Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014
Salvatore Babones - Vương quốc trung bình
Sự cường điệu và thực tế về sự trỗi dậy của Trung Quốc
Trần Ngọc Cư dịch
Lời
giới thiệu của trang mạng bauxite Việt Nam: Người Trung Hoa xưa (có lẽ
không ít cả ngày nay) coi nước họ là trung tâm của thế giới, từ đó mới
có tên nước là Trung Quốc, được dịch ra tiếng Anh là “the Middle
Kingdom”. Nhưng với lập luận cho rằng Trung Quốc sẽ chỉ là một nước có
lợi tức trung bình và không thể giành địa vị siêu cường của Mỹ, học giả
Salvatore Babones bằng một lối chơi chữ đã gọi Trung Quốc là “the
Middling Kindom” hay “Vương quốc trung bình”. Bài tiểu luận sau đây tiêu
biểu cho một quan điểm trái chiều với quan điểm cho rằng Trung Quốc sẽ
là một “Siêu cường tất yếu”,
một quan điểm mà học giả Arvind Subramanian cũng đã đưa ra trên cùng
một số báo của tờ Foreign Affairs, mà bản dịch đã được đăng trên BVN
trước đây.
Theo
chúng tôi, đây là một bài viết cần được tham khảo nghiêm túc, nhằm xem
xét đầy đủ các cơ sở dẫn đến luận cứ cho rằng dù có cố gắng đến mấy thì
Trung Quốc rốt cục vẫn chỉ là một quốc gia trung bình trong thế kỷ XXI
này. Ý kiến của tác giả Salvatore Babones vô tình có sự tương hợp với
một phân tích gần đây khi chỉ xét về sự cách biệt giàu nghèo thôi, Trung
Quốc hiện đang lâm vào một tình thế đối cực cực kỳ nghiêm trọng (và
trước sau thế nào cũng sẽ bùng vỡ): chỉ hơn 2% số dân lại đang chiếm giữ
đến hơn 75% tổng sản lượng kinh tế của cả nước Trung Hoa. Nếu tìm thấy
thêm nhiều căn cứ khoa học trong ý kiến của Salvatore Babones thì chắc
chắn đây sẽ là phương thuốc hiệu nghiệm để giải quyết căn bệnh “động
kinh” cho mấy ông hoàng bà chúa trước “con ngoáo ộp Trung Quốc” vốn đang
là mối đe dọa thường trực khả năng phát huy truyền thống quật cường vốn
có của không ít dân tộc từ hàng mấy nghìn năm nay phải sống sát biên
giới Trung Quốc. Không hiểu vì sao thứ bệnh lạ này làm cho họ trở nên
“mất cân bằng sinh lý” đến mức nói về mặt ăn thì họ ngày càng khỏe, mặt
trông béo tốt, ăn được đến cả giấy polyme, nhưng khốn thay càng ăn đầu
lại càng teo tóp, óc trở nên rỗng, đặc biệt bộ gan bé tẹo lại và hình
như bị siêu vi S. gặm cho xơ tướp. Vì thế, hễ nghe người dân bày tỏ lòng
yêu nước là căn bệnh kinh niên của họ lại nổi lên, đến nước phải bắt
dân xuôi tay ngậm miệng bệnh mới tạm lui.
***
Dù
bằng bất cứ thước đo nào, sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc (TQ) là
chưa từng thấy, thậm chí là một phép lạ. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế
(IMF), kinh tế TQ đã tăng trưởng ở mức trung bình 9,6% mỗi năm từ năm
1990 đến 2010. Vào đầu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây,
nhiều người đã lo sợ rằng cỗ máy tăng trưởng kinh tế của TQ sẽ từ từ
khựng lại. Cuối năm 2008, ngành xuất khẩu TQ suy sụp, khiến nhiều người
lo sợ về tình trạng bất ổn chính trị và dân chúng nổi loạn trong nước.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu rốt cuộc cũng chỉ là một ổ
gà trên con đường tăng trưởng kinh tế của TQ. Mặc dù sức ép lạm phát
hiện đang gia tăng tại TQ và bong bóng địa ốc của TQ có nguy cơ bùng nổ,
nhưng hầu hết các nhà kinh tế vẫn tiếp tục tiên đoán sự tăng trưởng
nhanh chóng của quốc gia này sẽ tiếp diễn vào tương lai. Mặc dù những
tiên đoán của họ khác nhau xa, nhưng dường như họ có cùng quan điểm cho
rằng sự tăng trưởng của TQ sẽ là nhanh chóng – nếu không thể nói là
nhanh như trước – và rằng tỉ lệ tăng trưởng này sẽ tiếp diễn nhiều thập
niên nữa. Những tiên đoán này cùng một lúc vừa là dè dặt về tương lai
gần (thành tích kinh tế của TQ sẽ không còn phi thường như trước) vừa là
lạc quan về tương lai xa (chúng cho thấy hướng đi lên của TQ là không
ngừng). Dù với sự trùng hợp tình cờ hay có theo một bài bản, những dự
đoán này chỉ là những suy diễn có liều lượng dựa vào các xu thế phát
triển hiện nay.
Chẳng
hạn, Robert Fogel, một nhà kinh tế học được giải Nobel, tin rằng TQ sẽ
tăng trưởng trung bình 8% mỗi năm cho đến năm 2040, vào thời điểm đó TQ
sẽ giàu gấp đôi châu Âu (tính theo lợi tức đầu người) và sẽ chiếm 40%
GDP toàn cầu (so với con số 14% của Hoa Kỳ và 5% của Liên minh châu Âu).
Những nhà kinh tế khác tỏ ra dè dặt hơn một chút: Uri Dadush và Bennett
Stancil thuộc tổ chức Carnegie Endowment for International Peace [một
viện nghiên cứu chính sách đối ngoại có trụ sở tại Washington, D.C.]
tiên đoán rằng TQ sẽ tăng trưởng 5,6% mỗi năm cho đến hết năm 2050.
Cũng
như nhiều dự báo khác về sự trỗi dậy liên tục của TQ, những dự báo này
đã dựa vào việc sử dụng mô hình kinh tế nghiêm chỉnh, thận trọng. Nhưng
liệu chúng có khả năng thuyết phục hay không? Suy diễn từ những xu thế
kinh tế hiện tại để dự đoán tương lai có thể là một việc hợp lý khi
chúng ta dự đoán mức tăng trưởng kinh tế trong năm sau và năm tới, nhưng
khi thời gian là hàng thập kỷ, thì những giả định như thế có vẻ đáng
hoài nghi hơn. Nếu tổ tiên tôi đầu tư một xu (a penny) vào năm 1800 để
cho tôi hưởng, ở mức lãi kép (compound interest rate) thực sự 6% một năm
sau khi khấu trừ lạm phát, thì đồng xu đó hôm nay đã trở thành 280
nghìn đôla. Nhưng, điều này không có nghĩa là người ta dễ dàng tìm ra
những cách đầu tư có lợi nhuận cao và vững chắc qua thời hạn 211 năm.
Thế sự thăng trầm, và nhiều điều sai hỏng sẽ xảy đến. Lợi nhuận quá khứ
không đảm bảo thành tích tương lai.
Đối
với việc đo lường mức tăng trưởng kinh tế TQ trong tương lai, việc sử
dụng các mô hình kinh tế chỉ hướng dẫn hạn chế mà thôi. Những mô hình
này tiên đoán đầu ra kinh tế tương lai (future economic outputs) dựa vào
những con số được dự đoán cho đầu vào kinh tế tương lai (projected
future levels of economic inputs); nhưng những đầu vào kinh tế tương lai
là không thể dự đoán được. Rốt cuộc, chúng ta chỉ có thể dựa vào đầu
vào hiện tại để suy đoán tương lai. Nhưng những đầu vào, cũng như những
đặc điểm khác của bất cứ nền kinh tế nào, lại thay đổi theo thời gian.
Kinh tế TQ diễn biến nhanh chóng: từ nông nghiệp tự túc đến các công
nghiệp chế tạo dùng than khoáng (smokestack industries) đến các ngành
điện tử hiện đại nhất đến các dịch vụ cho người tiêu thụ. Và ở một thời
điểm nào đó trong tương lai, có lẽ trong một tương lai không xa, tốc độ
tăng trưởng thái quá của TQ sẽ dần dần giảm xuống và sự tăng trưởng kinh
tế của TQ sẽ chậm lại, trở về với tốc độ gần giống tốc độ mà các nước
có đặc tính tương tự đã kinh qua.
Khi sự tăng trưởng trở nên khó khăn
Ở
thời điểm 2011 này, ngay cả việc xác định một điểm đỉnh cho thị trường
TQ cũng có vẻ là thiếu khôn ngoan. Nếu dùng những mô hình của Fogel và
Dadush-Stancil để phán đoán, người ta gần như không thấy có một cản trở
nào cho sự tăng trưởng kinh tế của TQ trong trung hạn. Bao lâu mà lực
lượng lao động thành thị ở trong nước vẫn tiếp tục bành trướng, trình độ
giáo dục của họ gia tăng, và vốn nước ngoài tiếp tục đổ vào TQ, thì nền
kinh tế TQ nhất định sẽ tiếp tục tăng trưởng.
Nhưng
mọi việc có giản dị như thế không? Một lý do là, các mô hình kinh tế có
chiều hướng coi thường sự kiện là khi các nước tăng trưởng, thì tiến
trình tăng trưởng ngày càng trở nên khó khăn hơn trước. Khi các nền kinh
tế gia tăng giá trị các hoạt động công nghiệp toàn cầu của mình, bằng
cách từng bước tiến lên từ việc sản xuất các mặt hàng chế biến đơn giản
đến việc dựa vào sáng kiến của người dân để phát triển các công nghiệp
mới, thì các nền kinh tế ấy sẽ ngày càng giảm bớt đà tăng trưởng. Nam
Hàn phải mất 30 năm, từ 1960 đến 1990, để nâng GDP đầu người của họ từ
1/30 lên 1/3 GDP đầu người của Hoa Kỳ – nhưng sau đó Nam Hàn phải mất
thêm 20 năm nữa mới nhích lên từ 1/3 lên 1/2 GDP đầu người của Hoa Kỳ.
Và ngày nay Nam Hàn vẫn còn phải đi một đoạn đường rất xa mới có thể bắt
kịp Hoa Kỳ. Nhật Bản đã bắt kịp phương Tây (và trên nhiều mặt vượt quá
phương Tây) vào thập niên 1980, nhưng rồi bong bóng đầu tư của họ bị vỡ,
và từ 1990 đến nay kinh tế Nhật Bản chỉ tăng trưởng trung bình 1% mỗi
năm.
Hơn
nữa, Nam Hàn và Nhật Bản đã thành công vượt bực so với hầu hết mọi quốc
gia khác. Cho đến nay không một nước có diện tích trung bình hay một
nước rộng lớn nào với một nền kinh tế đa dạng thậm chí đạt được những
thành quả gần giống như Nhật Bản. Trong bốn “con hổ châu Á”, hai con
giàu nhất (Hồng Kông và Singapore) chỉ là những thành phố, và hai con
kia (Nam Hàn và Đài Loan) cơ bản là lớn hơn các thành phố một bậc
(cities-plus) và thua xa Nhật Bản về kinh tế. Một số nước nghèo đã trở
nên giàu có khác thì hoặc chỉ là những trung tâm tài chính nằm ngoài
biển khơi hoặc chỉ là những lãnh thổ nhỏ bé có mỏ dầu do một lãnh tụ Hồi
giáo cai trị. Trong đó, không một xứ nào có đủ kích cỡ để làm một nước
có nhiều thành phố và nhiều vùng khác nhau, một dân số nông thôn đông
đảo, và những khối cử tri cạnh tranh nhau về quyền lực chính trị. Ngay
cả Nhật Bản cũng tượng trưng cho một mô hình đầy nghi vấn của một quốc
gia vừa mới nhanh chóng bắt kịp phương Tây, nếu chỉ vì nó đã đạt được
phần lớn tiến bộ trước Thế chiến II. Cũng như các nước tiên tiến phương
Tây, Nhật Bản đã công nghiệp hóa vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX,
một phần nhờ chính sách bóc lột thuộc địa thô bạo. Thế rồi trong Thế
chiến II, kinh tế Nhật Bản đã bị bom đạn xóa sạch; như vậy, sự tăng
trưởng của Nhật Bản thời hậu chiến trong một cách nào đó chỉ là trở về
với mức phát triển đã có trước chiến tranh. Nói thế khác, cho đến ngày
nay vẫn chưa có một bằng chứng nào cho thấy một quốc gia có thể đi theo
một đường tăng trưởng rất nhanh chóng để đến đỉnh cao nhất của kinh tế
thế giới; sự kiện này khiến phải nghi ngờ về khả năng TQ có thể trở
thành một biệt lệ hi hữu.
Sự
tăng trưởng kinh tế gần đây của TQ thường được gán cho đặc tính của một
cuộc phục hồi địa vị lịch sử đương nhiên và xứng đáng của TQ, nhưng
luận cứ này chỉ là một cách nói khéo chứ không chính xác. Theo cố sử gia
kinh tế Angus Maddison, lần cuối cùng TQ đạt được địa vị ngang hàng với
phương Tây là vào thời của Marco Polo [tức thế kỷ XIII-XIV, DG]. Sự suy
yếu sau đó của TQ so với phương Tây đã diễn ra rất lâu trước cuộc Cách
mạng Công nghiệp, trước chủ nghĩa thực dân phương Tây, và trước cả thời
kỳ hướng nội của TQ ở thế kỷ XVI. Lịch sử của năm thế kỷ qua không phải
là câu chuyện chính yếu về sự suy yếu tuyệt đối của TQ, nhưng về sự tiến
bộ tương đối của phương Tây. Các nền kinh tế châu Âu tăng trưởng rất
nhanh chóng trong khoảng từ 1500 đến 1800. Theo Maddison, vào khoảng năm
1820 – trước khi có đường sắt, điện tín, và công nghiệp thép hiện đại,
và trước Chiến tranh Nha phiến, trước khi Hồng Kông trở thành thuộc địa,
và trước cuộc Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn – lợi tức đầu người của TQ chưa
được 1/2 lợi tức đầu người trung bình của các nước châu Âu. Khoảng năm
1870, lợi tức đầu người TQ đã rơi xuống mức 25% lợi tức đầu người châu
Âu, và vào năm 1970, con số này chỉ còn 7%. Ngoài ra, nếu xét rằng những
con số mà Maddison đưa ra đều là những con số ước tính dựa vào sức mua
nội địa, thì lợi tức đầu người của TQ nếu tính theo tiền tệ cứng [như
đôla Mỹ] sẽ có vẻ thê thảm hơn nhiều. Theo số liệu thống kê về tiền tệ
cứng của Ngân hàng thế giới, giữa những năm 1976 và 1994, GDP đầu người
của TQ là chưa được 2% GDP đầu người của Mỹ, và hiện nay tỉ lệ này vẫn
còn ở dưới 10%.
Nói
thế khác, sự tăng trưởng kinh tế to lớn của TQ trong hai thập kỷ qua
chưa hẳn đã đưa được [lợi tức đầu người của] TQ trở về vị trí của nó
trong năm 1870 (tính theo sức mua nội địa). Những người lạc quan sẽ coi
điều này như có thêm một bằng chứng nữa về tiềm năng của TQ: nếu hiện
nay TQ chỉ ở lằn mức của năm 1870, thì nó còn nhiều khả năng tăng trưởng
thêm nữa. Nhưng những người bi quan có thể nhận xét rằng nếu TQ có thể
tuột dốc từ vị trí này vào năm 1870, thì nó có thể sẽ tuột dốc từ vị trí
này thêm một lần nữa. Nếu chỉ nhìn bề ngoài, người ta không có đủ lý do
để chờ đợi kết quả này hay kết quả khác; những người đánh cuộc dè dặt
sẽ cho rằng TQ vẫn đứng yên ở vị trí hiện nay.
Những lợi điểm nhất thời
Một
luận cứ khác cho rằng các mô hình kinh tế dự báo về sự trỗi dậy liên
tục của TQ là quá thô thiển, vì những mô hình này có khuynh hướng bỏ qua
những sức đẩy nhất thời trong quá khứ và không đếm xỉa đến những trở
ngại chính trị, môi trường và cơ cấu, những trở ngại sẽ hạn chế đà tăng
trưởng của TQ trong tương lai. TQ hiện nay đang ở trong một tư thế chính
trị và quân sự mạnh hơn nhiều so với tư thế mà nó có được vào năm 1870
khi đối mặt với phương Tây, và TQ gần như sẽ không bao giờ chìm đắm thêm
một lần nữa vào một thế kỷ dài khốn đốn vì những thảm họa liên tục ảnh
hưởng đến con người và kinh tế. Nhưng liệu điều này nhất thiết có nghĩa
là TQ sẽ tiếp tục tăng trưởng để trở thành một nước giàu có nhất thế
giới hay không?
Sự
trỗi dậy nhanh chóng của TQ trong 20 năm qua được thúc đẩy bởi hai ưu
thế nhất thời: sinh suất (fertility rate) của dân chúng giảm sút và tiến
trình đô thị hóa dân chúng gia tăng. Cả hai yếu tố này đã gia tăng năng
suất kinh tế rất lớn, nhưng chúng là những tiến trình hạn chế mà TQ
không thể dựa vào trong tương lai. Sinh suất của TQ vốn đã giảm sút ngay
cả trước khi Nhà nước thực thi lần đầu chính sách một con rất nghiêm
khắc vào năm 1979. Sự giảm sút tỉ lệ sinh sản vào thập niên 1970 có
nghĩa là suốt thập niên 1980 và thập niên 1990, cả các hộ gia đình lẫn
Nhà nước có thể tập trung nguồn lực hạn chế của mình vào số trẻ em tương
đối nhỏ. Hiện nay, những đứa trẻ này đang ở vào tuổi khoảng 35 và tích
cực đóng góp vào việc phát triển vốn nhân lực (human capital) và GDP của
TQ. Mặc dù các thế hệ tương lai có thể có trình độ giáo dục thậm chí
cao hơn, nhưng các thành quả chính yếu thì đã đạt được hết rồi. Hơn nữa,
sinh suất thấp trong những thập kỷ vừa qua cho phép giới đã thành niên,
đặc biệt phụ nữ, tham gia thị trường lao động chính thức. Hàng trăm
triệu phụ nữ TQ lẽ ra chỉ lo việc nội trợ hay đồng áng hiện nay đang lao
động trong nền kinh tế tiền tệ (the money economy), nâng cao thành tích
GDP của đất nước. Sự kiện này tạo được lực đẩy nhất thời cho TQ – duy
trì một đầu ra cao hơn trước – nhưng sẽ không giúp GDP tiếp tục tăng
trưởng trong tương lai. TQ không thể giảm việc sinh sản thêm nữa, vì TQ
không thể tiến tới chính sách không con.
Ngoài
ra, tại TQ ngày nay có những số công nhân tương đối lớn được sinh ra
trong những thập niên có sinh suất cao, từ năm 1950 đến đầu những năm
1970, hiện đang còn chen vai thích cánh với đời. Vì thế hệ các bậc sinh
thành của họ lần lượt qua đời tương đối sớm, những công nhân này phần
lớn ít bận tâm về việc phụng dưỡng cha mẹ hay nuôi dạy con cái. Trong
tất cả các thế hệ người Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử, thế hệ này có
những thuận lợi độc đáo để theo đuổi công việc và tạo ra của cải. Các
thế hệ công nhân TQ tương lai sẽ ít đông đảo hơn và sẽ mang thêm trách
nhiệm săn sóc nhiều thân nhân già cả hơn. Ngoài ra, sinh suất tại TQ chỉ
có việc gia tăng mà thôi, nghĩa là những công nhân này có thể có thêm
nhiều con cái cần phải săn sóc.
Tiến
trình đô thị hóa là một lợi thế nhất thời khác đã đẩy mạnh tăng trưởng
kinh tế của TQ trong 20 năm qua. Chương trình đô thị hóa nâng cao GDP vì
dân chúng thành thị thường thường có năng suất cao hơn dân nông thôn và
vì dân thành thị thường làm việc ngoài nhà của mình và được trả lương,
trong khi người ở vùng quê làm nghề nông tự túc không được trả lương.
Nhưng cũng như việc giảm sinh đẻ, chương trình đô thị hóa là một tiến
trình có những giới hạn tự nhiên. Mức độ đô thị hóa của TQ hãy còn rất
thấp so với phương Tây, và sự bành trướng đô thị tại TQ không có dấu
hiệu giảm bớt. (Ở tỉ lệ tăng trưởng hiện nay, thì phải đợi đến thập niên
2040 mức độ đô thị hóa tại TQ mới bắt kịp mức đô thị hóa ở phương Tây
hay châu Mỹ La-tinh). Nhưng việc bành trướng đô thị này sẽ diễn ra dưới
hình thức nào? Nhiều khu rộng lớn gồm toàn nhà lụp xụp tồi tàn đã bắt
đầu thành hình ở vùng biên của Bắc Kinh và các đại đô thị khác. Chính
phủ TQ đã cho ủi sập hàng trăm nghìn căn nhà xập xệ mỗi năm, nhưng không
ai biết chắc là những cư dân tại đó đang được tái định cư hay trở thành
vô gia cư. Dù Chính phủ thắng hay thua trong cuộc chiến chống lại nạn
tràn lan nhà ổ chuột, cái thời kỳ mà tiến trình đô thị hóa kích thích sự
tăng trưởng kinh tế cũng đã qua rồi.
Những cản trở có tính cơ cấu
Ngoài
ra, TQ đang đối đầu với những trở ngại chính trị, môi trường, và cơ
cấu, những trở ngại sẽ giới hạn tăng trưởng kinh tế của TQ trong tương
lai. Chẳng hạn, nhiều nhà phân tích thời sự cho rằng TQ sẽ không thể đưa
công nghiệp toàn cầu của mình lên trình độ cao hơn nữa nếu chính trị TQ
không cởi mở. Họ lý luận rằng các hoạt động công nghiệp có giá trị cao,
như tạo thương hiệu, thiết kế, và phát minh, đòi hỏi một loại tư duy tự
do chỉ có được ở các xã hội dân chủ. Mặc dù có thể đào tạo hàng trăm
nghìn kỹ sư, nhưng nếu TQ vẫn tiếp tục bóp nghẹt sáng kiến của họ, những
chuyên viên này sẽ không bao giờ thành công ở trình độ cao nhất của
kinh tế toàn cầu. TQ sẽ không vươn tới đẳng cấp cao nhất của kinh tế
toàn cầu (tính theo GDP đầu người) cho đến khi nào trường học, xí
nghiệp, và người dân TQ biết đổi mới nhiều hơn họ đã làm trong quá khứ.
Việc đổi mới đang diễn ra, nhưng văn hóa chính trị bóp nghẹt tự do của
TQ đang cản trở tiến trình này. Thật khó tưởng tượng được một nền kinh
tế tri thức năng động xuất hiện trong một quốc gia độc đảng áp bức chính
trị; việc này chưa bao giờ xảy ra trước đây.
Những
trở ngại vì lý do môi trường đối với sự tăng trưởng liên tục của TQ
thường được thống kê đầy đủ hơn. Cơ quan Y tế Thế giới ước tính rằng ô
nhiễm không khí tại TQ giết chết 656.000 người một năm và ô nhiễm nước
uống giết thêm 95.600 người nữa; Bộ Tài nguyên Nước của TQ ước tính rằng
khoảng 300 triệu người, hai phần ba trong số này sống ở nông thôn, dựa
vào nguồn nước có chứa những chất độc hại”. Theo The New York Times,
những quan chức từ Quốc vụ viện TQ đã nói rằng Đập Tam Hiệp vĩ đại đang
gặp phải “những vấn đề khẩn cấp… cần phải được giải quyết liên quan
việc tái định cư dân chúng trong vùng, việc bảo vệ môi sinh, và ngăn
ngừa tai họa địa chất”. TQ hiện nay cũng là nước thải khí nhà kính lớn
nhất thế giới. Dù nạn khô hạn và lũ lụt thảm khốc xảy đến cho TQ năm nay
có liên quan đến hồ sơ môi trường của TQ hay không, nhưng rõ ràng là
khả năng khai thác môi trường của TQ để làm tiền nhằm nâng cao mức tăng
trưởng kinh tế bất chấp cả việc tàn phá môi trường sắp đến ngày phải
chấm dứt. Sự tăng trưởng kinh tế của TQ trong tương lai cần phải sạch
hơn sự tăng trưởng kinh tế của nó trong quá khứ, vì vậy sẽ tốn kém hơn.
Qua một thời kỳ lâu dài có mật độ dân số cao, TQ luôn luôn có một trong
những môi trường bị khai thác ráo riết nhất thế giới. Ngày nay, TQ chẳng
còn bao nhiêu môi trường để khai thác thêm nữa.
Tuy
nhiên, những trở ngại lớn nhất cho việc tăng trưởng kinh tế liên tục
của TQ thuộc về cấu trúc. Mãi cho đến năm 1980, TQ thực sự vẫn còn đóng
cửa với thế giới bên ngoài; nhưng khoảng năm 1992, gần như hầu hết các
thành thị TQ đều được sáp nhập vào các đặc khu kinh tế sẵn sàng đón nhận
các doanh nghiệp tư và đầu tư nước ngoài. Nền kinh tế Mao-ít cực kỳ
thiếu hiệu năng không còn nữa và đã được thay thế bằng một số công ty có
sức cạnh tranh lớn nhất thế giới. Việc tạo ra nhiều thành phẩm giá trị
hơn các công nghiệp nhà nước thời Cách mạng Văn hóa không phải là điều
khó. Nhưng việc tạo ra nhiều thành phẩm giá trị hơn các công ty TQ có
hiệu năng hiện nay sẽ là điều khó khăn hơn nhiều. Sự khó khăn này sẽ trở
nên nghiêm trọng hơn do những thay đổi cấu trúc quan trọng trong nền
kinh tế. Kể từ năm 1960, tuổi thọ trung bình tại TQ đã tăng lên từ 47
tuổi đến 74 tuổi, nhưng số con trong mỗi gia đình đã giảm từ trên 5 đứa
xuống dưới 2 đứa. Những ông hoàng bé ngày nay sẽ phải phụng dưỡng cha mẹ
trong những năm có năng suất cao nhất của đời họ. Và vào thời điểm họ
phải săn sóc thế hệ già nua, hoạt động kinh tế của TQ sẽ giảm bớt sự tập
trung vào các công nghiệp chế tạo có năng suất cao và sẽ hướng tới các
dịch vụ y tế có năng suất thấp. Sự thay đổi có tính cơ cấu này sẽ giới
hạn thêm nữa các triển vọng tăng trưởng kinh tế của TQ trong tương lai,
vì cố gắng gia tăng năng suất trong các ngành dịch vụ sẽ là khó khăn hơn
trong các ngành chế tạo, khai thác khoáng sản, và nông nghiệp. Trong
quá khứ, để tận dụng lợi thế tương tự của họ đối với các nước tiên tiến,
các nhà sản xuất TQ đã tập trung vào việc chế tạo để bán ra trên thị
trường công nghiệp thế giới. Trong tương lai, các công ty cung cấp dịch
vụ TQ sẽ không còn lựa chọn nào khác hơn là phải tập trung vào thị
trường y tế trong nước, bất chấp việc tranh giành lợi thế kinh tế.
Hăm hở về tương lai hay tự hào về thành tích?
Nhiều
nhà bình luận, nổi bật nhất là hai nhà nghiên cứu chính trị George
Gilboy và Eric Heginbotham, gần đây đã cảnh báo về hiện tượng “châu Mỹ
La-tinh hóa” TQ (the “Latin Americanization” of China), đặc biệt là sự
chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng tại TQ. Vào năm 2003, TQ chỉ có
một tỉ phú (tính bằng đôla Mỹ); vào năm 2011, theo tạp chí Forbes,
TQ có tới 115 tỉ phú. Tuy vậy, TQ vẫn còn là một nước nghèo: GDP đầu
người tính bằng tiền tệ cứng là rất thấp tại TQ (dưới 5.000 đôla) khi so
với Brasil, Mexico, và Nga (9.000-10.000 đôla), ba nước có lợi tức
trung bình của thế giới. Nhưng khi TQ bắt kịp các nước này, thì mức
chênh lệch lợi tức của dân TQ cũng sẽ tăng lên gần mức chênh lệch lợi
tức tại các nước nói trên.
TQ
có chung nhiều đặc điểm với Brazil, Mexico, và Nga. Các nhà xã hội học
xếp bốn nước này vào “nhóm lưng chừng” (semi-periphery) của kinh tế thế
giới, một nhóm các quốc gia không giàu mạnh bằng các nước dân chủ đã
phát triển nhưng cũng không nghèo bằng các nước nhỏ tại châu Phi, Trung
Mỹ, và Đông Nam Á. (Các nước lưng chừng khác gồm có Indonesia và Thổ Nhĩ
Kỳ). Những nước này có đặc tính là: nhà nước mạnh nhưng các định chế
thì yếu kém, Chính phủ bị những công dân giàu có nhất chi phối, và đại
đa số dân chúng là nghèo khổ.
Với
mức tăng trưởng hiện nay, TQ có thể sẽ bắt kịp Brazil, Mexico, và Nga
vào khoảng năm 2020 về GDP tính theo đầu người. Đến lúc đó, tất cả bốn
quốc gia này sẽ có lợi tức đầu người từ 10.000 đến 15.000 đôla Mỹ mỗi
năm (tính theo trị giá đôla Mỹ hiện nay). Tất cả những nước này sẽ có
mức chênh lệch lợi tức của người dân giống nhau – và cao hơn mức chênh
lệch lợi tức tại các nước phát triển rất nhiều. Dân chúng của các nước
này sẽ không trải qua nạn đói hay suy dinh dưỡng nghiêm trọng, nhưng đại
đa số sẽ nếm mùi nghèo khổ, thiếu vệ sinh. Khoảng 40% dân số của các
nước này sẽ sống trong các đại đô thị, khoảng 20% sẽ sống ở vùng nông
thôn, và phần còn lại sẽ sống trong các thành phố nhỏ và các thị xã.
Sinh suất tại những nước này sẽ giảm xuống dưới mức thay thế một chút,
và khoảng 2/3 dân số sẽ nằm trong lứa tuổi từ 16 đến 65. Để đối phó với
một dân số già nua nhanh chóng, những nước này sẽ cần phải chuyển trọng
tâm nền kinh tế của mình xa dần các công nghiệp có khả năng thúc đẩy
tăng trưởng và tiến tới các dịch vụ y tế có mức tăng trưởng chậm chạp.
Tất
cả những điều nói trên nêu lên câu hỏi này: Nếu vào năm 2020, TQ gần
như chắc chắn sẽ đối phó các tình trạng cơ cấu xã hội-kinh tế gần giống
hệt các tình trạng ở Brazil, Mexico, và Nga, thì tại sao ta phải kỳ vọng
TQ sẽ tăng trưởng nhanh hơn các nước ấy? Brazil và Mexico đã gia nhập
hàng ngũ các nước có lợi tức trung bình qua nhiều thế hệ rồi. Nga lọt
vào mức lợi tức trung bình vào đầu thế kỷ 20 và đã trở lại mức lợi tức
này ngay sau khi chế độ cộng sản sụp đổ. TQ đã nằm ở mức lợi tức trung
bình năm 1870, và hiện nay đã trở lại mức đó. Đành rằng TQ lớn hơn các
nước kia, nhưng ta không có lý do để cho rằng nước lớn thì sẽ khác hơn.
Những con số thống kê lịch sử cho thấy không có sự tương quan giữa diện
tích của một nước với sự tăng trưởng kinh tế của nó.
Địa
vị tương đối của TQ vào năm 2020 sẽ rất giống với địa vị của TQ năm
1870 và giống địa vị của Brazil, Mexico, và Nga hiện nay. Không có lý do
đặc thù nào để tin rằng TQ của năm 2020 sẽ thành công vượt trội hơn các
quốc gia đã từng thành công nói trên. Có lẽ thái độ biết tiên liệu của
TQ đối với vấn đề phát triển sẽ pho phép nước này đủ sức đi vào mức
trung bình trong bảng phân phối lợi tức toàn cầu, bất chấp một xã hội
dân sự yếu kém, một dân số già nua, và một môi trường bị tàn phá. Và một
khi đã trở về được địa vị của nó ở thế kỷ XIX so với phương Tây, biết
đâu cuối cùng TQ cũng có thể lấy lại địa vị siêu cường của nó đối với
phương Tây ở thế kỷ XIII. Cấu trúc của một xã hội không nhất thiết là
một định mệnh, [nghĩa là nó có thể thay đổi, DG]. Và nếu TQ thực sự khắc
phục được những hạn chế của nó, nó cũng có thể thúc đẩy một sự sắp xếp
lại toàn bộ hệ thống quốc tế.
Nhưng
hợp lý hơn nữa là, ta nên coi thái độ hăm hở khét tiếng của TQ chỉ là
thái độ của một nước đã đạt được một số thành tích: một sự tự hào chính
đáng về những thành tựu trong quá khứ gần đây hơn là một báo hiệu về sự
thành công nào trong tương lai. Cũng như những nước có lợi tức trung
bình khác, TQ có thể sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn các nước phương
Tây một chút, mặc dù không nhanh như tốc độ tăng trưởng của TQ trong
khoảng thời gian từ 1990 đến 2010, và với nhiều bấp bênh hơn trước.
Nhưng dân số TQ sẽ bắt đầu giảm xuống liền sau năm 2020, trong khi đó
dân số Mỹ sẽ tiếp tục gia tăng. Vì vậy, toàn bộ nền kinh tế TQ có thể
vẫn ngang hàng với toàn bộ kinh tế Hoa Kỳ cho đến hết thế kỷ 21. Điều
này không có nghĩa là TQ sẽ không đóng một vai trò quan trọng trên thế
giới. Cho dù TQ chỉ đạt được mức độ ngang hàng với Hoa Kỳ về GDP tổng
quát và đạt được chỉ khoảng 1/4 GDP đầu người của Hoa Kỳ, TQ vẫn sẽ là
một cường quốc đáng nể sợ. TQ sẽ là một nước tối quan trọng thứ hai
trong hệ thống quốc tế.
Nhưng
với mạng lưới liên minh và địa vị địa chiến lược của Hoa Kỳ to lớn hơn
nhiều, sức mạnh bá quyền Mỹ không bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của TQ. Hoa
Kỳ được bao bọc bởi những đồng minh lâu đời (Canada và các nước Tây Âu)
hay các nước ổn định nhưng yếu và không tranh giành ảnh hưởng với Hoa Kỳ
(châu Mỹ La tinh). Những nước láng giềng của TQ là Nhật Bản giàu có và
hùng mạnh, Nam Hàn và Việt Nam đang vươn lên, hai nước khổng lồ Ấn Độ và
Nga, một loạt các quốc gia suy sụp hay đang suy sụp ở Trung Á và Đông
Nam Á. Hoa Kỳ ngự trị trên các đại dương, trên các vùng trời, và ngoài
khí quyển; TQ đang phải phấn đấu để duy trì trật tự ngay trong biên giới
lãnh thổ của mình. TQ sẽ, và một cách chính đáng có bổn phận phải, đóng
một vai trò ngày càng to lớn trong chính trị châu Á và thế giới, nhưng
TQ không có đủ tư thế để khống chế ngay cả châu Á, đừng nói chi cả thế
giới.
Các
học giả uyên thâm có thể tận hưởng cơ hội này để suy đoán về một tương
lai hậu-Hoa Kỳ, trong đó cả thế giới phải học tiếng Quan thoại, nhưng sự
thật cho thấy rằng điều họ suy đoán sẽ không xảy ra trong thế kỷ này.
Đã đến lúc ta cần bắt đầu coi TQ như một nước rộng lớn nhưng tầm thường.
Phần còn lại của thế giới không nên ngây ngất hay lo sợ về viễn cảnh TQ
sẽ khống chế thiên hạ. Dẹp qua một bên sự phóng đại và hoảng sợ, ta nên
thấy ở TQ một nước đã chịu đựng một thảm kịch khủng khiếp kéo dài 200
năm và cuối cùng đang trở lại bình thường. Đây là một điều tốt lành –
cho TQ, cho Hoa Kỳ, và cho cả thế giới. Nếu hệ thống quốc tế bắt đầu coi
TQ, và TQ bắt đầu tự coi mình, như một thành viên quan trọng nhưng
không phải vô địch trong hệ thống toàn cầu, thì những sợ hãi phi lý sẽ
giảm thiểu về mọi phía, và phải là như vậy. TQ trong tương lai có thể
phải dồn mọi nỗ lực để thoả mãn nhu cầu của dân chúng trong nước hơn là
giành lấy cho mình địa vị của một bá quyền toàn cầu mới.
Salvatore Babones là Giảng viên Thâm niên môn Xã hội học và Chính sách Xã hội tại Đại học Sydney, Australia.
Nguồn: Foreign Affairs, tháng Chín/tháng Mười 2011


10:32
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét