Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014
Túi Khôn Của Đặng Tiểu Bình
Trong
vòng 2000 năm về trước, Trung Quốc luôn luôn đứng ở đỉnh cao nhất trong
thiên hạ về cả hai phương diện kỹ thuật và kinh tế, tài chính.
Thế rồi, trong 200 năm gần đây, quốc gia hơn một tỷ người này lại bị xa
sút về mọi mặt và dân tộc phải sống trong cảng nghèo khổ cùng cực .
Vào
cuối thập niên1980, người ta ghi nhận vẫn còn khoảng 40 triệu dân Trung
Quốc phải sống trong hang núi và 1/3 dân cư làng xã chỉ kiếm được
khoảng 35 đôla/năm, bằng một bữa ăn tối trung bình của người dân New
York, Hoa Kỳ. Tuy nhiên dù sao thì đấy cũng chỉ là câu chuyện của dĩ
vãng.
Tình
trạng nghèo khó nói trên, đã chấm dứt từ năm 1979 khi Đặng Tiểu Bình
lên nắm chính quyền và thực hiện cải cách. Từ thời gian này nền kinh tế
của Trung Quốc bắt đầu cất cánh với một tốc độ làm chấn động thế giời.
Cũng từ thời gian này, Trung Quốc đã trở thành một con rồng lớn, đứng
bên cạnh những con rồng nhỏ của Á Châu như Đài Loan, Nam Hàn, Hong Kong,
Singapore.
Nền
kinh tế Trung Hoa bị khựng lại trong hai ba năm giảm phát, nhưng rồi
lấy lại sức, tiếp tục phát triển, và phát triển lẫy lừng từ năm 1992.
Trước khi Trung Quốc thực hiện thành công kỳ tích phát triển đó ai cũng
nghĩ rằng đây là một việc không thể xảy ra đối với một quốc gia có dân
số là 1/5 dân số thế giới, và với một nền kinh tế lạc hậu kém phát triển
như nền kinh tế của Trung Quốc.
Tại
những vùng phát triển mạnh như những tỉnh tại miền duyên hải phía Đông,
chủ nghĩa Mác Xít đã chết hẳn. Tại đây, chính trị đã nhường bước cho
kinh tế, và từ hai ba thế hệ nay, áp lực cải cách đã đè nặng lên vai của
chính quyền trung ương. Trên bàn cờ chính trị thế giới Bắc Kinh đã dấu
nhẹm sự chia rẽ nội bộ, những tham vọng vể đất đai, để làm hòa với thế
giới xung quanh, ngõ hầu dồn mọi nỗ lực vào phát triển kinh tế.
Những thành tích phát triển kinh tế đáng được ghi nhận
Sau
khi nền kinh tế thị trường được khởi động vào đầu thập niên 1980 thì
nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng đều đặn 10%/năm , trừ thời kỳ giảm
phát như đã đề cập đến ở trên. Năm 1992, ngoại thương của Trung Quốc đã
tăng lên 166 tỷ đô la , nghĩa là Trung Quốc đã trở thành một quốc gia
trong những quốc gia có một nền ngoại thương mạnh nhất thế giới. Dự trữ
ngoại tệ dẫn đầu, không thua kém gì Nhật Bản.
Trong
12 năm đầu tiên của cuộc cải cách, Trung Quốc tiếp nhận 20 tỷ đô la đầu
tư nước ngoài và đây là một khỏan đầu tư nước ngoài lớn nhất trong thời
gian đó. Cũng trong năm 1992 Bắc Kinh lại tiếp nhận thêm 47.000 kế
họach đầu tư ngoại quốc mới. Thiên hạ bắt đầu choáng váng vì những con
số đầu tư chóng mặt này. Lạm phát có tăng, nhưng tăng rất chậm, không
bằng một phần trăm ở Ba Lan và ở Liên Xô trong cùng một thời gian
So sánh với nền kinh tế Liên Xô để thấy sự khác biệt
Nhiều
người nghĩ rằng Trung Quốc thế nào cũng phải thua kém Liên Xô vì dù sao
Trung Quốc cũng chỉ là một mẫu hình cóp nhặt của Moscow. Trên thực tế
thì điều trái ngược đã xảy ra. Xảy ra là vì Trung Quốc đã theo đường lối
phát triển của Nam Hàn chứ không theo đường lối phát triển của người
anh em Bon Sê Vích.
Đặng
Tiểu Bình đã không theo Moscow mà, trái lại, đã rập khuôn sự phát triển
của bốn con tiểu long Đông Á là Nam Hàn, Đài Loan, Hong Kong,
Singapore. Ta thử đi sâu vào hai khía cạnh kinh tế và chính trị xem sao.
Thứ nhất : Về phương diện kinh tế
Theo gương các nước NIE (New Industrializing Economies)
Bắc Kinh dành ưu tiên cho những công nghiệp và khu vực mà ở đó vốn đầu
tư của chính phủ rất ít nhưng lợi tức mang lại rất nhiều, chẳng hạn như
trả lại trang trại cho trại chủ và đất đai cầy cấy cho nông dân và cho
họ tự do buôn bán trong nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó là chính
sách chiêu dụ đầu tư nước ngoài với những đạo luật dễ dàng về mọi mặt.
Sau hết là giúp đỡ vốn cho nhữnh ngành công nghiệp nhẹ và trung để họ có
thể phát triển nhanh chóng. Các ngành kỹ nghệ như vải, giầy dép, đồ
chơi với giá rẻ, tập trung đề xuất cảng nhằm kích động sự tiêu thụ toàn
cầu, đã mang lại cho nền ngoại thương Trung Quốc những khỏan lợi tức
chưa từng thấy.
So
với Liên Xô có sự khác biệt nào? Liên Xô không mấy chú trọng đến ngoại
thương và công nghiệp nhẹ, mà chỉ chú trọng đến công nghiệp nặng. Lúc
Gorbachev lên cầm quyền thì chỉ hô hào phát triển công nghiệp nặng và kỹ
thuật cao. Tất cả những thứ này đều là những thứ đòi hỏi số vốn đầu tư
lớn. Đây là những lời căn dặn của Marx mà Gorbachev vẫn chưa quên được
và cũng không có sáng kiến để làm khác.
Kết
quả là chiến lược phát triển của Liên Xô đã thất bại. Các nước tân dân
chủ như Ba Lan, mà theo sát chân Liên Xô cũng thất bại. Gorbachev đã lầm
lẫn và một số nước Đông Âu mới dân chủ hóa cũng gặp phải cảnh ngộ khó
khăn sơ khởi đó.
Sự
khác biệt là ở chỗ : công cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình là chiều
theo ý muốn và nhu cầu của người dân, khởi phát từ lòng dân, trong khi
cuộc cải cách của Gorbachev lại là những lệnh khởi phát từ trên xuống,
từ những sai lầm của lãnh đạo mà người dân chưa bao giờ mong muốn và
nhìn nhận.
Một
việc tương tự cũng đã xảy ra tại Trung Quốc từ thời Mao Trạch Đông
trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Một đằng có thể ví như một chiếc máy bay
đang cất cánh, còn đằng kia là chiếc tầu ngầm đang trên đà lặn xuống
biển sâu.
Chiến
lược phát triển của Đặng Tiểu Bình đã cung cấp ngay hàng triệu công ăn
việc làm cho một đám dân chúng thất nghiệp hay bán thất nghiệp. Họ là
những người cần có công ăn việc làm nhất, và đợt đầu tư sơ khởi này đã
tạo ra một sức mua lớn mạnh như chưa bao giớ thấy trong nền kinh tế của
đất nước. Cứ thế, sức mua này lớn dần và lan tràn sang các lãnh vực khác
của nền kinh tế quốc gia.
Đợt
cải cách nông nghiệp của Đặng Tiểu Bình đã nâng cao lợi tức của nông
đân lên gấp đôi trong một thời gian rất ngắn và đã được sự ủng hộ của
800 triệu nhân dân Trung Quốc. Tiếp theo Đặng lại ra tay giúp đỡ và tạo
điều kiện cho đám doanh nhân cỡ nhỏ và trung bình “cất cánh”. Trong nhóm
này, lẽ cố nhiên lả có kẻ thắng người bại, nhưng những người thắng đã
trở thành những doanh nhân năng động và ưu tú nhất của đất nước. Đặng
cũng đồng thời gỡ bỏ những ngăn cấm lỗi thời trong hệ thống tài chính,
gửi sinh viên ra nước ngoài học hỏi, và bãi bỏ lệnh ngăn sông cấm chợ ở
trong nước.
Với
tất cả những hành động hợp thời hợp thế nói trên Đặng đã thu phục được
dưới trướng những nhóm người ưu tú đông đảo nhất ủng hộ. Cho nên không
lạ gì, sau biến cố Thiên An Môn, khi bị thế giới cấm vận, Đặng vẫn đứng
vững vì những nhóm người ủng hộ này vẫn còn đó. Ngay cả những nhóm trong
quân đội cũng vẫn kiên trì đứng sau hỗ trợ Đặng mặc dầu các ngân khỏan
chi tiêu cho sự lớn mạnh của quân đội đã bị Đặng cắt giảm rất nhiều.
Trái
lại, bên Liên Xô trong cùng một thời gian, cuộc cải cách của Gorbachev
theo lời răn dạy của Lenin vẫn không làm cho nền kinh tế nhúc nhích.
Nông dân nói chung, vẫn chểnh mảng và lơ đãng như dưới thời Stalin. Công
nhân càng ngày càng bất mãn vì thấy đồng lương của họ bi giảm sụt.
Doanh nhân thì sống “ngất ngư” vì lợi tức kiếm được, không những rất khó
khăn mà còn dần dần nhỏ hẹp lại. Quân đội không tin tưởng vì thấy vũ
khí của họ không được hiện đại hóa nhanh bằng vũ khí của phương Tây. Có
thể nói Gorbachev đã thất bại, và Liên Xô đã sụp đổ vì sự thất bại đó.
Trung
Quốc đã phát triển nhanh chóng và lẫy lừng vì Đặng Tiểu Bình đã khôn
ngoan nhận ra rằng muốn thành công thì phải đi theo mấy con “tiểu long Á
Châu” vì Trung Quốc chính là một phần của vùng đất Á Châu đang trên đà
phát triển này.
Đặng
đã nghiên cứu và đã thấu triệt những bài học kinh tế chính yếu mà các
nước đàn em xung quanh đã mang lại. Đặng đã hiểu được vai trò của doanh
nhân trong thời hiện đại, hiểu thế nào là thị trường tài chính, thế nào
là kỹ thuật cao, thế nào là những tương tác mậu dịch mới trên địa bàn
thế giới. Đặng đã học được những thứ đó từ hai vùng đất tư bản có tên là
Hong Kong và Đài Loan.
Trên
đà phát triển của chúng, bốn con tiểu long Châu Á đã giúp Trung Quốc
phát triển theo bằng cách mang vào Trung Quốc những xí nghiệp khao khát
đất đai và nhân công rẻ. Đi tìm nhân công rẻ, họ đồng thời cũng mang vào
Trung Quốc những tương quan mậu dịch quốc tế và những kỹ thuật cạnh
tranh hiện đại cho Trung Quốc.
Thứ hai : Về phương diện chính trị
Về
phương diện chính trị, nguyên tắc “một quốc gia hai chế độ” cũng đã
đóng góp vào tiến trình phát triển rất nhiều. Nguyên tắc này là một
chính sách ngoại giao khôn khéo của Đặng Tiểu Bình, đưa ra sau biến cố
Thiên An Môn. Sau biến cố này Trung Quốc đã bị thế giới cô lập và nền
kinh tế củ Trung Quốc đã khựng lại không phát triển theo những con số
mong muốn.
Trước
viễn tượng nguy hiểm đó, Đặng sửa sai bằng cách thay đổi chính sách
ngoại giao để vừa lấy lại sự tín nhiệm của thế giới vừa lợi dụng được sự
hợp tác của những vùng đất có một chế độ chính trị khác biệt như Hong
Kong, Macao và Đài Loan. Những vùng đất này đã trở thành trung gian hợp
tác giữa Trung Quốc và thế giới bên ngoài, giúp cho nền kinh tế của
Trung Quốc nhanh chóng hiện đại hóa và phát triển đều đặn không đứt
quãng.
Bằng
nguyên tắc “một quốc gia hai chế độ” Đặng Tiểu Bình đề nghị : tất cà
những vùng mới thu hồi độc lập như Hong Kong (1997) Macao (1999) và Đài
Loan, tuy đều thuộc chủ quyền của Bắc Kinh, nhưng vẫn có thể giữ lại chế
độ chính trị tư bản mà họ muốn thêm 50 năm nữa. Riêng Đài Loan còn có
thể giữ lại cả quân đội của họ. Chỉ có các vấn đề đối ngoại và an ninh
là phải do Bắc Kinh phụ trách.
Khi
nguyên tắc này được mang ra áp dụng thì cả ba khối dân chúng tại Hong
Kong, Macao và Đài Loan đều đồng thanh phản đối vì sợ bị Bắc Kinh đánh
lừa. Mặc cảm sợ bị đánh lừa nặng nhất ở Hong Kong vì trong thời gian
Thiên An Môn, Hong Kong đã hỗ trợ tài chính cho các phần tử ly khai tại
lục địa, giúp họ ra vào Trung Quốc một cách bí mật, tuyên truyền yềm trợ
hành động của họ và, đặc biệt hơn cả, nhóm của lãnh tụ ly khai Martin
Lee còn công khai kêu gọi lật đổ chính quyền Bắc Kinh.
Tuy
nhiên, trước những hành động nói trên, phản ứng của Bắc Kinh rất từ
tốn. Họ chỉ ưa ra những bản văn “phản đối” rất hòa bình nhắc lại những
cam kết mà hai bên đã thỏa thuận. Bên cạnh những phản đối viết này,
không hề có một sự đe dọa trừng phạt nào, hoặc một sự trả đũa nào khác.
Thời
gian trôi đi và dưới con mắt quan sát vô tư của thế gới bên ngoài thì
Bắc Kinh đã giữ đúng lời hứa. Sự hỗ tương tín nhiệm tăng dần và đã đưa
đến việc cả hai bên cùng hỗ trợ tài chính cho công ty phát triển giao
thông PADS (Port and Airport Develop-ment Scheme) xây dựng một
chiếc cầu dài nhất và tốn kém nhất thế giới nối liền Hong Kong với lục
địa. Một phi trường mới cũng được công ty PADS xây dựng trong cùng một
thời gian.
Giao
thông liên lạc giữa Hong Kong và lục địa tở nên xầm uất và phồn thịnh.
Tiền đầu tư nước ngoài chảy vào Trung Hoa như thác đổ và nền kinh tế cùa
xứ này phát triển nhanh chóng và lẫy lừng như chưa bao giờ xảy ra trong
lịch sử.
Công
việc Đài Loan và Bắc Kinh xích lại gần nhau thì gặp nhiều khó khăn hơn.
Trước thập niên 1970 lãnh đạo của hai bên nhìn nhau như những tội phạm
chiến tranh cần tiêu diệt. Giao thông và giao thương qua eo biển Đài
Loan bị tuyệt đối cấm chỉ. Pháo binh lục địa thi nhau nã đạn thường
xuyên vào hai hòn đảo nhỏ che chở Đài Loan là Kim Môn và Mã Tổ.
Khi
Đài Loan bắt đầu đợt cải cách chính trị đầu tiên thì Bắc Kinh đưa ra đề
nghị “một quốc gia hai chế độ”. Taipei từ chối ngay lập tức, không thắc
mắc và cũng không suy nghĩ. Nhưng rồi qua thời gian sự căng thẳng giữa
đôi bên gỉam dần cường độ. Đài Loan không thể thờ ơ mãi với những cơ hội
làm ăn “ngàn năm một thuở” với Bắc Kinh. Những cuộc đi lại giữa đôi bên
qua ngả Hong Kong tăng dần khi pháo binh Trung Quốc thôi nhả đạn sang
đảo quốc.
Năm
1989 Giám Đốc Ngân Hàng Trung Ương Đài Loan đến Bắc Kinh họp hội nghị
các ngân hàng phát triển Á Châu. Năm 1992 tỷ số doanh thương giữa Đài
Loan và lục địa đạt tới những mức “nóng” nhất thế giới: ngoại thương lên
tới 7 tỷ Mỹ Kim, đầu tư của Đài Loan vào lục địa lên tới con số 8.4 tỷ,
với 7.500 kế hoạch.
Những
công nghiệp không cần kỹ thuật cao như giầy dép, quần áo, đồ chơi trẻ
em thi nhau vượt eo biển vảo lục địa. Giữa các năm 1987-1992, 3 triệu du
khách Đài Loan mang tiền và kiến thức thời đại vào phổ biến trên đất
nước Trung Hoa. Đây là con số kỷ lục như chưa bao giờ thấy trong quan hệ
giao thông và giao thương giữa hai bên.
Tiềm
lực phát triển của Đài Loan mang vào Trung Quốc bắt đầu lớn hơn tiềm
lực của Hong Kong. Sự tiến bộ của Đài Loan từ một chế độ gần như toàn
trị sang một chế độ độc tài, rồi sang một chế độ chuyên chính lỏng lẻo,
rồi sang một chế độ dân chủ đã hấp dẫn dân chúng lục địa, và họ gọi đó
là “diễn biến hòa bình”.
Ngọn
lửa doanh thương và đầu tư đến từ Hong Kong và Đài Loan hiện nay đang
lan dần trên khắp lục địa Trung Hoa và không ai dập tắt được. Chất cháy
đổ vào ngọn lửa đó là giá đất đai và nhân công rẻ, cộng với tay nghề cao
và sự chăm chỉ của giai cấp công nhân trẻ tuổi. Tiền đầu tư, kỹ thuật
tiên tiến và những kiến thức về thị trường hiện đại của Đài Loan và Hong
Kong là dưỡng khí làm cháy ngọn lửa rừng khó tắt đó.
Sự
hợp tác giữa Trung Quốc và một số nước Á Châu-Thái Bình Dương đã dẫn
nhân loại sang một con đường mới, nhưng không phải là con đường phát
triển cộng sản. Đặng Tiểu Bình đã chọn thống nhất đất nước bằng một cái
đầu nguội, nhẫn nại và thông minh. Thay vì dùng kinh tế Mác Xít, Đặng đã
dùng thời gian để chuyển hóa chế độ, đã lấy lại tín nhiệm của thế giới
khi thấy sự tín nhiệm đó là cần thiết.
Tập
Cận Bình khi mới “lên ngôi” đã trông thấy ở Đặng một “vĩ nhân” của thời
đại và muốn bắt chước đi theo con đường khôn ngoan đó. Lộ trình còn lại
vào lúc này là làm sao dẫn dắt được dân tộc Trung Hoa tiến sang chế độ
“dân chủ” một cách hòa bình. Làm sao giải quyết được một cách êm đẹp
ngọn lửa dân chủ hiện đang bốc cháy ở Hong Kong và đừng để Hong Kong
biến thành một Thiên An Môn thứ hai của Trung Quốc.
Nguyễn Cao Quyền


03:23
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét