Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014
Những điều khuyết điểm của Khổng giáo
"Toàn những thuyết của Khổng tử
nói về chánh trị thì chú trọng về vua quan mà không nói đến dân, dân chỉ
ngồi không mà nhờ người trên sắp đặt lo liệu cho mình mà thôi".
Bài viết được cụ Huỳnh Thúc Kháng cho đăng hai lần trên báo Tiếng Dân số ra ngày 11-10-1930 và ngày 16-2-1939.
Chúng
ta sinh gặp thời đại triết học khoa học thịnh hành này, cần nhất là
phải có cái trí não tự do phán đoán, bất kỳ là xưa nay Đông Tây, điều gì
mà hợp với chân lý và sự thực, thì cho là chân chính mà gắng sức học
theo; điều gì mà ta thấy chỗ mặc vọng trái với chân lý và sự thực, thì
nhất thiết cào bỏ cho sạch. Như vậy thì cõi tư tưởng ta may khỏi bị cái
gì ngăn đón che lấp mà được bước lên con đường tự do để làm mẹ đẻ cho sự
thực chăng.
Học thuyết Âu tây nhờ cái mối tư tưởng
tự do mà phát đạt rất sớm. Tư tưởng được tự do, nên phàm nhà hiểu biết,
sáng lập và phát minh được cái thuyết gì thì làm ra sách vở, công bố cho
người đời tha hồ biện bác phê bình. Nhờ lối biện bác phê bình ấy mà
chân lý càng bày tỏ ra, không bị cái gì che lấp. Thuở nay, các bậc hiền
triết Âu tây tiếp chân nối gót, vì chân lý mà dương cờ rung trống cùng
cãi biện nhau, không những vì chủ nghĩa lý thuyết không đồng nhau mà có
sự biện bác ấy, mà dẫu cho thầy trò bạn hữu đồng một học phái thường
thường biện đi chiết lại để đính chính những chỗ mậu ngộ bồi bổ những
nơi khiếm khuyết cho học thuyết được viên mãn hoàn toàn. Mỗi người đã
lập một cái học thuyết thì trong cõi tư tưởng chỉ lấy chân lý làm chủ mà
không làm nô lệ cho ai. Bởi vậy nên những điều gì hợp với chân lý thì
cơ sở vững bền, không có cái gì làm cho lay chuyển, mà những điều mậu
ngộ nhất thiết phải tiêu diệt. Học thuật Âu tây, có cái mãnh lực to lớn,
đủ sức mà chuyển di được thời thế, có công trong cuộc tiến hóa của lịch
sử loài người, chính là bởi cái đường tư tưởng tự do ấy mà đi thẳng
tới, chứ không có gì lạ.
Học thuyết bên Á đông ta thì khác hẳn
thế. Nói đến Á đông tất nhiên trước kể nước Tàu, mà nói đến học thuật
nước Tàu, tất nhiên trước kể Khổng giáo. Học thuyết của Tàu thịnh nhất
là đời Xuân Thu Chiến Quốc. Khổng Giáo cũng là một học thuyết trong các
học thuyết khác (như Mặc học, Lão học v.v…) chứ không phải Khổng giáo là
toàn hay mà các giáo khác toàn dở. Sang từ đời Hán trở xuống, các nhà
đế vương thấy Khổng giáo có những lời tồn cổ trung quân, tiện lợi về
đường chánh thế, chuyên chế, nên biểu dương tôn sùng, nêu làm chánh học
mà bãi truất các học thuyết khác đi. Nhân đó lần lần bọn tục nho lại
theo mà tô vẽ xuyên tạc. Thực ra, chân tướng Khổng giáo đã bị chánh thể
uốn vặn một phần, bị nhà nho mấy đời sửa đổi một phần; chính ở nước Tàu
là nơi Khổng giáo phát nguyên mà sai lạc đã nhiều, huống ở nước ta học
theo văn hóa Tàu lại cách xa một bậc nữa. Ở ta thuở nay ai học chữ Hán
tức tự nhận mình là học trò ông Khổng, chứ có mấy ai rõ chân tướng Khổng
giáo là thế nào đâu! Những chuyện mạo tên không thực ấy, gần đây đã có
kẻ bàn đến, không phải nói nhiều.
Nhưng chân lý một ngày một phát hiện, từ
có học thuyết Âu tây truyền sang mà cái nền chánh học gọi là có một
không hai bên Á đông này, cũng bị ngọn triều cạnh tranh ưu thắng liệt
bại chung kia nó lay chuyển, ký giả cũng là một người vỡ lòng thì học Tử
viết, vẫn nhận rằng nước ta mấy trăm đời nay mà lập thành quốc gia,
sống còn trên thế giới, cái công Khổng giáo thật có phần lớn, chớ không
phải nhứt vị mạt sát như hạng người uống nước quên nguồn kia. Song theo
câu Tây triết đã nói: ta yêu thầy ta, ta càng yêu chân lý. Ký giả dám
lầy lòng ngay thẳng mà nói thật rằng: Thời đại ông Khổng cách thời đại
này đã xa lắm rồi. Cứ xem hiện tình thế giới ngày nay, không những cái
mậu thuyết vu thác cho Khổng giáo không thể tồn tại, mà chính chân tướng
Khổng giáo ở vào thời đại này cũng có điều thích, có điều không thích,
ai có muốn hồi hộ cũng không thể che đậy được. Vậy xin kể mấy điều
khuyết điểm của Khổng giáo như sau:
1. Đạo đức chỉ nói với số ít mà bỏ phần số nhiều thông thường:
Đạo đức cao thượng vẫn là đáng quí, song
không thể buộc cả thảy người đời đều theo lối khổ hạnh ấy, nền cần phải
có con đường thông thường để chỉ dẫn người đời. Khổng giáo dạy người
đời rành nói chuyện cao thượng, như nói “Lo đạo, chẳng lo ăn”, “ăn không
cầu no, ở không cầu yên”, “lấy điều ăn cực mặt xấu làm thẹn, không phải
anh học trò” v.v…
Những thuyết tuyệt lục trái thường như
thế mà bảo người ta hoan nghênh thế nào được? Không những người thường
không thể thực hành, mà dẫu cho trong bọn học trò danh tiếng của ông
Khổng giáo cũng chỉ một vài người như ông Nhan Hồi, Nguyên Hiếu làm
được. Còn ngoài ra, Tử Cống thì lo việc thực hóa, đi đâu xe ngựa vàng
bạc mang theo; Phàm Trì thì lưu tâm việc nông phố; Tử Bá đi sứ thì ngựa
sang áo tốt, lại lo kiếm lúa để nhường cho mẹ. Thế là học trò ông Khổng
cũng không thể theo cái thuyết quá cao kia rồi. Chính ông Khổng cũng
nói: Từ bậc trung nhân trở xuống, không nên nói điều cao. Không những
thế thôi, giỏ cơm bầu nước ở một xứ khổ sở mà lấy làm vui như ông Nhan
Hồi, nhà rách vách xiêu, trên dột dưới ướt, mình mang cái áo rách, che
bên này trông bên kia mà ngồi hát và ngâm thi như ông Nguyên Hiếu, cao
thượng thì vẫn cao thượng thật, song nếu người đời ai cũng xu hướng mà
thực hành như thế thì cái cảnh tượng xã hội sẽ ra thế nào? Cái học qua
cao ấy, dẫu ở thời đại nào cũng chỉ ở riêng một mình trong rừng sâu núi
rậm, đứng ra ngoài vào nhân quần giao tế kia, chớ ở trong xã hội thông
thường thì thật là không thích, huống gì là ở thời đại giao thông ngày
nay, thì đạo đức tối cao ấy ai làm theo được? Ấy là một điều không
thích.
2. Chánh trị chỉ nói với người cai trị mà không nói đến hạng bị trị.
Toàn những thuyết của Khổng tử nói về
chánh trị thì chú trọng về vua quan mà không nói đến dân, dân chỉ ngồi
không mà nhờ người trên sắp đặt lo liệu cho mình mà thôi. Không những
dân không cần phải lo việc cho mình mà lại cho dân là hư hỏng không tự
lo được nữa không dẫn đâu làm, chỉ xem trong sách Luận ngữ, như nói
“Khiến dân, trị dân” và nói “dân phục, dân khuyến” thì thấy rõ bao nhiên
công việc trị an, đều trách vào người trên mà chỉ nói lý trống như
Kính, từ, tín. Nói đến dân thì có những câu: “dân là hạng mạt, dân không
thể khiến cho nó biết.”
Thuyết chánh trị của Khổng tử, đối với
quan tướng mà nói, lại thiên trọng về mặt cảm hóa mà không nói đến qui
mô sắp đặt ra thế nào. Như nói: “làm chánh lấy đức, sửa mình lấy kính”,
rõ là lời nói hồn hàm, bảo người ta biết bờ gốc ở đâu mà làm theo? Xem
như Mạnh tử là một người tôn sùng học Khổng mà bàn đến chính trị đã có
vẻ khác. Mạnh tử nói: dân quí và bàn việc chánh trị thì nông tang thọ,
súc hằng sản hằng tâm v.v… đều có qui mô thực tế, khiến ai cũng làm theo
được. Huống ở thế giới ngày nay, mà đem cái chánh trị của cụ Khổng ra
ứng phó, thật không khác gì chèo thuyền nan mà đua với tàu thủy, cỡi
ngựa trạm mà chạy theo xe hơi, chỉ mệt nhọc mà không công hiệu gì. Ấy là
hai điều không thích.
3. Tư tưởng trọng về đường tồn cổ mà không có sáng tác.
Ông Khổng tử sinh gặp cuối đời Chu, trải
qua mấy đời, văn vật chế độ đã xu về lối phiền văn mà mất lối chất
phác. Ông có ý chữa thói tệ ấy mà xướng cái thuyết tồn cổ. Tổ thuật
Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn Võ và san định lục kinh, để tập thành một
mối học. Chính ông cũng nói rằng: “Thuật mà không làm, tin mà yêu xưa.
Ta không phải sinh ra mà biết, chỉ yêu xưa mà siêng tìm đó thôi.” Còn
đến việc gì mà so sánh đời xưa với đời nay thì ông Khổng nhất vị cho xưa
là hơn. Lễ nhạc thì theo tiền Tấn mà không theo hậu Tấn, nói về học thì
cho đời xưa trách mình mà đời nay trách người v.v… Ông Nhan tử hỏi việc
chánh trị, ông có ý châm chước biểu thị ra một cái chế độ mới cho thích
hợp ý ông, không bắt chước riêng của triều đại nào, song cũng phải góp
của xưa lại mà làm ra của mình, lịch thì dùng đời Hạ, xe thì dùng xe đời
Ân, mão thì dùng mão đời Chu, nhạc thì múa nhạc vua Thuấn. Không cái gì
mà mình chịu tự sáng tạo ra cả. Ông Khổng đã xướng ra cái nghĩa tùy
thời mà bao nhiêu học thuyết các đời phần nhiều xu về tư tưởng tồn cổ.
Như ông được bang gia mà thi hành cái chánh sách cơ nguyệt tam niên
(nghĩa là trong một ít năm thì thấy thành hiệu) thì chưa biết thế nào,
chớ những kể học theo thuyết tồn cổ ấy xây thành đắp lũy, ngăn đón con
đường tư tưởng mà không có ngả ra, bó buộc cái não tấn thủ mà quân sự
thích càng không thích, không phải là ít. Thậm chí cuộc đời xoay chuyển
như chong chóng mà lắm kẻ cứ nằm trong giấc chiêm bao, toan muốn đem mão
cũ đời Đường đời Ngu, áo rách, sông Thù sông Tứ mà chảy ra giữa thế kỷ
20 tàu lặn máy bay này. Ấy là ba điều không thích.
Mấy điều khuyết điểm của Khổng giáo lược
kể trên, dẫu có ai tôn sùng Khổng giáo đến đâu cũng không thể biện hộ
rằng thích hợp với thời thế ngày nay được. Chúng ta sinh gặp thời đại
triết học khoa học thịnh hành này, cần nhất là phải có cái trí não tự do
phán đoán, bất kỳ là xưa nay Đông Tây, điều gì mà hợp với chân lý và sự
thực, thì cho là chân chính mà gắng sức học theo; điều gì mà ta thấy
chỗ mặc vọng trái với chân lý và sự thực, thì nhất thiết cào bỏ cho
sạch. Như vậy thì cõi tư tưởng ta may khỏi bị cái gì ngăn đón che lấp mà
được bước lên con đường tự do để làm mẹ đẻ cho sự thực chăng.
Theo THƠ VĂN HUỲNH THÚC KHÁNG


14:00
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét