Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014
Thị trường và Đạo đức (Kì 1)
Phần I
Đạo đức trong kinh doanh
Tom G. Palmer
Dẫn nhập: Đạo đức của chủ nghĩa tư bản
Phạm Nguyên Trường dịch
Cuốn
sách này là lời biện minh về mặt đạo đức cho cái mà triết gia Robert
Nozick gọi là “người có tiền hành động giữa những người trưởng thành”[1].
Nó nói về hệ thống hợp tác sản xuất và tự do trao đổi, được thực hiện
chủ yếu bởi những hành động như thế. Những bài viết trong cuốn sách này
là nói về đạo đức của chủ nghĩa tư bản; đây không phải là triết lí trừu
tượng về đạo đức, mà tập trung chú ý vào kinh tế học, logic học, sử học,
văn học và những môn khoa học khác. Hơn nữa, nó nói về đạo đức của chủ
nghĩa tư bản chứ không chỉ là đạo đức của tự do trao đổi. Thuật ngữ “chủ
nghĩa tư bản” ám chỉ không chỉ những thị trường trao đổi hàng hóa và
dịch vụ, tức là những thị trường đã từng tồn tại từ thời xa xưa, mà ám
chỉ hệ thống của sự cách tân, tạo ra của cải và trao đổi trên bình diện
xã hội, tức là hệ thống đã mang sự thịnh vượng đến cho hàng tỉ người mà
những thế hệ trước đó không thể nào tưởng tượng nổi.
Chủ
nghĩa tư bản ám chỉ hệ thống pháp luật, xã hội, kinh tế và văn hóa chứa
đựng trong lòng nó quyền bình đẳng và “nghề nghiệp rộng mở cho những
người có tài” và là hệ thống khuyến khích sự cách tân phi tập trung và
những quá trình thử và sai – tức là khuyến khích điều mà nhà kinh tế học
Joseph Schumpeter gọi là “phá hủy sáng tạo” – thông qua những tiến
trình trao đổi tự nguyện trên thương trường. Nền văn hóa tư bản chủ
nghĩa tôn vinh những người dám nghĩ dám làm, tôn vinh các nhà khoa học,
tôn vinh những người dám mạo hiểm, những người có sáng kiến, những người
sáng tạo. Mặc dù bị các triết gia (nhất là những người mác-xít) – những
người ủng hộ chủ nghĩa duy vật - chế giễu là nặng về vật chất, chủ
nghĩa tư bản, tại căn để của nó lại là tinh thần dám nghĩ dám làm mang
đầy tính văn hóa. Như nhà sử học Joyce Appleby đã nhận xét trong công
trình gần đây của ông: Cuộc cách mạng không ngừng nghỉ: Lịch sử của chủ nghĩa tư bản (The Relentless Revolution: A History of Capitalism):
“Vì chủ nghĩa tư bản là hệ thống văn hóa chứ không chỉ đơn giản là hệ
thống kinh tế cho nên chỉ dùng những tác nhân kinh tế thì không thể giải
thích được nó”[2].
Chủ
nghĩa tư bản là hệ thống các giá trị văn hóa, tinh thần và đạo đức. Như
hai nhà kinh tế học là David Schwab và Elinor Ostrom nhận xét trong
công trình nghiên cứu lí thuyết trò chơi đầy tiềm năng về vai trò của
qui tắc và luật lệ trong việc duy trì những nền kinh tế mở, các thị
trường tự do được xây dựng trên những qui tắc ngăn không cho chúng ta ăn
cắp và là những qui tắc “đề cao lòng trung thực”[3].
Chủ nghĩa tư bản không những không phải là đấu trường cho những xung
đột lợi ích như những người đang tìm cách phá hoại ngầm hay tiêu diệt nó
mô tả mà tương tác mang tính tư bản chủ nghĩa được xây dựng trên những
qui tắc và luật lệ mang tính đạo đức. Thực vậy, chủ nghĩa tư bản không
chấp nhận nguyên tắc cướp bóc và chiếm đoạt phi pháp, tức là những biện
pháp mà những kẻ giàu có trong những hệ thống kinh tế và chính trị khác
thường dùng nhằm chiếm đoạt phần lớn khối tài sản mà họ có. (Trên thực
tế, trong nhiều nước hiện nay và trong phần lớn lịch sử nhân loại đa số
người vẫn hiểu rằng người giàu là vì họ lấy được của những người khác,
và đặc biệt là họ tiếp cận được với sức mạnh có tổ chức – theo cách nói
hiện nay là tiếp cận được với quyền lực của nhà nước. Giới tinh hoa bất
lương sử dụng sức mạnh đó nhằm giành độc quyền và dùng thuế để tịch thu
sản phẩm của người khác. Chúng ăn vào ngân khố quốc gia và thu lợi từ
những ngành độc quyền do nhà nước áp đặt và từ những biện pháp hạn chế
cạnh tranh. Chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản thì người dân mới
có thể trở thành giàu có mà không phải là tội phạm mà thôi.)
Xin
xem xét điều mà nhà kinh tế học và sử học Deirdre McCloskey gọi là “Sự
kiện vĩ đại”: “Thu nhập thực tế trên đầu người hiện nay, thí dụ như ở
Anh và các nước đã trải qua công cuộc phát triển kinh tế hiện đại cao
gấp ít nhất là 16 lần so với thu nhập trên đầu người vào năm 1700 hay
1800”[4].
Đấy là điều chưa từng xảy ra trong toàn bộ lịch sử nhân loại. Trên thực
tế, đánh giá của McCloskey còn rất bảo thủ. Đánh giá này không tính đến
hiệu quả của những tiến bộ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, tức là
những tiến bộ đã đưa các nền văn hóa của thế giới đến ngay đầu ngón tay
của chúng ta [ý nói bàn phím máy tính – ND].
Chủ
nghĩa tư bản, bằng cách tôn trọng và khuyến khích tinh thần sáng tạo
trong kinh doanh, đã làm cho khả năng sáng tạo của con người phục vụ
ngay chính con người, chính nhân tố khó nhận ra này giải thích sự khác
nhau giữa lối sống hiện nay của chúng ta với lối sống của những thế hệ
cha ông trước thế kỉ XIX của chúng ta. Những cách tân đã làm thay đổi
cuộc đời của chúng ta theo hướng tốt đẹp hơn không chỉ diễn ra trong
lĩnh vực khoa học và công nghệ mà còn diễn ra trong lĩnh vực định chế
nữa. Những hình thức kinh doanh mới, đủ mọi loại, kết hợp một cách tự
nguyện sức lực của rất nhiều người. Những thị trường và công cụ tài
chính mới liên kết những khoản tiền tiết kiệm và quyết định đầu tư của
hàng tỉ người suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Mạng lưới thông tin viễn
thông đưa con người từ khắp các ngõ ngách trên thế giới lại gần bên
nhau. (Ngày hôm nay tôi đã nói chuyện với những người bạn ở Phần Lan,
Trung Quốc, Morocco, Mĩ, và Nga, và còn đọc những lời bình luận và tin
tức từ bạn bè và người quen ở Mĩ, Canada, Pakistan, Đan Mạch, Pháp và
Kyrgyzstan trên Facebook nữa). Những sản phẩm mới cung cấp cho chúng ta
những cơ hội nghỉ ngơi, giải trí và học tập mà các thế hệ trước không
thể nào tưởng tượng được. (Tôi viết bài này trên chiếc máy tính Apple
MacBook Pro). Những thay đổi như thế làm cho xã hội chúng ta khác hẳn về
nhiều phương diện với tất cả những xã hội trước đó.
Chủ
nghĩa tư bản không chỉ là làm ra sản phẩm theo cách mà các nhà độc tài
xã hội chủ nghĩa hô hào những người nô lệ của họ nhằm “Xây dựng tương
lai!” Chủ nghĩa tư bản là tạo ra giá trị, chứ không chỉ là chăm chỉ làm
việc hay hi sinh hoặc bận rộn suốt ngày. Những người không hiểu chủ
nghĩa tư bản thường nhanh nhảu ủng hộ các chương trình “tạo công ăn việc
làm” để có nhiều việc làm hơn. Họ đã hiểu sai vấn đề việc làm, đấy
không phải là vấn đề chính của chủ nghĩa tư bản. Có một câu chuyện hay
được người ta trích dẫn, đấy là câu chuyện nói về việc xây dựng một con
kênh đào lớn ở châu Á mà nhà kinh tế học Milton Friedman được đưa tới
xem. Khi ông nói rằng công nhân chuyển quá nhiều đất đá bằng xẻng chứ
không dùng máy đào đất thì được trả lời như sau: “Ông không hiểu, đây là
chương trình tạo công ăn việc làm”. Ông đáp: “Ồ, tôi tưởng các ông đang
định đào con kênh. Nếu các ông tìm cách tạo công ăn việc làm thì tại
sao lại không đưa cho họ tiền mà lại đưa cho họ xẻng?”.
Người
theo thuyết trọng thương và cũng là một người chơi thuyền buồm nổi
tiếng, ông H. Ross Perot, trong một cuộc tranh luận trong chiến dịch
tranh cử chức tổng thống Mĩ vào năm 1992 đã từng khóc mà nói rằng người
Mĩ mua những con chip máy tính từ Đài Loan và bán cho người Đài Loan
những lát cà chua thái mỏng[i].
Có vẻ như Perot lấy làm xấu hổ khi người Mĩ chỉ bán những lát cà chua
thái mỏng, ông ta đã nhiễm quan điểm của Lenin cho rằng giá trị chỉ gia
tăng nhờ sản phẩm được sản xuất trong các nhà máy mà thôi. Nhà kinh tế
học Michael Boskin ở trường đại học Stanford (Stanford University) đã
nhận xét rất đúng rằng nếu bạn nói về giá trị bằng tiền của con chip máy
tính hay giá trị bằng tiền của lát cà chua thì đấy là bạn đang nói về
giá trị bằng tiền. Tăng thêm giá trị bằng cách trồng cà chua ở Idaho hay
làm con chip điện tử ở Đài Bắc thì cũng đều là giá trị gia tăng cả. Lợi
thế tương đối[5]
là chìa khóa cho quá trình chuyên môn hóa và thương mại; khi làm ra giá
trị, dù đấy có là người nông dân hay người vận chuyển đồ gỗ (hôm nay
tôi vừa làm việc với ba người vận chuyển đồ gỗ để chuyển thư viện của
tôi và tôi nhận rõ rằng họ đã làm gia tăng bao nhiêu gía trị đối với
cuộc sống của tôi), hay nhà tư bản tài chính hay bất kì người nào khác
thì cũng có gì là xấu. Thị trường – chứ không phải những chính khách hám
lợi kiêu căng – chỉ ra cho chúng ta thấy khi nào thì chúng ta làm cho
giá trị gia tăng, không có thị trường tự do thì chúng ta không thể nào
biết được điều đó.
Chủ
nghĩa tư bản không chỉ là những người đổi bơ lấy trứng trong những khu
chợ làng quê, điều này đã và vẫn xảy ra cả ngàn năm rồi. Đấy là giá trị
gia tăng nhờ huy động năng lực và tài khéo của con người trên qui mô
chưa từng có trong lịch sử nhân loại nhằm tạo ra của cải cho những người
bình thường mà ngay cả những ông vua, những hoàng đế giàu có nhất và
quyền lực nhất trong quá khứ cũng phải chói mắt và kinh ngạc. Đấy là sự
xói mòn hệ thống quyền lực, xói mòn hệ thống cai trị và đặc quyền đặc
lợi đã ăn sâu bén rễ từ lâu, và là mở rộng cửa “nghề nghiệp cho tài
năng”. Đấy là dùng thuyết phục thay cho bạo lực[6]. Đấy là thay đố kị bằng thành tựu[7]. Đấy là những thứ làm cho cuộc đời tôi cũng như cuộc đời bạn trở thành dễ chịu.
(Điều
duy nhất mà các vua chúa và hoàng đế có mà người bình thường hiện nay
không có là quyền lực đối với người khác và khả năng chỉ huy người khác
của họ. Họ có những tòa lâu đài to lớn do người nô lệ xây dựng hoặc được
đầu tư bằng tiền thuế của dân, nhưng họ không có lò sưởi hay điều hòa
nhiệt độ trong nhà; họ có nô lệ hay đầy tớ, nhưng không có máy giặt hay
máy rửa bát; họ có cả một đội quân chạy giấy nhưng không có điện thoại
cầm tay hay Wi-Fi; họ có bác sĩ và nhà chiêm tinh của hoàng gia nhưng
không có thuốc gây mê có thể làm giảm những cơn đau hay không có thuốc
kháng sinh chữa bệnh; họ là những người có quyền lực, nhưng lại là những
kẻ nghèo kiết xác, nếu xét theo tiêu chuẩn hiện nay của chúng ta)
Lịch sử của Từ
Thị
trường tự do, được hiểu là hệ thống trao đổi tự do giữa những con người
được xác định một cách rõ ràng, bảo đảm về mặt pháp lí và có quyền
chuyển nhượng những nguồn lực có hạn, là điều kiện cần đối với việc làm
ra tài sản trong thế giới hiện đại. Nhưng các nhà sử học chuyên về lĩnh
vực kinh tế, đặc biệt là Deirdre McCloskey, đã chứng minh một cách đầy
thuyết phục rằng như thế vẫn chưa đủ. Cần một số điều kiện nữa: đạo đức
trong quá trình tự do trao đổi và đạo đức trong quá trình sản xuất của
cải thông qua đổi mới, cách tân.
Xin
nói đôi lời về việc sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản”. Nhà sử học
chuyên về lĩnh vực xã hội học, Fernand Braudel, đã truy nguyên nguồn gốc
của thuật ngữ “tư bản” trong giai đoạn trải dài suốt thế kỉ XII và
XIII, lúc đó nó có nghĩa là “kho, nguồn hàng, tổng số tiền hay số tiền
mang lại lợi nhuận[8]”
(Braudel nhận xét một cách lạnh lùng rằng trong số khá nhiều nghĩa của
từ “nhà tư bản” mà ông liệt kê được: “Từ này chưa bao giờ… được dùng
theo nghĩa thân thiện[9]”.
Từ “chủ nghĩa tư bản” xuất hiện trong thế kỉ XIX như là một từ có tính
chất thóa mạ, chẳng hạn như Louis Blanc, một nhà xã hội người Pháp, định
nghĩa thuật ngữ này là: “Một số người chiếm đoạt tư bản bằng cách bóc
lột một số người khác[10]”.
Karl Marx sử dụng thuật ngữ “phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”,
còn Werner Sombart, một đồ đệ nồng nhiệt của ông, thì, thông qua tác
phẩm gây được nhiều ảnh hưởng: Der Moderne Kapitalismus
(1912) đã biến thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản” thành một từ thông dụng.
(Friedrich Engels, người đồng chí thân cận của Marx, coi Sombart là tư
tưởng gia duy nhất ở Đức thực sự hiểu được Marx; sau này Sombart lại trở
thành người cổ vũ nhiệt tình cho một hình thức bài tư bản khác là Chủ
nghĩa xã hội dân tộc hay còn gọi là chủ nghĩa quốc xã).
Trong
cuộc tấn công vào “bọn tư sản” và “phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa”, Marx và Engels nhận xét rằng “giai cấp tư sản” đã làm cho thế
giới thay đổi một cách triệt để:
Giai
cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã
tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản
xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại. Chinh phục những lực lượng
của tự nhiên, sản xuất bằng máy móc, sử dụng hoá chất trong công nghiệp
và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện
báo, việc khai phá cả những lục địa, việc khai thông các dòng sông cho
tầu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trồi lên, có
thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như
thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội?[11]
Marx và Engels cảm thấy kinh ngạc không chỉ trước những cách tân về mặt công nghệ mà còn trước “hàng
khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trồi lên”, được cho là nguyên nhân
của việc giảm thiểu tử suất, nâng cao mức sống và gia tăng tuổi thọ của
chính con người. Mặc dù có những thành tựu như vậy, nhưng Marx
và Engels vẫn kêu gọi phá tan “phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”,
hay nói một cách chính xác hơn, hai ông cho rằng phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa sẽ tự hủy diệt và mở ra một hệ thống mới tuyệt vời đến
mức không cần – thậm chí làm như thế là phản khoa học – đưa ra bất kì
gợi ý nào về cách thức hoạt động của nó hết[12]!
Quan
trọng hơn là, Marx và Engels đã đưa ra những lời chỉ trích chủ nghĩa tư
bản của họ (những lời chỉ trích, mà mặc cho sự kiện là tất cả các chế
độ cộng sản đều không thực hiện được những lời hứa của họ, vẫn còn giữ
ảnh hưởng cực kì to lớn đối với những người có học trên toàn thế giới)
trên cơ sở của sự hiểu biết sai lầm của quần chúng về cái mà họ gọi là
“giai cấp tư sản”, tức là giai cấp mà họ liên kết với “phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa”. Một mặt, họ sử dụng thuật ngữ này để chỉ những
người chủ “tư bản”, tức là những người tổ chức các xí nghiệp sản xuất,
nhưng mặt khác họ lại sử dụng từ này để chỉ những người sống dựa vào nhà
nước và quyền lực của nhà nước, như Marx viết trong một trong những
luận văn hay nhất của ông về chính trị:
Nhưng
quyền lợi vật chất của giai cấp tư sản Pháp lại gắn bó một cách mật
thiết nhất với việc duy trì chính cái bộ máy nhà nước to lớn và có nhiều
cành nhánh như thế. Bộ máy này tạo việc làm cho những kẻ vô dụng của
giai cấp tư sản và nuôi họ bằng tiền lương của chính phủ mà họ không thể
đút túi được dưới hình thức lợi nhuận, lợi tức, tiền thuế hay phí. Mặt
khác, quyền lợi chính trị cũng buộc họ phải thường xuyên tăng cường bộ
máy đàn áp và vì vậy mà phải củng cố nguồn lực và gia tăng số nhân viên
của bộ máy chính phủ[13].
Như
vậy là, một mặt Marx đánh đồng “giai cấp tư sản” với các doanh nhân,
tức là những người những người tạo ra “cho quá trình sản xuất và tiêu
thụ ở mọi nước đặc điểm mang tính toàn cầu”, những người làm cho “đầu óc
dân tộc hẹp hòi” “càng ngày càng trở thành bất khả thi hơn”, những
người tạo ra “một nền văn học thế giới”, những người đem lại “sự cải
tiến nhanh chóng tất cả các công cụ sản xuất” và “làm ra rất nhiều
phương tiện thông tin liên lạc”, và những người đã khắc phục được “lòng
hận thù man rợ, dai dẳng người ngoại quốc” bằng cách cung cấp “những món
hàng giá rẻ[14]”. Mặt khác, ông lại sử dụng từ “giai cấp tư sản” để chỉ những người sống bằng “tín dụng công” (nghĩa là nợ của chính phủ):
Toàn
bộ thị trường tiền tệ hiện đại, toàn bộ hoạt động của hệ thống ngân
hàng hiện đại đều đan xen một cách mật thiết nhất với tín dụng công. Một
phần vốn kinh doanh của họ phải được đầu tư vào qũi công trái ngắn hạn
của nhà nước để thu lời. Những món tiền họ được các thương nhân và các
nhà công nghiệp trả trước và được họ phân phát giữa những con người ấy
với nhau, một phần là từ lợi tức của những người nắm trái phiếu của
chính phủ[15].
Marx
coi “giai cấp tư sản” là người tham gia một cách sâu sắc vào và hưởng
lợi từ cuộc đấu tranh nhằm kiểm soát bộ máy nhà nước:
Tất
cả các biến động chính trị đều hoàn thiện bộ máy này chứ không phải là
đập tan nó. Các đảng phái từng chiến đấu nhằm giành quyền cai trị đều
coi việc nắm bộ máy nhà nước đồ sộ đó như là chiến lợi phẩm chính của
chiến thắng[16].
Theo
nhà sử học Shirley Gruner thì “Marx cảm thấy - khi tìm được “giai cấp
tư sản” – là đã hiểu rõ được hiện thực, nhưng trên thực tế ông mới chỉ
tóm được một thuật ngữ cực kì khó nắm bắt mà thôi[17]”.
Trong một số tác phẩm, Marx dùng thuật ngữ này để chỉ những doanh nhân
đầy sáng kiến, tức là những người tổ chức ra các xí nghiệp sản xuất và
đầu tư vào việc tạo ra của cải, còn trong những tác phẩm khác thì ông
lại dùng thuật ngữ này để chỉ những người tụ tập xung quanh bộ máy nhà
nước, tức là những kẻ sống bằng tiền thuế, những kẻ vận động hành lang
nhằm cấm đoán cạnh tranh và ngăn chặn tự do thương mại; nói tóm lại, đấy
là những kẻ đầu tư không phải nhằm tạo ra của cải mà nhằm bảo đảm cho
quyền tái phân phối tài sản hay phá hoại tài sản của người khác, và giữ
cho thị trường luôn ở tình trạng khép kín, làm cho người nghèo cứ nghèo
mãi, còn xã hội thì bị họ khống chế. Do ảnh hưởng của Marx và đồ đệ của
ông ta là Sombart mà thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản” đã trở thành thông
dụng. Cần nhắc lại rằng thuật ngữ này đã được những người - không chỉ
lẫn lộn giữa quá trình sản xuất hàng hóa và trao đổi trên thương trường
với việc sống bằng thuế khóa tước đoạt được của những người khác mà còn
là những người biện hộ cho việc thủ thiêu tài sản, thị trường, tiền tệ,
giá cả và phân công lao động, và toàn bộ cơ cấu của chủ nghĩa tự do:
các quyền cá nhân, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, bình đẳng trước
pháp luật, và chính phủ dân chủ nằm trong khuôn khổ của hiến pháp.
Đáng
chú ý là, tương tự như nhiều từ có tính chất thóa mạ khác, “chủ nghĩa
tư bản” được những người trí thức ủng hộ thị trường tự do sử dụng nhằm
chống lại những người xuyên tạc thuật ngữ này. Kết quả là những người áp
dụng thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản” cho những điều mà họ ủng hộ hay đơn
giản như một thuật ngữ trung lập cho những cuộc thảo luận trong lĩnh vực
khoa học xã hội đã rơi vào tình thế khó khăn vì (1) thuật ngữ này được
sử dụng một các lập lờ (để chỉ cả tinh thần kinh doanh trên thị trường
tự do lẫn việc sống bằng tiền thuế và sức mạnh cũng như sự bảo trợ của
chính phủ) và (2) từ này hầu như bao giờ cũng bị sử dụng theo nghĩa rõ
ràng là tiêu cực.
Một số người đề nghị bỏ hẳn thuật ngữ này vì nó chứa đựng những ý nghĩa trái ngược nhau và còn bao hàm cả ý thức hệ nữa[18].
Nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng vấn đề thì vẫn còn. Cho phép người ta tự do
buôn bán và lời ăn lỗ chịu chắc chắn là điều kiện cần cho sự tiến bộ của
nền kinh tế, nhưng không đủ cho việc hình thành thế giới hiện đại. Thị
trường hiện đại xuất phát từ và cung cấp năng lượng cho sự cách tân
trong các lĩnh vực như định chế, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật cũng như
xã hội, tức là những sự cách tân vượt ra ngoài mô hình trao đổi trứng
lấy bơ. Chủ nghĩa tư bản thị trường tự do hiện đại cải tiến không phải
bằng bước chân chậm chạm của những thiên niên kỉ trước mà ngày càng
nhanh hơn – đúng như những người xã hội chủ nghĩa (nhất là Marx) và các
đồng minh của họ, cũng như những người bảo thủ thù nghịch với thị
trường, những người cảm thấy hốt hoảng trước thế giới hiện đại. Trong
tác phẩm Capitalism, Socialism, and Democracy (Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và chế độ dân chủ),
Joseph Schumpeter đã phê phán những người mà “vấn đề thường được mường
tượng là chủ nghĩa tư bản quản lí những công trình hiện hữu như thế nào,
trong khi vấn đề lại là xây dựng và phá hủy chúng như thế nào[19]”
Khác
với các chợ phiên trong quá khứ, thị trường tự do hiện đại không chỉ là
chỗ trao đổi hàng hóa. Thị trường hiện đại được mô tả như là những làn
sóng “của sự phá hoại mang tính sáng tạo”; những cái mà cách đây mười
năm là mới thì nay đã trở thành cũ kĩ, bị những mẫu mã cải tiến hoặc
thiết bị mới thế chỗ, những dàn xếp về mặt định chế, công nghệ và cách
thức tương tác mà không ai có thể tưởng tượng nổi. Đấy chính là sự khác
biệt giữa thị trường tự do hiện đại với những phiên chợ của quá khứ.
Theo tôi, thuật ngữ tốt nhất hiện có nhằm phân biệt những quan hệ của
thị trường tự do, tức là những quan hệ tạo ra thế giới hiện đại từ những
thị trường tiền bối của nó là “chủ nghĩa tư bản”.
Thế
nhưng chủ nghĩa tư bản không phải là tình trạng hỗn loạn. Nó là trật tự
tự phát, một trật tự xuất hiện ngay trong tiến trình. (Một số tác giả
gọi trật tự này là “trật tự nổi dần lên”). Sự ổn định có thể dự đoán
được của chế độ pháp quyền và việc bảo đảm các quyền làm cho quá trình
cách tân như vậy trở thành khả thi. Như đã được viết trong cuốn The Futurist (Nhà vị lai học):
Người
ta bao giờ cũng khó nhìn thấy trật tự trong thị trường rõ ràng là hỗn
loạn. Ngay cả hệ thống giá cả luôn luôn đưa các nguồn lực đến những nơi
mà chúng được sử dụng một cách tốt nhất, nhưng trên bề mặt của thị
trường thì lại dường như hoàn toàn trái ngược với trật tự - doanh nghiệp
phá sản, người lao động mất việc làm, thịnh vượng tiến lên với những
bước đi chập chững, những khoản đầu tư hóa ra là bị mất trắng. Dường như
thời đại cách tân diễn ra nhanh chóng thậm chí sẽ hỗn loạn hơn, những
doanh nghiệp khổng lồ phát đạt và lụn bại nhanh chưa từng có và chẳng
còn mấy người có công ăn việc làm lâu dài nữa. Nhưng năng lực gia tăng
của ngành vận tải, của thông tin và của thị trường tài chính trên thực
tế có nghĩa là thậm chí có nhiều trật tự hơn là thị trường có thể đạt
được trong thời đại công nghiệp. Vấn đề quan trọng là phải tránh sử dụng
chính phủ áp bức nhằm “giải quyết những sự quá lạm” hay “hướng thị
trường đến kết quả mà một người nào đó muốn![20]”.
Chủ nghĩa tư bản thị trường tự do chống lại chủ nghĩa tư bản ô dù.
Để
tránh sự lầm lẫn do cách sử dụng mập mờ thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản”
của những nhà trí thức theo trường phái xã hội chủ nghĩa gây ra, cần
phải tách biệt một cách rõ ràng giữa “chủ nghĩa tư bản thị trường tự do”
với “chủ nghĩa tư bản ô dù”, tức là tách biệt khỏi cái hệ thống đã và
đang đẩy rất nhiều dân tộc vào vũng bùn tham nhũng và tình trạng lạc
hậu. Trong rất nhiều nước, nếu một người nào đó giàu có thì có nhiều khả
năng là ông ta (hiếm khi là bà ta) có quyền lực chính trị hay là họ
hàng gần gũi, bạn bè hoặc người ủng hộ - nói ngắn, có “ô dù” – của những
người có quyền lực và người này có tài sản không phải là vì ông ta là
người làm ra những món hàng tốt mà do ông ta được hưởng đặc quyền đặc
lợi do nhà nước ban phát cho một số người, gây thiệt hại cho một số
người khác. Đáng tiếc là “chủ nghĩa tư bản ô dù” có thể được áp dụng với
độ chính xác ngày càng cao đối với nền kinh tế của Mĩ, một đất nước mà
những công ty phá sản thường được nhà nước “cứu trợ” bằng tiền của người
đóng thuế, trong đó thủ đô của quốc gia cũng chẳng khác gì một cái tổ
ong cực lớn, gồm toàn những kẻ kiếm lời bằng thủ thuật vận động hành
lang, những quan chức, các chính khách, các nhà tư vấn và tài xế và các
quan chức được bổ nhiệm của bộ tài chính và ngân hàng trung ương tự tung
tự tác trong việc tưởng thưởng cho một số công ty và làm cho một số
công ty khác bị thiệt hại. Không được lẫn lộn hệ thống ô dù thối nát như
thế với “chủ nghĩa tư bản thị trường tự do”, tức là thuật ngữ dùng để
nói về hệ thống sản xuất và trao đổi trên cơ sở chế độ pháp quyền, trên
sự bình đẳng của tất cả mọi người, trên cơ sở tự do lựa chọn, tự do buôn
bán, tự do cải tiến, trên nguyên tắc lời ăn lỗ chịu làm kim chỉ nam, và
quyền hưởng thành quả lao động, tiết kiệm, đầu tư mà không sợ bị tịch
thu hay bị những kẻ không đầu tư vào sản xuất của cải vật chất mà đầu tư
vào quyền lực chính trị ngăn cản.
Những
làn sóng thay đổi mà chủ nghĩa tư bản thị trường tự do tạo ra thường
làm cho những tầng lớp tinh hoa cha truyền con nối tức giận. Theo cách
nhìn của họ về thế giới thì những nhóm người thiểu số trở thành tự cao
tự đại và chẳng bao lâu nữa những tầng lớp dưới sẽ nhận thức được vị trí
của mình. Khủng khiếp hơn nữa – đấy là theo quan điểm của họ - là trong
chế độ tư bản chủ nghĩa thị trường tự do phụ nữ sẽ khẳng định được giá
trị của họ. Địa vị của họ đã bị đe dọa. Người dân sẽ tạo lập các mối
quan hệ trên cơ sở lựa chọn và thỏa thuận chứ không còn dựa vào nguồn
gốc hoặc địa vị nữa[21].
Trong các tác phẩ của mình, Marx đã tóm tắt một cách tài tình và chỉ ra
một cách khéo léo lòng hận thù của những người bảo thủ đối với chủ
nghĩa tư bản thị trường tự do, đấy là sự tức giận trước những thay đổi
và mất mát đặc quyền đặc lợi. Leo Melamed (chủ tịch danh dự của CME
Group [trước đây là Chicago Mercantile Exchange], câu chuyện của cuộc
đời ông về quá trình trốn tránh cả Gestapo lẫn KGB và cuộc cách mạng nền
tài chính thế giới là câu chuyện về lòng dũng cảm và tầm nhìn), dựa vào
chính kinh nghiệm của mình khi nói: “Trong thị trường tài chính
Chicago, vấn đề không phải bạn là ai – dòng dõi của bạn, lai lịch của
bạn, sức khỏe của bạn, giới tính của bạn – mà vấn đề là khả năng của bạn
trong việc xác định nhu cầu của người tiêu dùng và xu hướng của thị
trường. Ngoài ra chẳng có gì quan trọng hết![22]”.
Chấp nhận chủ nghĩa tư bản thị trường tự do nghĩa là chấp nhận tự do
trao đổi, tự do cách tân, tự do sáng chế. Nghĩa là chấp nhận thay đổi và
tôn trọng quyền tự do hành động của người khác – theo nguyện vọng và
với những thứ mà họ có. Nghĩa là tạo không gian cho các công nghệ mới,
lí thuyết khoa học mới, hình thức nghệ thuật mới, bản sắc mới và quan hệ
mới. Nghĩa là chấp nhận quyền tự do làm ra của cải, đấy cũng là phượng
tiện thoát nghèo duy nhất. (Của cải có nguồn gốc, nhưng nghèo đói thì
không; nghèo đói là do không sản xuất ra của cải, nhưng của cải thì
không phải là do không sản xuất ra nghèo đói[23]). Nghĩa là hân hoan chào đón quá trình giải phóng con người và biến tiềm năng của con người thành hiện thực.
Các
tác giả được giới thiệu trong cuốn sách này là những người đến từ những
nước khác nhau, những nền văn hóa khác nhau, từ những nghề nghiệp khác
nhau và từ những ngành học khác nhau. Những thương vụ trên thị trường tự
do gắn bó với đức hạnh mật thiết đến mức nào và chúng giúp củng cố
những hành vi mang tính đạo đức của chúng ta đến mức nào? – mỗi người sẽ
cung cấp cho độc giả đánh giá của của mình. Chúng tôi đưa vào cuốn sách
này những bài tiểu luận khác nhau, có bài rất ngắn, một số bài dài hơn,
có những bài rất dễ hiểu, nhưng lại có những bài có tính hàn lâm hơn.
Có hai bài được dịch từ tiếng Hoa và tiếng Nga. Hai tác giả khác là
những người đã từng đoạt giải Nobel, một người là nhà văn, còn người kia
là một nhà kinh tế học. Có một bài phỏng vấn với một doanh nhân thành
đạt và cũng là một người ủng hộ bộc trực cho điều mà ông gọi là “chủ
nghĩa tư bản tự giác”. Các bài tiểu luận ở đây không thể cung cấp đầy đủ
tất cả những luận cứ ủng hộ chủ nghĩa tư bản thị trường tự do, nhưng
chắc chắn là chúng giúp độc giả thâm nhập vào một lĩnh vực tài liệu khá
đồ sộ (Một số tác phẩm được liệt kê trong phần tài liệu tham khảo ngắn ở
cuối sách).
Tại
sao cuốn sách này lại chỉ chứa đựng những lời biện hộ hùng hồn cho chủ
nghĩa tư bản thị trường tự do? Vì đã có hàng trăm – thực ra là hàng ngàn
– cuốn sách đang có mặt trên thị trường với mục đích cung cấp những
cuộc thảo luận “không thiên vị” nhưng trên thực tế lại chẳng có gì ngoài
những cáo buộc quá trình làm ra của cải, cáo buộc tinh thần dám nghĩ
dám làm, tinh thần sáng tạo, cáo buộc hệ thống hệ thống lời-ăn-lỗ-chịu
và cáo buộc chủ nghĩa tư bản trị trường tự do nói chung. Trong quá trình
hoạt động của mình, tôi đã đọc hàng trăm cuốn sách tấn công chủ nghĩa
tư bản thị trường tự do, tôi đã suy tư về những luận cứ của những cuốn
sách đó và đã đánh vật với chúng. Ngược lại, những người phê bình chủ
nghĩa tư bản thị trường tự do lại ít đọc những người dám ủng hộ chủ
nghĩa tư bản thị trường tự do, họ thường chỉ đọc một tác giả. Tác giả
được trích dẫn nhiều nhất – ít ra là trong giới trí thức Anglo-Saxon –
là Robert Nozick, và ngay cả trường hợp này thì họ cũng chỉ đọc một
chương trong một cuốn sách mà thôi, đấy là chương mà ông đưa ra một thí
nghiệm mang tính giả thuyết đầy thách thức nhằm sát hạch những người
chống lại chủ nghĩa tư bản thị trường tự do. Phần lớn những người xã hội
chủ nghĩa đều cho rằng chỉ cần đọc một tiểu luận và bác bỏ bất kì thí
nghiệm mang tính tư duy nào[24]!
Sau khi đã đọc và đã bác bỏ rồi, nếu những người kết án chủ nghĩa tư
bản thị trường tư do vẫn còn nghĩ là cần phải tiếp tục phê phán thì họ
lại thường dựa vào ý kiến sai lầm của Milton Friedman hay Ayn Rand hoặc
F. A. Hayek hoặc Adam Smith hay ý kiến của các vị này nhưng đã bị cắt
xén, được họ trình ra mà không trích dẫn.
Những
người nghiêm túc phải làm tốt hơn họ. Tôi khuyên bạn, khuyên những độc
giả của tiểu luận này và của cuốn sách này phải làm tốt hơn những người
đó. Hãy đọc những bài phê bình chủ nghĩa thị trường tự do hay nhất. Hãy
đọc Marx. Đọc Sombart. Đọc Rawls. Đọc Sandel. Hãy hiểu họ. Hãy mở lòng
để cho họ thuyết phục. Hãy nghĩ về họ. Tôi đã đọc nhiều luận cứ chống
chủ nghĩa tư bản thị trường tự do hơn phần lớn những kẻ thù của chủ
nghĩa tư bản thị trường tự do từng đọc và tôi nghĩ là tôi có thể trình
bày mạch lạc hơn họ vì tôi biết rõ hơn họ. Ở đây, tôi muốn cung cấp cho
người đọc phía bên kia của cuộc thảo luận, đấy là cái phía mà thậm chí
chẳng có mấy người công nhận là nó có tồn tại.
Xin
tiếp tục, hãy tận dụng cơ hội. Hãy vật lộn với những luận cứ được trình
bày trong những bài viết của tập sách này. Hãy suy nghĩ về chúng. Và
sau đó thì tự đưa ra quyết định.
Tom G. Palmer
Washington, D.C.
Giáo
sư Tom Gordon Palmer (sinh năm 1956 ở Bitburg-Mötsch, Đức) là cộng tác
viên cao cấp của Viện Cato (Cato Institute), phụ trách lĩnh vực đào tạo
của Viện (Cato University), phó chủ tịch chương trình quốc tế của quĩ
nghiên cứu kinh tế Atlas (Atlas Economic Research Foundation), và là
tổng giám đốc Sáng kiến toàn cầu vì tự do thương mại, hòa bình và thịnh
vượng của quĩ Atlas (Atlas Global Initiative for Free Trade, Peace, and
Prosperity).
Đây
là Lời giới thiệu cho tác phẩm The Morality of Capitalism (Đạo đức của
chủ nghĩa tư bản) do Quĩ ATLAS xuất bản. Chúng tôi dùng bài viết của Tom
Gordon Palmer làm lời giới thiệu cho cả tập sách, trong đó có nhiều bài
được dịch từ cuốn Đạo đức của chủ nghĩa tư bản do giáo sư Tom G. Palmer
làm chủ biên.
Nguồn: http://studentsforliberty.org/college/the-morality-of-capitalism/
[1] Robert Nozick, Anarchy, State, and Utopia (New York: Basic Books, 1974), p. 163.
(Trong
tác phẩm này các chú thích trong nguyên bản được đánh số Lain: 1, 2,
3…; còn các chú thích của người dịch thì được đánh số La Mã: I, II, III…
[2] Joyce Appleby, The Relentless Revolution: A History of Capitalism (New York: W. W. Norton and Co., 2010), pp. 25-26.
[3] David
Schwab and Elinor Ostrom, “The Vital Role of Norms and Rules in
Maintaining Open Public and Private Economies,” in Moral Markets: The
Critical Role of Values in the Economy, ed. by Paul J. Zak (Princeton:
Princeton University Press,2008, pp. 204-27.
[4] Deirdre
McCloskey, Bourgeois Dignity: Why Economics Can’t Explain the Modern
World (Chicago: University of Chicago Press, 2010), p. 48.
[5] Muốn tìm hiểu lợi thế tương đối, xin đọc tomgpalmer.com/wpcontent/uploads/papers/The%20Economics%20of
%20Comparative%20Advantage.doc.
[6] Muốn
biết bạo lực đã giảm thiểu đến mức nào xin đọc: James L. Payne, A
History of Force (Sandpoint, Idaho: Lytton Publishing, 2004).
[7] Ghen
tị như là xung lực có hại đối với sự hợp tác xã hội và có hại cho chủ
nghĩa tư bản thị trường tự do đã được nhiều nhà tư tưởng nghiên cứu. Có
thể thấy cách tiếp cận khá hay và vừa được thực hiện trong thới gian gần
đây trong công trình nghiên cứu bản anh hùng ca Ấn Độ Mahabharata trong
tác phẩm của Gurcharan Das: The Diffculty of Being Good: On the Subtle
Art of Dharma (New York: Oxford University Press, 2009), esp. pp. 1-32.
[8] Fernand
Braudel, Civilization and Capitalism, 15th–18th Century: The Wheels of
Commerce (New York: Harper & Row, 1982, p. 232.
[9] Ibid., p. 236.
[10] Louis
Blanc, Organisation du Travail (Paris: Bureau de la Societé de
l’Industrie Fraternelle,1847, cited in Braudel, Civilization and
Capitalism, 15th–18th Century: The Wheels of Commerce, op. cit., p. 237.
[11] Karl
Marx and Frederick Engels, Manifesto of the Communist Party, in Karl
Marx and Frederick Engels, Collected Works, Volume 6 (1976: Progress Publishers, Moscow), p. 489.
[12] Phê
bình lí thuyết của Marx, xin đọc Eugen von Böhm-Bawerk, Karl Marx and
the Close of His System 1896; New York: Augustus M. Kelley, 1949). A
better translation of Böhm-Bawerk’s title would be, “On the Conclusion
of the Marxian System.” Böhm-Bawerk refers in his title to the
publication of the third volume of Capital, which “concluded” the
Marxian system. It should be noted that Böhm-Bawerk’s
criticism
is altogether an internal critique, and does not rest in any way on the
results of the “marginal revolution” in economic science that took
place in 1870. See also the essay by Ludwig von Mises, “Economic
Calculation in the Socialist Commonwealth,” in F. A. Hayek, ed.,
Collectivist Economic Planning (London: George Routledge & Sons,
1935) on the inability of collectivism to solve the problem of economic
calculation.
[13] Karl
Marx, “The Eighteenth Brumaire of Louis Bonaparte,” in David Fernbach,
ed., Karl Marx: Surveys from Exile: Political Writings, Volume II (New
York: Vintage Books, 1974), p. 186. I describe the contradictions and
confusions of Marxian economic and social analysis in “Classical
Liberalism, Marxism, and the Conflict of Classes: The Classical Liberal
Theory of Class Conflict,” in Realizing Freedom: Libertarian Theory,
History, and Practice (Washington: Cato Institute, 2009), pp. 255-275.
[14] Karl Marx and Friedrich Engels, Manifesto of the Communist Party, p. 488
[15] Karl Marx and Friedrich Engels, Manifesto of the Communist
[16] Karl Marx, “The Eighteenth Brumaire of Louis Bonaparte,” p. 238.
[17] Shirley M. Gruner, Economic Materialism and Social Moralism (The Hague: Mouton, 1973, pp. 189-190.
[18] See, for example, Sheldon Richman, “Is Capitalism Something Good?” www.
thefreemanonline.org/columns/tgif/is-capitalism-something-good/.
[19] Joseph Schumpeter, Capitalism, Socialism, and Democracy (London: Routledge, 2006), p. 84.
[20] David Boaz, “Creating a Framework for Utopia,” The Futurist, December 24, 1996, www.cato.org/pub_display.php?pub_id=5976.
[21] The
legal historian Henry Sumner Maine famously described “the movement of
the progressive societies” from inherited relations, based on family
membership to personal liberty and civil society as “a movement from
Status to Contract.” Henry Sumner Maine, Ancient Law (Brunswick, NJ:
Transaction
Publishers, 2003, p. 170.
[22] Leo
Melamed, “Reminiscences of a Refugee,” in For Crying Out Loud: From
Open Outcry to the Electronic Screen (Hoboken, NJ: John Wiley &
Sons, 2009, p. 136.
[23] I
address the issue of poverty and free-market capitalism more
systematically in “Classical Liberalism, Poverty, and Morality,” in
Poverty and Morality: Religious and Secular Perspectives, William A.
Galston and Peter H. Hoffenberg, eds. (New York: Cambridge University
Press, 2010), pp. 83-114.
[24] This
is an especially common attitude among philosophers, perhaps the
saddest of whom was the late G. A. Cohen, who devoted much of his
intellectual career to attempting, but failing, to refute Nozick’s one
thought experiment. Citations to Cohen’s articles and a demonstration of
the failure of his critique can be found in “G. A. Cohen on
Self-Ownership, Property, and Equality,” in Realizing Freedom, pp.
139-54.


23:41
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét