Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014
Thị trường và đạo đức (Kì 7)
Robert A. Sirico
Văn hóa của đức hạnh, Văn hóa của thương trường
Phạm Nguyên Trường dịch
Dẫn nhập
Tôi chọn Văn
hóa của đức hạnh, Văn hóa của thương trường làm chủ đề cho bài viết này
vì quan hệ giữa chúng là tâm điểm của Viện Acton. Người ta thường coi
văn hóa của thương trường và văn hóa của đức hạnh là những tập hợp giá
trị “mềm” đối chọi nhau và đã lỗi thời và có lí do xác đáng để làm như
thế. Những người tuyên xưng nền văn hóa của đức hạnh thường phê phán thị
trường tự do vì nó hạ thấp đời sống của con người và biến con người
thành Con người kinh tế [Homo economicus], nó chỉ có giá trị vì khả năng
kiềm tiền hoặc khả năng sản xuất mà thôi.
Tôi cho rằng quan
điểm phê phán như thế - rất thịnh hành trong giới hàn lâm và tăng lữ -
là thiển cận, mặc dù nó xuất phát từ thực tiễn và là mối quan tâm chính
đáng đối với phẩm giá của đời sống và ước muốn nâng cao nền văn hóa nhằm
bảo vệ cá nhân con người trong tất cả những biểu hiện phức tạp của anh
ta. Nó là thiển cận vì không đưa ra được những điểm khác biệt chủ yếu và
quan trọng - mà tôi sẽ lần lượt thảo luận - và như vậy là nó loại bỏ
cái có thể trở thành công cụ đầy sức mạnh trong sự nghiệp xây dựng nền
văn minh hướng vào sự bất tử và hướng vào tiềm năng của mỗi cá nhân con
người.
Thời đại mà
chúng ta đang sống là thời đại không tôn trọng phẩm giá của con người.
Nhưng nếu ta coi những người có thể trở thành đồng minh của chúng ta
trong cuộc đấu tranh chống lại những lực lượng làm băng hoại phẩm giá
của con người khi họ gặp khó khăn là do họ đã hiểu sai nền kinh tế thị
trường thì đấy là một đại họa. Tôi tin rằng có thể sử dụng sự năng động
của nền kinh tế thị trường nhằm củng cố văn hóa của đức hạnh. Sự tương
tác, mâu thuẫn và sự hài hòa chung cuộc giữa văn hóa của thương trường
và văn hóa của đức hạnh là những đề tài cần được tìm hiểu một cách căn
cơ hơn.
Văn hóa của đức hạnh
Trước hết phải
là rõ các định nghĩa. Văn hóa của đức hạnh là sự công nhận rằng đời
sống của con người trên mặt đất không phải là thực tại tối hậu mà là
thực tại áp chót (Evangelium Vitae, ch. 2)[1],
và cuộc sống trên trần gian của chúng ta có mục đích vượt xa chính nó,
mục đích là cuộc sống vĩnh hằng của chúng ta. Cuộc đời này chỉ là giả
tạm, chỉ là giai đoạn chuyển tiếp đến cuộc sống vĩnh hằng, sao cho những
gì có trong ta sẽ trở thành hạt giống cho sự sống đời đời. C. S. Lewis
đã thể hiện một cách đầy thơ mộng như sau:
Không
có ai là người bình thường. Bạn chưa bao giờ nói chuyện với một người
hữu sinh hữu tử. Quốc gia, nền văn hóa, nền văn minh – tất cả đều là
sinh tử; so với cuộc sống của chúng ta, chúng chỉ là phù du. Nhưng những
người mà bạn chơi bời cùng, làm việc cùng, sống cùng, những người bạn
khinh thường và bóc lột – tất cả đều là những nỗi kinh hoàng không bao
giờ mất hay là sự tráng lệ bất tử … Kẻ đứng cạnh Thánh thể, hàng xóm của
bạn là báu vật thiêng liêng nhất dành cho bạn[2].
Cuộc sống là
món quà mà Thượng Đế đã ban cho chúng ta. Chúng ta phải giữ gìn cuộc
sống với một trách nhiệm và sự cẩn trọng tối đa. Vì cuộc sống là quà
tặng của Tạo Hóa cho nên nó mang theo giá trị linh thiêng ngay từ lúc
còn trong bụng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, và mỗi người đều có
quyền có một đời sống được tôn trọng ở mức cao nhất, có thể. Vì vậy mà
chúng ta phải chống lại những tôn giáo không thể hiện phẩm giá của con
người vì chúng đe dọa ngay chính cơ sở của nền văn minh, chúng chống lại
tự nhiên và phá hoại chính bối cảnh, mà trong đó người ta được hưởng
những quyền của mình.
Bất kì qui tắc
đạo đức nào mà cho phép, thí dụ như: giết người, diệt chủng, kể cả diệt
chủng nhiễm sắc thể (chromosonal genocide) và những trò hề kinh tởm của
bác sỹ Kevorkian ở Mĩ, đều là trái với nền văn hóa của đức hạnh. Bất kì
qui định đạo đức nào mà cho phép sự xúc phạm đối với phẩm giá của con
người, như chế độ nô lệ, cầm tù một cách bất công và làm điếm cũng đều
là trái với nền văn hóa của đức hạnh. Ta có thể nói tương tự như thế về
những hệ thống chỉ coi con người là phương tiện cho những mục đích cao
hơn chứ không phải là những con người tự do với phẩm giá vốn có của mình
(Evangelium Vitae, ch. 2).
Nền văn hóa
của đức hạnh đấu tranh nhằm bảo vệ cá nhân con người, kể cả những người
yếu đuối nhất và không có khả năng tự vệ nhất. Đấy là nền văn hóa của sự
bảo bọc, của lòng khoan dung và hòa bình. Nó là câu trả lời “Có” cho
câu hỏi của Kinh Thánh: “Tôi có phải là người bảo vệ của người anh em
của tôi hay không?”. Nền đạo đức này quan tâm trước hết đến khía cạnh
tinh thần, đồng thời còn chú ý đến cả chất lượng sống của con người nữa.
Nó phải đấu tranh nhằm làm nhẹ bớt những nỗi khổ đau của con người và
quan tâm đến việc phân bố một cách rộng rãi nhất, có thể, những nguồn
lực của trái đất.
Văn hóa của đức hạnh và trật tự xã hội
Chỉ có trật tự
xã hội đức hạnh – qui tắc hành xử của nó giữ cho xã hội không rơi vào
hỗn loạn – mới có thể bảo vệ được phẩm giá của đời sống. Trật tự xã hội,
như Russell Kirk nói[3],
lớn hơn là luật pháp, mặc dù luật pháp được sinh ra từ đấy. Trật tự xã
hội còn bao gồm cả phong tục, tập quán và đức tin của xã hội nữa. Muốn
hiểu đúng nó thì chúng ta phải công nhận rằng xã hội dân sự gắn bó một
cách không thể tách rời với tính cách của các cá nhân làm nên xã hội đó.
Nếu xảy ra hiện tượng xuống cấp đạo đức, nghĩa là sự hỗn loạn trong tâm
hồn của các cá nhân nằm trong xã hội đó, thì trật tự xã hội sẽ bị xấu
đi.
Chúng ta có
thể nung nấu trong lòng ước muốn cháy bỏng là phẩm giá của con người
phải được thể hiện một cách rõ ràng trong các điều luật, nhưng như thế
vẫn chưa đủ. Đôi khi tôi sợ rằng những cố gắng chính đáng của chúng ta
nhằm bảo đảm rằng những điều luật khuyến khích nền văn hóa nhằm củng cố
và tăng cường phẩm giá của con người được thông qua, thì sự chú ý của
chúng ta đã bị đi chệch hướng, đã không hướng vào trách nhiệm căn bản
hơn nhằm đảm bảo rằng tự thân nền văn hóa của chúng ta (bao gồm cả các
qui tắc xã hội và những định chế trung gian) - là bối cảnh cho sự hình
thành luật pháp – góp phần củng cố phẩm giá của đời sống của con người.
Thương trường khuyến khích nền hòa bình giữ người với người
Liệu những
người tôn trọng đạo đức có được tự do lựa chọn một trong những hệ thống
kinh tế hiện hữu nhằm thúc đẩy những giá trị của họ hay không? Tôi không
tin là như thế. Thí dụ, ta hãy xem xét xem chủ nghĩa xã hội quan niệm
về con người như thế nào. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mọi người và mọi
tài sản đều là sở hữu của nhà nước, mọi hoạt động kinh tế đều nằm dưới
quyền kiểm soát của tập thể. Điều này đã dẫn tới những hậu quả khủng
khiếp. Thí dụ, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhà nước coi trẻ con như
chúng vốn là trên thực tế: tiêu tốn nguồn lực của xã hội. Ludwig von
Mises từng viết: “Không thể tưởng tượng được cộng đồng xã hội chủ nghĩa
mà lại không có sự điều tiết một cách cưỡng bức sự phát triển dân số …
ngay cả nếu cộng đồng xã hội chủ nghĩa có thể cho người ta “tự do luyến
ái” thì nó cũng không thể nào cho người ta tự do sinh đẻ được[4]”.
Và ông đã nói
đúng: mọi cuộc thí nghiệm xã hội chủ nghĩa đều dẫn đến những vụ cưỡng
bức phá thai và hạn chế số nhân khẩu trong từng gia đình. Theo tôi, ưu
việt lớn nhất của kinh doanh tự do là tính năng động đủ sức đáp ứng cho
sự gia tăng một cách nhanh chóng dân số mà không bị nạn đói đe dọa. Chỉ
có nền kinh tế tự do và sự gia tăng của cải mà nó mang lại mới có thể
làm cho điều này trở thành khả thi mà thôi. Chủ nghĩa xã hội không thể
nào làm được như thế.
Đặc điểm của
thời đại ngày nay, xét về mặt kinh tế, là thu nhập gia tăng, niềm tin
của người sản xuất và tiêu dùng tăng lên, cơ hội kinh doanh tăng, và sự
phát triển đến kinh ngạc của công nghệ. Mặc dù các đảng phái đang tranh
nhau xem ai là người đáng được khen vì những giai đoạn bùng nổ kinh tế
như thế, nhưng thực ra lời khen đang hiện diện khắp nơi. Nguồn gốc của
sự thịnh vượng hiện nay cũng như mãi mãi vẫn là nền kinh tế thị trường.
Thị trường
không chỉ là khái niệm trừu tượng hay hệ thống sản xuất và phân phối.
Thị trường còn là người dân, những người thực hành tiết kiệm và đầu tư,
gánh chịu rủi ro, hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, quan sát thương trường
và thực hiện những giấc mơ của mình. Trong hoạt động kinh tế, họ là
những nhà sản xuất, những người công nhân và người tiêu dùng đang cùng
nhau hợp tác trong một mạng lưới trao đổi quốc tế rộng lớn, trong đó
những người sống cách xa họ nửa vòng trái đất, mà họ chẳng bao giờ gặp,
mua sản phẩm của họ và làm ra những sản phẩm mà họ sử dụng.
Trong một thời
gian dài, các nhà triết học đã tìm cách trả lời cho câu hỏi chủ yếu của
lí thuyết xã hội: xây dựng xã hội như thế nào để có thể có một nền hòa
bình giữa các dân tộc, dù họ là những người khác nhau? Sự thành công của
nền kinh tế thị trường cung cấp cho ta một câu trả lời: họ trao đổi. Từ
những vụ trao đổi đơn giản nhất cho đến những vụ trao đổi phức tạp nhất
trên thương trường người ta đều làm một việc giống nhau: những người tự
nguyện trao đổi với nhau – đây chính là bản chất của thị trường – nghĩa
là họ đang làm công việc nhằm làm cho ai cũng đều được thỏa mãn.
Đấy được gọi
là “Sự kì diệu của thương trường”. Không thể nào tưởng tượng nổi là hàng
tỉ và hàng ngàn tỉ dollar trong quá trình trao đổi lại có thể đi khắp
thế giới và đấy chính là nguồn gốc của sự thịnh vượng của gia đình chúng
ta, vậy mà chúng ta chẳng cần để ý đến hoạt động của hệ thống này.
Không có gì ngạc nhiên là cuối cùng thế giới đã nhận ra điều kì diệu của
hệ thống hợp tác kinh tế toàn cầu. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy ý
tưởng cho rằng nước nghèo sẽ càng nghèo hơn, còn nước giàu sẽ giàu thêm
là sai. Sự thật là trừ những nước còn tiếp tục tiến hành thí nghiệm với
nền kinh tế kế hoạch hóa như Cuba và Bắc Triều Tiên, các nước nghèo đang
giàu lên (thí dụ như Argentina và Trung Quốc) trong khi một số nước
giàu – do việc bành trướng các kế hoạch do trung ương lập ra – mà đã gặp
khó khăn (thí dụ như Đức và Pháp). David Dollar và Aart Krasy, trong
một báo cáo gần đây do Ngân hàng Thế giới xuất bản, đã chứng minh rằng
kinh tế phát triển làm cho thu nhập của người nghèo gia tăng theo cùng
tỉ lệ với tất cả những người khác[5].
Nhưng thương
trường không hoạt động một cách tự động, thị trường không được gắn la
bàn đạo đức để người ta theo, văn hóa thương trường cần phải có điều
kiện tiên quyết về mặt đạo đức, đấy là công nhận một số giá trị nền
tảng. Những người tôn trọng thị trường cũng cần phải tôn trọng tính
thiêng liêng của mỗi con người, tôn trọng sự phân phối một cách rộng rãi
nhất tài sản, tôn trọng cơ hội rộng rãi nhất cho tính sáng tạo trong
hoạt động kinh tế và vị trí cho mỗi người trong nền sản xuất của xã hội.
Điều đó có nghĩa là phải đặc biệt quan tâm tới định chế cực kì quan
trọng là sở hữu tư nhân, tự do kí kết hợp đồng, cạnh tranh và sáng kiến
trong kinh doanh; cũng cần phải hiểu rằng những định chế này không phải
là mục đích tự thân mà là những công cụ được sử dụng nhằm vinh danh đấng
Hóa Công, nhằm theo đuổi đức hạnh và lợi ích chung, nghĩa là sử dụng
những cơ hội rộng rãi và thuận lợi trong khuôn khổ an toàn, tự do và
tinh thần công dân.
Thị trường là
định chế mạnh mẽ nhất mà ta có thể tưởng tượng được nhằm làm cho sự
thịnh vượng và tính hiệu quả trở thành khả thi, nhằm thực hiện việc tính
toán và phối hợp các nguồn lực trong xã hội, và đương nhiên là những
điều kiện tiên quyết này là yếu tố cần thiết trong việc giúp đỡ người
nghèo vì hiệu quả là điều kiện tiên quyết của quá trình phân phối. Nhưng
tính hiệu quả phải được gắn vào trong khuôn khổ xã hội vì nó không chỉ
là lời và lỗ. Xã hội tự do đòi hỏi những nền tảng đạo đức ngay từ nguyên
tắc căn bản của chúng: sự cống hiến, lòng nhân từ, tinh thần trách
nhiệm, hướng tới tương lai và tinh thần hi sinh. Trái ngược với những
khuôn mẫu do các phương tiện thông tin đại chúng dựng lên, người doanh
nhân thành đạt hiểu rõ tất cả những tiêu chuẩn đó. Thành công trên
thương trường xuất phát từ ước muốn phục vụ người khác, cả người tiêu
dùng lẫn cổ đông; lợi nhuận bằng tiền có thể là động cơ hành động, nhưng
tự bản thân, nó không thể là nền tảng của thắng lợi về mặt tài chính.
Thị trường cạnh tranh buộc các doanh nhân lúc nào cũng phải nhìn ra bên
ngoài và sẵn sàng phục vụ, nếu không họ sẽ mất thị phần.
Việc hướng ra
bên ngoài như thế sẽ hình thành nên quan điểm xã hội của những doanh
nhân thành đạt nhất; không phải ngẫu nhiên mà lĩnh vực từ thiện to lớn ở
Mĩ lại do những người giàu có nhất trong xã hội tạo ra bằng cách hiến
tặng tài sản của mình. Việc đóng góp cho quĩ từ thiện cũng gia tăng
trong những giai đoạn kinh tế phát đạt. Đóng góp cho quĩ từ thiện là
khẳng định rằng ích kỉ là không tốt, và cuối cùng thì tất cả chúng ta
đều phải có trách nhiệm đáp ứng những nhu cầu rộng lớn hơn của con người
chứ không chỉ những thứ chúng ta bắt gặp trên thương trường.
Điều đặc biệt
cần nhớ là mỗi người tham gia thị trường đều không phải là do áp lực mà
là hành động một cách tự nguyện. Khi hành động của chúng ta mang lại lợi
ích cho người khác thì mỗi người đều được lợi. Và ngược lại, nếu thị
trường tỏ ra tàn nhẫn với bất kì một người nào đó thì nó cũng sẽ tàn
nhẫn với kẻ coi thường nhu cầu và giá trị của cộng đồng và chỉ theo đuổi
tư lợi một cách mù quáng. Như vậy là, thị trường và lòng vị tha là
những thực thể gắn bó với nhau và có tác dụng tăng cường lẫn nhau, nhưng
không phải là chỉ cho các ông chủ tư bản mà sự liên kết còn mở rộng
phạm ảnh hưởng lên toàn bộ hệ thống lao động và trao đổi nữa.
Văn hóa của thương trường giúp chúng ta làm trọn ý Chúa
Văn hóa của
đức hạnh buộc chúng ta phải ước mong rằng tất cả những người có thiên
hướng hoạt động đều được phép làm như thế. Trong Sáng Thế Kí, Chúa đã
kêu gọi gia đình nhân loại đến với điều có thể được gọi là thiên hướng
kinh doanh – Hãy sinh sản, thêm nhiều, làm cho đầy rẫy đất; hãy làm cho
đất phục tùng (Sáng Thế Kí, 1: 28, Kinh Thánh, Cựu Ước và Tân Ước,
United Bibble Societies, bản in năm 1992 - ND) - một lời răn rõ ràng là
phải làm việc và sáng tạo. Thị trường cung cấp cơ hội tốt nhất cho người
ta sử dụng khả năng sáng tạo trời cho của họ và trở thành người tham
gia vào công việc xã hội một cách trọn vẹn. Những rào cản về mặt pháp lí
và những sáng kiến trái khoáy do chính phủ dựng lên đẩy người dân ra
khỏi nơi làm việc; ngăn cản nhiều người, không cho họ hoàn tiện khả năng
của mình và không thể trở thành một phần sống động của quá trình phân
công lao động của xã hội.
Văn hóa của
thương trường còn có thể củng cố văn hóa của đức hạnh bằng một con đường
khác nữa. Thị trường tự do - sự hợp tác một cách có kỉ luật và tự phát
giữa hàng triệu triệu tác nhân riêng lẻ - tạo ra sự cải thiện điều kiện
vật chất của nhân loại. Nó đã tạo ra nền y khoa hiện đại, cung cấp điện
năng, nước sạch và bây giờ là khả năng tiếp cận thông tin đến những
thành phần dân cư rộng rãi nhất trên thế giới. Văn hóa thương trường
thường được người ta mô tả như là “khả năng sống sót của những người phù hợp nhất”,
trong đó đa số người hoặc là phải làm ra nhiều của cải hoặc là sẽ bị
thương trường loại bỏ và trở thành thân tàn ma dại. Những người theo tư
tưởng tập thể sẽ thuyết phục chúng ta rằng trên thực tế thị trường rất
có hại đối với người nghèo. Nhưng sự thật là, nền kinh tế không bị chính
trị nhúng mũi vào là phương tiện hiệu quả nhất trong việc sử dụng các
nguồn lực và đáp ứng các nhu cầu của con người .
Để minh họa, tôi xin được trích dẫn một vài đoạn trong bài báo cuối cùng[6]
của ông Julian Simon - một người bạn đã quá cố của tôi. Ông viết rằng
mình đã tham dự một đám cưới và quan sát những người tham dự, từ những
giám đốc các doanh nghiệp giàu có đến những người ăn mặc bình thường
nhất. Ông nghĩ rằng cách đây hai trăm năm tổ tiên của mười chín trong số
hai mươi người có mặt tại đó là những kẻ “vắt mũi chỉ đủ bỏ miệng”. Từ
năm 1750 tất cả các chỉ số về điều kiện sống của người dân trong phần
lớn các khu vực trên thế giới đã được cải thiện một cách đáng kể. Thí dụ
như ở Anh, tuổi thọ trung bình lúc đó là khoảng 35, năm 1985 đa số dân
Anh, cả đàn ông lẫn đàn bà, đều sống đến khoảng 70 tuổi.
Simon chỉ ra
rằng thị trường không chỉ mang đến cho chúng ta các công cụ và những món
đồ tinh xảo, rằng sự phồn vinh là biểu tượng của sức mạnh chinh phục
thiên nhiên nhằm mang lại lợi ích cho chúng ta. Nó còn - thông qua những
ngành công nghệ do trời phú cho – cho phép chúng ta cải thiện và kéo
dài cuộc sống nữa. Những khám phá làm người ta sửng sốt trong lĩnh vực y
khoa rõ ràng là nhằm phục vụ con người.
Do sự gia tăng
của những định chế thị trường mà những tiến bộ về mặt vật chất như thế
không chỉ dành cho những dân tộc hiện đang giàu có. Theo tính toán của
nhà kinh tế học Richard Easterlin[7],
trong thập kỉ tới, thu nhập bình quân của các nước gọi là Thế Giới Thứ
Ba sẽ bằng khoảng 80% thu nhập trung bình trên đầu người của Mĩ vào năm
1990. Còn trong xã hội của chúng ta, những người sống dưới mức nghèo khổ
cũng có khẩu phần ăn khá hơn là tầng lớp quí tộc châu Âu thế kỉ XVIII.
Trong suốt 100.000 năm nhân loại chỉ tìm được cách ăn đủ no, còn bây giờ
vấn đế đối với đa số lại là làm sao ăn ít đi[8].
Sự phát triển
của trao đổi tương đối tự do còn làm cho xã hội trở thành vô cùng năng
động. Mô hình trước đây của phải tả - trong đó mỗi tác nhân kinh tế đều
hoặc là người làm thuê, người chủ hay người nghèo – đã không đưa ra được
bức tranh kinh tế chính xác nữa. Cách đây hai mươi năm, chỉ những người
giàu có nhất mới đầu tư vào thị trường chứng khoán, còn hiện nay, một
nửa giới trung lưu tham gia vào lĩnh vực này. Càng ngày càng có nhiều
người có quyền sở hữu hơn. Nghĩa là lợi nhuận của công ty đã được dân
chủ hóa. Hi vọng rằng nền kinh tế đang phát triển nhanh hơn bao giờ hết
sẽ lôi cuốn càng ngày càng đông người tham gia hơn.
Những vấn đề của thị trường
Nhưng thị trường cũng có một số vấn đề.
Thật bất hạnh
và cực kì nguy hiểm là nhiều người lớn tiếng ủng hộ nhất cho thị trường
đã không nhìn thấy nền tảng đức hạnh của tự do. Chúng ta phải gửi tới
những người cho rằng xã hội có thể coi tài khoản ngân hàng là mối bận
tâm chủ yếu thông điệp mạnh mẽ sau đây: trong nền kinh tế thị trường
cũng còn cả những động cơ xấu xa nữa. Mục sư, Tiến sĩ Edmund Opitz nói
như sau: “Thị trường còn cho thấy những người thiếu đạo đức, thể hiện
trong suy nghĩ và hành động của họ - vì theo nghĩa rộng nhất của từ này –
nó vẫn chỉ là thị trường mà thôi[9]”.
Không phải tất cả các phương tiện kiếm tiền đều là đức hạnh cả, còn có
những giá trị lớn hơn là lợi nhuận và sự thành công trên thương trường.
Trong đó giá trị của cuộc sống phải giữ vị trí hàng đầu.
Như tôi đã
nói, sự bùng nổ của các ngành công nghệ trong lĩnh vực y học góp phần
nâng cao phẩm giá của con người. Chúng ta có những loại thuốc làm cho
người ta sống lâu hơn, chúng ta có những biện pháp phẫu thuật có thể
giúp cả những đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ,
chúng ta có những loại thuốc có thể làm dịu những cơn đau không thể nào
chịu đựng nổi. Thị trường làm cho tất cả những tiến bộ như thế trở
thành khả thi, tất cả đều nhằm nâng cao đời sống của con người.
Xin xem xét
một trường hợp: Giáo sư Stephen Hawking. Cách đây ba mươi năm có thể ông
đã phải nằm trong khu điều trị của bệnh việc của nhà nước, nhưng nhờ có
công nghệ tiên tiến mà ông có thể trình bày trí tuệ và hiểu biết của
mình (xin nói thêm là không phải tôi tán thành tất cả những điều ông
nói) cho cử tọa rộng rãi trên toàn thế giới.
Tuy nhiên,
cùng với sự tiến bộ của công nghệ cũng lại xuất hiện những phương tiện
có thể đe dọa chính cuộc sống. Khả năng tạo ra người bằng nhân bản vô
tính là một trường hợp. Việc công nghệ có thể làm được một cái gì không
có nghĩa là chúng ta phải làm cái đó, Acton từng nói: “Tự do mà chúng ta
đang nói tới không phải là tự do muốn làm gì thì làm mà là tự do làm
điều chúng ta nên làm”, cho nên tất cả những cố gắng của chúng ta đều
cần phải được hướng dẫn bởi chữ “nên” huyền bí. Mục đích và tính chính
đáng của công nghệ là nó phục vụ cộng đồng nhân loại. Nhưng nếu nhân bản
vô tính con người đi quá xa ý nghĩa của nó đến mức là nhân loại có thể
không còn là cha mẹ của những đứa con của mình nữa mà họ sẽ tạo ra
chúng, và tất cả những gì chúng ta làm ra hay tạo ra đều là của chúng
ta thì điều đó sẽ hạ thấp phẩm giá đời sống của con người và dẫm đạp lên
quan niệm về tính bất khả xúc phạm nhân quyền và phẩm giá của con
người.
Thị trường
phải dựa trên cơ sở đạo đức của đời sống hay đạo đức của tôn giáo. Và
trong khi những câu hỏi mang tính đạo đức về cuộc sống và sự chết chắc
chắn không phải bao giờ cũng dễ hiểu, nhưng những câu hỏi này không xuất
hiện trong chân không đạo đức vì nhiều người còn phải sống và chết với
những nguồn lực giới hạn. Đức hạnh trong ngành y và công nghệ y học là
những vấn đề khác nhau, và đạo đức phải thâm nhập vào công nghệ. Sự tiến
bộ của công nghệ không chứa đứng trong nó nguyên lí đạo đức nội tại làm
kim chỉ nam cho chính nó. Nếu đúng là nó cải thiện điều kiện sống của
nhân loại thì nó phù hợp với đạo đức của cuộc đời, nó phải có tiêu chuẩn
đạo đức khách quan làm kim chỉ nam.
Chủ nghĩa tiêu thụ
Chủ nghĩa tiêu
thụ - được nhiều người coi là nền văn hóa do thị trường tạo ra – thì
sao? Đây đúng là vấn đề nhức nhối. Nó phát sinh khi mục đích của cuộc
đời là gom góp tài sản và những thú vui vật chất. Theo nghĩa này thì nó
đúng là hình thức mới của lời báng bổ thánh thần xưa cũ. Nhưng xin nhớ
rằng khi nói về chủ nghĩa tiêu thụ và sự sùng bái vật chất là chúng ta
đang nói về những vấn đề của văn hóa chứ không phải những vấn đề của
kinh tế học. Nói cho ngay, trong khi thị trường tạo ra nhiều sự cám dỗ
thì nó cũng cung cấp cho chúng ta những biện pháp giúp khắc phục được
chúng. Nó cung cấp cho chúng ta những phương tiện cụ thể nhằm giúp chúng
ta hướng đến một đời sống vượt lên trên những mối lo lắng tại đây và
lúc này. Thí dụ như cuộc cách mạng thông tin đưa đến cho
chúng ta những cơi hội mới nhằm củng cố đức tin của chúng ta: qua mạng.
Cũng cần nhớ rằng sáng kiến đã giúp chúng ta đọc Kinh thánh nữa: trước
đây chỉ trong nhà thờ mới có những cuốn sách đắt tiền và đa số người
trên 40 hay 50 tuổi không thể nào đọc được. Bây giờ đèn điện cho phép ta
đọc ngay cả khi trời tối. Xin hãy suy nghĩ về sự kiện sau đây: đọc sách
trước khi đi ngủ, một cái thú mà phần lớn ông bà tổ tiên của chúng ta
không được hưởng vì không có điện và không có những cuốn sách hợp túi
tiền.
Quảng cáo
Xin được nói
đôi lời về quảng cáo như một chức năng của thị trường. Quảng cáo có thể
được coi là một công cụ giáo dục, một phương tiện cạnh tranh hợp pháp và
một phương tiện nhằm đáp ứng nhu cầu. Nó đáng được bảo vệ. Nhưng người
sử dụng cũng phải có tinh thần trách nhiệm. Thí dụ, không được khuyến
khích người tiêu dùng coi tha nhân chỉ là những đối tượng. Xu hướng gợi
dục thường được sử dụng trong lĩnh vực quảng cáo là một vấn đề. Nó
khuyến khích người xem, thường là đàn ông, coi người đàn bà ăn mặc hở
hang như là đối tượng - chỉ có thể xác mà không có linh hồn, coi thường
nhân phẩm của người đó – mà không cần biết người phụ nữ ấy là ai. Đây có
thể là nhận thức mới đối với chân lí trong giới quảng cáo! Xếp sang một
bên sự kiện là đã có nhiều vụ kiện tụng về thuốc lá ở Mĩ, tôi cho rằng
có lí do để lo lắng về những chiến dịch quảng cáo nhằm tung ra thị
trường những sản phẩm có hại cho sức khỏe của thanh niên.
Một hai năm
trước nhiều người đã lên tiếng phê phán gay gắt ngành công nghiệp thời
trang dị hợm gọi là: “heroin look” [tạm dịch: Vẻ ngoài ma cô - ND]. Đấy
là sử dụng một cách vô trách nhiệm quảng cáo nhằm lôi kéo người ta vào
những con đường có hại cho chính cuộc sống. Thông tin là một chuyện, còn
lôi kéo người ta vào những việc xấu xa lại là chuyện khác.
Cũng cần phải
nói rằng thị trường không chỉ là mua và bán. Nó còn là thuyết phục về
mặt đạo đức, là sự xúc phạm đối với xã hội, sự tẩy chay và bảo vệ nữa.
Tất cả những điều đó đều có chức năng xã hội. Thí dụ, những người theo
tôn giáo truyền thống tẩy chay những người quảng cáo khi họ tung ra
những hình ảnh bất công về tôn giao là hoàn toàn hợp pháp và đúng đắn.
Nói cho ngay, ta phải có trách nhiệm – và rất cần – sử dụng tiếng nói
của họ trong xã hội tự do. Và những vụ phản đối chống lại những nhà
quảng cáo sử dụng những kĩ thuật thiếu đạo đức đã làm cho ngành công
nghệ thay đổi đột ngột cách tiếp cận của họ, bất ngờ tạo ra cái mà họ
gọi là: “the happy look” [tạm dịch: Vẻ ngoài hạnh phúc]. Chỉ cần áp lực
xã hội là ngành công nghiệp này, trong đa số trường hợp, đã từ bỏ những
kĩ thuật hào nhoáng bề ngoài nhưng vô tích sự và tiếp thu cách tiếp cận
thị trường gần gũi với cuộc đời hơn.
Tổng thống Mĩ,
ông Bill Clinton, là một trong những người phê phán kiểu quấn áo “vẻ
ngoài ma cô”, điều thú vị là lúc đó ông đã đưa ra những nhận xét rất
thích hợp và rất có sức thuyết phục. Nền tảng triết lí của những nhận
xét đó là gì? Cơ sở của nó là triết lí cộng đồng luận, một phong trào
trí thức xuất hiện đúng vào giai đoạn cầm quyền của Clinton.
Phong trào này – thu phục được cả những người tân tự do lẫn tân bảo thủ
- khẳng định rằng hiện nay chúng ta thảo luận quá nhiều về quyền nhưng
lại ít thảo luận về trách nhiệm. Chúng ta nghe nói về “xã hội phải có
trách nhiệm gì với tôi”, nhưng không nghe thấy nói về trách nhiệm của
chúng ta đối với xã hội.
Phong trào này
đã cung cấp cho đất nước biện pháp chỉnh lí hữu ích đúng vào lúc nó
phải suy nghĩ về sự kết hợp kí quặc giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa
cá nhân. Nhưng chúng ta cũng phải thận trọng đối với những giải pháp
của triết lí cộng đồng luận. Nếu quan niệm đạo đức của họ đối với xã hội
thúc giục chúng ta quan tâm hơn nữa đến lợi ích chung và ít đòi hỏi
chính phủ phải làm cho cá nhân chúng ta hơn thì đấy là phong trào tốt.
Nhưng nếu nó chỉ được sử dụng nhằm bao che cho sự can thiệp vào công
việc kinh doanh của chúng ta, can thiệp vào đời sống cộng đồng và đời
sống của gia đình chúng ta thì đấy là một phong trào nguy hiểm. Nhưng
cần ghi nhận rằng đa số những vấn đề mà những người theo phái cộng đồng
luận nêu ra đều là do sự can thiệp quá đáng của chính phủ vào hoạt động
của xã hội vì chính phủ thường có xu hướng chia rẽ chứ không gắn kết con
người lại với nhau.
Kết luận
Mặc dù chủ
nghĩa xã hội - như một hệ thống kinh tế - đã thất bại, chúng ta vẫn
thường nghe thấy người ta chê bai chủ nghĩa tư bản và nền kinh tế thị
trường vì những thất bại của chúng trong việc phục vụ quyền lợi của cộng
đồng nhân loại. Một số thành tích của thị trường bị mang ra phê phán.
Hệ thống lời và lỗ không phải là toàn bộ cộng đồng nhân loại, nhưng một
số người ủng hộ thị trường lại nghĩ như thế. Thiếu ý thức văn hóa về
những giá trị cao hơn là sự thịnh vượng về kinh tế thì văn hóa không thể
phát triển trong dài hạn được. Muốn cho sự thịnh vượng về vật chất có ý
nghĩa nào đó thì những giá trị như tính trung thực, lương thiện và lòng
nhân hậu ngay từ khởi thủy phải xuất phát từ nền tảng đạo đức.
Điều thường bị
người ta đánh giá thấp – vì phải suy nghĩ nghiêm túc thì mới hiểu được
quan hệ nhân quả của nó – đấy là quan hệ trực tiếp giữa thành công trong
lĩnh vực kinh doanh, sự thịnh vượng ngày càng gia tăng và những bước
tiến đầy ấn tượng trong việc nâng cao sức khỏe và hạnh phúc của con
người.
Văn hóa của
thương trường có thể củng cố văn hóa của đức hạnh. Thông điệp này cần
được đem ra thảo luận công khai. Những người theo trường phái tự do cấp
tiến phủ nhận điều này là đang làm những việc không có lợi cho nguyên
tắc tự do kinh tế.
Đồng thời,
chúng ta cũng phải giúp những trợ thủ của chúng ta, những người đang cổ
vũ cho văn hóa của đức hạnh để họ hiểu rằng chúng ta không cỗ vũ cho chủ
nghĩa tư bản chỉ biết đến lợi nhuận, tức là chủ nghĩa tư bản phó mặc
con người cho những lực lượng kinh tế mù quáng và không ăn sâu bén rễ
vào đạo đức nền tảng của cuộc đời, của con người và tài sản. Điều chúng
ta đề nghị là một nền kinh tế tự do, tức là nền kinh tế đặt con người
vào chính trung tâm của những hoạt động kinh tế đơn giản là vì con người
là nguồn gốc của mọi sáng kiến kinh tế. Cho phép tôi được nói một cách
dứt khoát rằng thị trường thấm đẫm những giá trị của tự do và đức hạnh
là người trợ thủ cực kì cần thiết của trật tự xã hội tôn trọng phẩm giá
của con người.
Tôi xin kết thúc ở đây với một vài trích dẫn của Alexis de Tocqueville và Lord Acton.
Tocqueville
viết: “Chế độ chuyên chế có thể cai trị mà không cần đức tin, nhưng tự
do thì không. …. Trong chế độ cộng hòa, tôn giáo còn cần thiết hơn các
chế độ khác. Nếu những liên kết đạo đức không được củng cố khi những mối
liên kết chính trị được buông lỏng ta thì làm sao xã hội không bị hủy
diệt cho được?[10]”.
Còn Lord Acton
thì tuyên bố: “Không có tôn giáo thì không nước nào có thể được tự do.
Tôn giáo tạo ra và củng cố khái niệm về nghĩa vụ. Nếu không dùng nghĩa
vụ thì phải dùng sự sợ hãi để kiềm chế người ta. Mà càng bị kiềm chế
bằng sợ hãi thì càng ít tự do. Tinh thần trách nhiệm càng cao thì càng
nhiều tự do hơn[11]”.
Nguồn: http://www.iea.org.uk/publications/research/capitalism-morality-and-markets
[1] Pope John Paul II, Evangelium Vitae, 25 March 1995, no.39.
[2] C. S. Lewis, The Weight of Glory and Other Addresses, Collier Books/Macmillan
Publishing Co., 1980, p. 19.
[3] Russell Kirk, The Conservative Mind, Regnery Publishing, Inc., Washington, 1995, p. 68.
[4] Ludwig von Mises, Socialism, Liberty Classics, Indianapolis, 1989, p. 175.
[6] Julian Simon, “Simon Said: Good News! There Are Fewer Constraints With Each New Generation”, Washington Post, 22 February 1998, p. CO1
[7] Richard A. Easterlin, Growth Triumphant: The Twenty-first Century in Historical Perspective, The University of Michigan Press, Ann Arbor, MI, 1996.
[8] Simon, op cit.
[9] Edmund
Opitz, Religion and Capitalism: Allies, Not Enemies, Foundation for
Economic Education, Irvington-on-Hudson, NY, 1992, p. 80.
[10] Alexis de Tocqueville, Democracy in America. trans. George Lawrence, ed. J.P.
Mayer, Harper Perennial, New York, 1988, p. 294.
[11] Lord Acton, Essays in Religion, Politics and Morality: Selected Writings of Lord Acton,
ed. J. Rufus Fears, Liberty Classics, Indianapolis, 1988, p. 650.


23:44
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét