Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

JEAN-JACQUES ROUSSEAU: Đa tài, đa nạn, đa đoan



Theo Người Đô Thị,
Bùi Văn Nam Sơn

Immanuel Kant, đại triết gia Đức, cứ đúng bốn giờ chiều là ra khỏi nhà, đi dạo một mình và trên cùng một con đường. Dân thành phố đợi ông ra khỏi nhà để... lên dây cót đồng hồ! Nhưng, suốt mấy mươi năm trời, chỉ có hai lần, ông bỏ dở "thời khóa biểu" ấy. Lần thứ nhất, mê mải đọc quyển Emille hay là về giáo dục của Rousseau vừa mới xuất bản (1762), và, lần thứ hai, khi nghe tin Đại Cách mạng Pháp bùng nổ (1789). Năm 1762 ấy cũng đồng thời là năm xuất bản quyển Về Khế ước xã hội của Rousseau.

Immanuel Kant, đại triết gia Đức, cứ đúng bốn giờ chiều là ra khỏi nhà, đi dạo một mình và trên cùng một con đường. Dân thành phố đợi ông ra khỏi nhà để... lên dây cót đồng hồ! Nhưng, suốt mấy mươi năm trời, chỉ có hai lần, ông bỏ dở “thời khóa biểu” ấy. Lần thứ nhất, mê mải đọc quyển Emille hay là về giáo dục của Rousseau vừa mới xuất bản (1762), và, lần thứ hai, khi nghe tin Đại Cách mạng Pháp bùng nổ (1789). Năm 1762 ấy cũng đồng thời là năm xuất bản quyển Về Khế ước xã hội của Rousseau. Cả hai quyển đều bị cấm lưu hành và bị hạ lệnh thiêu hủy ngay từ lần xuất bản thứ nhất! Quyển trước đã ảnh hưởng sâu đậm lên tư duy giáo dục hơn bất kỳ tác phẩm nào khác. Quyển sau đã góp phần trực tiếp vào việc lật đổ chế độ chuyên chế, xây dựng nhà nước dân chủ cộng hòa hiện đại như chúng ta đều biết. Hai buổi đi dạo bị bỏ lỡ của ông triết gia bên kia bờ sông Rhin (cách nhau 17 năm!) đã nói lên rất nhiều!

Rousseau trọn đời lận đận, nghèo túng và bị truy đuổi, nhưng “hậu vận” khá tốt! Như một lời ghi nhận và biết ơn, năm 1794, vào lúc cao điểm của Cách mạng Pháp, di hài ông được long trọng chuyển vào an nghỉ trong điện Panthéon (Paris) ở vị trí danh dự bên cạnh Voltaire, tác giả luận văn Về sự khoan dung, nhà chiến sĩ dân chủ tiền phong, dù khi sinh thời, hai ông không phải lúc nào cũng hòa thuận với nhau.

Học thuyết chính trị và triết thuyết giáo dục của Rousseau (thường gọi là “thuyết duy nhiên”) không phải là hai bộ phận độc lập mà là một khối thống nhất: triết thuyết giáo dục duy nhiên nhằm đào tạo con người thực hiện lý tưởng chính trị dân chủ. Tuy nhiên, nơi Rousseau, “tính tự nhiên” trong giáo dục và nền “dân chủ” chính trị lại là hai vấn đề không ngừng gây tranh cãi cho đến tận ngày nay! Điều này xảy ra không chỉ vì sự phức tạp của bản thân vấn đề mà do chính những phát biểu hàm hồ, nước đôi trong các tác phẩm của ông, có thể làm đảo lộn và xuyên tạc hoàn toàn ý hướng ban đầu. Về giáo dục, “tính tự nhiên” do ông đề xướng (“hãy để cho đứa bé tự phát triển”) dường như đã giành được thắng lợi hoàn toàn khi “tự nhiên” đồng nghĩa với cái đúng, cái tốt, còn “trái tự nhiên” là sai, là xấu. Nhưng, liệu nền giáo dục triệt để chống quyền uy ấy có thể thực hiện trong môi trường cách ly với xã hội một cách giả tạo, bằng những biện pháp giáo dục có tính lèo lái rất đáng ngờ? Về chính trị, người thì tôn vinh ông là “nhà dân chủ tiên phong”, nhà “dân chủ tự do, tiến bộ”, đồng thời không thiếu người xem ông là “có xu hướng bảo thủ, quyền uy, phản đa nguyên”, thậm chí, là “kẻ đào mồ chôn nền dân chủ”. Tại sao có sự đánh giá mâu thuẫn nhau đến như thế? Việc đưa di hài ông vào điện Panthéon vừa xứng đáng với tầm vóc của ông, vừa không khỏi gợi nên thắc mắc: tại sao lại từ tay Robespierre, thủ lĩnh phái Jacobins khét tiếng độc tài, khát máu trong thời kỳ đại khủng bố của cách mạng Pháp? Và sau cùng, chính cuộc đời ông cũng là hiện thân của một khối mâu thuẫn lớn. Yêu trẻ em, chủ trương “lấy trẻ em làm trung tâm” trong giáo dục, tại sao nỡ giao hết mấy đứa con mình vào trại trẻ mồ côi? Là một trong những khuôn mặt sáng giá nhất của “thế kỷ ánh sáng”, tại sao đi đến chỗ xung đột kịch liệt với Voltaire, đoạn giao với những người bạn lừng danh trong “nhóm Bách khoa thư” như Diderot, d’Alembert... của phong trào khai minh đang lên? Nhận xét của Eugen Fink: “mọi sự vĩ đại đều mang tính nước đôi” tuy không phải lúc nào cũng đúng, nhưng dường như không sai trong trường hợp Rousseau! Khác với những bậc “thánh hiền” thường có hình ảnh toàn bích, Rousseau có lẽ bắt đầu thuộc về một loại hình mới và khác: nhà trí thức hiện đại. Ta sẽ lần lượt tìm hiểu ông ở cả ba phương diện: cuộc đời, học thuyết chính trị và triết thuyết giáo dục.

CUỘC ĐỜI ĐA NẠN VÀ ĐA ĐOAN

J. J. Rousseau (1712-1778) bất hạnh từ nhỏ. Mẹ mất ngay sau khi sinh. Cha ông, thợ đồng hồ ở Genève, gà trống nuôi con không lâu thì phải bỏ trốn sau một vụ ẩu đả khi ông lên mười. Mười hai tuổi phải kiếm sống bằng đủ thứ nghề. 16 tuổi, trốn nhà từ Genève lên Turin. Từ đó bắt đầu cuộc đời phiêu bạt, mà những phút giây yên ổn, hạnh phúc là ngoại lệ. Làm đủ thứ chuyện (khoa học, xã hội, nghệ thuật), nhưng chủ yếu độ nhật bằng nghề chép nhạc. Dang díu với nhiều “quý Bà”, cha của năm đứa con, đều gửi hết vào trại mồ côi! Việc làm này gây tổn hại lớn đến thanh danh “nhà giáo dục” của ông, nhất là từ sự công kích của Voltaire. Ông cũng tỏ ra rất đau khổ và nhiều lần biện bạch: cuộc sống quá bấp bênh, không có lối thoát, khó có điều kiện nuôi dạy con cái đàng hoàng (nhưng ông cũng có lúc khá sung túc với người vợ kia mà?).

Năm 1742, ông lên Paris, kết bạn với Diderot và các nhà “Bách khoa thư”. Năm sau, được làm thư ký cho sứ quán Pháp ở Venise, được ủy thác soạn phần nhạc học cho bộ Bách khoa thư, trình diễn được mấy vở nhạc kịch khá thành công. Sau đó, đổ vỡ quan hệ với Diderot và nhóm Bách khoa thư vì bất đồng quan điểm.

1762 là năm quyết định của đời ông: xuất bản một lúc cả hai tác phẩm bất hủ: “Émille” và “Khế ước xã hôi”. Không tán đồng quan niệm về “tội tổ tông” do chủ trương con người “tính bản thiện”, sách bị cấm và lệnh truy nã được ban ra. Ông phải trốn chạy sang Thụy sĩ, rồi ba năm sau lại bị trục xuất và rút về ẩn cư nơi một đảo nhỏ, thời gian hạnh phúc ngắn ngủi vì được đắm mình trong thiên nhiên như sở nguyện. Năm 1766, sang Anh theo lời mời của triết gia David Hume, được dư luận Anh chào đón nhưng lại sớm xích mích với Hume! Suốt bốn năm sau đó, sống lang bạt đầy bất an ở các vùng nông thôn nước Pháp do lệnh truy nã vẫn còn hiệu lực. Mãi đến 1770 mới về lại Paris, tiếp tục viết nhạc độ nhật.

Ta không quên mấy mốc lớn khác trong đời ông:

- 1749: đi bộ từ Paris đến nhà tù Vincennes thăm Diderot đang bị giam cầm, viết Luận văn thứ nhất về các ngành khoa học và nghệ thuật.

- 1754: viết Luận văn thứ hai về nguồn gốc và căn nguyên của sự bất bình đẳng giữa con người. Hai luận văn then chốt, xác lập vị trí riêng biệt của Rousseau trong đấu trường tư tưởng đương thời.

- 1763: chuẩn bị tư liệu cho tác phẩm Tự thú nổi tiếng, một loại tự truyện “tự phơi bày chính mình”, mô phỏng tác phẩm cùng tên của thánh Augustino thời trước.

-  1761, công bố tiểu thuyết dưới hình thức các bức thư: Nàng Heloise mới, mở màn thể loại tiểu thuyết diễm tình ở châu Âu (trong đó có Tình sầu của chàng Werther của Goethe).

- 1774, xuất bản Từ điển thuật ngữ thông dụng trong ngành thực vật học, và, 1776-1778, soạn tập thơ văn xuôi Những giấc mơ của kẻ bộ hành cô độc, tác phẩm lớn cuối cùng, khai mào cho nền văn học lãng mạn.

-  1778, về nghỉ ngơi ở lâu đài Ermenonville theo lời mời của bá tước de Girardin và mất ít lâu sau đó.

Một cuộc đời sóng gió, đầy ắp năng lực sáng tạo và lòng tự tin: “Tôi bắt tay vào một công việc vô tiền khoáng hậu. Tôi muốn cho mọi người thấy một con người tràn đầy mãnh lực tự nhiên, và con người ấy sẽ là chính tôi đây!” (Tự thú).

(Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 13, 12.12.2013)

Giê-su Có Thực Hay Không ? - Mark W. Thomas


Did Jesus Really Exist?
Mark W. Thomas
Người Dịch: Trần Thanh Lưu

24-Dec-2013
...Nhìn vào những bằng chứng chúng ta có. Từ các tác giả bức thư tông đồ Ki-tô giáo sớm nhất như Paul, chúng ta có rất ít sự kiện để cho thấy rằng Giê-su là một người thực sự. Trong khi đó, chúng ta có bằng chứng mạnh mẽ rằng ông chỉ là một thần linh, được xây dựng từ những huyền thoại trước đó. (Mark W. Thomas)
Như phần lớn người dân (đặc biệt là những kẻ Ki-tô từ bé, như tôi), tôi đã luôn luôn giả định rằng Chúa Giê-su Ki-tô có thực, tuy ngài có thể không phải là thần thánh gì. Sau khi xem xét các bằng chứng trong và ngoài cuốn Bible và Ki-tô giáo thời kỳ ban sơ, cùng với những huyền thoại thời bấy giờ, tôi đã phải kết luận rằng không có bằng chứng xác đáng nào cho thấy Giê-su đã thực sự tồn tại - và bằng chứng quan trọng lại cho thấy ông là huyền thoại hoàn toàn.
Bằng chứng Kinh Thánh
Câu chuyện thường được chấp nhận về Giê-su là một mớ hổ lốn các câu chuyện chủ yếu từ các sách Phúc Âm, từ Paul và các tác giả tông đồ khác, và từ sách Khải Huyền (the book of Revelation).
Trước hết, hãy tách rời các nguồn tin để xem các tác giả đã viết những gì. Làm việc này thực khó khăn bởi thực tế rằng đã có khá nhiều chỉnh sửa đáng kể, sao chép, và thậm chí giả mạo. Các tác giả, nhà biên tập và biện ký đã không đối xử với những tác phẩm ấy như là thiêng liêng bất khả xâm phạm và không thể đổi thay. Trái lại, họ thường xem những câu chuyện về Giê-su như những truyện kể có thể sửa đổi được để thúc đẩy ý đồ riêng của mình, hoặc để làm cho câu chuyện tốt hơn. [1]
Sách Khải Huyền không đưa ra hỗ trợ nào cho tính lịch sử của Giê-su và có thể bị loại bỏ dễ dàng như một nguồn đáng tin cậy, vì các cảnh giới khác thế gian đầy ảo giác của nó.
Các tài liệu tham khảo được biết đến sớm nhất về Giê-su là trong các tác phẩm của Paul (Phao-lồ, còn gọi là Saul ở Tarsus), người đã "ảo tưởng thấy" Giêsu khi ông trên đường đến Damascus. Bản ghi chép của Paul là một phần của các bức thư tông đồ, được viết sau năm 48 AD. Nếu đã có một Giê-su thực, thì Paul đã phải viết về cuộc sống và giáo lý của ngài. Ông đã làm không làm vậy (ngoại trừ một vài đoạn thêm vào mà ai cũng biết) [1].
Paul và các tác giả các bức thư khác - bao gồm Peter - dường như không biết bất kỳ chi tiết tiểu sử của cuộc đời Giê-su, hoặc thậm chí thời gian của cuộc sống trần gian của ngài. Họ không đề cập đến Bethlehem, Nazareth, Galilee, Calvary hoặc Golgotha ​​- hoặc bất kỳ cuộc hành hương nào đến những nơi đáng ra thiêng liêng của cuộc đời Giê-su. Họ cũng không đề cập đến bất kỳ phép lạ mà Giê-su được cho là đã làm, lời dạy của ngài về đạo đức, việc Chúa được trinh nữ sinh ra, việc xét xử ngài, ngôi mộ trống, hoặc thậm chí đến các môn đệ của Chúa. [1]
Tôi thấy điều này đáng kinh ngạc! Các chi tiết cơ bản nhất mà chúng ta được nghe nói về cuộc đời Chúa Giê-su đã không được các tác giả Ki-tô giáo sớm nhất biết đến. Không phải chỉ đơn giản là họ bỏ sót những chi tiết này. Có rất nhiều chỗ Paul và những người khác có thể đã nhắc nhở đến các môn đệ hay dùng thẩm quyền đạo đức của Chúa Giê-su để tô đậm quan điểm riêng của họ, nhưng họ đã không làm vậy. [1] Lời giải thích đơn giản là những chi tiết này đã chưa xuất hiện, và sẽ không tồn tại cho đến khi các sách Phúc Âm được viết khoảng hai mươi năm hoặc hơn sau đó.
Đối với các tông đồ viết thư, thì Giê-su dường như đã có ít hoặc không tồn tại trên trần thế. [2] Paul là một nhân chứng cho sự tồn tại thực của Giê-su, lại nói một cách rõ ràng rằng ông chưa bao giờ gặp Chúa Giê-su, nhưng chỉ thấy ngài trong "ảo ảnh". Paul và Peter ám chỉ mình là tông đồ (sứ giả - apostles), chứ không phải là môn đệ (kẻ đi theo bên thầy - disciples). Paul cho biết ông không thua kém các "siêu tông đồ" vốn rao giảng về một Chúa Giê-su khác (2 Corinthians 11:05 và 12:11), và rõ ràng ông đã chống đối với Peter (Galatians 2:11) – điều này không có nghĩa là Peter đã thực sự kề cận Chúa Giê-su. Paul cũng mô tả "ảo ảnh" của cả hai, mình và Peter, về Chúa Giê-su bằng cách sử dụng cùng một từ. [1] Điều này có nghĩa rằng Paul không nghĩ rằng Peter đã đi theo một Chúa Giê-su trần thế, nhưng (cũng như ông) một ông thần linh cứu thế trên trời, mà chỉ có thể biết được qua sự mặc khải. Vị cứu thế này là một người trung gian tinh thần giữa Thiên Chúa trên trời và con người dưới đất. Paul thậm chí thừa nhận rằng tất cả các ý tưởng của mình đến từ mặc khải và không từ bất kỳ người nào. [3] Nói cách khác, ông đã sáng tác ra hoặc lấy cảm hứng từ Thánh Kinh của người Do Thái (Jewish Scripture) và các tôn giáo khác. Hai đại biểu chính là Zoroastrianism và Mithraism, vốn có một trung tâm tại quê của Paul ở Tarsus.
Thánh Kinh Do Thái là nguồn chính cho Paul [1], có lẽ qua bản dịch tiếng Hy Lạp (gọi là Septuagint) [4]. Ông cho rằng sự hiện hữu trên trời của một kẻ tiên tri đã được tiết lộ cho ông bởi Thiên Chúa (Galatians 1:16) và trong Kinh Thánh, với Giê-su như là người trung gian tinh thần giữa Thiên Chúa trên trời và con người trần thế - không phải là một người sống ở thời gian vừa qua, nhưng như là một bí ẩn được che giấu trong nhiều thời đại đã qua [5], hoặc sẽ được tiết lộ. [6] Phao-lô thường ám chỉ Giê-su là "Đức Cứu thế - Ki-tô" (một thuật ngữ tâm linh). Ngay cả tên "Giê-su" xuất hiện đến 218 lần trong bản dịch Septuagint, vì vậy nó không phải là một tên mới cho những người quen thuộc với bản dịch [4]. Paul cũng không hề chỉ rõ ngay cả cuộc đời của Giê-su, cái chết hy sinh và sự sống lại xảy ra lúc nào, nhưng toàn ngụ ý rằng các sự kiện ấy đã từng xảy ra trong quá khứ tâm linh. Ông cũng đổ lỗi cho cái chết của Chúa Giê-su là do ác quỷ, không phải là do người Do Thái hay người La Mã như trong các sách Phúc Âm. Khái niệm về một vị cứu thế tòan vẹn, chịu hy sinh, bị làm nhục của Paul rút ra từ Isaiah 52-53 và Daniel 9. [1] Ý tưởng này đã giúp làm cho Ki-tô giáo phổ biến hơn trong các tầng lớp thấp kém trong hai thế kỷ đầu. Họ có thể đồng hóa với một người chân chính bị đóng đinh một cách bất công bởi giai cấp cầm quyền đáng khinh, nhưng người này cuối cùng đã chiến thắng. [7]
Một vấn đề khác với Paul là "ảo ảnh" nổi tiếng của ông về Giê-su có tất cả các dấu hiệu của một cơn động kinh não. Chúng ta biết rằng bệnh động kinh có thể gây ra ảo ​​tưởng tôn giáo, hyperreligiosity (mối quan tâm quá mức với tín ngưỡng), hypersexuality (quan tâm thái quá với vấn đề tình dục), và hypergraphia (một sự thôi thúc áp đảo để viết). Đây là tất cả các đặc tính có thể được dùng để mô tả Paul, như được tiết lộ trong các bức thư của mình. Có lẽ động kinh là "cái gai - thorn" đã dày vò ông, mà ông đề cập đến trong 2 Corinthians 12:7. Chúng tôi cũng có thể nói rằng người ta đã buộc tội Paul nói dối, bởi vì ông đã cố gắng bảo vệ mình trong Rô-ma 3:5-8.
Những tham khảo Kinh Thánh chính về Giê-su là từ các sách Phúc Âm, được viết bởi cá tác giả vô danh sau năm 70 CE (và rất có thể nhiều thập kỷ sau). Trong một xã hội bán khai và mê tín dị đoan, đó là một thời gian dài sau khi cuộc sống giả định của Giê-su - một thời gian dài cho huyền thoại phát triển. Hầu hết các học giả đều đồng ý rằng đề cập đến đầu tiên của những gì chúng ta gọi là các sách Phúc Âm là do Papias trong khoảng năm 140 CE [8], tuy ông ta chỉ ám chỉ các cuốn Mark và Matthew. Tất cả bốn sách Phúc Âm lần đầu tiên được nêu tên vào năm 180 CE, bởi Irenaeus của thành Lyons. [8]
Mark là cuốn Phúc Âm sớm nhất. Nó sai ngữ pháp [9] và phản bội tác giả của nó về sự thiếu kiến thức về địa lý và tình hình xã hội của Palestine - cho thấy rằng tác giả không phải là người địa phương. [8], [10] Luke sao chép các lỗi về địa lý (Luke 8), trong khi Matthew thay đổi vị trí và số lượng những người đàn ông (Matthew 8). [8] Tác giả của cuốn Mark cũng đã sai lầm khi cho Giê-su trích lời từ bản dịch tiếng Hy Lạp của Thánh Kinh Do Thái (the Septuagint), thay vì từ bản tiếng Do Thái gốc. [8] Cả Mark và John bắt đầu với chuyện Giê-su đã là một người đàn ông trưởng thành - không có chuyện sinh ra từ đồng trinh, ngôi sao kỳ diệu, hay những câu chuyện thời thơ ấu khác. Một trường hợp mạnh mẽ có thể được nêu ra là phúc âm của Mark đã được viết như một lối kể lại của sử thi Homer. [11]
Các sách Phúc Âm của Matthew và Luke không đồng ý với năm và các chi tiết khác của Chúa Giê-su giáng sinh, bao gồm cả dòng dõi của ngài. Matthew cho ngài đã sinh ra tại nhà Joseph ở Bethlehem, dưới triều đại của Herod the Great (vốn đã chết trong năm 5 hoặc 4 trước Công nguyên, BC). Luke cho rằng ngài đã sinh ra tại một chuồng bò trong thời kỳ điều tra dân số tiến hành bởi Quirinius trong năm 6 CE - một sự khác biệt của ít nhất 9 năm! Matthew đã không viết về điều tra dân số, và Luke đã không viết về những nhà thông thái hay Herod "tàn sát những kẻ vô tội.” Matthew và Luke không đồng ý dữ dội trên gia phả của Giê-su, thậm chí cả ông nội của ngài. (Matthew 1:16, Luke 3:23).  Thêm vào đó, các danh sách trong Matthew và Luke khác nhau từ 1 Chronicles 3. Lưu ý rằng ngay cả bản liệt kê tổ tiên nam của Chúa Giê-su không phù hợp với học thuyết của một trinh nữ sinh ra (điều đã được thêm vào sau đó trong quá trình huyền thoại hóa). Một số nhà biện giải cho rằng Luke liệt kê gia phả của Bà Maria, nhưng đó là điều không thể được bởi vì Bà Maria không được đề cập đến và vì vào thời điểm đó người ta nghĩ phụ nữ không đóng góp bất kỳ vết di truyền nào cho một em bé, nhưng được coi như là một cánh đồng màu mỡ cho hạt giống (tiếng Hy Lạp: "tinh trùng”) được gieo trồng.
Nếu các sách Phúc Âm được viết bởi những chứng nhân​​, tại sao họ chờ đợi quá lâu và tại sao họ không mô tả về Chúa Giê-su? Tại sao các sách Phúc Âm được viết chủ yếu dưới dạng người thứ ba (như một câu chuyện), thay vì dưới dạng người đầu tiên? Các sách Phúc Âm thường trích dẫn tư tưởng hay lời nói của Chúa Giê-su khi ông ở một mình hoặc với người khác. Đây là những ví dụ về những câu chuyện hư cấu, không lịch sử. Tại sao các sách Phúc Âm của Matthew và Luke lại đạo văn của Mark (và thêm những câu chuyện thời thơ ấu)?  Trong 666 câu gốc của Mark, thì 600 xuất hiện trong Matthew (với ngữ pháp cải thiện), khoảng 300 trong Luca. [9] Phúc âm của Matthew lại kỳ quặc đề cập đến Matthew ở ngôi thứ ba. Phúc âm của Luke nói rằng nó đã được viết như sự kể lại những câu chuyện trước. Phúc âm của John cũng kỳ quặc ám chỉ đến tác giả của nó lại ở ngôi thứ ba, và hầu như không đề cập gì đến Chúa Giê-su như là một người thực có một cuộc sống thực. Cũng như Paul, tác giả đã xem Chúa Giê-su phần lớn là một ông thần trời.
Chúng ta biết rằng các sách Phúc Âm đã được thay đổi theo thời gian, với các chỉnh sửa và lỗi của các biện ký (transcribers), và thậm chí sai biệt trọng yếu giữa các bản dịch khác nhau. [8] Các học giả Kinh Thánh đã chỉ ra rằng mười hai câu thơ cuối của Mark (16:9-20) đã được thêm vào trong thế kỷ thứ hai, hình như cung cấp thêm các hoạt động của Chúa Giê-su sau khi sống lại. Những câu chuyện về Chúa Giê-su và phụ nữ ngoại tình (một chuyện tôi yêu thích bởi vì nó dạy bảo trách nhiệm cá nhân) không có trong phúc âm ban đầu của John. Bằng chứng cho thấy rằng nó có thể đã được thêm vào trong thời Trung Cổ. [12]
Tại sao chúng ta phải tin vào các tác giả và biên tập viên vô danh của các sách Phúc Âm? Làm thế nào để chúng ta biết rằng họ không phải là lập dị hoặc cố ý viết tiểu thuyết? Thậm chí chúng tôi có thể nói rằng các tác giả đã cố gắng làm trọn cho hợp với lời tiên tri của Kinh Thánh (Do Thái), bởi vì họ đã nhận thấy nó sai ở nhiều nơi: [13]
- Giê-su sinh ra tại Bethlehem (không đúng) cho hợp với Micah 5:2.
- Matthew và Luke không đồng ý về gia phả của Giê-su, và tương tự với sự ra đời đồng trinh. Mẹ Maria là một trinh nữ (không đúng) cho hợp với Isaiah 07:14.
- Gia đình của Giê-su đã đi đến Ai Cập (không đúng) cho hợp với Hosea 11:1.
- Herod đã “giết hại những người vô tội" (không đúng) cho hợp với Jeremiah 31:15.
- Giê-su từ Nazareth tới (không đúng) cho hợp với Judges 13:05.
- Trong ngày Lễ Lá (Palm Sunday) Giê-su không thể nào cưỡi hai con vật cùng một lúc (không đúng) cho hợp với Zechariah 09:09.
- Bàn tay và bàn chân của Giê-su đã bị đóng đinh trên thập tự giá (không đúng) cho hợp với bài Thánh Vịnh Psalm 22:16.
- Judas đã được trả 30 đồng bạc (không đúng) cho hợp với Zechariah 11:12.
Thậm chí có bằng chứng đáng tin cậy rằng tại thời điểm của Giê-su, Nazareth đã không có người ở. [8], [14], [15]. Trong một nỗ lực để chứng minh rằng Chúa Giê-su hoàn thành lời tiên tri Kinh Thánh (Do Thái), tác giả vô danh của Matthew dường như nhầm lẫn "Nazareth" và "Nazarene" (một người từ Nazareth) với "Nazirite" (một người đàn ông sống riêng và đã thực hiện một lời thề kiêng khem). [13]
Tiếng mẹ đẻ của các tác giả
Những sai sót này không quá ngạc nhiên nếu bạn nhận ra rằng tiếng mẹ đẻ của các tác giả có lẽ là tiếng Aram, còn (Cựu Ước) Kinh Thánh có gốc gác bằng tiếng Hebrew (Do Thái), và họ đã viết các sách Phúc Âm bằng tiếng Hy Lạp.
Tất cả điều này loại bỏ các sách Phúc Âm như bất kỳ chuyện kể của nhân chứng đáng tin cậy. Để hiểu rõ thêm về độ tin cậy của phép lạ hoặc những nhân chứng​​, đây là các lời trích hữu ích:

David Humes
“Không có đủ bằng chứng để thiết lập một phép lạ trừ phi sự dối trá của lời chứng rằng có như vậy còn mang nhiều phép lạ hơn so với nỗ lực để thiết lập thực chứng.”
- David Hume , Trong Miracles (1748 )


“Có nhiều khả năng rằng sự tự nhiên đã đi lạc ra ngoài các quá trình diễn tiến, hoặc con người nói dối? Chúng tôi chưa bao giờ thấy, trong thời đại chúng ta, tự nhiên đã đi lạc ra ngoài các quá trình diễn tiến, nhưng chúng tôi có lý do vững chắc để tin rằng hàng triệu lời nói dối đã được kể lại trong cùng thời, do đó, đã có ít nhất là hàng triệu đối một, là kẻ kể lại một phép lạ nói dối."
- Thomas Paine , The Age of Reason (1794 )
dan Barker
"Đó là một thực tế lịch sử và các sự kiện đồng thời rằng con người phóng đại, hiểu sai, hoặc nhớ sai sự kiện. Họ cũng đã giả mạo gian lận đạo đức. Hầu hết các tín đồ trong một tôn giáo hiểu rõ điều này khi kiểm tra những xác quyết của các tôn giáo khác."
- Dan Barker [16]
Nhà nghiên cứu lịch sử Ki-tô giáo David Fitzgerald đã viết, "Trong các tác phẩm Ki-tô giáo ban sơ, như bảy bức thư chân thật của Paul, Đức Ki-tô là một nhân vật tâm linh tiết lộ trong Kinh Thánh Do Thái, chứ không phải là một nhân vật lịch sử gần đây. Nhiều thập kỷ sau đó, tác giả vô danh của những gì chúng ta gọi là "Phúc Âm theo Mark” đã viết một câu chuyện ẩn dụ về Chúa Ki-tô thần thoại này trong xứ Judea trước chiến tranh, vay mượn từ nhiều họa tiết tôn giáo và văn học cổ đại.
Ý tưởng về một Chúa Cứu thế đến trần gian không thể cưỡng lại được, về sau tín đồ Ki-tô thích câu chuyện và không thể không tự ý sửa chữa, bổ sung văn bản của 'Mark', biến một sáng tạo hoàn toàn văn học thành cơ sở tiểu sử tưởng tượng của riêng họ.
Hàng chục các sách Phúc Âm được viết, và vài thế kỷ sau đó bốn cuốn được lựa chọn cuối cùng để tạo thành cuộc mở đầu cho bộ Tân Ước quen thuộc của chúng ta." [17]
Một số tín đồ Ki-tô tiên khởi thậm chí thừa nhận nguồn gốc thần thoại của Ki-tô giáo. Tranh cãi với những người tà đạo đa thần (pagans) khoảng năm 150 CE, Justin Martyr nói: "Khi chúng tôi nói rằng Lời Chúa (Ngôi Lời), là đứa con đầu của Thiên Chúa, được sinh ra mà không cần giao hợp tính dục, và rằng chính ngài, Chúa Giê-su Ki-tô, người thầy của chúng tôi, đã bị đóng đinh và chết, và sống lại, và lên trời; chúng tôi đề xuất không có gì khác với những gì quí vị tin liên quan đến những người mà quí vị coi trọng, các con trai của thần Jupiter  (Zeus)." [16]
Những câu chuyện về Giê-su sặc mùi thần thoại, với phép thuật được thêm vào như là những câu chuyện được lập lại theo thời gian. [16] Nếu các Ki-tô hữu đầu tiên nghĩ về Chúa Giê-su như một thần linh trên trời, sự xuất hiện của ngài trong các sách Phúc Âm sau đó như là một người sống thì phải là một sáng tạo hư cấu.
Một số người cho rằng nhiều người trong số các môn đệ và tông đồ của Chúa Giêsu đã chết cho niềm tin của họ, và điều này chứng tỏ rằng Chúa Giê-su đã phải tồn tại và thần thánh. Tuy nhiên, chúng tôi thậm chí không biết nếu các môn đồ (của Giê-su) đã tồn tại, và càng mù mờ việc họ đã qua đời như thế nào. Tất cả các thông tin về họ xuất phát từ các câu chuyện về sau và Kinh Thánh, mà chúng tôi đã nhìn thấy có rất nhiều vấn đề. Ngay cả khi những câu chuyện về các tông đồ là đúng sự thật, họ đã có thể dễ dàng bị hoang tưởng hoặc điên cuồng.
Các Tôn Giáo và Thần Thoại Khác Cùng Thời
Nghiên cứu các tôn giáo khác và những huyền thoại cùng thời, và các phiên bản cạnh tranh nhau (không chính thống) của Ki-tô giáo, thực là rối rắm bởi thực tế là nhiều văn bản và tài liệu tham khảo không được sao chép hoặc đã bị phá hủy bởi các tín đồ Ki-tô cuồng tín (đặc biệt là trong thờ kỳ đốt sách ở thế kỷ thứ tư và thứ năm). Một khi một giáo phái Ki-tô giáo đã đạt được quyền lực chính trị tuyệt đối dưới thời Hoàng đế Constantine trong thế kỷ thứ tư, đối thủ được buộc phải khuất phục bởi mối đe dọa của cái chết, nhà tù, hoặc tịch thu tài sản. [7]
Ki-tô giáo có nhiều điểm tương đồng với những gì chúng ta biết về các tôn giáo trước đó từ Hy Lạp, Ba Tư, Ai Cập và vẫn còn những nơi khác - và như thế không có nghĩa là độc nhất. Có hơn một chục vị thần và vị cứu thế khác (Mithra, Osiris / Serapis, Inanna / Ishtar, Horus, Perseus, Bacchus, Attis, Hermes, Adonis, Hercules / Heracles, Tammuz, Asclepius, và Prometheus), những vị đã sống lại sau cái chết bạo lực. Nhiều vị thần trong số này đã có ngày sinh của họ được báo trước bằng các vì sao, đã có một người mẹ đồng trinh và cha thần thánh (hoặc những lối sinh kỳ diệu khác), hoặc có bạo chúa tìm cách giết họ khi còn sơ sinh.
1.  2.   3.
  4.   5.   6.   7.
  8.   9.   10.
  11.   12.   13.
1. Adonis.   2. Asklepios   3. Attis   4. bacchus   5. Heracles_Hercules   6. Hermes   7. Horus   8. Ishtar   9. Mithra   10. Perseus   11. Prometheus.   12. Serapis   13. Tammuz
Hai ngày lễ Ki-tô giáo chính đã được kết hợp từ các nghi lễ ngoại giáo trước đó và các lễ hội. Phục sinh (gần xuân phân, và với các biểu tượng khả năng sinh sản của thỏ và trứng) được đặt tên theo nữ thần Eostre của ngoại đạo Anglo-Saxon. Giáng sinh trước đây là lễ hội Saturnalia của La Mã (giành cho thần Saturn), và hơn một chục vị thần được sinh ra vào ngày 25 tháng 12 (đông chí cũ, khi mặt trời được "tái sinh" và bắt đầu vươn lên bầu trời) - Giê-su, Mithra, Zeus / Jupiter, Horus, Attis, Dionysus, Adonis, Tammuz, Hercules / Heracles, Perseus, Bacchus, Apollo, Helios, và Sol Invictus.
Mithra đã có hầu hết các điểm tương đồng với Giê-su. Mithra được sinh ra trong những hoàn cảnh rất khiêm tốn với các mục tử canh chừng, có mười hai môn đệ (như trong mười hai dấu hiệu của hoàng đạo), khiến người chết sống lại, thường được miêu tả với một vầng hào quang, và được gọi là "Ánh sáng của thế giới - The Light of the World" và "Đấng Chăn Chiên - The Good Shepherd." Sau khi ông qua đời, ông đã tham gia cùng Thiên Chúa để phán xét các linh hồn của người chết. Qua ngài tội nhân có thể được tái sinh vào sự sống đời đời. Vì Mithra là một vị thần mặt trời, ông được tôn thờ vào các ngày chủ nhật. Những tín đồ theo ông đã có bữa ăn nghi lễ bánh và rượu, biểu tượng cho xương và thịt của ngài. Không ngạc nhiên Mithra giáo (Mithraism) tàn lụi dần khi Ki-tô giáo lan rộng.
Cổ tục Kitô giáo về Thánh Thể - Eucharist (với bánh và rượu) có thể đã được bắt nguồn từ Mithra giáo bởi Paul, bởi vì việc uống máu trong Do Thái giáo luôn luôn là một điều ghê tởm.
Nhà thủ cựu Robert M Price trước đây đã viết, "Trong phác thảo và trong chi tiết, đời sống của Chúa Giê-su được mô tả trong các sách Phúc Âm tương đồng với Nguyên mẫu Anh hùng Huyền thoại trên toàn thế giới (worldwide Mythic Hero Archetype), qua đó sự ra đời của một anh hùng thần thánh đã được dự đoán và thụ thai một cách siêu nhiên, đứa trẻ anh hùng thoát khỏi mọi nỗ lực tìm giết ông ta, ngay khi còn là một đứa trẻ đã lộ rõ sự khôn ngoan sớm phát triển của mình, nhận được một sự ủy thác thần thánh, đánh bại ma quỷ, chiến thắng được ca ngợi, được xưng tụng là vua, sau đó bị phản bội, mất dần sự quí mến của quần chúng, bị hành xử, thường là trên một đỉnh đồi, rồi được minh oan và được đưa lên thiên đàng. " [18]
Bằng chứng ngoài Kinh Thánh
Đối với tính lịch sử ngoài Kinh Thánh của Giê-su, thì hoàn toàn không có bằng chứng đương thời đáng tin cậy rằng ngài đã từng sống bao giờ. Không có một ghi chép nào về ngài trong bất kỳ sử của thế kỷ thứ nhất. Nếu Giê-su đã tồn tại hoặc nếu những sự kiện ngoạn mục trong các sách Phúc Âm thực sự xảy ra, họ sẽ được ghi nhận bởi nhiều văn gia - trong đó có Philo của thành Alexandria (đã viết rất nhiều về xứ Judea trong thời gian cho là có Chúa Giê-su), Seneca the Elder, Pliny the Elder, Justus của Tiberius, và hơn ba mươi người khác. [8], [17] Không ai trong số những người này nhắc gợi đến Giê-su hay các sự kiện tưởng tượng trong Kinh Thánh.
Philo_of_Alexandria_su gia Seneca the Elder Pliny the Elder
Từ trái: Philo của thành Alexandria, Seneca the Elder, Pliny the Elder
Các tài liệu tham khảo ngoài Kinh Thánh sớm nhất nhắc đến Giê-su hay Chúa Cứu thế Ki-tô nằm trong một đoạn và một câu trong các tác phẩm (khoảng 93 CE) cho là từ sử gia Do thái Josephus Flavius ​​(người cũng đã viết về Hercules). Dưới đây cho là những tài liệu tham khảo, trong cuốn Thời Cổ Đại Do Thái (The Jewish Antiquities) của ông:
18.3.3 - "Khoảng thời gian này có Giê-su, một người đàn ông khôn ngoan, nếu thực sự người ta phải gọi ông ta là một người đàn ông. Vì ông là một trong những người thực hiện những hành động đáng ngạc nhiên và là một thầy dạy của những người hài lòng chấp nhận sự thật như vậy. Ông đã giành được cảm tình của nhiều người Do Thái và nhiều người Hy Lạp. Ông là Đấng Cứu Thế. Và khi có những lời buộc tội của những kẻ thủ phạm chính giữa chúng ta, Pilate đã kết án Ngài trên thập tự giá, những người đến lần đầu yêu thương ngài đã không sút giảm. Ngài xuất hiện trước họ trong ngày thứ ba sống lại, vì các tiên tri của Thiên Chúa đã báo trước những điều này và hàng ngàn chuyện tuyệt vời khác về ngài. Và bộ tộc của các Kitô hữu, được gọi theo ngài như vậy, vẫn còn cho đến ngày nay không biến mất."
20.9.1 - " ... đưa ra trước họ người anh em của Giê-su, người được gọi là Chúa Cứu thế, tên là James ... "
Câu cú quả là quá ngắn để có nhiều ý nghĩa. Cụm từ "người được gọi là Chúa Cứu thế” vụng về và có thể đã được chèn vào bởi một biện ký. Thêm vào đó, một vài dòng sau Josephus đề cập đến Giê-su, con trai của Damneus. Đây có thể là ám chỉ Giê-su đề cập đến trong câu. [17] Đoạn này trông giống như nói về tất cả mọi thứ một tín đồ Ki-tô có thể trông ngóng, để chứng minh rằng Giê-su thực sự tồn tại. Thật không may, rõ ràng đó là một câu chèn nhét về sau - gần như chắc chắn được tạo ra bởi "sử gia nhà thờ" Eusebius, người đầu tiên đề cập đến nó ngay trước khi Công đồng Nicea của Hoàng đế Constantine vào năm 325 CE.
http://www.vision.org/visionmedia/article.aspx?id=537 Eusebius Pamphilus: Cha để của lịch sử nhà thờ.
Ảnh http://www.vision.org/
Chúng tôi biết điều này vì nhiều lý do:
Mặc dù tác phẩm của Josephus đã được đọc rộng rãi, không một tín đồ Ki-tô hoặc học giả trước Eusebius đề cập đến nó, đặc biệt là không phải học giả Ki-tô giáo Origen, mà Eusebius sử dụng thư viện của ông. [8], [17]
Origen Adaman (trái) - Josephus (phải)
Origen thậm chí đã viết rằng Josephus không tin vào Chúa Giê-su Ki-tô. [8]
Nếu người ngoan đạo Do Thái Josephus đã thực sự nghĩ rằng Chúa Giê-su là Đấng Thiên Sai, thì ông đã trở thành một tín đồ Ki-tô.
Nó không chắc rằng Josephus gọi người Do Thái cáo buộc là "những kẻ thủ phạm chính giữa chúng ta."
Chưa bao giờ có một "bộ tộc của các Kitô hữu."
Văn bản tác phẩm của Josephus vẫn còn tồn tại, mà lại thiếu đề cập đến Giê-su. [8]
Phong cách của đoạn văn hoàn toàn khác triệt để với phần còn lại của tác phẩm của ông. Đoạn văn đã được tách ra khỏi bối cảnh với các câu đoạn xung quanh nó, và làm gián đoạn dòng câu chuyện. Đoạn tiếp theo khởi đầu, “Cùng thời cũng xảy ra một tai họa buồn thảm đưa dân Do Thái vào rối loạn..." Đoạn này ám chỉ đến đoạn trước, nơi Pilate đã cho binh lính của mình tàn sát một đám đông lớn của người Do Thái ở Jerusalem.
Josephus đã viết rộng rãi về nhiều dân thiểu số vào giai đoạn ấy. Một đoạn và câu duy nhất cho Đấng Cứu Thế là không thể xảy ra.
Nếu xóa bỏ hai tài liệu tham khảo giả này ra khỏi tác phẩm của Josephus, ông trở thành bằng chứng tiêu cực mạnh mẽ nói về Giê-su. Nếu Giê-su đã tồn tại, Josephus đã phải viết nhiều về ngài.
Có một số tài liệu được cho là tham khảo ở thế kỷ thứ hai về tín đồ Ki-tô hoặc Chúa Ki-tô – bởi một số người. Trong khoảng năm 100 CE, Pliny the Younger nói đến tín đồ Ki-tô ở Tiểu Á, nhưng ông đã không đề cập đến Giê-su.
Tài liệu tham khảo sử dụng nhiều nhất về tín đồ Ki-tô từ thế kỷ đó do sử gia La-Mã Cornelius Tacitus (55-120 CE). Ông tự nhận là đã viết khoảng năm 117 CE về "Christos" bị hành quyết bởi Pontius Pilate. Tuy nhiên Tacitus đã sử dụng tên của Giê-su, mà không phải danh hiệu tôn giáo "Christos.” Đáng chú ý là tham khảo của Tacitus không được đề cập bởi Origen, Eusebius, Tertullian (những người trích dẫn rất nhiều từ Tacitus [8]) hoặc Clement của Alexandria trong thế kỷ thứ ba. Nó có thể đã được thêm vào trong năm 1468 bởi Johannes de Spire của Venice, bởi vì không có đề cập nào như thế được thực hiện trong bất kỳ văn bản được biết đến trước đó, nhưng có rất nhiều tham khảo sau đó. [8], [19] Một văn gia, Suetonius, trong khoảng 120 CE gọi một người tên là Chrestus và những đồ đệ người Do Thái của ông ta. Tuy nhiên, "Chrestus" là dạng Latin chính xác của một tên thực Hy Lạp, và không phải là một lỗi chính tả của "Christos."
Cornelius Tacitus Josephus (trái) và Tacitus (phải)
Ngay cả nếu tài liệu tham khảo của Josephus, Tacitus, và những người khác trong thế kỷ thứ hai là nguyên gốc, chúng cũng chỉ là chứng cứ hạng hai hoặc tin đồn được viết 60 năm hoặc nhiều năm sau khi các sự kiện chủ định được mô tả, hoặc chỉ đơn giản đề cập đến niềm tin Ki-tô giáo của thời bấy giờ. Thực tế là các tín đồ Ki-tô hiện đại phải dựa vào các tài liệu tham khảo giả định này đã minh thị cho sự yếu ớt của luận điệu về một Chúa Giê-su Ki-tô lịch sử.
Một số người nghĩ rằng tấm vải liệm Turin là bằng chứng cụ thể cho sự tồn tại của Chúa Giê-su. Tuy nhiên, phân tích khoa học cho thấy rằng tấm vải liệm là giả mạo. Nó chỉ ra một người đàn ông có hai phân (inch) cao phía trước hơn ở phía sau, "máu" của tấm vải thực sự là đất son màu đỏ sắc tố (máu thực sự sẽ là màu đen), và nó được định vị carbon khoảng từ 1260-1390 CE (phù hợp với khi nó được đầu tiên "phát hiện" vào năm 1357). Thực là lố bịch khi nghĩ rằng tấm vải liệm đã được giấu kín trong hơn 1300 năm cho đến khi quân thập tự viễn chinh đến Trung Đông, tìm kiếm đồ lưu niệm để mang về nhà (giống như hầu hết khách du lịch). Một số đầu nậu làm đồ giả đã có khả năng thực hiện cả một bó.
Nó có thể là "Câu Chuyện Vĩ Đại Nhất Được Kể Từ Trước Đến Nay - The Greatest Story Ever Told” thuần túy chỉ là một câu chuyện? Một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất trong lịch sử chỉ là một huyền thoại? Có hàng tỷ người tin vào một Chúa Cứu Thế hư cấu? Đã có người chết cho đức tin Ki-tô giáo của họ một cách vô ích? Điều này không phải là quá xa vời, mọi người luôn tin những lời nói dối trong mọi thời kỳ, và thậm chí giết hoặc chết cho chúng hoặc cho tôn giáo của họ. Nhìn vào Jonestown, Cổng Thiên đàng (Heaven's Gate), Đền thờ Mặt trời (the Solar Temple), 11/9, các tên đánh bom tự sát, và gần như vô số các cuộc chiến tranh và tàn sát dựa hoàn toàn vào tôn giáo.
Bởi vì tâm trí của nhiều người bị nhiễm độc tôn giáo, họ không muốn đặt câu hỏi về sự tồn tại của vị cứu tinh hay tiên tri của họ. Tôn giáo khiến cho người ta chấp nhận những ý tưởng bất hợp lý với ít hoặc không có bằng chứng. Nếu tôi nói rằng que kem chuối có thể làm cho mọi người tàng hình, hầu hết mọi người có thể sẽ yêu cầu một ít bằng chứng. Nhưng, một cuốn sách rất cũ mô phỏng huyền thoại khác của thời đại và nói rằng 2000 năm trước, có một gả được sinh ra với một con ma là cha mình và một trinh nữ là mẹ mình, gả này đã làm phép lạ, đã bị giết chết, đã sống lại, và thăng lên trời - và hàng tỷ người chấp nhận câu chuyện dường như không mảy may thắc mắc.
Vì vậy, hãy nhìn vào những bằng chứng chúng ta có. Từ các tác giả bức thư tông đồ Ki-tô giáo sớm nhất như Paul, chúng ta có rất ít sự kiện để cho thấy rằng Giê-su là một người thực sự. Và, chúng ta có bằng chứng mạnh mẽ rằng ông chỉ là một thần linh trên trời, được xây dựng từ những huyền thoại trước đó. Từ các văn gia sau này (và vô danh) của các sách Phúc Âm, chúng ta có một câu chuyện lớn theo thời gian, với các sự kiện không tưởng được thêm vào như câu chuyện đã được kể đi và kể lại - chỉ là một huyền thoại. Ngay cả không ai trong số các tác giả phúc âm tuyên bố đã gặp Giê-su. Từ các nhà sử học của thế kỷ thứ nhất, chúng ta không có gì. Chẳng có gì.
Để biết thêm về tính lịch sử Ki-tô giáo và chủ nghĩa vô thần, xem
Các đề mục thảo luận về Chúa
và
www.godlessgeeks.com/WhyAtheism.htm
Source http://www.godlessgeeks.com/JesusExist.htm
Bản quyền © 2009, 2010, 2011.
Mark W. Thomas
____________
Tham Khảo:
[1] The Jesus Puzzle by Earl Doherty, www.jesuspuzzle.com
[2] PAUL ON JESUS - Hebrews 8:4 — “If he were on earth, he would not be a priest, for there are already men who offer the gifts prescribed by the law.”
[3] PAUL ON THE SOURCE OF THE JESUS STORY - Galatians 1:11,12 — “I want you to know, brothers, that the gospel I preached is not something that man made up. I did not receive it from any man, nor was I taught it; rather, I received it by revelation from Jesus Christ.”
[4] "Does Paul's First Epistle to the Corinthians reveal a 'historical' Jesus?" by Acharya S, tinyurl.com/3l5g75o
[5] PAUL ON THE SOURCE OF THE JESUS STORY - Romans 16:25-26 — “Now to him who is able to establish you by my gospel and the proclamation of Jesus Christ, according to the revelation of the mystery hidden for long ages past, but now revealed and made known through the prophetic writings ...”
[6] PAUL ON THE SOURCE OF THE JESUS STORY - 1 Corinthians 1:7 — “Therefore you do not lack any spiritual gift as you eagerly wait for our Lord Jesus Christ to be revealed.”
[7] Not the Impossible Faith, by Richard Carrier, secweb.infidels.org/?kiosk=books&id=1017
[8] “Did Jesus Even Exist?” by Frank Zindler, www.atheists.org/Did_Jesus_Exist?
[9] “Did a historical Jesus exist?” by Jim Walker, www.nobeliefs.com/exist.htm
[10] In Mark 5 and Luke 8, Jesus went to the country of the Gerasenes, transferred demons from a man into 2000 pigs, and drowned them in the sea.  However that was about 31 miles from Galilee, the nearest sea.  The King James translators realized his, and changed the location to “the country of the Gadarenes,” which was close to the sea.  Later translators used the original.  [Check out translations of Matthew 8 for different locations.] In Mark 10, Jesus said that a woman could divorce her husband, which was impossible in Palestine at that time.
[11] “The Homeric epics and the Gospel of Mark” by Dennis MacDonald, isbndb.com/d/book/the_homeric_epics_and_the_gospel_of_mark.html
[12] Misquoting Jesus: The Story Behind Who Changed the Bible and Why, by Bart Ehrman
[13] DID JESUS FULFILL PROPHESY?  [NOTE: It was easy to “fulfill prophesy” if they wrote the stories.]
THE PROPHESIED COMING OF ISRAEL'S RULER - Micah 5:2 — But you, Bethlehem Ephrathah, though you are small among the clans of Judah, out of you will come for me one who will be ruler over Israel, whose origins are from of old, from ancient times.
THE BIRTH OF JESUS FORETOLD - Luke 1:32,33 — [Jesus] will be great and will be called the Son of the Most High. The Lord God will give him the throne of his father David, and he will reign over the house of Jacob [Israel] forever; his kingdom will never end.  [NOTE: Jesus never reigned over Israel.]
FALSE PROPHESY - Isaiah 7:14 — Therefore the Lord himself will give you [King Ahaz] a sign: The virgin will be with child and will give birth to a son, and will call him Immanuel.  [NOTE: The original word (“almah”) in Hebrew meant maiden, not virgin (“betulot”).  The context also shows that this was meant for its time, not about 700 years later.  In addition, 2 Chronicles 28 shows that King Ahaz lost the battle. And, Jesus was never called Immanuel in the Bible.]
THE PROPHESIED NAZIRITE - Judges 13:5 — “ ...because you will conceive and give birth to a son. No razor may be used on his head, because the boy is to be a Nazirite, set apart to God from birth, and he will begin the deliverance of Israel from the hands of the Philistines.” [NOTE: This actually referred to Samson, not Jesus (about 1100 years later).]
NAZARETH, NAZARENE, NAZIRITE CONFUSED - Matthew 2:23 — [Joseph] went and lived in a town called Nazareth. So was fulfilled what was said through the prophets: “He will be called a Nazarene.” [NOTE: “Nazarene” and “Nazareth” are never used in the Old Testament.]
ISRAEL (JESUS?) IN EGYPT - Hosea 11:1 — “When Israel was a child, I [God] loved him, and out of Egypt I called my son.”  [NOTE: This denotes a past event, not one over 700 years later. It likely referred to the mythical exodus of the Jews from Egypt.]
JESUS IN EGYPT - Matthew 2:13-15 — When they had gone, an angel of the Lord appeared to Joseph in a dream. “Get up,” he said, “take the child and his mother and escape to Egypt. Stay there until I tell you, for Herod is going to search for the child to kill him.” So he got up, took the child and his mother during the night and left for Egypt, where he stayed until the death of Herod. And so was fulfilled what the Lord had said through the prophet: “Out of Egypt I called my son.”
PROPHESY OF THE “SLAUGHTER OF THE INNOCENTS” - Jeremiah 31:15 — This is what the LORD says: “A voice is heard in Ramah, mourning and great weeping, Rachel weeping for her children and refusing to be comforted, because her children are no more.”  [NOTE: Matthew 2:18 refers to this, but Ramah was on the other side of Jerusalem from Bethlehem.  Also, a 600 year-old tale of one woman weeping for her children hardly conveys the magnitude of the supposed slaughter.]
HEROD'S “SLAUGHTER OF THE INNOCENTS” - Matthew 2:16 — When Herod realized that he had been outwitted by the Magi, he was furious, and he gave orders to kill all the boys in Bethlehem and its vicinity who were two years old and under. [NOTE: Herod's “slaughter of the innocents” is not recorded by any historian of the time or in any other gospel. However, it fulfilled a common story line for saviors.]
THE PROPHESIED COMING OF ZION'S KING - Zechariah 9:9 — Rejoice greatly, O Daughter of Zion! Shout, Daughter of Jerusalem! See, your king comes to you, righteous and having salvation, gentle and riding on a donkey, on a colt, the foal of a donkey.
JESUS RIDES TWO ANIMALS AT ONCE! - Matthew 21:7 — They brought the donkey and the colt, placed their cloaks on them, and Jesus sat on them. [NOTE: A person can't sit on the backs of two animals. The author mistranslated Zechariah 9:9, which actually meant one animal.]
CRUCIFICTION FORETOLD? - Psalm 22:16 — Dogs have surrounded me; a band of evil men has encircled me, they have pierced my hands and my feet.
JUDAS' PAYMENT FORETOLD? - Zechariah 11:12 — I told them, “If you think it best, give me my pay; but if not, keep it.” So they paid me thirty pieces of silver.
[14] The Myth of Nazareth, by Rene Salm, www.nazarethmyth.info
[15] "Nazareth – The Town that Theology Built" by Kenneth Humphreys, www.jesusneverexisted.com/nazareth.html
[16] “Did Jesus Really Rise From The Dead?” by Dan Barker, ffrf.org/legacy/about/bybarker/rise.php
[17] Nailed: Ten Christian Myths that Show Jesus Never Existed At All, by David Fitzgerald, www.amazon.com/Nailed-Christian-Myths-Jesus-Existed/dp/0557709911
[18] “Christ a Fiction” by Robert M Price, www.infidels.org/library/modern/robert_price/fiction.html
[19] “Fictional Christ” by Dennis McKinsey, skeptically.org/newtestament/id6.html

Giải bí ẩn con số 666 của quỷ Sa-tăng

(Kienthuc.net.vn) - Người phương Tây sợ con số 666 vì họ cho đó là dấu ấn kinh khủng của quỷ Sa-tăng. Vì sao vậy?

Không chỉ các quốc gia phương Tây mà một số quốc gia khác trên thế giới cũng rất sợ con số 666.


Con số đáng sợ trên xuất hiện ở trong quyển cuối cùng của bộ kinh Tân Ước hay còn gọi là sách Khải huyền. Nó được coi là dấu ấn hiện thân của quỷ Sa-tăng.  Do đó, con số 666 là biểu tượng của sự không hoàn hảo đối lập với con số 7 – dấu ấn của Chúa Trời. Những con số của Chúa trời được cho là hoàn hảo bởi vì một tuần có 7 ngày, 7 lưỡi lửa, 7 linh hồn...


Ngoài ra, 666 còn được coi là con số tượng trưng cho một cuộc tấn công chống lại Jesus Christ. Trong tiếng Hy Lạp, chữ Christ khi được viết bằng tay sẽ có hình dạng khá giống những vật nhọn hay mũi tên. Nó được coi là một vũ khí nhằm chống lại Chúa trời.


Ngoài ra, con số 666 còn được cho là hiện thân của con rắn thuộc quỷ Sa-tăng – loài vật đã dụ dỗ Adam và Eva ăn trái cấm. Chính vì hai con người trần thế lén ăn vụng trái cấm nên Chúa đã nổi giận đuổi họ khỏi vườn địa đàng rồi đày người đàn ông xuống trần gian. Vì vậy, người ta cho rằng, con số 666 có khả năng là biểu tượng của sự cám dỗ, khiến con người lầm đường lạc lối và phạm phải những sai lầm khủng khiếp khó cứu vãn tình thế.


Theo một truyền thuyết cổ khác, nếu đem cộng 3 con số 6 sẽ tạo ra một kết quả và suy đoán đáng kinh ngạc: 6+6+6 = 18. Và con số 18 tượng trưng cho 18 trinh nữ hay còn được gọi là những thiên thần đồng trinh được dâng lên trong những lễ tế quỷ Sa-tăng. Những người tin theo truyền thuyết này cho rằng, nếu họ tìm được đủ 18 trinh nữ và thực hiện việc tế lễ theo đúng phong tục thì quỷ Sa-tăng sẽ trở về từ địa ngục.
 Một số người tin rằng, con số 666 là dấu ấn của quỷ Sa-tăng nên chỉ đem lại điềm gở, tai họa cho con người.

Tuy nhiên, một số người lại cho rằng, con số 666 không phải là hiện thân của quỷ Sa-tăng mà là số 616. Các nhà khoa học tìm thấy một bộ sưu tập các tài liệu cổ ở Ai Cập trong đó có bản thảo lâu đời nhất của sách Khải huyền chỉ ra rằng, 616 mới đúng là con số của quỷ Sa-tăng. Theo thời gian, không biết vì lý do gì đã dẫn đến sự thay đổi.


Dù vậy, người ta vẫn tin 666 mới là con số của quỷ bởi nó có vẻ huyền bí, hấp dẫn và dễ nhớ hơn con số 616.


Giáo sư khoa nhân chủng học thuộc Đại học Khoa học và Mỹ thuật Phillips Stevens Jr cho biết: “Khải huyền là một cuốn sách phức tạp và khó hiểu. Các học giả đã tìm thấy nhiều “con quỷ” xuất hiện trong chương 13 và nhiều chương khác của cuốn sách cổ đó”.


Vị giáo sư này cũng nhận định rằng, đây chẳng qua là kiểu mê tín dị đoan và hoàn toàn không tồn tại con số của quỷ. Những cụm từ chỉ con quỷ trong sách Khải huyền đề cập đến rất nhiều loại quỷ khác nhau không cứ gì chỉ có mỗi Sa-tăng.


Chính vì vẻ huyền bí của nó mà có người tin, có người lại cho đó chỉ là trò bịp bợm. Những người tin thì thường kiêng khem những ngày rơi đúng vào chu kỳ 666, hoặc không chọn những con số đó làm số nhà, biển số xe… Thậm chí có người còn kiêng không sinh nở vào những ngày đó vì lo sợ sẽ sinh ra một đứa con là hiện thân của quỷ.


Đặc biệt, một công trình nổi tiếng của Ai Cập còn được coi là hiện thân của quỷ Sa-tăng vì nó có những điểm tương đồng với con số 666. Đó là kim tự tháp kính Lourve. Người dân đồn thổi, công trình này được xây dựng cho quỷ bởi nó được tạo thành từ 666 miếng kính.


Câu chuyện ly kỳ trên xuất hiện từ những năm 1980. Tuy nhiên, lãnh đạo bảo tàng Louvre khẳng định rằng, kim tự tháp trên không hề có liên quan gì đến con số 666. Thực ra, nó được tạo thành từ 673 tấm kính trong đó có 603 tấm hình thoi và 70 tấm hình tam giác.


Dù vậy, nhiều người vẫn tin vào giả thuyết con số của quỷ Sa-tăng “hiện hình” ở kim tự tháp kính Lourve. Họ cho rằng, nếu lấy con số chính thức 673 cộng với cánh cửa Kim tự tháp lớn, cộng thêm 112 miếng kính của Kim tự tháp ngược rồi trừ đi 120 miếng kính của hai kim tự tháp con nằm trong đó thì vẫn cho ra kết quả 666 (674 + 112 - 120 = 666).


Chưa dừng lại ở đó, câu chuyện lại “dậy sóng” trở lại vào năm 2003 khi tác giả Dan Brown nổi tiếng đã viết trong cuốn tiếu thuyết Mật mã Da Vinci lừng danh khắp 5 châu 4 biển với nội dung khá “nhạy". Trong đó, nhân vật chính của tác phẩm là Robert Langdon cho rằng: "Kim tự tháp này đã được xây từ chính xác 666 tấm kính, theo yêu cầu kỳ cục của Tổng thống xuất sắc nhất Nền cộng hòa thứ 5 của Pháp là Francois Mitterrand". Chính vì vậy, chủ đề về con số của quỷ lại gây xôn xao dư luận một thời gian.


Đến ngày 6/6/2006, nhiều người tin rằng đó là ngày của quỷ Sa-tăng hiện về và sẽ có tai họa ập đến. Những tin đồn về ngày khủng khiếp đó lan truyền với tốc độ chóng mặt giống như Ngày tận thế. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, ngày hôm đó không hề xảy ra thảm kịch to lớn nào. Và thế giới vẫn bình yên.


Tuy nhiên, đó chỉ là một trong những lần xác xuất không chuẩn tính theo chu kỳ 666 ngày. Thực tế chỉ ra rằng, có một số sự kiện rơi đúng vào chu kỳ đó nhưng có xác xuất cộng trừ trùng khớp với thời điểm xảy ra những thảm họa kinh hoàng trong lịch sử nhân loại.


Cụ thể, nếu tính từ ngày 1/8/1914 – thời điểm bùng nổ thế chiến thứ nhất, thế giới xảy ra những sự kiện đặc biệt xảy ra với xác xuất cộng trừ vài tuần lễ. Nếu lấy 5 x 666 sẽ ra thời điểm là tháng 9/1923. Tại thời điểm đó, trận động đất mạnh 8,9 độ Richter tàn phá một khu vực lớn ở Tokyo, Nhật Bản đã diễn ra. Thảm họa kinh hoàng này xảy ra vào đúng vào ngày 1/9.


Nếu lấy 11 x 666 sẽ ra thời điểm là tháng 12/1941. Theo lịch sử, Nhật tấn công Trân Châu cảng gây thiệt hại nặng nề cho Hải quân Mỹ vào ngày 7/12/1941. Sự kiện này đánh dấu thời điểm Mỹ chính thức tham gia chiến tranh thế giới thứ hai.


Nếu lấy 17 x 666 sẽ ra thời điểm là tháng 8/1945. Vào ngày 6/8, Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản gây ra thảm họa hạt nhân đầu tiên trong lịch sử.

Nếu lấy 34 x 666 sẽ ra thời điểm tháng 8/1976. Mốc thời gian này đánh dấu sự bùng phát của một loạt thảm họa như bệnh Ebola ở châu Phi và xảy ra trận động đất lớn nhất thế kỷ ở Trung Quốc vào ngày 28/7.

Tam giác quỷ Bermuda không hề bí ẩn?

Nhà báo Larry Kusche cho rằng,  chẳng hề có bí ẩn nào về sự biến mất kì lạ ở Tam giác Bermuda.

Tên của vùng Tam giác quỷ được một nhà văn có tên Vincent Gaddis đặt vào năm 1964 trong một tạp chí đàn ông Argosy. Mặc dù Gaddis là người đầu tiên nghĩ đến cái tên này, Charles Berlitz mới là người đưa tên tuổi của nó ra khắp thế giới một thập kỷ sau đó. Charles Berlitz rất hứng thú về những điều huyền bí. Ông không những tin rằng thành phố bị lãng quên Atlantis là có thật, mà còn cho rằng thành phố này có gắn kết với vùng Tam giác quỷ theo một cách nào đó. Ông đã xuất bản học thuyết này trong một cuốn sách bán chạy nhất năm 1974 có tên “Vùng Tam giác quỷ Bermuda” (the Bermuda Triangle). Kể từ đó, bí ẩn này bắt đầu lan rộng qua hàng ngàn cuốn sách, tạp chí, truyền hình và các website khác.
 Vùng Tam giác Bermuda.

Qua nhiều năm, rất nhiều học thuyết đã được đưa ra để nhằm giải đáp bí ẩn này. Một số học giả đã phát triển ý tưởng của Charles Berlitz về thành phố Atlantis, cho rằng thành phố huyền thoại này có thể nằm dưới đáy biển và dùng nguồn “năng lượng pha lê” của mình để nhấn chìm các tàu thuyền và máy bay qua lại. Một số khác tin rằng tam giác Bermuda là một cánh cổng thời gian hoặc là căn cứ nước ngầm của các thế lực ngoài hành tinh.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều người tin rằng lời giải thích chính xác cho điều này nằm ở một thứ gì đó rất hiếm và ít được biết đến nhưng hoàn toàn là điều tự nhiên, có liên quan đến địa chất và thủy học. Ví dụ, có lẽ tàu bè và máy bay đã bị phá hủy bởi một lượng lớn khí Metan dễ cháy nằm dưới đáy biển. Tuy vậy lại có một số vấn đề về logic ở quan điểm này: khí Metan tồn tại một cách tự nhiên trên khắp thế giới và một vụ tai nạn do khí Metan như vậy được biết là chưa từng xảy ra.

Một số khác lại cho rằng địa từ không bình thường của trái đất đã tạo ra một số vấn đề về phương hướng, làm bối rối phi công, khiến họ đâm vào mặt biển. Nhưng điều đáng nói ở đây là các phi công luôn được huấn luyện có thể bay nếu thiết bị định vị phương hướng điện tử không hoạt động, và giả thuyết này cũng không giải thích được sự biến mất của các tàu thuyền.


 Chiếc máy bay Star Ariel của Anh, mất tích ngày 17/01/1949 khi đang bay qua vùng trời yên ả của Bermuda để đến Kingston, Jamaica. Đội phi hành gia gồm 7 người cùng 13 hành khách đều mất tích. Tàn tích của chiếc máy bay chưa bao giờ được tìm thấy.

Có một điều: trước khi chọn giả thuyết nào để tin, chúng ta cần trả lời câu hỏi cơ bản nhất: Thực sự có bí ẩn nào cần phải được giải thích ở đây?

Một nhà báo có tên Larry Kusche được hỏi đúng câu hỏi như vậy và câu trả lời khẳng định của anh là: Chẳng hề có bí ẩn nào về sự biến mất kì lạ ở Tam giác Bermuda.  Trong cuốn sách “Bí ẩn Tam giác quỷ - giải mã xong” của mình, Larry có ghi lại rằng nhiều học giả viết về vấn đề này rất ngại làm một cuộc điều tra thực sự, họ chỉ đơn giản là thu nhập và nhắc lại những gì của các học giả đi trước, những người cũng chỉ làm tương tự như vậy. Anh cũng cho rằng Charles Berlitz với cuốn sách của ông về thành phố Atlantis và bí ẩn Tam giác quỷ đơn thuần là một câu đố với rất nhiều sai sót và có nhiều lý thuyết phi khoa học.

Trong một vài trường hợp, không hề có một ghi chép nào về tàu và máy bay mất tích ở khu vực này, chúng chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của tác giả. Những trường hợp khác, dù tàu thuyền và máy bay có thật, chúng cũng chỉ “biến mất bí ẩn” do bão biển, hoặc bị chìm ở một nơi rất xa Tam giác Bermuda.

Dù vùng Tam giác Bermuda đã bị tung tin đồn thất thiệt trong suốt hàng thập kỉ qua, nó dường như vẫn là một bí ẩn chưa được giải mã trong rất nhiều cuốn sách mới...

Ẩn số trăm năm của tàu ma Mary Celeste

Tàu ma là một trong những hiện tượng bí ẩn nhất mọi thời đại. Qua hàng thế kỷ, những con tàu lạ kỳ này vẫn đang kích thích con người tìm hiểu, suy đoán và đưa ra những lý giải thú vị.

Ngày 4/11/1872, hai vị thuyền trưởng David Reed Morehouse (thuyền trưởng tàu chở hàng Dei gratia của Anh) và Benjamin Briggs (thuyền trưởng tàu Mary Celeste của Mỹ) ngồi ăn tối cùng nhau ở New York.


Họ là những người bạn cũ và cùng dừng chân ở New York trước khi Morehouse ra khơi vào ngày 15, còn Briggs đi vào hôm sau với vợ và con gái, cả hai cùng hướng tới châu Âu.
Thủy thủ đoàn biến mất không dấu vết


Không lâu sau, ngày 5/12, thuyền trưởng Morehouse vô cùng kinh ngạc khi nhìn thấy con tàu Mary Celeste của Briggs lênh đênh ở khu vực giữa Bồ Đào Nha với quần đảo Azores, dường như đang nằm ngoài tầm kiểm soát và di chuyển một cách vô định theo hướng gió. Tiếp cận con tàu, họ nhận thấy Mary Celeste tuy có bị nước tràn vào một chút nhưng nhìn chung trong tình trạng rất tốt. Hàng hóa gồm 1701 thùng cồn, lương thực thực phẩm và nước ngọt đủ cho 6 tháng vẫn còn, không bị xáo trộn, chỉ duy nhất một thùng cồn bị hư hỏng, vật dụng cá nhân của cả đoàn đều ở nguyên vị trí, một chiếc bơm đang hoạt động với 2 cánh buồm được giương lên.


Hầu hết giấy tờ và thiết bị định vị trên tàu đã biến mất, không hề có bất kỳ dấu hiệu nào của con người. Tuy nhiên, cuốn nhật ký hàng hải thì vẫn còn, trong đó ngày cuối cùng được đặt bút có đề 25/11/1872, khi con tàu gần tới đảo St Mary, cách nơi người ta tìm thấy nó khoảng 700 dặm.

Điều kỳ lạ là tất cả đột nhiên mất tích không dấu vết mặc dù thời tiết lúc đó tốt và thuỷ thủ đoàn là những người đi biển rất có kinh nghiệm.


 Bức họa tàu Mary Celeste năm 1861. (Ảnh: Toptenz).

Các giả thuyết giàu… trí tưởng tượng

Người đầu tiên đưa ra giả thuyết về số phận của thủy thủ đoàn trên con tàu là Frederick Solly Flood, luật sư tại tòa án Hải quân Anh.

Flood suy đoán toàn bộ thủy thủ đã đột nhập vào khoang hàng hóa, uống những thùng cồn và sau đó giết chết thuyền trưởng Briggs, vợ và con gái ông, cùng vị phó thuyền trưởng Richardson. Sau đó, chính Flood lên tiếng loại bỏ giả thuyết này và chuyển sang “sống chết” với quan điểm rằng cồn đã bị biến chất và nhiều khả năng là nguyên nhân dẫn đến cái chết cho ai chẳng may uống phải.

Chưa dừng lại, ông tiếp tục đưa ra giả thuyết Briggs và Morehouse, trong cuộc gặp ở New York, đã âm mưu lừa gạt thủy thủ trên tàu Mary Celeste. Theo kế hoạch, Briggs là người ra tay giết chết nhóm thủy thủ đoàn của mình, Morehouse sau đó sẽ yêu cầu bồi thường cho việc cứu hộ tàu Celeste và chia tiền với Briggs. Tuy nhiên, cả Briggs và Morehouse được biết đến là những con người đáng kính, có lý lịch tốt, không thể là hung thủ giết người.

Mặc dù vậy, Flood vẫn không từ bỏ suy nghĩ của mình. Nếu Briggs không làm điều đó thì nhất định là Morehouse. Flood tố cáo các thủy thủ của Dei Gratia đã tấn công tàu Mary Celeste vì lợi ích có thể nhận được với tư cách là người cứu hộ. Sau nhiều tháng đưa ra lời vu khống chống lại Morehouse, tòa án Admiralty cuối cùng đã minh oan và thanh toán mọi chi phí cho đoàn của Morehouse.


 Mary Celeste là "tàu ma" bí ẩn nhất mọi thời đại của ngành hàng hải thế giới.

Thời điểm đó, thế giới rất quan tâm đến những cáo buộc của Flood, thậm chí trong một bài viết trên tờ New York Times, Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ William Richard cũng đưa ra nhận định của riêng mình với vụ án này và đồng ý với giả thuyết của Flood khi cho rằng đây là một cuộc nổi loạn.

Sau đó, vào tháng 1/1884, tạp chí Cornhill Magazine đăng tải một truyện ngắn với tiêu đề “J. Habakuk Jephson's Statement”, tác giả là bác sĩ trẻ Arthur Conan Doyle (người sau này viết bộ tiểu thuyết trinh thám Sherlock Holmes nổi tiếng). Truyện xây dựng từ sự cố tàu Mary Celeste, trong đó, tác giả nói đã tìm thấy những giấy tờ của Abel Fosdyk, một người được cho là hành khách trên tàu. Theo Fosdyk, vị thuyền trưởng đã cùng tranh luận với 2 thủy thủ của mình về tốc độ bơi. Và để chứng tỏ mình đúng, cả 3 cùng nhảy xuống nước bơi mà không biết sắp làm mồi cho cá mập. Những người còn lại chạy đến xem chuyện gì đang xảy ra. Bất ngờ phần mũi tàu họ đứng gãy tan, tất cả cùng chịu chung số phận với vị thuyền trưởng. Fosdyk là người duy nhất sống sót vì đã bám được một mảnh ván và trôi dạt vào bờ biển ở châu Phi. Theo nhiều chuyên gia, đây chỉ là một giả thuyết mơ hồ, không có cơ sở khi mà nhân chứng Fosdyk đã chết và chẳng ai có thể kiểm chứng được.

Câu chuyện tiếp theo xuất hiện vào cuối những năm 20, khi Lee Kaye của tạp chí Chamber's Journal viết về một “Người duy nhất còn sống sót” khác là John Pemberton, về những chi tiết đã xảy ra trên tàu. Câu chuyện Pemberton sau đó đã được Laurence Keating xuất bản thành cuốn sách có tên “Mary Celeste Hoax” vào năm 1929 và trở thành cuốn sách bán chạy nhất toàn khu vực Đại Tây Dương cho đến khi Kaye bị tố cáo là dàn dựng trò lừa bịp này.

Suy đoán của chuyên gia

Tất cả các giả thuyết đều bị bác bỏ, vậy thực sự điều gì đã xảy ra với toàn bộ thủy thủ trên con tàu?

Ở thời điểm chuyển giao thế kỷ, một số ý kiến tin rằng Mary Celeste đã bị tấn công bởi một con mực khổng lồ hoặc một con quái vật biển. Nhưng cứ cho đó là Kraken (con quái vật xúc tu chuyên đánh chìm tàu bè trên biển) thì tại sao nó lại lấy đi các loại giấy tờ trên tàu, và tại sao con tàu bị tấn công nhưng không có ai rút thanh gươm trên tàu ra chiến đấu, nó vẫn nằm nguyên trong vỏ? Khi tìm thấy nhiều vết đỏ trên tàu, người ta kết luận đó là máu nhưng thực chất chúng đơn giản chỉ là gỉ.

Về chiếc xuồng cứu sinh, có một sự đồng thuận giữa những người nghiên cứu vấn đề này, bao gồm cả tòa án, rằng con tàu đã bị bỏ lại. Các dấu hiệu lộn xộn trên chiếc giường của thuyền trưởng, quần áo của thủy thủ đoàn thì vương vãi xung quanh cho thấy một cuộc tháo chạy trong vội vã. Ngoài ra, vài sợi dây thừng cũng biến mất dẫn đến kết luận thủy thủ đoàn đã rời hết xuống con xuồng, dùng dây thừng buộc nó vào sau tàu Celeste.

Về lý do di chuyển, có ba giả thuyết được ủng hộ nhiều nhất


Thứ nhất, có thể thực phẩm trên tàu đã bị nhiễm độc, gây ảo giác và khiến các thủy thủ bỏ tàu. Người ta tìm thấy một chất trong bánh mì lúa mạch đen trên tàu có thể tạo ảo giác. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn từ tàu Dei Gratia cũng đã sử dụng chính đồ ăn trên tàu Celeste trong hơn một tuần mà không thấy hiện tượng gì bất thường. Vì vậy, giả thuyết thứ nhất có thể loại bỏ.

Thứ hai, vấn đề có thể nằm ở số hàng hóa trên tàu. Khi thùng cồn cuối cùng được mở ra, 9 thùng hoàn toàn trống rỗng, rõ ràng đã bị rò rỉ trong chuyến đi. Thuyền trưởng cho rằng lượng hơi bốc ra lại bị giới hạn trong một không gian nhỏ rất dễ phát nổ. Vì vậy, khoang tàu đã được mở toang để hơi thoát đi và trong khi đó, thủy thủ đoàn sơ tán lên chiếc xuồng cứu sinh, giữ một khoảng cách an toàn.

Thứ ba, giả thuyết của Tiến sĩ James H. Kimble: tàu Celeste đã gặp phải cơn lốc xoáy trên biển, thường xuất hiện và tiêu tan một cách nhanh chóng. Nó không gây thiệt hại gì đáng kể và là lời giải thích hợp lý cho lượng nước trong tàu lúc được tìm thấy. Nhưng Briggs thì không nghĩ thế. Ông cho rằng con tàu sắp chìm.

Trong cả hai trường hợp 2 và 3, các thuyền viên và gia đình Briggs nhanh chóng nhận lệnh rời tàu. Tuy nhiên, khu vực Bắc Đại Tây Dương vào mùa đông được coi là nơi khá nguy hiểm cho nên hành động này có thể là nguyên nhân dẫn đến hậu quả đáng tiếc.

Hàng thế kỷ qua, đã có rất nhiều giả thuyết được đưa ra phân tích, mổ xẻ nhưng không có lời giải thích nào thoả đáng. Kết quả là cứ nhắc đến những “con tàu ma” thì cái tên Mary Celeste bao giờ cũng đứng ở vị trí đầu tiên và trở thành bí ẩn lớn nhất mọi thời đại của ngành hàng hải thế giới.

Lật tẩy sự thực về ma quỷ

Một trong những yếu tố gây khó khăn cho việc điều tra ma quỷ là sự không thể thỏa thuận về định nghĩa: “Thế nào là ma”. Có lẽ do xuất phát từ Kinh Thánh thiên chúa giáo từ ác quỷ Sa-Tăng là biểu tượng chống Chúa được thêu dệt từ qua bao thế kỷ  người ta bị ám ảnh,kinh sợ .

Không những vậy, hàng chục người trên khắp thế giới đang tích cực lần theo những bóng ma và coi đó là đam mê. Thậm chí, có khoảng 2.000 tổ chức săn ma nghiệp dư với số lượng hàng chục thành viên đang hoạt động trên khắp lãnh thổ nước Mỹ.

Ma đã và đang là chủ đề phổ biến suốt nhiều thiên niên kỷ qua và không ít những câu chuyện về ma quỷ được ghi lại trong những tài liệu. Từ kinh thánh tới những sản phẩm văn học dân gian, ma quỷ luôn là phần thu hút nhiều sự quan tâm dù khiến người ta không khỏi sợ hãi.



Trên thực tế, ma quỷ có lẽ là niềm tin huyền bí phổ biến nhất trên thế giới, vượt qua nhiều loại tôn giáo và tín ngưỡng đang thịnh hành. Một phần khiến người ta càng cuồng tín vào ma quỷ là sự lan truyền của những câu chuyện huyền bí, khoảnh khắc cận kề sự sống và cái chết hay những câu chuyện không thể kiểm chứng về một thế giới bên kia cũng như cách liên lạc giữa cõi âm với người dương.

Rất nhiều quan niệm cho rằng, khi những người thân thiết qua đời, linh hồn họ vẫn dõi theo những người còn sống. Và quan niệm này thường dễ dàng được ủng hộ bởi không ít người luôn cố gắng phủ nhận sự thật, người thân của họ đã mãi mãi rời xa. Một số khác tin vào ma quỷ bởi họ tận mắt chứng kiến những hiện tượng siêu nhiên mà chưa tìm được lời giải thích.

Khoa học và logic của ma

Trải qua những điều phi thực tế và không thể giải thích là một chuyện, nhưng bằng chứng khoa học là điều hoàn toàn khác. Một trong những yếu tố gây khó khăn cho việc điều tra ma quỷ là sự không thể thỏa thuận về định nghĩa: “Thế nào là ma”.



Một số người tin rằng, đó là linh hồn của những người đã mất vì một lí do nào đó. Họ gặp trục trặc trên đường “sang thế giới bên kia” và ở lại với trần gian. Số khác cho rằng, bóng ma là những phương thức thần giao cách cảm, tồn tại hoặc tác động trực tiếp tới tâm trí chúng ta.

Bên cạnh đó, vẫn còn hàng loạt những quan điểm khác về ma, chẳng hạn như đó là quỷ hiện hình hay những tiếng động ma quái, hình ảnh bóng người không thể xác định vụt qua ngay trước tầm mắt…. Tất cả những điều đó tạo nên sự đa dạng của ma quỷ, giống với những nàng tiên, công chúa hay những con rồng trong trí tưởng tượng của con người.

Trên thực tế, có nhiều mâu thuẫn về khái niệm bóng ma. Bóng ma có phải là vật chất? Chúng dễ dàng di chuyển qua những vật thể rắn mà không gây ra bất kể tác động nào nhưng tại sao lại có khả năng điều khiển mọi vật trong phòng? Nếu bóng ma là linh hồn của con người, sao chúng lại có thể mặc quần áo?

Nếu bóng ma là nạn nhân trong những vụ giết người đầy uẩn khúc, tại sao chúng không dùng những năng lực siêu nhiên để giúp cảnh sát phá án. Khi đó, sẽ không còn tồn tại những vụ án mạng không thể điều tra hoặc điều tra đi vào ngõ cụt như hiện nay.

Trên thực tế, hàng loạt những thợ săn ma nghiệp dư đã sử dụng những phương pháp hàng đầu thế giới nhằm truy vết những con ma. Bộ đếm Geiger, máy dò điện từ EMF, máy dò Ion, camera hồng ngoại hay micro siêu nhạy đều lần lượt được sử nhưng chưa từng một lần ghi lại được dấu vết của bất kể con ma nào.

Một vài lập luận cho rằng, ma không tồn tại dưới những dạng vật chất thông thường như những gì con người có thể nhìn thấy, vậy những đoạn video, hình ảnh được cho là ghi lại hình ảnh của ma sẽ trở nên hoàn toàn thiếu cơ sở. Đó sẽ không phải là bóng mà mà chỉ đơn thuần là một dạng vật chất nào đó chưa thể làm sáng tỏ.

Với rất nhiều những mâu thuẫn về ma, sẽ không nhà khoa học nào tin vào sự tồn tại của nó trong thế giới thực. Và cũng chẳng có gì đáng coi là ngạc nhiên khi hàng chục ngàn thợ săn ma đều bó tay trước việc tìm kiếm bằng chứng về sự tồn tại của nó.

Tại sao nhiều người tin vào ma?

Những người hiểu biết về khoa học vận dụng lý thuyết của nhà vật lý lừng danh Albert Einstein khẳng định: “Năng lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi mà nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác”. Vậy chắc hẳn sẽ có nguồn năng lượng nào đó được chuyển hóa một cách bí ẩn sau khi chúng ta chết?



Câu trả lời hoàn toàn rất đơn giản và không có chút gì bí hiểm. Khi người chết đi, năng lượng từ chính cơ thể sẽ được phân tán ra môi trường. Năng lượng được phát tán dưới dạng nhiệt hoặc chất vào những loại vi sinh vật phân hủy cơ thể. Cuối cùng, năng lượng đó sẽ được cây cối hấp thụ, quay trở về với vòng tuần hoàn vốn có.

Trong quá trình phân hủy, một chất được gọi là phốt pho sẽ thoát khỏi thi thể và bốc lên cao, vẫn được dân gian gọi là “ma chơi”. Khí này rất nhẹ nên khi người hay động vật gần đó di chuyển tạo ra gió, phốt pho sẽ bị cuốn theo khiến nhiều người nhầm tưởng là do ma đuổi bắt.

Ngoài việc giải thích bằng khoa học, việc con người tin vào ma cũng có thể giải thích bằng tâm lý học, nhậm thức sai lầm hay những trò lừa bịp có chủ tâm và chủ đích. Thêm vào đó, những bộ phim điện ảnh, những tiểu thuyết hay truyện ma khiến nhiều người nhầm tưởng những sự việc bình thường thành hiện tượng bí ẩn. Tuy nhiên, việc truyền miệng khiến những câu truyện phi lý về ma quỷ được lan truyền trong cộng đồng. Chính vì đó, đôi khi nhiều người cho sự trùng lặp tới khó tin là do ma quỷ.

Sa-tăng là ác quỷ hay thiên thần?

Theo truyền thuyết Babylon trước khi trở thành chúa quỷ, đại diện cho những gì xấu xa nhất, Sa-tăng từng là tổng thiên thần do Chúa trời tạo ra, được Chúa yêu quý nhất.

Sa-tăng thường được biết đến dưới hình dạng một ác quỷ to lớn lừng lững, mặt mũi hung ác và chiếc đầu có  hai sừng nhọn hoắt.


Quỷ Sa-tăng trong Kinh thánh


Nếu như mọi tồn tại trên thế giới – cả trên trời, mặt đất và biển cả - đều là sản phẩm của Chúa thì Sa-tăng cũng vậy. Ban đầu, đó là một trong ba tổng lãnh thiên thần do Chúa trời tạo ra, có tên là Lucifer, có nghĩa là ngôi sao mai ngời sáng. Lucifer cùng với hai tổng thiên thần khác là Michael và Gabriel giúp Chúa trời cai quản thiên giới. Vị thiên thần này không những có quyền lực lớn mà còn có hình dung tuyệt đẹp, được Chúa vô cùng yêu thương, giao nhiều trọng trách. Điều đó khiến Lucifer dần dần trở nên kiêu ngạo và ngông cuồng, cảm thấy mình không thua kém gì Chúa trời. Ông ta đố kỵ với Chúa, thèm khát địa vị của ngài, thèm khát quyền lực tối thượng.


Ấp ủ tham vọng thoán vị, Lucifer rủ rê các thiên thần tạo phản lật đổ Chúa trời và lạ thay, có đến 1/3 số thiên thần đi theo ông ta. Một cuộc chiến khủng khiếp diễn ra trên thiên đường và kết cục là vị tổng thiên thần sa ngã tự coi mình cao hơn Chúa đã thất bại, bị ném xuống 18 tầng địa ngục và trở thành chúa quỷ. Từ đó, ông ta được gọi là Sa-tăng, có nghĩa là sự hủy diệt.


 Ảnh: Wikipedia.

Sa-tăng được coi là kẻ đã hóa thân thành con rắn để quyến rũ A-đam và Eva phản lại lời răn của Chúa: không được ăn trái cây hiểu biết về sự tốt xấu. Họ đã ăn trái cây đó, để từ chỗ ngây thơ, trong trắng hoàn toàn như một đứa trẻ, họ đã có tri thức đầu tiên, lần đầu tiên biết về sự tốt và xấu, lần đầu tiên thấy xấu hổ về sự trần truồng của mình và những dục vọng của xác thịt. Hiểu biết đó khiến họ bị đẩy ra khỏi vườn địa đàng, và con cháu đời đời mang tội với tổ tông.


Quỷ vương Sa-tăng cũng từng cám dỗ cả Chúa Jesu khi ngài ở trong hoang mạc, trước thời điểm ngài xuất hiện công khai truyền đạo. Sứ mệnh của Jesu là hiến mình trên thập giá để cứu chuộc loài người, nhưng Sa-tăng hứa sẽ đem cho ngài toàn bộ quyền lực và vinh quang của cõi thế gian, và dĩ nhiên là quỷ đã thất bại. Sau này, quỷ vương còn nhiều lần tiếp tục trổ tài lung lạc các môn đồ của Chúa trên hành trình truyền đạo.
Theo nghĩa biểu trưng, Sa-tăng không phải là con quỷ tìm cách ăn thịt người, mà là hiện thân cho sự sa ngã của linh hồn, là sự buông mình theo cám dỗ của dục vọng đen tối. Khi con người vướng vào tội lỗi, chứng tỏ họ đã bị quỷ dữ - tức cái ác, cái xấu – lung lạc và chiếm hữu.
 Về tích Sa-tăng dụ dỗ A-đam và Eva ăn táo cấm,  nhiều người cho rằng khi gác sang một bên ý nghĩa tôn giáo, chỉ căn cứ vào câu chuyện thì có thể coi Sa-tăng có vai trò tích cực đối với loài người. Nếu không có con rắn xúi giục ăn trái cấm, A-đam và Eva không bao giờ có tri thức. Họ sẽ mãi mãi được sống sung sướng, bình an trong vườn địa đàng, là “con cưng” của Thượng đế, nhưng trong tình trạng “trắng xóa” về trí tuệ, họ chẳng hơn gì những tạo vật vô tình khác như chim muông, cây cảnh, có chăng là đẹp hơn, được Chúa yêu thích hơn mà thôi. Nhưng khi đã ăn trái cây đó, mắt họ mở ra, tri thức ùa đến, tuy cái xấu, sự đau đớn, khổ não cũng xuất hiện trong đời họ, nhưng so với các tạo vật còn lại, họ đã ở đẳng cấp khác hẳn.
Luồng ý kiến trên cho rằng, đối với sự tiến hóa của loài người, chuyện con rắn dụ A-đam và Eva ăn táo cũng mang tính cách mạng, mở ra một kỷ nguyên mới, không khác gì thần Prometheus trong thần thoại Hy Lạp ăn cắp lửa cho loài người, giúp họ thoát khỏi thời mông muội.  Đó là chưa kể, vì ăn trái cấm, A-đam và Eva mới được thức tỉnh về ham muốn xác thịt và nhờ đó, loài người mới được sinh sôi đông đúc như ngày nay.
Đạo thờ quỷ Sa-tăng
Từ xa xưa, Sa-tăng đã được không ít người thờ phụng với quan điểm thế giới có hai phần tốt và xấu, thiện và ác, và Sa-tăng đại diện cho một trong hai phần đó. Khoảng thế kỷ 12, các Lễ hội Đen xuất hiện với những nghi lễ quái đản dâng lên quỷ vương, bao gồm việc hành xác và những hành vi tình dục kỳ quái. Đến thế kỷ 16 – 17, lễ hội này khá thịnh hành ở châu Âu.
 Hiện thế giới có rất nhiều kiểu thờ phụng Sa-tăng với nghi lễ và niềm tin khác nhau. Ở Mỹ, năm 1966, một cựu chuyên gia luyện thú và thôi miên tên là Anton Lavey đã sáng lập ra cái gọi là Hội thờ quỷ Sa-tăng mà ông ta là Giáo hoàng Đen, có tổ chức với nhiều cấp bậc, có khẩu hiệu và “kinh thánh” hẳn hoi. Nghi thức tế bái của hội này vô cùng quái đản, rùng rợn như nghi lễ ma cà rồng hút máu, hành dâm tập thể, dùng ma túy, tự cắt rạch da, cắt tay chân lấy máu hiến cho Sa-tăng - kẻ có quyền năng đánh thức bản chất thật sự của con người. 
Có đến vài chục nghìn người thờ Sa-tăng ở Mỹ, đa phần là thanh niên, thậm chí vị thành niên, những kẻ nghiện ngập, hung hãn, đầy kích động. Những người này thậm chí dám tự sát để hiến linh hồn cho quỷ, với mục đích được Sa-tăng ban cho nhiều quyền lực để cai trị thế giới trong kiếp sau. Để đạt được quyền lực đen tối, họ cũng hiến cho quỷ vương linh hồn của người khác hay động vật khác (nhiều tín đồ Sa-tăng giáo thường xuyên giết súc vật, cắt lấy bộ phận sinh dục dâng lên chúa quỷ).


Nhiều người tôn thờ Sa-tăng cho rằng, vị chúa tể của họ chẳng phải là quá xấu xa, độc ác. Họ lý luận rằng theo Kinh thánh của Ki-tô giáo, Chúa trời đã giết hàng triệu người: Trong trận đại hồng thủy, trừ gia đình Noah, cả loài người bị xóa sổ. Toàn bộ dân thành Sodom và thành Gomorrah bị hủy diệt vì Chúa cho rằng dân ở đó quá tội lỗi. Để đưa người Israel ra khỏi Ai Cập, Chúa không ngại giáng cả chục tai họa xuống đất nước này, trong đó có việc giết toàn bộ những người Ai Cập là con trai đầu lòng. Trong khi đó, Sa-tăng không giết nhiều người, hắn chỉ cám dỗ người ta làm theo cái phần xấu xa sẵn có trong họ mà thôi.
 Đối với một nhóm nhỏ, việc thờ Sa-tăng không mang nghĩa tôn thờ cái ác và bạo lực, mà là tôn thờ một triết lý sống: cởi bỏ những kỷ luật, quy tắc trói buộc của xã hội để sống thật với bản ngã, dục vọng của bản thân. Họ quan niệm, sự tham lam, xấu xa cũng là một phần của bản chất người và không cần phải xiềng xích nó, nhất là những thôi thúc của thể xác.
Tuy nhiên, đa số những người tôn thờ Sa-tăng hiểu rằng họ đang thờ cái ác và tội lỗi, không ngần ngại “thực hành” nó thường xuyên. Nhiều thảm kịch đã xảy ra do sự bệnh hoạn trong tâm hồn của con người thời hiện đại, khi lấy tội lỗi làm khoái cảm. Cách đây khoảng 6 – 7 năm, ở một tỉnh miền nam nước Pháp, một nhóm học sinh đeo biểu tượng quỷ Sa-tăng (số 666 và cây thập giá ngược) đã đào mộ, cạy quan tài rồi vừa múa may vừa dùng thập giá cắm vào tim xác chết và chụp ảnh một cách khoái trá. Khi bị cảnh sát bắt, chúng tự nhận là tín đồ của Sa-tăng giáo.
Vào cuối năm 2011, tại Witten, Đức, một cặp vợ chồng trẻ đã dùng búa giết chết người bạn thân trong nghi lễ tế Sa-tăng tại nhà riêng, sau đó xăm biểu tượng của quỷ lên người nạn nhân, uống máu anh ta. Hai kẻ sát nhân khai với cảnh sát rằng chúng chỉ thực hiện nghi thức cống nạp linh hồn cho quỷ - chủ nhân của chúng, và anh bạn này được chọn để hiến tế vì anh ra rất hài hước, hẳn sẽ phục vụ tốt cho chủ nhân.  Cô vợ, Manuella, còn nói rằng chúng là ma cà rồng nên phải uống máu anh bạn đó, rằng cô ta đã ký giấy bán linh hồn cho Sa-tăng rồi. Chẳng biết 15 năm tù có làm cho cặp vợ chồng này bớt trung thành với vị chủ nhân đáng sợ đó không.
Cái ác cũng cổ xưa như chính loài người, và dường như luôn tồn tại song hành cùng nhân loại. Vì thế nên quỷ vương từ trong truyền thuyết mấy nghìn năm vẫn tiếp tục “sống” trong thế giới hiện đại với sự xuất hiện của bao nhiêu tội ác mới. Thật may, Sa-tăng chưa bao giờ là chủ nhân của thế gian, vì thế cái ác vẫn chỉ có thể hoành hành trong bóng tối.