Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014
Phương pháp lựa chọn ETF tốt nhất
Dù mới xuất hiện không lâu, nhưng ETF đã có được sự
quan tâm của khá nhiều nhà đầu tư. Nó tỏ ra vượt trội hơn so với các cổ
phiếu đơn lẻ. Đó cũng là lý do có thêm ngày càng nhiều ETF trên thị
trường. Điều này khiến ta đặt câu hỏi: “liệu mọi ETF đều an toàn, đều
đem lại lợi nhuận cao?” và “Làm thế nào chọn được một ETF tốt nhất?”.
Bài viết sau sẽ giúp bạn tìm ra câu trả lời.
Chỉ
số ETF đã có một chặng đường dài kể từ khi quỹ Hoa kỳ đầu tiên – hình
thức lưu ký của Standard & Poor (được nhiều người biết với cái tên
“con nhện”), đi vào hoạt động năm 1993. Chỉ số ETF này đi theo S&P
500 và sự phổ biến của nó trong giới đầu tư đã dẫn đến việc ra đời nhiều
ETFs khác dựa trên các chỉ số chứng khoán Mỹ tiêu chuẩn, như chỉ số
Công Nghiệp Trung Bình Dow Jones (Dow Jones Industrial Average) và
Nasdaq 100. (Để tìm hiểu về ETF, mời bạn đọc thêm “ETF - Exchange-traded fund”)
Với
khởi đầu sớm như những công cụ theo dõi chỉ số chứng khoán, ETFs đã
phát triển và bao hàm một chuỗi rộng lớn các lựa chọn đầu tư, nhưng
không phải tất cả chúng đều có chất lượng ngang nhau. Thật sự, mặt trái
trong sự tăng trưởng phi thường của các ETFs chính là nó gia tăng rủi ro
một số cổ phiếu bên trong chỉ số sẽ bị thanh lý, chủ yếu do thiếu sự
quan tâm của nhà đầu tư. Làm sao tìm được một ETF lợi nhuận nhằm cân đối
danh mục đầu tư của bạn? Hãy tiếp tục bài đọc để tìm câu trả lời.
Nguồn: Internet
Phochungkhoan.vn
Sự đa dạng của ETFs (Wide Selection of ETFs)
Một
chuỗi rộng lớn các lựa chọn ETFs bao gồm ETFs lấy nền tảng từ những chỉ
số chứng khoán (kể cả chính và phụ) của Mỹ và quốc tế, trái phiếu, hàng
hoá và hợp đồng giao sau, cũng như các ETFs dựa trên phong cách đầu tư
(đầu tư: giá trị, tăng trưởng hay kết hợp) và lượng vốn hoá thị trường.
Theo một báo cáo năm 2009 tiến hành bởi State Street Global Advisors,
tháng 12 năm 2009, có chừng 819 ETFs được niêm yết trên sàn giao dịch
Mỹ, với khối tài sản hỗn hợp lên đến 782 tỷ dollar. Báo cáo trên cho
rằng sẽ có hơn 1000 tỷ dollar các tài sản hỗn hợp và hơn 1000 chỉ số
ETFs vào năm 2011. (Để biết thêm nhiều loại ETF, mời bạn đọc bài viết “6 loại ETF phổ biến cho danh mục đầu tư”)
Nguồn: Internet
Phochungkhoan.vn
Cạnh tranh giữa các ETFs (Competition Among ETFs)
Thị
trường ETF đã trở nên cạnh tranh hơn bao giờ hết. Trong nỗ lực nhằm trở
nên khác biệt, một vài nhà phát hành ETF (ETF issuers) đã phát triển
các sản phẩm hoặc là tập trung cụ bộ (very specific in focus), hoặc là
dựa trên xu hướng đầu tư chỉ tồn tại nhất thời.
Một
ví dụ điển hình là ETF của HealthShares Autoimmune-Inflammation. ETF bí
mật này đi theo một chỉ số của các công ty đại chúng Mỹ và quốc tế,
chúng liên quan đến những nghiên cứu lâm sàn và phát triển cách chữa trị
cho các bệnh tự miễn dịch hoặc viêm nhiễm, như viêm khớp, đa xơ cứng,
vẩy nến.
Với
ETFs lấy nền tảng từ các xu hướng đầu tư nóng, hãy xem xét con số tăng
trưởng của chúng dựa trên các nguồn năng lượng thay thế như gió hoặc mặt
trời. Trong khi giá dầu chậm rãi quay đầu tăng từ mức đáy năm 2008, thì
những nguồn năng lượng thay thế lại hấp dẫn hơn cho việc đầu tư.
Nguồn: Internet
Phochungkhoan.vn
Chọn đúng ETF (Picking the Right ETF)
Với
con số đáng lo ngại của các các ETF sẵn có mà nhà đầu tư phải đối mặt,
sẽ tốt hơn nếu ta xem xét những nhân tố sau đây khi chọn cho mình một
ETF:
Mức độ tài sản (Level of Assets):
Để được xem là một lựa chọn đầu tư có thể tồn tại sau này, ETF phải có
một mức độ tài sản tối thiểu, thấp nhất là 10 triệu dollar. Một ETF có
tài sản dưới tiêu chuẩn này rất dễ lâm vào tình trạng thiếu sự quan tâm
của nhà đầu tư. Với một cổ phiếu thì điều đó sẽ làm giảm tính thanh
khoản (liquidity) và làm giãn khoảng cách giữa giá mua – giá bán
(spread).
Hoạt động giao dịch (Trading Activity):
Một nhà đầu tư cần kiểm tra xem liệu ETF đang xét có giao dịch (hằng
ngày) với khối lượng đủ hay chưa. Khối lượng giao dịch của hầu hết các
ETFs phổ biến đạt đến hàng triệu cổ phiếu mỗi ngày; mặt khác, một vài
ETFs dường như không được giao dịch. Khối lượng là một chỉ báo rất tốt
cho tính thanh khoản, nếu không bàn tới các loại tài sản. Nói chung,
khối lượng giao dịch ETF càng cao, tính thanh khoản sẽ càng cao và
khoảng cách giữa giá mua – giá bán càng thu hẹp lại. Đó là sự cân nhắc
đặc biệt quan trọng khi bạn không còn muốn nắm giữa ETF nữa.
Chỉ số cơ bản hay tài sản (Underlying Index or Asset):
Hãy xem xét chỉ số cơ bản và các loại tài sản mà ETF dùng làm nền tảng.
Từ góc độ đa dạng hoá, sẽ tốt hơn khi đầu tư vào ETF dựa trên một chỉ
số được sử dụng rộng rãi hơn là một chỉ số ít ai biết đến, với mức độ
tập trung công nghiệp và địa lý hẹp.
Sai số (Tracking Error):
Khi hầu hết ETFs đều bám sát các chỉ số quan trọng, một vài trường hợp
vẫn xuất hiện sự sai lệch. Nếu xét các ETF tương đồng nhau, bạn nên chọn
bên có sai số ít hơn.
Vị thế trên thị trường (Market Position):
Lợi thế của người tiên phong ("First-mover advantage") là quan trọng
trong thế giới ETF, bởi vì nhà phát hành ETF đầu tiên cho một ngành nhất
định có một xác xuất thu mua tài sản tốt hơn, trước khi những người
khác nhảy vào theo phong trào. Do đó, bạn cần thận trọng và tránh các
ETFs chỉ đi sao chép một ý tưởng ban đầu, bởi vì chúng có thể không còn
đặc biệt so với những ETFs khác và khó lòng thu hút tài sản nhà đầu tư.
Nguồn: Internet
Phochungkhoan.vn
Thanh lý (ETF Liquidations)
Sự
đóng cửa (The closing), hoặc sự thanh lý (liquidation) của ETF thường
là một tiến trình theo thứ tự. Nhà phát hàng ETF sẽ thông báo cho nhà
đầu tư, thường trước 3 đến 4 tuần, về ngày ETF dừng giao dịch. Điều đó
nói lên rằng một nhà đầu tư ở vị thế nắm giữ ETF đang bị thanh lý vẫn
phải quyết định hướng đi tốt nhất nhằm bảo vệ khoản đầu tư của mình. Đặc
biệt, họ phải chọn một trong hai cách:
Một
là: Bán ra cổ phiếu ETF trước ngày “dừng giao dịch”: đây là cách tiếp
cận tiên phong, có thể phù hợp khi nhà đầu tư tin rằng có rủi ro giảm
giá đáng kể trong ngắn hạn của ETF. Trong những tình huống như thế, nhà
đầu tư có lẽ sẽ sẵn sàng bỏ qua độ rộng của chênh lệch giá mua – bán
(hiện tượng phổ biến của ETF), do tính thanh khoản đang suy yếu.
Hai
là: Nắm giữ cổ phiếu ETF đến ngày thanh lý: lựa chọn này có lẽ sẽ phù
hợp nếu ETF được đầu tư vào một ngành không biến động và rủi ro xấu là
cực tiểu. Nhà đầu tư có thể phải chờ nhà phát hành hoàn thành quá trình
bán chứng khoán bên trong ETF trong vài tuần, và phân phối lãi ròng (net
proceeds). Nắm giữ chặt giá trị thanh lý sẽ loại bỏ đi vấn đề chênh
lệch giá mua – bán.
Dù
hành động theo hướng nào, nhà đầu tư cũng phải đối diện với thuế phát
sinh từ việc thanh lý khoản đầu tư ETF. Ví dụ, nếu ETF được nắm giữ
trong một tài khoản chịu thuế, nhà đầu tư sẽ có trách nhiệm chi trả thuế
cho các khoản lời vốn.
Kết luận
Khi
lựa chọn một ETF, nhà đầu tư nên xem xét các nhân tố như mức độ tài
sản, khối lượng giao dịch và chỉ số cơ bản. Trong trường hợp một ETF sắp
bị thanh lý, nhà đầu tư phải quyết định liệu có nên bán đi trước khi nó
dừng giao dịch hay là chờ đến khi quá trình thanh lý hoàn thành, có
tính đến thuế cho việc bán ETF.
Nguồn: Investopedia.com


21:24
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét