướng ngại ấy.
Tuy
nhiên chương trình tỏ ra có chút nghi ngờ rằng Trung Hoa và các quán
quân mới nổi của châu Á sẽ trong một tiến trình thích hợp đi theo một
phiên bản hơi đổi khác của con đường mòn đã được các nước đã phát triển
đánh dấu, đạt được những định chế cần thiết như quy tắc thượng tôn pháp
luật và nền dân chủ tự do trên con đường đó.
Dấu
vết của việc đi theo con đường đã được sử dụng tốt đặc biệt rõ ràng
trong những chủ đề như "đổi mới gãy vỡ" một lối nói hơi bị mòn nhẵn do
Clayton Christesen của Trường Kinh doanh đại học Harvard tạo ra, trong
những năm đầu bùng nổ những địa chỉ mạng "chấm com." Nó đã giúp thổi
phồng chiếc bong bóng ngoạn mục đó, bây giờ nó đang được xuất khẩu để
làm sủi bọt các nền kinh tế Đông Á theo cách ấy.
Câu
chuyện lạc quan được đưa ra ở Davos không phải không có những kẻ phê
bình. Một quan điểm khác khá phổ biến trong hai phe đối lập gay gắt:
Những người trong tôn ti trật tự Trung Hoa lấy khái niệm "chủ nghĩa xã
hội mang đặc tính Trung Hoa" ở một cái gì đó giống như giá trị bề mặt,
và những người ở Hoa Kỳ vẫn giữ niềm hoài nghi truyền thống – hay thù
địch với – Trung Hoa, hoặc là như một sự tiếp tục Chiến tranh Lạnh, hoặc
là trên quan điểm cho rằng hai cường quốc lớn này cuối cùng thế nào
cũng đụng độ nhau.
Về
quan điểm khác này, Trung Hoa (và có lẽ các nước châu Á khác) có thể
trở nên giàu có mà không cần trở thành tự do hay dân chủ. Đã làm được
thế, Bắc Kinh (và theo quan điểm của những người ủng hộ Trung Hoa về
phân tích này) sẽ biến sức mạnh kinh tế của nó thành ảnh hưởng chính
trị. Trên tổng thể, ảnh hưởng này sẽ tự nhiên thiên về một phiên bản
mạnh của học thuyết không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước có
chủ quyền (ít nhất cho đến khi Trung Hoa đủ mạnh để toan tính về một sự
can thiệp như thế) và ủng hộ các chính phủ chuyên quyền đủ mọi loại như
một đối trọng với tuyên bố của những nước dân chủ tự do là những chính
phủ hợp pháp duy nhất chân chính.
Trên
bề mặt, những người ủng hộ quan điểm thứ hai có lý lẽ tốt hơn. Bên
trong Trung Hoa hai mươi năm nay đã thấy tăng trưởng kinh tế khổng lồ,
nhưng không có tiến bộ thực sự nào về hướng dân chủ. Những hy vọng mà
những người biểu tình ủng hộ dân chủ khơi lên năm 1989 đã bị nghiền nát,
và hầu hết người Trung Hoa tỏ ra đã chấp nhận nguyên trạng chính trị và
yên phận để kiếm tiền.
Việc
khuyến khích những cuộc bầu cử địa phương ở những làng mạc nông thôn
như một cơ sở diễn tập dân chủ hóa hóa ra đã lâm vào một ngõ cụt. Mặc
dầu những hệ thống bầu cử địa phương đã có trong nhiều thập kỷ, nó vẫn
không dẫn đến việc mở rộng hệ thống này ra những thành phố nhỏ, chứ đừng
nói đến những thành phố lớn hiện nay là trung tâm của những hoạt động
kinh tế. Và chính phủ trung ương không ngại ngần dẫm lên bất cứ làng xã
nào coi các quyền dân chủ là quá nghiêm túc – chẳng hạn, bằng cách bầu
cho những ứng cử viên không được chấp nhận hoặc đòi bãi nhiệm một lãnh
đạo xã có những mối liên hệ quan trọng.
Trên
thực tế hệ thống bầu cử địa phương có thể được coi như một cuộc rút lui
chiến lược của Đảng Cộng sản, cách tốt hơn để bảo vệ độc quyền quyền
lực ở quy mô toàn quốc. Không còn sót lại mối quan tâm ý thức hệ nào
theo cách các làng xã đang được điều hành, việc rũ bỏ trách nhiệm đối
với những công việc không mấy lợi lộc của chính quyền địa phương có ý
nghĩa rất lớn.
Về
phương diện quốc tế, Trung Hoa đã thiết lập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải
(SCO) cùng với Nga và một nhóm các nước độc tài Trung Á (các tên nước có
đuôi -stan) và với Ấn Độ, Iran, Mông Cổ và Pakistan là những quan sát
viên chính thức. Nhóm này có một lợi ích chung trong việc cổ vũ quan
điểm rằng không có mô hình chính phủ nào duy nhất phù hợp [cho tất cả],
và rằng hoàn cảnh châu Á đòi hỏi các giá trị Khổng giáo về việc tôn
trọng người cầm quyền.
Cuối
cùng chính phủ Trung Hoa đã tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát các nguồn
tài nguyên thiên nhiên và sử dụng việc kiểm soát đó vào các mục tiêu địa
chính trị. Trong số những thí dụ nổi bật nhất là việc giữ độc quyền,
thông qua cạnh tranh như ăn cướp, thị trường "đất hiếm" và áp đặt lệnh
cấm lên nhập khẩu sang Nhật Bản sau khi nước này bắt giữ một thuyền đánh
cá Trung Hoa trong vùng biển tranh chấp.
Tất
cả những chuyện này tạo vẻ ngoài về một chế độ thống nhất trong đó sức
mạnh kinh tế và chính trị được vận dụng phối hợp cùng nhau trong việc
theo đuổi những lợi ích của dân tộc. Không có gì đáng ngạc nhiên khi mô
hình này đang hấp dẫn nhiều người Trung Hoa và được nhiều người phương
Tây nhìn bằng con mắt vừa sợ hãi vừa thèm muốn.
Nhưng
những cái vẻ ngoài có thể lừa dối. Các cường quốc lớn đã định hình hay
đang vươn lên, có xu hướng đánh giá quá cao khả năng của họ điều khiển
tiến trình của các sự kiện. Hoa Kỳ một thời gian dài dùng cấm vận như
một công cụ của chính sách (hoặc ít nhất như một sự biểu thị cơn thịnh
nộ chính trị), đáng chú ý nhất là cấm vận chống chính phủ Cuba. Tuy
nhiên, trong hoàn cảnh thiếu một sự tham gia rộng rãi của quốc tế, những
chính sách như thế may lắm là vô dụng nếu không rơi vào tình trạng phản
tác dụng tệ hại. Anh em Castro vẫn nắm chính quyền dài dài sau khi
những tay độc tài ít hung hăng hơn theo cảm quan của Mỹ đã bị đuổi ra
khỏi đất nước hay bị tống vào ngục.
Việc
cấm vận đất hiếm ít thành công hơn cuộc cấm vận Cuba, bị bãi bỏ chỉ sau
năm tuần. Tác động duy nhất của nó là sự tranh giành trong số những
người sử dụng đất hiếm để duy trì những nguồn cung cấp thay thế, dẫn đến
việc mở lại những mỏ đã bị đóng do kết quả của cuộc cạnh tranh giá-thấp
của Trung Quốc. Một vị trí giành được bằng giá đắt của sức mạnh thị
trường đã bị vứt bỏ không thể lấy lại.
SCO
cũng vô ích như thế. Nó đã không tạo được một ảnh hưởng quyết định lên
các sự kiện ở Tây Á. Những hành động của Nga trong việc kích động những
nước nhỏ li khai như Abkhazia và Nam Ossetia trực tiếp chống lại những
quan ngại của Trung Hoa về chủ quyền lãnh thổ. Tương tự, tổ chức này có
ít ảnh hưởng đối với sự sụp đổ của các chính phủ kế tiếp nhau ở
Kyrgyzstan. Khi (và nếu) những kẻ độc tài ở các nước 'tên có đuôi –stan'
gặp thách thức nghiêm trọng từ các thần dân của chúng, hiếm khi thấy
SCO làm được gì nhiều, hoặc còn giữ được nhiều sức hấp dẫn với các nhà
nước kế vị.
Nếu
Afghanistan là bãi tha ma của các đế quốc, thì châu Á đã từng là bãi
tha ma của các tổ chức quốc tế, và SCO dường như cũng chịu chung số phận
với SEATO, ASEAN, APEC, AP-6 và nhiều tổ chức khác. Những tổ chức này
(SEATO chết vì thiếu sự quan tâm trong những năm 1970 nhưng những tổ
chức còn lại vẫn còn tồn tại đến ngày nay) đã tổ chức nhiều cuộc họp,
nhưng khó mà chỉ ra được một thành tựu quan trọng nào trong khoảng thời
gian giữa những cuộc họp ấy. Và phần lớn những tổ chức này có nhiều
thành viên cố kết và căn bản hơn SCO, vốn giống như một "salon chối từ"
(salon des refusés[1]) hình thành trong sự thách thức của các tổ chức tương ứng của các nền dân chủ tự do.
Cuối
cùng có một câu hỏi lớn liệu Đảng Cọng sản Trung Hoa có thể duy trì độc
quyền quyền lực của nó trong một nền kinh tế thị trường phát triển hết
cỡ (hoặc có thể pha trộn) hay không. Trái ngược với một số hy vọng lạc
quan, có ít lý do để nghĩ rằng sự phát triển của một nền kinh tế thị
trường tự nó đủ để tạo ra một bước chuyển về hướng dân chủ. Đảng này đã
hết sức thành công trong việc kết nạp những thành viên hàng đầu của khu
vực kinh doanh và trong việc đảm bảo rằng họ có một khả năng thật sự để
duy trì trật tự hiện tồn.
Mặt
khác, như tấm gương của Mùa Xuân A Rập cho thấy, các chính phủ độc tài
có thể dễ đổ vỡ hơn nhiều so với vẻ ngoài của chúng. Cái hệ thống đầu sỏ
chính trị tự-bầucử chính mình đã nổi lên ở Trung Hoa từ sau cái chết
của Mao đã là một nguồn ổn định nhưng không đưa ra được cách nào tốt để
giải quyết những bất đồng cơ bản về các đường lối chính sách.
Tăng
trưởng kinh tế ngoạn mục của hai thập kỷ qua đã làm cho việc giải quyết
các bất đồng trở nên tương đối dễ dàng. Chỉ cần thấy, đã có đủ thặng dư
để thỏa mãn mọi lợi ích quan trọng và vẫn còn cho phép tăng nhanh thu
nhập cho khối lớn dân cư, hay ít nhất những người ở khu vực đô thị là
những người có thể tạo thành mối đe dọa đối với ổn định chính trị.
Hơn
nữa, tấm gương Mùa Xuân A Rập gợi lên rằng một sự chậm lại trong tăng
trưởng kinh tế có thể dẫn đến gãy vỡ đột ngột trong cái có vẻ ngoài là
một trật tự chính trị đã được thiết lập vững vàng. Trong các nước dân
chủ, những cú sốc kinh tế thường dẫn đến thất bại trong bầu cử cho chính
phủ đương nhiệm, điều ấy ít nhất cũng cung cấp cho xã hội một ai đó để
đổ lỗi, và một phép thử của cái giả thuyết rằng khủng hoảng là do lãnh
đạo kém.
Trong
một chế độ mà cấu trúc quyền lực nằm trong tay một nhóm nhỏ đóng kín
như Trung Hoa, không có một cơ chế như thế. Hệ thống này có thể đổ vỡ từ
bên trong, những bất đồng, bè phái, bên trong ban chấp hành trung ương
tràn ra toàn đảng và cả ra ngoài xã hội. Như một lựa chọn, những cuộc
biểu tình phản đối quy mô lớn của công chúng, kết hợp với những bất đồng
vượt quá mức độ cần đến và có thể đàn áp, dễ kéo đến một sụp đổ nhanh
chóng.
Với
tính mờ đục của hệ thống này, không có cách nào nói trước một sự sụp đổ
như vậy sẽ xảy ra khi nào và theo cách nào, trừ cái nhận xét rằng nó có
thể được báo trước bằng một loại khủng hoảng kinh tế gì đó. Hơn nữa,
không có cách nào nói trước liệu một cuộc khủng hoảng như thế có thể tạo
ra bước chuyển biến tương đối êm đềm sang dân chủ, hay là một cái gì đó
hỗn loạn hơn, hay có lẽ đẫm máu.
Một
sự sụp đổ trật tự hiện tồn, đi kèm theo sự dâng trào đột ngột các yêu
cầu dân chủ hóa chắc chắn sẽ là một ví dụ tốt nhất về một sự "đổi mới
gãy vỡ." Nhưng có lẽ những người quăng ra câu này nên cẩn thận với điều
họ muốn.
Đã đăng trên vanchuongviet.org


10:18
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét