Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014
Mẫu người quân tử - con người toàn thiện trong Luận Ngữ của Khổng Tử
Giải thoát bản thân khỏi sự ràng
buộc của những dục vọng, từng bước nâng cao tri thức của mình về vạn
vật (cách vật), về thế giới con người (biết người, yêu thương con người)
là con đường hoàn thiện chân chính của Quân tử.
Bốn tác phẩm kinh điển nổi tiếng của Nho
giáo mà bất kỳ người nào nghiên cứu học thuyết này cũng đều biết đến là
Đại học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, được nhà triết học nổi tiếng
đời Tống là Chu Hy (1130 - 1200) sắp xếp, kế thừa cách chú giải của các
nhà tư tưởng Tống Nho đi trước, cũng như chú giải của chính ông thành bộ
sách có tên chung là Tứ thư tập chú, trong đó Luận ngữ được xem là một
trong những tác phẩm khởi đầu quan trọng cho một nền Nho học Trung Hoa
do Khổng Tử sáng lập. Đây là cuốn sách đề cập đến các vấn đề của triết
học, chính trị, tôn giáo, đạo đức... Có thể nói, những tinh tuý được rút
ra từ những vấn đề đó nhằm mục đích xây dựng con người toàn thiện, toàn
mỹ cho một xã hội phong kiến lý tưởng theo học thuyết của Không Tử.
Trong bài viết này, từ bình diện triết học, chúng tôi muốn làm rõ mẫu
người quân tử - con người toàn thiện trong Luận ngữ của Khổng Tử.
Để làm rõ mẫu người quân tử - con người
toàn thiện trong học thuyết Khổng Tử, chúng ta cần phải lý giải tại sao
ông lại chọn đối tượng quan tâm trong học thuyết của mình là con người
và các quan hệ của con người. Song, trong khuôn khổ của một bài viết,
chúng tôi không thể thực hiện được điều đó mà chỉ muốn nói rằng, bất kỳ
ai khi nghiên cứu học thuyết của Khổng Tử cũng đều thống nhất ở điểm cho
rằng, đứng trước một xã hội đang phải hứng chịu sự suy thoái về đạo đức
của con người (cái mà Trời phú cho con người khi con người xuất hiện và
được đặt nó vào vị trí trung tâm của Vũ trụ), xác định đối tượng quan
tâm của mình ở trần thế, Khổng Tử muốn làm cho con người thấy được chính
bản thân mình, thấy được sự băng hoại về bản tính đạo đức (tính bản
thiện) vốn giống nhau khi nó mới được sinh ra nhưng cũng ngay lập tức bị
phân hoá, đồng thời dạy cho con người biết cái căn bản nhất của nó là
Nhân tính. Chính vì vậy mà ông không đề cập, hay nói đúng hơn là cố ý
tránh đề cập đến những vẫn đề sống - chết, mà chỉ chú ý đến bậc trí giả,
đó là người biết "chuyên vào việc nghĩa để giúp dân, kính trọng quỷ
thần nhưng tránh xa" (Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi -
Luận ngữ, VI, 20).
Khổng Tử cũng không thích nói về những
điều kỳ diệu, về sự hiện diện của thần thánh. Điều này chúng ta có thể
biết được qua cuộc đối thoại giữa Quý Lộ và Khổng Tử. Quý Lộ hỏi về việc
thờ quỷ thần, Khổng Tử nói rằng: "Thờ người còn chưa nổi, làm sao thờ
được ma?". Thưa: Dám hỏi về sự chết. Khổng Tử nói: "Sống còn chưa biết
rõ, làm sao biết được sự chết?" (Quý Lộ vấn sự quỷ thần. Tử viết: "Vị
năng sự nhân, yên năng sự quỷ”? Viết: "Cảm vẫn tử”.Viết: " Vị tri sinh,
yên tri tử”? Luận ngữ, XI, 11). Tuy nhiên, để giữ gìn trật tự xã hội nói
riêng, Vũ trụ nói chung, Khổng Tử không phủ nhận sự tồn tại của quỷ
thần. ông kêu gọi phải kính tổ tiên và biết trọng quỷ thần: "Tế tổ tiên
coi như tổ tiên đang có mặt, tế thần coi như thần đang có mặt" (Tế như
tại, tế thần như thần tại - Luận ngữ, III, 12).
Qua đó, chúng ta thấy, Khổng Tử hạn chế
nhiệm vụ của mình ở việc phục vụ mọi người, quan tâm đến công việc quốc
gia, nhưng ông vẫn cho rằng, cuộc sống của mọi người, của dân tộc lại
phụ thuộc vào đường lối lãnh đạo đúng đắn hay sai lầm của thiên tử và hệ
thống quan lại. Đường lối đó là Đạo Khác với quan niệm của Lão Tử -
"Đạo khả đạo, phi thường đạo", đạo mà Khổng Tử đưa ra là đạo của thế
giới hiện tượng, là cái cần được nắm bắt để áp dụng vào việc trị nước.
Đạo đó có nhiệm vụ uốn nắn những người có nhận thức sai lầm, "cong vậy"
thành ngay thẳng. Khi con người trở nên chân thành, ngay thẳng thì mọi
quan hệ đều trở nên tất đẹp, bởi vì bản thân con người là linh hồn, là
trung tâm của vạn vật trong trời đất.
Vậy ai là người có thể thực hiện sứ mệnh
nói trên trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa ? Trước hết, chúng ta đọc
được trong Đạo đức kinh của Lão Tử: "Đạo lớn... nuôi dưỡng vạn vật mà
không làm chủ vạn vật. Nó vĩnh viễn là "không", vô vi, cho nên có thể
bảo nó là ẩn vi (vô hình), muôn vật quy về nó mà nó không làm chủ, cho
nên có thể bảo nó là lớn. Vì cho tới cùng, nó không tự nhận nó là lớn
cho nên mới hoàn thành được cái vĩ đại của nó" . Người nắm được đạo cao
và có đức cả là Thánh nhân (Đạo nhân). Đó là người "biết hoà thì gọi là
bất biến (thường), biết bất biến thì gọi là sáng". Còn Khổng Tử thì lại
thấy mẫu người (Đức cả) đó là người nắm được đạo Trung, họ thật hiếm
trong dân chúng thời bấy giờ: "Trung dung quả là một đức tính, rất mực
tất đẹp? Đã lâu dân chúng không theo nổi" (Trung dung chi đức dã, kỳ chí
dĩ hồ! Dân tiễn cữu hĩ - Luận ngữ, VI, 27).
Trong Kinh Dịch đã có khái niệm con
người toàn thiện hay thiện nhân. Đó là người biết theo đạo trung chính,
biết giá trị của hạng cao sĩ. Thế nhưng, Dịch không bỏ qua mẫu người đối
lập với con người hoàn thiện như hai thế lực tự nhiên âm và dương. Đó
là sự đối lập giữa quân tử và tiểu nhân. Nguyễn Hiến Lê đã nhận định một
cách đúng đắn rằng, "Dịch muốn đào tạo hạng người quân tử, khuyến khích
tiểu nhân cải tà quy chính (quẻ Bác): "Dịch vị quân tử mưu” là nghĩa
vậy, cho nên tôi cho đạo Dịch là ‘đạo của người quân tử". Nếu ngay từ
đầu, tiểu nhân và quân tử là hai hạng người đối lập nhau và sự đối lập
đó là hoàn toàn mang tính tự nhiên thì làm thế nào để tiểu nhân cải tà
quy chính được? Khổng Tử là người đã khắc phục vấn đề đó bằng cách vượt
khỏi lập luận của Dịch về sự hình thành hai thế lực đối lập. Nhìn thẳng
vào cuộc sống xã hội hiện thực, ông đã khẳng định rằng, "Bản tính người
ta gần giống nhau, thói quen khiến xa nhau (Tính tương cận dã, tập tương
viễn dã - Luận ngữ, XII, 2). Nghĩa là, nếu "giáo đục" con người, có thể
uốn nắn đạo đức của họ, tẩy đi những tham dục nảy sinh trong cuộc sống
của họ, đưa họ về với bản tính (thiện) ban đầu và nâng cao phẩm hạnh của
họ bằng "ngũ thường”. Tuy nhiên, với kẻ tiểu nhân thì sự "giáo dục" đó
chỉ có hiệu quả khi phát hiện kịp thời sự suy thoái đạo đức "bởi thói
quen" của nó và khi sự suy thoái đó chưa đến mức tột cùng của sự hèn hạ.
Khổng Tử nói rằng: "Chỉ có hạng thượng trí và hạng trí ngu là không
thay đổi (tính tình)" (Duy thượng trí dữ hạ trí ngu bất di Luận ngữ,
XVII, 3). Hạng thượng trí ở đây chi thánh nhân, đó là những người nắm
được quy luật của trời đất (Cửu trù) để làm ra các phép tắc dạy người.
Bậc thấp hơn là quân tử, tức là người giữ đúng phép tắc trong hành xử
của mình. Bậc cuối cùng trong sự phân hạng người là tiểu nhân, tức là
những kẻ mà trong cuộc sống, bất chấp mọi giá trị đạo đức, sẵn sàng làm
bất cử điều gì, miễn là có lợi cho họ.
Mọi điều hay lẽ phải trong phép ứng xử
đạo đức đã được các thánh nhân đời xưa vạch ra. Khổng Tử chỉ là người
thuật lại và mong muốn học thuyết của mình có người thực hiện. Người đó
chính là bậc quân tử, hay còn gọi là con người toàn thiện. Chữ "quân"
trong cụm từ “quân tử” thường dùng để chỉ người đàn ông đạo đức, người
toàn thiện hoặc "siêu nhân". Ngoài ra, chữ "quân" đó còn đùng để chỉ các
bậc quân vương. Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “Quân tử động khẩu, tiểu
nhân động thủ”, tức là: "Quân tử dùng lời, tiểu nhân dùng tay".
Mâu thuẫn giữa hai mặt trái ngược nhau
của con người đã có từ lâu. Song, đối với Khổng Tử, nó trở nên cực kỳ
quan trọng và cấp bách. Lúc nào ông cũng dành sự quan tâm của mình xung
quanh vấn đề con người, xem sự xa rời bản tính (Trời sinh) ban đầu như
là nguyên nhân dẫn đến sự đảo lộn trật tự thế giới và đó chính là sự xa
rời Đạo. Giữ mình theo Đạo, người quân tử bao giờ cũng tỏ ra thư thái
như đạt được sự giải thoát khỏi những ràng buộc, cám dỗ của đời thường -
cái vốn làm mọi người xa nhau. Khổng Tử nói: "Người quân tử thư thái mà
không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không thư thái " (Quân tử
thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái - Luận ngữ, XIII, 26).
Tuy nhiên, sự thư thái đó chỉ là tương đối, bởi người quân tử bao giờ
cũng thấy rõ trách nhiệm của mình trước xã hội, giống như Bồ Tát trong
đạo Phật. Khi “làm sạch" mình, làm trong sạch từ bên trong, người quân
tử đồng thời làm sạch cái không gian quanh mình, làm cho môi trường sống
khỏi bị ô nhiễm bởi những thói đời hèn hạ, giải thoát cho mình đồng
thời với giải thoát cho những người khác. Chính vì vậy, Khổng Tử khẳng
định, kẻ tiểu nhân không tự giải phóng cho mình (hạ trí ngu bất di). Ông
nói: “Đức của người quân tử như gió, đức của kẻ tiểu nhân như cỏ, gió
thổi thì cỏ rạp xuống" (Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo,
thảo thượng chi phong tất yển - Luận ngữ, XII, 18).
Người quân tử có sức mạnh biến cải nhân
dân đến chỗ tất hơn. Sức mạnh đó không chỉ là lời nói, mà còn là sức
mạnh bên trong, là đạo đức. Người quân tử lấy đạo đức làm động cơ thúc
đẩy nhân dân hành thiện. Khổng Tử nói: “Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân,
dùng hình pháp để giải trật tự, dân tránh khỏi tội nhưng chưa biết hổ
thẹn. Dùng đức để dẫn dắt, dùng lễ để giữ trật tự, dân biết hổ thẹn mà
tiến tới chỗ tất lành" (Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi
vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách - Luận ngữ, II, 3).
Ngôn ngữ là biểu hiện của tư duy khi sự
biểu hiện đó không phù hợp thì tư duy của người phát ngôn có thể không
lành mạnh cũng có khi việc phát ngôn quá chất phác, không đủ sức thuyết
phục người nghe cũng bất lợi. Vì vậy, khi nêu ra đặc trưng của người
quân tử, Khổng Tử đã xem xét mối tương quan giữa tính chất phác (Trời
cho) với học vấn: "Chất phác thắng văn vẻ thì quê mùa, văn vẻ thắng chất
phác thì cứng nhắc. Văn vẻ và chất phác đều nhau, mới nên quân tử"
(Chất thắng văn tắc đã, văn thắng chất tắc sử, văn chất bân bân nhiên
hậu quân tử - Luận ngữ, VI, 16).
Một trong những đặc điểm nổi bật của con
người toàn thiện là mối quan hệ của nó với cộng đồng xã hội. Khổng Tử
nói: "Quân tử thân với khắp mọi người mà không tư vị, kẻ tiểu nhân tư vị
mà không thân với khắp mọi người"(Quân tử chu nhi bất tị, tiểu nhân tị
nhi bất chu - Luận ngữ, II, 14). Câu này được địch theo nhiều cách khác
nhau. Nếu xét trên bình diện triết học thì câu này mang ý nghĩa sâu sắc
về cấu trúc. Chữ chu ở đây chỉ sự chu tất, chu toàn, có thể hiểu là tính
cách của con người toàn thiện và chỉ có con người toàn thiện mới có khả
năng thể hiện được chủ ý của Vũ trụ. Vì vậy, theo chúng tôi, dịch chữ
chu là thân khắp với mọi người không thể hiện đủ nghĩa của từ.
Con người chu toàn có thể được xem như
là tấm gương, là chủ thể của mọi thiện chân, cho nên ai cũng kính nể.
Khi được tất cả kính nể thì trong quan hệ không thể thiên lệch với bất
kỳ người nào, nhóm nào, bè đảng nào. Tiểu nhân thì hoàn toàn ngược lại.
Vì không có tính chu toàn, nên kẻ tiểu nhân chỉ có thể cấu kết với những
người đồng tâm, đồng ý với mình, chính vì thế mà xã hội để bị phân chia
thành phe nhóm khác nhau, đấu tranh cho quyền lợi của phe nhóm mình và
chèn ép các nhóm khác, thậm chí đấy tới mức thù hằn nhau. Như vậy, xét
về mặt cấu trúc hệ thống, tiểu nhân có thể được coi là những bộ phận
trong một chỉnh thể, luôn nằm trong sự thống nhất biện chứng và bản thân
nó không thể đại diện cho một chỉnh thể xác định, tức là luôn bị ràng
buộc bởi các mối quan hệ bắt buộc, không tự do, nó được xem như Ià công
cụ để phục vụ cho những mục đích nào đó. Ngược lại, "quân tử không thể
là công cự (quân tử bất khí - Luận ngữ, II, 12).
Bảo tồn được tính thiện cao cả ban đầu
là điều kiện để người quân tử trở nên phổ biến. Đã là phổ biến thì người
quân tử có thể chi phối cuộc sống một cách toàn vẹn. Mặt khác, chính vì
giữ được tính thiện cao cả đó mà người quân tử thể hiện mình như là
người hoàn thiện với đầy đủ phẩm cách tất đẹp trong việc thi hành đạo
nhân: "Nết hiếu và nết để có phải là gốc của việc thi hành đạo nhân đó
chăng"? (Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư - Luận ngữ, 1,2).
Từ việc đề cao đức hiếu, đễ, Khổng Tử đi
đến thuyết chính danh. Đối với câu hỏi cái gì cần cho đường lối trị
quốc đúng đắn, Khổng Tử trả lời: "Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha,
con ra con" (Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Luận ngữ, XII, 11).
Câu trả lời thật là đơn giản, song lại hàm chứa một nội đung khá đầy đủ
về chính danh. Khổng Tử nhận thấy, trong một xã hội thịnh trị, có những
đẳng cấp xã hội, thì bổn phận của mỗi con người phải được phân định một
cách rạch ròi, trình độ tri thức của họ cũng phải tương ứng với công
việc mà họ đảm nhận: "Hiểu biết là hiểu biết, không hiểu nhận là không
hiểu. Thế cũng là đã hiểu rồi vậy" ( Tri chi vi tri chi,bất tri vi bất
tri. Thị tri dã - Luận ngữ, II,17). Đặc biệt, đối với bậc quân tử lại
càng phải thận trọng trong cuộc sống. Điều gì chưa nắm chắc, chưa rõ thì
không nên cả quyết một cách vội vàng: "Người quân tử đã nêu được tên
gọi (danh chính) ắt nói được ra lời, đã nói được ra lời ắt làm được. Đối
với lời nói ra, người quân tử không bao giờ cẩu thả vậy" (Quân tử danh
chi tất khả ngôn dã, ngôn chi tất khả hành dã. Quân tử ư kỳ ngôn vô sở
cầu nhi dĩ hĩ - Luận ngữ, XIII, 3).
Theo Không Tử, con người toàn thiện là
người có phẩm chất đạo đức phù hợp với ngũ thường, trong đó nhân tính
được đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy, người quân tử "Có khi còn quyên
sinh để giữ trọng đạo nhân" (Hữu sát thân dĩ thành nhân - Luận ngữ, XV,
8), hoặc "Người quân tử lấy đạo nghĩa thành làm căn bản, dùng lễ để thi
hành, biểu lộ bằng đức khiên tốn, hoàn thành nhờ chữ tín" (Quân tử nghĩa
dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi - Luận
ngữ, XV, 17).
Vậy Lễ là gì mà có thể làm cho thế giới
này trở nên trật tự hài hoà? Lễ trước hết là cái làm cho vạn vật trong
thế giới này có được vị thế phù hợp. Do vậy, con người là một trong vạn
vật đó cũng phải tuân theo lễ, phải biết " Khắc kỷ phục lễ", bởi "Người
mà không có lòng nhân, dùng lễ sao được? Người mà không có lòng nhân
dùng nhạc sao được?" (Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân,
như nhạc hà? Luận ngữ, III, 3), hoặc "Cung kính mà thiếu lễ thì khó
nhọc, cẩn thận mà thiếu lễ thì nhút nhát, cương dũng mà thiếu lễ thì
loạn, thẳng thắn mà thiếu lễ thì nóng gắt" (Cung nhi vô lễ tắc lao, thận
nhi vô lễ tắc tỉ. Dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giáo -
Luận ngữ, VIII, 2). Như vậy, lễ là cái đóng vai trò điều chỉnh hành vi
con người, làm cho con người ứng xử với nhau tất hơn trên cơ sở lấy
"Thứ" làm trọng. Nhờ có "thứ" mà con người biết "Điều gì mình không muốn
[người khác làm cho mình], chớ áp dụng cho người" (Kỷ sở bất dục, vật
thi ư nhân - Luận ngữ, XV, 23).
Như vậy, quân tử chưa phải là người lý
tưởng (mặc dù các nhà tư tưởng Tống Nho đã đặt nó ngang hàng với thánh
nhân). Bản thân người quân tử cũng tự nhận thấy mình chưa phải là người
hoàn thiện, nên họ luôn tự xác định phải thường xuyên hoàn thiện hoá bản
thân để trở nên tất hơn. Trong cuộc sống hàng ngày không ai có thể
tránh được sai lầm, song người quân tử là người biết sai để sửa và đó
cũng là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người toàn thiện.
Không Tử nói: " Có lỗi mà không sửa mới thật là lỗi", "Quá nhi bất cải,
thị ví quá dã - Luận ngữ, XV, 29). Khác với quân tử, tiểu nhân không
nhận thấy lỗi của mình và nếu nhận ra cũng không chịu sửa, thậm chí còn
dấu diếm. Người quân tử luôn nghiêm khắc với mình, luôn tự truy tìm
nguyên nhân ở mình, ngược lại, tiểu nhân thường đổ lỗi cho người khác:
"Người quân tử trông ở mình, kẻ tiểu nhân trông ở người" (Quân tử cầu
chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân - Luận ngữ, XV, 20). Đó là quan hệ giữa
nghĩa và lợi. Quân tử trọng nghĩa mà luôn sửa mình, còn tiểu nhân vì lợi
mà trốn tránh trách nhiệm: "Quân tử rành về điều nghĩa, kẻ tiểu nhân
rành về điều lợi" (Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi - Luận ngữ,
IV,16).
Quân tử là mắt khâu liên kết giữa thánh
nhân và người thường, là sợi chỉ nối quá khứ với hiện tại. Quân tử "Sợ
ba điều: Sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời của thánh nhân. Kẻ tiểu
nhân không biết mệnh trời nên không sợ, [mà còn] khinh nhờn bậc đại
nhân, diễu cợt lời của thánh nhân" (Quân tử hữu tam uý: Uý thiên mệnh,
uý đại nhân, uý thánh nhân chi ngôn. Tiểu nhân bất tri thiên mệnh nhi
bất uý dã, hiệp đại nhân, vũ thánh nhân chi ngôn - Luận ngữ, XVI, 8).
Quả thật, nếu không biết sợ, không cảm nhận được sự hiện diện của trời,
sỉ vả quá khứ và coi thường những điều thánh thiện thì tất thảy những
cái đó sẽ dẫn tới tai hoạ nghiêm trọng. "Chẳng biết được mệnh trời,
không lấy gì để làm người quân tử. Chẳng biết lễ, không lấy gì để lập
thân. Chẳng biết phân biệt nổi lời phải trái, không lấy gì để biết
người" (Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử đã, bất tri lễ vô dĩ lập dã. Bất
tri ngôn, vô dĩ tri nhân dã - Luận ngữ, XX, 3). Quân tử khác với tiểu
nhân là ở chỗ biết lễ do đi theo đường chính, nắm được đạo Trung dung,
biết được mệnh trời mà "vươn lên" để đạt đến cao thượng, đến trạng thái
hoàn thiện và làm cho người khác cùng hoàn thiện thêm. Khổng Tử nói:
"Người quân tử đạt tới chỗ cao thượng, kẻ tiểu nhân đạt tới chỗ thấp
hèn" (Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt - Luận ngữ, XIV, 24).
Sự "vươn lên" đến trạng hoàn thiện là
một quá trình tự cải tạo của người quân tử Con đường khó khăn của sự
nghiệp cải tạo đó xuất phát từ nghiên cứu vạn vật, không ngừng nâng cao
hiểu biết về mọi mặt và làm cho ý mình thành thật, tiến tới chính tâm để
tu thân, tề gia, trị quốc và cuối cùng là bình thiên hạ. Từ bậc thiên
tử cho tới thường dân ai cũng phải lấy sự tu thân làm gốc. Vì vậy, khi
Tử Lộ hỏi Quân tử phải làm gì, Khổng Tử đáp: "Sửa mình để nên người kính
cẩn". Lại hỏi: Có vậy thôi ư? Đáp: "Sửa mình kính cẩn để yên mọi
người". Lại hỏi: "Có vậy thôi ư? Đáp: Sửa mình kính cẩn để yên trăm họ.
Sửa mình để yên trăm họ, việc đó dẫu vua Nghiêu, vua Thuấn cũng chưa làm
cho trọn" (Tử Lộ vấn quân tử, Tử viết: "Tu kỷ dĩ kính". Vấn: "Như tư
nhi dĩ hồ?" Viết: "Tu kỷ dĩ an bách tính.Tu kỷ an bách tính, Nghiêu
Thuấn kỳ do bệnh chu”- Luận ngữ, XIV, 45). Qua đoạn đối thoại trên đây,
chúng ta thấy, quan điểm của Khổng Tử về con đường hoàn thiện hoá là vô
tận, đến các bậc thánh nhân, như vua Nghiêu, vua Thuấn, vẫn chưa thực
hiện được trọn vẹn. Sự vận động để đến với bản thân với tư cách con
người toàn thiện đều thông qua sự hoàn thiện hoá bản thân.
Con đường hoàn thiện hoá là con đường
giải thoát. Ở các tôn giáo khác nhau, quan niệm về giải thoát cũng khác
nhau song mục đích chỉ là một - đó là khắc phục quan niệm coi tự kỷ là
trung tâm. Trong tư tưởng của Khổng Tử, đó là sự chiến thắng của con
người đối với chính bản thân mình, vượt lên trên mình, là sự phục hồi
lễ, khôi phục thiện nhân khởi thuỷ. Con đường giải thoát đó phải do
chính người quân tử thực hiện thông qua sự tự hoàn thiện mà phương pháp
và mục tiêu của sự tự hoàn thiện đó đã được thánh nhân vạch ra. Khi Nhan
Uyên hỏi về Nhân, Khổng Tử giải thích: "Dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ là
phát huy điều nhân. Một ngày dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ, cả thiên hạ
[chịu cảm hoá] quay về về với điều nhân vậy" (Khắc kỷ phục lễ vi nhân,
nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên. Nhân do kỷ nhi do nhân
hồ tai? - Luận ngữ, XII, 1).
Giải thoát bản thân khỏi sự ràng buộc
của những dục vọng, từng bước nâng cao tri thức của mình về vạn vật
(cách vật), về thế giới con người (biết người, yêu thương con người) là
con đường hoàn thiện chân chính của Quân tử. Chiến thắng bản thân có
nghĩa là chiến thắng những gì trong con người đang cản trở nó quay về
với toàn bộ phẩm chất tất đẹp ban đầu mà Trời ban cho. Việc làm đó là
phù hợp với Quân tử - con người toàn thiện, vốn chỉ cầu ở mình chứ không
bao giờ cầu ở người.
NGUYỄN THỊ KIM CHUNG (TẠP CHÍ TRIẾT HỌC)
______________________________


14:00
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét