- Quan niệm truyền thống dân gian Việt Nam: hạnh phúc gắn
liền với tình bạn, tình yêu lứa đôi, gia đình là sự thỏa mãn các nhu
cầu vật chất và tinh thần.
Tóm lại, có thể tóm tắt các quan niệm trước chủ nghĩa Marx về hạnh phúc theo 3 xu hướng sau:
- Thứ nhất, cho hạnh phúc của con người
là sự thỏa mãn thường xuyên những nhu cầu vật chất như ăn, ở, mặc, khỏa
mạnh, sống lâu... Để có sự thỏa mãn đó con người phải giàu có, của cải
dư thừa.
Xu hướng này có từ thời cổ đại Hy Lạp và
phát triển mạnh torng TK XVII – XVIII ở châu âu gắn liền với sự đi lên
của giai cấp tư sản.
Tính hợp lý trong các quan niệm gắn với
xu hướng này là ở chỗ tình trạng nhèo đói, khốn khổ không thể nói đến
hạnh phúc. Cho nên, niềm sung sướng, hạnh phúc của con người không thể
tách rời việc thỏa mãn đến mức độ nhất định các nhu cầu vật chất.
Nhưng torng thực tế, sự gàu có về của cải
vật chất, sự thừa thải trong hưởng thụ các nhu cầu vật chất chưa hẳn đã
làm cho con người cảm thấy hạnh phúc.
Sở dĩ có thình trạng như vậy là do nhiều
khi sự thỏa mãn một cách tối đa thừa thải thường xuyên các nhu cầu vật
chất nang tính chất một chiều như vậy không những o nâng cao hoặc phát
triển các nhu cầu mà lại làm cho các nhu cầu đó ngày càng trở nên hời
hợt, nhàm chán, vô vị.
Những niềm vui của sự hưởng thụ ban đầu
cùng với thời gian và sự thừa thải sẽ ngày càng mất đi và thay thế vào
đấy là cảm giác chán chường của kẻ sống thừa và mất đi cái nhận thức quí
giá làm người của mình.
Đó là lý do vì sao tình trạng khủng hoảng
tinh thần, tâm lý, nhiều thói hư, tật xấu, các tệ nạn xã hội, chủ nghĩa
bi quan, chán đời thường hay xuất hiện trong những hoàn cảnh dư thừa
của cải, tiền bạc. Cùng với kiểu chạy theo sự hưởng thụ một chiều còn
dẫn tới sự tham lam vô độ, ích kỷ của chủ nghĩa cá nhân cực đoan tàn bạo
và bạc bẻo.
Như v6ạy, nếu chỉ có sự hưởng thụ, thỏa
mãn những nhu cầu vật chất cũng chưa hẳn đã làm cho con người có được
hạnh phúc chân chính.
- Xu hướng thứ 2, ngược lại với xu hướng
trên, cho hạnh phúc đích thực của con người là sự thỏa mãn các nhu cầu
tinh thần mà bản chất của nó là sự thanh thản, yên tĩnh tâm hồn, tránh
mọi xúc động, lo âu, suy nghĩ, trăn trở, sống với tự nhiên, vô tư hiền
hòa, tránh xa mọi âm mưu quỉ kế và thói thâm độc của người đời.
Những quan niệm theo xu hướng này có tính
hợp lý ở chỗ, xem sự thanh cao, yên tĩnh ở tinh thần con người là tiêu
chuẩn hạnh phúc. Thật vậy, tâm hồn giữ được sự yên tỉnh, thanh cao,
trong sáng, thanh thản sẽ đem lại cho con người những niềm vui nhẹ nhàng
nhưng sâu sắc.
Xu thế này dẫn đến những mâu thuẫn cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.
Theo các quan niệm của xu hướng này thì
muốn có được hạnh phúc con người phải giữ cho được sự yên tỉnh của tinh
thần, làm cho tinh thần không bị quấy rối bởi các nhu cầu ước muốn không
hợp lý. Nhưng torng thực tế rất khó phân định những nhu cầu n2o là hợp
lý còn nhu cầu nào là không hợp lý, nếu lấy theo tiêu chuẩn của sự yên
tỉnh.
Vì thế về thực chất là sự kìm hảm, giảm
bớt các nhu cầu, làm cho các nhu cầu đó ngày càng thấp đến mức tối
thiểu, nếu làm thế là làm là phá bỏ bản thân cái gốc làm nên khái niệm
hạnh phúc, khiến cho khái niệm này chỉ còn lại có ý nghĩa tiêu cực đi
ngược lại bản chất của nó.
Trong thực tế, xu thế này khuyến khích
chủ nghĩa khắc kỷ, giam hãm con người vào chủ nghĩa thầy tu. Cuối cùng
là một xu hướng xem ra có vẻ hoàn bị nhưng lại phản ảnh thái độ phản ứng
thất vọng của con người trước thực tế đầy đau khổ không có chỗ đứng cho
hạnh phúc. Các quan niệm hạnh phúc theo xu hướng này cho rằng hạnh phúc
của con người là sự thỏa mãn thường xuyên các nhu cầu vật chất, tinh
thần và loại trừ mọi nỗi đau khổ.
Một quan niệm như vậy là không thể có
được nhất là khi xem xét con người với toàn bộ cuộc đời của họ. Vòng đời
của con người sinh, lão, bệnh, tử ai mà thoát được.
- Biểu hiện sự khủng hoảng của con người
về quan niệm hạnh phúc trong xã hội tư sản hiện đại là sự xuất hiện của
chủ nghĩa hiện sinh, xem cuộc đời chỉ là sự bi đát và đau khổ. Theo các
đại biểu hiện sinh thì trong hiện thực chỉ toàn nổi đau khổ, còn hạnh
phúc chỉ có trong trí tưởng tượng mà thôi.
* hạnh phúc theo quan điểm đạo đức học Marxist:
Hạnh phúc theo nghĩa rộng là sự đánh giá
chung nhất đời sống của con người là sự tổng hợp những yếu tố xã hội của
con người có tính lịch sử xã hội. hạnh phúc đích thực của con người là
sống và hoạt động để tạo ra nhiều giá trị vật chất, tinh thần nhằm thỏa
mãn các nhu cầu xã hội, là cảm xúc vui sướng khi thỏa mãn nhu cầu đạo
đức cao cả.
Hạnh phúc đúng nghĩa không phải chỉ có
cái do con người cảm nhận được mà bao hàm cả sự đánh giá, thừa nhận của
xã hội. Do đó, nhiều lúc con người thỏa mãn các nhu cầu của mình mà
không coi là hạnh phúc thậm chí có khi đó là sự cắn rứt của lương tâm,
có khi là bất hạnh nếu bị xã hội lên án.
- Hạnh phúc theo nghĩa hẹp là cảm xúc vui sướng khi thỏa mãn các nhu cầu đạo đức cao cả. Do đó, hạnh phúc bao gồm 2 yếu tố:
+ Mặt khách quan của hạnh phúc chính là nhu cầu phát triển của xã hội mà chủ thể nhận thức biến thành tình cảm, trách nhiệm.
+ Mặt chủ quan là nổ lực hăng say hoạt động của con người vươn tới những thành quả phù hợp nhu cầu xã hội.
+ Thỏa mãn nhu cầu đạo đức cao cả nghĩa
là khi nhu cầu thỏa mãn mang lại cho chủ thể sự thanh thản của lương
tâm, tự hào về cuộc sống, nâng cao ý thức nghĩa vụ. Loại nhu cầu này
thỏa mãn mang lại hạnh phúc.
Trong cuộc sống không phải bất cứ nhu cầu
nào thỏa mãn cũng là hạnh phúc, có khi nhu cầu thỏa mãn mang lại sự cắn
rứt lương tâm. Hơn nữa nhu cầu luôn lớn lên, tức là nhu cầu này thỏa
mãn thì xuất hiện nhu cầu khác, cảm giác về sự thỏa mãn nhu cầu này
không bền.
- Hạnh phúc có tính lịch sử xã hội:
Thời đại khác nhau, hoàn cảnh khác nhau thì quan niệm về hạnh phúc cũng khác nhau.
VD: khi năng suất lao động thấp thì người
ta cần thỏa mãn nhu cầu no để tồn tại. Khi năng suất phát triển thì
xuất hiện nhu cầu ăn ngon, mặc đẹp. khi có tích lũy thì xuất hiện nhu
cầu du lịch, thưởng thức văn hóa, nghệ thuật.
- Hạnh phúc cá nhân là sự thống nhất lâu
bền giữa khỏe mạnh, đáp ứng nhu cầu về vật chất, sự thỏa mãn về đời sống
tinh thần. hạnh phúc gia đình là cảm giác vui sướng của cuộc sống do
gia đình mang lại, đó là sự tin yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và tạo
điều kiện cho từng thành viên của gia đình phát triển phù hợp với sự
tiến bộ của xã hội.
- hạnh phúc chỉ có được trong hoạt động
thực tiễn mà chủ yếu nhất là thực tiễn sản xuất vật chất. Trong thực tế,
để thỏa mãn những nhu cầu sống của mình con người phải lao động sản
xuất của cải vật chất xã hội. Cùng với quá trình sản xuất ra của cải vật
chất để duy trì và phát triển cuộc sống xã hội, con người cũng đồng
thời sản xuất ra các giá trị tinh thần. Như vậy, con người không những
sản xuất ra của cải vật chất mà còn nhận thức, suy nghĩ cảm nhận về quá
trình sản xuất và hướng thụ các giá trị xã hội đó. Qua đó, con người
nhận ra và suy nghĩ về niềm sung sướng hạnh phúc và nổi bất hạnh đau khổ
của mình.
- Quá trình lao động sản xuất và hoạt
động xã hội của con người chẳng những là quá trình con người sản xuất ra
giá trị vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn các nhu cầu của bản thân
con người và xã hội, đồng thời cũng là quá trình nảy sinh, phát triển
các nhu cầu.
- Nhờ có lao động, con người chẳng những
đã có được những sản phẩm có thể thỏa mãn những nhu cầu sống của mình mà
còn làm cho những nhu cầu nguyên thủy mang tính động vật trở thành
những nhu cầu mang tính người. Quá trình đó cứ phát triển làm cho những
nhu cầu của con người ngày càng phong phú, đa dạng, sâu sắc cả về vật
chất lẫn tinh thần.
Quá trình lao động sản xuất và hoạt động
xã hội không những tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần, phát triển
các nhu cầu mà còn tạo nên những phương thức thỏa mãn các nhu cầu đó
ngày càng phong phú, sâu sắc, giàu cảm xúc và nâng cao tính văn hóa của
bản thân quá trình hưởng thụ xã hội.
Đó cũng là quá trình mỗi chủ thể hoạt
động hoàn thiện thể chất, nâng cao năng lực hoạt động, làm p[hong phú
tri thức, tinh thần, tư tưởng, cảm xúc, phát triển và làm giàu các quan
hệ xã hội một cách tích cực.
Kết quả đó đưa lại cho con người niềm
vui, niềm tự hào sung sướng, nâng cao ý thức phẩm giá con người, tin
tưởng vào xã hội và con người, gắn bó mỗi cá nhân với cộng đồng trong
tình thương yêu, quí trọng lẫn nhau, đó chính là hạnh phúc của con
người.
Như vậy hạnh phúc o bao giờ được đặt ra
như mục tiêu trực tiếp, cuối cùng mà nó chỉ đến với con người như một
tặng thưởng kèm theo những giá trị vật chất, tinh thần mà họ đã tạo ra
vì xã hội.
Do đó, hạnh phúc không phải là cái gì có
sẵn để con người có thể nhận lấy một cách thụ động mà phải do chính bản
thân họ sáng tạo ra. Đó là lẽ vì sao, sự lười biếng, thói ỷ lại, trì
trệ, hưởng thụ một chiều trong thực tế là kẻ thhù của hạnh phúc.
Trong đời sống xã hội con người, về cơ
bản có thể phân ra 2 loại nhu cầu: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh
thần. Nhu cầu vật chất thường cấp bách nhưng có tính lập lại cao, nhu
cầu tinh thần có tính phát triển và sâu sắc.
Trong các nhu cầu tinh thần thì nhu cầu
đạo đức có thể coi là nhu cầu có tính xã hội cao, sâu sắc nhất và mang
tính giáo dục cao nhất. Chính vì thế, những hoạt động của con người thỏa
mãn những nhu cầu đạo đức xã hội làm cho con người đạt đến hạnh phúc
cao nhất.
hạnh phúc được quan niệm như vậy không
loại trừ hoàn toàn mọi nổi đau khổ. Nhiều khi chính nổi đau khổ hay sự
khổ não của con người cũng tham gia vào làm thành một mặt của hạnh phúc.
Những nổi đau khổ, đau khổ có tính tích cực là những trăn trở trong
sáng tạo, đau khổ vì nổi đau khổ của người khác, những gian truân, khổ
ải, vượt qua khó khăn trong lao động và cuộc sống.
Niềm vui, niềm hạnh phúc mà con người
nhận được phụ thuộc rất nhiều vào những trăn trở và đau khổ mà họ phải
trải qua, đau khổ ở mức độ càng cao, mục đích trong sáng, hướng tới cái
tốt đẹp, cái thiện, cái cao cả càng lớn lao bao nhiêu, thì niềm vui,
niềm hạnh phúc mà họ nhận được sau khi đã hoàn thành công việc càng lớn
bấy nhiêu.
Nghĩa vụ đạo đức chiếm một vị trí đặc
biệt quan trọng trong đời sống đạo đức xã hội. Việc thực hiện nghĩa vụ
đạo đức tốt hay xấu là thước đo đặc thù nói lên tình trạng tiến bộ hay
thoái hóa của đời sống đạo đức trong một xã hội nhất định. Do đó, phạm
trù nghĩa vụ đạo đức đã được nhiều nhà tư tưởng, nhà hiền triết của các
thời đại bàn luận, quan tâm sâu sắc.
a/ Quan niệm khác nhau về nghĩa vụ đạo đức trước Marx.
- Democrate là người đầu tiên đưa phạm
trù nghĩa vụ vào đạo đức. Ông cho rằng ý thức nghĩa vụ là động cơ sâ kín
bên trong của con người, là động lực thúc đẩy con người hành động.
- Các tôn giáo: nghĩa vụ là ý thức trách
nhiệm trước thượng đế. con người có nghĩa vụ hy sinh quyền lợi trước
thực tại để hưởng hạnh phúc ở thế giới bên kia.
- Kant: nghĩa vụ là mệnh lệnh tuyệt đối,
là chân lý tất yếu con người cần phải làm dù muốn hay không nghĩa vụ như
một mệnh lệnh bắt buộc.
- Các nhà duy vật Pháp TK XVII – XVIII
coi nghĩa vụ đạo đức như gắn liền với lợi ích cá nhân, nó là tất yếu với
mọi người và mọi người phải thực hiện.
- Một số khuynh hướng triết học tư sản
hiện đại, nhất là chủ nghĩa hiện sinh, xem ý thức nghĩa vụ đạo đức là
hoàn toàn không có ý nghĩa, thậm chí đó là những ràng buộc vô bổ với
những hoạt động của con người. Từ đó họ cho rằng sự thừa nhận những
chuẩn mực nghĩa vụ đạo đức là có hại cho các cá nhân hiện sinh. Những lý
thuyết này biện hộ và cổ vũ cho những hành động bất chấp mọi hệ chuẩn
đạo đức xã hội và mở đường cho tội ác.
b/ Quan niệm nghĩa vụ đạo đức của đạo đức học Marxist:
- Nghĩa vụ đạo đức không thể là sự ép
buộc từ bên ngoài, mà gắn bó chặt chẽ với ý thức của con người về lẽ
sống, lý tưởng về hạnh phúc và về những quan niệm mang tính triết lý của
cuộc sống. Những quan niệm đúng đắn giúp con người trước hết là nhận
thức được sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, thống
nhất hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội và người khác.
Vì thế có thể xem sự trưởng thành của ý
thức nghĩa vụ đạo đức liên quan chặt chẽ đến mức độ trưởng thành trong
nhận thức của con người về những vấn đề lẽ sống, hạnh phúc, thiện, ác...
Ý thức nghĩa vụ đạo đức thường được nuôi
dưỡng, củng cố phát triển trong môi trường của một nền giáo dục tốt, môi
trường gia đình đầm ấm, xã hội lành mạnh. Trong những điều kiện đó, mỗi
thành viên của cộng đồng chẳng những được hưởng thụ một bầu không khí
đạo đức trong sáng, cao quí và chứa chan tình người mà bản thân họ cũng
đồng thời là những cá nhân trưởng thành về đạo đức, yêu lao động, có lý
tưởng hoài bảo, kính người, yêu đời, lạc quan tin tưởng vào xã hội. Mất
đi ý thức nghĩa vụ đạo đức cũng chính là đánh mất ý thức về chính bản
thân mình, mất đi ý nghĩa làm người của mình.
Ý thức nghĩa vụ đạo đức là quá trình phát
triển lâu dài từ hàng ngàn, hàng vạn năm. Thông qua hoạt động lao động
sản xuất và hoạt động xã hội, bảo vệ cái thiện, chống cái ác, xã hội đã
hình thành nên những quan hệ giữa người và người ngày càng đa dạng phong
phú, sâu sắc nếu thiếu nó thì lợi ích xã hội, lợi ích cá nhân, lợi ích
của mọi cộng đồng, mọi xã hội sẽ bị đe dọa. Các quan hệ đó có thể là
quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, nhưng bao trùm lên
tất cả, thấm sâu vào mọi mối quan hệ xã hội là quan hệ đạo đức mà đặc
trưng là nghĩa vụ đạo đức của con người.
Vì thế ý thức nghĩa vụ đạo đức được tất
cả mọi người trong xã hội vun đắp, giữ gìn, phát triển để trở thành niềm
tin, thành tình cảm thiêng liêng mà mỗi thế hệ người kế tiếp giữ gìn,
kế thừa, bổ sung hoàn thiện như một di sản quí báu thể hiện lòng biết
ơn, sự quí trọng đối với thế hệ đi trước và trách nhiệm cao quí với thế
hệ đi sau.
Mỗi cá nhân con người, khi sinh ra đã bắt
đầu được giáo dục ý thức nghĩa vụ đạo đức, trước hết bằng con đường
giáo dục gia đình. Bằng tình thương yêu, sự chăm sóc của gia đình, con
người đã cảm thụ và hình thành tình thương yêu đối với cha mẹ, ông bà,
anh chị em và những người thân. Những cảm thụ ban đầu ấy dần dần sâu sắc
thêm, lớn thêm và được củng cố để làm thành những yếu tố tạo nên hạt
nhân ban đầu của ý thức nghĩa vụ đạo đức sau này.
Cùng với quá trình trưởng thành, mỗi con
người còn được hưởng một nền giáo dục của nhà trường, của cộng đồng,
đoàn thể xã hội và những nhân tố văn hóa truyền thống, văn hóa xã hội.
Qua đó mỗi cá nhân, tùy thuộc vào đặc điểm và mức độ hoạt động tích cực
mà dần dần hoàn thiện ý thức nghĩa vụ đạo đức của mình như niềm tin bên
trong, như tình cảm thiêng liêng, như ý thức về đạo đức làm người.
Ý thức nghĩa vụ đạo đức không thể được
hình thành thật sự chỉ bằng con đường giáo dục lý thuyết. ý thức nghĩa
vụ bao giờ cũng được củng cố, phát triển bền vững bằng con đường trải
nghiệm. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, hoạt động xã hội với tất
cả những khó khăn trở ngại cũng như thách thức, con người ngày càng nhận
thức, kiểm nghiệm trong thực tiễn những giá trị mà nghĩa vụ đạo đức
mang lại.
Ý thức nghĩa vụ đạo đức mang tính chất
một tình cảm thiêng liêng cao cả. Nó là nền tảng tinh thần của đạo
trung, hiế, nhân, nghĩa. Chính ý thức nghĩa vụ đạo đức cao quí đã hun
đúc lònbg yêu nước trung thành với tổ quốc, tình yêu thương kính trọng,
chăm sóc cha mẹ, lối sống thuỷ chung trong đạo vợ chồng, tình nghĩa anh
em, bầu bạn.
Ý thức nghĩa vụ đạo đức là động lực tinh
thần sâu sắc thúc đẩy từ nội tâm để con người sáng tạo nên những giá trị
đạo đức cao cả. Vì thế, nghĩa vụ đạo đức không phải chỉ là những giá
trị tinh thần mà quan trọng hơn, nó phải được thể hiện ra trong đời sống
thực tiễn, tạo nên những giá trị hiện thực đóng góp tích cực vào sự
phát triển, sự tiến bộ của xã hội.
Ý thức nghĩa vụ đạo đức của con người là
quá trình phát triển không ngừng cùng với quá trình trưởng thành của xã
hội và con người. Vì thế, việc hình thành ý thức nghĩa vụ đạo đức và
sáng tạo nó trong đời sống thực tiễn phải là quá trình tu dưỡng bền bỉ,
rèn luyện không ngừng trong suốt cả cuộc đời một con người.
Quan niệm của các cá nhân về nghĩa vụ của
mình đối với xã hội và với người khác là tiền đề của hành vi đạo đức
của mình. ở đây còn chịu sự phán xử của lương tâm. Vậy lương tâm là gì?
Lương là tốt lành. Tâm là lòng. Xu hướng
tiêu biểu của con người là hành động hướng thiện, mong muốn làm điều
thiện và tự đ1nh giá, phán xử hành vi của mình. Có được những điều đó là
nhờ có lương tâm. lương tâm là thế giới nội tâm sâu kín bên trong, nó
có tác dụng điều chỉnh ý thức, hành vi của con người, nhờ có lương tâm
mà đạo đức xã hội mới bảo tồn và phát triển. lương tâm giúp con người
hối cải và điều chỉnh lỗi lầm. Người có lương tâm dù bất kỳ ở đâu và
trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng giữ được nhân cách tốt đẹp của mình. Do
đó lương tâm hướng con người đến những điều tốt đẹp và đấu tranh chống
lại cái ác. Nếu người không có lương tâm thì họ không thể thực hiện tốt
nghĩa vụ đạo đức, ngược lại họ sẳn sàng làm điều ác, tàn bạo.
a/Một số quan niệm về phạm trù lương tâm trong lịch sử.
- Platon: lương tâm là sự mách bảo của thần linh thượng đế do đó nó tồn tại vĩnh viễn.
- Locko: lương tâm là khả năng khống chế
những dục vọng của mình, và tuân theo sự hướng dẫn tuyệt đối của lý trí.
Ông rất coi trọng giáo dục lương tâm “khoa học mà không có lương tâm
chỉ là sự phá hoại tâm hồn”.
- Kant: lương tâm là sự thao thức của tinh thần, gắn với con người như là bẩm sinh.
- Hegel: lương tâm là sản phẩm của tinh thần, là ý thức được điều thiện và lẽ công bằng.
Nhìn chung, các nhà đạo đức học trước
Marx đều khẳng định lương tâm là một phạm trù của đạo đức học, là yếu tố
cấu thành đạo đức nhưng lý giải về lương tâm chưa khoa học.
b/ Quan niệm về lương tâm của đạo đức học Marxist:
- Khái niệm: lương tâm là ý thức trách
nhiệm và tình cảm đạo đức cá nhân về sự tự đánh giá hành vi và cách cư
xử của mình trong đời sống xã hội, hoặc lương tâm là năng lực tự đánh
giá hành vi đạo đức của tình cảm đạo đức.
Lương tâm được xem như một loại cảm xúc đặc biệt thể hiện ra như thước đo mức độ trưởng thành đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội.
- Lương tâm vừa là ý thức vừa là tình cảm
con người, càng có thiện tâm, thiện ý và càng hành động tốt bao nhiêu
thì lương tâm càng yên ổn bấy nhiêu và ngược lại. do đó, lương tâm là
ngọn nguồn của hạnh phúc.
- Nguồn gốc của lương tâm:
Sự hình thành lương tâm là một quá trình phát triển lâu dài từ ý thức đến tình cảm đạo đức.
+ Con người ý thức được cái cần phải làm vì sợ xấu hổ trước người khác và trước dư luận xã hội.
+ Con người ý thức được cái cần phải làm
nếu không làm thì không chỉ sợ người khác và xã hội chê cười mà cơ bản
là tự xấu hổ với chính mình, đạt tới trình độ tự xấu hổ sẽ làm xuất hiện
lương tâm.
+ Lương tâm xuất hiện khi ý thức, tình
cảm, trách nhiệm trước điều thiện và lẽ công bằng. do đó lương tâm có
thể xuất hiện từ lúc bắt đầu dự kiến hành vi cho đến khi kết thúc hành
vi. Nhưng sự thức tỉnh của lương tâm tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể của mỗi người.
- Sự hình thành cảm xúc lương tâm gắn
liền với nhận thức con người về lẽ sống, lý tưởng, hạnh phúc của con
người, đặc biệt là với ý thức nghĩa vụ đạo đức. nghĩa vụ đạo đức là ý
thức trách nhiệm trước xã hội và người khác, còn lương tâm là ý thức
trách nhiệm trước bản thân mình. Có thể xem ý thức nghĩa vụ đạo đức là
nền tảng, là cơ sở hình thành lương tâm của con người.
- Lương tâm được biểu hiện ở hai trạng thái khẳng định và phủ định.
+ Trạng thái khẳng định là sự thư thái của lương tâm là cảm giác trong sạch của lương tâm.
+ Trạng thái phủ định, con người cảm thấy sự cắn rứt, sự không trong sạch của lương tâm.
- Trạng thái khẳng định của lương tâm có
vai trò nâng cao tính tích cực của con người, giúp con người tin tưởng
vào bản thân trong quá trình hoạt động. Đó là niềm tin bên trong có ý
nghĩa thôi thúc con người vươn tới cái thiện, cái tốt đẹp, đóng gó`p
tích cực vào sự phát triển xã hội.
- Đạo đức học Marxist không đồng nhất sự
thư thái của lương tâm với sự yên tĩnh của tinh thần mang tính thụ động
đến mức thờ ơ với mọi giá trị đạo đức, không quan tâm gì đến cái thiện
và ác. Sự thư thái của lương tâm gắn liền với hoạt động tích cực của con
người vì hạnh phúc của xã hội và người khác.
- Trạng thái phủ định của lương tâm gây
cho con người cảm giác đau khổ, làm suy giảm hoạt động tích cực của con
người, nhưng trạng thái này cũng có vị trí quan trọng trong hoạt động
của con người. Bằng sự cắn rứt, đau khổ, trạng thái phủ định của lương
tâm nhắc nhở, giúp các chủ thể hành động suy nghĩ lại và uốn nắn những
hành vi sai trái của mình trở lại con đường đúng đắn.
Lương tâm là đặc trưng của cá nhân nên nó
có tính chủ quan nghĩa là lương tâm phụ thuộc bởi năng lực, khả năng,
tình cảm và trí tuệ của mỗi con người. Nhưng lương tâm còn có tính chất
giai cấp tức là do lập trường quan điểm giai cấp chi phối ý thức đạo đức
và tình cảm đạo đức đồng thời lương tâm còn có tính nhân loại phổ biến
đó là sự công bằng và các giá trị phổ quát... Do đó, có những kẻ thuộc
giai cấp thống trị vẫn tỏ ra có lương tâm.
Vai trò của lương tâm:
Lương tâm trong sạch khi hành vi phù hợp
với chuẩn mực đạo đức được xã hội công nhận, tức ý thức được sự lương
thiện của mình và tạo ra cảm giác vững tâm về nhân phẩm, danh dự, tạo ra
sự thanh thản cho tâm hồn.
Nếu cảm giác lương tâm không trong sạch
khi chủ thể hành động không đúng chuẩn mực đã được công nhận, dẫn đến
cảm giác lương tâm không trong sạch chính là sự cắn rứt lương tâm. Tình
cảm lương tâm là sự hài hòa giữa khát vọng hạnh phúc và tận tâm với
nghĩa vụ. Thực hiện nghĩa vụ một cách trung thực là ngọn nguồn cơ bản
của niềm vui hạnh phúc của con người. Nếu lương tâm cắn rứt dằn vật thì
bất hạnh sẽ lớn hơn nhiều.
Kant cho rằng sự tự đánh giá của lương
tâm như là sự xét xử trước tòa. Màn kịch nội tâm là đấu tranh giữa nhân
vật hành động và nhân vật phán xử. Ngược lại, kẻ nào o có năng lực tự
đánh giá hành vi, kìm chế hành vi vì lợi ích của mình chà đạp lên tất cả
đó là những kẻ vô lương.
Sự hình thành lương tâm phải là một quá
trình phấn đấu rèn luyện bền bỉ, lâu dài. lương tâm hết sức nhạy cảm,
tinh tế và thường trực giúp con người cảm nhận nên gọi là giác quan thứ
6. Người ta cho rằng lương tâm thường không mắc sai lầm, nhưng tiếng nói
của nó nhiều khi lại hết sức yếu ớt đến nổi con người có thể dập tắt nó
không khó khăn. Vì vậy, vấn đề rèn luyện, giáo dục lương tâm phải là
công việc thường xuyên cho suốt cả cuộc đời.
Trong lịch sử nhân loại, phạm trù thiện,
ác được đề cập rất sớm. Nhân loại bao giờ cũng mơ tới cuộc sống thiện,
tốt đẹp, hạnh phúc.
Trong đời sống của dân tộc ta luôn đề cao
cái thiện và đấu tranh loại trừ cái ác. “ác lai, ác báo”, “gieo gió gặp
bảo”, “ở hiền gặp lành”, “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, “tu nhân
tích đức”.
Thiện là lợi ích của con người phù hợp
với sự tiến bộ xã hội. Thiện cũng là những hoạt động phấn đấu hy sinh vì
con người làm cho con người ngày càng sung sướng hơn, tự do, hạnh phúc
hơn. xã hội càng văn minh càng yêu cầu con người sống thiện.
a/ Một số quan niệm thiện ác trong lịch sử:
- Các xu hướng duy tâm tôn giáo, xem cái thiện chính là ý muốn của thượng đế.
+ Abrelia cho rằng “ý muốn của thượng đế
đó là cái thiện” và giải thích chúa là người duy nhất sáng tạo và mong
cái thiện. Xung quanh chúng ta đều là cái ác và do đó con người sa ngã
và mất hết tự do để vươn tới cái thiện, nên chúa phải cứu với con người
ra khỏi cái ác đó chính là cái thiện của chúa.
+Platon: thượng đế đem lại cho con người điều thiện nên con người phải biết vâng mệnh thượng đế sống thiện và làm điều thiện.
+ Mạnh Tử: “nhân chi sơ tính bản thiện”.
Các quan niệm thiệc, ác trên có sai lầm
cho là phạm trù tiên thiên, nó như là bản chất vốn có, thậm chí có người
cho rằng con người sinh ra đã mang theo mầm móng tội ác. Họ không hiểu
được bản chất xã hội và tính lịch sử của phạm trù thiện ác.
b/ Quan niệm của đạo đức học Marxist:
Đạo đức học Marxist cho rằng quan niện
thiện, ác của con người là một sản phẩm lịch sử. Vì thế nội dung của nó
không phải là một cái gì vĩnh viễn không thay đổi. ngược lại, ở mỗi thời
đại, từ những quan hệ kinh tế, xã hội và giai cấp, con người hình thành
nên những quan niệm thiện hay ác khác nhau tương ứng với xã hội trong
thời đại đó.
VD: Yêu cầu cái thiện trong chế độ phong
kiến là cơm no, áo ấm cho nông dân thì cái thiện trong xã hội tư bản là
tự do dân chủ, bình đẳng, bác ái. Ngày xưa, cái thiện cao nhất là trung
với vua, hiếu với cha mẹ thì ngày nay nó mang thêm nội dung mới “trung
với đảng, hiếu với dân”.
Đạo đức mang tính giai cấp do vậy thiện, ác mang tính giai cấp. giai cấp này cho là thiện thì giai cấp khác có khi cho là ác.
- Trong một quan niệm cụ thể về cái thiện
bao giờ cũng hàm xúc nhiều lý tưởng về đạo đức của con người, về lợi
ích, sự yêu thương, kính trọng đối với con người, về sự tôn vinh phẩm
giá cao quí của con người. Những giá trị đó đượcthể hiện ra thông qua
giá trị tinh thần, vật chất mà bằng những nổ lực, hy sinh, phấn đấu của
bản thân mình, con người đã sáng tạo nên trong những điều kiện kinh tế
xã hội cụ thể.
- Cấu trúc nội tại của bản thân cái thiện
đòi hỏi có sự tương hợp giữa lý tưởng đạo đức và hiện thực đạo đức. Nếu
những lý tưởng đạo đức phù hợp thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của hiện
thực đạo đức. Nếu lý tưởng đạo đức vượt quá xa đời sống hiện thực thì nó
chỉ có thể dừng lại ở những lý tưởng thuần túy mặc dù con người hết sức
ngưỡng mộ và tôn thờ nhưng không thể áng tạo nên cái thiện tương ứng.
Ngược lại trong đời sống hiện thực, nếu không được hướng dẫn, được thúc
đểy bằng những lý tưởng đạo đức chân chính thì cái thiện cũng khó có
điều kiện hình thành và phát triển.
- Cái thiện bao giờ cũng phải là sự sáng
tạo tích cực của con người theo những lý tưởng cao đẹp, đúng đắn. Trong
một xã hội cụ thể, tùy theo những điều kiện khách quan, chủ quan nhất
định, mỗi cá nhân hay nhóm thành viên đều có thể và cần phải tham gia
vào sáng t5ao nên cái thiện. Điều này làm cho cái thiện trong một xã hội
cụ thể có thể tồn tại và thể hiện ra ở nhiều cấp độ khác nhau, tùy
thuộc vào sự phát triển các quan hệ xã hội, sự trưởng thành về đạo đức
của chủ thể và những hoàn cảnh mà trong đó cái thiện được sáng tạo.
- Vì là sản phẩm của hoạt động sáng tạo
của con người nên trong điều kiện nào cái thiện cũng gắn bó chặt chẽ với
cái chân lý và cái đẹp.
Cái thiện trước hết phải là cái chân lý,
cái đúng đắn. Thiếu những điều kiện đó không thể trở thành cái thiện,
cái chân lý chứa đựng trong cái thiện chính là lợi ích của tổ quốc, của
nhân dân, lợi ích chân chính của con người và xã hội loài người.
Cái thiện đồng thời phải thỏa mãn những
quan niệm thiện, ác khác nhau. Tuy nhiên, những lý thuyết đạo đức nói
chung và quan niệm thiện ác nói riêng gắn với các giai cấp tiến bộ của
thời đại thì đều là những lý thuyết, những quan niệm tiến bộ.
- Đối lập với cái thiện là cái ác, cái mà chúng ta phải kiên quyết gạt bỏ khỏi đời sống xã hội.
Mặc dù phản đối việc đề cao cái ác hoặc
biện hộ cho cái ác. Nhưng đạo đức học Marx-Lenin không đối lập một cách
tuyệt đối giữa cái thiện và cái ác. Do là sản phẩm của lịch sử xã hội
nên quan niệm về cái ác cũng thay đổi thậm chí trái ngược nhau từ xã hội
này đến xã hội khác, từ thời đại này đến thời đại khác.
Có trường hợp một hiện tượng nào đó được
một thời đại này coi là cái bình thường thậm chí là cái thiện, nhưng đến
thời sau, do sự tiến bộ của xã hội lại bị coi là ác, bị xã hội lên án.
Theo CNX
0 nhận xét:
Đăng nhận xét