Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014
Leon Aron (Foreign Policy, July/August 2011) - Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô là sai lầm
Trần Ngọc Cư dịch
Nhân kỉ niệm 20 năm tan rã Liên Xô
Mọi
cuộc cách mạng đều tạo ra kinh ngạc. Tuy vậy, cuộc Cách mạng Nga gần
đây nhất phải được kể là một trong những kinh ngạc lớn nhất. Trong những
năm trước 1991, gần như không một chuyên gia, học giả, viên chức chính
quyền, hay chính trị gia phương Tây nào thấy trước được sự sụp đổ sắp
xảy ra của Liên Xô, và kéo theo nó một chế độ độc tài độc đảng, một nền
kinh tế do nhà nước làm chủ, và cả sự kiểm soát của Điện Cẩm Linh đối
với đế quốc Liên Xô và Đông Âu. Với một ngoại lệ duy nhất, tất cả những
nhà bất đồng chính kiến Xô-viết cũng như chính những nhà cách mạng tương
lai – nếu ta xét qua hồi ký của họ – cũng không tiên đoán được sự kiện
này. Khi Mikhail Gorbachev trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản vào tháng
Ba năm 1985, không một nhân vật đồng thời nào của ông dự kiến một cuộc
khủng hoảng có thể dẫn đến cách mạng. Mặc dù người ta không đồng ý nhau
về tầm mức nghiêm trọng của những vấn đề nội tại trong chế độ Xô-viết,
nhưng không ai coi những vấn đề này là đang đe dọa sinh mệnh của chế độ,
chí ít trong tương lai gần.
Vậy,
do đâu mà có sự thiển cận đều khắp lạ lùng đến thế? Việc các chuyên gia
phương Tây không tiên liệu được sự sụp đổ của Liên Xô một phần là do sử
quan xét lại (historical revisionism) – tạm gọi là khuynh hướng bài chủ
nghĩa chống cộng (anti-anti-communism) – một khuynh hướng phóng đại sự
ổn định và tính chính danh của chế độ Xô-viết. Tuy nhiên, một số nhân
vật khác vốn không được coi là mềm dẻo đối với chế độ cộng sản cũng
không kém kinh ngạc trước sự cáo chung của chế độ này. Một trong những
người thiết kế chiến lược Mỹ trong thời Chiến tranh Lạnh, ông George
Kennan, viết rằng, trong khi nhìn lại toàn bộ “lịch sử các sự vụ quốc tế
trong thời hiện đại”, ông nhận thấy rằng “thật khó nghĩ ra một biến cố
nào lạ lùng, đáng kinh ngạc, và mới thoạt nhìn không thể giải thích nỗi,
hơn sự tan biến đột ngột và toàn bộ… của đại cường mệnh danh kế tục
nhau là Đế quốc Nga rồi đến Liên Xô”. Richard Pipes, có lẽ là sử gia Mỹ
hàng đầu về nước Nga và cũng là một cố vấn của Tổng thống Mỹ Ronald
Reagan, cho rằng cuộc cách mạng gần đây của Nga là “bất ngờ”. Một tuyển
tập gồm các bài tiểu luận viết về sự cáo chung của Liên Xô trong một số
báo đặc biệt năm 1993 của tạp chí bảo thủ National Interest (Lợi ích Quốc gia) có tựa đề là “Cái chết lạ lùng của chủ nghĩa Cộng sản Xô-viết”.
Nếu
có thể hiểu được dễ dàng hơn, thì sự thiếu phán đoán mang tính tập thể
này có thể đã được an toàn xếp vào một hồ sơ trí tuệ gồm những điều kỳ
lạ và phù phiếm của khoa học xã hội rồi bị lãng quên. Tuy nhiên, thậm
chí ngày nay, với khoảng cách 20 năm, giả thuyết cho rằng Liên Xô vẫn có
thể tiếp tục tồn tại trong tình trạng lúc đó hay bất quá cuối cùng nó
sẽ bắt đầu một cuộc suy tàn kéo dài khá lâu, có vẻ là một kết luận không
kém phần hợp lý.
Thật
vậy, vào năm 1985 Liên Xô gần như vẫn có đủ nguồn lực thiên nhiên và
nhân sự của 10 năm về trước. Chắc chắn là, mức sống tại đây còn thấp hơn
tại Đông Âu khá xa, nói chi đến phương Tây. Tình trạng thiếu hụt hàng
hoá, hạn chế lương thực, những hàng người dài trước các quầy hàng, và
nạn nghèo khổ khắc nghiệt diễn ra đều khắp xã hội. Nhưng Liên Xô đã từng
trải qua nhiều đại họa to lớn hơn thế và đã có thể đối phó mà không hề
mất một mảy may quyền kiểm soát của nhà nước đối với xã hội và nền kinh
tế, lại càng không hề từ bỏ quyền lực này.
Không
có một thước đo thành tích kinh tế chủ yếu nào trước năm 1985 cho thấy
một thảm họa đang lù lù xốc tới. Từ năm 1981 đến năm 1985 mức tăng
trưởng GDP của Liên Xô, mặc dù có chậm lại so với thập niên 1960 và thập
niên 1970, nhưng cũng đạt được 1,9% một năm. Chính cùng một mô hình dù
suy yếu nhưng không đến nỗi thảm khốc này còn kéo dài cho đến hết năm
1989. Nạn thiếu hụt ngân sách, một yếu tố kể từ thời Cách mạng Pháp được
coi là tín hiệu quan trọng cho một cuộc khủng hoảng có thể đưa đến cách
mạng, chưa lên tới 2% GDP vào năm 1985. Mặc dù có gia tăng nhanh chóng,
nạn thâm thủng ngân sách vẫn ở dưới mức 9% GDP cho đến hết năm 1989 –
một con số mà hầu hết các nhà kinh tế cho là hoàn toàn có thể xoay trở
được (manageable).
Giá
dầu lửa rơi cực nhanh, từ 66 đôla một thùng năm 1980 xuống 20 đôla một
thùng năm 1986 (trong số 2000 giá cả) chắc chắn là một đòn nặng nề đánh
vào tài chính Xô-viết. Tuy vậy, nếu điều chỉnh theo nạn lạm phát, thì
vào năm 1985 giá dầu lửa trên thị trường thế giới vẫn cao hơn năm 1972,
và chỉ thấp hơn toàn thập niên 1970 một phần ba mà thôi. Nhưng đồng
thời, mức thu nhập của người dân Xô-viết gia tăng hơn 2% vào năm 1985,
và sau khi điều chỉnh lạm phát, đồng lương của họ còn tiếp tục gia tăng
trong 5 năm liền cho đến hết năm 1990 ở mức độ trung bình trên 7% mỗi
năm.
Vâng,
tình trạng đình đốn kinh tế của Liên Xô là hiển nhiên và đáng lo ngại.
Nhưng như Giáo sư Đại học Wesleyan, ông Peter Rutland, đã chỉ rõ, “Dẫu
sao, những chứng bệnh kinh niên của Liên Xô không nhất thiết đe dọa sinh
mệnh của nước này”. Ngay cả nhà nghiên cứu hàng đầu về các nguyên nhân
kinh tế của cuộc cách mạng này, ông Anders Aslund, cũng ghi nhận rằng từ
năm 1985 đến năm 1987, tình hình “là không mảy may sôi động”.
Từ
quan điểm của chính quyền, tình hình chính trị lúc bấy giờ thậm chí ít
đáng lo ngại hơn trước. Sau 20 năm liên tục đàn áp đối lập chính trị,
gần như tất cả những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng đã bị cầm tù, lưu
đày (như trường hợp Andrei Sakharov từ năm 1980), buộc phải ra sống ở
nước ngoài, hay chết trong các trại cải tạo và nhà giam.
Cũng
gần như không có bất cứ một dấu hiệu nào khác báo trước một cuộc khủng
hoảng tiền cách mạng (pre-revolutionary crisis), kể cả một nguyên nhân
truyền thống thường được coi là có thể dẫn đến sự suy sụp của một quốc
gia – đó là sức ép từ bên ngoài. Trái lại, thập niên trước đó được các
học giả đánh giá đúng đắn là thời kỳ Liên Xô “đã thực hiện được tất cả
những tham vọng quân sự và ngoại giao quan trọng”, như nhà sử học và
ngoại giao Mỹ, ông Stephen Sestanovich, đã viết. Tất nhiên, lúc bấy giờ
Afghanistan ngày càng cỏ vẻ là một cuộc chiến lâu dài, nhưng đối với một
quân lực gồm 5 triệu binh sĩ như của Liên Xô, sự thiệt hại tại đó là
không đáng kể. Thật vậy, mặc dù gánh nặng tài chính khổng lồ do việc duy
trì một đế quốc về sau trở thành một vấn đề chính trong các cuộc tranh
luận sau năm 1987, nhưng bản thân những chi phí cho cuộc chiến
Afghanistan không làm cho quốc gia kiệt quệ: Được ước tính vào khoảng 4
đến 5 tỉ đôla vào năm 1985, đó là một phần không đáng kể trong tổng sản
lượng nội địa (GDP) của Liên Xô.
Hoa
Kỳ cũng không phải là một lực tác động cho cuộc cách mạng. “Học thuyết
Reagan” bao gồm nỗ lực chống lại và, nếu có thể, đảo ngược những bước
tiến của Liên Xô trong Thế giới Thứ ba quả có tạo được sức ép chung
quanh đế quốc này, ở những nơi như Afghanistan, Angola, Nicaragua, và
Ethiopia. Tuy nhiên, những khó khăn của Liên Xô ở đó cũng chẳng có gì
nghiêm trọng để trở thành một nguy cơ cho chế độ.
Trong
một màn giáo đầu cho một cuộc chạy đua vũ trang có tiềm năng gây ra
nhiều tốn kém cho đối phương, Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược [hay lá
chắn nguyên tử] do Reagan đưa ra thực sự có ý nghĩa nghiêm trọng –
nhưng đề xuất này không hề báo hiệu một sự thất bại quân sự cho Liên Xô,
vì Điện Cẩm Linh biết chắc rằng việc triển khai hữu hiệu hệ thống phòng
thủ không gian của Mỹ cũng mất vài thập kỷ nữa mới thực hiện được.
Tương tự như thế, mặc dù cuộc nổi dậy chống cộng sản bất bạo động của
công nhân Ba Lan là một tình hình rất bức xúc cho giới lãnh đạo Xô-viết,
làm nổi bật sự mong manh của đế quốc của họ tại châu Âu, nhưng vào năm
1985 Phong trào Đoàn kết (Soliditary) tỏ ra đã kiệt lực. Liên Xô hình
như thích nghi được với việc tung ra các “đợt bình định” đẩm máu cứ 12
năm một lần – Hungary năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, và Ba Lan năm 1980 –
bất chấp dư luận thế giới.
Nói
thế khác, đây là một Liên Xô đang ở trên đỉnh cao quyền lực và thanh
thế toàn cầu của mình, theo quan điểm của chính nó lẫn quan điểm của thế
giới còn lại. Sau này, sử gia Adam Ulam đã nhận xét “Chúng ta thường
quên rằng vào năm 1985, không một chính phủ của một quốc gia quan trọng
nào tỏ ra có quyền lực vững chắc và có đường lối chính sách rõ ràng như
chính quyền Liên bang Xô-viết”.
Hẵn nhiên, có nhiều lý do thuộc về cơ chế – kinh tế, chính trị, xã hội – cho biết tại sao Liên Xô phải sụp đổ như nó đã sụp đổ; tuy nhiên, những lý do này không thể giải thích đầy đủ biến cố này diễn ra như thế nào và diễn ra khi nào.
Nghĩa là, làm sao trong một thời gian từ năm 1985 đến năm 1989, trong
lúc không gặp phải những tình trạng tồi tệ gay gắt về kinh tế, chính
trị, dân số, và các vấn đề cơ chế khác, mà nhà nước và hệ thống kinh tế
Xô-viết bỗng dưng bị một quần chúng đủ đông đảo coi là ô nhục, thiếu
tính chính danh, và hết chịu nỗi để phải sụp đổ?
Gần
như hầu hết mọi cuộc cách mạng hiện đại, cuộc cách mạng Nga gần đây
nhất được khởi động bằng một tiến trình tự do hóa khá do dự “từ trên
xuống” – và lý do căn bản của nó vượt quá nhu cầu sửa sai nền kinh tế
hoặc làm cho môi trường quốc tế tốt đẹp hơn. Cái cốt lỏi trong sáng kiến
của Gorbachev là rất lý tưởng, đó là điều không thể chối cãi: Ông muốn
xây dựng một Liên Xô có đạo lý hơn.
Vì
mặc dù chiêu bài đưa ra là cải thiện kinh tế, nhưng rõ ràng là
Gorbachev và những người ủng hộ ông trước hết muốn sửa chữa những sai
lầm đạo lý hơn là sai lầm kinh tế. Hầu hết những điều họ tuyên bố công
khai trong những ngày đầu của chương trình tái cơ cấu (perestroika), bây
giờ nhìn lại, có vẻ chỉ là một cách biểu lộ nỗi khổ tâm của họ về sự
suy đồi tinh thần và những hệ quả xói mòn đạo lý của thời đại
Xít-ta-lin. Đó là bước khởi đầu của một sự liều lĩnh đi tìm kiếm những
câu trả lời cho các vấn nạn to lớn mà mọi cuộc cách mạng vĩ đại thường
bắt đầu: Thế nào là một cuộc sống tốt đẹp, hợp với nhân phẩm? Cái gì tạo
ra một trật tự kinh tế và xã hội công chính? Một nhà nước chính danh và
đàng hoàng là như thế nào? Quan hệ của một nhà nước ấy với xã hội dân
sự phải như thế nào?
“Một
không khí đạo lý mới mẻ đang thành hình trên đất nước ta”, Gorbachev đã
nói như thế trước Ủy ban Trung ương Đảng trong phiên họp tháng Giêng
1987, nơi ông tuyên bố rằng glasnost (chủ trương cởi mở) và tự do hóa sẽ làm nền tảng cho perestroika
(chủ trương tái cơ cấu) xã hội Xô-viết của ông. “Việc thẩm định lại
các giá trị và xét lại chúng một cách sáng tạo đang được tiến thành”.
Sau này, khi nhắc lại cảm tưởng của ông rằng “chúng ta không thể tiếp
tục như thế thêm nữa, và chúng ta phải triệt để thay đổi lối sống, dứt
khoát với những sai trái trong quá khứ”, ông gọi đó là “lập trường đạo lý” của ông.
Trong một bài phỏng vấn vào năm 1989, “người cha đỡ đầu của glasnost”,
ông Aleksandr Yakovlev, nhớ lại rằng, vào lúc trở về Liên Xô sau 10 năm
làm Đại sứ tại Canada, ông cảm thấy đã đến lúc người dân phải tuyên bố,
“Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa. Mọi
việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta phải xét lại
tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng ta… Một
sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống
như chúng ta đã sống trước đây – một cách nhục nhã, ngoài mức chịu
đựng”.
Theo ý kiến của vị thủ tướng của Gorbachev, ông Nikolai Ryzhkov, “tình trạng đạo lý [nrastennoe] của xã hội vào năm 1985 là nét đặc trưng “hãi hùng nhất”:
[Chúng
ta] ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo
khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp
cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả
những điều này đã diễn ra – từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên.
Một
thành viên khác trong nhóm thân cận sơ khởi và rất ít ỏi của Gorbachev
gồm những nhân vật chủ trương tự do, Bộ trưởng Ngoại giao Eduard
Shevardnadze, cũng khổ tâm không kém vì tình trạng thiếu luật lệ và tham
nhũng đều khắp. Ông nhớ lại đã nói với Gorbachev vào mùa đông
1984-1985: “Mọi thứ đã thối nát. Phải thay đổi thôi”.
Trở
lại thập niên 1950, một vị tiền nhiệm của Gorbachev, ông Nikita
Khrushchev, đã lần đầu thấy rõ sự mong manh của cái nền tảng của ngôi
nhà mà Stalin đã xây lên trên sự khủng bố và dối trá. Nhưng thế hệ thứ
năm này của giới lãnh đạo Xô-viết cảm thấy tin tưởng hơn về sức bật của
chế độ. Gorbachev và các đồng chí của ông tỏ ra tin tưởng rằng những
điều đúng cũng là những điều có thể quản lý được dễ dàng về mặt chính
trị (politically manageable). Gorbachev tuyên bố rằng chủ trương dân chủ
hóa “không phải là một khẩu hiệu nhưng là tinh túy của perestroika”. Nhiều năm về sau, ông đã trả lời phỏng vấn như sau:
Mô
hình Xô-viết không những bị đánh bại trên bình diện kinh tế và xã hội;
nó bị đánh bại ngay trên bình diện văn hóa. Xã hội chúng ta, nhân dân
chúng ta, những người có học vấn nhất, những người có trí thức nhất, đã
bác bỏ mô hình ấy trên bình diện văn hóa vì nó không tôn trọng con
người, nó đàn áp con người về mặt tinh thần lẫn chính trị.
Sự
thể những cải tổ đã đưa đến cuộc cách mạng năm 1989 phần lớn cũng phát
xuất từ một nguyên nhân “lý tưởng” khác: bản thân Gorbachev rất ghét bạo
động và, vì thế, ông cương quyết không sử dụng việc áp bức quần chúng
(mass coercion) khi tầm mức của các biến chuyển bắt đầu vượt quá ý định
ban đầu của ông. Triển khai các lực lượng đàn áp kiểu Xít-ta-lin cho dù
để “duy trì chế độ” cũng sẽ là một hành động phản lại niềm tin tưởng son
sắt nhất của ông. Một chứng nhân nhớ lại Gorbachev đã nói vào cuối thập
niên 1980, “Chúng ta được dạy là chúng ta phải đấm bàn”, rồi ông nắm
tay lại, minh họa cú đấm. Viên Tổng bí thư phát biểu tiếp: “Nói chung,
việc này có thể thực hiện. Nhưng chúng tôi không thích làm như vậy”.
Vai
trò của tư duy và lý tưởng trong việc mang lại cuộc cách mạng Nga xuất
hiện rõ nét hơn khi chúng ta nhìn vào những diễn biến bên ngoài Điện Cẩm
Linh. Một ký giả Xô-viết hàng đầu và về sau trở thành một tiếng nói
nhiệt tình đối với chủ trương glasnost, ông Aleksandr Bovin, đã viết vào năm 1988 rằng những lý tưởng của perestroika
đã “chín muồi” giữa lúc nhân dân ngày càng “bức xúc” trước nạn tham
nhũng, ăn cắp của công trắng trợn, trước những láo khoét, và những cản
trở chặn đứng việc làm của người lương thiện. Những dự kiến “về một cuộc
đổi thay có thực chất đang bàng bạc trong không gian”, một chứng nhân
khác nhớ lại, và những người mang kỳ vọng này đã tạo nên một khối cử tri
rõ nét (appreciable constituency) đang đòi hỏi những cải tổ triệt để.
Thật vậy, những kỳ vọng đã đón chào Gorbachev khi ông lên cầm cầm quyền
là rất mãnh liệt và ngày càng gia tăng đến độ chúng có thể định hình cho
chính sách thực sự của ông. Đột nhiên, chính các tư duy đã trở nên một
yếu tố có cấu trúc, có thực thể trong cuộc cách mạng đang diễn ra.
Theo
cách nói của Yakovlev, cái uy tín của ý thức hệ chính thống, vốn ràng
rịt toàn bộ hệ thống chính trị và kinh tế của chế độ Xô-viết “như những
niềng thép”, đang rã rệu nhanh chóng. Nhận thức mới đã giúp người dân
thay đổi thái độ đối với chế độ và tạo ra “một chuyển biến trong hệ
thống các giá trị”. Dần dần, tính chính đáng của các sắp xếp chính trị
[cơ chế chính trị] bắt đầu bị chất vấn. Trong một trường hợp điển hình
của “định lý Thomas” bất hủ mà [nhà xã hội học] Robert K. Merton xây
dựng thành lý thuyết – “Nếu người ta tin rằng một tình thế là có thực,
thì tình thế đó sẽ trở thành hiện thực trong hậu quả của nó”– sự suy đồi
thực sự của nền kinh tế Xô-viết chỉ mang lại hậu quả nghiêm trọng sau
khi và bởi vì có một chuyển biến cơ bản trong cách người dân cảm nhận và
đánh giá thành tích của chế độ.
Viết
cho một tạp chí Xô-viết năm 1987, một độc giả Nga gọi những gì ông
chứng kiến chung quanh ông là một “sự dứt khoát triệt để trong ý thức
của người dân”. Chúng ta biết độc giả này nhận xét đúng vì cuộc cách
mạng của Nga là cuộc cách mạng vĩ đại đầu tiên mà tiến trình của nó được
vẽ thành biểu đồ trong các cuộc thăm dò dư luận quần chúng ngay từ đầu.
Vào cuối năm 1989, cuộc thăm dò dư luận tiêu biểu đầu tiên đã cho thấy
dân chúng nhiệt liệt ủng hộ các cuộc tuyển cử có tính cạnh tranh và việc
hợp pháp hóa các đảng phái ngoài Đảng Cộng sản Xô-viết – sau bốn thế hệ
dưới chế độ độc tài độc đảng và trong lúc các đảng phái độc lập vẫn còn
bất hợp pháp. Giữa thập niên 1990, hơn nửa số người được thăm dò trong
một vùng nước Nga đồng ý rằng “một nền kinh tế lành mạnh” có khả năng
phát triển nhanh hơn “nếu chính phủ cho phép tư nhân làm ăn theo ý họ
muốn”. Sáu tháng sau, một cuộc thăm dò trên toàn nước Nga cho thấy 56%
hậu thuẫn một cuộc chuyển đổi nhanh chóng hay tuần tự sang một nền kinh
tế thị trường. Thêm một năm sau thì số người ủng hộ kinh tế thị trường
tăng đến tỉ lệ 64%.
Những
người đã gieo vào xã hội “chuyển biến ngoạn mục về ý thức” không ai
khác hơn là những kẻ đã từng châm ngòi cho các cuộc cách mạng tiêu biểu
khác của thời hiện đại: đó là, các nhà văn, nhà báo, và giới nghệ sĩ.
Như Alexis de Tocqueville nhận xét, những con người này “giúp tạo ra một
ý thức chung về sự bất mãn như vậy, một công luận được kiên định như
vậy, rồi hai yếu tố này… lại tạo ra những đòi hỏi hữu hiệu cho các
chuyển biến có tính cách mạng”. Đột nhiên, “toàn bộ việc giáo dục” trên
cả nước trở thành “công tác của những người cầm bút”.
Tại
Nga Xô cũng vậy. Những hàng người dài trước các sạp báo – đôi khi các
đám đông phải xếp hàng quanh một khu phố từ lúc 6 giờ sáng, vì lượng báo
ra hàng ngày thường bán sạch chỉ trong vòng 2 tiếng đồng hồ – và số
người đặt mua ngày càng đông các báo nổi tiếng có chủ trương tự do đã
chứng minh sức công phá của những nhà bình luận nổi tiếng thuộc khuynh
hướng glasnost, hay xin mượn cụm từ của Samuel Johnson, “những
bậc thầy truyền giảng chân lý” (teachers of truth): kinh tế gia Mikolai
Shmelyov; các triết gia chính trị như Igor Klyamkin và Alexandr Tsypko;
các tiểu luận gia như Vasily Selyunin, Yuri Chernichenko, Igor
Vinogradov, and Ales Adamovich; các ký giả Yegor Yakovlev, Len
Karpinsky, Fedor Burlatsky, và chí ít trên hai chục nhà văn nữa.
Đối
với họ, việc phục sinh đạo lý là thiết yếu. Điều này có nghĩa là không
những chỉ rà soát lại các hệ thống chính trị và kinh tế Xô-viết, không
những chỉ lật ngược các qui phạm xã hội (social norms), mà còn là một
cuộc cách mạng trên bình diện cá nhân: một sự thay đổi trong nhân cách
của người dân Nga. Như Mikhail Antonov tuyên bố trong một tiểu luận rất
sáng tạo năm 1987, với tiêu đề “Vậy thì việc gì đang đến với chúng ta?”
trên tạp chí Oktyabr, phải “cứu” lấy nhân dân – không phải để họ
thoát khỏi các mối nguy từ bên ngoài, nhưng “chủ yếu để họ thoát khỏi
chính mình, thoát khỏi các tiến trình phi luân đang giết chết những phẩm
chất cao quí nhất của con người”. Cứu nhân dân bằng cách nào? Bằng cách
làm cho tiến trình dân chủ hóa còn sơ sinh trở thành con đường định
mệnh, không thể đảo ngược – không phải bằng “một đợt băng tan” ngắn ngủi
của Khrushchev, nhưng bằng một cuộc thay đổi khí hậu. Và việc gì sẽ đảm
bảo cho tình hình không thể đảo ngược này? Trên hết, đó là sự xuất hiện
của con người tự do, một con người “không bị lây nhiễm trước các sự
kiện lặp đi lặp lại của chế độ nô lệ tinh thần”. Tuần báo Ogoniok, một tạp chí quan trọng thuộc chủ trương glasnost,
đã viết vào tháng Hai năm 1989 rằng chỉ có “con người không có khả năng
làm chỉ điểm cho công an, không có khả năng phản bội và láo khoét, bất
luận nhân danh ai hay tổ chức nào, mới có thể cứu chúng ta khỏi sự xuất
hiện trở lại của một nhà nước độc tài”.
Lối lý luận vòng vo này – để cứu nhân dân, người ta phải cứu lấy perestroika, nhưng người ta chỉ cứu được perestroika
nếu có thể thay đổi đựợc con người “từ bên trong” – gần như không hề
làm cho ai khó chịu. Những người phát biểu tư duy về những vấn đề này
gần như đã cho rằng việc cứu nước bằng chủ trương perestroika và
việc kéo người dân khỏi bãi sình lầy tinh thần là hai nỗ lực đan kết
chặt chẽ, có lẽ không thể tách rời nhau, và họ dừng lại ở đó. Vấn đề
quan trọng là phải đưa nhân dân trở về “địa vị công dân” từ vị trí “nông
nô” và “nô lệ”. “Đủ lắm rồi!” là một lời tuyên bố của Boris Vasiliev,
tác giả của một tiểu thuyết bán rất chạy trong giai đoạn này về Thế
chiến II, một cuốn truyện được đóng thành phim và được khán giả yêu
chuộng không kém. Ông nói: “Đủ lắm rồi những láo khoét, đủ lắm rồi tinh
thần nô lệ, đủ lắm rồi sự hèn nhác. Sau cùng, chúng ta phải nhớ rằng tất
cả chúng ta đều là công dân. Những công dân tự hào của một đất nước tự
hào!”.
Nhìn
kỹ vào những nguyên nhân của Cách mạng Pháp, de Tocqueville có nhận xét
nổi tiếng rằng, các chế độ bị cách mạng lật đổ thường thường ít áp bức
dân chúng hơn các chế độ trước đó. Tại sao? Vì, theo suy đoán của de
Tocquevile, mặc dù người dân “có thể ít khổ sở hơn”, nhưng họ lại “cảm
thấy bị xúc phạm nhiều hơn”.
Thông
thường, Tocqueville có khuynh hướng bàn về những điều tối quan trọng.
Từ Những Người cha lập quốc trong Cách mạng Mỹ (the Founding Fathers),
đến nhóm Jacobins của Cách mạng Pháp và nhóm Bôn-sê-vich trong Cách mạng
Nga, những nhà cách mạng này đã chiến đấu chủ yếu dưới một bóng cờ:
phát huy nhân phẩm. Chính vì nỗ lực tìm kiếm nhân phẩm xuyên qua quyền
tự do và quyền công dân mà khuynh hướng lật đổ chính quyền trong tinh
thần glasnost vẫn còn tồn tại – và sẽ còn tồn tại. Cũng như trước đây
những trang báo của tờ Ogoniok và tờ Moskovskie Novosti
nằm hãnh diện bên cạnh hình ảnh Boris Yeltsin trên chiếc xe tăng như là
các biểu tượng của cuộc mạng Nga gần đây, ngày nay những trang mạng bằng
tiếng Á-rập cũng hiên ngang làm biểu tượng cách mạng bên cạnh những
hình ảnh các đám đông nổi dậy tại Quảng trường Tahrir của Cairo, tại Khu
Casbah của Tunis [Tunisia], trên các đường phố của Benghazi [Lybia], và
các thành phố sôi sục bạo động của Syria. Gác các vấn đề ngôn ngữ và
văn hóa chính trị qua một bên, các thông điệp và cảm thức mà những cuộc
cách mạng này gợi lên là rất giống nhau.
Mohamed
Bouazizi, một thanh niên bán hoa trái, mà cuộc tự thiêu của anh đã châm
ngòi cho cuộc nổi dậy tại Tunisia khởi đầu cho Mùa Xuân Á Rập 2011, đã
tự tử “không phải vì anh ta thất nghiệp nhưng vì khi anh đến nói chuyện
với [chính quyền địa phương] có trách nhiệm về vấn đề của anh thì bị
đánh đập – cái chết này là để tố cáo chính phủ”, một người biểu tình tại
Tunis đã nói với một nhà báo Mỹ như thế. Tại Benghazi, cuộc nổi dậy của
người Lybia bắt đầu với việc các đám đông hô vang khẩu hiệu, “Nhân dân
muốn chấm dứt tham nhũng!” Tại Ai Cập, các đám đông đã “biểu lộ tinh
thần tự cường của một dân tộc bị đàn áp quá lâu đã đến lúc không còn
biết sợ hãi nữa, không muốn để cho giới lãnh đạo của mình tiếp tục tướt
đoạt tự do và chà đạp nhân phẩm”, cây viết chuyên đề của tờ New York Times,
ông Thomas Friedman, đã tường thuật từ Cairo vào tháng Hai năm nay.
[Nếu có mặt ở hiện trường], ông cũng có thể đã tường thuật như thế từ
Mát-xkơ-va năm 1991.
“Nhâm
phẩm có ưu tiên hơn bánh mì!” là khẩu hiệu của cách mạng Tuy-ni-di.
Kinh tế Tuy-ni-di đã gia tăng trong khoảng 2 và 8 phần trăm một năm
trong hai thập kỷ liền trước cuộc nổi dậy. Với giá dầu lửa ở mức cao,
Libya cũng đang phát triển kinh tế khá mạnh ngay trước khi có cuộc nổi
dậy. Cả hai trường hợp này nhắc nhở chúng ta rằng trong thế giới hiện
nay, tiến bộ về mặt kinh tế không thể thay thế cho niềm tự hào và tự
trọng trong tư cách công dân. Nếu chúng ta không nhớ kỹ điều này, chúng
ta sẽ tiếp tục kinh ngạc – trước “các cuộc cách mạng màu” trong thế giới
hậu Xô-viết, trước Mùa Xuân Á Rập, và không chóng thì chầy trước một
biến động dân chủ tất yếu tại Trung Quốc – như chúng ta từng kinh ngạc
trước cuộc cách mạng tại Nga Xô. “Thượng Đế đã ban cho chúng ta một ý
thức mãnh liệt về nhân phẩm khiến chúng ta không thể chấp nhận sự khước
từ các quyền tự do và các quyền bất khả xâm phạm, bất chấp cả quyền lợi
có thực hay giả tưởng nào mà các chế độ độc tài ‘ổn định’ có thể mang
lại”, tổng thống của nước Kyrgyzstan, ông Roza Otunbayeva, đã viết vào
tháng Ba năm nay. “Thật là kỳ diệu khi người dân, nam, phụ, lão, ấu,
thuộc nhiều tôn giáo và khuynh hướng chính trị khác nhau, qui tụ trong
các quảng trường thành phố và tuyên bố ‘chúng tôi đã bưa lắm rồi’
(enough is enough)”.
Hẳn
nhiên, động lực đạo lý tuyệt vời, sự tìm kiếm chân và thiện, chỉ là một
điều kiện cần nhưng không đủ để tái tạo một đất nước thành công. Nhân
dân có thể đủ sức lật đổ chế độ cũ (ancien régime), nhưng không thể cùng
một lúc khắc phục được nền văn hóa chính trị độc tài đã ăn sâu trên cả
nước. Gốc rễ của các định chế dân chủ do những cuộc cách mạng có động cơ
đạo lý có lẽ tỏ ra còn quá nông cạn, không thể giữ vững một nền dân chủ
hữu hiệu trong một xã hội thiếu truyền thống quí giá là cơ sở hạ tầng
biết tự tổ chức và biết tự trị. Đây là điều có thể gây trở ngại to lớn
cho việc thực hiện những hứa hẹn của Mùa Xuân Á-rập – đã thấy ở Nga. Sự
phục sinh đạo lý ở Nga đã bị trở ngại do sự phân hóa và ngờ vực mà 70
năm độc tài toàn trị sản sinh ra. Mặc dù Gorbachev và Yeltsin đã tháo dỡ
một đế quốc, nhưng cái di sản của não trạng đế quốc trong hằng triệu
người Nga đã khiến họ dễ dàng chấp nhận chủ nghĩa tân độc tài của Putin
(neo-authoritarian Putinism), với các chủ đề tuyên truyền to lớn như “sự
bao vây của các thế lực thù nghịch” và “Nước Nga đứng dậy từ bước ngã
quị”. Hơn thế nữa, bi kịch quốc gia to lớn (và tội lỗi quốc gia) mà chủ
nghĩa Xit-ta-lin gây ra chưa bao giờ được tìm hiểu đầy đủ và chưa bao
giờ được thống hối, vì vậy đã làm hỏng toàn bộ nỗ lực phục hồi đạo lý,
đúng như các người rao giảng glasnost từng mạnh mẽ cảnh báo.
Đó là lý do nước Nga ngày nay một lần nữa đang từng bước tiến tới một thời điểm perestroika
khác. Mặc dù những đợt cải tổ thị trường trong thập niên 1990 và giá
dầu lửa tăng cao hiện nay đã kết hợp lại để tạo nên sự phồn vinh chưa
từng có trong lịch sử cho hằng triệu người Nga, nhưng sự tham nhũng
trắng trợn của tầng lớp cai trị ở chóp bu, chế độ kiểm duyệt kiểu mới,
và việc công khai khinh thường dư luận đã tạo ra tình trạng bất mãn và
yếm thế, một tình trạng đang bắt đầu lên tới (nếu không muốn nói đã thực
sự vượt qua) mức độ của đầu thập niên 1980.
Người
ta chỉ cần đến Mát-xcơ-va vài ngày để tiếp xúc với giới trí thức hiện
nay hay, tốt hơn nữa, liếc qua các trang nhật ký mạng (blogs) trên
LiveJournal (Zhivoy Zhurnal), diễn đàn Internet nổi tiếng nhất
của Nga, hay qua các website của những nhóm trí thức đối lập và độc lập
hàng đầu, là thấy được rằng câu châm ngôn của thập niên 1980 – “Chúng ta
không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa!” đang trở thành tín điều
một lần nữa. Lệnh truyền đạo lý của tinh thần tự do đang tái khẳng định
chính nó, và hiện tượng này không chỉ diễn ra hạn hẹp trong các giới trí
thức và những nhà hoạt động dân chủ. Tháng Hai năm nay, Viện Phát triển
Đương đại (the Institute of Contemporary Development), một viện nghiên
cứu chính sách tự do do Tổng thống Dmitry Medvedev làm Chủ tịch, đã xuất
bản một tài liệu có vẻ như là một chương trình vận động tranh cử Tổng
thống Nga năm 2012:
Trong
quá khứ nước Nga cần tự do để sống [tốt đẹp hơn]; hiện nay nước Nga cần
tự do để sống còn… Thách thức của thời đại chúng ta là làm sao để rà
soát lại hệ thống giá trị, hun đúc một ý thức mới. Chúng ta không thể
xây dựng một đất nước hiện đại với tư duy cũ… Đầu tư tốt đẹp nhất [mà
nhà nước có thể dành cho con người] là Tự do và Nền Pháp trị (the Rule
of Law). Và tôn trọng Phẩm giá của con người.
Chính
cuộc tìm kiếm có tính cách trí thức và đạo lý này, một nỗ lực khôi phục
niềm tự hào và tự trọng, bắt đầu bằng một cuộc duyệt xét đạo lý không
nương nễ đối với quá khứ và hiện tại của đất nước, chỉ vỏn vẹn trong vài
năm đã khoét hổng nhà nước Xô-viết đồ sộ, tước sạch tính chính danh của
nó, và biến nó thành một chiếc vỏ bị thiêu rụi (burned-out shell) để
rồi tan rã vào tháng Tám 1991. Câu chuyện về hành trình đạo lý và trí
thức này là một câu chuyện hoàn toàn chiếm vị trí trung tâm về cuộc cách
mạng vĩ đại cuối cùng của thế kỷ 20.
L. A.
Đã đăng trên Bauxite Việt Nam


10:19
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét